Tag Archive: 7


TeamViewer 7 full kết nối đến bất kỳ máy tính hay máy chủ nào trên khắp thế giới trong vài giây. Bạn có thể điều khiển máy tính của đối tác từ xa như thể bạn đang ngồi trước nó. Tìm hiểu tại sao có hơn 100 triệu người dùng tin tưởng vào TeamViewer portable!

Điều khiển máy tính từ xa qua internet giống như bạn đang ngồi trước máy tính đó. Dù bạn đang hỗ trợ tức thời, quản trị máy chủ hay làm việc tại nhà, TeamViewer sẽ giúp bạn thực hiện công việc.

Hỗ trợ khách hàng tức thời

Bạn đang hỗ trợ khách hàng hàng ngày và cần giải pháp nhanh chóng, tại chỗ? Với TeamViewer, bạn dễ dàng điều khiển máy tính khách hàng từ xa giống như đang ngồi trước máy tính của họ. Với mô-đun khách hàng, TeamViewer QuickSupport, khách hàng sẵn sàng để bạn kết nối trong nháy mắt mà không cần cài đặt bất kỳ phần mềm nào.

Truy cập từ xa 24/7 vào máy tính hay máy chủ

Quản trị máy tính hay máy chủ từ xa giống như bạn đang ngồi trước máy tính đó. Cơ hội truy cập 24/7 mà không cần người ở đầu bên kia. Lưu các liên hệ quan trọng nhất trong máy tính và danh sách liên hệ của bạn để có thể kết nối trong nháy mắt.

Tất cả máy cài đặt vĩnh viễn (TeamViewer host) hoàn toàn miễn phí cho người chủ giấy phép.

Truyền Tệp

Với truyền tệp, bạn có thể dễ dàng sao chép tệp hay toàn bộ thư mục đến và đi từ máy tính từ xa. Bạn cũng có thể dùng tính năng kéo & thả để thao tác nhanh và thuận tiện hơn.

Ứng dụng di động của TeamViewer –khi bạn đang đi trên đường

Bạn thường ra ngoài và cần hỗ trợ tức thời cho khách hàng hoặc cần kết nối với máy tính văn phòng của mình và máy chủ của khách hàng? Ứng dụng TeamViewer cho iPhone, iPad và Android giúp bạn cơ động và linh hoạt xử lý mọi tình huống.

Quản lý dễ dàng mọi kết nối

Lưu mọi thông tin khách hàng và kiểu kết nối trong cơ sở dữ liệu và chia sẻ chúng với đồng nghiệp của bạn. TeamViewer Manager ghi chép tất cả phiên điều khiển từ xa, bao gồm thời gian bắt đầu và kết thúc, cũng lý tưởng cho việc thanh toán.

Teamviewer 7 full và cả Teamviewer 7 Portable

 http://www.mediafire.com/?a2daw3cftma23f7

Lưu ý khi cài đặt Teamviewer 7

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – Kỳ 7: Tư liệu phía Việt Nam

Các tác phẩm và các văn kiện chứng minh quyền phát hiện và chủ quyền  của VN trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có niên đại chỉ từ thế kỷ XV, các văn kiện trước đó có  lẽ bị tiêu hủy và thất lạc dưới thời Bắc thuộc và các cuộc chiến tranh liên miên.

>> Kỳ 6: Những luận cứ chủ quyền không vững chắc

Tác phẩm cũ nhất có nói về sự tồn tại của các đảo là Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (1630  – 1653) do Đỗ Bá, tự Công Đạo soạn. Tài liệu này bao gồm các bản đồ An Nam từ thế kỷ XV trong đó có tấm vẽ các quần đảo Paracels và Spratlys trong biển Đông dưới tên gọi Bãi Cát Vàng và Trường Sa, thuộc phủ Quảng Ngãi:

“Giữa  biển  có  một  dải  cát  dài,  gọi  là  Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển, từ cửa Đại Chiêm đến cửa Sa Vĩnh. Một lần có gió Tây Nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ở đấy, có gió Đông Bắc thì thương thuyền  chạy  ở  ngoài  cũng  trôi  dạt  ở  đấy,  đều  cùng chết đói cả, hàng hóa thì đều để ở nơi đó”.


Một trong những bản đồ của cuốn sách Phủ biên tạp lục do Lê Quý Đôn biên soạn năm 1776, mô tả tỉ mỉ tình hình địa lý, tài nguyên ở Hoàng Sa và Trường Sa và công việc khai thác của Chúa Nguyễn đối với hai quần đảo này (nguồn: Cục Thông tin đối ngoại – Bộ Thông tin – Truyền thông)

Trong Phủ biên  tạp  lục (1776), Lê Quý Đôn, Hiệp trấn Thuận Hóa viết:

“Phủ  Quảng  Ngãi,  huyện  Bình  Sơn, có  xã  An Vĩnh, ở  gần  biển, ngoài  biển  về  phía Đông Bắc, có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn một trăm ba mươi ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng dài ước hơn ba mươi dặm, bằng  phẳng,  rộng  lớn, nước trong suốt đáy”.

Đại  Nam  thực  lục  tiền  biên,  phần  về  các  chúa Nguyễn  (1600  –  1775),  quyển X ghi nhận địa danh Hoàng Sa và Trường Sa và các hoạt động quản lý của các chính quyền VN:

“Xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi, ở ngoài  biển, có  hơn  một  trăm ba  mươi  bãi cát, cách nhau hoặc một ngày đường hoặc vài  trống  canh, kéo dài  không  biết  mấy  ngàn dặm, tục gọi  là Vạn Lý Hoàng Sa, trên bãi có giếng nước ngọt. Sản vật có hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích… Hồi  đầu  dựng  nước,  đặt  đội  Hoàng  Sa  gồm  70 người,  lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hằng năm đến tháng 3 đi thuyền ra đảo, độ ba ngày đêm thì đến, thu lượm hóa vật, đến tháng 8 trở về nộp. Lại có đội Bắc Hải, mộ dân ở phường Tư Chính, ở Bình Thuận hoặc xã Cảnh Dương sung vào, được lệnh đi thuyền ra các vùng Bắc Hải, Côn Lôn, thu  lượm hóa vật. Đội này cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản”.([1])

 
Bản đồ Việt Nam do Đỗ Bá soạn vẽ vào thế kỷ XVII. Lời chú giải trên bản đồ khu vực phủ Quảng Ngãi ghi rõ “Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng”, “do họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến lấy hóa vật…”  –  Ảnh: biengioilanhtho.gov.vn

Các  tác phẩm chính thức khác do Quốc Sử quán biên soạn và in dưới thời nhà Nguyễn như Đại Nam thực lục chính biên (1848), Khâm định Đại Nam hội diễn sử lệ (1843 – 1851), Đại Nam nhất thống chí (1865  –  1882), Lịch  triều  hiến chương  loại chí (1821), Hoàng Việt địa dư chí (1833), Việt sử cương giám khảo lược (1876) đều chép tương tự về Hoàng Sa và Trường Sa. Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ quyển 165 còn khẳng định sự đánh giá của Bộ Công  tâu  lên Vua  năm  Bính  Thân,  niên  hiệu Minh Mạng  thứ 17  (1836,  tức năm Đạo Quang  thứ 16 đời Thanh): “Xứ  Hoàng  Sa  thuộc  cương  vực  mặt  biển nước ta rất là hiểm yếu”. Đại Nam nhất thống chí, bộ sách địa lý lịch sử chung  thống nhất của Đại Nam, phần Hình thể nói về tỉnh Quảng Ngãi “phía đông có đảo Hoàng Sa liền với biển xanh làm hào che…”. Đó đều là các nguồn chính thức và có giá trị chân thực.

Viện Hán Nôm Hà Nội còn lưu trữ hàng chục châu bản  triều Nguyễn gồm các bản  tấu, phúc tấu của các Bộ Công, Bộ Hộ, các cơ quan khác, các dụ của các vua về các hoạt động thực thi chủ quyền của VN trên quần đảo.

Một số bản đồ VN vẽ các đảo này như bộ phận của lãnh  thổ VN, nhất  là Đại Nam nhất thống toàn đồ (1838). Ngoài ra các sách địa lý lịch sử như Sử  học bị khảo của Đặng Xuân Bảng, Địa dư toát  yếu (niên  hiệu Duy Tân 1907-1916), Quảng Thuận đạo sử tập, Trung kỳ địa dư lược, Quảng Ngãi tỉnh chí đều có những đoạn văn và bản đồ xác nhận Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi. Trong gia phả của các họ Phạm, họ Đặng trên đảo Lý Sơn còn lưu giữ các sắc chỉ của vua Minh Mạng giao cho dòng họ chọn những  thanh niên khỏe mạnh và giỏi bơi lội để gia nhập đội Hoàng Sa… ([2])

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Đại Nam thực lục tiền biên, NXB Sử học, Hà Nội, 1962, t.1, tr.22

[2] “Phát  hiện  tài  liệu  quý  liên  quan  đến  quần  đảo Hoàng  Sa”,  Lao Động số 71 ngày 1.4.2009.

>> Kỳ 8: Đi đến luận cứ chắc chắn

Kỳ 7: Tư liệu phía Việt Nam

09/08/2011 1:09

Các tác phẩm và các văn kiện chứng minh quyền phát hiện và chủ quyền  của VN trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có niên đại chỉ từ thế kỷ XV, các văn kiện trước đó có  lẽ bị tiêu hủy và thất lạc dưới thời Bắc thuộc và các cuộc chiến tranh liên miên.

>> Kỳ 6: Những luận cứ chủ quyền không vững chắc

Tác phẩm cũ nhất có nói về sự tồn tại của các đảo là Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (1630  – 1653) do Đỗ Bá, tự Công Đạo soạn. Tài liệu này bao gồm các bản đồ An Nam từ thế kỷ XV trong đó có tấm vẽ các quần đảo Paracels và Spratlys trong biển Đông dưới tên gọi Bãi Cát Vàng và Trường Sa, thuộc phủ Quảng Ngãi:

“Giữa  biển  có  một  dải  cát  dài,  gọi  là  Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển, từ cửa Đại Chiêm đến cửa Sa Vĩnh. Một lần có gió Tây Nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ở đấy, có gió Đông Bắc thì thương thuyền  chạy  ở  ngoài  cũng  trôi  dạt  ở  đấy,  đều  cùng chết đói cả, hàng hóa thì đều để ở nơi đó”.


Một trong những bản đồ của cuốn sách Phủ biên tạp lục do Lê Quý Đôn biên soạn năm 1776, mô tả tỉ mỉ tình hình địa lý, tài nguyên ở Hoàng Sa và Trường Sa và công việc khai thác của Chúa Nguyễn đối với hai quần đảo này (nguồn: Cục Thông tin đối ngoại – Bộ Thông tin – Truyền thông)

Trong Phủ biên  tạp  lục (1776), Lê Quý Đôn, Hiệp trấn Thuận Hóa viết:

“Phủ  Quảng  Ngãi,  huyện  Bình  Sơn, có  xã  An Vĩnh, ở  gần  biển, ngoài  biển  về  phía Đông Bắc, có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn một trăm ba mươi ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng dài ước hơn ba mươi dặm, bằng  phẳng,  rộng  lớn, nước trong suốt đáy”.

Đại  Nam  thực  lục  tiền  biên,  phần  về  các  chúa Nguyễn  (1600  –  1775),  quyển X ghi nhận địa danh Hoàng Sa và Trường Sa và các hoạt động quản lý của các chính quyền VN:

“Xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi, ở ngoài  biển, có  hơn  một  trăm ba  mươi  bãi cát, cách nhau hoặc một ngày đường hoặc vài  trống  canh, kéo dài  không  biết  mấy  ngàn dặm, tục gọi  là Vạn Lý Hoàng Sa, trên bãi có giếng nước ngọt. Sản vật có hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích… Hồi  đầu  dựng  nước,  đặt  đội  Hoàng  Sa  gồm  70 người,  lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hằng năm đến tháng 3 đi thuyền ra đảo, độ ba ngày đêm thì đến, thu lượm hóa vật, đến tháng 8 trở về nộp. Lại có đội Bắc Hải, mộ dân ở phường Tư Chính, ở Bình Thuận hoặc xã Cảnh Dương sung vào, được lệnh đi thuyền ra các vùng Bắc Hải, Côn Lôn, thu  lượm hóa vật. Đội này cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản”.([1])

 
Bản đồ Việt Nam do Đỗ Bá soạn vẽ vào thế kỷ XVII. Lời chú giải trên bản đồ khu vực phủ Quảng Ngãi ghi rõ “Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng”, “do họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến lấy hóa vật…”  –  Ảnh: biengioilanhtho.gov.vn

Các  tác phẩm chính thức khác do Quốc Sử quán biên soạn và in dưới thời nhà Nguyễn như Đại Nam thực lục chính biên (1848), Khâm định Đại Nam hội diễn sử lệ (1843 – 1851), Đại Nam nhất thống chí (1865  –  1882), Lịch  triều  hiến chương  loại chí (1821), Hoàng Việt địa dư chí (1833), Việt sử cương giám khảo lược (1876) đều chép tương tự về Hoàng Sa và Trường Sa. Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ quyển 165 còn khẳng định sự đánh giá của Bộ Công  tâu  lên Vua  năm  Bính  Thân,  niên  hiệu Minh Mạng  thứ 17  (1836,  tức năm Đạo Quang  thứ 16 đời Thanh): “Xứ  Hoàng  Sa  thuộc  cương  vực  mặt  biển nước ta rất là hiểm yếu”. Đại Nam nhất thống chí, bộ sách địa lý lịch sử chung  thống nhất của Đại Nam, phần Hình thể nói về tỉnh Quảng Ngãi “phía đông có đảo Hoàng Sa liền với biển xanh làm hào che…”. Đó đều là các nguồn chính thức và có giá trị chân thực.

Viện Hán Nôm Hà Nội còn lưu trữ hàng chục châu bản  triều Nguyễn gồm các bản  tấu, phúc tấu của các Bộ Công, Bộ Hộ, các cơ quan khác, các dụ của các vua về các hoạt động thực thi chủ quyền của VN trên quần đảo.

Một số bản đồ VN vẽ các đảo này như bộ phận của lãnh  thổ VN, nhất  là Đại Nam nhất thống toàn đồ (1838). Ngoài ra các sách địa lý lịch sử như Sử  học bị khảo của Đặng Xuân Bảng, Địa dư toát  yếu (niên  hiệu Duy Tân 1907-1916), Quảng Thuận đạo sử tập, Trung kỳ địa dư lược, Quảng Ngãi tỉnh chí đều có những đoạn văn và bản đồ xác nhận Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi. Trong gia phả của các họ Phạm, họ Đặng trên đảo Lý Sơn còn lưu giữ các sắc chỉ của vua Minh Mạng giao cho dòng họ chọn những  thanh niên khỏe mạnh và giỏi bơi lội để gia nhập đội Hoàng Sa… ([2])

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Đại Nam thực lục tiền biên, NXB Sử học, Hà Nội, 1962, t.1, tr.22

[2] “Phát  hiện  tài  liệu  quý  liên  quan  đến  quần  đảo Hoàng  Sa”,  Lao Động số 71 ngày 1.4.2009.

>> Kỳ 8: Đi đến luận cứ chắc chắn

7 món ăn dưỡng máu, bồi bổ cơ thể!

(Dân trí) – Nếu cơ thể bị thiếu máu, ngoài bổ sung sắt, nên ăn thêm các món ăn sau:

Hạt sen hầm long nhãn táo tàu

Nguyên liệu: Hạt sen, long nhãn mỗi loại 30g, vài quả táo tàu, đường phèn lượng vừa đủ.

 

Cách làm: Ngâm hạt sen cho nở, bỏ tâm, rửa sạch. Sau đó cho hạt sen, long nhãn, vài quả táo tàu vào nồi đun với lượng nước vừa đủ. Thêm đường phèn sau khi sen đã nhừ.

 

Công hiệu: Món này có tác dụng bổ máu, kiện tì vị, thích hợp cho những người bị thiếu máu, thần kinh suy nhược, tâm bất an, hay quên, ngủ không ngon…Có thể ăn 1-2 lần/ngày, dùng thường xuyên.

 

Canh gan gà cà chua

 

Nguyên liệu: Gan gà, cà chua mỗi loại 200g, mộc nhĩ 12 nhánh, dầu ăn, mì chính, nước dùng, muối ăn, hạt tiêu.

 

Cách làm: Cà chua và gan gà rửa sạch, thái miếng. Đun sôi nước dùng, sau đó cho gan gà, mộc nhĩ, cà chua, hạt tiêu, muối ăn, mì chính, và một chút dầu ăn vào nấu cho tới khi gan gà chín.

 

Công hiệu: Món này có tác dụng bổ huyết, tăng cường sức khoẻ, thích hợp với người hay bị hoa mắt chóng mặt do thiếu máu.

 

Táo tàu hấp mộc nhĩ đen

Nguyên liệu: Táo tàu 50g, mộc nhĩ đen 15g, đường phèn lượng vừa đủ.

 

Cách làm: Ngâm mộc nhĩ đen và táo tàu trong nước ấm. Sau đó cho vào một bát con, với lượng đường phèn vừa đủ. Đặt bát vào nồi hấp trong 1 giờ.

 

Công hiệu: Món này có tác dụng bồi bổ khí huyết, thích hợp với người hay bị chóng mặt, ù tai, sắc mặt nhợt nhạt, hay hụt hơi, hay tê mỏi, thiếu sức lực…do thiếu máu.

 

Canh đậu phụ nấm hương

Nguyên liệu: Nấm hương khô 25g, đậu phụ 400g, dầu ăn, muối ăn, hạt tiêu, hành hoa.

 

Cách làm: Ngâm rửa sạch nấm hương với nước ấm, sau đó thái sợi. Đun sôi nước nấm hương cùng chút dầu ăn, sau đó cho nấm hương đã thái sợi, đậu phụ, muối ăn, hạt tiêu vào nấu chín.

 

Công dụng: Món này có tác dụng kiện tì vị, bồi bổ cơ thể suy nhược, thích hợp cho người bị thiếu máu, thiếu canxi, hoặc người mới ốm dậy.

 

Canh gan lợn kỳ tử trứng gà

 

Nguyên liệu: Gan lợn 100g, kỳ tử 20g, trứng gà 1 quả, gừng tươi, muối ăn.

 

Cách làm: Gan lợn rửa sạch, thái miếng. Kỳ tử rửa sạch. Đun sôi nước, cho thêm ít gừng tươi và muối ăn, sau đó cho kỳ tử vào đun, khoảng 10 phút thêm gan lợn. Sau khi sôi đạp trứng vào món canh.

 

Công hiệu: Món này có tác dụng bổ máu, dưỡng gan, làm sáng mắt, thích hợp cho người hay hoa mắt, chóng mặt do suy gan, thiếu máu.

 

Canh gan lợn mộc nhĩ  rau chân vịt

 

Nguyên liệu: Gan lợn 50g, mộc nhĩ đen 10g, rau chân vịt 50g, hành hoa, dầu ăn, muối ăn.

 

Cách làm: Gan lợn rửa sạch, thái miếng. Mộc nhĩ ngâm rửa sạch với nước ấm. cho gan lợn và mộc nhĩ vào nồi đun với lượng nước vừa đủ. Sau khi sôi cho rau chân vịt, đun khoảng vài phút rồi thêm mắm muối gia vị.

 

Công dụng: Món này có tác dụng dưỡng máu, bổ máu, thích hợp cho người bị thiếu máu. Có thể dùng hàng ngày.

 

Tỏi tây xào gan lợn

Nguyên liệu: Gan lợn 100g, tỏi tây 50g, hành tây 80g

 

Cách làm: Gan lợn rửa sạch, thái miếng,  sau đó cho vào nồi nấu chín 7 phần. Xào hành tây, tỏi tây cùng gia vị vừa đủ, gần chín cho gan lợn vào đảo qua có thể dùng.

 

Công dụng: Món này có tác dụng bổ gan, sáng mắt, dưỡng máu, thích hợp cho người bị thiếu máu, viêm gan mãn tính…

 

Phạm Thúy

Theo people