Tag Archive: 4


Download Uniblue DriverScanner 2013 full crack, tìm driver cho máy tính, tự động cập nhật driver, tư động tìm driver

Uniblue DriverScanner 2013 là phần mềm tự động quét các driver của hệ thống trên máy tính của bạn và kiểm tra xem nó đã lỗi thời hay chưa (so sánh nó với phiên bản mới nhất của nhà sản xuất).
Uniblue DriverScanner sẽ quét hết các driver của PC của bạn và kiểm tra chúng đối với thư viện toàn diện về các driver mới nhất, để cung cấp cho bạn một danh sách đầy đủ của tất cả những driver cần được cập nhật. Với các phiên bản driver mới hơn, có thể hỗ trợ máy chạy nhanh hơn, ổn định và ít lỗi hơn
Uniblue DriverScanner cũng sao lưu tất cả driver thành một thiết bị bên ngoài, có nghĩa là lần sau khi bạn cài đặt lại hệ thống của bạn, bạn có thể tải lên tất cả driver mới nhất. mà không cần phải chạy lại bản cập nhật

 

Các tính năng chính:

  • Cập nhật các trình điều khiển mới nhất
  • Tải về trình điều khiển một nhanh chóng và đáng tin cậy từ địa điểm trung tâmGiữ điểm khôi phục lại cho mỗi lần cập nhật trình điều khiển để an toàn tối đa
  • Cài đặt mỗi trình điều khiển mới một cách nhanh chóng và dễ dàng
  • Thưởng thức một giao diện thanh lịch nhưng đơn giản để sử dụngCập nhật trình điều khiển cho hệ thống 32 hoặc 64-bit chạy Windows XP, Windows Vista hoặc Windows 7

Download và cài đặt:


– File cài đặt được đính kèm bên dưới
– Key: DS-FGDVT-FUQNK-AMEFW-2U9ZL-N76S5-TNYLV

 

Tải file cài đặt tại đây.

Kỳ 4: “Bằng chứng khảo cổ” mập mờ và thiếu chính xác của Trung Quốc

 

Để củng cố lý lẽ về chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa, người TQ sử dụng cả các luận cứ về khảo cổ. Người TQ cho là đã tìm thấy vết tích tiền cổ và vật dụng cổ có từ thời Vương Mãng (năm thứ ba trước Công nguyên cho đến năm 23 sau Công nguyên) trên các quần đảo.

>> Kỳ 3: Sử liệu Trung Quốc nói gì?

Chang The-Kuang và S.Yeh viết rằng các đảo này có chứa “các tàn tích của khu dân cư, các vật dùng sành sứ, các dao sắt, các nồi gang và các vật dụng hằng ngày khác có niên đại từ thời Đường, Tống”. Báo cáo sơ bộ của chuyến khảo cổ học thứ hai trên quần đảo Tây Sa của tỉnh Quảng Đông ghi rằng “qua hai cuộc khảo sát, các nhà khảo cổ học đã khảo sát hầu hết các đảo, đá, bãi ngầm, các vũng của quần đảo Tây Sa và hầu như ở đâu họ cũng tìm thấy các đồ vật cổ và các lịch sử của quần đảo Tây Sa, bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc chúng ta từ ngàn đời nay”.

Vấn đề đặt ra ở đây là trong luật quốc tế không tồn tại một quy tắc nào cho phép tự quy thuộc chủ quyền cho một quốc gia trên một vùng đất mà tại đó các cổ vật thuộc nền văn minh của nước đó được tìm thấy. Các cổ vật này có thể thuộc các ngư dân TQ đi lại và bị đắm thuyền trong vùng biển này, cũng như có thể thuộc các ngư dân Philippines, Malaysia hoặc của các tàu thuyền Ả Rập, Bồ Đào Nha, Hà Lan bị trôi dạt mắc nạn vào đây. Không có gì chứng minh được rằng các ngư dân TQ là những người duy nhất có các hoạt động định cư thường xuyên trên các đảo không có nước ngọt này.

Trong khi đó, năm 2001, trong khuôn khổ dự án 10 năm điều tra cơ bản khảo cổ học Trường Sa – Tây Nguyên – Nam Bộ, các nhà khoa học Việt Nam đã khai quật và phát hiện nhiều di tích khảo cổ có giá trị trên quần đảo Trường Sa. Trên chứng chỉ khảo cổ học, các nhà sử học đã xác định được các cư dân người Việt sinh sống ở Trường Sa là rất sớm, chí ít cũng phải từ thời nhà Trần và liên tục định cư, sinh sống ở đây trong các giai đoạn thời kỳ sau. Qua các hiện vật thu được, dựa trên căn cứ sử học và văn hóa học, rất rõ ràng để nhận ra có một sợi dây liên kết chặt chẽ giữa cư dân trên đảo với cư dân đất liền từ thuở sơ khai đến nay. Có thể những cư dân đầu tiên Trường Sa là kết quả của các cuộc di dân, tìm đất mới thời cổ xưa. Hoặc là các ngư dân Việt đi biển ghé vào và ở lại lâu dài, khai phá đất đai, tạo lập cuộc sống mới.

 
Một trang trong cuốn Hải ngoại kỷ sự (1695) của Thích Đại Sán, một nhà sư Trung Quốc đời Khang Hy, thuật lại chuyến du hành tới xứ Đàng Trong, thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Đại Việt – Ảnh: biengioilanhtho.gov.vn

Chủ quyền quốc gia đã được luật quốc tế định nghĩa về mặt pháp lý. Trương Hồng Tăng và các tác giả TQ khác lập luận rằng: “Dưới thời nhà Tống, nhiều sách vở đã ghi nhận rằng những ngư dân TQ thường tới đây bắt cá và thu lượm san hô (…). Theo Chư phiên chí (ghi chép về các nước chư hầu) của Zhao Rushi (Triệu Nhữ Quát) sống dưới thời nhà Tống cách đây 700 – 800 năm, người TQ đã biết rằng các quần đảo Tây Sa và Nam Sa là những vùng nguy hiểm cho hàng hải (…). Vào thế kỷ trước, chỉ có người TQ đã sống và khai thác một cách liên tục các quần đảo Tây Sa và Nam Sa (…)”.

Sau khi đã nghiên cứu sâu sắc các tài liệu TQ, ông Heinzig, một luật gia Đức đã rút ra kết luận chỉ bắt đầu từ thời nhà Tống (960) người TQ mới có thể tiếp cận với quần đảo Paracels (Hoàng Sa). Còn về việc hiện diện của người TQ trong khu vực Spratlys (Trường Sa) không có gì ghi nhận trước 1867, thời điểm một tàu nghiên cứu Anh gặp những ngư dân TQ tới từ đảo Hải Nam. Theo Heinzig, chỉ từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất người TQ mới bắt đầu gọi quần đảo Spratlys là “Đoàn Sa Trung Đảo”. ([1])

Sự tiếp xúc riêng rẽ của những cư dân TQ cá thể đối với Paracels liệu có đủ để thiết lập chủ quyền TQ tại đó không theo luật quốc tế? Các tác giả TQ khẳng định rằng TQ phát hiện ra Tây Sa và Nam Sa cách nay 2.100 năm, vào thời Hán Vũ Đế. Đối với họ, theo luật quốc tế và tập quán quốc tế thời kỳ đó: “Chủ quyền thuộc về người phát hiện” (Who discovers the territory, holds its sovereignty), đó là ngư dân TQ, và vì vậy TQ phải có chủ quyền trên đó”.

So sánh với các tiêu chuẩn thụ đắc lãnh thổ, các ghi chép mà TQ viện dẫn không đủ chứng minh rằng quyền phát hiện đã được xác lập. Một đảo hoặc một quần đảo có thể là đối tượng nhận biết từ lâu đời của các nhà hàng hải, các ngư dân, các nhà địa lý… nhưng chúng vẫn chỉ được coi là lãnh thổ vô chủ

res nullius một khi quốc gia của họ chưa tiến hành một hành động nhà nước nào tại đó. Phan Thạch Anh cố chứng minh rằng vào thế kỷ XV, XVI chỉ cần quyền phát hiện là đủ để tạo nên quyền sở hữu đất vô chủ. Sở dĩ ông ta lập luận như vậy là để chứng minh rằng các hoạt động của tư nhân TQ là đủ để tạo ra quyền phát hiện ([2]). Thế nhưng các hoạt động tư nhân của các ngư dân TQ không thể mang lại hiệu lực pháp lý của “quyền phát hiện” và nó không thể được đánh đồng với quyền chiếm hữu.

Các bằng chứng của quyền phát hiện các đảo này như đã nêu trên rất mập mờ và thiếu chính xác. Chúng ta có thể đồng ý rằng các hoạt động của ngư dân có thể kéo theo sự chú ý và ý định của nhà nước trên lãnh thổ vô chủ. Tuy nhiên, yếu tố ý chí này không đủ khi còn thiếu yếu tố vật chất của các hoạt động nhà nước trên thực địa. Người TQ sẽ chứng minh như thế nào đòi hỏi này của luật quốc tế vào thời kỳ đó?

TS Nguyễn Hồng Thao

_________

[1] Theo Nguyễn Quang Ngọc, Sđd, tr 41. Trước khi Lý Chuẩn ra Hoàng Sa năm 1909, bản đồ TQ vẫn thể hiện đảo Hải Nam là cực nam lãnh thổ TQ. Năm 1928 trường Đại học Trung Sơn tổ chức điều tra quần đảo Tây Sa, được coi là mốc đánh dấu sự hiểu biết của người TQ về quần đảo Tây Sa. Tuy nhiên, cho đến năm 1934, bản đồ TQ vẫn chưa vượt quá quần đảo Tây Sa và đảo Triton, cực nam của quần đảo, ở sát phía dưới vĩ tuyến 16 được gọi là đảo cực nam với lời giải thích đảo là cột mốc đánh dấu lãnh thổ cực nam của TQ. Trong khoảng năm 1935-1936 địa danh Nam Sa và Đoàn Sa xuất hiện trên bản đồ TQ. Nam Sa được đặt tên cho bãi ngầm Maccelesfield Bank còn Đoàn Sa để chỉ Spratleys. Từ năm 1939 tên Nam Sa mới được dùng để chỉ Trường Sa của Việt Nam, tên Đoàn Sa mất đi, còn Maccelesfield Bank được đặt tên là Trung Sa.

[2] Phan Thạch Anh, The ptropolitics of the Nansha islands-China’s indisputable legal case, Beijing, December 1995.

>> Kỳ 5: Độ chênh của lịch sử trong Sách trắng Trung Quốc

Không được đụng đến Việt Nam – Kỳ 04: Chốt bên cầu số 4

Sau loạt đạn pháo của địch nổ dữ dội, chúng cho 2 đại đội đánh vào chốt của tiểu đội Đỗ Văn Hoà. 1 đại đội từ đồi sân bay đánh xuống, 1 đại đội từ ngã ba Kim Tân theo quốc lộ đánh ra. Anh đặt ngón tay trên vòng cò khẩu đại liên, quay sang nói với 1 chiến sĩ rất trẻ : – Địch ỷ thế đông quân nên chủ quan. Đợi chúng đến thật gần ta mới bắn. Loạt đạn đầu tiên phải thật chính xác, phải làm cho chúng kinh hoàng.
Đúng như Hoà nhận định, chưa gặp sự giáng trả của ta, bọn địch cứ dàn hàng ngang mà tiến. Vừa đi chúng vừa bắn như vãi đạn. Địch cách trăm mét, 50 mét… Hoà bắn, khẩu đại liên trong tay Hoà rung lên. Các cỡ súng đồng loạt trút lửa vào đội hình địch. Hàng chục tên xâm lược chết ngổn ngang trên đường, bên bờ suối cạn. Bọn sống sót vội vàng tháo chạy, lẩn vào rừng. Thấy giặc hoảng sợ, Hoà liền bật khỏi công sự và hô lớn :

– Xung phong !

Ước, Hào, Thiệp xách súng vọt theo Hoà. Hoà và anh em cắp tiểu liên rượt theo những tên sóng sót. Chỉ những tên xâm lược co cẳng chạy trước tiên là thoát chết. Lúc ấy, đại liên địch từ đồi Tháp Nước bắn xuống, nhưng đã muộn. Hoà cho anh em vận động lên chốt phòng ngự. Anh quay nòng đại liên của mình về phía đại liên của địch. Khi đã nhìn rõ hoả điểm này, Hoà chỉnh lại đường ngắm. Anh bắn liên tiếp 3 loạt dài. Khẩu đại liên địch câm họng. Mất hoả lực, bọn địch tụt xuống bên kia đồi. Số quân của chúng ở đó gần 1 tiểu đoàn mà phải chùn lại.
Một lát sau, Hào, chiến sĩ dân quân phát hiện 1 toán địch có 3 tên, tên đi sau mang theo bộ đàm. Đây là tổ thám báo. Hoà nhận định như vậy khi nhận được báo cáo của Hào. ANh tỏ chức ngay 1 tổ đi diệt. Hoà giao đại liên cho Ước và dặn :

– Cảnh giới phía trước. Sẵn sàng chi viện cho chúng tôi nhé !

Hoà vẫy tay bảo Hào theo anh vận động tắt rừng phía sau toán địch. Nguyễn Thiệp dẫn 1 tổ thọc vào sườn chúng. Hoà nấp vào một gốc cây khi nhìn thấy 3 tên lính áo đen đang dò dẫm từng bước. Vừa đi chúng vừa quan sát xung quanh. Tên khoác máy bộ đàm chốc chốc dừng lại nghe ngóng. Hoà nói nhỏ với Hào :

– Cố gắng bắt sống. Cùng lắm mới nổ súng tiêu diệt.

Nói xong Hoà khoát tay ra hiệu cho Hào cùng tiếp cận. Rừng im ắn. 2 người nghe rõ cả tiếng lá cây va vào nhau xào xạc. Xa xa, tiếng súng vọng lại. Bỗng “rắc”. Một cành cây khô phía trái anh bị gãy. 3 tên địch hoảng sợ, mạnh thằng nào thằng nấy chạy. Một loạt tiểu liên phía ấy nổ vang. Thế là hỏng rồi. Hoà bật lên như lò xo. Bám sát 1 tên, anh siết cò, tiếp theo là 1 loạt AK rất chính xác. Cả 3 tên thám báo ngã gục. Thiệp chạy lại, nhận lỗi :

– Mải bám sát nó, tôi không để ý tới cành cây khô tai hại ấy.
– Chà tiếc thật ! Thôi khẩn trương thu súng, máy bộ đàm và chú ý khám xét kĩ giấy tờ mà chúng mang theo.

Về chốt đưọc một lúc, Thiệp lại phát hiện 2 tên thám báo nữa. Chúng đã lẻn vào ngay sát chốt của ta. Thiệp vẫy tay ra hiệu cho anh em toàn chốt biết. Trước khi bí mật tiếp cận, Hoà dặn mọi người :

– Lần này cố gắng bắt sống kì được.

Nhưng vì khoảng cách giữa ta và địch quá gần nên anh em vừa triển khai đội hình thì 2 tên địch đã đánh hơi thấy. Chúng cắm đầu chạy thục mạng. Song, cũng như số phận những tên trước, 2 tên đều bị trúng đạn.

Mất hẳn 2 toán thám báo, bộ binh địch chỉ lấp ló trên đồi Tháp Nước, không dám xuống chiếm cầu.

Đến 3 giờ chiều, đang ăn cơm, nghe ầm ì tiếng xe địch, mọi người đều buông đũa. Tiếng xe tải dội alị mỗi lúc một gần. Chiếc xe mỗi lúc to dần. Trên xe, giặc lố nhố. Đây là dịp tốt nhất để thiêu cháy hàng chục tên xâm lược một lúc.

– Bắn thôi anh Hoà ! – Ước, chiến sĩ dân quân nôn nóng.

Khi nhìn rõ khuôn mặt những tên lính ngồi trên xe như nêm lại, Hoà mới ra lệnh .
– Bắn !

Một lưới lửa bung ra chụp lấy xe địch. Chiếc xe khựng lại, bùng cháy. Hoà nhìn rõ hàng chục tên cứ ngồi vậy mà gục xuống. Những tên khác hoảng hốt nhảy xuống xe, nhưng chỉ chạy được vài bước là bị diệt ngay trên mặt đường, lửa trên xe ngùn ngụt bốc lên.

Cay cú trước thất bại này, bọn địch từ trên đồi Tháp Nước dùng trung liên, đại liên bắn tới tấp vào chốt của ta. Địch gọi pháo 130 ly, cối 120 ly giội vào trận địa của các chiến sĩ ta hơn 1 tiếng đồng hồ. Sau đợt pháo, anh em đã có mặt trên công sự, sẵn sàng đánh bộ binh. Nhưng bọn địch vẫn không dám tràn xuống. Đến mờ tối, chúng lại cho 3 tên thám báo mò vào thăm dò lực lượng ta. Nhưng số phận những tên này cũng đã được định sẵn. Ngay loạt đạn đầu, anh em đã diệt 2 tên. 1 tên chạy cuống cuồng, gặp cái hố phòng không của đồng bào ta, nó rúc ngay vào. Huê vọt lên phía hầm. Anh vung tay ném vào hầm 1 quả lựu đạn. Nhưng Huê vừa bỏ tay xuống, 1 loạt AK từ trong cái miệng hố đen sì vút đến. Huê hi sinh. Hoà vội chạy lại, anh rút chốt quả lựu đạn quăng vào cái miệng hố đen ngòm ấy. Nhưng sau tiếng nổ, 1 loạt AK lại bay vèo qua mang tai Hoà. Thằng này ngoan cố thật. Không nén nổi căm giận, Hoà giương súng B40 lên, mắm môi lại, bóp cò. Cái hầm vỡ ra, tràn ngập khói màu da cam. Tên giặc bị đền tội và khẩu súng của nó đen thui.

Ngày hôm ấy, 5 tay súng của các chiến sĩ công an vũ trang Hoàng Liên Sơn và 3 chiến sĩ dân quân xã Kim Tân (TX Lào Cai) đã làm nên sự tích anh hùng bên cầu số 4 : bắn cháy 2 xe vận tải quân sự, diệt 3 toán thám báo, bẻ gẫy nhiều đợt xung phong của 1 tiểu đoàn địch, diệt trên 100 tên, thu nhiều súng. Cầu số 4 mãi mãi là niềm tự hào của quân và dân thị xã Lào Cai. (Còn tiếp )
———————-