Tag Archive: bang


Nancy Rica Schiff – một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp đã dành rất nhiều thời gian của mình để ghi lại hình ảnh của những ngành nghề mới lạ và độc đáo. Schiff đã từng xuất bản một cuốn sách ảnh về chân dung những người có công việc kì lạ vào năm 2002.

Đa số mọi người sẽ nghĩ rằng những người làm công việc kỳ lạ chắc hẳn sẽ có tính cách lập dị. Tuy nhiên, Schiff cho biết, điều này không đúng. Nhiếp ảnh gia mô tả nhân vật của mình là những người nhạy cảm, tinh tế và làm việc một cách vui vẻ.

Nhiều người trong số các “đối tượng” của Schiff đã liên lạc với nhiếp ảnh gia và kể lại về tác động mà những hình ảnh tạo nên với cuộc sống của họ. Họ chia sẻ rằng trước đây, bạn bè và hàng xóm biết nơi họ làm việc, nhưng không thực sự biết họ làm gì ở đó. Giờ đây, công việc của họ không những được biết đến nhiều hơn mà còn nhận được nhiều sự cảm thông và khích lệ.

Dưới đây là những nghề nghiệp “quái dị” đã được xuất bản trong cuốn sách:

 

1

Chuyên gia… kiểm tra mùi cơ thể.

2

Người nuôi đỉa.

3

Người sản xuất gà cao su.

4

Người thử nghiệm… thức ăn cho chó.

5

Nhân viên trị liệu… ruột già.

6

Người thiết kế… underwear cho nam giới.

7

Trợ lý cho… nghệ sỹ phi dao.

8

Trị liệu âm nhạc cho những người đang hấp hối.

9

Người làm sạch… xương khủng long.

10

Nhân viên… chữa vết nứt trên các vách đá.

11

Và cả người… thử nghiệm băng vệ sinh.

[sưu tầm]

Nhận bằng đại học chỉ sau 3 năm

TT – Tháng 12, bốn sinh viên Trường ĐH Nông lâm TP.HCM sẽ nhận bằng ĐH chỉ sau ba năm học tại trường. Bí quyết của các bạn ở đâu?

“Tôi đã lên kế hoạch học tập cụ thể cho mình và đã tiết kiệm được một năm học”

NGUYỄN THỊ BÍCH HUỆ
– Ảnh: NHƯ HÙNG

“Lê Vũ cho rằng điều kiện kinh tế khó khăn là động lực để Vũ học vượt, ra trường sớm”

Ảnh: HÀ BÌNH

” Muốn học vượt, bạn cần xem xét đến sức khỏe, quỹ thời gian và năng lực học tập”

PHẠM THỊ TOÀN LANH
– Ảnh: HÀ BÌNH

Đầu năm học này, khi các bạn cùng khóa 2009-2013 bước vào năm học cuối thì Nguyễn Thị Bích Huệ (ngành quản trị kinh doanh thương mại Trường ĐH Nông lâm TP.HCM) đã tốt nghiệp và đang làm việc toàn thời gian cho một công ty chuyên về marketing online.

Tiết kiệm một năm

Cô SV quê Cẩm Mỹ, Đồng Nai kể khi vào năm nhất, bạn chưa biết về tín chỉ và có thể ra trường trước thời hạn. Khi nghe giảng viên nói SV tích lũy đủ tín chỉ sẽ được ra trường sớm, Huệ quyết định thử sức. “Biết tôi ấp ủ dự định học ĐH trong ba năm, anh của tôi đang học ĐH và bạn bè đều cho rằng tôi viển vông. Nhưng sau khi tham khảo ý kiến từ thầy cô cố vấn học tập, cách lựa chọn, đăng ký môn học, tôi đã lập kế hoạch học tập để đi đến mục tiêu của mình” – Huệ nhớ lại.

Để hoàn thành 135 tín chỉ cho chương trình ĐH, Huệ cho biết mỗi học kỳ bạn đăng ký 25 tín chỉ. Nghỉ hè, khi bạn bè cùng lớp về quê thăm gia đình thì Huệ ở lại trường đăng ký học thêm.

Huệ cho biết: “Trước khi đến lớp, tôi tranh thủ coi bài ở nhà và dành toàn bộ thời gian để nghe giảng. Tôi thấy điều SV cần nhất ở giảng viên là kiến thức thực tế chứ lý thuyết đã có trong sách rồi.

Chính những đề thi mở, đòi hỏi SV phải tìm hiểu kiến thức từ thực tế đã cuốn hút tôi vào bài học nên tôi luôn học một cách thoải mái nhất”.

Sau hai năm rưỡi “vừa học vừa chơi”, vừa đi dạy kèm, tham gia câu lạc bộ phát thanh… Huệ đã hoàn thành chương trình ĐH. Sáu tháng sau đó, Huệ làm khóa luận tốt nghiệp và ra trường. “Tôi đã lên kế hoạch học tập cụ thể cho mình và nay đã tiết kiệm được một năm học. Tôi có thể đi làm sớm và thực hiện tiếp những dự định khác” – Huệ nói.

Kết hợp nhiều yếu tố

Trong khi đó, điều kiện kinh tế khó khăn là động lực lớn nhất để bạn Lê Vũ – sinh viên ngành kinh tế Trường ĐH Nông lâm TP.HCM – quyết tâm phải ra trường sớm để tiết kiệm chi phí ăn học. Sau ba năm học, hiện Vũ đã đi làm công việc kinh doanh cho một công ty và chuẩn bị học thêm văn bằng hai về công nghệ sinh học.

Học nhiều hơn bình thường, Vũ còn đi làm bảo vệ buổi tối trong dịp hè để trang trải việc học. Vừa học vừa làm nhưng Vũ đã tốt nghiệp loại giỏi và luận văn tốt nghiệp của bạn đạt 8,7 điểm. Chàng SV quê Sơn Tịnh, Quảng Ngãi cho biết: “Học kỳ đầu tiên mình đăng ký 16 tín chỉ, thấy còn dư nhiều thời gian nên đăng ký lên 19, rồi 25 tín chỉ.

Ở năm nhất, năm hai việc học vẫn nhẹ nhàng nhưng cực nhất là năm ba. Nhiều môn học mà môn nào cũng làm tiểu luận nên nhiều đêm phải thức trắng làm cho kịp”. Theo Vũ, khi quyết định học vượt, SV phải xác định năng lực học tập, quỹ thời gian của mình xem có theo nổi hay không. “Quan trọng nhất là phải có động lực để cố gắng” – Vũ kết luận.

Được tốt nghiệp khi tích lũy đủ học phần

Quy chế 43 về đào tạo theo học chế tín chỉ của Bộ GD-ĐT quy định: “Điều kiện xét tốt nghiệp, công nhận tốt nghiệp khi SV tích lũy đủ số học phần quy định cho chương trình đào tạo với: khối lượng không dưới 180 tín chỉ đối với khóa đại học 6 năm, 150 tín chỉ đối với khóa đại học 5 năm, 120 tín chỉ đối với khóa đại học 4 năm.

Hiệu trưởng quy định cụ thể khối lượng kiến thức tối thiểu cho từng chương trình được triển khai đào tạo trong phạm vi trường mình”. Theo đó, tùy theo sức học của mình, SV có thể đăng ký học vượt để tốt nghiệp trước thời hạn.

Cùng lớp với Vũ, bạn Phạm Thị Toàn Lanh cũng đã tốt nghiệp sau ba năm học. Lanh cho rằng khi quyết định học vượt, bạn xem xét đến những khía cạnh như sức khỏe, quỹ thời gian, năng lực học tập của mình.

“Phải có kế hoạch học tập ngay từ đầu thì mới có thể hoàn thành việc học trước thời hạn – Lanh nói – Ngoài ra, cần phải có sự tư vấn thêm từ thầy cô, cố vấn học tập. Học vượt phải đi học, thực tập với anh chị khóa trên. Phải làm việc nhóm thường xuyên với lớp mới nên nhiều khi có những xung đột rất khó hòa giải”.

Theo Lanh, khó khăn lớn nhất là sắp xếp thời gian hợp lý để có thể học tốt. Bạn nói thêm: “Dù đã chuẩn bị kỹ kiến thức cơ bản để vào chuyên ngành nhưng đôi khi vẫn bị quên, phải tìm tài liệu xem lại.

Vào lớp, mình thường xuyên “xí” chỗ ngồi đầu bàn để chăm chú lắng nghe thầy cô giảng bài. Buổi sáng mình đến trường học đến khi nào thư viện đóng cửa mới về. Mùa hè mình cũng ở lại trường để học thêm”. Ngoài giờ học, Lanh còn tranh thủ đi phục vụ suất ăn công nghiệp để kiếm tiền trang trải việc học.

Tạo điều kiện cho SV giỏi

TS Trần Đình Lý – trưởng phòng đào tạo Trường ĐH Nông lâm TP.HCM – cho rằng đào tạo theo học chế tín chỉ thể hiện sự phân hóa rất cao trong SV, tạo cơ hội cho SV giỏi thể hiện và khẳng định năng lực của họ.

Số SV học vượt trong thời gian 3-3,5 năm tại trường nhiều hơn trước nhưng đồng thời số SV bị buộc thôi học cũng không ít.

Chính từ sự phân hóa ấy, TS Lý cho rằng SV phải biết lượng sức mình, đưa ra kế hoạch học tập toàn khóa học và lên kế hoạch học vượt.

Trong khi đó, TS Nguyễn Kim Quang – Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐHQG TP.HCM) – lưu ý SV học vượt phải học nhiều môn trong mỗi học kỳ so với bình thường nên đòi hỏi SV phải thật sự có năng lực.

Với SV có sức học trung bình, nếu đăng ký học vượt sẽ gặp nhiều khó khăn và kết quả có thể không cao. “SV cần cân nhắc xác định tốc độ học tập của mình. Nếu không có nhu cầu ra trường sớm thì không nên chọn việc học với tốc độ cao vì rất dễ đuối sức và sẽ không hoàn thành tốt kế hoạch học tập. Ngược lại những SV giỏi cần được khuyến khích học vượt để họ đạt được trình độ cao ở lứa tuổi còn trẻ…” – TS Quang nói.

TRẦN HUỲNH – HÀ BÌNH

[TTO]

ở đây em chủ yếu dùng công cụ Eyedropper Tool (I) để đo và Curves để xử lý da. Và bài này chỉ giới hạn ở những bức ảnh thông thường, không được (bị) chụp trong các điều kiện đặc biệt. Như quan sát, hoặc các bác có thể dùng tool (I) của PS để đo đối với các bức ảnh đẹp, màu da đẹp người châu Á trong điều kiện ánh sáng ban ngày thường rơi vào khoảng màu hoặc cứ tạm coi là ý kiến chủ quan của em là thế này:

Cyan: 3%-5%
Magenta: 18-20%
Yellow: 18-20%
-Ở đây tại sao mình lại dùng hệ màu CMYK để nói về da, vì nó là cái định lượng dễ hơn so với RGB (theo % mà). Tức là nếu các bác dùng tool (i) của PS để chỉ vào những vùng da trên ảnh, nếu vùng đó nằm trong khoảng trên thì chắc chắn màu da sẽ khá đẹp và sáng.
Dưới đây là stock và final em xử lý chỉ qua 1 layer Curves là chủ yếu:
Before:
[IMG]
After:
[IMG]
Cách làm:
– Bước 1: Em hay làm sáng toàn bộ ảnh bằng lệnh Ctrl+J, sau đó Alt+Shift+S để chọn chế độ Screen, tăng giảm capacity cho phù hợp (sáng vừa thôi nhé các bác, cẩn thận lại cháy :D) rồi Ctrl+E để gộp luôn.
– Bước 2: Xử lý cục bộ những vùng da khác màu, sáng tối tương phản quá lớn. Ở cái stock này không cần phải làm phần đó, vì nó đẹp sẵn rồi.
– Bước 3: Nhấn phím I để chọn Eyedropper Tool, dùng tool chỉ vào phần da mà nó có thể đại diện cho toàn bộ da của chủ thể. Ở đây em hay chỉ vào phần má sáng.
-Các bác chú ý tới phần em khoanh tròn trong hình: C=11%, M=31%, Y=31%.
-Cái này không cần chính xác quá, các bác có thể rà đi rà lại trong lúc làm.
-Bây giờ cái cần làm của chúng ta là điều chỉnh C, M, Y giảm xuống giống như tỷ lệ đẹp lý thuyết ở trên.
[IMG]
– Bước 4: Chọn “Creat new fill or Adjustment Layer”, chọn Curves
[IMG]
– Bước 5: Bảng Curves hiện ra, kèm theo cái que thử (I) khi các bác di con chỏ chuột ra bức ảnh. Các bác chỉ vào phần da dại diện, rồi nhấn Ctrl+Shift+Click chuột để đánh dấu điểm đó trong Curves.Các bác để ý các điểm em đánh dấu xanh trong hình. Ở trên các kênh red, blue, green đều có 1 cái chấm như vậy tương đương với điểm các bác vừa đánh dấu.
[IMG]
– Bước 6:
Về lý thuyết màu, Red bù với Cyan, Green bù với Magenta, Blue bù với Yellow, có nghĩa nôm na là nếu ta tăng Red, thì Cyan giảm và ngược lại; và cũng tương tự với các cặp màu bù kia. Thế nên trong Curves ta có thể dễ dàng chỉnh các màu C, M, Y theo đúng với % ta đã định.
-Ở trong hình ta thấy Cyan đang là 13%, giờ ta sẽ giảm nó xuống thành 4-5% bằng cách kéo Red lên. Òa đỏ lòm [IMG]
-Nhưng các bác cứ tiếp tục làm xem nó ra làm sao, đừng sợ hehee.
Và luôn lưu ý là đã là Curves thì phải Cong nhe
[IMG]
– Bước 7: Làm tương tự với Green và Blue:
[IMG]
[IMG]
Và xem kết quả với C=5%, M=20%, Y=18% chúng ta có gì nào:
[IMG]
Đến đây coi như là xong phần làm trắng hồng da, các bác có thể vào lại curves để tinh chỉnh cho thật vừa ý.
– Bước 8: Các bác quan sát phần hậu cảnh, nếu thấy thay đổi không nhiều thì qua bước 9, còn nếu muốn lấy lại phần hậu cảnh cũ thì dùng Brush màu đen, capacity 100%, hardness khoảng 20% xoa lên phần Mask trắng của layer Curves.
Xong thì nó như thế này:
[IMG]
– Bước 9: Mông má thêm tí cho nó máu
-Ctrl+Shift+Alt+E để gộp 2 layer vừa rồi thành layer mới, và giữ lại layer cũ đề phòng chỉnh sửa về sau.
-Ấn L, chọn Polygonal Lasso Tool, rồi chọn hết cái môi mẫu, xong Ctrl+Alt+D, chọn khoảng 1 hoặc 2, xong Ctrl+J để copy môi mẫu lên 1 layer mới.
-Ở layer mới, Ctrl+U để gọi Hue/Saturation chỉnh saturation lên chút cho đẹp mắt.
[IMG]
-Sau đó Ctrl+Shift+N tạo 1 layer mới, dùng brush trắng hardness thấp chấm cho ẻm cái đốm sáng trên mắt cho sinh động.
-Vậy là kết thúc. Tuy vậy các bác có thể làm thêm phần mịn da và Sharpen/Unsharp Mask cho nó đẹp hơn. Và có thể dùng Selective Color để tinh chỉnh thêm.
-Toàn bộ quá trình chắc hết 5-10 phút, vì đây là bức dễ nhằn, bức khó nhằn sẽ cần giai đoạn tiền xử lý trước Curves lâu hơn [IMG]
Chờ các bác ném đá
Tác giả: gaffer.2
Nguồn: vnphoto.
Nếu bạn thích xem video trên các trang xã hội như là Facebook, Twitter, Google+, ViewTube là một extension của Chrome có thể giúp bạn xem video một cách khác biệt. Videos mà bạn xem sẽ được hiện thành popup, và bạn có thể di chuyển nó xung quanh trang, giúp bạn vừa xem video vừa đọc tin tức mà không phải lo bị mất tập trung.

 Sau khi cài đặt extension, nó sẽ tự động chạy mỗi khi bạn chạy video trên facebook, twitter hoặc google+, và bạn có thể tự do di chuyển màn hình khắp nơi xung quanh trang. Bạn có thể bấm like, dislike hoặc comment ngay trên video mà không cần phải mở youtube lên.

 

 

Bình thường, khi video được chơi trên Twitter, nó sẽ tự động mở tab mới, và bạn sẽ bị mất tập trung vào trang. Do đó, khi sử dụng ViewTube, bạn có thể xem trực tiếp videos trên Twitter, mà không cần mở thêm tab.

 

 

Cài đặt ViewTube cho Google Chrome tại đây 

 

Nguồn: addictivetips

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – Kỳ 12: Chiếm hữu bằng vũ lực là bất hợp pháp

 

Kể từ 1885, luật pháp quốc tế về vấn đề thụ đắc lãnh thổ đã thay đổi sâu sắc. Đối với các đất vô chủ terres res nullius, đó là việc chiếm hữu thực sự, không gián đoạn và thường xuyên mà sự không liên tục tương đối lớn có thể được châm chước nếu có phù hợp với việc duy trì quyền có thông báo việc chiếm cứ đó cho các cường quốc khác thông qua con đường ngoại giao. Một danh nghĩa đã từng được thiết lập có thể mất đi nếu quốc gia sở hữu danh nghĩa này nhường lại cho quốc gia khác hoặc bằng con đường chuyển nhượng hoặc bằng con đường thụ đắc theo thời hiệu.

>> Kỳ 11: Chiếm hữu đúng luật

 
An Nam Đại quốc họa đồBản đồ Việt Nam trong cuốn Từ điển La tinh – Việt Nam của giám mục Jean Louis Taberd xuất bản năm 1838 vẽ một phần của “Paracel hay Cát Vàng” (Paracel seu Cát Vàng) vào khu vực quần đảo Hoàng Sa hiện nay. (nguồn: Cục Thông tin đối ngoại – Bộ Thông tin-Truyền thông)

Trong trường hợp thứ nhất, một hiệp ước phải được ký kết để ghi nhận sự chuyển giao quyền lực. Trong trường hợp thứ hai, cơ chế thụ đắc theo thời hiệu đòi hỏi hai điều kiện đồng thời.

– Quốc gia danh nghĩa từ bỏ danh nghĩa của họ và lãnh thổ trở thành lãnh thổ bị từ bỏ dereclictio.

– Quốc gia cạnh tranh thực thi việc chiếm hữu lãnh thổ yêu sách, mà việc này có thể được coi như giá trị và áp đặt cho quốc gia thứ ba phù hợp với các điều kiện được yêu cầu. Đó là một sự “củng cố bởi tác động của thời gian” – thuật ngữ mà Ch.de Visscher sử dụng – khi tiến hành thực thi chủ quyền thực sự, công khai, liên tục và hòa bình. Thụ đắc theo thời hiệu không có gì khác hơn trong trường hợp này – như Ch.Rousseau từng chỉ ra – là một nhãn hiệu nhằm che đậy việc chiếm hữu bị giảm giá vì không đúng luật [1].

Thụ đắc theo thời hiệu gần như lúc nào cũng là cơ sở cho một hành vi vi phạm [2]. Do vậy, để minh chứng danh nghĩa thụ đắc theo thời hiệu, bên chiếm cứ thứ hai phải thể hiện được một sự quản lý hòa bình, có hiệu lực và không có lỗ hổng nào về chủ quyền lãnh thổ trước sự thờ ơ nghiêm trọng của bên chiếm cứ đầu tiên.

Luật quốc tế cổ điển không ngăn ngừa việc sử dụng vũ lực để chinh phục một lãnh thổ. Tuy nhiên, hình thức thụ đắc này yêu cầu ký kết một hiệp ước hòa bình. Trong đầu thế kỷ XX, những toan tính đầu tiên nhằm hạn chế việc sử dụng vũ lực trong các quan hệ quốc tế đã được ghi nhận với học thuyết Drago (1902 – 1907). Cuối cùng, bước quyết định theo hướng cấm sử dụng vũ lực đã được thực hiện bằng việc thông qua Hiệp ước Paris ngày 26.8.1928 (Pacte Briand-Kellogg).

Từ đó trở đi, quy tắc truyền thống sử dụng vũ lực đã bị lên án. Ý tưởng này đã được khẳng định lại trong Điều 2, Khoản 4 Hiến chương LHQ:

“Các nước thành viên của tổ chức kiềm chế, trong quan hệ quốc tế của họ, đe dọa vũ lực hoặc sử dụng vũ lực, chống lại sự vẹn toàn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị của tất cả các quốc gia, hoặc mọi cách khác không phù hợp với mục tiêu của LHQ”.

Nguyên tắc này đã được phát triển và củng cố trong NQ 2625 (XXV) của Đại hội đồng LHQ ngày 24.10.1970 (Tuyên ngôn về các nguyên tắc của luật pháp đề cập các quan hệ hữu nghị và hợp tác giữa các quốc gia phù hợp với Hiến chương LHQ):

“Lãnh thổ của một quốc gia không thể là đối tượng của một sự chiếm đóng quân sự, kết quả của việc sử dụng vũ lực trái với các điều khoản của Hiến chương LHQ. Lãnh thổ của một quốc gia không thể là một đối tượng thụ đắc bởi một quốc gia khác do đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực. Bất kỳ sự thụ đắc lãnh thổ nào bằng sự đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực đều là bất hợp pháp”.

Hiến chương LHQ và các nghị quyết của Đại hội đồng LHQ cũng lên án mọi sự đe dọa sử dụng vũ lực hoặc sử dụng vũ lực như một phương tiện để giải quyết các tranh chấp quốc tế, trong đó có tranh chấp lãnh thổ. Các nước thành viên LHQ phải giải quyết “Các tranh chấp quốc tế của họ bằng phương pháp hòa bình, sao cho hòa bình và an ninh quốc tế cũng như pháp lý không bị đe dọa” [3].

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Ch.Rousseau, Công pháp quốc tế, Sirey, 1977, t. III, tr 183.

[2] Fauchille, Giáo trình công pháp quốc tế, Paris, 1925, t. I, tr. 785.

[3] Hiến chương LHQ, Điều 2, Khoản 3.

>> Kỳ 13: Đặt dấu mốc 1909: Quá muộn!

Việt Nam giải quyết bất đồng trên biển Đông bằng hòa bình

Nhà nước Việt Nam chủ trương giải quyết các bất đồng liên quan đến biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước luật Biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc.

Ngày 8/6/2012, tại trụ sở Liên Hiệp Quốc ở New York (Mỹ), lễ kỷ niệm 30 năm ngày ký kết Công ước luật Biển năm 1982 của Liên Hiệp Quốc (UNCLOS 1982) đã diễn ra trong khuôn khổ Hội nghị lần thứ 22 các quốc gia thành viên công ước này. Dưới đây là bài viết của tác giả Hạnh Duy, chuyên gia luật pháp quốc tế, về những nội dung cơ bản của Công ước luật Biển năm 1982.

Kể từ khi được thành lập cho đến nay, Liên Hiệp Quốc (LHQ) đã dành sự ưu tiên đặc biệt cho hoạt động pháp điển hóa và phát triển tiến bộ các quy phạm và nguyên tắc của ngành luật biển quốc tế. Bằng chứng là LHQ đã tổ chức 3 hội nghị lớn và quan trọng về luật biển. Hội nghị luật Biển lần thứ I được tổ chức tại Geneva vào năm 1958 và thông qua 4 công ước, cụ thể là Công ước về lãnh hải và vùng tiếp giáp, Công ước về biển cả, Công ước về đánh cá và bảo tồn tài nguyên sinh vật ở biển cả và Công ước về thềm lục địa.

Tiếp đó, Hội nghị luật Biển lần thứ II cũng được tổ chức tại Geneva năm 1960 với mục đích thống nhất về chiều rộng của lãnh hải. Do lập trường của các nhóm nước khác nhau nên hội nghị không đạt được mục tiêu đề ra. Hội nghị luật Biển lần thứ III chủ yếu được tổ chức tại New York và Geneva với hai giai đoạn khác nhau: giai đoạn trù bị (năm 1967-1973) và giai đoạn chính thức (năm 1973-1982).

đảo chìm Đá Đông B - quần đảo Trường Sa.
Đảo chìm Đá Đông B – quần đảo Trường Sa. Ảnh: Phan Văn Toàn.

Thành công lớn của Hội nghị luật Biển lần thứ III là đã thông qua Công ước luật Biển năm 1982 của LHQ với 320 điều và 9 phụ lục. Công ước được mở ra cho các quốc gia ký vào ngày 10/12/1982. Cũng ngay trong ngày đó, Fiji trở thành thành viên đầu tiên của công ước. Đến ngày 5/6/2012, công ước có 162 thành viên từ khắp châu Á, châu Phi, châu Âu, châu Mỹ và châu Đại dương. Trong số các nước ven biển Đông đã có 8 nước tham gia Công ước là Việt Nam, Trung Quốc, Philippines, Indonesia, Malaysia, Singapore, Brunei và Thái Lan.

Công ước luật Biển năm 1982 được coi là hiến pháp của thế giới về các vấn đề biển và đại dương bởi vì đã xác định một cách toàn diện quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của các quốc gia ven biển cũng như quy chế pháp lý của vùng biển quốc tế và đáy biển quốc tế. Đồng thời công ước cũng quy định thành lập một loạt cơ chế quốc tế quan trọng liên quan đến hoạt động ở biển và đại dương như Tòa án quốc tế về luật Biển, Cơ quan quyền lực quốc tế về đáy đại dương, Ủy ban Ranh giới thềm lục địa và Hội nghị các quốc gia thành viên công ước.

Đặc biệt liên quan đến các tranh chấp có thể nảy sinh giữa các thành viên, Công ước luật Biển năm 1982 đòi hỏi các quốc gia thành viên giải quyết mọi tranh chấp liên quan đến việc giải thích hoặc áp dụng công ước bằng các biện pháp hòa bình theo đúng quy định của Hiến chương LHQ, đồng thời nêu rõ các cơ chế giải quyết tranh chấp mang tính triệt để. Đáng chú ý, công ước được thông qua như một giải pháp cả gói, cho nên các quốc gia không được phép bảo lưu khi tham gia công ước.

1. Quy chế pháp lý của các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia ven biển theo Công ước luật Biển năm 1982

Theo Công ước luật Biển năm 1982, quốc gia ven biển có các vùng biển là nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Chiều rộng của các vùng biển này được tính từ đường cơ sở dùng để tính lãnh hải của quốc gia ven biển. Nội thủy là toàn bộ vùng biển tiếp giáp với bờ biển và nằm phía trong đường cơ sở của quốc gia ven biển. Trong vùng nội thủy của mình, quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn và tuyệt đối như đối với lãnh thổ đất liền của mình.

Lãnh hải là vùng biển nằm phía ngoài đường cơ sở của quốc gia ven biển. Theo luật biển vào những năm 50 của thế kỷ 20 trở về trước, lãnh hải của quốc gia ven biển chỉ rộng 3 hải lý, tức khoảng 5,7 km. Tại Hội nghị luật Biển lần thứ II của LHQ, một số nước tiếp tục ủng hộ quan điểm lãnh hải 3 hải lý, nhưng một số nước khác chủ trương mở rộng lãnh hải đến 12 hải lý. Tại Hội nghị luật Biển lần thứ III các nước đã đạt nhận thức chung, do đó Công ước luật Biển năm 1982 đã xác định chiều rộng của lãnh hải là 12 hải lý. Các quốc gia ven biển có chủ quyền đối với lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời ở trên lãnh hải, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải.

Tuy nhiên, tính chủ quyền ở đây không được tuyệt đối như trong nội thủy bởi vì trong lãnh hải của quốc gia ven biển tàu thuyền của các quốc gia khác được quyền đi qua không gây hại (tàu bay bay trên vùng trời vẫn phải xin phép). Công ước cũng đề ra những quy định rất cụ thể đối với việc đi qua không gây hại như không được đe dọa hoặc dùng vũ lực chống lại chủ quyền hoặc độc lập chính trị của quốc gia ven biển, hoặc dùng mọi cách khác trái với các nguyên tắc của pháp luật quốc tế đã được nêu trong Hiến chương LHQ; hoặc tuyên truyền, thu thập thông tin gây hại cho quốc phòng, an ninh của quốc gia ven biển…

Quốc gia ven biển có quyền ban hành các quy định để kiểm soát và giám sát tàu thuyền nước ngoài thực hiện việc đi qua trong lãnh hải của mình trong một số vấn đề (an toàn hàng hải, điều phối giao thông đường biển; bảo vệ các thiết bị, công trình, hệ thống đảm bảo hàng hải; bảo vệ tuyến dây cáp và ống dẫn ở biển; bảo tồn tài nguyên sinh vật biển; ngăn ngừa vi phạm pháp luật của quốc gia ven biển liên quan đến đánh bắt hải sản; bảo vệ môi trường biển; nghiên cứu khoa học biển; và ngăn ngừa các vi phạm về hải quan, thuế khóa, xuất, nhập cảnh, y tế) và quy định hành lang để tàu thuyền đi qua.

Vùng tiếp giáp lãnh hải là vùng biển đặc thù nằm ở trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển. Vùng này cũng có chiều rộng 12 hải lý kể từ ranh giới ngoài của lãnh hải. Có thể nói, vùng này như là một vùng đệm mà ở đó, các quốc gia ven biển có quyền thực hiện sự kiểm soát cần thiết nhằm mục đich ngăn ngừa và trừng trị các vi phạm xảy ra trong lãnh hải của quốc gia đó. Ngoài khía cạnh này ra, quy chế của vùng này hoàn toàn như phần còn lại của vùng đặc quyền kinh tế.

Vùng đặc quyền kinh tế là vùng biển nằm phía ngoài lãnh hải và có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở (vì lãnh hải 12 hải lý, nên thực chất vùng đặc quyền kinh tế có 188 hải lý). Vùng đặc quyền kinh tế là một chế định pháp lý hoàn toàn mới. Mãi cho đến những năm 50 của thế kỷ 20 hoàn toàn không có chế định này. Lúc đó các quốc gia ven biển chỉ có lãnh hải 3 hải lý. Ngoài lãnh hải 3 hải lý là vùng biển quốc tế. Với việc ra đời của vùng đặc quyền kinh tế, vùng biển của quốc gia ven biển được mở rộng và vùng biển quốc tế bị thu hẹp đáng kể.

Khác với nội thủy và lãnh hải, quốc gia ven biển không có chủ quyền mà chỉ có quyền chủ quyền đối với vùng đặc quyền kinh tế của mình. Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, sinh vật hoặc không sinh vật ở đó cũng như đối với các hoạt động khác như sản xuất năng lượng từ nước, hải lưu và gió. Hiện nay, tài nguyên thiên nhiên chính trong vùng đặc quyền kinh tế mà các quốc gia ven biển đang quan tâm và đẩy mạnh thăm dò, khai thác là tôm, cá. Đối với số lượng tôm, cá mà quốc gia ven biển không đánh bắt hết thì có thể cho phép các quốc gia khác đánh bắt (nhưng họ phải trả lệ phí và tuân thủ các quy định của quốc gia ven biển). Quốc gia ven biển có quyền tài phán đối với việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị, công trình; nghiên cứu khoa học biển; bảo vệ và giữ gìn môi trường biển.

Bên cạnh đó, Công ước luật Biển năm 1982 cũng quy định rõ ở trong vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển, các quốc gia khác có một số quyền như quyền tự do hàng hải và quyền tự do hàng không ở vùng trời trên vùng đặc quyền kinh tế của quốc gia ven biển.

Thềm lục địa là đáy biển và lòng đất dưới đáy biển bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển với chiều rộng tối thiểu là 200 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải. Theo công ước, quốc gia ven biển có thể mở rộng thềm lục địa của mình đến tối đa 350 hải lý kể từ đường cơ sở hoặc không quá 100 hải lý kể từ đường đẳng sâu 2.500 m (đường nối liền các điểm có độ sâu 2.500 m). Điều kiện để có thể mở rộng thềm lục địa quá 200 hải lý là quốc gia ven biển phải trình Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của LHQ báo cáo quốc gia kèm đầy đủ bằng chứng khoa học về địa chất và địa mạo của vùng đó. Thực hiện quyền này, các quốc gia ven biển đã trình lên LHQ 60 báo cáo quốc gia khác nhau, trong đó có 5 báo cáo chung – do 2 hoặc 3, 4 nước cùng làm báo cáo đối với một khu vực cụ thể. Ngày 6.5.2009, Đại diện thường trực nước ta tại LHQ cùng với Đại diện thường trực Malaysia trình LHQ báo cáo chung của Việt Nam và Malaysia về xác định ranh giới thềm lục địa ngoài 200 hải lý ở nam biển Đông. Tiếp đó, ngày 7.5.2009, Đại diện thường trực nước ta tại LHQ đã trình tiếp báo cáo riêng của Việt Nam về xác định thềm lục địa ngoài 200 hải lý ở khu vực phía Bắc.

Công ước luật Biển năm 1982 quy định trong thềm lục địa của mình, quốc gia ven biển có quyền chủ quyền đối với việc thăm dò, khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên ở đó. Hiện nay, các nước ven biển tập trung thăm dò, khai thác nguồn lợi dầu khí để phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế. Trong tương lai, ngoài dầu và khí, các nước sẽ thăm dò và khai thác các tài nguyên khác như quặng sắt, đồng, chì, thiếc… Đặc biệt, khoản 2, điều 77 của công ước nhấn mạnh quyền chủ quyền đối với thềm lục địa mang tính đặc quyền ở chỗ nếu quốc gia ven biển không thăm dò, khai thác thì cũng không ai có quyền khai thác tại đây, nếu không được sự đồng ý của quốc gia ven biển.

Như vậy, các quy định của Công ước luật Biển năm 1982 về phạm vi cũng như quy chế pháp lý các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của quốc gia ven biển rất rõ ràng và minh bạch. Phù hợp với quy định của Công ước, các quốc gia ven biển có các quyền hợp pháp và chính đáng đối với mỗi vùng biển của mình. Khi thực hiện các quyền đó của mình, mỗi quốc gia ven biển có nghĩa vụ tôn trọng các quyền tương tự của các quốc gia ven biển khác. Đó là yêu cầu khách quan của trật tự pháp lý trên biển mà cộng đồng quốc tế đã cùng nhau xây dựng nên. Các quyền và nghĩa vụ theo các cam kết quốc tế luôn luôn phải song hành

 

[vnexpress.net]

Kỳ 4: “Bằng chứng khảo cổ” mập mờ và thiếu chính xác của Trung Quốc

 

Để củng cố lý lẽ về chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa, người TQ sử dụng cả các luận cứ về khảo cổ. Người TQ cho là đã tìm thấy vết tích tiền cổ và vật dụng cổ có từ thời Vương Mãng (năm thứ ba trước Công nguyên cho đến năm 23 sau Công nguyên) trên các quần đảo.

>> Kỳ 3: Sử liệu Trung Quốc nói gì?

Chang The-Kuang và S.Yeh viết rằng các đảo này có chứa “các tàn tích của khu dân cư, các vật dùng sành sứ, các dao sắt, các nồi gang và các vật dụng hằng ngày khác có niên đại từ thời Đường, Tống”. Báo cáo sơ bộ của chuyến khảo cổ học thứ hai trên quần đảo Tây Sa của tỉnh Quảng Đông ghi rằng “qua hai cuộc khảo sát, các nhà khảo cổ học đã khảo sát hầu hết các đảo, đá, bãi ngầm, các vũng của quần đảo Tây Sa và hầu như ở đâu họ cũng tìm thấy các đồ vật cổ và các lịch sử của quần đảo Tây Sa, bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc chúng ta từ ngàn đời nay”.

Vấn đề đặt ra ở đây là trong luật quốc tế không tồn tại một quy tắc nào cho phép tự quy thuộc chủ quyền cho một quốc gia trên một vùng đất mà tại đó các cổ vật thuộc nền văn minh của nước đó được tìm thấy. Các cổ vật này có thể thuộc các ngư dân TQ đi lại và bị đắm thuyền trong vùng biển này, cũng như có thể thuộc các ngư dân Philippines, Malaysia hoặc của các tàu thuyền Ả Rập, Bồ Đào Nha, Hà Lan bị trôi dạt mắc nạn vào đây. Không có gì chứng minh được rằng các ngư dân TQ là những người duy nhất có các hoạt động định cư thường xuyên trên các đảo không có nước ngọt này.

Trong khi đó, năm 2001, trong khuôn khổ dự án 10 năm điều tra cơ bản khảo cổ học Trường Sa – Tây Nguyên – Nam Bộ, các nhà khoa học Việt Nam đã khai quật và phát hiện nhiều di tích khảo cổ có giá trị trên quần đảo Trường Sa. Trên chứng chỉ khảo cổ học, các nhà sử học đã xác định được các cư dân người Việt sinh sống ở Trường Sa là rất sớm, chí ít cũng phải từ thời nhà Trần và liên tục định cư, sinh sống ở đây trong các giai đoạn thời kỳ sau. Qua các hiện vật thu được, dựa trên căn cứ sử học và văn hóa học, rất rõ ràng để nhận ra có một sợi dây liên kết chặt chẽ giữa cư dân trên đảo với cư dân đất liền từ thuở sơ khai đến nay. Có thể những cư dân đầu tiên Trường Sa là kết quả của các cuộc di dân, tìm đất mới thời cổ xưa. Hoặc là các ngư dân Việt đi biển ghé vào và ở lại lâu dài, khai phá đất đai, tạo lập cuộc sống mới.

 
Một trang trong cuốn Hải ngoại kỷ sự (1695) của Thích Đại Sán, một nhà sư Trung Quốc đời Khang Hy, thuật lại chuyến du hành tới xứ Đàng Trong, thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Đại Việt – Ảnh: biengioilanhtho.gov.vn

Chủ quyền quốc gia đã được luật quốc tế định nghĩa về mặt pháp lý. Trương Hồng Tăng và các tác giả TQ khác lập luận rằng: “Dưới thời nhà Tống, nhiều sách vở đã ghi nhận rằng những ngư dân TQ thường tới đây bắt cá và thu lượm san hô (…). Theo Chư phiên chí (ghi chép về các nước chư hầu) của Zhao Rushi (Triệu Nhữ Quát) sống dưới thời nhà Tống cách đây 700 – 800 năm, người TQ đã biết rằng các quần đảo Tây Sa và Nam Sa là những vùng nguy hiểm cho hàng hải (…). Vào thế kỷ trước, chỉ có người TQ đã sống và khai thác một cách liên tục các quần đảo Tây Sa và Nam Sa (…)”.

Sau khi đã nghiên cứu sâu sắc các tài liệu TQ, ông Heinzig, một luật gia Đức đã rút ra kết luận chỉ bắt đầu từ thời nhà Tống (960) người TQ mới có thể tiếp cận với quần đảo Paracels (Hoàng Sa). Còn về việc hiện diện của người TQ trong khu vực Spratlys (Trường Sa) không có gì ghi nhận trước 1867, thời điểm một tàu nghiên cứu Anh gặp những ngư dân TQ tới từ đảo Hải Nam. Theo Heinzig, chỉ từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất người TQ mới bắt đầu gọi quần đảo Spratlys là “Đoàn Sa Trung Đảo”. ([1])

Sự tiếp xúc riêng rẽ của những cư dân TQ cá thể đối với Paracels liệu có đủ để thiết lập chủ quyền TQ tại đó không theo luật quốc tế? Các tác giả TQ khẳng định rằng TQ phát hiện ra Tây Sa và Nam Sa cách nay 2.100 năm, vào thời Hán Vũ Đế. Đối với họ, theo luật quốc tế và tập quán quốc tế thời kỳ đó: “Chủ quyền thuộc về người phát hiện” (Who discovers the territory, holds its sovereignty), đó là ngư dân TQ, và vì vậy TQ phải có chủ quyền trên đó”.

So sánh với các tiêu chuẩn thụ đắc lãnh thổ, các ghi chép mà TQ viện dẫn không đủ chứng minh rằng quyền phát hiện đã được xác lập. Một đảo hoặc một quần đảo có thể là đối tượng nhận biết từ lâu đời của các nhà hàng hải, các ngư dân, các nhà địa lý… nhưng chúng vẫn chỉ được coi là lãnh thổ vô chủ

res nullius một khi quốc gia của họ chưa tiến hành một hành động nhà nước nào tại đó. Phan Thạch Anh cố chứng minh rằng vào thế kỷ XV, XVI chỉ cần quyền phát hiện là đủ để tạo nên quyền sở hữu đất vô chủ. Sở dĩ ông ta lập luận như vậy là để chứng minh rằng các hoạt động của tư nhân TQ là đủ để tạo ra quyền phát hiện ([2]). Thế nhưng các hoạt động tư nhân của các ngư dân TQ không thể mang lại hiệu lực pháp lý của “quyền phát hiện” và nó không thể được đánh đồng với quyền chiếm hữu.

Các bằng chứng của quyền phát hiện các đảo này như đã nêu trên rất mập mờ và thiếu chính xác. Chúng ta có thể đồng ý rằng các hoạt động của ngư dân có thể kéo theo sự chú ý và ý định của nhà nước trên lãnh thổ vô chủ. Tuy nhiên, yếu tố ý chí này không đủ khi còn thiếu yếu tố vật chất của các hoạt động nhà nước trên thực địa. Người TQ sẽ chứng minh như thế nào đòi hỏi này của luật quốc tế vào thời kỳ đó?

TS Nguyễn Hồng Thao

_________

[1] Theo Nguyễn Quang Ngọc, Sđd, tr 41. Trước khi Lý Chuẩn ra Hoàng Sa năm 1909, bản đồ TQ vẫn thể hiện đảo Hải Nam là cực nam lãnh thổ TQ. Năm 1928 trường Đại học Trung Sơn tổ chức điều tra quần đảo Tây Sa, được coi là mốc đánh dấu sự hiểu biết của người TQ về quần đảo Tây Sa. Tuy nhiên, cho đến năm 1934, bản đồ TQ vẫn chưa vượt quá quần đảo Tây Sa và đảo Triton, cực nam của quần đảo, ở sát phía dưới vĩ tuyến 16 được gọi là đảo cực nam với lời giải thích đảo là cột mốc đánh dấu lãnh thổ cực nam của TQ. Trong khoảng năm 1935-1936 địa danh Nam Sa và Đoàn Sa xuất hiện trên bản đồ TQ. Nam Sa được đặt tên cho bãi ngầm Maccelesfield Bank còn Đoàn Sa để chỉ Spratleys. Từ năm 1939 tên Nam Sa mới được dùng để chỉ Trường Sa của Việt Nam, tên Đoàn Sa mất đi, còn Maccelesfield Bank được đặt tên là Trung Sa.

[2] Phan Thạch Anh, The ptropolitics of the Nansha islands-China’s indisputable legal case, Beijing, December 1995.

>> Kỳ 5: Độ chênh của lịch sử trong Sách trắng Trung Quốc

Một đoạn Video dài 9 phút đầy chân thưc về chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời phỏng vấn 1 phóng viên người Pháp vừa được đưa lên Internet đã tạo một làn sóng xúc động mạnh mẽ và lòng tự hào dân tộc trong cư dân mạng Việt Nam khi lần đầu tiên được xem và nghe những lời nói giản dị mà đanh thép của Bác. Clip cũng tái hiện lại cảnh Hà Nội yên bình ngày xưa với phố xá rộn ràng xe đạp, góc phố xôn xao của một thời chiến tranh nhưng vẫn lịch lãm và đầy quyến rũ…

Phóng viên: Hiện có một vài tư tưởng cho rằng miền Bắc Việt Nam đang ở trong hoàn cảnh khá cô lập và trên quan điểm chính trị, khó có thể tránh khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc (thành vệ tinh của Trung Quốc). Chúng ta có thể trả lời câu hỏi này ra sao?

Bác Hồ: JAMAIS! (không bao giờ)

Download Video phỏng vấn Bác năm 1964 | Việt Sub (link Mediafire)

Xem thêm nội dung cuộc phỏng vấn và phần Bình luận:

Lời dẫn: Hà Nội, tại ngã tư đường Paul Bert và đường Petit Lac (Hồ Nhỏ) cũ, vào giờ tan tầm: không một chiếc ô tô, nhưng rất nhiều xe đạp di chuyển chậm rãi.

 

Cảm giác bất bình thường ở đất nước này không khiến chúng tôi đi khỏi miền Bắc Việt Nam. Bất bình thường đầu tiên ở chỗ mọi lối sống cá nhân đều biến mất, để cùng xây dựng cho một cố gắng tập thể tuyệt vời, được điều hành bởi một bộ máy thống nhất, quy củ (nguyên văn: dirigé d’une main de fer a la dispositif de sécurité draconienne)

Không bình thường nữa là ở đất nước bị chia làm 2 mười năm về trước, rất nhiều gia đình phải sống trong bi kịch đất nước khó khăn, vẫn có thể chu cấp cho chiến trường miền Nam.

– Thưa Ngài chủ tịch, Ngài có thể cho biết liệu có một giải pháp quân sự nào cho chiến sự tại miền Nam Việt Nam?

– Không. Bởi vì như cô biết đấy, “Dân tộc Việt Nam là một, đất nước Việt Nam là một”. Người Mỹ đã vô cớ gây chiến tranh. Cô cũng biết rằng, như trên các mặt báo đã đưa, nếu chiến tranh càng kéo dài, người Mỹ sẽ càng sa lầy và sẽ càng chuốc lấy thất bại. Chiến tranh không thể kéo dài mãi mãi được, tôi cũng vui mừng là các nhà chính trị Pháp cũng đã biết rõ điều này

– Liệu Ngài có nghĩ rằng tướng De Gaule có thể sẽ có biện pháp nào đó phân định (arbitrer) sự xung đột này?

– Không biết cô hiểu thế nào về từ phân định (arbitrer), chúng tôi đâu có phải là một đội bóng đâu (cười)

– Nhưng nếu tôi không nhầm thì ngoài Hiệp định Genève, tướng De Gaule có nói về một ý tưởng về sự thống nhất tất cả các nước ở khu vực Đông Nam Á, Ngài nghĩ sao về điều này?

– Như tôi đã nói một lần rồi, đây là một ý tưởng khá hấp dẫn. Nhưng nó còn phụ thuộc vào sự ủng hộ của từng nước, phụ thuộc vào cách chúng ta thực hiện nó nữa, đó là một câu hỏi lớn. Tôi không nói là tôi phản đối hay tán thành ý kiến này. Lấy ví dụ về HOA, có rất nhiều loại hoa: hoa trắng, hoa đỏ, hoa vàng … có loài hoa đẹp nhưng cũng có loài không đẹp, nhưng chúng ta vẫn gọi chung là HOA .

– Thưa Ngài Chủ tịch, trong chuyến đi miền Bắc Việt Nam này chúng tôi nhận thấy rằng sự ảnh hưởng của Pháp dường như không còn tồn tại ở đây nữa, độ tuổi dưới 25 giờ đã không còn biết đến tiếng Pháp. Tôi tự hỏi là, với suy nghĩ của Ngài, liệu rằng chúng ta có thể gây dựng lại mối quan hệ này, rằng nước Pháp sẽ giữ vai trò nào đó trong mối quan hệ … văn hóa giữ hai nước?

– Với nước Pháp nói riêng và các nước khác nói chung, chúng tôi luôn muốn có một mối quan hệ hợp tác hữu nghị về văn hóa, kinh tế … Nhưng tôi không nghĩ rằng cô muốn nói tới sự ảnh hưởng của Pháp như họ đã từng gây sự ảnh hưởng với Việt Nam trước đây, đó là một chuyện hoàn toàn khác.

– Oui, thời kì đó đã qua rồi.

– Một mối quan hệ hữu hảo về văn hoá, kinh tế … hay như thể thao chẳng hạn. Chúng tôi hoàn toàn hưởng ứng.

– Nếu như chiến tranh tiếp tục leo thang tại miền Nam Việt Nam trong một vài năm tới, liệu ngài có nghĩ rằng kinh tế của miền Bắc Việt Nam có thể duy trì được như bây giờ?

– Tôi chắc chắn rằng nó không những chỉ duy trì mà còn phát triển. Cô cũng thấy rằng là ở đây, chúng tôi lao động rất hăng say, cần cù, với sự hy sinh và lòng nhiệt huyết, và chủ yếu đều xuất phát từ nội lực của chúng tôi. Bên cạnh đó chúng tôi còn có sự giúp đỡ anh em từ các nước Xã Hội Chủ Nghĩa. Tất cả đều thể hiện qua những tiến bộ hàng ngày, và chắc chắn là cả trong tương lai nữa.

– Ngài có nhắc tới các nước Xã Hội Chủ Nghĩa, vậy thì sự giúp đỡ này có bắt nguồn sau những xung đột về ý thức hệ (conflit idiologique) giữa Nga và Trung Quốc?

– Không, …….. (không nghe rõ ) …….. Nhưng những sự giúp đỡ giữa các nước anh em thì vẫn tiếp diễn. và chúng rất quý giá với chúng tôi.

– Hiện có một vài tư tưởng cho rằng miền Bắc Việt Nam đang ở trong hoàn cảnh khá cô lập và trên quan điểm chính trị, khó có thể tránh khỏi sự lệ thuộc vào Trung Quốc (thành vệ tinh của Trung Quốc). Chúng ta có thể trả lời câu hỏi này ra sao?

– JAMAIS (không bao giờ)

Hết đoạn phỏng vấn Bác (Có thể dịch còn sai sót).

Bài này do TLHP(Admin của UDS) thực hiện(Theo Baoblog.net)


Một vài cảm nhận cùa các bạn trẻ sau khi xem Video Clip này trên các diễn đàn:

Bua (linkhay): Cảm giác như được chạm vào Người vậy. Thích những đoạn phim giản dị như thế này, thần thánh hóa đôi khi không đem lại cảm giác thân thiết.

Face (linkhay): Bác thật tuyệt vời, lần đầu tiên trong đời thấy bác gần gũi như thế này
đây mới là người hết mình vì Việt Nam.

L.i.n.k (linkhay): Mỗi lần nhìn thấy hình ảnh hoặc được nghe giọng nói của Bác là người cứ lâng lâng dâng trào cảm xúc! Ước gì được 1 lần gặp Bác nhỉ !

Gameover107 (Voz): Phong thái của bậc vĩ nhân đúng là có khác! Rất mạnh mẽ, quyết đoán, mà cũng rất trào phúng… mình thích những người có cá tính như thế!

Quocchung225 (Voz): Bác nhìn bên ngoài cứng rắn thiệt. lần đầu tiên nghe giọng nói bác ở cự ly gần như thế này anh em à… thấy thương Bác quá !

Crocket (Voz):  Bác nói Jamais trông rất quyết đoán, nhìn xúc động quá.

Nguoixuquang (Hoangsa.org): Bác thật tuyệt vời , nhìn bác rất giản dị nhưng vẩn toát lên được phong thái của nhà lãnh đạo tài ba .

Quangnt (Hoangsa.org): ” JAMAIS ” tiếng nói mạnh mẽ và cứng rắn, sẽ không bao giờ Việt Nam phụ thuộc vào Trung Quốc

Trunghieu_qbvn (Hoangsa.org): Phút thứ 6 giây 31 – Phong thái, ánh mắt, giọng nói của Bác cho thấy TQ là kẻ thù ngàn đời của chúng ta. Bác Hồ vĩ đại sống mãi trong mỗi người con yêu nước đất Việt.

Bình luận của nhà văn Phạm Viết Đào về cuộc phỏng vấn này:

(KienThanh có sửa chữa từ ngữ cho phù hợp)

Cuộc phỏng vấn này diễn ra vào tháng 6/1964 nghĩa là trước cuộc chiến tranh phá hoại miền bắc 2 tháng: 5/8/1964; thời điểm Mỹ chính thức ném bom miền bắc và phát động cuộc chiến tranh cục bộ, đưa lính Mỹ vào chiến trường miền nam tham chiến…

Chắc chắn cuộc phỏng vấn này không là một cuộc phóng vấn tình cờ mà là một cuộc thăm dò, nắn gân có chủ đích của phương Tây đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh nói riêng và đối với dân tộc Việt Nam nói chung. Nếu quan sát bối cảnh lịch sử lúc đó thấy, qua cuộc phỏng vấn, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã thể hiện được những gì là tiêu biểu nhất cốt cách, ý chí, thái độ chính trị của cả dân tộc…Chăm chú theo dõi cuộc phỏng vấn cho thấy Chủ tịch Hồ Chí Minh là một chính khách kỳ cựu, lọc lõi trong các miếng đòn ngoại giao, ứng xử…

Khi được hỏi: Liệu có giải pháp nào khác ngoài quân sự trong việc giải quyết vấn đề thống nhất Việt Nam không ? Ông khẳng định không có giải pháp nào khác. Bởi nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Mỹ vô cớ đem quân vào xâm lược Việt Nam, Mỹ chủ động phát động cuộc chiến tranh xâm lược thì Việt Nam phái phát động chiến tranh đánh trả…Đó là một chân lý rõ ràng, không thể phủ nhận, không có cách ứng xử nào khác đối với bất cứ quốc gia, dân tộc nào…

Ở đây, nữ nhà báo Pháp cài một ý đồ ngoại giao về vai trò “Arbitre “ tiếng Pháp gọi là trọng tài của nước Pháp; Chủ tịch Hồ Chí Minh “phủ quyết” ngay: Việt Nam không phải là một đội bóng ? Một câu trả lời thông minh, dí dỏm, không thô… với người đối thoại mà vẫn thể hiện được thần thái cốt cách của cá nhân ông, đại diện cho ý chí của cả một dân tộc…Trả lời câu này không khéo dễ quê vì thô lậu, hoặc lên gân quá làm mất cảm tình với người đối thoại. Câu trả lời: Việt Nam không phải là một đội bóng để nước Pháp đứng ra làm “ trọng tài” là một câu trả lời cực hay, cực tài …

Thêm một cái bẫy phỏng vấn nữa mà nữ nhà báo Pháp giăng ra nhưng đã bị Chủ tịch Hồ Chí Minh nhanh chóng phát hiện phá tan, đó là câu hỏi: Liệu Việt Nam có ủng hộ cho một liên minh nào đó giữa các nước Đông Dương trong tương lai…

Để câu giờ, Chủ tịch Hồ Chí Minh trả lời: Đây là một câu hỏi quan trọng, và để có thời gian suy nghĩ giải mã cái bẫy đằng sau câu hỏi này, ông đã đưa hình ảnh vô thưởng vô phạt nhưng lại nịnh được đầm, đó là đưa hình ảnh của hoa ra để nói: Hoa có hoa trắng, hoa vàng, hoa đỏ, hoa đep, hoa xấu…nhưng dù như thế nào thì hoa vẫn là hoa…Vì phụ nữ nhất là phụ nữ phương Tây ai mà không yêu hoa…Và đây mới là câu trả lời tài giỏi, sắc xảo của Chủ tịch  Hồ Chí Minh: Việc có thống nhất các nước Đông Dương hay không thì đó là ý nguyện của mỗi nước; giống như hoa, mỗi loài mỗi sắc màu, còn cá nhân Chủ tịch Hồ Chí Minh thì ông cho biết: ông không nói là ông ủng hộ hay phản đối ý tưởng hợp nhất này…Chủ tịch chỉ nói nó là quan trong ? Có thánh mới bắt bẻ được câu trả lời của ông…

Về ý thứ 3 trong đó là câu hỏi về quan hệ giữa Việt Nam với Trung Quốc và Liên Xô; phải nói rằng đây là một vấn đề phải có đủ bãn lĩnh mới trả lời được, giải quyết được mối quan hệ phức tạp này. Điều này đã bộc lộ rõ trong thực tế lịch sử?

Khi được hỏi: Liệu vì phát động cuộc chiến tranh này mà trong tương lại Việt Nam sẽ bị lệ thuộc, sẽ trở thành “vệ tinh “ của Trung Quốc không ? Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tra lời bằng một tông giọng cương quyết, cứng rắn: JAMAIS-KHÔNG BAO GIỜ ?!

Nên nhớ câu trả lời này được tuyên bố trên các phương tiện thông tin của phương Tây vào tháng 6/1964, khi mà chiến tranh chưa nổ ra, khi mà thắng bại của cuộc chiến chưa ai cầm chắc.

Nếu biết chắc thua thì Mỹ cũng chẳng dại mà ném vào bao tiền của và sinh mạng của con em nước Mỹ. Còn Việt Nam thì lúc này rất cần sự giúp đỡ của Trung Quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định sự giúp đỡ của Trung Quốc và các nước xã hội chủ nghĩa khác là rất quý báu. Thế nhưng ngay từ tháng 6/1964 ông đã ngửa bài: có cần sự giúp đỡ, chi viện nhưng để trở thành vệ tinh, phụ thuộc thì KHÔNG BAO GIỜ-JAMAIS !

Tuyên bố trắng phớ như vậy, ngửa bài ra như vậy với Trung Quốc từ tháng 6/1964, thế mà Trung Quốc vẫn phải chở lương thực, thực phẩm, súng đạn sang giúp Việt Nam; hàng triệu người Trung Quốc vẫn xuống đường đòi đế quốc Mỹ cút đi!

Chỉ có Chủ tịch Hồ Chí Minh mới làm được như vậy.

Baodatviet.vn: Phong thái Hồ Chủ tịch trả lời phóng viên Pháp

Mới đây, một đoạn phim tư liệu mang tên Phỏng vấn chủ tịch Hồ Chí Minh – Tháng 6/1964được đăng tải trên trang Youtube, rất thu hút đông đảo sự quan tâm của cộng đồng mạng Việt Nam.

Đoạn phim do người Pháp thực hiện, được mở đầu với khung cảnh Hà Nội trong thập kỷ 1960 với những đường phố vào giờ tan tầm tràn ngập xe đạp. Sau đó, ống kính máy quay tập trung vào buổi phỏng vấn giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và một nữ phóng viên người Pháp, với những hình ảnh cận cảnh rất chân thực về Bác.

Trong suốt buổi phỏng vấn, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn thể hiện một phong thái ung dung, lịch lãm, với ngôn từ dí dỏm. Trước những câu hỏi “hóc búa” về hoàn cảnh thời chiến, mối quan hệ quan hệ quốc tế của Việt Nam…, Bác đều trả lời rất trí tuệ và quyết đoán.

Ở cuối cuộc phỏng vấn, khi phóng viên đặt câu hỏi về nguy cơ lệ thuộc của Việt Nam vào một nước lớn trong khu vực, Chủ tịch Hồ Chí Minh lập tức đưa ra câu trả lời kiên quyết: Jamais! (Không bao giờ!).

Chỉ trong vòng một ngày sau khi đăng tải, đoạn phim đã được phổ biến trên nhiều diễn đàn trực tuyến và nhận được hàng trăm lời bình luận của cộng đồng mạng, thể hiện nhiều cảm xúc sâu sắc trước những thước phim chân thực về Bác.

Trên trang Youtube, thành viên kikikikiwi1 thổ lộ: “Cảm động quá, lần đầu tiên được nhìn Bác rõ như thế, lần đầu tiên thấy Bác cười gần đến thế …”.

“Cả bài phỏng vấn thấy Bác trả lời rất dí dỏm, trí tuệ. Đến câu cuối trả lời về khả năng phụ thuộc vào nước khác, bác thay đổi giọng để phủ định rất mạnh mẽ, cương quyết. Mặc dù ko hiểu tiếng Pháp, nhưng tôi kính phục sự uy nghiêm của Bác. Rất ấn tượng”, Ciaobenben, thành viên diễn đàn Linkhay, nhận xét.

Thành viên chipping cũng chia sẻ: “Mình mới cho ông ngoại xem đoạn phim này. Ông đã khóc, thật cảm động. Ông đã 85 tuổi rồi đấy. Thế mới biết Bác Hồ – Người là sức mạnh tinh thần cho cả một dân tộc như thế nào, một thế hệ mà ngày ấy lý tưởng của họ thật mãnh liệt…”.

Makuro Tron, thành viên mạng xã hội Facebook không giấu nổi sự xúc động: “Xem đi xem lại đoạn phỏng vấn này và nhìn đôi mắt với nghe giọng nói của Người, tôi thấy đất nước Việt Nam quá may mắn khi có Bác Hồ. Bác Hồ mãi mãi là niềm tự hào của dân tộc. Sự vĩ đại, sự hi sinh cũng như tình thương của Bác dành cho dân tộc không có từ ngữ nào diễn tả được”.

Apahasathmaka Upahasathmaka, một người Sri Lanka cũng bày tỏ sự ngưỡng mộ khi xem đoạn phim về Bác trên Facebook: “Thats a leader like no other. If only other people in the world follow Ho Chi Minh the world will be such a great place” (Thật là một nhà lãnh đạo có một không hai. Nếu mọi người khác trên thế giới noi gương Hồ Chí Minh thì thế giới sẽ trở thành một nơi thật tuyệt vời)

KienThanh tổng hợp.