Tag Archive:


Nhiều người Việt ở nước ngoài hay nói Cộng sản yếu hèn, dâng nhiều đảo ở Trường Sa cho ngoại bang. Họ nói vậy, có lẽ vì họ ghét Cộng sản, vì họ không có thông tin, hoặc vì cả hai.

Nhưng mới rồi có nhà báo trong nước ra vẻ hiểu biết, nói Việt Nam Cộng hòa đã giữ nhiều đảo ở Trường Sa, chả để mất đảo nào, nay mình dở quá, để mất vào tay Trung Quốc bao nhiêu đảo.

Nói với bạn ý, Trung Quốc đã chiếm 7 đảo ở Trường Sa, nhưng chưa hề chiếm được đảo nào bộ đội ta đã đóng giữ. Gạc Ma bị Trung Quốc chiếm ngày 14-3-1988, khi công binh ta mới lên cắm cờ trên đảo vài giờ.

Nhân tiện cũng nói luôn, lâu nay mọi người thường chỉ nói đến việc Trường Sa bị Trung Quốc chiếm. Nhưng sự thực, Philippines còn chiếm đóng nhiều đảo ở Trường Sa hơn cả Trung Quốc. Có một bác ở hải ngoại nhắc đến việc nhiều đảo ở Trường Sa bị Philippines chiếm, đổ tội cho “bọn cầm quyền Cộng sản” chả biết giữ mấy đảo đó. Bác này nói đại ý, trên mấy đảo Phi đang chiếm giữ có cả bia chủ quyền lập từ thời Việt Nam Cộng hòa, chứng tỏ Cộng sản đã làm mất về tay Philippines các đảo, trước kia Việt Nam Cộng hòa giữ. Lập luận đến hay!

Một số đảo ở Trường Sa bị Philippines chiếm giữ từ bao giờ, như thế nào?

Năm 1956, sau khi tiếp thu từ Pháp quyền kiểm soát quần đảo Trường Sa, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tổ chức thị sát, dựng bia chủ quyền ở một số đảo.

Năm 1963, Hải quân Việt Nam Cộng hòa đưa ba tàu là HQ-404 Hương Giang, HQ-01 Chi Lăng và HQ-09 Kì Hoà ra xây dựng lại bia chủ quyền Việt Nam tại một số đảo thuộc Trường Sa. Sách trắng năm 1975 về quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa nêu rõ ngày xây dựng lại bia chủ quyền ở 6 đảo: ngày 19-5-1963, ở đảo Trường Sa; ngày 20-5-1963, ở đảo An Bang; ngày 22-5-1963, ở đảo Thị Tứ và Loại Ta; ngày 24-5-1963 ở đảo Song Tử Đông và đảo Song Tử Tây.

Nhưng năm 1970. Philippines đã tổ chức chiếm giữ đảo Song Tử Đông, đảo Thị Tứ, đảo Loại Ta và 4 đảo nữa. Domingo Tucay, năm 1970 là một trung úy trẻ tham gia cuộc hành quân đó kể lại, họ mang theo mật lệnh, được dặn đến tọa độ nhất định mới được mở ra. Có 7 đảo, bãi hoàn toàn hoang vắng, họ chiếm đóng dễ dàng. Chỉ khi tới đảo Song Tử Tây, họ thấy quân Việt Nam Cộng hòa đóng. “Chúng tôi báo về sở chỉ huy, được chỉ thị cứ để mặc họ”. Tucay nói.

Trong những đảo Philipines chiếm dịp đó có 6 đảo nổi, Thị Tứ là đảo lớn thứ nhì, Bến Lạc (Đảo Dừa) là đảo lớn thứ ba, Song Tử Đông là đảo lớn thứ năm ở quần đảo Trường Sa.

Theo như bài báo đăng lời Tucay kể chuyện, nhiều tháng sau khi Philippines chiếm đóng 7 đảo ở quần đảo Trường Sa, các nước khác mới biết.

Như vậy, câu hỏi về việc ai đã đế các đảo ở quần đảo Trường Sa mất vào tay Philippines đã có lời giải đáp rất rõ ràng.

————————————-

Tham khảo: Báo Philippines nói về việc quân đội Philipines bí mật chiếm 7 đảo ở quần đảo Trường Sa.

http://www.abs-cbnnews.com/global-filipino/07/11/11/secret-mission-1970-put-ph-troops-spratlys

http://www.manilamaildc.net/navy-officer-tells-how-the-philippines-claimed-spratly-islets.html

Theo THIỀM THỪ
[http://www.reds.vn/index.php/lich-su/hoang-sa-truong-sa/3106-ai-da-de-philippines-chiem-cac-dao-o-truong-sa]

(REDS.VN) Sự sụp đổ của Liên bang Xô viết vào năm 1991 tưởng như là hồi chuông báo tử cho hệ tư tưởng của Marx và Lenin tại Nga, tuy nhiên chỉ sau gần hai thập kỷ, một làn sóng mới của các nhà hoạt động xã hội chủ nghĩa tại Nga, những người sẵn sàng vẫy cờ đỏ một lần nữa trên nóc điện Kremlin, đã xuất hiện ngày càng rõ rệt hơn.

Isabel Magkoeva, 21 tuổi, một nhà hoạt động của Mặt trận Xã hội Cách mạng, ngôi sao đang lên của cánh tả nước Nga cho biết “Tôi đã đặc biệt hứng thú với lý tưởng xã hội chủ nghĩa ngay từ khi còn là một thiếu niên.”

Magkoeva cho biết, cô luôn quan tâm đến các vấn đề bất công trong nền kinh tế và bắt đầu tự hỏi về nguyên nhân gây ra tình trạng này, sau đó, cô đã đi tìm câu trả lời trong các tài liệu cánh tả, và nhận ra cô phải tự tay tham gia đấu tranh chống lại chuyện này. Isabel Markoeva đã từng là một người mẫu tuổi thiếu niên, người được cho là có đặc điểm rất giống với thủ lĩnh biểu tình sinh viên người Chile có tên Camila Vallejjo.

Tuy nhiên, dù Magkoeva luôn coi Lenin là “Nhà cách mạng vĩ đại” nhưng cô vẫn còn rất mơ hồ về Liên bang Xô viết, một thể chế đã sụp đổ vào cùng năm mà cô được sinh ra.

Cô cho biết: “Thực ra nhà nước Xô viết chưa đi theo con đường chủ nghĩa xã hội thực thụ, và do đó, sẽ là rất sai lầm nếu miêu tả những người như tôi cố gắng hành động để khôi phục lại một nhà nước từ quá khứ. Thực sự, chúng tôi đấu tranh cho một hình thái hiện đại hơn của chủ nghĩa xã hội”.

Thực trạng lý tưởng xã hội chủ nghĩa ngày một phổ biến tại Nga đã ngày được xác nhận rõ ràng qua những báo cáo về tình trạng phân hóa giầu nghèo được đưa ra tháng trước bởi công ty tài chính Credit Suisse của Thụy Sĩ. Trong báo cáo có đoạn: “Không kể đến một số nước vùng Caribbe vốn là nơi được chọn đặt dinh thự của rất nhiều tỷ phú, sự phân hóa giàu nghèo tại Nga là cao nhất trên thế giới. Trên quy mô toàn cầu, các nhà tỷ phú đang sở hữu không tới 2% tài sản cá nhân, tuy nhiên tại nước Nga hiện nay, 100 tỷ phú đã chiếm giữ tới 30% tổng khối tài sản này”.

Chính vì lý do này, nhiều người trẻ nước Nga ngày càng bị cuốn hút vào các nhóm hoạt động mang tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tạo bước đột phá cho phong trào cánh tả khi trong so với gần hai mươi năm trước, khi những người Cộng sản thời Xô viết là những người duy nhất còn mang tư tưởng xã hội chủ nghĩa.

Nhà hoạt động cánh tả Sergei Fomchenkov, 38 tuổi, thủ lĩnh mặt trận Nước Nga khác cho biết: “Những người trẻ gần như không có cơ hội mua được nhà cửa với mức giá trên trời và lo cho gia đình một cuộc sống bình thường. Cơ hội để họ leo lên những tầng lớp trên của xã hội cũng gần như không có, đặc biệt là với những người không có gốc gác Moskva. Khi tất cả mọi người phải chịu đựng điều này, họ lại thấy một nhóm nhỏ những tỷ phú giầu có xây dựng những dinh thự xa hoa, từ đó, những tư tưởng đấu tranh theo mô hình cánh tả đã thu hút họ”.

Tuy nhiên, giống như Magkoeva, Fomchenkov không hề có ý tưởng đưa nước Nga lại thời kỳ Xô viết. Ông cho biết cái mình muốn là một nhà nước xã hội chủ nghĩa kiểu mới, với mô hình nhà nước kiểm soát hoàn toàn các ngành công nghiệp chính, tuy nhiên, những hình thức kinh doanh quy mô nhỏ vẫn có được toàn quyền tự do. Theo Fomchenkov, nếu nhà nước muốn kiểm soát đến từng mặt nhỏ nhất của đời sống, ví dụ như từng quán café một, đó thực sự là độc tài chứ không phải xã hội chủ nghĩa.

Những nhà phân tích nhìn nhận phong trào cánh tả đang lên ở Nga cũng tương tự những gì đang xảy ra ở châu Âu trong thời kỳ khủng hoảng này. Kết quả là tại châu Âu, các đảng cánh Tả cũng đang lớn mạnh một cách bất ngờ trong hệ thống chính trị của các nước thành viên.

Một nhà phân tích tại Trung tâm phân tích Carnegie, Moskva tên Lilia Shevtsova bình luận: “Giống mọi nơi khác tại châu Âu, những người trẻ bị tác động mạnh hơn bởi khủng hoảng kinh tế toàn cầu và họ sẽ dễ bị ảnh hưởng bởi tư tưởng xã hội chủ nghĩa”.

Ilya Ponomaryov, một trong những nhà sáng lập của Mặt trận cánh tả nhận định: “Ngày nay, những nhóm đấu tranh kiểu mới đã xây dựng được một cương lĩnh đấu tranh với tư tưởng xã hội chủ nghĩa kiểu mới và đã nhận được rất nhiều biểu hiện tích cực từ dân chúng và càng ngày càng có nhiều người trẻ tham gia”.

Ponomaryov cũng phủ nhận ngay những quan điểm cho rằng việc xây dựng nhà nước cộng sản và xã hội chủ nghĩa lý tưởng là bất khả thi. Ông bày tỏ quan điểm khi nói về sự thất bại của hệ tư tưởng này trong quá khứ: “Mọi người đã hiểu sai hết ý tưởng của Marx và Engels, đáng lẽ ra bạn phải thi hành đường lối kinh tế xã hội chủ nghĩa hoàn chỉnh trước khi bạn muốn xây dựng một nhà nước xã hội chủ nghĩa.”

Tổng thống Putin thường gọi sự sụp đổ của liên bang Xô viết là “thảm họa địa chính trị khủng khiếp nhất” của thế kỷ 20, thể hiện sự đồng cảm với những người thuộc về thế hệ đã sinh sống dưới thời kỳ này.

Đồng thời, đối thủ chính của ông Putin là Gennady Gudkov, một sĩ quan KGB trong quá khứ hiện là một nhà đấu tranh chống lại chính quyền Kremlin cũng tự bạch với tạp chí RIA Novosti khi được hỏi quan điểm về tổng thống: “Dù sao chúng tôi cũng phải giữ cho đất nước sự đoàn kết.”

Còn đối với nhà đồng sáng lập mặt trận cánh tả Ponomaryov, ông thừa nhận có “cảm xúc lẫn lộn” về nhà nước Xô viết trong quá khứ. Trong phát biểu của Ponomaryov có đoạn: “Liên bang Xô viết là một nhà nước rất mạnh với nhiều bảo đảm xã hội, tuy nhiên, họ lại quá chuyên quyền. Nhưng một điều khá rõ ràng là xã hội thời Xô viết còn tốt hơn hiện nay”.

Trong con mắt các nhà phân tích, những người cánh tả đang là đe dọa lớn nhất cho quyền lực của tổng thống Putin. Về vấn đề này, nhà phân tích Shevtsova của trung tâm Carnegie cho biết: “Ngày trước thì những nhóm dân tộc cực đoan là đe dọa lớn nhất đối với quyền lực chính quyền, nhưng ngày nay thì chắc chắn rằng, vai trò này đang thuộc về các nhóm đấu tranh cánh tả”.

NGUYỄN LINH (trích dịch từ RIA Novosti)


Ông Hoàng Hữu Phước

Câu nói hay nhất đầu năm 2011 cũng là câu đầy dõng dạc, dứt khoát, và khí thế – rất hiếm khi được nghe thấy ở Việt Nam trong suốt vài thập kỷ qua – chính là câu trả lời“Việt Nam Không Cần Đa Đảng” của một lãnh đạo Đảng khi được phóng viên nước ngoài phỏng vấn nhân Đại Hội Đảng Lần Thứ XI vừa qua. Cái thần uy của vị lãnh đạo Đảng là ở chỗ không cần nói nhiều, không cần giải thích dài dòng, vì sự phân bua nhỏ nhẹ dịu dàng không bao giờ là chiến thuật thượng đẳng hay phong thái đường bệ luôn phải có của người chiến thắng. Thế nhưng, vấn đề đa đảng sẽ cứ mãi được phóng viên nước ngoài lập đi lập lại trong những ngày tháng năm sắp đến, cũng như sẽ mãi được các nhóm chống Cộng khai thác để công kích Việt Nam, còn những người Việt ít làm việc trí óc thường dễ bị phân vân trước các khích bác. Nhân một số học trò và bạn hữu ở nước ngoài, những người hay chuyển đến tôi nhiều bài viết chống cộng ở hải ngoại do thích nghe tôi phản pháo [1] mà họ cho là dễ hiểu dễ nhớ khó cãi khó chống, hỏi tôi dịp Tết này vì sao Việt Nam vẫn còn “độc đảng độc tài” khi sự kiện Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn còn nóng hổi và vì cũng để những bạn trẻ Việt Nam hiểu biết thấu đáo hơn và hết phân vân trước các luận điệu chống đối của nước ngoài, tôi thấy cũng nên mạn phép dùng kiểu giải thích “cực kỳ bình dân” cho vấn đề “cực kỳ hàn lâm” trên.

Việt Nam không cần đa đảng vì sáu lý do rất đơn giản mà tất cả những người Việt Nam có sở hữu trí tuệ uyên bác và trong tình trạng sức khỏe tâm thần ổn định tốt đều đã hiểu và biết rất rõ như sau:

1) L‎ý do thứ nhất: Lẽ Công Bằng

Tại các nước Âu Mỹ dù có hay không có kinh qua các cuộc chiến tranh nội bộ, xâm lược hay bị xâm lược, khu vực hay toàn cầu, thì mọi tầng lớp nhân dân thuộc mọi phe nhóm hay đảng phái đều có đóng góp công của vào việc xây dựng đất nước, đóng góp xương máu trong tiến hành xâm chiếm nước khác làm giàu cho nước mình, hay đóng góp máu xương chống giặc xâm chiếm nước mình để giữ yên bờ cõi; thế nên ở xứ của họ đương nhiên là các phe nhóm chính trị, các đảng phái chính trị, và các tầng lớp nhân dân có quyền lợi như nhau trong sinh hoạt phe nhóm, đảng phái, mà họ gọi hoa mỹ là “đa đảng” như một nền tảng của “tự do ngôn luận” và “tự do lập đảng”. Tất nhiên, “đa đảng” là để che dấu một sự thật là tất cả các đảng đều chỉ khác nhau ở cái tên còn giống y nhau ở hai điểm (a) phục vụ lợi ích các nhà tài phiệt chủ nhân của đảng cầm quyền và (b) phục vụ lợi ích các nhà tài phiệt chủ nhân của các đảng khác đang nắm quyền ở Thượng Viện và Hạ Viện – nghĩa là nếu giả dụ hoang đường rằng ngay cả khi đảng “Cộng Sản Mỹ” có người “đắc cử” làm Tổng Thống Hoa Kỳ thì người ấy vẫn phải răm rắp thực hiện đầy đủ các cam kết của và tiếp tục các đường lối đối ngoại và thậm chí các cuộc chiến tranh gây ra bởi vị tổng thống tiền nhiệm. Tương tự, đa đảng ở Anh Quốc có nghĩa là bất kỳ đảng nào lãnh đạo chính phủ cũng đều phải tuyệt đối ủng hộ Mỹ, chung vai sát cánh với Mỹ tiến hành chiến tranh tại bất kỳ khu vực nào Mỹ muốn. Thêm vào đó, “đa đảng” tại các quốc gia theo thể chế quân chủ lập hiến chính là trò bát nháo buồn cười khi vẫn tồn tại miên viễn đặc quyền bất khả xâm phạm của các “vua”, các “nữ hoàng”, tức “đảng cấp trên” hay “đảng thượng cấp”, còn các đảng ở quốc hội và “nội các” là … “đảng hạ cấp” mà họ tự an ủi bằng danh xưng hoa mỹ “đa đảng của tự do dân chủ”.

Việt Nam hoàn toàn khác: tất cả các phe nhóm và đảng phái chính trị đều hoặc làm tay sai cho Pháp hay Nhật hay Hoa hay Mỹ, hoặc tự bươn chải chỉ biết dùng nước mắt bạc nhược cố tìm “đường cứu nước” (như Phan Bội Châu khóc lóc với Lương Khải Siêu [2] khi nhờ Lương Khải Siêu giới thiệu với Nhật xin giúp kéo quân sang Việt Nam đánh Pháp, mà không biết mình rất có thể đã “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi về dày mả tổ”, mở đường cho sự quan tâm của Quân Phiệt Nhật tàn bạo đánh chiếm và giết chết nhiều triệu người Việt Nam sau này, và phải nhờ Lương Khải Siêu ban phát cho lời khuyên can mới hiểu ra sự nguy hiểm của lời yêu cầu Nhật đem quân đến Việt Nam giúp đánh Pháp), và tất cả đều chống Cộng. Chỉ có Đảng Cộng Sản Việt Nam đánh thắng tất cả, tạo dựng nên đất nước Việt Nam thống nhất, nên việc “đòi quyền lợi” hay “đòi quyền tham chính” của tất cả các cá nhân, tất cả các phe nhóm chính trị bên ngoài Đảng Cộng Sản Việt Nam là điều không tưởng, vô duyên, khôi hài và bất công, nếu không muốn nói là hành vi bất lương của kẻ cướp muốn thụ hưởng quyền lực chính trị trong khi đã không có bất kỳ công sức đóng góp nào cho Đảng Cộng Sản Việt Nam, ngoài sự chống phá ngay từ bản chất.

Người Việt Nam yêu sự công bằng nên không ai chấp nhận đa đảng. Bất kỳ ai nói nhặng lên về đa đảng đích thị là phường gian manh muốn ngồi mát ăn bát vàng, hoặc phường Việt gian tay sai Hoa-Mỹ, và do đó không thuộc cộng đồng người dân Việt chân chính.

2) Lý do thứ nhì: Yêu Cầu Cao Và Chuyên Nghiệp Của Trị Nước

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về chính trị.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về quân sự.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về ngoại giao.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về kinh tế.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về tạo uy danh lớn, uy tín cao, uy thế mạnh trên trường quốc tế.

Do đó, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã bảo vệ đất nước thành công, đã xây dựng đất nước thành công, và tất cả những điều này có nghĩa rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam có kinh nghiệm thực tế về trị quốc.

Nhân dân Việt Nam không bao giờ cho phép Đảng Cộng Sản Việt Nam đặt sinh hoạt chính trị sống còn của đất nước Việt Nam vào tay những kẻ vô danh tiểu tốt chỉ có hai thứ lận lưng là (a) tấm bằng thạc sĩ hay tiến sĩ của đại học Mỹ và (b) tiền tài trợ của Mỹ và những nước tương cận mưu toan xóa sổ Đảng Cộng Sản Việt Nam để ăn cướp thành quả cách mạng mà chỉ riêng Đảng Cộng Sản Việt Nam tạo dựng nên.

3) L‎ý do thứ ba: Kinh Nghiệm Thực Tế Và Sâu Sắc Của Người Việt Đối Với Những Kẻ Đặt Vấn Đề Đa Đảng

Tất cả những kẻ đặt vấn đề đa đảng đều nhận tiền của các thế lực chống cộng, từ đó dễ dàng suy ra rằng đòi hỏi đa đảng chỉ nhằm một mục đích duy nhất là tiêu diệt cộng sản để chỉ còn một đảng duy nhất của riêng chúng, chứ không phải để cùng Đảng Cộng Sản hữu hảo sinh hoạt chính trị “tự do” như ở các nước khác. Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ không xứng đáng lãnh đạo đất nước Việt Nam nếu để bản thân Đảng bị tiêu diệt vì luận điệu đa đảng ngây ngô trẻ nít ấy.

Điều nói thêm tuy không cần thiết do đã là sự thật quá rõ ràng là tất cả những người đã và đang kêu gào đòi đa đảng đều là phường bất tài vô dụng, vô danh tiểu tốt, vô hạnh, và vô lại. Không một ai trong nhóm người đòi đa đảng có thể cho ra một cái tên cụ thể nào của một con người cụ thể nào trong toàn thế giới chống cộng có uy danh hiển hách cùng kỳ tích trong và kinh nghiệm về trị quốc để có thể “tham chính” tại Việt Nam.

4) Lý do thứ tư: Kinh Nghiệm Thực Tế Và Sâu Sắc Của Người Việt Đối Với Đa Đảng

Người dân Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã có kinh nghiệm rằng Đảng Cộng Sản ở Miền Bắc đã lãnh đạo cách mạng thành công, chiến thắng xâm lược, xây dựng đất nước, và thống nhất đất nước trong vẻ vang.

Người dân Việt Nam Cộng Hòa đã có kinh nghiệm rằng Miền Nam đã chưa hề có chế độ đa đảng mà chỉ có vài phe nhóm linh tinh hay nói đúng hơn là chế độ đa đảng với chữ “đảng” là “băng đảng”. Sau nhiều năm làm tổng thống, Nguyễn Văn Thiệu cho rằng nhất thiết phải có một đảng chính trị để hòng có được uy danh một tổ chức có cương lĩnh hẳn hoi hầu sánh được với Đảng Cộng Sản Việt Nam nên đã khẩn cấp tổ chức nên cái gọi là Đảng Dân Chủ, với cờ vàng sao đỏ (đối chọi với cờ đỏ sao vàng) do Nguyễn Văn Thiệu làm đảng trưởng (đối chọi với chủ tịch đảng Hồ Chí Minh) trong lễ ra mắt ồn ào rợp cờ xí năm 1973 tại tòa nhà sát bên nơi nay là trụ sở Ủy Ban Nhân Dân Quận Bình Thạnh. Kỳ dư chỉ là những “liên danh tranh cử” của các tên tài phiệt, nhân sĩ “xôi thịt”, trí thức nửa vời, tu sĩ hổ mang, tay sai Mỹ, bất tài về kinh tế, bất lực về quân sự, dẫn đến sự thất bại nhục nhã khi các tổng thống nối đuôi nhau khóc lóc trên đài truyền hình quốc gia, run rẩy giàn giụa nước mắt thề tử thủ trước khi ôm vàng trốn chạy, còn quân đội vứt bỏ cả quân trang quân dụng và quân phục tháo chạy tán loạn.

Người dân Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam biết rất rõ rằng “tự do đa đảng” kiểu Mỹ áp dụng ở Đông Nam Á hoàn toàn là “độc-đảng-có-sự-ủng-hộ-của-Mỹ” như vết xe đổ của Philippines, Indonesia, v.v.; đồng thời, “tự do dân chủ” dưới sự bảo trợ của Mỹ luôn đồng nghĩa với độc tài gia đình trị tàn bạo và phản dân chủ như phiên bản các “đồng minh” khủng khiếp của Mỹ mà cụ thể là các tên tổng thống “độc đảng độc tài” như Ferdinand Marcos (Philippines), Suharto (Indonesia), Park Chung-hee (Hàn Quốc), Ngô Đình Diệm (Việt Nam Cộng Hòa), Nguyễn Văn Thiệu (Việt Nam Cộng Hòa), v.v., mà hiện nay là Husni Mubarak (Ai Cập) đã cai trị cùng kiểu và bị lật đổ cùng với sự dấy lên của phong trào chống Mỹ và/hoặc chủ nghĩa cực đoan gây bất ổn triền miên trên toàn thế giới.

Do đó, người dân Việt Nam chân chính, biết tự trọng, có tính hào hùng dân tộc, và hiểu biết sâu sắc về chính trị sẽ không bao giờ đặt vấn đề về đa đảng hay có nhu cầu đối với đa đảng.

Người Việt chân chính và có học thức đều biết rằng Hoa Kỳ và Việt Nam đều độc đảng, với điểm khác nhau duy nhất là đảng ở Việt Nam ở dạng sinh học nhất thể, còn đảng ở Hoa Kỳ là dạng sinh năm sinh ba sinh mười giống nhau như đúc do tự phân thân kiểu vi trùng để hoạt động giống y nhau bằng những cơ thể khác nhau, phục vụ cho mục đích không khác nhau.

Người Việt chân chính và có học thức đều biết rằng Hoa Kỳ và phe người Việt chống cộng hiểu rất rõ là họ đang sử dụng chiêu bài công kích cộng sản độc đảng chỉ với mong muốn tiêu diệt cộng sản, hình thành một xã hội độc-đảng-không-cộng-sản mà thôi, như những cuộc tiêu diệt cộng sản và chụp mũ cộng sản lên đầu phe đối lập đã luôn xảy ra dưới thời Suharto, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu cùng những tên tương cận khắp thế giới.

Người Việt chân chính và có học thức muốn đất nước được lãnh đạo bởi một đảng chính trị có thực tài để không phải chứng kiến trò hề tranh cử như ở Mỹ và sự rối loạn chính trị như ở Thái Lan. Đảng phái chính trị ở Việt Nam Cộng Hòa hoặc hữu danh vô thực, hoặc bất tài vô dụng, nên không bao giờ là mong muốn có tồn tại của người dân. Đảng phái chính trị “tương lai” mà những tên nhóc con vô danh tiểu tốt điên rồ như Lê Công Định [3] hay Cù Huy Hà Vũ [ 4] hoặc những tên lưu manh mặc áo chùng đen hay cà sa điên loạn muốn thành lập dù bất tài vô dụng về chính trị, ngu dốt về trị quốc, và chà đạp giáo lý đấng Chí Tôn không bao giờ được người dân Việt Nam chân chính yêu nước cho phép hình thành.

5) L‎ý do thứ năm: Người Dân Việt Nam Hài Lòng Với Và An Tâm Dưới Sự Lãnh Đạo Của Đảng Cộng Sản Việt Nam

6) Lý do cuối cùng và là lý do quan trọng nhất: Sự Tồn Tại Của Việt Nam

Mỹ kiêng sợ Trung Quốc đến độ nhiều chục năm qua không bao giờ dám gọi đồng minh Đài Loan là quốc gia. Thái Lan kiêng sợ Trung Quốc. Thế giới kiêng sợ Trung Quốc. Trung Quốc không sợ bất kỳ quân đội nào của thế giới. Trung Quốc chiếm Hoàng Sa đánh tan các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa ngay trước mũi Đệ Thất Hạm Đội hùng hậu của Hoa Kỳ. Trung Quốc chỉ sợ quân đội của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Bọn đòi đa đảng là nhằm xóa sổ Đảng Cộng Sản Việt Nam. Người dân Việt Nam biết rằng xóa sổ Đảng Cộng Sản Việt Nam đồng nghĩa với thủ tiêu tất cả các tướng lĩnh Cộng Sản của quân đội Việt Nam, và làm tan rã quân đội Việt Nam. Người dân Việt Nam biết rằng Trung Quốc không trông mong gì hơn là Việt Nam có đa đảng, vì ngay khi bọn đa đảng xóa sổ được Đảng Cộng Sản Việt Nam, Trung Quốc sẽ xua quân đánh chiếm toàn bờ cõi Việt Nam và chiếm Việt Nam trong vòng 8 giờ làm việc của một ngày làm việc.

Người Việt chống cộng hay rêu rao Đảng Cộng Sản Việt Nam làm tay sai cho “giặc” Trung Quốc mà không đủ trí tuệ để hiểu rằng chính những hành vi chống Việt Nam của họ mới làm hài lòng mấy anh “giặc” ấy.

Hoa Kỳ thiếu ánh sáng trí tuệ nếu tài trợ dưỡng nuôi các phe nhóm chống Việt Nam Cộng Sản, vì chỉ có quân đội của Đảng Cộng Sản Việt Nam mới có thể ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc xuống vùng Đông Nam Á, không cho Trung Quốc uy hiếp Châu Úc, không cho Trung Quốc đặt dấu chấm hết cho sự ngự trị tung hoành của các hạm đội Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương.

Cộng sản không bao giờ có thể bị tiêu diệt; do đó, sự trỗi dậy của đa đảng đồng nghĩa với nội chiến, tàn phá đất nước, tàn diệt dân tộc, và tạo điều kiện cho Trung Quốc xóa sổ Việt Nam.

Ngoài sáu lý do đơn giản cực kỳ bình dân dễ hiểu và dễ nhớ trên còn có vô số các lý do khác, chẳng hạn (a) thế giới đang đánh giá cao về sự ổn định chính trị (do độc đảng đem lại) ở Việt Nam, nên Việt Nam dứt khoát kiên trì độc đảng để không làm thất vọng các nhà đầu tư quốc tế; (b) thế giới tư bản biến loạn với sự suy thoái kinh tế toàn cầu và các chủ thuyết của Karl Marx được Châu Âu quan tâm tái nghiên cứu tìm cách cứu thân trong khi Việt Nam đã nhuần nhuyễn áp dụng sáng tạo nên không lý do gì phải đi theo con đường đa đảng vô hiệu và thất bại của Âu Mỹ; hay (c) ngay cả Chính Phủ Hoa Kỳ cũng phải nhìn nhận vai trò quan trọng chiến lược của Việt Nam, đất nước độc đảng, trong an ninh khu vực và quốc tế, v.v.

Lời kết luận sẽ rất đơn giản, như lời lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nói:

“Việt Nam Không Cần Đa Đảng.”

Hoang Huu Phuoc, MIB

* Tựa đề do kenminhthien.net đặt.

[nguồn: http://my.opera.com/thanhniendatviet/blog/2012/09/29/da-dang]

Kiếm sống được ở Sài Gòn là người Sài Gòn rồi

Tôi hỏi: ‘Anh thấy người Sài Gòn thế nào?’, mặt anh ngạc nhiên như người từ sao Hỏa xuống.

Sài Gòn miền dất hứa….

Khi có ý đi tìm người Sài Gòn, không hiểu sao chưa ra khỏi nhà, tôi đã biết có đi phỏng vấn đến Tết Congo cũng không người nào tự nhận mình là người Sài Gòn gốc ba đời hoặc mấy chục đời cả. Chắc rằng mọi người sẽ hỏi lại tôi: “Sao hỏi chi cái chuyện tào lao, tầm phào hết sức vậy cha nội, kiếm sống được ở Sài Gòn, là người Sài Gòn rồi?”.

Thật ra trên khắp thế giới, phần căn cước của một người ít ai phân biệt dân tỉnh lẻ hay dân thủ đô và đó là văn minh căn bản nhất. Riêng ở Việt Nam thì khác. Việc phân biệt dân thủ đô, dân thành phố lớn hay dân tỉnh lẻ, nông thôn, dân kinh tế mới… là chuyện căn bản. Ai cũng biết sự phân biệt đối xử của chế độ hộ khẩu là khắc nghiệt, vấn nạn đó lâu ngày tạo nên cả một gói “tự hào” về địa vị chính trị, kinh tế, văn hóa… dành cho dân có hộ khẩu thủ đô, thành phố trước phần dân cư còn lại của cả nước.

Khi nền kinh tế mở cửa, dù chế độ hộ khẩu vẫn không thay đổi nhưng những yếu tố kinh tế thị trường đã phá vỡ toàn bộ những công dụng chuyên chế của chế độ hộ khẩu. Theo nhu cầu mưu sinh và nhân lực của kinh tế thị trường, dân tỉnh lẻ, nông thôn tràn về đô thị bất chấp chuyện họ sống đời không hộ khẩu hoặc chỉ có cái gọi là chứng nhận tạm trú. Theo thời gian, “đội quân” nhập cư tăng theo cấp số nhân và cả người nhập cư thành đạt, người kiếm sống qua ngày trở thành nguồn dân số bá chủ. Chính nguồn dân số và chất lượng dân số bùng nổ này đã dồn những ai tự huyễn hoặc cho mình dân thủ đô gốc, dân thành phố cố cựu vào hội chứng yếu đề kháng, trở thành những kẻ thất bại.

Nếu ai còn tự cho mình là dân Hà Nội gốc, thật ra đó là lối nghĩ của dân được bảo hộ bởi chế độ hộ khẩu. Họ có thể trưng ra lý do là ông bà, cha mẹ sống ở Hà Nội và họ thừa kế cái gốc người Hà Nội. Cơ sở lý lẽ này là không minh bạch vì trong lịch sử cận đại Việt Nam, theo tìm hiểu, thời Hà Nội cổ, không có chuyện độc đoán, khoanh tròn mực đỏ dân Hà Nội điểm tối ưu và phần dân còn lại chỉ có điểm trung bình kém.

Người Hà Nội trước đây đủ khỏe mạnh, tinh thần và trí thức để rộng tay đón nhận tất cả các nguồn dân cư như đón nhận dòng máu mới, cũng như đủ ứng xử văn minh để biết rằng cực đoan địa phương là ngớ ngẩn. Chuyện dân thủ đô được tôn trọng kính nể, đó là do phẩm chất người, chất lượng từ những công việc phục vụ cộng đồng, quốc gia và được cộng đồng xác nhận trong chuẩn giá trị văn hóa chung, chứ không phải một dạng đặc quyền, đặc lợi.

Ảnh: Bestcoolasia.
Người Hà Nội đủ văn hóa để nhìn thấu rằng hiện trạng hư hỏng của xã hội có nguyên nhân. Cả dân tộc, không phân biệt bất kỳ ai, vùng miền nào đều phải gánh chịu hiện trạng hư hỏng tệ hại này. Một giáo sư sinh ra ở Hà Nội di cư vào Nam muốn giấu tên đã nói thật với chúng tôi rằng: “Chỉ thời đại này mới có kiểu tự tôn bệnh hoạn địa phương thượng đẳng”.

Mỗi tháng tôi đều đến một tiệm hớt tóc của một ông chủ trẻ trên đường Hồ Bá Kiện. Tuổi chưa đến bốn mươi, anh có tổng cộng ba tiệm hớt tóc. Lần này anh mời tôi hớt tóc, lấy ráy tai ở một tiệm mới khai trương. Cô gái lấy ráy tai cho tôi nói: ‘Ổng vài bữa nữa là sắm thêm xe hơi”. Tôi hỏi thẳng ông chủ tiệm là anh có mấy chiếc xe hơi rồi, anh chàng nói giọng miền Nam lơ lớ: “Tính mua thêm một chiếc nữa là bốn. Xe tôi mua cho cơ quan, công ty thuê, hợp đồng tính theo năm”.

Rồi anh kể: Năm 1980, anh từ Huế vào Sài Gòn làm phụ hồ, khổ “trơ xương”, ba năm không biết mùi bún bò, mỳ Quảng là gì”. Tôi hỏi anh: “Anh thấy người Sài Gòn thế nào?”. Mặt anh ngạc nhiên như người từ sao hỏa xuống: “Rứa, lúc mới vào tôi cũng có nghĩ người trong này ăn ngon, chơi bạo khác người quê tôi nhưng ở vài tháng là tôi thấy chỉ người có tiền là khác”. Cái anh chàng chủ tiệm hớt tóc này cũng như hàng triệu người từ nhiều thế hệ đã nhìn thấy Sài Gòn là một nơi kiếm sống, kiềm tiền, làm giàu. Đối với mọi người Việt, tính cả dân thủ đô, Sài Gòn là vùng đất hứa, là một kiểu giấc mơ Mỹ của người Việt Nam.

Một trí thức người Bắc di cư kết luận: “Sài Gòn là đất Phật”. Nhiều người bạn ông bàn thêm: “Giá trị rõ nhất của đất Phật, trước tiên, đây là nơi chốn bình yên, bình yên cả trong chiến tranh, thiên tai và những vấn nạn đáng sợ khác có nguyên nhân từ con người. Sài Gòn không có chuyện phân biệt đối xử vùng miền, văn hóa và chủng tộc…”.

Nhà báo TG. có lần nói: “Chỉ cần vô Sài Gòn, có một cái bơm xe, ngồi ở vỉa hè Sài Gòn cũng sống được, cũng thoát khổ mà tính chuyện khởi nghiệp”. Mỗi người, trong hàng triệu người từ nhiều thế hệ đều có riêng cho mình những kỷ niệm sâu sắc về sự rộng lòng của đất và người Sài Gòn. Có người còn nói nửa đùa nửa thật rằng: “Nếu ai có chí, dám đứng lè lưỡi cho người ta dán tem ở bưu điện thành phố, chắc chắn không thiếu khách hàng”.

Tuy nhiên, Sài Gòn cũng có bất công. Điều bất công này không phải do Sài Gòn gây ra mà chính là do không ít người đến với Sài Gòn gây ra. Có thể thông cảm hiện trạng lúc nào họ cũng thương nhớ, ca ngợi nguyên quán xuất thân của họ. Và Sài Gòn cũng dễ quên, không chấp khi có những người nhập cư thành đạt, nên cơ nghiệp, chỉ nhận họ là người thành phố này, tỉnh nọ. Sài Gòn không hề chỉ là Sài Gòn của nơi kiếm tiền, chỉ là một nơi tạm trú bởi đa phần người nhập cư đã hoặc sẽ có khoảng đời sống ở thành phố này dài hơn so với lúc họ sống ở nguyên quán sinh ra. Hãy đến các nghĩa trang, các chùa có để cốt mà xem, hàng triệu người tứ xứ thuộc nhiều dân tộc, nhiều thế hệ đã chọn gởi lại cho Sài Gòn nắm xương tàn.

Một cô bạn của chúng tôi sinh ra ở một nhà bảo sanh trên đường Gò Công, quận 6, có ông bà nội là người Hoa Minh Hương, ông bà ngoại là dân sinh ra ở bến Mễ Cốc, quận 8. Cô nói: “Nếu muốn biết ai là người Sài Gòn thì chỉ cần nhìn cách họ đón tiếp, đối xử với bà con cô bác ở quê lên thăm hoặc lên kiếm việc làm. Bà ngoại tôi mỗi lần gặp bà con là mừng lắm, tấm lòng của người tha hương mà. Ai cũng có họ hàng dây mơ rễ má, chớ có phải ở đất nẻ chui lên đâu”.

Theo một ông già chạy xe ôm ở quận Tân Bình, “đất Sài Gòn trước tiên là đất của những tay hảo hớn, bởi chỉ có những người mạnh mẽ từ tâm hồn đến thể xác mới quyết định bỏ xứ ra đi đến đất mới, cũng chính họ mở đường cho con cháu mưu cầu sự sống mới và tự do. Tánh hảo hớn và phóng khoáng là máu huyết căn cơ của người Sài Gòn”.

Ở góc đường Cao Thắng và Phan Thanh Giản cũ (nay là Điện Biên Phủ) có một cái miếu lớn gọi là Thành Hoàng Bổn Cảnh. Nơi đây hàng ngày hàng đêm vẫn nghi ngút hương khói tưởng nhớ những vong linh của tướng quân Lê Văn Khôi (con nuôi Tả quân Lê Văn Duyệt) và các nghĩa binh bị xử chém, vùi xác ở quanh khu Kỳ Hòa, thành Gia Định dưới thời vua Minh Mạng. Một nhà nghiên cứu lịch sử miền Nam có lần nói với tôi: “Không rõ lắm những nghĩa quân này có phải là người Sài Gòn không nhưng tôi tin chắc khi họ chết, họ là người Sài Gòn”.

Gia đình bên ngoại tôi có một người anh họ, anh tên là Ba V. Sài Gòn với anh là một thiên đường tại thế, có lần anh nói với tôi: “Tao phục mày quá, sống được ở Sài Gòn”. Lời anh đơn giản nhưng chí lý, người Sài Gòn thời nào cũng rất bảnh trong cách nhìn của người địa phương khác. Có người sẽ phản bác tôi rằng: “Người Sài Gòn ngày nay không còn sang trọng nữa”. Nhưng trường hợp gia đình anh họ tôi thì lại đồng ý với tôi. Sau 1975 cả bảy đứa con của anh họ tôi đều không đủ ăn đến xanh mặt. Khi Sài Gòn vào thời kinh tế thị trường, cả năm đứa con trai, con gái của anh đều trở thành người Sài Gòn, anh chỉ giữ lại được đứa con gái và đứa con trai út làm người Gò Công cày cấy trên nửa mẫu ruộng hương hỏa. Điều đáng nói là những người con Sài Gòn của anh, dù chỉ làm thợ hồ và nấu bếp ở Sài Gòn nhưng đã đem lại một cuộc cách mạng kinh tế, lối sống văn minh cho cả gia đình anh. Chất nông dân cố cựu của anh không còn như trước, ở anh ngày càng rõ ra cái chất thị dân Sài Gòn do con anh truyền bá.

Tôi có dịp nói chuyện với cô gái người Hà Nội, cô vào Sài Gòn làm nghề báo. Tôi không biết cô có phải là người Hà Nội gốc hay không, cô nói: “Khi mắng cái dân thiếu văn minh ngoài đấy, em có Sài Gòn để chứng minh là trong này người ta không ai làm việc xấu hổ thế”. Tất nhiên, không có vùng rộng của lối sống văn minh nào lại không có mặt tệ nạn nhưng cộng đồng thị dân Sài Gòn không có kiểu hí hởn cả tập thể hùa nhau hái hoa Anh Đào của Nhật Bản triển lãm về làm của riêng, cũng không có những vấn nạn không thể tưởng tượng được như chiếm thang máy chung cư, cho thang máy chạy lên chạy xuống liên tục để dỗ con và đút cơm cho con mình ăn ngon miệng.

Không có cái kiểu nghĩ và hành xử như một cô ca sĩ trẻ mà tôi quen. Cô này từ Hà Nội vào Sài Gòn tìm cơ hội thành “sao”. Trong thời điểm Hà Đông có quyết định sáp nhập vào Hà Nội, cô luôn miệng tục tằn, gay gắt với những người “đời đời kiếp kiếp” cô không nhận là người Hà Nội dù hàng ngày đang cùng thở, cùng sống ở không gian Hà Nội mở rộng với cô. Chính từ những cách nhìn kỳ thị kiểu này đã xác lập một thứ ranh giới mà ở đó, người ta tự cho Hà Nội như mình đây là tốt đẹp, phần còn lại là tệ hại vì không phải là Hà Nội. Có gì đáng buồn cười và xấu hổ cho bằng kiểu kỳ thị “địa phương thượng đẳng” đó. Và chính đó mới là mầm mống, là nguyên nhân của vô số vấn nạn xã hội.

Vấn đề không phải Sài Gòn không có người nhập cư quê mùa, kém cỏi nhưng cái chính là văn minh Sài Gòn đủ mạnh để hướng mọi người đến phẩm chất tôn trọng lợi ích cộng đồng và tự trọng trong lối sống cá nhân. Hơn 30 năm qua, những ai công tâm sẽ nhìn thấy những dòng người không thể thống kê hết từ miền Bắc vào Sài Gòn để mưu cầu cuộc sống tốt hơn, qua từng cá nhân, họ hàng, thôn làng vào Sài Gòn, vào miền Nam rồi về thăm quê đã đưa về, đã truyền bá lối sống văn minh, vật chất và tinh thần Sài Gòn.

Bạn tôi – nhà thơ, là một người Hà Nội sang trọng, anh vào và chọn Sài Gòn để sống, cũng có thể coi anh là người tị nạn văn hóa ở Sài Gòn. Anh có những kỷ niệm vui buồn sâu sắc dành cho Hà Nội nên mỗi lần về quê trở vào là anh nói: “Mình đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất là thấy nhẹ người”.

Trần Tiến Dũng

http://ngoisao.net/tin-tuc/choi-blog/2012/09/kiem-song-duoc-o-sai-gon-la-nguoi-sai-gon-roi-211913/

Làn sóng từ bỏ Thiên chúa giáo ở châu Âu

 

Các giáo hội Thiên chúa giáo ở châu Âu đang chứng kiến những đợt tín đồ Công giáo và Tin lành xin rút tên ra khỏi sổ rửa tội hoặc sổ đăng ký lễ Báp-têm ngày càng tăng. Thông tín viên VOA Lisa Bryant từ Paris cho biết hiện tượng này phản ánh tình hình các xã hội châu Âu, có truyền thống Thiên chúa giáo, đang chuyển sang tính thế tục nhiều hơn.

Giáo Hoàng Benedict XVI (trái) làm lễ rửa tội 1 trẻ sơ sinh ở Vatican, 9/1/2011

Nhà thờ Saint-Germain-des-Pres tại thủ đô Paris của Pháp tràn ngập các tín đồ tại thánh lễ dành cho thanh niên vào tối Chủ Nhật. Nhiều người đứng hai bên cánh hay ngồi tréo chân trong các góc của ngôi thánh đường sâu hun hút được xây vào thế kỷ thứ 6.

Linh mục Benoist de Sinety là cha sở của giáo xứ Saint Germain trong 3 năm qua:

“Tôi lúc nào cũng mừng khi thấy giáo dân đi xem lễ đông. Có nhiều người trẻ đang tự định hướng hay có đức tin trở lại, nhưng không phải nhà thờ nào cũng đông giáo dân như vậy.”

Các nhà thờ tại Pháp và các nơi khác ở châu Âu đang gặp cảnh số tín đồ giảm sút, một xu hướng không phải chỉ được thể hiện bằng các hàng ghế trống trong nhà thờ, mà còn bằng sự giảm mạnh các buổi lễ mà người Công giáo gọi là lễ rửa tội, còn người Tin lành gọi là lễ Báp-têm.

Hiện tượng mới nhất, là cả các tín đồ Công giáo lẫn Tin lành đều xin xóa tên của mình khỏi các tài liệu chứng nhận đã rửa tội hoặc có lễ Báp-têm.

Không có các con số thống kê chính thức, nhưng các chuyên viên và các nhà hoạt động nói con số những người thuộc thành phần này lên đến hàng chục ngàn người. Những trang mạng sẵn sàng cấp chứng nhận đã xóa sổ rửa tội hoặc xóa lễ Báp-têm mọc lên như nấm, dù đây chỉ là những chứng từ không chính thức.

Bà Anne Morelli, người đứng đầu một trung tâm nghiên cứu tôn giáo và thế tục tại trường đại học Free ở Brussels cho biết:

“Xin xóa sổ chính thức và không chính thức đang xảy ra trên toàn châu Âu. Con số này tăng lên trong năm 2011, đặc biệt là tại Hà Lan, Đức, Bỉ và Austria. Việc này phản ánh sự bất bình của công chúng đối với những vụ tai tiếng về tình dục trẻ em tại những nhà thờ ở các nước này.”

Cách đây một thập niên, Hội Thế tục Quốc gia của bà Terry Sanderson công bố trên trang mạng của hội một chứng chỉ “hủy bỏ lễ Báp-têm” để mọi người có thể tải xuống sử dụng. Cho đến nay có hơn 100.000 người đã làm việc này. Bà nói:

“Lúc đầu chỉ là một trò đùa, nhưng hiện nay việc này đã có một ý nghĩa mới vì có quá nhiều người nôn nóng muốn rời khỏi nhà thờ nên họ xem việc này như là một điều nghiêm chỉnh, họ muốn có phương cách để giúp họ từ bỏ nhà thờ một cách chính thức, và thông thường nhà thờ sẽ không công nhận mong ước của họ.”

Một số người Công giáo chống lại lập trường bảo thủ của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô về những vấn đề như phá thai, đồng tính luyến ái, và tu sĩ lập gia đình.

Những tín đồ Thiên chúa giáo khác cắt đứt quan hệ với nhà thờ bằng quyết định hợp pháp là không trả thuế của quốc gia cho nhà thờ, thay vì bằng cách hủy bỏ lễ Báp-têm.

Đó là trường hợp của nước Đức, nơi có 181.000 người Công giáo tách rời khỏi nhà thờ trong năm 2011, một con số kỷ lục.

Tại Pháp, ông Rene Lebouvier, 71 tuổi, đã quyết định từ bỏ nhà thờ cách đây cả chục năm. Ông cho biết:

“Tôi đã đi kiện để tên tôi được xóa khỏi sổ rửa tội một cách hợp pháp. Tháng 10 năm ngoái, một toà án sơ thẩm tại Normandy ra quyết định có lợi cho tôi, nhưng vị giám mục ở đó đã kháng cáo bản án này.”

Giáo sư về tôn giáo Philippe Portier tại Paris nói không có nhiều người Pháp xin xóa tên khỏi sổ rửa tội, nhưng trường hợp của ông Lebouvier có thể tạo ra một tiền lệ pháp lý. Giáo sư Portier nói:

“Đây sẽ là lần đầu tiên tại châu Âu và đặc biệt tại Pháp, nhà thờ bị buộc phải xoá tên khỏi sổ rửa tội cho những giáo dân bây giờ không muốn được xem là giáo dân nữa. Tôi nghĩ là toà phúc thẩm sẽ phán quyết có lợi cho ông Lebouvier.”

Giáo hội Công giáo Pháp sẽ không bình luận về vụ án này. Tuy nhiên. ông Bernard Podvin, Phát ngôn viên của Hội đồng Giám mục Pháp nói:

“Quan điểm của giáo hội đối với việc xin xóa sổ rửa tội là thận trọng và mong muốn có đối thoại. Hiện tượng này không nên thổi phồng lên.”

Điều làm giáo hội Pháp lo ngại hơn nữa, là số người chịu phép rửa tội đang giảm sút. Theo thống kê của giáo hội, chỉ có 1 trong 3 trẻ em Pháp chịu phép rửa tội, so với 90% cách đây 50 năm.

Giáo hội Công giáo Pháp đang thi hành một chiến lược truyền giảng phúc âm mới để khuyến khích các gia đình làm lễ rửa tội cho con cháu. Chiến lược này rất năng động.

Tại nhà thờ Saint-Germain-des-Pres, truyền bá phúc âm dường như có tác dụng. Nhà thờ đề ra nhiều sinh hoạt, từ trượt tuyết ngoài trời đến tổ chức các mạng lưới giúp đỡ nghề nghiệp để lôi kéo giới trẻ Công giáo.

Linh mục Benoist tại nhà thờ này vẫn giữ vững đức tin:

“Hiện nay có ít tín đồ Công giáo hơn trước nhưng số người còn lại ý thức sứ mạng của họ một cách mạnh mẽ hơn, đó là phục vụ cho con người, cho Chúa, và cho tình thương.”

LISA BRIANT (VOA)

Source

Từ vấn đề Bắc Cực nhìn về vấn đề Biển Đông, chỉ có thể nói rằng đi đâu Trung Quốc cũng đòi chủ quyền một cách “hết sức vô lý” và đặc biệt là luôn mẫu thuẫn trong chính những lập luận của chính mình!

Tham vọng xâm chiếm bành trướng của Trung Quốc ngày càng thô thiển và “mất dạy”

Cơn khát năng lượng xuất hiện tại nhiều quốc gia trong bối cảnh các nước đều cần phát triển kinh tế một cách mạnh mẽ đã làm cho nhiều vùng lãnh thổ trên biển lẫn đất liền biến thành vùng tranh chấp. Không ngoại lệ, cơn khát tài nguyên này cũng đã khiến cho Trung Quốc trở nên hung hăng và liên tục có những hành động phi lý nhằm đòi chủ quyền lãnh thổ, từ biển Đông cho đến Bắc Cực.

Bắc Cực và vùng nước xung quanh hiện được coi là vùng biển quốc tế và không thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào.

Bắt đầu từ những năm 2000, Trung Quốc đã cho thành lập các cơ quan đặc biệt chuyên về Bắc Cực để thể hiện tham vọng của mình. Cụ thể, vào năm 2004, Trung Quốc đã cho xây dựng trạm nghiên cứu khoa học đầu tiên với diện tích 500m2 với 4 phòng thí nghiệm tại Spitsbergen ở Bắc Cực. Đến năm 2009 Trung Quốc lại  thành lập Trung tâm nghiên cứu khoa học vùng cực trên cơ sở cơ quan chuyên trách trước đó với số nhân lực 230 người.

Hoàn toàn có thể lí giải được những động thái này của Trung Quốc liên quan đến Bắc Cực. Theo số liệu của Viện Địa lý Mỹ đưa ra thì Bắc Cực có trữ lượng dầu thô khoảng 90 tỷ thùng, về khí đốt tự nhiên là 1,669 nghìn tỷ m3 và khí tự nhiên hóa lỏng 44 tỷ thùng. Những con số này quy ra sẽ tương ứng với 13% trữ lượng dầu mỏ trên toàn thế giới chưa được khai thác, 30% khí đốt tự nhiên và 20% khí tự nhiên hóa lỏng. Đặc biệt hơn khi lợi ích khu vực này chưa dừng lại ở dầu khí, mà còn là hải sản và nhiều loại khoáng sản khác (kim cương, mangan, đồng, coban, phốt phát, niken, aluminum, urani, gali, indi). Do đó, từng mét vuông đất ở đây đều là mục tiêu để các nước tranh giành nhằm tạo lập vị thế, hướng tới mục tiêu giành được chủ quyền tại các vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) có địa chính trị quan trọng.

Hiện nay Trung Quốc đang là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và là một nền kinh tế “nóng”. Việc Trung Quốc có duy trì được mức tăng trưởng kinh tế cao như hiện nay phụ thuộc rất nhiều vào lượng cung tài nguyên. Trong tương lai thì lượng tài nguyên này dĩ nhiên sẽ phụ thuộc vào nguồn tài nguyên Bắc Cực.

Chưa dừng lại ở các lợi ích tài nguyên, còn có thêm một nguồn lợi rất lớn từ Bắc Cực đó chính là tuyến đường biển đi qua Biển Bắc. Đây chính là tuyến đường biển được xem là ngắn nhất nối các cảng ở Tây Âu và Đông Á. Đây cũng chính là nơi mà lợi ích của các quốc gia xung quanh Bắc Cực và các nước phía nam như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và Hàn Quốc gặp nhau.

Theo dự báo của các nhà khoa học, vào mùa hè năm 2013 hoặc 2015, con đường biển Bắc sẽ được mở, và đến năm 2030 thì tuyến đường biển xuyên Bắc Băng Dương sẽ khai thông hoàn toàn.

Trung Quốc đã nộp đơn xin làm quan sát viên Hội đồng Bắc Cực từ lâu nhằm tìm kiếm tiếng nói và tính “chính danh” của mình trong việc yêu sách chủ quyền Bắc Cực. Các nhà phân tích đều dự đoán rằng trong tương lai Bắc Kinh sẽ trở nên quyết đoán và cứng rắn hơn trong vấn đề Bắc Cực.

Hiện tranh chấp chủ quyền tại Bắc Cực chủ yếu diễn ra xung quanh ở các nước giáp ranh Bắc Cực giống như Nga, Na Uy, Đan Mạch, Canada, Mỹ, Thụy Điển, Iceland, Phần Lan. Một điều lạ lùng ở đây là một quốc gia dường như chả liên quan gì về mặt địa lý như Trung Quốc lại lên tiếng đòi chủ quyền một cách trắng trợn.

Thậm chí Trung Quốc còn đặt câu hỏi và yêu cầu được làm rõ về các đòi hỏi chủ quyền của các nước thành viên trong Hội đồng Bắc Cực.

Trung Quốc còn muốn Bắc Cực cùng với các tuyến hàng hải, nguồn dầu mỏ, khoáng sản và nguồn cá tại đó phải mang quy chế lãnh thổ quốc tế, phải là di sản chung của nhân loại. Đây được xem là một đòi hỏi hết sức vô lý. Nó đặc biệt mâu thuẫn nếu không muốn nói là trái ngược hoàn toàn khi đem ra so sánh với những lập luận cho yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông. Khi Trung Quốc liên tục tuyên bố mình có chủ quyền “cố hữu” từ “thời xa xưa” trên Biển Đông, quyết tâm không cho các nước khác “quốc tế hóa” vấn đề này, ra sức giải quyết bằng đàm phán song phương.

Ngay tại quan điểm “quốc tế hóa” này thì Trung Quốc đã thể hiện sự vô lý của mình. Cùng một bản chất tranh chấp mà Trung Quốc lại có hai quan điểm khác nhau ở hai khu vực. Có thể giải thích rằng vì tại Bắc Cực, khi hai ông lớn như Nga, Mỹ có liên quan trực tiếp thì Trung Quốc ra sức “quốc tế hóa” vì Trung Quốc biết rõ mình bị yếu thế tại đây. Có thể thấy rằng những lập luận về chủ quyền của Trung Quốc tại Bắc Cực đã “đi ngược lại” chính những lập luận cũng của nước này tại Biển Đông.

Sự vô lý này của Trung Quốc đều được khẳng định bởi hầu hết các học giả quốc tế. Thượng nghị sĩ Joe Lieberman – Chủ tịch Uỷ ban An ninh nội địa và các vấn đề của Chính phủ Mỹ phát biểu tại Hội thảo An ninh biển Đông ở Washington rằng “Chính sách của Trung Quốc tại khu vực biển Đông thiếu những cơ sở rõ ràng dựa theo luật pháp quốc tế, gây ra sự nghi ngờ và có thể dẫn đến những tính toán sai lầm. Đây cũng chính là điều khiến cho Trung Quốc có thể sẽ ngày càng bị cô lập hơn trong khu vực cũng như trên thế giới”.

Chính quyền Trung Quốc luôn khẳng định rằng họ có chủ quyền “không thể chối cãi” trên gần như toàn bộ khu vực Biển Đông. Thế nhưng Trung Quốc luôn luôn bác bỏ các đề nghị của Việt Nam hay Philippines nhằm đưa tranh chấp ra trước tòa án quốc tế hoặc mở đàm phán đa phương về vấn đề này. Thậm chí, Trung Quốc còn né tranh đưa vấn đề Biển Đông ra hội đàm tại các hội nghị mang tầm cỡ quốc tế. Cụ thể, tại hội nghị ARF diễn ra vào 12/7, phát ngôn viên ngoại giao Trung Quốc Lưu Vi Dân cũng đã thể hiện quan điểm đó rằng “Cuộc họp của các bộ trưởng ngoại giao tại Diễn đàn Khu vực ASEAN là một cơ sở quan trọng để xây dựng lòng tin lẫn nhau và tăng cường hợp tác, nhưng đó không phải là nơi phù hợp để bàn về vấn đề Biển Đông”.

Có thể nhận thấy rằng, nguyên nhân xuất phát cho những động thái cũng như lập trường trên là chính vì bản thân Trung Quốc đã tự nhận thấy rằng lập luận của mình là vô lý, có thể nói là “đuối lý”. Trung Quốc không thể nào đứng vững bằng cách chứng minh tính hợp lý cho quan điểm của mình khi đưa vấn đề ra giải quyết bằng luật pháp quốc tế hay đàm phán đa phương. Để bù vào sự yếu thế trên, Trung Quốc tăng cường tàu hải giảm, đưa tàu đổ bộ và hộ vệ tên lửa đến các đảo và bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa và đề nghị trang bị vũ khí cho các ngư dân trên những vùng nước có tranh chấp cho thấy xu thế muốn sử dụng lợi thế quân sự để “lấy thịt đè người”. Khác với biển Đông, chiêu này của Trung Quốc sẽ không mấy hiệu quả trước cán cân sức mạnh tại Bắc Cực, với sự hiện diện của Nga lẫn Mỹ.

Từ vấn đề Bắc Cực nhìn về vấn đề Biển Đông, chỉ có thể nói rằng đi đâu Trung Quốc cũng đòi chủ quyền một cách “hết sức vô lý” và đặc biệt là luôn mẫu thuẫn trong chính những lập luận của chính mình!

NGHĨA HUỲNH (TUẦN VIỆT NAM)

Với Phillipines

Những lùm xùm xung quanh vụ việc tàu khu trục của Trung Quốc bị mắc kẹt bốn ngày tại bãi đá ngầm Trăng Khuyết (Trung Quốc gọi là Bán Nguyệt Tiêu, còn Philippines gọi là Hasa Hasa) trên Biển Đông đang có những dấu hiệu lắng xuống khi sáng nay Phillipines đã lên tiếng khẳng định rẳng Phillipines sẽ không ra tuyên bố phản đối Trung Quốc dù rằng trước đó phía Phillipines đã dành cho Trung Quốc những chỉ trích hết sức nặng nề và gọi đó là một “hành vi xâm lược”.

Tàu khu trục Trung Quốc bị mắc cạn đã được giải cứu khỏi bãi cát ngầm vào sáng sớm ngày 15.7. Theo tin từ Reuters, tàu này đã được một đội tàu cứu hộ của Trung Quốc đưa khỏi một bãi cạn chỉ cách bờ biển phía Tây của Philippines khoảng 170km. Phía Phillipines cũng từng tuyên bố sẵn sàng hỗ trợ giải cứu tàu khu trục này nếu Trung Quốc yêu cầu nhưng phía Trung Quốc đã phớt lờ thiện ý đó.
Tuy nhiên, mối bất đồng giữa Phil và Trung Quốc không hề có dấu hiệu giảm bớt đi khi chỉ trước đây 2 ngày (13/7), nguồn tin từ đài truyền hình ABS-CBN (Philippines) cho biết Trung Quốc vừa lắp đặt radar công suất mạnh ở bãi đá ngầm Subi cách quần đảo Kalayaan thuộc tỉnh Palawan 22 km. Trung Quốc đang chiếm giữ bãi đá ngầm này.

Văn phòng hoạch định chiến lược và phát triển thông tin của tổng thống Philippines thông báo nếu thông tin nêu trên được xác nhận là đúng thì Trung Quốc lại thực hiện thêm một hành động khiêu khích mới, đi ngược lại nỗ lực của ASEAN và Trung Quốc trong việc thiết lập Bộ Quy tắc ứng xử của các bên ở biển Đông (COC).

Trong khi đó, trang web của chính phủ Trung Quốc dẫn lời người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc Lưu Vi Dân tuyên bố phản đối kế hoạch của Philippines về việc mời thầu thăm dò ở ba lô dầu khí ngoài khơi tỉnh Palawan vào ngày 31-7 tới. Người phát ngôn khăng khăng cho rằng ba lô dầu khí nằm trong khu vực thuộc chủ quyền Trung Quốc.
Trong hoàn cảnh đó, Phillipines đã lên tiếng kêu gọi Australia sẵn sang hỗ trợ Phillipines để chống lại những cuộc tấn công từ Trung Quốc có thể xảy ra trong tương lai.

Với Việt Nam

Sau khi ngang nhiên thành lập cái gọi là TP.Tam Sa bao trùm cả Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam hồi tháng trước, hôm qua, tờ China Daily đăng bài quảng cáo để thu hút khách du lịch đến “thủ phủ” Phú Lâm, nơi đặt “trụ sở chính quyền TP.Tam Sa”. Theo đó, sân bay ở đây có thể đáp máy bay Boeing 737, vốn có khả năng chở ít nhất 85 hành khách, dù chưa có hãng hàng không nào đặt văn phòng tại đây.
Ngoài ra, đảo Phú Lâm còn có văn phòng chính quyền, đồn cảnh sát, khách sạn, siêu thị, nhà hàng, ngân hàng, bưu điện, bệnh viện, thư viện, quán ăn và thậm chí có cả công ty bảo hiểm. Đồng thời, kể từ năm 2004, sóng điện thoại di động bao phủ cả đảo Phú Lâm.

Đài Loan “thêm dầu” vào “chảo lửa” Biển Đông
Tờ Liberty Times ngày 15/7 cho biết Đài Loan đang xem xét kéo dài đường băng trên đảo Ba Bình ở quần đảo Trường Sa của Việt Nam, một động thái có thể tạo thêm căng thẳng mới tại Biển Đông đang tranh chấp gay gắt. 

Hãng tin AFP dẫn tờ báo cho biết nếu được chấp thuận, dự án này sẽ kéo dài thêm 500 mét đường băng tại đảo Ba Bình, đảo lớn nhất thuộc quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Những nỗ lực ngoại giao của Việt Nam

Việt Nam đang cố gắng tranh thủ mọi nguồn lực và sự ủng hộ của bạn bè quốc tế nhằm củng cố vị thế trên Biển Đông. Một trong những thành quả đạt được là ngày 14/7, Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản nói rằng nước này sẽ giúp Việt Nam tăng cường khả năng tuần tra ven biển.

Thông tin trên được đài truyền hình NHK của Nhật Bản cho biết sau cuộc gặp giữa Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Koichiro Gemba với Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh tại Hà Nội.

Hai vị Bộ trưởng đã thảo luận về tình hình căng thẳng trong khu vực, cụ thể là các tranh chấp ở Biển Đông. Hai bên đã nhất trí rằng cần phải tuân thủ luật pháp quốc tế và không hành động đơn phương.

Bộ trưởng Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh cho biết, lực lượng chấp pháp trên biển của Việt Nam không được trang bị như Lực lượng Cảnh sát biển Nhật Bản.

Đáp lại, Bộ trưởng Ngoại giao Nhật Bản Koichiro Gemba tuyên bố, Nhật Bản sẽ giúp đỡ Việt Nam xây dựng một cơ sở giáo dục và đạo tào nhân lực.

– (*) Tiêu đề do người biên tập đặt
– Mọi trích dẫn vui lòng ghi rõ nguồn HoangSa.Org
– Cộng tác tin bài xin gửi về hòm thư facebook hoặc địa chỉ info@hoangsa.org

Các hành động tưởng như ngẫu nhiên nhưng lại theo đuổi một chiến lược cụ thể theo hai định hướng chính: thứ nhất là cố gắng xác lập chủ quyền trên thực địa, và thứ hai là khẳng định chủ quyền trên mặt pháp lý.

‘Ưu thế thực địa’

Từ năm 2009 đến nay, tình hình biển Đông đang ngày càng căng thẳng do các hành động của Trung Quốc để khẳng định chủ quyền như cấm tàu, cấm khai thác, tuyên bố thành lập Tam Sa, cho tàu đi quấy nhiễu ở các vùng biển của các nước. Các hành động tưởng như ngẫu nhiên nhưng lại theo đuổi một chiến lược cụ thể theo hai định hướng chính: thứ nhất là cố gắng xác lập chủ quyền trên thực địa, và thứ hai là khẳng định chủ quyền trên mặt pháp lý.

Phương pháp xác định chủ quyền thực địa của Trung Quốc mang đầy những toan tính chiến lược. Việc đưa các tàu đánh cá của mình đến các khu vực xung quanh Hoàng Sa hay Trường Sa cốt yếu nhằm từ từ xác lập một “ưu thế thực địa” có lợi trong tương lai, bên cạnh khai thác tài nguyên.

Trong bối cảnh các quốc gia tranh chấp chủ yếu khác như Việt Nam hay Philippines không có một đội tàu đánh bắt hiện đại, không được sự hỗ trợ mạnh mẽ của các lực lượng chấp pháp biển bán quân sự như các đội tàu Hải Giám và Ngư Chính, sẽ không thể duy trì sự hiện diện thường xuyên và liên tục, thì việc làm này của Trung Quốc sẽ từ từ biến các vùng biển đó thành “vùng biển lịch sử” sau này.

Bên cạnh sự hiện diện thường trực như vậy, sự kiện các tàu khảo sát Bình Minh hay Viking của Việt Nam bị phía Trung Quốc “cắt cáp” cũng cho thấy một bước thăm dò khác của họ, đó là biến những vùng không tranh chấp thành tranh chấp.

Ảnh: Diplomat

Rõ ràng các khu vực đó thuộc chủ quyền của Việt Nam, tuy nhiên Bắc Kinh lại tiến hành các hoạt động “ngăn chặn” trên thực địa cũng như phản đối trên các kênh ngoại giao một cách mạnh mẽ. Điều này vô hình chung khiến cho cả thế giới ngộ nhận rằng vùng biển đó đang có tranh chấp.

Các căng thẳng tại bãi cạn Scarborough gần đây hay vụ CNOOC tuyên bố mời thầu 9 lô dầu khí cũng nằm trong chiến lược tương tự.

Để đáp lại Luật biển của Việt Nam, Thành phố cấp địa khu Tam Sa được thành lập, các dự án du lịch ra Hoàng Sa hay phủ sóng phát thanh và phát hình toàn bộ khu Tam Sa cho thấy kế hoạch gia tăng căng thẳng đến mức độ gây chú ý cho thế giới.

Với sức mạnh “cơ bắp”, Trung Quốc dễ dàng chèn ép các nước khác và tiến hành những bước đi này một cách thuận lợi.

Giải thích luật quốc tế cho hợp tham vọng bành trướng

Về mặt pháp lý, quá trình khẳng định chủ quyền thông qua luật của Bắc Kinh bắt đầu được thể hiện rõ nét kể từ năm 2009. Lý lẽ “vùng nước lịch sử” là cơ sở pháp lý để Trung Quốc khẳng định vùng nước bên trong “đường lưỡi bò” bao trùm hơn 80% biển Đông là thuộc chủ quyền của mình.

Trung Quốc lập luận rằng các triều đại Trung Hoa cổ xưa đến tận nhà Hán đã có sự hiện diện tại khu vực thông qua các cuốn sách lịch sử cổ với những từ ngữ được viết mơ hồ, được thêm thắt. Điều này hiển nhiên gây nên tranh cãi rất lớn.

Tiếp đó, Trung Quốc xem tất cả các bãi đá ở cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đều có quy chế như một “quốc gia quần đảo” để tiến hành mở rộng Vùng đặc quyền kinh tế (EEZ).

Theo UNCLOS, chỉ những đảo phù hợp cho con người đến ở và có đời sống kinh tế riêng mới được hưởng chế độ pháp lý của đảo như lãnh thổ đất liền. Việc này khiến cho toàn bộ khu vực biển Đông xuất phát từ Hoàng Sa và Trường Sa đầu nằm trong khái niệm “vùng nước lịch sử” của Bắc Kinh, và vùng nước này chỉ cách một số bờ biển của các quốc gia khác vài chục cây số.

Không dừng lại ở đó, Trung Quốc tiếp tục định nghĩa lại EEZ sao cho phù hợp nhất với tham vọng bành trướng. Cụ thể là Bắc Kinh đã tuyên bố các quốc gia khác cần phải xin phép để được thực hiện “quyền đi lại” qua vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) của Trung Quốc.

Bằng phương pháp “tự diễn giải”, tất cả các yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đều đã được “biến hóa”, tạo thành một hệ thống khá chặt chẽ dựa vào luật quốc tế mà điển hình ở đây là UNCLOS, khiến cho việc đôi co lý lẽ với nước này trở nên thực sự khó khăn.

Đụng chạm và mềm hóa

Tuy nhiên, các hành động thực thi chủ quyền đơn phương của Trung Quốc trên thực tế đang đụng chạm lợi ích của rất nhiều nước, trong đó có các cường quốc như Mỹ hay Ấn Độ. Vụ va chạm giữa tàu Impeccable của Mỹ và tàu Trung Quốc vào năm 2009 là lời cảnh báo cho sự vi phạm nghiêm trọng “quyền tự do hàng hải” ở EEZ của Trung Quốc.

Ngay cả Ấn Độ gần đây cũng lên tiếng quan ngại như lời Đại sứ Ấn Độ tại Việt Nam Ranjit Rae: “Toàn bộ khu vực Ấn Độ Dương trải dài từ bờ biển Đông Phi đến Biển Đông có ý nghĩa quyết định đối với ngành ngoại thương, năng lượng và an ninh quốc gia của Ấn Độ. Như mọi người thường nói, trọng lực kinh tế của thế giới đang dịch chuyển về đây và các khuôn khổ mới trên lĩnh vực kinh tế, chính trị và an ninh đang được xây dựng. Ấn Độ tự coi mình là một phần không thể tách rời của khu vực và sự phát triển đó”.

Còn với chiêu bài pháp lý, một hệ thống chuẩn tắc và thông lệ chỉ có thể được “mềm hóa” hay chỉnh sửa nếu trong quá trình phát triển có những va chạm ngược chiều với lợi ích thực tiễn từ cuộc sống.

Tự do hàng hải từ lâu vốn là cái gốc của các hoạt động trên đại dương. Cái gốc này được củng cố  từ thực tế hợp tác giao thương kinh tế giữa các châu lục ngày càng liên kết. Yếu tố “mở” của quy chế đại dương khiến cho các nỗ lực “tự tạo ranh giới” bằng lá bài pháp lý trở nên không phù hợp.

Với sự trỗi dậy về kinh tế, lẫn quân sự, thay vì đứng ra gánh vác thêm trách nhiệm cung cấp “hàng hóa công” tại biển Đông như đảm bảo hòa bình và ổn định, tự do hàng hải, chống cướp biển hay hợp tác khai thác-bảo vệ tài nguyên biển theo hướng bền vững, các hành động tự khẳng định chủ quyền đơn phương, không tuân thủ tinh thần UNCLOS không đưa ra một giải pháp nào cho biển Đông của Trung Quốc, mà chỉ làm tình hình tranh chấp phức tạp hơn.

Không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến mối quan hệ giữa Bắc Kinh và các quốc gia ASEAN, hơn thế nữa, điều này còn hủy hoại hình ảnh của Trung Quốc với lời hứa “trỗi dậy hay phát triển hoàn bình” trong con mắt của khu vực và cộng đồng quốc tế.

Còn đối với Việt Nam, đã đến lúc cần kiên quyết định hướng mối quan hệ với Trung Quốc theo phương châm “đối tượng-đối tác” theo Nghị quyết Trung ương 8 (Khóa IX). Theo đó câu hỏi liệu nên xem một quốc gia nào đó là người bạn hợp tác (đối tác) hay mục tiêu đấu tranh (đối tượng) sẽ tùy vào thái độ của họ với các vấn đề thuộc về lợi ích của Việt Nam.

Trung Quốc là một đối tác quan trọng của Việt Nam xét trên tất cả các khía cạnh từ lịch sử, kinh tế đến góc nhìn địa chính trị, nhưng những hành động xác quyết chủ quyền trên thực tế và pháp lý có nhiều ý đồ chiếm trọn biển Đông gần đây đang dần chứng minh rằng họ cũng là đối tượng mà chúng ta cần suy nghĩ đối sách hiệu quả để đương đầu.

Nguyễn Chính Tâm – Vũ Thành Công

Dấu tích về chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam ở Lý Sơn

Bảo tàng Lý Sơn, Quảng Ngãi, đang lưu giữ nhiều hình ảnh, bản đồ từ thế kỷ thứ 16 đến 19, khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa.

 
 Hiện tại bảo tàng Hoàng Sa (Lý Sơn, Quảng Ngãi) còn lưu giữ nhiều tài liệu quý về Hoàng Sa.
 
 Những bài báo và bản đồ chính trị (từ thời Việt Nam Cộng Hòa 1954 – 1975) nêu rõ quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam.
 
 Những dòng chữ được ghi trong Đại Nam Thực Lực Chính Biên (năm 1848) và Quảng Ngãi Tỉnh Chí (năm 1933) ghi chép về quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
 
 Những dấu tích, bản đồ, sắc phong còn được giữ nguyên vẹn tại bảo tàng.
 
 Dụng cụ trã đất nấu ăn của binh phu Hoàng Sa khi đi ra đảo.
 
 Những vật chứng của ngư dân và đội lính có mặt tại Hoàng Sa từ thời nhà Nguyễn.
Bia chủ quyền Việt Nam ở Hoàng San năm 1930.
Bản đồ phía Đông Ấn Độ và những vùng lân cận, xác định quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam, bản đồ xuất bản tại London, Anh năm 1956.
Bản đồ Nam Việt ghi rõ, Hoàng Sa và Vạn lý Trường Sa trong sách Đại Nam Thống Nhất Toàn Đồ do quốc sử quán triều Nguyễn ấn hành thế kỷ 19.
 
 Bản dịch tài liệu châu bản của Tống Lý đại thần ngày 15/12 niên hiệu Bảo Đại thứ 15 (1939) về việc xin truy thưởng Tú hạng long tinh cho cai đội Hoàng Sa người Pháp M.Fontan.
 Bản đồ Việt Nam do người Hà Lan vẽ năm 1594, hiện đang lưu giữ tại Amsterdam (Hà Lan). Khi đó Hoàng Sa, Trường Sa đã là của Việt Nam.
Một góc đảo Đá Lát, quần đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa năm 2009.
Hải đăng Việt Nam trên quần đảo Trường Sa trước năm 1945.
 Cơ sở hành chính trên đảo Hoàng Sa trước năm 1945.
Ông Nguyên Giáo, nhân viên ty khí tượng Hoàng Sa, trước năm 1974 đang đo nhiệt độ, độ ẩm tại lều máy trạm khí tượng Hoàng Sa.
 
 Văn tế trong lễ khao lế thế lính Trường Sa năm Tự Đức thứ 20, Đinh Mão 1867.
 
 Bài vị các tướng quân, binh sĩ hy sinh tại Hoàng Sa.
 Thuyền nhỏ được đội quân Hoàng Sa kiêm Bắc Hải ra Hoàng Sa để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ biển đảo.
Cho đến nay, lớp lớp người dân Lý Sơn vẫn tự hào về quá khứ hào hùng của cha ông. Các em nhỏ luôn được nhắc nhở về Hoàng Sa như một phần máu thịt của đất nước.

THÁI AN

theo infonet

Thăm ngôi trường mang tên Bác ở Ukraina

Trong chuyến công tác EURO 2012 này, chúng tôi đã có dịp đến thăm trường trung học mang tên Bác ở một khu dân cư đông đúc của thủ đô Kiev.

Ngôi trường không lớn, nhưng khang trang và ấm cúng, từ lâu đã đước biết đến trong cộng đồng người Việt ở Kiev nói riêng và Ukraina nói chung như một điểm sáng trong mối quan hệ giữa Việt Nam và Ukraina. Được thành lập đúng vào ngày 2/9/1985, trường trung học phổ thông mang số 251 này đã có vinh dự được đặt tên theo Chủ tịch Hồ Chí Minh vào năm 1990, sau một sắc lệnh của Hội đồng Bộ trưởng Ukraina.

Trường đã dạy nhiều thế hệ học sinh Việt Nam ở đây, giúp các cháu không quên tiếng mẹ đẻ, không quên lịch sử của dân tộc và nuôi dưỡng trong các cháu, chủ yếu là được sinh ra trong các gia đình Việt Nam sống, làm việc và kinh doanh tại Kiev, tình yêu Tổ quốc.

Trường 251 đã lập ra cả một bảo tàng thu nhỏ mang tên Hồ Chí Minh trong phòng truyền thống của trường. Ngoài ra, trường cũng lập một khu trưng bày ảnh và giới thiệu về lịch sử, đất nước và con người Việt Nam để giúp các cháu Việt Nam và Ukraina hiểu được về đất nước xa xôi cách họ hàng nghìn dặm này.

Mặt tiền của nhà trường vẫn còn nguyên những dấu ấn kiến trúc từ thời Liên Xô

Bà Valentina, giám hiệu nhà trường, người đã gắn bó rất lâu năm với trường số 251 và có một cảm tình đặc biệt với Việt Nam.

Phòng truyền thống của nhà trường không lớn, nhưng cũng lưu giữ và trưng bày hàng trăm hiện vật và ảnh liên quan đến Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong đó cả cuốn Nhật kí trong tù bằng tiếng Ukraina.

Bà Ekaterina, người phụ trách bảo tàng, đang thuyết minh cho chúng tôi về nguồn gốc của những hiện vật trưng bày.

Bà Ekaterina đang đứng bên cạnh một tủ kính, trưng bày nhiều bức thư của các nhà văn nổi tiếng Việt Nam, các sinh viên và nghiên cứu sinh Việt Nam, những người đã tham gia dịch các tác phẩm văn học nghệ thuật của Việt Nam và Ukraina.

Các học sinh Việt Nam theo học tại trường đang đọc tiểu sử của Bác Hồ.

Cô giáo Vũ Thị Hoàng Yến, người đã 11 năm nay dạy tiếng Việt cho học sinh Việt Nam ở trường, cùng với các học sinh giỏi nhất. Hiện có 30 học sinh người Việt Nam đang theo học tại trường này

Bảng thành tích của các em học sinh Việt Nam ở trường Hồ Chí Minh

ANH NGỌC (THỂ THAO & VĂN HÓA)