Tag Archive: Bao


Đừng coi thường! Tai họa vốn không “gõ cứa” trước khi “bước vào” cuộc đời của mỗi chúng ta bao giờ. “Đút túi” vài quy tắc này không bao giờ là thừa nhé!

1. Khi bạn mắc kẹt trong các con sóng thủy triều đang trực kéo mình ra xa, cố gắng giữ bình tĩnh và bơi theo đường song song với bờ biển, điều đó sẽ giúp bạn thoát khỏi chúng.

2. Khi cần nhờ ai giúp đỡ, đừng la hét chung chung “Ai cứu tôi với!” mà gọi đích danh người cần giúp với đặc điểm nhận dạng như “Anh áo đỏ ơi giúp em với!!”
Tiếp tục đọc

VẠCH MẶT ÂM MƯU LẬT ĐỔ CHẾ ĐỘ XHCN VIỆT NAM

Nước CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Thời gian qua, sau những biến động chính trị gắn với những cái gọi là “cách mạng hoa nhài” ở Ai Cập, Tuy-ni-di, Li-bi, một số kẻ phản động trong và ngoài nước đang hí hửng cho rằng, các cuộc “cách mạng” ấy chẳng bao lâu sẽ lan tới Việt Nam. Chúng kích động những người nhẹ dạ cả tin, kêu gọi biểu tình, “tập dượt” cho một cuộc “cách mạng hoa sen” để lật đổ chế độ XHCN.

Nhận diện một âm mưu
Trước hết, có thể nhận thấy ngay đây là một chiêu bài “Diễn biến hòa bình”, lợi dụng các trào lưu xã hội trên thế giới để phát động phong trào chống đối, đi tới lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam. Ở đây, từ “cách mạng” đã bị lạm dụng đến mức nguy hiểm. Trên thực tế, những cuộc “cách mạng nhung”, “cách mạng cam”, “cách mạng hoa nhài” hay hoa gì đi chăng nữa không hề tạo ra một sự biến đổi xã hội mang tính sâu sắc, toàn diện, tạo bước ngoặt thay đổi về chất trong mọi lĩnh vực xã hội, thay thế hình thái kinh tế – xã hội lỗi thời, lạc hậu bằng hình thái xã hội cao hơn mà thực chất chỉ là cuộc lật đổ chế độ bằng các thủ đoạn phi bạo lực kết hợp với bạo lực ở mức độ khác nhau. Sự độc tài, bất công chẳng những không mất đi mà còn trầm trọng hơn, đổ máu nhiều hơn, nghèo đói nhiều hơn, bất ổn nhiều hơn. Vì vậy, không thể gọi đó là một cuộc cách mạng dù nó có mang màu sắc sặc sỡ bao nhiêu, mang tên loài hoa đẹp bao nhiêu đi chăng nữa! Đặc biệt, hoa sen, một loài hoa với vẻ đẹp Việt Nam và mang nhiều triết lý nhân sinh Việt Nam, không thể gắn với những âm mưu và hành động đi ngược lợi ích của Tổ quốc, dân tộc, mang lại khổ đau, chém giết, huynh đệ tương tàn.

Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, Trung với Đảng, Hiếu với Dân

Tại nhiều diễn đàn, mạng xã hội trên internet hiện nay, các thế lực thù địch hải ngoại có khá nhiều bài viết, thậm chí cả các chương trình truyền hình, đối thoại, bàn luận khá rầm rĩ về “cách mạng hoa nhài và hiện tình Việt Nam”. Một số nhân vật chống Cộng say sưa phân tích thế sự từ Tây sang Đông, từ chuyện Ai Cập, Tuy-ni-di, Li-bi… để “soi rọi”, “cảnh báo cho quốc dân đồng bào trong nước”. Chúng cho rằng, một cuộc cách mạng dân chủ theo kiểu mẫu của phương Tây, có thể tạo ra cuộc “chuyển giao quyền lực êm đềm, không đổ máu” ở Việt Nam. Chúng huênh hoang, bất chấp lý luận về cách mạng xã hội khi lập luận: “Cách mạng hoa nhài” mang tính tự phát của quần chúng, không cần gắn liền với một ý thức hệ, cương lĩnh hay tổ chức nào cả và đây lại là một yếu tố quan trọng góp phần thành công mà những cuộc cách mạng trước kia không có. Kiểu “lý luận” này thực sự chỉ là một kiểu suy luận bừa. Lê-nin từng nói: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”. Nếu cuộc cách mạng không cương lĩnh, không tổ chức, thì cuộc cách mạng đó vì ai, dựa vào đâu?

Sự thâm độc, xảo quyệt của chiêu bài này càng lộ rõ khi các thế lực phản động và thù địch “mách” rõ những cách làm rất cụ thể, tỉ mỉ cho từng giai tầng, lực lượng xã hội ở Việt Nam. Chúng luôn đề cao vai trò của các mạng xã hội và công cụ internet, từ facebook, youtube đến twitter, thậm chí điện thoại di động là “vũ khí hữu hiệu” trong việc tập hợp lực lượng nổi dậy ở nhiều nước. Từ đó, chúng kích động giới trẻ Việt Nam hãy tận dụng lợi thế của sự phát triển internet để “hành động”. Chúng cũng cho rằng cách mạng “hoa sen” thuận lợi hơn vì dân số trẻ, sẽ đi theo từng nấc thang để chính quyền khó đàn áp. Chúng đưa ra các bước hành động: Ban đầu chỉ kêu gọi nhau tụ tập mặc áo trắng ở chỗ đông người rồi dần dần tiến tới tụ tập vì biển, đảo, vì kinh tế khó khăn. “Hương hoa nhài, hoa sen” sẽ khích lệ tiếng nói đối kháng qua các phong trào cùng ký tên vào tâm thư, thỉnh nguyện, các bản tuyên cáo, kiến nghị nào đó để tạo dư luận xã hội. Ở nấc thang cao hơn, sẽ phát động biểu tình sẽ hướng tới phản đối những hạn chế trong điều hành, quản lý kinh tế, những tiêu cực xã hội rồi tiến tới kêu gọi lật đổ chính quyền, phát động phong trào “toàn dân xuống đường… cứu nước”. Chúng lại đưa ra chiêu bài kêu gọi: “Quân đội nhân dân sẽ thực sự là của nhân dân nên sẽ không bắn vào người biểu tình. Lực lượng công an và quân đội hãy trở về với nghĩa vụ giúp đỡ và bảo vệ nhân dân, vốn đã sinh ra và nuôi nấng mình”. Khi các cuộc biểu tình đã được đẩy lên ở mức cao tại các thành phố lớn, sẽ có sự hà hơi tiếp sức của các tổ chức phản động trong và ngoài nước, rồi chúng sẽ kêu gọi sự can thiệp của nước ngoài… Nhìn lại một vài cuộc tụ tập đông người vừa qua, có nhiều dấu hiệu cho thấy đã có bàn tay kích động, đứng sau của các thế lực thù địch theo một “kịch bản” dài hơi.

Đẩy lùi, ngăn chặn và làm thất bại

Những chiêu bài, thủ đoạn thâm độc trên, may thay, đã sớm bị bóc trần. Ngay tại cộng đồng hải ngoại, đã có không ít ý kiến khách quan, phản đối thẳng thừng âm mưu “cách mạng hoa sen”. Ông Phúc Nguyễn, một Việt kiều sống ở Hoa Kỳ khi được hỏi về một cuộc “cách mạng hoa nhài” ở Việt Nam đã thẳng thắn nói: “Không thể có một cuộc cách mạng như thế và cũng không cần phải có. Bởi nó chỉ làm xã hội Việt Nam xấu đi khi đất nước đang phát triển đầu tư, hòa bình. Vả lại, cách quản lý xã hội ở Việt Nam chặt chẽ, không thể xảy ra chuyện như ở một số nước gần đây”.

GoocBachop – kẻ cơ hội

Tuy nhiên, để ngăn chặn, đẩy lùi và làm thất bại hoàn toàn âm mưu phát động những cuộc “cách mạng” như thế, cần sự quan tâm nghiên cứu, phân tích, làm rõ bản chất các trào lưu, hiện tượng xã hội và tình hình thế giới đầy biến động sâu sắc và phức tạp hiện nay. Dư luận xã hội, đặc biệt là nhận thức của thế hệ trẻ cần phải được định hướng rõ ràng, phân biệt giữa bản chất và hiện tượng, các mối liên hệ giữa các sự kiện để tránh sa vào cực đoan, bị kích động, lôi kéo. Nhìn lại một số sự kiện quốc tế vừa qua, các phương tiện báo chí, truyền thông có lúc, có nơi mới chỉ phản ánh được bề nổi của sự kiện, cần có nhiều hơn những đánh giá, bình luận mang tầm khái quát, phân tích rõ bản chất các hiện tượng, sự kiện, định hướng dư luận xã hội một cách tích cực.

Về mặt quản lý, rõ ràng những biện pháp bảo vệ trật tự trị an, an ninh xã hội vừa qua là rất cần thiết và cần được duy trì hiệu quả hơn nữa. Ở Việt Nam, Đảng, Nhà nước khuyến khích các ý kiến phản biện xã hội mang tính xây dựng, khuyến khích đấu tranh chống tiêu cực xã hội, tham ô, quan liêu, cửa quyền… Tuy nhiên, những âm mưu và hành vi lợi dụng đấu tranh chống tiêu cực hay lợi dụng dân chủ để chống đối chế độ XHCN sẽ phải được xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật.

Những kẻ cơ hội Chính trị sẽ trốn khỏi đôi mắt Nhân dân

Chúng ta không cần một cuộc “cách mạng hoa sen, hoa nhài” hay loài hoa nào khác, mà kiên trì con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, thời kỳ quá độ lên CNXH là một quá trình đầy khó khăn, gian khổ, kéo dài. Chỉ có sự đoàn kết, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, nhìn thẳng vào sự thật, đấu tranh đẩy lùi tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực xã hội, hạn chế các yếu kém trong quản lý, điều hành xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh mới giúp cho cách mạng XHCN sớm thành công. Cái gọi là “cách mạng màu, cách mạng hoa” mà các thế lực thù địch đang mưu toan chỉ là sự lừa phỉnh nhân dân!

Bài viết của: Nguyễn Văn Minh. [Đã được đăng trên Việt Nam – Đất Nước – Con Người bởi Hoa Phượng Đỏ]

TRƯỜNG SA – HOÀNG SA VÀ NHỮNG CHUYỆN CHƯA BAO GIỜ KỂ

Hôm trước, mình đặt câu hỏi về việc các bạn suốt ngày phê phán Người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam “nhai đi nhai lại” các thông điệp phản đối khi Trung Quốc có hành vi xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, vậy theo các bạn chúng ta phải làm gì? Thật bất ngờ khi câu hỏi này thu hút một số lượng lớn các bạn vào thảo luận và đưa ý kiến cực kỳ nghiêm túc (http://on.fb.me/13FuVDS). Theo đó, hàng trăm comments đã được gửi lên. Tổng hợp lại thì có các ý lớn thế này:

Nhà Giàn DK – nguồn internet

1- Việc “nhai đi nhai lại” này là cần thiết để mai mốt nếu Việt Nam có kiện ra tòa án Quốc Tế thì cũng có bằng chứng.
2- Các bạn tin tưởng tuyệt đối vào sách lược của Chính phủ trong vấn đề biển đảo. Dù có những cái các bạn vẫn thấy “mơ hồ” nhưng các bạn cho rằng nếu làm cho mọi thứ “rõ ràng” hơn thì không còn gì gọi là bí mật và khi đó Trung Quốc có thể dễ dàng đối phó.
3- Ủng hộ việc dùng vũ lực
4- Kiện ra tòa án quốc tế
5- Tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế
6- Tăng cường hỗ trợ giúp ngư dân bám biển
7- Thoát khỏi tầm ảnh hưởng của Trung Quốc về kinh tế, chính trị và văn hóa
8- Tăng cường năng lực quân sự

Mình cực kỳ trân trọng các ý kiến đóng góp kèm theo những giải thích, lập luận xác đáng của tất cả các bạn. Còn trong phạm vi những gì mình hiểu biết thông qua tự tìm tòi nghiên cứu, phỏng vấn những người có ảnh hưởng, có uy tín trong xã hội và Chính phủ, thông qua thực tế mắt thấy tai nghe khi ra Trường Sa và tiếp xúc với các chiến sĩ, mình xin được cung cấp thêm thông tin thế này để các bạn tham khảo nhé.

1/ Trung Quốc là nước lớn, mạnh hơn Việt Nam về mọi mặt như Kinh tế, Quân sự, Vũ khí, Đạn dược và tiếng nói trong Cộng đồng Quốc tế. Nếu “đánh nhau” tay đôi, thắng thua không biết, nhưng chắc chắn phía chịu thiệt hại nặng nề là Việt Nam của chúng ta. Khi nói chuyện với các tướng lĩnh từ cấp thấp đến cấp vừa, cấp cao của Việt Nam, mình phải ghi nhận một điều là chẳng ai “run sợ” nếu buộc phải sa vào tình thế chiến tranh. Chúng ta “anh hùng” 1, họ anh hùng gấp 1 triệu lần. Khi chúng ta hứa hẹn này kia trên bàn phím, họ đã và đang anh hùng bằng những hành động và việc làm thiết thực.

Các bạn có biết trong một chuyến đi đón công binh làm nhiệm vụ xây dựng từ một đảo chìm về lại đất liền, tai nạn đã xảy ra. Không rõ vì lý do gì mà chiến sĩ công binh này mất tích (có giả thiết trượt trân ngã rơi xuống biển khi đang câu cá). Rất nhiều tàu cứu hộ đã được phái ra vùng biển đó cấp tốc tìm kiếm trong nhiều ngày trước khi chấp nhận mất đi 1 người đồng đội. Dù đó là điều không ai mong muốn nhưng toàn bộ các chiến sĩ có mặt trên tàu cũng như các cấp chỉ huy tại đất liền đã bị kỷ luật từ quân đến tướng. Mất vạch, mất sao và nhiều hình thức kỷ luật cộng thêm khác nữa. Kể chuyện này để các bạn hiểu rằng mạng sống con người không phải là thứ để mang ra làm chuyện mua vui như vậy được. Mình nhấn mạnh, đó là sự mất mát của chỉ duy nhất 1 người.

Ảnh tác giả

Các bạn có biết khi Trung Quốc cử tàu hộ tống mang dàn khoan khổng lồ cao hàng trăm mét ra tìm cách thả xuống biển Đông để khai thác dầu khí, chiến sĩ của chúng ta trên các nhà giàn đã phải thay nhau theo dõi ngày đêm, kết hợp chặt chẽ với chỉ huy tại đất liền để giám sát nhất cử nhất động của tàu địch. Nếu bất cứ khi nào đội tàu hộ tống này có dấu hiệu ngưng lại tại vùng biển chủ quyền của Việt Nam thì lập tức chúng ta phải cử tàu chiến ra “xua đuổi” không cho dàn khoan này được thả xuống dù với bất cứ lý do gì. Chúng ta “tuyệt đối yếu” hơn đối phương, trong khi chúng lại thường xuyên gây hấn, kích động để Việt Nam “ra tay” trước. Khi ấy, chúng sẽ có lý do hợp pháp để đánh chiếm vào những hòn đảo của chúng ta.

Nếu tình huống xấu nhất là Trung Quốc chiếm thành công 1 đảo của Việt Nam (điều này khó có khả năng xảy ra) thì chúng ta sẽ làm gì? Lên tiếng nhờ cộng đồng quốc tế ủng hộ mình ư? Cũng được, nhưng Trung Quốc sẽ ngay lập tức la làng lên rằng họ không đi xâm lược, không đi đánh chiếm đảo của Việt Nam. Họ chỉ đang “đòi lại” những gì thuộc về “chủ quyền bấy lâu nay” của họ. Trung Quốc sẽ ngay lập tức ngang ngược nói rằng chính Việt Nam mới đi chiếm đảo của Trung Quốc và bây giờ “bị lấy lại”. Hãy nhìn vào những gì Trung Quốc đang ngày đêm bắc loa tuyên bố một cách trơ trẽn về Hoàng Sa sẽ hiểu điều mình nói. Tất cả những gì Trung Quốc CẦN, CẦU MONG VÀ CHỜ ĐỢI LÚC NÀY chính là một hành động thiếu kiềm chế bất kỳ từ phía Việt Nam để họ có thể đàng hoàng phát pháo. Và đó cũng chính là điều mà tất cả chiến sĩ của chúng ta ngoài hải đảo phải thuộc nằm lòng. Phải luyện chí rèn gan, giữ vững lập trường và kiên định để tránh tuyệt đối phạm vào sai lầm như vậy.

2/ Còn về vấn đề kiện tụng, ngay khi ngồi ở trên tàu ra Trường Sa mình đã hỏi một luật sư có tiếng. Cô ấy nói Việt Nam không thể nào làm như vậy được. Thứ nhất, chúng ta đang bị lệ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc (bạn nào có comment ý này vô cùng chuẩn xác). Nếu chúng ta chỉ cần “lên gân” với Trung Quốc thì có thể hàng chục triệu gia đình sẽ lâm vào cảnh lầm than bằng những đòn đánh vào kinh tế. Để thoát ra khỏi sự lệ thuộc này, cần rất nhiều nỗ lực và thời gian. Thứ hai, ngay cả nếu chúng ta “kiện thắng” thì tòa án Quốc tế cũng không có chức năng hành pháp. Họ CHỈ CÓ THỂ KÊU GỌI bên “thua kiện” thực hiện điều ABC nào đó. Tòa án Quốc tế không giống như tòa án trong nước để có thể có chế tài buộc ông A bà B nào đó phải vào tù hay ông C phải bồi thường cho bà D vài chục triệu, trả lại tang vật trong vụ án v.v… Tức là đừng quá kỳ vọng việc tòa án Quốc tế sẽ giúp chúng ta bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Nhà Giàn DK (Phúc Nguyên)

Ai đó nói rằng chúng ta cần “đánh động” thì xin thưa, việc đi kiện tụng như thế chẳng đánh động được cái gì ngoài việc khiến cho Trung Quốc có cớ sử dụng các đòn trừng phạt phi quân sự nhắm tới Việt Nam. Cùng với đó, họ sẽ dùng ảnh hưởng của mình để gây sức ép lên cộng đồng Quốc tế và cô lập Việt Nam, bao vây kinh tế v.v… Trong khi đó, cái mà chúng ta cần nhất bây giờ là tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng Quốc tế. Thế nên phương án kiện là KHÔNG NÊN VÀ KHÔNG THỂ, vì chúng ta sẽ bị hại nhiều hơn lợi. Và cũng cần nói thêm rằng việc “tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng Quốc tế” không đồng nghĩa với việc phụ thuộc hoàn vào vào một “Quốc gia đồng minh” nào cả. Thật ngây thơ khi cho rằng Mỹ, hay Nga hay Nhật sẽ giúp chúng ta một cách vô tư và họ chẳng có ý đồ gì trong đó. Nên nhớ, tiền của dân nước ngoài ta đóng thuế, máu của binh sĩ người ta không có mang qua “cúng chùa” cho Việt Nam đâu ạ. Điều này sẽ rất dễ để hình dung ra được khi các bạn tránh được việc đồng nhất giữa việc bảo vệ chủ quyền biển đảo với việc “chống một mình Trung Quốc”.

Các ý như tăng cường sức mạnh quân sự, tăng cường trợ giúp ngư dân bám biển thì Việt Nam đã và đang làm rất tốt. Còn phải làm đến thế nào mới thỏa lòng tất cả mọi người thì đó là câu hỏi không thể có đáp án chung. Cách đây 4 năm, việc di chuyển từ tàu hải quân vào tiếp cận nhà giàn được thực hiện bằng… dây thừng! Hiện nay chúng ta đã có xuồng CQ có thể vào tận nơi một cách dễ dàng. Trước kia các chiến sĩ phải phấn đấu cả 6 tháng trời để được một lần gọi bộ đàm về liên lạc với đất liền thì ngày nay, 100% đảo nổi đảo chìm và nhà giàn của chúng ta được trang bị trạm thu phát sóng vệ tinh của Tập đoàn viễn thông. Chúng ta có cả hệ thống liên lạc internet đủ mạnh để thực hiện họp online, chữa bệnh từ xa. Đời sống ở Trường Sa giờ đây đã hoàn toàn thay đổi.

3/ Ngày trước, mỗi khi đọc tin Trung Quốc khai trương một tòa nhà nào đó ở quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam mà họ đang chiếm đóng phi pháp, mình rất cay cú và tự hỏi “tại sao một việc đơn giản thế mà Việt Nam không làm, cứ để cho Trung Quốc một mình một chợ?”. Ngày hôm nay thì thấy nó khởi công xây nhà. Ngày mốt thì thấy nó rồng rắn đưa người ngựa ra đốt pháo khánh thành. Ngày sau nữa lại thấy nó làm sân bay. Ngày sau sau nữa lại thấy nó đưa khách ra tham quan du lịch? VẬY TẠI SAO VIỆT NAM KHÔNG CHỊU LÀM NHƯ VẬY MÀ CỨ PHẢN ĐỐI LÊN PHẢN ĐỐI XUỐNG LÀM GÌ???

Và đến khi mình được nghe chuyện về lực lượng công binh, là những người đi phá mìn mở đường xây nhà trên đảo thì mình đã tự có câu trả lời rồi. Tóm lại một cách đơn giản và dễ hiểu thì xây nhà trên đất liền khó 1 thì đặt một viên đá trên mặt biển khó gấp 1 vạn lần. Mình ước gì tất cả các bạn có thể tận mắt chứng kiến nhà giàn có 8 cây cột thép choài ra làm “chân chống” với mỗi cây cột có đường kính khoảng chừng nửa mét, lại được giằng thêm hàng chục cây thép nhỏ hơn để đan kết vào nhau sừng sững giữa bạt ngàn sóng nước. Và nếu các bạn biết rằng cách đó 4 năm, những nhà giàn vững chắc kiên cố như một tòa lâu đài thép đã bị kéo đổ nhào xuống biển, mang theo cả một tiểu đội mãi mãi không bao giờ trở về được đất liền, các bạn sẽ “cảm” được một phần của công việc xây cất ở nhà giàn cũng như trên các đảo.

Hãy thử hình dung, nếu bạn đang ở giữa một đảo san hô, xung quanh ngập nước chừng 1m, xuồng CQ không thể nào tiếp cận, tàu hộ tống chở theo nguyên liệu là xi măng đá tảng buộc phải neo đậu cách đó chừng 5km thì bạn sẽ làm thế nào để mang vác được xi măng, gạch, đá, sắt thép rồi canh thủy triều lên xuống để đổ cho được một cây cọc bê tông đầu tiên xuống rồi “khô lại” giữa lòng biển khơi? Hãy cố hình dung đi. Chỉ cần hình dung với nhiệm vụ là một cây cọc bê tông duy nhất chứ chưa nói tới những gì lớn lao to tát. Khi đã lờ mờ tìm ra một cách làm nào đấy, bạn sẽ tự có câu trả lời cho câu hỏi “đơn giản” được bôi hoa toàn bộ ở phía trên.

Cũng có thể tiết lộ với các bạn rằng ở phạm vi bán kính chừng 1km quanh các đảo (thay đổi tùy theo diện tích) là cơ man các cọc bê tông sừng sững để sẵn sàng “nghênh chiến” với các loại tàu thuyền… [Các chi tiết sâu hơn liên quan đến vũ khí và hệ thống chiến đấu, phòng thủ ở đoạn này đã bị cắt ]. Thực sự, nếu được đặt chân lên một đảo tại Trường Sa, các bạn sẽ biết rằng “Việt Nam tuy không hiếu chiến, nhưng để đánh được vào các đảo của Việt Nam là cả một vấn đề”.

4/ Cũng trong chuyến đi 10 ngày lênh đênh trên biển, có một sự bất ngờ tới mức “gây sốc” cho toàn bộ đoàn công tác. Đó là dù quan sát ở bất cứ góc độ nào, cũng chỉ thấy có ta và.. ta và… biển. Thế nhưng ngay khi tàu HQ960 “tình cờ” chạm trán với tàu hải giám Trung Quốc (bẻ lái cắt ngang vuông góc) thì ngay lập tức thấy lù lù 2 tàu chiến của hải quân Việt Nam xuất hiện. Tất cả mọi người đều không biết các tàu chiến này ở đâu ra, và càng sốc hơn nữa khi được cho biết họ đi theo bảo vệ đoàn công tác ngay từ khi rời cảng!!! Chưa hết, khi đặt chân lên tới An Bang, mình còn được tận mục sở thị một buổi huấn luyện của đặc công biển Việt Nam với hành trình bơi hàng chục km mỗi ngày luyện tập mang theo vũ khí đổ bộ vào đảo và hiệp đồng tác chiến với các chiến sĩ tại trận địa. Có thể tin hay không tùy bạn, nhưng họ còn có khả năng nằm im dưới nước sâu trong suốt nhiều giờ đồng hồ cho đến khi được lệnh tiếp tục “hành quân” vào đảo.

Tuy nhiên, tất cả các trang thiết bị vũ khí, súng ống đạn được, quân lính tinh nhuệ… của chúng ta không phải được sinh ra để tấn công mà là phòng thủ. Việt Nam còn yếu, nên chủ trương của chúng ta là đối thoại và hợp tác, dựa trên việc thu thập, củng cố rồi tuyên truyền các bằng chứng lịch sử để tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng Quốc tế. Việt Nam không bao giờ đối đầu, không bao giờ dùng vũ lực, không bao giờ “phát pháo” trước trong mọi tình huống để kẻ thù có thể dựa vào làm nguyên nhân gây chiến. Trong khi đó, chúng ta bằng mọi giá bảo vệ chủ quyền tất cả những đảo chìm, đảo nổi, bãi cạn… mà chúng ta đang có. Luôn luôn bày tỏ quan điểm phản đối, nêu rõ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán không thể tranh cãi của Việt Nam với các đảo, quần đảo, bãi cạn mà chúng ta thực sự có chủ quyền, BAO GỒM CẢ NHỮNG NƠI ĐÃ BỊ KẺ THÙ DÙNG VŨ LỰC CHIẾM ĐÓNG TRÁI PHÉP (trong lịch sử). Điều mà các bạn hay gọi là “nhai đi nhai lại”.

5/ Liên quan đến việc tàu cá Việt Nam bị Trung Quốc ngăn chặn, xua đuổi, bắn phá khi khai thác trong khu vực quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa và tàu cá Trung Quốc ngang ngược tiến vào quần đảo Trường Sa của Việt Nam để đánh bắt trái phép thì do chính những nhà báo của mình NHIỀU KHI không nắm rõ thông tin nên việc tuyên truyền dễ gây ra những nhầm lẫn căn bản.

Đầu tiên phải hiểu thế này. Trường Sa và Hoàng Sa là quần đảo tức là gồm nhiều đảo nhỏ. Với mỗi đảo thì chúng ta lại có rất nhiều thuật ngữ liên quan đến việc xác lập chủ quyền, nhưng gần gũi nhất có lẽ là “lãnh hải”. Nếu chỉ xét riêng về lãnh hải, thì các bạn cứ tạm hiểu như một vòng tròn kim cô xung quanh các đảo. Nếu chúng ta xác lập chủ quyền ở 1 đảo, thì mặc nhiên chúng ta có thêm chủ quyền ở một đường biên lớn hơn chạy xung quanh đó nữa.

Tập hợp các đường viền như vậy ở tất cả các đảo mà chúng ta có chủ quyền nó sẽ là nơi chúng ta mặc nhiên đi lại và khai thác. Chứ không phải cứ lấy cây bút rồi khoanh một vòng “to đùng” bao hết các đảo lại cho rằng đó là vùng bất khả xâm phạm của mình. Vậy nên chủ quyền của chúng ta sẽ là một vùng thực sự rất… loằng ngoằng, có chỗ thì chồng chéo, có chỗ bị “hở” ra. Và theo luật, cái chỗ hở đó là hải phận quốc tế. Dù nhìn vô bản đồ nó có vẻ nằm hoàn toàn trong “khu vực” quần đảo Trường Sa.

Chưa hết, trong lịch sử một số đảo chúng ta đã bị Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đi. Cho nên, dù cái đường vòng quanh đảo đó là lãnh hải của Việt Nam nhưng trong thực tế nếu tầu thuyền của ngư dân đi vào đó thì sẽ bị xua đuổi và bắn phá. Tức là các tàu đó bị bắn phá do xâm phạm vào “lãnh hải có được vì chiếm đóng trái phép” của Trung Quốc, nhưng lại là “lãnh hải dựa trên cơ sở pháp lý quốc tế và căn cứ lịch sử không thể tranh cãi” của Việt Nam. Cho nên báo chí sẽ phải đưa tin là tàu cá ngư dân bị bắn trong vùng lãnh hải “của Việt Nam”. Thậm chí Bộ Ngoại Giao cũng phải tuyên bố như vậy. Và chính sự nhập nhằng này cũng khiến nhiều người cho rằng chúng ta quá hèn kém khi để cho ngư dân bị vạ lây như vậy.

Tương tự với việc Trung Quốc xua đội tàu cá hàng chục chiếc “tràn vào khu vực Trường Sa và Hoàng Sa” của Việt Nam để đánh bắt trái phép. Trong thực tế, quanh năm suốt tháng đều có tàu cá của Trung Quốc “mon men” đến gần các đảo của Việt Nam. Và khi này, chắc chắn 100% chiến sĩ trên đảo sẽ theo quy trình để có hành động xua đuổi thích hợp và mức cao nhất là sẵn sàng chiến đấu không khoan nhượng nếu việc xua đuổi không thành công.

Tuy nhiên, nếu các tàu cá này đi vào những vùng “lỗ thủng” của lãnh hải đan xen giữa các đảo thì thực tế không xâm phạm lãnh hải Việt Nam nhưng vẫn coi là “ùa vào khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam được”. Điều tương tự xảy ra nếu các tàu này đi vào lãnh hải của các đảo thuộc chủ quyền Việt Nam nhưng bị đánh cướp bằng vũ lực và chiếm đóng trái phép trong quá khứ. Chưa kể theo thông lệ quốc tế, nếu tàu họ “vô tình” đi vào một vùng lãnh hải nào đó thực sự hoàn toàn thuộc Việt Nam thì mình cũng không thể nào ra bắn phá mà trước tiên là xua đuổi. Và trong đại đa số các trường hợp, khi mình xua đuổi thì nó sẽ dời đi. Nhưng báo chí vẫn coi đấy là việc ùa vào vùng lãnh hải của Việt Nam.

6/ Tóm lại những việc mà chính phủ đang làm – THEO CÁ NHÂN MÌNH ĐÁNH GIÁ – là hoàn toàn đúng đắn về đường lối chính sách, phù hợp với tình hình thực tế hiện nay của đất nước. Sau khi đi thực tế, theo cách gọi của đoàn công tác, là “thăm và kiểm tra các đảo” thì phải nói là mình hoàn toàn yên tâm rằng ít nhất là các đảo mình đang giữ sẽ khó mà bị Trung Quốc đánh chiếm. Những sự vi phạm chủ quyền theo dạng quấy nhiễu của Trung Quốc chúng ta đều có quy trình đối phó an toàn nhất.

Về phía cộng đồng quốc tế, chúng ta đang làm cực tốt việc “nhai đi nhai lại bài ca phản đối” mọi lúc mọi nơi, trên mọi phương diện dù sự vi phạm có lớn như con voi hay nhỏ như con kiến. THEO THÔNG LỆ LUẬT PHÁP QUỐC TẾ, ĐIỀU ĐÓ LÀ CỰC KỲ QUAN TRỌNG! Chúng ta cũng chấp nhận việc “gây hiểu lầm” về năng lực bảo vệ ngư dân hay năng lực phòng thủ khi sẵn sàng ra tuyên bố chủ quyền ngay cả trong trường hợp thực ra chúng ta chỉ bị vi phạm chủ quyền theo lý thuyết. Theo mình, đây là một đánh đổi cực kỳ quan trọng và dũng cảm. Các bạn hãy đọc thật kĩ phần trên để hiểu và cùng đi giải thích cho nhiều người khác cùng hiểu nữa.

Việc tốt nhất mà mỗi người chúng ta có thể chung tay, theo mình chính là nâng cao nhận thức, kiến thức về luật biển, về UNCLOS, phải hiểu được lãnh hải là gì, đường cơ sở là gì, cơ sở xác lập chủ quyền biển đảo thế nào, vùng nội thủy là gì, vùng đặc quyền kinh tế là gì, thềm lục địa là gì, thềm lục địa mở rộng là gì… v.v… và v.v… Chừng nào làm được như vậy chúng ta mới mong hiểu đúng, hiểu rõ và hiểu sâu về tình hình chiến sự tại Biển Đông. Mới không hoang mang khi tiếp nhận thông tin từ những nhà báo thực ra nhiều khi cũng chưa hiểu sâu về biển đảo, từ những thông tin mà Nhà nước buộc phải nói theo kiểu khiến người dân nghe vô sẽ tự nhiên thấy hoang mang (http://on.fb.me/13FvJIW). Và quan trọng nhất là đủ tỉnh táo để phân biệt đúng sai, mức độ chính xác của thông tin từ những nguồn tin không thiện chí.

Hình minh họa là một trong những hình ảnh hiếm hoi liên quan đến vũ khí tại Trường Sa được Chuẩn đô đốc LMT cho phép công bố.

Nguồn: FB Nguyễn Ngọc Long

(TNO) Từ đầu năm 1988, Trung Quốc đã sử dụng một lực lượng lớn hải quân gồm nhiều tàu chiến chiếm đóng một loạt đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam

Cao trào của hành động xâm lược này diễn ra vào ngày 14.3.1988 khi biên đội gồm 6 tàu chiến, trong đó có 3 tàu hộ vệ có trang bị tên lửa và pháo 100 mm, của Trung Quốc đã bắn chìm và cháy 3 tàu vận tải của Việt Nam tại bãi đá ngầm Gạc Ma trong cụm đảo Sinh Tồn của Việt Nam.

Đảo Gạc Ma đã bị quân Trung Quốc đánh chiếm vào ngày 14.3.1988 – Ảnh: D.Đ.Minh

Trong vụ thảm sát này, 64 binh sĩ Việt Nam đã anh dũng hy sinh. Sau đó Trung Quốc còn ngăn chặn không cho tàu mang cờ chữ thập đỏ ra cứu những người bị thương, bị nạn.

Điều phải lưu ý là đây là lần đầu tiên người Trung Quốc (lục địa) đặt chân đến Trường Sa. Trước đó, với tư cách quan phương, Trung Quốc chưa bao giờ có mặt ở vùng biển này.


Tàu HQ505 đã lao lên bãi ngầm ở đảo Cô Lin cắm cờ khẳng định chủ quyền Tổ quốc vào ngày 14.3.1988 – Ảnh: tư liệu

Đã một phần tư thế kỷ trôi qua, từ sự kiện 14.3.1988, có những điều cần phải nói rõ như sau:

Đầu tiên, ngay sau ngày 14.3.1988, thông qua hệ thống tuyên truyền khổng lồ của mình, Trung Quốc đã ngang nhiên bịa đặt trắng trợn với dư luận trong nước và quốc tế rằng: Các tàu Trung Quốc đang thả neo để yểm trợ cho tàu chở đoàn các nhà khoa học Liên Hiệp Quốc (LHQ) đi khảo sát khoa học tại Trường Sa thì bị các tàu chiến của Việt Nam tấn công. Vì thế hải quân Trung Quốc bắt buộc phải đánh trả tự vệ!

Sau đó thông qua người phát ngôn của Tổng thư ký, LHQ đã nói rõ: không hề có tàu của LHQ tổ chức khảo sát khoa học ở Trường Sa vào 3.1988!

Rõ là “cháy nhà ra mặt chuột” và chính quyền Trung Quốc đã “lấy thúng úp voi”, đã “lấy thịt đè người” lại còn muốn lấy tay che mặt trời!

Đã không có tàu khảo sát khoa học của LHQ thì chắc chắn không có việc tàu chiến Việt Nam tấn công tàu Trung Quốc. Điều mà nhiều người đều biết đó là chuyện “ngậm máu phun người” là sở trường của các nhà cầm quyền Trung Quốc.

Trước đó, năm 1962 Trung Quốc phát động chiến tranh biên giới với Ấn Độ và chiếm của Ấn Độ hàng nghìn km2 nhưng lại vu cáo Ấn Độ xâm lược Trung Quốc. Năm 1979, Trung Quốc tiếp tục đem 60 vạn quân xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Bắc. Sự việc rõ ràng như vậy nhưng cũng được họ tuyên truyền là “phản kích tự vệ quân Việt Nam xâm lược”!


Lễ tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh ngày 14.3.1988 tại Cam Ranh (Khánh Hòa) – Ảnh: tư liệu

Thứ hai, có một câu hỏi cần đặt ra là, tại sao Trung Quốc lại tiến hành đánh chiếm các đảo của Việt Nam tại Trường Sa vào tháng 3.1988?

Cuối 1987 đầu 1988 là thời kỳ Việt Nam rơi xuống điểm thấp nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội. Tình hình trong nước chồng chất khó khăn: kinh tế đình đốn, đời sống của đại đa số người dân cực kỳ vất vả.

Cũng trong thời điểm đó, Liên Xô cũng bắt đầu lâm vào khủng hoảng chính trị – xã hội. Bắc Kinh cúi mình trước Washington, tự nhận là “NATO phương Đông” để nhận được nguồn tài chính và công nghệ, kỹ thuật từ Mỹ và phương Tây để phục vụ cho mục tiêu hiện đại hóa. Trong bối cảnh ấy, Trung Quốc cũng đã câu kết với Mỹ và hầu hết các nước trong khu vực (trừ Lào và Campuchia) siết chặt vòng bao vây, cấm vận đối với Việt Nam.

Lợi dụng tình thế khó khăn đó của Việt Nam, Trung Quốc đánh chiếm một số đảo của Việt Nam tại Trường Sa phục vụ cho ý đồ lâu dài.

Trung Quốc cũng là bậc thầy trong việc lợi dụng thời điểm. Mặc dù đã đưa lực lượng ra Trường Sa và có những hoạt động đe dọa từ đầu năm 1988, nhưng thời điểm được Trung Quốc lựa chọn nổ súng rơi đúng vào 14.3.1988 cũng là thời điểm lễ tang Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng được tổ chức tại Hà Nội! Một khi họ đã có dã tâm thì chuyện “tang gia bối rối” lại trở thành điều có thể lợi dụng được!


Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là tài sản lớn nhất, quý giá và quan trọng nhất của cả dân tộc – Ảnh: Chiến sĩ canh gác trên đảo Len Đao (quần đảo Trường Sa) – Ảnh: D.Đ.Minh

Câu chuyện xảy ra ngày 14.3.1988 tại Trường Sa đến nay vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự. Sự hy sinh của những người lính Việt Nam 25 năm trước là một lời nhắc nhở tới 90 triệu người đồng bào hôm nay, trước hết là những người có trọng trách với dân tộc, không bao giờ được quên 3 điều:

Một là, lòng tin phải được đặt đúng chỗ. Đối với Trung Quốc, điều quan trọng không phải là lời nói mà là hành động. Các đấng quân vương Trung Hoa từ xưa đến nay và từ nay về sau đều là những bậc thầy về nghệ thuật “nói một đàng làm một nẻo”. Tin vào những điều mà giới lãnh đạo cấp cao ở Bắc Kinh nói không khác gì chuyện “gửi trứng cho ác”!

Hai là, cần phải hiểu về con đường mà Trung Quốc lựa chọn. Những toan tính và hành động của Trung Quốc liệu có phải là một quốc gia cộng sản đồng chí như họ từng miêu tả hay thực tế là chính sách dân tộc nước lớn vị kỷ?

Việc vô cớ đem quân đánh chiếm các đảo của một quốc gia láng giềng, bất kể quốc gia đó phát triển theo đường lối nào cũng là đi ngược lại những nguyên tắc sơ đẳng trong quan hệ quốc tế và phản bội đối với chủ nghĩa Marx – Lênin mà Trung Quốc từng sử dụng như một chiêu bài.

Láng giềng là vĩnh viễn và không bao giờ thay đổi, trừ phi có một trận siêu động đất đẩy hai quốc gia ra xa nhau!

Việt Nam cần và mong muốn có một mối quan hệ hữu nghị, ổn định, lâu dài với Trung Quốc. Tuy nhiên quan hệ ấy cần được đặt trong sự tôn trọng lẫn nhau về nhiều mặt, đặc biệt là vấn đề “bất biến” là chủ quyền quốc gia, lợi ích dân tộc. Không tỉnh táo nhận thức được điều này, lệ thuộc vào những yếu tố “ứng vạn biến” như “mười sáu chữ”, “bốn tốt” có thể dẫn đến những bước đi sai lầm mang lại hậu quả lớn cho quốc gia, dân tộc!

Chúng ta đã có được bài học đắt giá khi rơi vào cảnh bị cô lập trên trường quốc tế từ 1979-1990. Bài học ấy cùng với sự kiện 14.3.1988 mách bảo chúng ta rằng bị cô lập không đồng nghĩa với có độc lập, mà ngược lại, bị cô lập sẽ dẫn đến thảm họa, thậm chí mất cả độc lập và chủ quyền quốc gia.

Các nhà sử học Việt Nam chân chính và những người Việt có lương tâm trong sáng sẽ còn mất nhiều thời gian và công sức nghiên cứu, mổ xẻ, soi xét sự kiện 14.3.1988 một cách khách quan để rút ra bài học bổ ích cho những người Việt hiện nay và các thế hệ mai sau.

Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc không thuộc sở hữu riêng của riêng ai. Nó là tài sản lớn nhất, quý giá và quan trọng nhất của cả dân tộc.

Liêm Thạch
Nguồn : http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130314/tai-sao-trung-quoc-danh-chiem-cac-dao-cua-viet-nam-vao-thang-3-1988.aspx

TT – Quân và dân VN ngày 17-2-1979 buộc phải cầm súng một lần nữa, chiến đấu kiên cường trước một đội quân đông hơn nhiều lần, trên một phòng tuyến biên giới dài gần 600km.

TS Nguyễn Mạnh Hà – Ảnh: V.Dũng

TS NGUYỄN MẠNH HÀ, viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, nguyên đại tá, chính ủy sư đoàn 308 anh hùng, nhiều năm là viện phó Viện Lịch sử quân sự (Bộ Quốc phòng). Những ngày tháng 2 này, ông chia sẻ với Tuổi Trẻ về cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc từ ngày 17-2 đến 5-3-1979.

* Thưa ông, cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc xảy ra đến nay đã được 34 năm. Ông nói về sự kiện này như thế nào?

– Cuộc chiến tranh biên giới không chỉ bắt đầu từ ngày 17-2-1979, không chỉ bắt đầu sau câu chuyện “nạn kiều” 1978, cũng không chỉ bắt đầu từ những rạn nứt trong quan hệ Việt – Trung sau chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ năm 1975, một chiến thắng mà một số nhà sử học trên thế giới đã cho rằng Trung Quốc không mong muốn. Cũng không phải hoàn toàn như vậy mà nó có gốc rễ sâu xa từ những tính toán trong lợi ích chiến lược của cả Liên Xô và Trung Quốc trên phạm vi toàn cầu chứ không chỉ với một nước nhỏ như VN.

Sai sót lớn là chúng ta đã nhận ra quá muộn bản chất của chế độ Pol Pot. Năm 1977, đồng chí Lê Trọng Tấn được Quân ủy Trung ương cử vào biên giới Tây Nam nghiên cứu tình hình xung đột biên giới với Campuchia trở về, khi trở ra Hà Nội đã bức xúc khẳng định: “Đây không còn là xung đột nữa. Đây là một cuộc chiến tranh biên giới thật sự”. Lúc đó, chúng ta mới tìm hiểu đằng sau Pol Pot là ai. Là rất nhiều cố vấn nước ngoài từng giúp chúng ta trong cuộc kháng chiến trước đó.

Khi chúng ta tổ chức phản kích, tiến vào giải phóng Phnom Penh ngày 7-1-1979, giúp dân tộc Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, hồi sinh thì đúng 40 ngày sau, Trung Quốc phát động chiến tranh biên giới, với chiêu bài “dạy cho VN một bài học”. Quân chủ lực VN lúc đó đã tăng cường cho chiến trường Campuchia, Trung Quốc hi vọng VN sẽ gục ngã vì bất ngờ.

Lịch sử dân tộc ta có tới 17 cuộc chiến tranh chống xâm lược thì chúng ta đã chiến thắng 14, còn ba cuộc kháng chiến dai dẳng, hàng chục, thậm chí hàng trăm năm chúng ta bị nước ngoài đô hộ nhưng rồi dân tộc ta vẫn chiến thắng.Có thể trong lịch sử hiện đại, khái niệm biên giới quốc gia không còn được tính bằng các cột mốc nữa mà bằng “biên giới mềm”, “sức mạnh mềm”, bằng sự xuất hiện của hàng hóa, hình ảnh, văn hóa của quốc gia nào đó trên đất nước mình, nhưng tôi vẫn tin là chúng ta sẽ bảo vệ được nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của mình, một khi cả dân tộc kết thành một khối, dưới sự lãnh đạo của Đảng dày dạn kinh nghiệm cả trong chiến tranh và trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc

TS NGUYỄN MẠNH HÀ

Ông Trương Tấn Sang – khi là ủy viên Bộ Chính trị, thường trực Ban Bí thư – đến thắp hương tri ân các anh hùng liệt sĩ tại Pò Hèn (Quảng Ninh) ngày 26-5-2010 – Ảnh tư liệu

Quân và dân VN bị buộc phải cầm súng một lần nữa, đã chiến đấu kiên cường trước một đội quân đông hơn nhiều lần, trên một phòng tuyến biên giới dài gần 600km, và đã đánh bật được quân Trung Quốc về bên kia biên giới sau khi làm tổn thất đáng kể sinh lực đối phương.

* Liệu việc bình thường hóa quan hệ sau chiến tranh có làm chúng ta chịu những thiệt thòi nhất định như những điều kiện đi kèm thường thấy trong các hiệp định mà nước lớn thường áp đặt cho nước nhỏ?

– Cuộc chiến tranh biên giới chính thức kéo dài chỉ 17 ngày, từ 17-2 đến 5-3-1979. Nhưng những cuộc xung đột còn kéo dài đến tận năm 1988. Trong suốt chín năm, một phần đáng kể nhân tài vật lực của chúng ta đã phải dồn cho biên giới phía Bắc, trong khi Mỹ cấm vận, viện trợ của Liên Xô cắt giảm so với trước và Trung Quốc thì từ bạn thành thù. Có thể nói VN đã hao tốn nhiều sức lực vì cuộc chiến biên giới đó. Nếu căng thẳng tiếp tục kéo dài, VN càng ngày càng bất lợi. Chính vì vậy, năm 1988, khi VN chủ động rút quân chủ lực lùi xa biên giới 40km, tình hình biên giới lắng dịu ngay, và đến năm 1991 thì VN và Trung Quốc chính thức bình thường hóa quan hệ sau cuộc gặp giữa lãnh đạo hai nước ở Thành Đô, Trung Quốc.

Một người dân đến thắp hương tri ân các liệt sĩ tại đài tưởng niệm Pò Hèn (Quảng Ninh) tháng 2-2013 – Ảnh: Lê Đức Dục

Là một người nghiên cứu lịch sử, nhưng cũng là một người lính, tôi xin nói thẳng là dù bất cứ hoàn cảnh nào thì hòa bình vẫn là quý giá nhất. Chiến tranh biên giới kết thúc thật sự, chúng ta mới có thể tiếp tục sự nghiệp đổi mới, có những chính sách lâu dài và bền vững để phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống nhân dân, để có một vị thế mới trong bản đồ ngoại giao thế giới như hôm nay.

Nhưng như vậy không có nghĩa là trang sử về chiến tranh biên giới đã khép lại. Lịch sử bản chất là sòng phẳng, khách quan, cái gì đã xảy ra rồi cũng có lúc sẽ được đặt lại trên bàn cân lịch sử để luận định. Chúng ta nhìn lại chiến tranh biên giới, trước hết là để học bài học cho chính mình: cái gì lẽ ra đã có thể tránh được, cái gì cần nhớ để nhắc lại cho thế hệ sau.

Chúng ta cần có những sự vinh danh và tri ân các liệt sĩ đã ngã xuống để bảo vệ Tổ quốc trong cuộc chiến tranh ngắn ngủi mà đằng đẵng đó. Chúng ta cũng cần rút kinh nghiệm xương máu từ thực tế lịch sử của dân tộc mình khi hoạch định đường lối đối ngoại trong một thế giới hiện đại đang thay đổi từng ngày, lợi ích các bên đan xen nhau cực kỳ phức tạp. Cần hiểu rõ bạn – thù và phải đặt quyền lợi của dân tộc lên trước hết và trên hết thì mới có chính sách đúng được.

TTO

THU HÀ THỰC HIỆN

Lâu nay, cứ nói đến bộ đội Hải quân canh giữ đảo tiền tiêu Tổ quốc là người ta nghĩ ngay đến Quần đảo Trường Sa thuộc Vùng 4, mà ít người biết rằng: Còn rất nhiều các đảo, quần đảo khác nằm dọc theo hình chữ S, bao năm nay được trấn giữ bởi các đơn vị Hải quân Vùng 1, 2, 3 và Vùng 5.

Ở đây mình muốn nhắc đến một số đảo quan trọng trong cụm đảo Đông Bắc, nằm trong Vịnh Bắc Bộ do Vùng 1 Hải quân quản lý.

Bộ Tư lệnh Vùng 1 Hải quân (hoặc Bộ Tư lệnh vùng A) nằm bên này Cầu Bính, nhưng các đơn vị nằm ở khắp vùng biển từ Quảng Ninh đến Hà Tĩnh và các đảo trong Vịnh Bắc Bộ.

Trong số các đảo, quan trọng, hiểm yếu và gian khổ, vất vả nhất phải kể đến các đơn vị đóng quân ở đảo tiền tiêu Bạch Long Vĩ, Cát Bà (TP. Hải Phòng) và Đảo Trần (huyện Cô Tô, tỉnh Quảng Ninh), đảo Trà Bản (huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh).

Quan trọng nhất trong những đảo trấn giữ Vịnh Bắc Bộ là đảo Bạch Long Vĩ.

Đảo có tổng diện tích khoảng 2,5km2 đến 4km2 (tùy theo thủy triều), nằm trên 1 trong 8 ngư trường lớn của Vịnh Bắc Bộ, có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng của đất nước.

Nhân dân trên đảo phần lớn là những thanh niên xung phong từ các tỉnh duyên hải Bắc Bộ ra lập vùng kinh tế mới với số lượng khoảng hơn 1.000 người, chủ yếu làm nghề khai thác nuôi trồng thủy sản và dịch vụ hậu cần nghề cá.

Sát cánh với những người dân là bộ đội, đáng kể nhất là các lực lượng hợp thành thuộc Vùng 1 Hải quân làm nhiệm vụ canh giữ, bảo vệ đảo và ngoài khơi Vịnh Bắc Bộ, toàn lính trẻ biền biệt xa nhà và mỗi năm may lắm mới được vào đất liền hay đón khách đất liền ra thăm 1-2 lần, khổ hơn cả lính Trường Sa.

Tiếp sau phải kể đến Đảo Trần thuộc huyện Cô Tô (Quảng Ninh). Trên đảo có Trạm Ra đa 480, thuộc Tiểu đoàn Ra đa đối hải 151, Vùng 1 Hải quân.

Tiếng là lính biển, nhưng bộ đội áo yếm đóng quân tít trên núi cao, phương tiện đi lại khó khăn (chủ yếu là đi bộ).

Nằm ở độ cao gần 200m so với mực nước biển, mỗi khi hành quân lên đài quan sát này, cán bộ, chiến sĩ của trạm phải đi bộ gần 1 tiếng, bởi đường đi khó khăn, trơn trượt do sương mù ẩm ướt.

Quãng đường này cũng là đường “thử sức” cho bộ đội mang lương thực tiếp tế cho nhau hàng tuần.

Thế nhưng, khó khăn này vẫn là “muỗi” so với việc: Để quan sát được mục tiêu, chiến sĩ luôn đối mặt khó khăn bởi thời tiết, hướng gió, đặc biệt là những khi sương mù, biển động…

Ấy thế nhưng, xứng đáng với danh hiệu “đôi mắt thần” ngày đêm canh giữ biển trời Tổ quốc vùng Đông Bắc, trong những năm qua, cán bộ chiến sĩ trên Trạm đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quan sát, quản lý vùng biển 24/24 giờ, không để Tổ quốc bị bất ngờ.

Bên cạnh đó, “mắt thần Hải quân” Đảo Trần còn phục vụ đắc lực việc quan sát các mục tiêu phục vụ công tác Biên phòng – Cảnh sát Biển, như bắt giữ phương tiện buôn lậu, đẩy đuổi tàu bè nước ngoài xâm lấn trái phép, hướng dẫn ngư dân tránh trú bão…

Cũng là “mắt thần Hải quân” vùng Đông Bắc, Trạm Rađa 485 (Tiểu đoàn Ra đa đối hải 151) trên đảo Trà Bản (huyện Vân Đồn, Quảng Ninh), có Đài Rađa đối hải cao nhất miền Bắc, nằm ở độ cao 484m so với mực nước biển.

Ở đây, sương mù quanh năm, đụng vào thứ gì cũng ẩm ướt, nên công tác bảo dưỡng, bảo quản khí tài rất vất vả.

Mỗi khi ngủ dậy, các chiến sĩ trên đài quan sát lại lấy túi nilon bọc chăn chiếu để tránh bị ướt và cũng như Trạm Rađa 480, nước ngọt là hàng hiếm, nên lính ta phải chắt chiu từng giọt.

Cung đường lên đài quan sát, dài hơn 7 km đường rừng núi, mất 2 – 3 tiếng mới lên tới nơi.

Kinh nghiệm chống khát và tiếp sức trên đường lên đài quan sát của bộ đội là nhấm nháp những chùm mây rừng mọc khá nhiều trên đường đi, y như lính Biên phòng.

Anh em kể: Trung bình mỗi phiên trực kéo dài một tuần, nhưng cũng có khi vì nhiệm vụ đột xuất, phải ở lại trên đài quan sát đến 2 tháng.

Tiểu đoàn radar đối hải 151 gồm 8 Trạm đóng quân phân tán từ đảo Trần (Quảng Ninh) đến Hồng Lĩnh (Hà Tĩnh), có nhiệm vụ: Quan sát 24/24 giờ trong ngày, phát hiện và báo cáo kịp thời các mục tiêu trên biển về Sở Chỉ huy Bộ Tư lệnh Vùng, phục vụ trên xử lý có hiệu quả các tình huống xảy ra.

Là đảo giống Trường Sa, các đảo vùng Đông Bắc cũng thừa thãi nước mặn mà khan hiếm nước ngọt. Đến mùa khan hiếm nước, các chiến sĩ phải chia nhau từng thau nước sinh hoạt.

Là vùng biên đảo tiền tiêu giống Trường Sa, những người lính Hải quân trên các đảo Đông Bắc cũng đối mặt với bao âm mưu cướp đảo, lấn biển của bọn “lạ” nhưng không lạ. Cả đêm cũng như ngày, chế độ trực canh luôn duy trì gắt gao, chỉ cần 1 hồi kẻng báo động là đạn lên nòng, pháo giương cao, tàu khởi động máy, bộ đội gọn gàng mũ sắt, sẵn sàng đánh trả – đuổi dạt quân ăn cướp nhăm nhe.

Là bộ đội, đóng tít ngoài đảo xa, muốn nghỉ tranh thủ như đồng đội trong đất liền cũng khó, nên lính đảo Đông Bắc cũng như lính đảo Trường Sa đành nén nỗi nhớ đất liền – người thân vào trong ngực, thi thoảng mới nhè nhẹ hé mở cùng màn hình ti vi xem theo giờ quy định, cuộc điện thoại hiếm hoi và ao ước cháy bỏng con trai, lúc gặp tóc dài – lưng cong văn công ra đảo biểu diễn, thăm hỏi bộ đội, năm vài lần…

Và xa xôi, vất vả, gian lao, thiếu thốn lắm lắm…

Chả thế mà mỗi năm vài lần, giống như Trường Sa, đều đặn có những chuyến tàu xuất phát từ Hải Phòng hay Quảng Ninh, chở Văn công, khách từ đất liền ra thăm, động viên và tặng quà cho bộ đội.

Dĩ nhiên, không thể “tiếng tăm” như Trường Sa, dù nhiệm vụ – đặc thù và sự vất vả chả có gì khác nhau, nên cái sự quan tâm, cũng chỉ dừng lại ở những người thông hiểu và chế độ trang cấp của quân đội.

Chả thế mà ra với đảo Đông Bắc mùa gần Tết biển động, cũng là tàu HQ đấy, nhưng cứ lồng lộn lên xuống, vật phải đổ trái, tiến ngược lùi xuôi chống chọi với biển động cấp 5-6, hết thảy khách và phân nửa thủy thủ nằm bê bệt, nôn hết mật xanh mật vàng, vượt biển gần cả ngày mới ra tới nơi, không còn sức để gật gù lời nhận xét của thuyền trưởng đã bao năm đi biển Trường Sa, bây giờ vẫn thi thoảng tăng cường vào Trường Sa: “Thời tiết biển trong đó êm hơn nhiều. Không lắm bất thường như ngoài này!”…

Chả thế mà ra với đảo Đông Bắc, cứ chạnh lòng nhìn những thứ phục vụ đời sống văn hóa – tinh thần của bộ đội, từ màn hình tivi, đầu thu, đài casette… cho đến bàn bóng, cọc lưới bóng chuyền, hoặc phủ bạt để trong góc, hoặc hoen rỉ vì nước biển, hơi nước sương mù, mà thèm có những chuyến hàng đầy đặn, tỷ thứ trên đời mà mọi người cứ “đều như vắt chanh”, gửi ra cho lính đảo Trường Sa.

Vẫn biết: Cùng đồng đội đảo xa, cùng sẻ chia gian lao vất vả, nên lính tráng chả bao giờ có ý nghĩa ấy.

Nhưng mình vẫn cứ ước: Mọi người biết nhiều thêm về lính đảo Đông Bắc, bởi ngoài này vẫn được ví như “Trường Sa thứ 2”, thì những người ra với đảo như mình, đỡ chạnh lòng biết bao nhiêu?..

Những ngày gần Tết này, những chuyến tàu chở hàng Tết ra với Trường Sa – DK bắt đầu rời Cam Ranh, Cát Lái, Vũng Tàu… hướng ra phía đông hừng sáng, lặc lè nghĩa tình của cả nước vì Trường Sa thân yêu.

Cũng những ngày này, những con tàu ra với các đảo Đông Bắc cũng bắt đầu chuẩn bị cho 1-2 tuần tới nhổ neo rời Hải Phòng, chuyển quà Tết nghĩa tình ra với đồng đội khơi xa.

Khác với Trường Sa đầy nắng và gió, đảo ngoài này rét buốt lắm, mặc áo bông dầm chân giữ đảo, lính áo yếm ai cũng run cầm cập, nhưng vẫn ngóng chờ những ngày gần Tết, tàu trong bờ chở đào, quất, thịt, gạo, bánh chưng, để ngoài đảo xa vời cũng đủ Tết quê hương…

Và mình lại mong: Chuyến tàu ra đảo Đông Bắc sắp tới, mọi người cùng chung tay đóng góp để có vài giàn âm thanh, mấy màn hình tivi, dăm chiếc đài cùng một số đồ phục vụ đời sống văn hóa – tinh thần cho bộ đội ngoài đảo, thì lính nhà mình sẽ vui biết mấy?..

Niềm vui này hẳn của sự nắm tay sẻ chia, tựa vai thông hiểu và cao hơn cả là nghĩa tình bờ bến – đảo xa, lòng nhớ thương của người thân xa cách và đáp đền từ nơi yên ấm hậu phương với những người ngoài tiền tuyến xa xôi, giữ biển trời cho sau lưng sáng đèn, vui nhạc, ấm áo, no cơm…

Nơi tiền tuyến đảo xa Đông Bắc, chúng mình gọi đó là: “Trường Sa thứ 2″…
*****

Vùng 1 Hải quân có nhiệm vụ làm nòng cốt trong quản lý, bảo vệ vùng biển, đảo phía Bắc của Tổ quốc.

Ở các đơn vị tàu, Đoàn viên thanh niên đã thể hiện được bản lĩnh của người chiến sĩ Hải quân khi vượt qua sóng gió để thực hiện nhiệm vụ quản lý và bảo vệ chủ quyền biển, đảo.

Nhiều chuyến tàu của Vùng nhận lệnh ra khơi trong giông bão, trong các ngày lễ, tết để xua đuổi tàu nước ngoài xâm phạm chủ quyền vùng biển của ta; nhiều tàu nhận nhiệm vụ trực liên tục, dài ngày trên biển nhưng tinh thần, ý chí quyết tâm của bộ đội không giảm sút.

Bên cạnh đó, lực lượng cán bộ, Đoàn viên thanh niên các đơn vị còn tích cực, chủ động trong tham gia cứu hộ, cứu nạn, giúp đỡ nhân dân khắc phục thiên tai, bão lụt. Hình ảnh những con tàu HQ-634, HQ-635, HQ-951… vượt lên sóng dữ ra khơi tìm kiếm, cấp cứu ngư dân các địa phương trong bão tố đã thể hiện tình cảm, trách nhiệm của những người lính biển đối với nhân dân. Tiêu biểu cho hoạt động cứu hộ, cứu nạn là Đoàn viên, thanh niên Hải đội 4, Biên đội tàu K62 (Lữ đoàn 170), Hải đội 137…
[M.T.Hải]

Đối với xã hội vẫn còn thiên về nông nghiệp như nước ta hiện nay thì việc hội nhập văn hóa với thế giới vẫn là điều rất cần phải bàn luận cho thấu đáo và kỹ càng.

Người xưa nói “sai một li, đi một dặm”. Muốn hội nhập “bàn cờ lớn” thế giới, chúng ta quyết không thể nóng vội, để tránh những bước đi sai lầm. Nhất là trong vấn đề “cải cách” những giá trị văn hóa truyền thống.

Tết “ta” có tự bao giờ?

Mặc dù Tết “ta” (hay Tết Âm lịch) có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng việc tính lịch của người Trung Quốc cũng rất khoa học. Nếu dương lịch của phương Tây tính theo chu kỳ của mặt trời, thì âm lịch của Trung Quốc lại tính theo chu kỳ của mặt trăng.

Lịch Thái sơ của người Trung Quốc được sử dụng từ khoảng năm 104 trước Công nguyên quy định tháng Chạp là tháng cuối năm, tháng Giêng là tháng đầu năm. Từ việc xác định này, người dân Trung Quốc đón năm mới vào khoảng thời gian từ đầu tháng Giêng. Thực tế, so với dương lịch, việc xác định năm mới từ tháng Giêng hợp qui luật thiên nhiên hơn, vì lúc này cỏ cây mới nảy mầm, mới khai hoa, mở đầu một chu kỳ sinh trưởng mới.

Nguyên nghĩa của từ “Tết” chính là “tiết”. Văn hóa Đông Á – thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước – do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã “phân chia” thời gian trong một năm thành 24 tiết khác nhau (và ứng với mỗi tiết này có một thời khắc “giao thời”). Trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên đán sau này được biết đến là Tết Nguyên đán.

Tết Nguyên đán là lễ tết đầu tiên của một năm. Tết được bắt đầu từ lúc giao thừa cùng với lễ trừ tịch. Theo chữ Hán, “Nguyên” có nghĩa là bắt đầu, “Đán” là buổi sớm mai. Tết Nguyên đán tức là Tết bắt đầu của năm, mở đầu cho mọi công ăn việc làm với tất cả mọi cảnh vật đều mới mẻ đón xuân sang.

Thứ hai, quy luật của văn hóa là phép bù, trừ. Nghĩa là đối với văn hóa, cái gì thiếu thì phải bổ sung cho đủ, nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn. Cái gì thừa thì phải cắt bỏ, cũng là vì những lý do tương tự.

Tết Âm lịch của người Trung Quốc cũng được người Việt chấp nhận như một dạng thức văn hóa để thích nghi và sinh tồn. Dù nó được du nhập ban đầu bằng con đường “đô hộ”. Về vấn đề này, Gs Nguyễn Anh Trí, Viện trưởng Viện Huyết học – Truyền máu TƯ đã nêu quan điểm rằng:

“Ai cũng biết, Tết Âm lịch đã có hàng ngàn năm nay nên đã trở thành “cổ truyền”. Nhưng cũng cần lưu ý lịch âm có nguồn gốc là lịch Trung Quốc. Trung Quốc là nước láng giềng chúng ta, có một nền văn hóa đồ sộ. Mặt khác, hàng ngàn năm trước đây Việt Nam “hội nhập” với Trung Quốc là chủ yếu. Việc dùng lịch Trung Quốc, ăn Tết như Trung Quốc nằm trong bối cảnh này”.

Điều này hoàn toàn phù hợp với định nghĩa về văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt, cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra, nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, NXB CTQG, HN, 2000, tr 431).

 

Bắn pháo hoa chào đón năm mới bên hồ Gươm

 

Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng, Tết “ta” không phải nguyên xi là Tết Trung Quốc 100%. Vậy Tết Âm lịch Việt Nam khác Tết Âm lịch Trung Quốc ở điểm gì?

Đó là tục nấu bánh chưng, bánh tét có từ thời Hùng Vương. Đó là truyền thống: “Mồng Một tết cha, mồng Hai Tết mẹ, mồng Ba tết thầy”. Riêng đối với Tết ở Huế, cố đô của Việt Nam chúng ta sẽ thấy nhiều điểm khác nữa. Đó là bánh tét làng Chuồn, hoa giấy Thanh Tiên (ảnh hưởng Chămpa) và chợ Gia Lạc ba ngày Tết. Những nét văn hóa Tết không thể tìm thấy ở bất cứ vùng miền nào ở Trung Quốc.

Có thể thay đổi Tết “ta”?

Gần đây, dư luận cả nước bàn luận rôm rả quan điểm của Gs Võ Tòng Xuân, về việc dân ta nên đổi cách ăn Tết “tây”, thay cho Tết “ta”. Quan điểm của GS Võ Tòng Xuân là “chúng ta nên cương quyết đổi mới, không ăn tết hai, ba, thậm chí bốn tuần theo âm lịch nữa mà chỉ nên ăn tết bốn ngày theo dương lịch là đủ”.

Theo Gs Võ Tòng Xuân, nếu ăn Tết “ta” theo ngày dương lịch, Việt Nam sẽ có những điều lợi sau đây:

1- Vừa giữ được các tập quán Tết cổ truyền, vừa ít bỏ lỡ cơ hội nắm bắt đối tác kinh doanh, giao thương với nước ngoài.

2- Ít mất thời gian của nông dân (đại bộ phận người dân) dành chăm sóc lúa đông-xuân, vụ lúa tiềm năng cao nhất trong năm.

3- Học sinh và sinh viên có thời khóa biểu học tập và thi học kỳ một cách hợp lý.

4- Giảm tối thiểu tình trạng dân chúng nhậu nhẹt, bài bạc dưới nhiều hình thức, rất tốn kém tiền của và thời gian học tập, tổn hại sức khỏe và tính mạng trong giao thông.

5- Chấm dứt lãng phí nhiều ngày làm việc mà mình nghỉ, trong khi quốc tế làm việc.

Quan điểm của Gs Võ Tòng Xuân là rất tâm huyết nhưng nó lại chưa phù hợp với tâm thế xã hội Việt Nam hiện nay.

Bởi không những Tết Âm lịch gói gọn trong ba ngày mà còn kéo dài đến mồng 10 tháng Giêng. Dân gian gọi là “Ba ngày tết, bảy ngày xuân”. Cái Tết Âm lịch dân tộc là cái tết của sự đoàn viên. Chính tâm lý “trọng tình” đã hun đúc nên một cái Tết kéo dài nhưng rất hợp lý.

Trong những cái khổ của con người, như Phật giáo đã chỉ ra là do “ái biệt ly khổ”. Nghĩa là thương nhớ, muốn gặp mặt, muốn đoàn tụ mà phải xa nhau nên khổ. Thử hỏi ai làm việc cực nhọc quanh năm suốt tháng, xa quê, xa gia đình, xa bạn bè, xa người yêu… lại không có tâm lý thích được có một khoảng thời gian dài để gặp lại người thân, kể lể tâm sự những tháng ngày đã qua?

Quan điểm của Gs Võ Tòng Xuân là rất tâm huyết nhưng nó lại chưa phù hợp với tâm thế xã hội Việt Nam hiện nay.

Tết “ta” sẽ còn ý nghĩa gì nữa khi vì không có thời gian (chứ không phải không có tiền bạc) mà thiếu đi việc tảo mộ, thiếu đi một cành mai vàng, một nụ tầm xuân, hay thiếu đi món bánh chưng, bánh tét, món ăn đặc trưng trong ngày Tết đã có từ thời Văn Lang – Âu Lạc?

Việc “bỏ lỡ cơ hội làm ăn” và “lãng phí thời gian làm việc” như Gs Võ Tòng Xuân đã nêu, là một điều không ai mong muốn. Nhưng chúng ta vẫn làm ăn trong dịp Tết chứ không phải bỏ bê, trì trệ. Đó là những địa điểm du lịch – dịch vụ luôn có cơ hội “hốt tiền” vào ngày Tết Âm lịch.

Bởi lượng khách du lịch trong và ngoài nước cũng luôn tăng mạnh trong những ngày Tết cổ truyền của Việt Nam. Đó chính là quy luật bù trừ về kinh tế. Khi nhiều ngành kinh tế khác “đóng băng” thì ngành du lịch- dịch vụ lại phất lên vào dịp Tết, thu hút được khá nhiều khách du lịch nước ngoài.

Tết “tây” kéo dài, được không?

Một vấn đề đáng bàn nữa là trong bài viết của mình Gs Nguyễn Anh Trí, Viện trưởng Viện Huyết học – Truyền máu TƯ đã nêu quan điểm rằng nên “kéo dài ngày nghỉ Tết Dương lịch và rút ngắn ngày nghỉ Tết Âm lịch”.

Phải thừa nhận hiện nay, một bộ phận không nhỏ cư dân thành thị nước ta ăn Tết “tây” theo kiểu “phú quý sinh lễ nghĩa” nhưng đa phần 90 triệu dân Việt Nam (sống ở nông thôn và rất nhiều người theo Phật giáo) vẫn hướng về cái Tết Âm lịch của dân tộc.

Thứ hai, Tháng Giêng (January) của phương Tây được đặt tên theo vị thần Janus, người được phác họa có hai đầu, một trông về phía trước, một trông về phía sau, biểu tượng cho sự chuyển giao giữa cái cũ và cái mới. Ngày nay, biểu tượng bắt đầu của năm mới ở phương Tây là một đứa trẻ sơ sinh và hình ảnh một ông già khép lại năm cũ.

Tuy nhiên, khi chúng ta vẫn sử dụng lịch âm- dương kết hợp (trên là ngày dương, dưới ngày âm) thì làm sao có thể cùng đón “buổi sáng sớm đầu tiên của tiết Xuân” (Nguyên đán) của cư dân phương Đông với ngày 1/1, ngày Năm mới (New Year’s Day) của cư dân phương Tây, vì cả hai đều chỉ chung cho một vụ mùa mới trong nông nghiệp?

Thứ ba, nếu Tết “tây” kéo dài thì tiền bạc, của cải, thời gian đâu để ăn Tết Âm lịch, dù chỉ có một- ba ngày.

Như vậy, đối với xã hội vẫn còn thiên về nông nghiệp như nước ta hiện nay thì việc hội nhập văn hóa với thế giới vẫn là điều rất cần phải bàn luận cho thấu đáo và kỹ càng. Trước tiên, có lẽ phải đợi đến mốc 2020, khi nước ta sẽ cơ bản là một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, khi người dân đủ tiền bạc để chu toàn về thời gian để đón được cả hai cái Tết “tây” và Tết “ta”.

Nguyễn Văn Toàn

CUỘC ĐÀM LUẬN GIỮA CHỦ THỂ ĐỀ NGHỊ ĐA ĐẢNG (CT1) VỚI CHỦ THỂ ỦNG HỘ ĐỘC ĐẢNG LÃNH ĐẠO (CT2) TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

            – CT1: Montesquieu có bàn trong “Tinh thần pháp luật”, ông cho rằng: Nguyên nhân của dân tha hoá là do quan tha hoá, mà nguyên nhân của quan tha hoá là do độc quyền. Bạn có thể không đồng ý với quan điểm trên. Vậy nên, tôi đề cập đến quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin – Chủ nghĩa được xác định là hệ tư tưởng chỉ đường ở Việt Nam hiện nay: Triết học Mác – Lênin có lý luận về 03 quy luật của phép biện chứng duy vật, thì có “Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập – quy luật mâu thuẫn”. Nội dung của nó thừa nhận “mâu thuẫn” là động lực của sự phát triển. Trong điều kiện hiện tại, Việt Nam thừa nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có tận dụng “quy luật cạnh tranh” làm động lực phát triển kinh tế đất nước. Vậy tại sao Việt Nam lại không thừa nhận quan điểm đa đảng, vừa tận dụng và phát huy được giá trị của “quy luật cạnh tranh” trong chính trị, vừa phù hợp với quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin tạo động lực để làm trong sạch, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng? Như vậy, Việt Nam phải chăng đang đi trái với quy luật được đưa ra trong hệ tư tưởng của mình!
            – CT2: Chủ nghĩa khai sáng ở Pháp thế kỷ XVIII đã để lại những thành quả to lớn cho nhân loại, với những tư tưởng tiến bộ và có giá trị  nhân văn sâu sắc cho đến thời điểm hiện nay, và có thể cả nhiều thập kỷ hay thế kỷ về sau; và không thể phủ nhận việc Chủ nghĩa Mác – Lênin có kế thừa những quan điểm, tư tưởng tiến bộ từ các học thuyết trong giai đoạn này. Riêng với quan điểm của chúng tôi, người phương Đông từ xưa đã có câu “Xà trên không thẳng, xà dưới ắt cong”, tục ngữ Việt Nam cũng đã dạy rằng “Nhà dột từ nóc”.
            Và cho rằng độc quyền là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự tha hoá của “xà trên” theo chúng tôi cũng là một quan điểm phù hợp trong tính tương đối và biện chứng, nhưng điều này không mang tính hiển nhiên. Bởi vì, Độc quyền không sẵn mang trong nó bản chất tiêu cực. Độc quyền – duy nhất một chủ thể nắm quyền – khác hoàn toàn với khái niệm độc tài. Độc tài hay là sự độc đoán, chuyên quyền mới là yếu tố tiểu cực về bản chất. Có thể thừa nhận, sự độc tài có nguồn gốc từ sự độc quyền, nhưng không phải sự độc quyền nào cũng dẫn đến độc đài – độc đoán chuyên quyền.
             Đồng thời, không có một điều gì chứng minh rằng: một nhóm gồm nhiều người hiển nhiên là một nhóm biết lắng nghe; và cũng không có điều gì chứng minh rằng: một con người hiển nhiên là không biết lắng nghe. Không có điều gì chứng minh rằng: nhiều hơn một thì hiển nhiên vì tất cả mọi người; và cũng không có điều gì chứng minh rằng: một thì hiển nhiên không vì tất cả mọi người. Tôi thấy trong thực tiễn thế giới, rất nhiều, rất nhiều trường hợp “một” nhưng vì nhân loại, vì cả loài người. Nhưng trường hợp “nhiều hơn một” mà vì nhân loại thì không nhiều như thế. Nước Anh có Robert Owen vì nhân loại và lòng bình đẳng, bác ái, nhưng cả nước anh lúc đó đâu như vậy; tương tự như Xanh Xi – mông ở Pháp; Abraham Lincohn ỡ Mỹ. Bạn nghĩ để một mà vì tất cả mọi người lãnh đạo tốt, hay để nhiều hơn một nhưng cái nhiều hơn một trong cái “hỗn tạp” lãnh đạo tốt!?
            Aristole đã từng nói: Không phải bản chất của độc quyền hay cộng hoà đã mang sẵn trong nó tính tốt hoặc xấu; mà tuỳ thuộc vào từng điều kiện cụ thể nhất định. Tất cả mọi vấn đề đều có tính hai mặt của nó. Trong thời kỳ chiến tranh, sự độc quyền chỉ huy tập trung vào tay một chủ thể là vấn đề tất yếu và tích cực. Trong khoa học quản lý kinh doanh, người ta thường đề nghị “tập quyền” trong giai đoạn mới thành lập; nhưng vào giai đoạn ổn định và phát triển thì cần phát huy tính “cộng hoà”. Chúng ta cũng không thể phủ nhận tính “độc quyền tự nhiên” trong nền kinh tế. Những dạng độc quyền như thế là những độc quyền tích cực. Aristole cũng cho rằng, sẽ rất hiếm tìm được một chủ thể thật sự tài năng và đức độ để trao cho “độc quyền”, vì vậy, để tránh rũi ro, thì khi không có được chủ thể như vậy, chúng ta nên “cộng hoà”. Nhưng khi có một chủ thể xứng đáng để được trao sự “độc quyền”, thì sự độc quyền sẽ là một động lực lớn để phát triển đất nước, tốc độ trong việc đưa ra quyết sách và sự triệt để trong việc thực thi chiến lược từ sự độc quyền lúc này sẽ lớn hơn nhiều sự “cộng hoà”, nhất là khi cộng hoà đó là một “cộng hoà hỗn tạp”.
               Có thể nhìn thấy điều này trong lịch sử nước ta, từ sự “độc quyền” của Lê Thánh Tôn đã tạo nên một thời ký thái bình, thịnh trị; hay thời kỳ “Trinh Quán” mà Lý Thế Dân đã xây dựng trong lịch sử Trung Hoa (là những chủ thế bãi bó chức Tể tướng, Thái sư, “hư danh hoá” chức Thái phó, tập trung tối đa và trực tiếp điều hành quyền lực vào tay mình); là thực tiễn trong 40 năm làm Thủ tướng Singapore của Lý Quang Diệu với Đảng PAD của ông tồn tại duy nhất tại Singapore trong 38 năm ông làm Thủ tướng, đã đưa Singapore hoá rồng. Và người dân Mỹ hiểu sự độc quyền của Flanklin Roosevelt đã đem lại cho nước Mỹ và những tên trùm tài phiệt tại nước này nhiều lợi ích như thế nào trong thế chiến thứ hai; và sự độc quyền của Marcaret Thactcher đã vựt dậy nền kinh tế Anh như thế nào, và sự “không độc quyền” của các vị thủ tướng kế nhiệm bà sau này đã đưa nước Anh thụt lùi như thế nào. Và sự độc quyền của MITI (Bộ Thương mại Nhật Bản) trước đây đã đưa Nhật Bản đứng lên một cách mạnh mẽ sau thế chiến thứ hai như thế nào; và ai có thể phủ nhận công lao của Tổng thống Park Chung Hee với sự độc quyền đến độc tài (và ra trường bắn) đã thúc đẩy và tạo nền móng vững chắc cho nền công nghiệp Hàn quốc hiện nay!
               Với những điều kiện khách quan nhất định, có thể thấy rằng, độc quyền là điều kiện tất yếu, là nguồn gốc và là động lực của sự phát triển.
               Vậy có thể thấy được, độc quyền không mang bản chất đã sẵn tiêu cực, mà phụ thuộc vào chủ thể “độc quyền” và điều kiện, tính hình khách quan cụ thể.
               Độc quyền hay cộng hoà, trong trường hợp này là một hay nhiều đảng lãnh đạo đơn giản chỉ là cách thức lựa chọn mô hình lãnh đạo đất nước, điều đó hiển nhiên gắn với lịch sử, điều kiện của từng quốc gia cụ thể. Và thực tiễn lịch sử trong giai đoạn 28 – 30, 30 -45, 45 – 54, 54 -75, năm 1989 (Đảng Xã hội ở Việt nam tự tuyên bố giải tán)  đến nay, đã chứng minh, ở Việt Nam, độc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là điều phù hợp.
               Vấn đề thứ hai mà bạn đề cập, về “Quy luật mâu thuẫn”. Chúng tôi là những người thấu hiểu, tuân theo và vận dụng sáng tạo Triết học Mác, trong Quy luật mâu thuẫn có chỉ rõ: mâu thuẫn có nhiều loại mâu thuẫn, có mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài. Trong đó, mâu thuẫn bên trong là cái trọng yếu và mấu chốt; giải quyết mâu thuẫn bên trong mới thật sự là động lực của sự phát triển, vì sự phát triển là sự phát triển mang tính tự thân. Trong tất cả mọi vấn đề, trong tu thân (chiến thắng chính mình), trong quân sự “nội bộ phải vững chắc, đoàn kết”, trong kinh doanh “phải nắm được thị trường nội địa trước khi tiến hành vươn ra biển lớn quốc tế”. Vậy nên, mâu thuẫn bên ngoài chỉ mang tính xúc tác, điều kiện.
                Chúng tôi xin nhắc lại, mọi vấn đề đều có tính hai mặt. Chúng tôi hiểu rằng, khi chúng tôi không thừa nhận vấn đề đa đảng, chúng tôi sẽ mất đi một chất xúc tác rất quan trọng, đó là tạo áp lực để từng Đảng viên, và toàn Đảng phải tự ý thức, tự nỗ lực do tính “cạn tranh” giữa các Đảng. Nhưng “cạnh tranh” chỉ là một trong rất nhiều chất xúc tác, điều kiện khác nhau. Bên cạnh xúc tác “cạnh tranh”, còn nhiều xúc tác khác mà chúng tôi có thể tận dụng để làm động lực cho quá trình giải quyết mâu thuẫn bên trong. Nhưng nếu chúng tôi dùng chất xúc tác “cạnh tranh” giữa các đảng, thì hệ luỵ thật khôn lường với mặt trái của nó. Một loại thuốc có chất có thể gây tác dụng phụ chết người đối với người này, nhưng có thể không có hoặc có nhưng không đáng kể đối với người khác. Một loại thuốc có thể gây bớt bệnh đối với người này, nhưng chưa hẵn chữa lành bệnh cho người khác. Và bạn hãy nhìn thực tiễn chiến tranh, xung độc sắc tộc, bất ỗn chính trị liên miên tại các quốc gia châu Phi, hay Thái Lan đã tàng phá những nước này như thế nào từ vấn đề đa đảng.
                Vậy nên, đứng trên quan điểm biện chứng, xác định đúng chất xúc tác phù hợp, đặc trọng tâm vào giải quyết tốt mâu thuẫn nội bộ, nghiên cứu lịch sử và hiện thực khánh quan của Việt Nam, việc Việt Nam lựa chọn mô hình “độc đảng lãnh đạo” là phù hợp.
                 CT1: Nhưng tôi nghĩ rằng, Triết học Mác đã từng nói: “Vận động và biến đổi là thuộc tính cố hữu của vật chất”. Bên cạnh đó, như anh đã đề cập ở trên, sự phù hợp của yếu tố độc quyền tuỳ thuộc vào chủ thể, điều kiện lịch sử mang tính giai đoạn nhất định. Xã hội là một dạng vật chất, và nó luôn biến đổi, vận động, xã hội Việt Nam hiện tại đã khác xưa; Việt nam cũng không nằm trong điều kiện có chiến tranh như xưa; Đảng Cộng sản Việt nam cũng không còn trong sạch và vững mạnh như thời của cụ Hồ còn sống, Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay đã bị vướng vào một vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói và lo ngại, với đại ý: Một đảng, một con người, ngày hôm qua là vĩ đại, được mọi người ca tụng, không nhất thiết ngày hôm nay còn giữ được ánh hào quang, nếu không còn trong sạch nữa, nếu rơi vào chủ nghĩa cá nhân. Vậy, tôi thấy rằng, ở Việt Nam hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam không còn là chủ thể xứng đáng để trao cho sự độc quyền như xưa; điều kiện khách quan và tình hình Việt Nam hiện nay đã không còn như xưa. Tôi tự hỏi, hoặc là Đảng Cộng sản Việt nam không nhận thức được điều này, hoặc là Đảng Cộng sản Việt nam muốn giữ mãi vị trí độc tôn và lo sợ, thiếu tự tin trong cạnh tranh khi tiến hành đa đảng – bởi tình trạng xuống cấp nghiêm trọng của một bộ phận “không nhỏ” đảng viên, hoặc là chưa được học về câu chuyện vua Nghiêu, vua Thuấn, nên còn giữ mãi vấn đề độc đảng!?
               CT2: Thứ nhất, tôi muốn nói với bạn, xã hội Việt Nam đã vận động, biến đổi, nhưng sự vận động và biến đổi đó không “tạo ra chất mới” trong yêu cầu phải độc quyền để tồn tại và phát triển ở Việt Nam. Việt Nam hiện tại vẫn còn đó rất nhiều kẻ thù; Việt Nam hiện tại công nhân và bà con nông dân vẫn còn nghèo; và con người Việt Nam hiện tại vẫn còn đó tinh thần đoàn kết và yêu nước lớn lao; con người Việt Nam vẫn còn đó tinh thần yêu chuộng hoà bình; con người Việt Nam vẫn còn đó tư tưởng an phận; con người Việt Nam vẫn còn đó trình độ dân trí của đại bộ phận nông dân và công nhân rất thấp; con người Việt Nam vẫn còn đó trong tim hai chữ: “Đảng ta”.
                   + Việt Nam phải độc quyền lãnh đạo trong hiện tại: để đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị nội bộ, tránh tối đa sự len lõi, chia rẽ của kẻ thù, sự xáo trộn nội bộ làm mãnh đất màu mỡ, cơ hội cho những kẻ đang dòm ngó.
                    + Việt Nam phải độc quyền lãnh đạo trong hiện tại để tạo sự đi lên tương đối đồng bộ, tránh tối đa sự “vênh” trong việc phát huy các nguồn lực để phát triển đất nước, để đem lại sự ấm no cho công nhân và nông dân Việt Nam, không để xãy ra tình trạng nghèo khổ cho công nhân và nông dân như tại các nước thế giới thứ ba, các nước đang phát triển khác, nhất là trong điều kiện tiềm lực kinh tế Việt Nam còn tương tự như các nước này. Không thể đem so sánh Việt Nam với các nước tư bản đã phát triển từ rất lâu về chính trị, khi tiềm lực kinh tế là không thể so sánh. Với tiềm lực kinh tế như hiện nay, nông dân và công nhân Việt Nam sẽ gánh lấy hậu quả như nông dân và công nhân các nước thế giới thứ ba nếu Việt Nam tiến hành đa đảng. Còn vệ việc đãi ngộ, giàu có, an sinh xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay có nguồn gốc từ đâu thì tôi đã đề cập trong bài viết “Các hình thức bóc lột của chủ nghĩa tư bản trong thế giới hiện đại”, chứ không hề có được từ sự đa đảng. Nếu các nước tư bản phát triển do Đảng Cộng sản lãnh đạo, thì nhân loại đã không có một châu Phi chết đói, không có một Mỹ la tinh bất bình đẵng và nợ nầng chồng chất; không có “chiến tranh tiền tệ”; và người dân tại nước họ còn có cuộc sống tốt đẹp hơn hiện tại rất nhiều lần, chứ không phải đang dần biến thành con nợ cho những tên trùm tài phiệt như hiện nay.
                 + Việt Nam hiện nay phải độc đảng để giữ lấy tinh thần đoàn kết và yêu nước lớn lao; không thể để cho ra đời những tên cơ hội, sẵn sàng chia rẽ dân tộc và bán dân mình thành nô lệ vì lợi ích cá nhân. Hãy nhớ câu nói của Dương Văn Minh khi quyết định đầu hàng hay chấp nhận cho Trung Quốc nhãy vào năm 1975 của Chính phủ Cộng hoà Nam Việt Nam trước đây: “Chúng ta đã bán nước hai lần, không thể bán nước thêm một lần nữa”; để cả dân tộc cùng nắm tay nhau tiến đến một xã hội tốt đẹp chứ không phải là một xã hội chia rẽ, xáo trộn, nô lệ, làm con chốt thí, vật thí nghiệm, làm cái sân sau cho các nước lớn
                  + Việt Nam hiện tại phải độc đảng để những khiếm khuyết về dân trí không bị kẻ thù lợi dụng, không bị coi khinh, không bị đem ra làm cơ hội để xõ mũi, bị bóc lột; độc đảng để những khiếm khuyết đó được yêu thương, được bổ khuyết, được xoá bỏ, được tạo điều kiện phát triển đồng bộ, hài hoà; để dù chưa loại bỏ được hết những khiếm khuyết, người nông dân và công nhân Việt Nam vẫn có được cuộc sống tốt đẹp hơn rất nhiều người nông dân và công nhân ở những nước thế giới thứ ba có trình độ dân trí như họ.
                  + Việt Nam phải độc đảng, vì người dân Việt Nam không hề muốn đa đảng, họ chỉ muốn Đảng phải sữa sai triệt để, mạnh mẽ để Đảng ngày càng trong sạch và vững mạnh hơn, xứng đáng với niềm tin của nhân dân. Vì tôi hiểu, nhiều người Việt Nam yêu nước, yêu Đảng ta lắm, nhưng họ vẫn đề nghị đa đảng. Họ đề nghị đa đảng không phải vì ghét Đảng, mà vì quá yêu Đảng, không muốn thấy Đảng “đánh mất mình”, không muốn thấy những kẻ cơ hội, ích kỹ, xấu xa, thối nát cứ tồn tại nhơn nhỡn, nhơn nhỡn trong Đảng; không muốn thấy tình trạng Đảng ngày càng mất niềm tin ở nhân dân, không muốn thấy cảnh “chệch hướng XHCN”. Họ quá yêu quý Đảng, nên ngày đêm ray rứt tìm cách thức để Đảng ta trong sạch, vững mạnh, để Đảng ta được tốt đẹp như thời còn Chủ tịch Hồ Chí Minh (họ mới là người đáng quý, người yêu Đảng; chứ không phải những kẻ miệng cứ đòi một đảng, nhưng lại tham ô, tham nhũng, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, truỵ lạc, bê tha, coi khinh dân, đè đầu cửi cổ dân mà đáng quý, mà yêu Đảng đâu – những kẻ này hiện nay thì miệng nói trung thành với Đảng lắm, nhưng nếu như có biến cố xãy ra, họ sẵn sàng bỏ rơi Đảng ngay, mà nói thế cũng không đúng, phải nói hiện tại họ đã “bỏ rơi” Đảng rồi, họ mới là kẻ thù và là những kẻ phản bội Đảng đáng kinh tởm nhất; Đảng ta hiểu điều này bạn ạ! Tất nhiên, Đảng cũng hiểu trong số những người đề nghị đa Đảng có rất nhiều kẻ cơ hội, phản bội dân tộc vì lợi ích riêng); và họ nghị đến cách đa đảng, vì họ tin rằng, như thế Đảng ta sẽ có động lực lớn lao để ngày càng tốt đẹp hơn, ngày càng xứng đáng với niềm tin của nhân dân hơn; nhưng những người yêu nước và yêu Đảng vô bờ này chưa lường hết được tính hai mặt của vấn đề đa đảng, chưa thấy hết được khả năng và sự sâu hiểm của kẻ thù; và quan trọng nhất, những người đáng quý biết bao này vẫn chưa tìm ra được cách nào, phương thức nào khác theo họ là hiệu quả, mạnh mẽ và triệt để. Và tôi nghĩ, bạn cũng cao quý như họ!
                + Cuối cùng, Việt Nam phải độc đảng để vững tin theo một con đường và nhất quán thực hiện triệt để chính sách phát triển toàn dân tộc.
            Bây giờ đến vấn đề Đảng ta liệu có còn xứng đáng để được trao cho “độc quyền” hay không! Đảng ta hiểu rõ và thừa nhận hiện nay vì một lượng không nhỏ những tên mang nhãn “đảng viên” thoái hoá, biến chất đã làm cho Đảng giảm sút niềm tin nơi nhân dân, làm cho nước nhà chậm phát triển, làm cho nhân dân ta vẫn còn nghèo, còn cực khổ. Không thể phủ nhận những thành quả mà Đảng ta đã làm được trong thời kỳ xây dựng đất nước sau đổi mới, những cũng không thể phủ nhận chúng ta có thể đạt được những thành quả vinh quang hơn, đáng tự hào hơn rất nhiều và rất nhiều nếu Đảng ta có được sự trong sạch, vững mạnh thư thời còn Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhưng Đảng ta bản chất vẫn là Đảng tốt bạn à! Cái này trong bóng đá người ta gọi: phong độ là nhất thời, nhưng đẳng cấp là mãi mãi. Nhưng Đảng ta hiểu rằng, nếu lượng thay đổi đến một độ nào đó, nó sẽ biến thành chất mới.    Do đó, Đảng hiện nay xem vấn đề làm trong sạch Đảng là nhiệm vụ hàng đầu. Đảng hiểu sự kiên nhẫn của người dân là có giới hạn, niềm tin yêu của người dân vào Đảng là có điều kiện, nếu Đảng không nhanh chóng và triệt để trong thời gian tới, để cái hiện tượng thành cái bản chất, thì Đảng thật sự không còn xứng đáng với niềm tin của nhân dân nữa; lúc đó Đảng sẽ phụ biết bao nhiêu tấm lòng của người dân Việt Nam yêu nước, yêu Đảng, phụ biết bao xương máu, nỗi hy sinh của bao lớp người, thế hệ Việt Nam, phụ và phản bội dân tộc, Chủ tịch Hồ. Bạn ạ! Với những gì Đảng ta đã làm được, hãy kiên nhẫn thêm một tí nữa, và hãy thêm tin một tý nữa vào “đẳng cấp” của Đảng ta, dù tôi hiểu điều này có giới hạn và điều kiện.
                 CT1: Được, tôi tạm đồng ý với bạn! Nhưng bạn phải chỉ ra cho chúng tôi cách thức nào khác thật sự hiệu quả, mạnh mẽ và triệt để trong điều kiện hiện nay! Và tôi muốn nhắt với bạn rằng: thực tiễn là cái để kiểm tra chân lý; đối với người phương Đông của chúng ta, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Một trăm bài diễn thuyết không bằng một tấm gương”; và: người dân Việt Nam mình đang dần bắt đầu đánh giá vấn đề qua thực tiễn hành vi chứ không phải bằng lời nói rồi đấy bạn ạ!
                 CT2: Bạn hãy cho tôi được chắp tay, cúi người để tỏ lòng biết ơn, tôn kính với bạn và những con người như bạn! Đảng ta hạnh phúc và vinh dự làm sao! Nhân dân ta hạnh phúc và vinh dự làm sao khi có được những người con yêu nước như bạn, ngày đêm lo nghĩ cho cái hưng vong của quốc gia, với một niềm thuỷ chung son sắc.
                 Bạn ạ ! Cho tôi được chia sẽ điều này, mình không nguỵ biện đâu, thực tiễn được dùng để kiểm tra chân lý phải là cái thực tiễn được nhìn với con mắt biện chứng và quan điểm toàn diện; thực tiễn không là thực tiễn của hôm nay, mà còn là thực tiễn trong ngày mai; điều gì cũng cần phải có thời gian, cần phải có một sự kiên nhẫn có giới hạn nhất định! Mình không thể nói nữa! Vì dù sao cũng chỉ là lời nói. Đúng! thực tiễn đang đặt ra cho Đảng ta nhiệm vụ là phải dùng thực tiễn để chứng minh chân lý. Điều này hoàn toàn phụ thuộc trực tiếp và trước hết vào Đảng. Không có điều gì có thể biện minh nếu như Đảng thất bại trong việc làm trong sạch nội bộ Đảng, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong thời gian tới! Nhân dân đã tin, và đã cho Đảng cơ hội!
               Còn về cách thức khác hiệu quả, triệt để, mạnh mẽ, thì mình xin được nói thế này:
               Ngày xưa khi Jean Jacquen Rouseau viết “Khế ước xã hội”, có người hỏi ông: Anh có phải là một chính trị gia hay một nhà lập pháp không mà viết những điều này?! J.J. Rouseau trã lời: Vì tôi không phải là một chính trị gia hay một nhà lập pháp tôi mới phải viết những điều này! Nếu tôi là một chính trị gia hay một nhà lập pháp, với quyền lực trong tay, tôi sẽ dùng quyền lực để triển khai thực hiện ngay, không cần phải viết bạn ạ!
               Vì chúng ta không có được cái động lực “cạnh tranh” mạnh mẽ và đầy mặt tiêu cực bất trắc, nên chúng ta phải kết hợp nhiều biện pháp quyết liệt khác nhau với sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau, và của sự chung tay, quyết tâm của cả dân tộc.
               Trước hết, toàn dân, từng Đảng viên yêu nước, yêu Đảng phải hành động quyết liệt, triệt để, đầy trách nhiệm, không thể nói đổng mà phải bằng hành vi cụ thể, làm cách mạng thì phải chấp nhận hi sinh, không thể an phận được nữa, phải dám chiến đấu quên mình để có được một Tổng Bí thư Đảng xứng đáng! Vì theo Chủ nghĩa Mác, cá nhân lãnh đạo hay lãnh tụ là một “xúc tác” làm biến đổi và thúc đẩy nhanh lịch sử (hãy nhìn vào V.I. Lenin, Chủ tịch Hồ Chí Minh). Vì theo khoa học lãnh đạo, Maxell đã từng nói: “Mọi sự thành bại đều do lãnh đạo!”.
               Nhưng có người xứng đáng thôi thì chưa đủ, mà phải có thật nhiều, thật nhiều những con người dám xã thân để thực hiện chiến lược, con đường của cá nhân xứng đáng đó!
               Bạn có đồng ý với tôi chăng! Hiện nay Nhân dân ta, Đảng ta đang có một Tổng Bí thư tuyệt vời. Bác Nguyễn Phú Trọng đang cần ở nhân dân ta, mỗi người, từng người một, hãy ý thức lấy trách nhiệm của mình, hãy dám hành động vì công lý, vỳ lẽ phải, để cùng bác, cùng Đảng, cùng nhân dân ta làm nên những điều kỳ diệu, làm trong sạch Đảng. Một mình bác không thể nào làm nỗi. Và nhiệm vụ của chúng ta là làm gì đây? Làm những điều nhỏ thôi, nhưng có ý nghĩa! Nhưng những điều nhỏ, đời thường nhưng cao quý thì vẫn chưa đủ! Mà từng người chúng ta phải là từng con người cách mạng, tức là từng con người dám hi sinh. Hãy ý thức đầy đủ với từng lời nhận xét, từng lá phiếu bầu của chúng ta. Hãy cho đi sự an phận của bản thân để cùng nhau chiến đấu không khoan nhượng với những tên gắn mác “đảng viên” mà thoái hoá, biến chất. Hãy đứng lên và công khai tuyên chiến, phản đối, không khoan nhượng với những kẻ ích kỹ, cục bộ, bè phái, quan liêu, cơ hội, hách dịch, cửa quyền; đừng ngồi đó và giữ mãi nỗi bất bình ở trong lòng. Không có cách mạng diễn ra thuần tuý trong tư tưởng, quan điểm và lới nói. Không có cách mạng nào là cách mạng không phải hi sinh, ngay cả cách mạng “Bất bạo động” của Ganhdi cũng phải hi sinh và hi sinh rất nhiều. Dù bạn có đang thực hiện chiến lược hay đang đấu tranh bước ngắn, cũng hãy đừng khoan nhượng với tiêu cực.
              Bạ ạ! Đảng là người đầy tớ trung thành, và nhân dân là chủ. Nên bạn phải nhớ rằng: “Cha không ra cha, con không ra con; vua không ra vua, tôi không ra tôi là cái gốc của loạn”. Nếu bạn làm chủ mà không ý thức, không dám hành động, không dám dùng quyền như một người chủ, thì hiển nhiên “đầy tớ” sẽ lộng hành. Nếu “đầy tớ” tha hoá, thì trách nhiệm chính thuộc về “ông chủ” không ra ông chủ, để “đầy tớ” qua mặt. Bạn hãy luôn luôn để trong vô thức, tiềm thức, ý thức và trong ngay từng hành động: TA LÀ CHỦ, VÀ NGƯỜI CHỦ NÀY QUYẾT KHÔNG ĐỂ ĐẦY TỚ QUA MẶT, MUỐN LÀM GÌ THÌ LÀM. HÃY XEM TA LÀM MỘT ÔNG CHỦ ĐỘ LƯỢNG, CÔNG MINH NHƯNG ĐẦY TRÁCH NHIỆM VÀ NGHIÊM KHẮC NHƯ THẾ NÀO!
             Chủ tịch Hồ Chí Minh, những anh hùng đã hi sinh, bác Nguyễn Phú Trọng đang mong mõi biết bao sự thức tỉnh và hành động của từng con người “chủ” của dân tộc Việt Nam!
             Thứ hai: phải có pháp luật về biểu tình. Toàn dân tộc Việt Nam, phải đem cả trí tuệ của mình để xây dựng nên một pháp luật về biểu tình, mà ở đó, gần như tất cả mặt tiêu cực của nó (Nói như Hitler: “…, nhưng đám dân ngu dốt đó còn là một con rồng, và với những cuộc biểu tình, con rồng đó sẽ phun lữa thiêu rụi cái thế giới dân chủ giả tạo, để chế độ độc tài của ta trở nên bá chủ và mãi mãi trường tồn!), đồng thời phát huy tối đa mọi mặt tích cực của nó, tạo thành một động lực thật sự mạnh mẽ để Đảng ta thực hiện triệt để vấn đề làm trong sạch đảng. Những để “con mèo bắt chuột giỏi nhưng cũng ăn vụng giỏi” này “chỉ có thể bắt chuột” thì cần có tầm trí tuệ của cả dân tộc. Nếu không, nó có thể không chịu “bắt chuột” mà chỉ lo “ăn vụng” là giỏi. Nhất là khi trình độ dân trí của ta còn thấp như hiện nay.
            Điều này khó, nhưng có thể làm được và làm tốt bạn ạ! Miễn là chúng ta có được trí tuệ của cả dân tộc để xây dựng nên pháp luật đó. Chương trình xây dựng Luật Biểu tình đã được Quốc hội khoá XIII đưa vào chương trình nghị sự chính thức; khi có dự thảo và xin ý kiến đóng góp của nhân dân, lúc đó, hãy hành động để tập trung tất cả trí tuệ của dân tộc!
            Thứ ba: phải pháp luật hoá Điều lệ Đảng; pháp luật hoá các vấn đề về phương thức lãnh đạo của Đảng; pháp luật hoá các vấn đề về kiểm tra, giám sát, bình, bầu, kỷ luật, đánh giá, phân loại đảng viên của Đảng, và nhân dân là chủ thể phải hiện diện một cách bắt buộc, tất yếu trong quá trình này. Hiện nay, nhân dân đã tham gia, nhưng chỉ tham gia bằng nghị quyết của Đảng mà chưa bằng pháp luật, nhân dân phải được chính thức hoá bằng pháp luật bằng quyền này!
            Đảng ta là đảng của toàn thể nhân dân, vì vậy cho nên: Đảng phải chịu sự kiểm tra, giám sát theo luật của toàn thể nhân dân; Đảng phải vận hành và hoạt động theo ý chí của toàn thể nhân nhân, tức là bằng những văn bản quy phạm pháp luật cụ thể.
            Nào, các bạn, chúng ta hãy cùng nắm tay nhau, cùng tiến lên với một tinh thần sẵn sàng hi sinh, bằng những hành động dù nhỏ hay “to” nhưng triệt để, mạnh mẽ, quyết không khoan nhượng. Để Đảng ta ngày càng trong sạch hơn, ngày càng vững mạnh hơn, ngày càng xứng đáng với niềm tin của nhân dân hơn!
           “Không có từng con suối nhỏ, làm sao hình thành được dòng sông lớn; không có từng hạt cát nhỏ, làm sao có được cả sa mạc!”
Thứ tư: phải tiến hành công nhân hoá Đảng ta thật mạnh mẽ. Đảng ta đã có chủ trương này, nhưng trong thời gian tới cần phải làm quyết liệt và mạnh mẽ hơn nữa. Bởi vì trí thức dù có thấm nhuần lý tưởng cách mạng của giai cấp công nhân đến mấy đi chẳng nữa, thì chất của họ vẫn là chất tri thức; tri thức không thể nào thay thế và có được bản chất đích thực của giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân là giai cấp mà quyền và lợi ích của họ tỷ lệ thuận với quyền và lợi ích của các giai cấp tiến bộ khác và với cả dân tộc. Kết nạp công nhân vào Đảng, cần nhất và trước hết hiện nay là phẩm chất đạo đức thông thường (chưa cần đạo đức cách mạng), vì đạo đức thông thường là cái tiền đề, cơ sở, điều kiện để hình thành đạo đức cách mạng. Chỉ cần có tinh thần yêu nước, lòng thương người, bản tính trung thực, thẳng thắn, biết đấu tranh bên vực kẻ yếu, biết lo nghĩ về lợi ích cho quốc gia, dân tộc là được. Lý tưởng cách mạng sẽ được bồi dưỡng sau. Trong cái trước mắt, nếu trình độ còn hạn chế thì đảng viên trí thức bù khuyết; cài cần ở đảng viên công nhân là tính triệt để, tính vị lợi ích chung, rất kiên quyết trong những trường hợp xử lý những chủ thể tha hoá, đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc. Chất công nhân từ những công nhân Đảng viên sẽ là động lực để làm trong sạch Đảng. Đảng hãy tin rằng, số lượng đảng viên công nhân (phải thoả mãn yếu tố tối thiểu trên) trong Đảng càng cao bao nhiêu, thì: tính triệt để trong thực hiện các chính sách làm trong sạch Đảng, vững mạnh Đảng càng cao bấy nhiêu; các chính sách của nhà nước về cải cách hành chính, phát huy dân chủ, chống tham nhũng, quan liêu, thực hiện an sinh xã hội, phát triển bềnh vững, chống bất bình đẳng, xoá đói giảm nghèo sẽ được thực hiện một cách triệt để bấy nhiêu.
            HÃY VỮNG MỘT NIỀM TIN VÀO CÔNG LÝ! VÌ CÔNG LÝ NẰM TRONG ĐÔI TAY CỦA CHÚNG TA! Lẽ nào chúng ta chịu thua và để những tên mang nhãn đảng viên thoái hoá, biến chất, hại dân, hại nước , hại Đảng cứ mãi cười hả hê hay sao, cứ mãi nhỡn nhơ, vui chơi hưỡng lạch trên sự nhọc nhằn, mồ hôi, nước mắt, sự tủi nhục của những người công nhân làm thuê, của những người nông dân chân lấm, tay bùn, mồ hôi đổ lộn nước mắt hay sao! Không! Vì những con người đã hi sinh cho dân tộc, vì tất cả, chúng ta không thể thua lũ sâu bọ, lũ sâu dân mọt nước đó được!
TẤT CẢ! HÃY CÙNG TIẾN LÊN!
Đăng 9th February 2012 bởi 

Cũng như các lực lượng khác trong xã hội, báo chí cũng có diễn biến tiêu cực, tham nhũng và cũng là một “mảnh đất lắm người nhiều ma”.

Các cơ quan quản lý và bạn đọc đã nhiều lần ghi công chống tiêu cực tham nhũng của báo chí. Bảng vàng chống tiêu cực của Hội Nhà báo Việt Nam, nếu có, không thể không ghi nhận đóng góp của báo chí với tư cách người phát hiện những dấu hiệu ban đầu của các vụ án tham nhũng và tiêu cực “động trời” đã được đưa ra xét xử với khung án cao nhất của pháp luật. Đã có mùa trao giải báo chí quốc gia, một loạt tác phẩm báo chí được giải cao khi “động” vào nạn ăn cắp than, nạn phụ thu lạm bổ tính vào hạt thóc một nắng hai sương của bà con nông dân, nạn bạo hành ở cơ sở nuôi dạy trẻ, không ăn thì… tát và nhiều vụ tham nhũng khác.Đồng hành cùng sự nghiệp xây dựng Đảng, chống tham nhũng, tiêu cực, lực lượng báo chí đang làm tốt sứ mệnh cao cả của mình, xứng đáng với phần thưởng cao quý: Huân chương Sao Vàng mà Đảng, Nhà nước trao tặng. Đấy là thông điệp vui. Nhưng còn thông điệp không vui?

Thì đây, trong cuộc gặp mặt báo chí tất niên ngày 27/12/2012 đâu phải tình cờ mà ông Nguyễn Văn Bình, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nói rằng: “Điều tôi trăn trở là trong 100% khó khăn của ngành ngân hàng thì báo chí gây ra đến 40-50%. Sự ủng hộ, đồng thuận của báo chí chưa cao, chạy theo vụ việc đơn lẻ, thổi lên quá đà, tạo dư luận chung trong xã hội không tốt…”.

Phát biểu bâng quơ trên khiến các tổng biên tập và phóng viên buộc phải nghĩ ngợi. Không lẽ báo chí gây khó đến thế cho ngân hàng ư? Không, không thể như thế được? Suốt cả năm có báo nào bị nhắc nhở, chấn chỉnh do thông tin sai lệch về ngân hàng đâu?

Tuy nhiên, cũng như các lực lượng khác trong xã hội, báo chí cũng có diễn biến tiêu cực, tham nhũng và cũng là một “mảnh đất lắm người nhiều ma”. Có thể các tổng biên tập không biết rằng, “quân” của mình có tên trong “liên minh đánh hôi”, đủ khả năng tập hợp dăm ba tờ báo “hai ba” cùng đăng một loại bài nhân danh chống tiêu cực mà trong đó những chi tiết cốt tử giống nhau đến “từng centimét”. Tốn phí trong phi vụ này chỉ bằng một suất chạy thi công chức ở Hà Nội mà ông Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Thành ủy công bố trước HĐND gần đây. Người giữ mối liên hệ phi vụ “đen” này là người trong “nhóm mua” đã mua đứt một tờ cuối tuần.

Đây là chuyện “lính” báo. Còn “quan” báo thì sao? Có những câu chuyện lan truyền trong giới thạo tin về hành tung của một vài vị “quan báo”. Một doanh nhân thổ lộ với nhà báo, có ông “quan báo” nhắn tin vào máy rằng, hiện có đơn kiện với doanh nhân này và báo sẽ đăng… Và sau đó là tin nhắn xin tài trợ một khoản tiền bằng lương tháng của cả một tổ sản xuất, để tổng biên tập báo hoạt động xã hội. Doanh nhân này trả lời, đăng báo đơn tố cáo là quyền của báo nhưng xin lưu ý, đây là đơn nặc danh. Riêng việc tài trợ an sinh xã hội thì doanh nghiệp sẵn lòng, đề nghị gửi cho một công văn. Và sau đó báo vẫn đăng và không có công văn xin tiền với lời nhắn không cho thì thôi!? Chuyện này doanh nhân không công bố cụ thể nhưng chúng tôi mới biết sau khi “quan báo” này được miễn nhiệm.

Còn một “quan báo” khác, để nâng đỡ “người của mình” đã “vay” một khoản tiền lớn để “sửa nhà”. Tuy nhiên, người vợ lại phủ nhận việc vay mượn sửa chữa nhà cửa này. Anh chàng “chạy chọt” kia không may phải hầu tòa nên mới vỡ chuyện “hạ điểm chuẩn” để cất nhắc “quân ta”. Lại có “quan báo” vung tay quá trán tiêu lạm, thưởng bừa đến nỗi ông hạ cánh vẫn không an toàn vì thanh tra, kiểm toán phát hiện tiền tỉ chi sai, chi vượt. Tội nghiệp cả tờ báo phải nhịn thưởng vài năm chưa chắc đã trả xong khoản chi vượt ngưỡng.

Còn một vị “quan báo” đương chức khác đang bị chính cán bộ chủ chốt của báo mình công khai kiện lên cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý báo chí về hàng loạt sai phạm trong công tác cán bộ, quản lý tờ báo. Mấy thông tin này thật khó kiểm chứng dù không ít phóng viên biết khá rõ “quan báo” đó là ai. Mới đây tôi có nhận được cú điện thoại của bạn đọc chất vấn vì sao vẫn có trang mạng, báo điện tử thích thông tin hình sự, đời tư, scandal, lộ hàng? Tôi cãi lại, ông xem lại đi, “nó” không phải là báo điện tử mà là trang mạng “cáo mượn oai hùm”, ai bảo xem làm gì? Nhưng quả thật chưa bao giờ các trang mạng lộng hành tác oai tác quái như hiện nay.

Trong cuộc chạy đua chiếm lĩnh thị phần báo chí này chỉ béo các trang mạng. Một sự thật được đưa ra tại hội thảo nghiệp vụ báo chí là, trong khi một phóng viên có kinh nghiệm phải mất nhiều thời gian cho một tin, một bài. Nhưng một nhân viên trang mạng thạo cắt dán thì chỉ trong một giờ có thể tạo ra cả chục tin bài. Kết quả là có những trang điện tử mỗi tuần post lên hơn 1.000 tin, trong đó hầu hết thông tin đều luộc – cắt – dán của báo khác. Mới đây một số tổng biên tập báo điện tử (trong đó có cả Tổng biên tập Báo Năng lượng Mới và trang tin nhanh Petrotimes) đã thống nhất cùng “kiện” lên các cấp quản lý, đề nghị phải có biện pháp nhằm chấm dứt tình trạng các trang mạng chuyên ăn cắp tin, bài đưa lên mạng và đem bán.

Chính vì vậy, nhà báo Đỗ Phượng, cựu Tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam đã kiến nghị rằng: “Phải rà soát lại đội ngũ lãnh đạo các báo, nhất là báo mạng, trước khi rà soát đội ngũ phóng viên. Tôi tin các phóng viên trẻ họ chỉ cần sự hướng dẫn đúng đắn, họ sẽ cho chúng ta thông tin tốt”.

Nhận diện các dạng vi phạm đạo đức nghề nghiệp trong thực tiễn hoạt động báo chí, các tham luận tại hội thảo này đã cho rằng, vi phạm có ở nhiều bước trong hoạt động tác nghiệp, nhưng tập trung nhiều nhất ở quy trình khai thác, xử lý nguồn tin. Thứ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông Đỗ Quý Doãn cho rằng, nhà báo phải xác định, bản thân mình trước hết phải là công dân có đạo đức. Báo chí đặc thù nên cũng có những chuẩn mực riêng.

Về tình trạng sai sót ngày càng nhiều, Thứ trưởng Doãn cũng cho biết thêm, trong 2 năm 2010-2011, Bộ Thông tin Truyền thông đã tiếp nhận và xử lý 600 đơn thư khiếu nại, tố cáo trên 200 vụ việc, đã xử lý hơn 100 trường hợp vi phạm trong hoạt động báo chí. Năm 2010 xử lý 51 trường hợp, trong đó có 42 trường hợp ở báo in, 6 trường hợp báo điện tử và 3 trường hợp ở phát thanh, truyền hình; thu thẻ nhà báo 4 trường hợp. Năm 2011 xử lý 51 trường hợp, trong đó cảnh cáo 1 trường hợp, nhắc nhở 14 trường hợp. Năm 2012 vẫn còn nhiều vi phạm phải nhắc nhở, xử lý.

Thông tin của báo chí không chỉ tác động đến một, hai người mà cả triệu người. Những thông tin thiếu trung thực, kiểu giật gân, thiên lệch, thiếu tính xây dựng… gây ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức, cá nhân. Có doanh nghiệp phá sản vì thông tin sai lệch của báo chí… Người làm báo phải xác định trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dân của mình. Mọi quy định, quy ước chỉ nhằm việc tôn trọng pháp luật. Vì thế, trước hết các nhà báo hãy thực hiện đúng, đầy đủ những quy định pháp luật về hoạt động báo chí.

Nhà báo lão thành Hà Đăng, nguyên Trưởng ban Tuyên giáo T.Ư nhấn mạnh: Đạo đức nghề nghiệp của người làm báo, suy cho cùng đều cốt ở bốn chữ “trung thành” và “trung thực”. Trung thành với tổ quốc và nhân dân, với lý tưởng cách mạng, với sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trung thực với bản thân, với bạn bè và đồng nghiệp, với nghề báo, với cuộc sống xã hội của đất nước và dân tộc.

Báo chí biết chống tiêu cực, tham nhũng trong xã hội càng phải vượt lên chính mình để tự khắc phục sai phạm yếu kém. Các tổng biên tập tiêu cực, non kém, buông lỏng quản lý nội bộ cần được thay thế để làm trong sạch báo mình trước đã rồi hãy vào cuộc chống tiêu cực tham nhũng!

MINH NGHĨA (NĂNG LƯỢNG MỚI)

Lời mẹ dặn con gái trước khi lấy chồng

Mẹ bảo, lúc giận đừng có cãi nhau, có thể không nói gì, không giặt quần áo của chồng, nhưng không được cãi nhau với chồng.

Mẹ bảo, cãi nhau với đàn ông thì đừng có chạy ra ngoài mà oang oang khắp nơi, anh ta tiến về phía con một bước thì con hãy bước về phía anh ta hai bước.

Mẹ bảo, ngôi nhà chính là chỗ đóng quân của người phụ nữ, cho dù có xảy ra chuyện gì thì cũng đừng có bỏ đi. Bởi vì, đường trở về rất khó khăn.

Mẹ bảo, hai người trong nhà đừng có lúc nào cũng chỉ nghĩ đến sĩ diện, hai người sống với nhau, sĩ diện quan trọng lắm sao? Nếu thế thì ra ngoài sống thế nào được?

Mẹ bảo, bất kể một người đàn ông giàu có, nhiều tiền như thế nào thì anh ta vẫn hi vọng có thể nhìn thấy con sạch sẽ thơm tho ở trong một ngôi nhà sạch sẽ tươm tất và đợi anh ta.

Mẹ bảo, đàn ông tốt rất nhiều, anh ta sẽ không bao giờ đi ôm người phụ nữ khác. Nhưng trong cái xã hội như thế này, có rất nhiều phụ nữ xấu sẽ giang tay ra ôm lấy người đàn ông của con.

Mẹ bảo, phụ nữ nhất định phải ra ngoài làm việc, cho dù là kiếm được nhiều hay ít, làm việc chính là sự thể hiện giá trị cuộc sống của bản thân. Nếu con cứ ở nhà mãi, anh ta sẽ có cơ hội nói trước mặt con rằng: “Tôi đang nuôi cô đấy”.

Mẹ bảo, con đi làm bên ngoài, dù có bận lắm là bận thì vẫn phải làm việc nhà, nếu không thì dùng tiền của mình mà tìm một người giúp việc theo giờ. Việc trong nhà nhất định phải lo liệu tốt, con cái cũng phải nuôi dạy cho tốt.

Mẹ bảo, anh ta vì con mà làm những việc mà con không bao giờ ngờ tới, con có thể cảm động, có thể khen ngợi, nhưng nhất quyết không được châm chọc kiểu “hôm nay mặt trời mọc đằng tây rồi hay sao”, vì nếu như vậy, sau này anh ta sẽ không bao giờ làm bất cứ việc gì vì con nữa.

Mẹ bảo, chẳng có ai là một nửa của ai cả, ý nghĩ của con mà không nói ra thì ai mà biết được? Cần cảm nhận cái gì, ghét việc gì, con phải nói ra thì người ta mới hiểu được.

Mẹ bảo, bố mẹ anh ta cũng là bố mẹ con, cho dù bố mẹ anh ta đối xử với con không được tốt cho lắm, thì con cũng phải đối tốt với họ. Bởi họ là bố mẹ của anh ta.

Mẹ bảo, một khi đã quyết định sống cùng người đó rồi, thì đừng có oán thán cuộc sống khó khổ, nếu như con đã chọn anh ta, thì đừng có oán trách anh ta.

Mẹ bảo, nhiều tiền như thế thì có tác dụng gì, anh ta đâu? Anh ta đang ở đâu?

Mẹ bảo, cả đời này chúng ta có thể tiêu hết bao nhiêu tiền? Đừng mua những đồ xa xỉ mà làm gì, sống hạnh phúc là tốt rồi.

Mẹ bảo, đừng có dọa con cái là “mẹ không cần con”, lúc cáu giận đừng có đuổi con cái ra khỏi nhà, chẳng may không thấy nó thật, con sẽ rất đau khổ.

Mẹ bảo, đừng đánh con cái, lại càng không nên lôi ra ngoài mà đánh.

Mẹ bảo, tình yêu mà cứ đánh đấm đâm giết nhau đúng là mãnh liệt thật, cũng rất lãng mạn. Nhưng không thực tế. Cứ bình thường thôi là được.

Mẹ bảo, cái gì thì cũng đều là duyên phận cả.

Mẹ bảo, cuộc sống luôn thay đổi, phải biết trân trọng từng ngày.

(Trích Lời mẹ dặn con gái trước khi lấy chồng – Nguồn internet)