Tag Archive:


Tổng bí thư: Nhiều người không chịu nhận khuyết điểm

 – Chia sẻ với cử tri Hà Nội sáng nay (1/12) trong buổi tiếp xúc cử tri sau kỳ họp QH, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cho hay, nhiều vị không chịu thừa nhận khuyết điểm, sai lầm. Do vậy việc phê bình và tự phê bình theo tinh thần NQ Trung ương 4 vẫn phải tiếp tục.

 

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng: Đụng đến lợi ích là phản ứng, nhất là khi lợi ích đã thành nhóm


Lập Ủy ban Kỷ luật TƯ?

Nhiều cử tri đề nghị Tổng bí thư vạch rõ đích danh chân tướng “một bộ phận không nhỏ cán bộ suy thoái”. Các đại biểu cũng bày tỏ sự không hài lòng với kết quả phê bình và tự phê bình theo NQ Trung ương 4 bởi phát động thì rầm rộ mà rốt cuộc không ai bị kỷ luật, dư luận cho là hòa cả làng. Thậm chí, nhiều vị ra trước QH chỉ “nhận trách nhiệm” là xong. Tiền lệ này có thể sẽ khiến dân không mấy tin tưởng vào chủ trương bỏ phiếu tín nhiệm mà QH sẽ tiến hành vào năm sau.

Theo mô tả của ông Trần Viết Hoàn (phường Liễu Giai), một bộ phận không nhỏ đó chính là “những kẻ tranh thủ một thời làm quan, cậy quyền, cậy thế để vơ vét, đục khoét tiền của dân, của nước. Lớp người này lấy đồng tiền làm cứu cánh, làm cái đà cho danh vọng, cái lọng để che thân, làm cán cân của công lý, làm cái cần cho lý trí, tiền là hết ý… Dân ta đã coi đây là giặc nội xâm, quốc nạn, giặc trong lòng, giặc trong tổ chức”.

Cũng theo ông, NQ của Đảng cũng như luật Phòng chống tham nhũng nếu làm không không triệt để thì chỉ e mọi việc lại trở về như cũ, có khi còn tồi tệ hơn. Đặc biệt, dân chúng rất chia sẻ với quyết tâm làm trong sạch bộ máy của Tổng bí thư nhưng dân không hiểu vì sao cả bộ máy lại không có sự chuyển biến “thất thoát cả trăm nghìn tỷ đồng mà chỉ cần một lời xin lỗi là xong? Như vậy thì muôn thuở không chống được tham nhũng mà chỉ mở đường cho tham nhũng”.

Ông Trần Viết Hoàn (nguyên Giám đốc Khu di tích Phủ Chủ tịch) kiến nghị lập Ủy ban Kỷ luật TƯ

Ông Hoàn kiến nghị Đảng lập Ủy ban Kỷ luật TƯ do Tổng bí thư đứng đầu, kỷ luật ngay bất kỳ người nào phạm vào tham nhũng.

Cuộc đấu tranh phê bình và tự phê bình nên học theo tinh thần của Bác dạy, “với những kẻ sai lầm nặng mà không chịu sửa đổi thì phải đấu tranh không được nể nang. Có một số ít người mà phê bình, thúc giục mấy vẫn cứ ỳ ra không chịu sửa đổi, với hạng người này cần nghiêm khắc mời họ ra khỏi Đảng, tránh chuyện một con sâu làm rầu nồi canh”, ông Hoàn đề xuất.

Nhiều người kỳ vọng chủ trương bỏ phiếu tín nhiệm sẽ giúp QH thêm công cụ giám sát bộ máy và loại được “bộ phận không nhỏ suy thoái” ra khỏi hàng ngũ lãnh đạo.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Khắc Thịnh (phường Giảng Võ) e chủ trương này lại tiếp tục “ngâm tôm” kéo dài như rất nhiều NQ khác của QH, lúc ban hành thì rất rầm rộ nhưng hiệu quả chưa thấy đâu.

Nhiều ý kiến khác cũng quan ngại tinh trạng chạy phiếu, mua phiếu, vận động hành lang.

Ông Võ Trọng Hốt (phường Trúc Bạch) đề xuất, “có thể mạnh dạn chuyển từ hình thức lấy phiếu trong QH sang lấy phiếu trưng cầu dân ý để đạt đến dân chủ thực chất. Nhưng liệu ta có dám làm hay không?”.

“Đụng lợi ích là phản ứng”

Chia sẻ với cử tri, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thừa nhận, kết quả Hội nghị Trung ương 6 khiến nhiều cử tri tâm tư, không hài lòng, thậm chí thất vọng, bực bội vì không kỷ luật được ai.

Tuy nhiên, các giải pháp nêu trong NQ Trung ương 4 mới tiến hành được một thời gian ngắn, hơn nữa đây cũng là một NQ chung cho các nhiệm kỳ sau bởi đụng chạm tới vấn đề liên quan đến sự tồn vong của Đảng. “Nhiều biện pháp đưa ra để tất cả cùng tiến lên chứ không phải nhằm mục đích phải kỷ luật nhiều thì mới tốt”, ông Trọng cho hay.

Theo Tổng bí thư, NQ Trung ương 4 có tác dụng cảnh tỉnh với những người quên đi mất nguy cơ sụp đổ chế độ. Thứ hai là để răn đe, thứ ba là nhằm ngăn chặn sai phạm. Và cuối cùng nếu không sửa thì mới xử lý kỷ luật, một cách có lý có tình trên cơ sở pháp luật.

Ông khẳng định, tác dụng răn đe đã nhìn thấy rõ. Vì vậy, tinh thần của NQ giống như nhóm lên một cái lò, tạo ra hơi nóng, để “củi tươi, củi khô ném vào đều phải cháy lên hết, một khi đã có sự đồng lòng nhất trí. Quan trọng là phải nhóm cái lò ấy lên”.

Tổng bí thư cũng giải thích, “tự phê” không có nghĩa là phải đạt đến mục đích kỷ luật. Bởi, nếu làm không kỹ sẽ nảy sinh mặt tiêu cực là làm rối ren tình hình, rối ren nội bộ, chia rẽ bè phái. Cách tốt nhất vẫn là để tự mỗi người ý thức được cái sai để sửa chữa. Bởi sắp tới, QH sẽ tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm, nếu ai đó không đạt được tín nhiệm sẽ thấy rất rõ. Mặc khác, người dân còn rất nhiều kênh giám sát khác nhau.

Liên quan đến câu hỏi của cử tri mong nhận diện “bộ phận không nhỏ suy thoái”, ông Trọng khẳng định, “nói là bao nhiêu thì trừu tượng quá”, cũng khó tách bạch ai nằm trong bộ phận đó”.

Đồng thời, để nói tình trạng không ai muốn tự nhận mình đang nằm trong bộ phận suy thoái bởi e ngại mất quyền lợi, Tổng bí thư mượn một câu vè: “Miếng ăn là miếng tồi tàn/ Mất ăn một miếng lộn gan lên đầu”.

Theo ông Trọng, rất khó để ai đó tự nhận ra khuyết điểm của mình, “đụng đến lợi ích là va chạm, là phản ứng, nhất là khi lợi ích đã thành nhóm”.

Ông Trọng kết luận, NQ Trung ương 4 vừa qua cơ bản là đạt yêu cầu. Song, việc kiểm điểm phải được làm đi làm lại. Sửa được việc nào là phải sửa ngay.

Một số kết quả có thể nhìn thấy, đó là quyết định lập lại Ban nội chính TƯ, Ban kinh tế TƯ, xây dựng quy hoạch các chức danh từ Bộ Chính trị đến Ban Bí thư. Rồi xem xét xử lý kỷ luật một loạt lãnh đạo ở các tỉnh.

Cũng theo Tổng bí thư, chủ trương bỏ phiếu tín nhiệm vừa được QH thông qua đã tách bạch được hai khâu bỏ phiếu, lấy phiếu. Với tinh thần không chặn con đường tiến của ai mà quan trọng là “răn đe” để tiến bộ hơn.

Tuy nhiên, cũng không nên xem đây là “cây đũa thần” đưa ra là giải quyết ngay được nhiều vấn đề. Bởi trong thực tế vẫn còn có nhiều người không chịu thừa nhận khuyết điểm, sai lầm của mình. Rồi chuyện lợi ích bị ảnh hưởng, chuyện vận động, hứa hẹn. “Sắp tới phải có quy trình chặt chẽ thực hiện, răn đe ngăn ngừa tiêu cực nữa mới có thể phát huy hiệu quả. Việc hỏi ý kiến cử tri cũng là một cách. Đây cũng là biện pháp nằm trong hoạt động giám sát của QH”, ông Trọng cho hay.

Advertisements

Một vài thủ thuật dùng Google mà có thể nhiều người vẫn chưa biết!

Google là công ty hàng đầu về các dịch vụ Internet ngày nay trên thế giới với sản phẩm nổi bật nhất chính là công cụ tìm kiếm Google.com. Sau đây là vài thủ thuật trên công cụ này mà nhiều người dùng có thể vẫn chưa biết.
1. Tìm định nghĩa của 1 từ:
Để tìm định nghĩa của một từ, bạn chỉ cần nhập thêm khóa “define:” phía trước danh từ bạn cần định nghĩa. Ví dụ: define:mediafire, Google sẽ hiển thị cho bạn biết những định nghĩa dành cho cụm này và liên kết tới bài viết gốc.
2. Tìm kiếm các địa danh cục bộ:
Bạn chỉ cần vào địa chỉ Google và nhập từ khóa về địa điểm của nơi cần tìm. Chẳng hạn như với khóa restaurant, Google sẽ cung cấp cho bạn địa chỉ của các nhà hàng trong khu vực lân cận.

3. Xem thời tiết
Để xem thời tiết hôm nay hay dự báo những ngày sắp tới, người dủng chỉ cần gõ vào mã hoặc tên thành phố, tiểu bang. Sau đó, đừng bỏ quên cụm từ “weather” để có được kết quả chính xác nhất. chang han nhu :”sadec weather”.


4.Tìm trang web liên kết với bạn.

Để xem những trang web nào có liên kết tới blog hoặc website của bản thân, chỉ cần nhập vào Google theo cấu trúc “link: địa chỉ URL của bạn”. Ví dụ: bạn nhập “link:http://www.tntec.edu.vn” để xem các trang web có liên kết với tntec.edu.vn
5. Giải toán

Có ai đã nghĩ đến việc dùng Google Search để giải toán chưa? Đây là khả năng thú vị nhưng có thật của Google Search. Hãy nhập một công thức toán học, “người khổng lồ” tìm kiếm sẽ truy ra kết quả của phép toán đó. Ví dụ bạn nhập 100+200, kết quả sẽ là 300.
7.Công cụ đổi tiền

Nếu không muốn rắc rối với chiếc máy tính kèm dãy số tỉ giá hối đoái dài dằng dặc các loại ngoại tệ, hãy để Google giúp bạn. Ví dụ, bạn muốn biết giá trị thực của 5 triệu VNĐ quy đổi sang USD, hãy gõ: “5000000 VND to USD”. Trong đó, khóa “to” là mã nhận diện cho việc hoán đổi các loại đơn vị.
Google sẽ tính hộ bạn, với các kí tự +,-, * cho nhân và / cho chia, ^ cho dấu mũ v.v… Google thậm chí hỗ trợ cả các phép toán cao cấp, ví dụ như 5*9+(sqrt 10)^3=, với sin, cos, tan, và sqrt là căn bậc hai.

 Nhà báo, chủ báo bị chụp mũ, vu khống, sỉ nhục, bị đánh đập dã man hoặc thủ tiêu, ám sát. Tòa soạn báo bị côn đồ khủng bố, đốt cháy, bao vây gây náo loạn cả năm trời. Nhiều người bị ngăn cấm đọc báo, nghe đài… Đây là thực trạng nhức nhối, kéo dài suốt 37 năm qua, là “khổ nạn” của báo chí Việt trên đất Mỹ. Phan Nhật Nam – một cây bút chống cộng khét tiếng từ trước và sau năm 1975, phải cay đắng thốt lên: “Những người làm văn, làm báo ở đây (Mỹ) đang phải chịu đựng một áp lực tồi tệ”… (Phan Nhật Nam trả lời Lệ Hằng – đã đăng trên nhiều trang web). Nhà văn Nhật Tiến thì than thở: “Không có đủ tự do cho những người cầm bút ở hải ngoại…” (trích từ “Sống và viết trên đất Mỹ” – Thế Uyên tháng 4-1998, đã đăng trên “Tiền vệ”). Tại sao trên xứ sở tự do như Hoa Kỳ lại có chuyện đàn áp báo chí khốc liệt như vậy?

Kỳ 1: VÀI NÉT LỊCH SỬ BÁO VIỆT TRÊN ĐẤT MỸ

Ngày 30-4-1975, kết thúc sự tồn tại của chính thể Việt Nam cộng hòa (VNCH). Hai ngày sau, tại đảo Guam, tờ báo đầu tiên của người Việt tại Mỹ ra đời với tên gọi Chân trời mới. Tại thời điểm đó, trên đảo Guam có hơn 100 ngàn người Việt (gồm binh lính, sĩ quan, công chức chế độ VNCH vừa sụp đổ) được máy bay, tàu chiến bốc ra đang chờ sang Mỹ định cư.

Ồ ẠT RA ĐỜI RỒI… CHẾT YỂU!

Tờ Chân trời mới mỗi tuần ra năm số, mỗi số phát hành từ 5 – 10 ngàn bản. Đến cuối tháng 10-1975, tờ báo này cũng đóng cửa theo trại tạm cư Guam (theo BBC ra ngày 18-4-2005).

Tiếp đó, trong cộng đồng người Việt di tản trên đất Mỹ ra đời thêm một số tờ báo như: Đất mới (7-1975), Đất lành (8-1975), Văn nghệ tiền phong (11-1975), Tin yêu (2-1976), Việt báo (7-1976)… Tổng cộng trong hai năm 1975 – 1976 có tới 45 tờ báo Việt ra đời.

Những năm sau đó, cùng với làn sóng người Việt ồ ạt nhập cư vào Mỹ, báo chí (bao gồm báo in, truyền hình, truyền thanh và Internet) tiếng Việt càng nảy nở nhộn nhịp. Đến nay – 37 năm hình thành cộng đồng Việt tại Mỹ, đã có hàng trăm cơ sở báo chí ra đời hoặc… biến mất. Nhiều tờ báo khai trương ồn ào, phát hành được… một số rồi “tắt”. Như tờ Tin Văn của Hoàng Dược Sư ra một số duy nhất vào tháng  9-1975 với 15.000 bản in, sau đó… hết vốn, đóng cửa. Tờ Quê Hương của Du Tử Lê cũng đoản mệnh sau khi số thứ hai được phát hành. Có tờ như KBC Hải ngoại chết đi sống lại không biết bao nhiêu lần và mỗi lần “tái sinh” lại có một chủ mới…

Sở dĩ có tình trạng lạ lùng kể trên là vì ở Mỹ muốn ra một tờ báo rất dễ, dễ đến mức ai cũng có thể là chủ báo, nhà báo. Có người ví von: “Làm báo ở Mỹ dễ hơn lái xe. Bởi lái xe còn đòi hỏi bằng cấp, làm báo chẳng cần bằng cấp…”. Cũng có những người Việt tốt nghiệp các khoa, trường đào tạo báo chí của Mỹ nhưng hầu hết không tham gia làm báo Việt bởi thu nhập thấp và tương lai bấp bênh. Họ làm việc cho các cơ quan truyền thông của Mỹ. Có những tờ báo chỉ một người làm, “công nghệ” chính là cắt, dán. Cứ lấy tin báo khác đưa sang báo của mình, chẳng cần tính đến bản quyền. Báo loại này chỉ sống nhờ quảng cáo. Báo in xong, đem đi cho là chính. Trên trang web BBC tiếng Việt ngày 22-7-2007 đăng ý kiến của một độc giả người Việt ở Mỹ: “Ở Cali quơ tay là có hàng chục tờ báo (tiếng Việt) rơi rớt trong các tiệm phở, ngõ ngách các khu chợ, siêu thị. Chục tờ như một toàn nhai đi nhai lại, copy trên mạng, kể cả các “tin Việt Nam” đều từ các báo điện tử Việt Nam mà ra… Đa số “báo chợ” không có một phóng viên, chỉ có vài người lên mạng “sao y bản chính”. Nhà báo kỳ cựu Sơn Điền – Nguyễn Viết Khánh từng viết về một kỷ niệm buồn với báo Việt ở Mỹ: “Tình cờ ra chợ, thấy chồng báo để dưới đất cho thiên hạ lượm. Những tờ báo trang trọng đẹp đẽ, trong đó có biết bao tâm tư trí não đã gửi gắm thành văn bị chà đạp bởi bước chân vô tình của khách qua đường…”. Nhà báo Nguyễn Ngọc Bích (Giám đốc chương trình Việt ngữ đài CATD) trong bài “Người Việt hải ngoại và công tác truyền thông hải ngoại”, cho biết: “Báo Việt ngữ ở hải ngoại phần lớn (95 – 98%) là báo của một gia đình. Vợ chồng với đôi ba người thân phụ giúp… Các tin có thể viết dông dài, văn bất thành cú mà vẫn được đăng vì tờ báo có nhiều chỗ trống cần trám hoặc vì là chỗ quen biết… Đây là cách làm báo tiểu công nghệ”…

Ra một tờ báo quá dễ như vậy nên báo Việt ở Mỹ nhiều đến mức không đếm xuể. Cây bút chống cộng Phan Nhật Nam trong lần trả lời phỏng vấn Lệ Hằng, đã mỉa mai: “Chỉ riêng vùng Orange County (Nam California – USA) đã có hơn 200 hội đoàn, số lượng báo cũng xấp xỉ như nhu cầu hội đoàn này…”. Trong bài nói chuyện tại trụ sở cộng đồng Dallas ngày 12-11-2005, nhà báo Phan Thanh Tâm cho biết: “Có người ví trên trời có bao nhiêu ngôi sao thì quận Cam (nơi có đông người Việt định cư) có bấy nhiêu tờ báo. Tờ này chết, tờ khác phanh ngực tiến lên…”. Trong bài “Người Việt hải ngoại và công tác truyền thông đại chúng”, nhà báo Nguyễn Ngọc Bích có cùng quan điểm: “Riêng vùng tôi ở, Washington D.C và ngoại ô Virginia và Maryland, có chừng 60 ngàn người Việt Nam, mà có đến hơn mười tờ tuần báo (Việt ngữ) ra hàng chục năm nay. Nếu mỗi tờ in 3.000 bản mỗi tuần, thì ta cũng có con số 30 nghìn bản các loại một tuần. Có nghĩa là cứ hai người Việt từ tuổi sơ sinh đến lúc bạc đầu thì đã có một tờ báo Việt ngữ để đọc một tuần… Rất nhiều người thuộc lòng những giờ báo được phát đến các cơ sở thương mại, để nhanh chân đến đó lấy trước khi người ta lấy hết…”.

Trang web Bulletin ngày 13-6-2005, đăng phát biểu của tác giả Phạm Nam Vinh: “Ở thủ đô tị nạn này (quận Cam – California) chẳng mấy ai quan tâm đến sự báo này vừa ra, báo nọ âm thầm lặng lẽ đóng cửa. Có khi cầm một tờ báo trên tay mà chẳng biết nó ra hàng tuần hay nửa tháng, hay một tháng, ba tháng. Có tờ tìm đỏ con mắt không biết chủ nhiệm, chủ bút, ban biên tập là những ai. Ngay đến địa chỉ báo quán ở đâu cũng chẳng thấy nữa…”. Mỹ là xứ sở phát triển khoa học kỹ thuật bậc nhất thế giới. Nhưng hơn mười năm sau khi ra đời, báo Việt ngữ ở Mỹ sau khi in xong phải bỏ dấu bằng tay, trông lem luốc. Đến đầu những năm 90 thế kỷ 20, kỹ sư Hồ Thành Việt của Công ty VNI cho ra đời phần mềm tiếng Việt, nhờ đó báo Việt ở hải ngoại mới thoát được nạn “bỏ dấu bằng tay”!

“THÀ Ở TÙ CHỨ KHÔNG… ĐI LÀM BÁO!”
Tình hình báo chí đã buồn, nghề báo trong cộng đồng Việt ở Mỹ cũng hiu hắt không kém. Theo tìm hiểu của các tác giả loạt bài này, nhuận bút trung bình của một bài báo trên báo chí Việt ngữ  hiện cỡ 25USD (thấp hơn nhiều so với nhuận bút các báo trong nước đang trả). Dù ít ỏi, nhưng không phải báo nào cũng trả nổi. Chuyện chủ báo quỵt nhuận bút của nhà báo không hiếm xảy ra. Trên tờ Việt Fun ra gần đây, trong bài “Vui buồn đời viết báo hải ngoại”, tác giả Hà Đình Trung viết: “Phần lớn báo Việt ngữ ở hải ngoại đều phải dựa vào quảng cáo để sống. Trong vùng Bắc Cali (USA) có mấy chục tờ báo, đa phần đời sống của chủ báo cũng bấp bênh nói gì đến những tay ký giả làm công cho chủ báo. Người ký giả chuyên nghiệp sống nhờ vào nhuận bút, nhưng thành thật mà nói, từ trước đến nay có bao nhiêu ông chủ báo làm tròn nghĩa vụ cao cả này. Chi phí công tác không được chủ báo trả, đã vậy có người ba năm không được trả lương, nhuận bút. Nhưng nhục nhất là đi xin quảng cáo… bởi vậy có người vừa dí dỏm vừa cường điệu nói với nhà báo Thanh Thương Hoàng rằng – Nếu phải chọn giữa ở tù và làm báo, tôi thà đi tù…”. Trong giới ký giả Việt ở Mỹ, thường có câu đùa chua xót: “Ghét đứa nào cứ cho nó đi làm báo”…

Một “đặc tính” nữa của báo Việt ở Mỹ là “chửi”. Thời kỳ đầu là chửi bới quê hương, sau đó là chửi lẫn nhau giữa các báo với các báo, đài với đài, hội đoàn với hội đoàn và các cá nhân với cá nhân. Chửi xong lại kiện nhau ra tòa. Nhà báo Phan Thanh Tâm trong bài “Báo chí hải ngoại” (đã trích dẫn ở trên), viết: “Tuy sinh hoạt đã 30 năm, có lập hội ký giả, báo Việt ngữ vẫn chưa bao giờ có một làng báo… Đây là một tập thể phức tạp nhất. Không có làng nên không có lệ, không có quy ước. Nhiều vụ kiện tụng vì phỉ báng, chụp mũ đã xảy ra… Ngày 9-9-1993, hơn 100 nhà văn, nhà báo đã gửi một thư ngỏ đến quý vị chủ nhiệm báo, giám đốc truyền thanh, truyền hình yêu cầu các cơ quan truyền thông khi chỉ trích ai nên tôn trọng quyền trả lời của người bị chỉ trích…”.

Trên trang web Dân kêu ra ngày 29-1-2012, trong bài “Tú gàn – ông là ai?”, tác giả Nguyễn Văn Lục kết luận: “Truyền thông báo chí hải ngoại được tự do viết. Nhưng học đòi dân chủ, tự do không xong. Tự do biến thành tự do chửi, chửi vung vít, chửi bất cứ ai mình muốn chửi. Báo chí tự biến thành “báo bẩn” vì “chửi”… Cũng vì “đặc tính chửi” quá phổ biến trên báo Việt ở Mỹ nên ông Nguyễn Cao Kỳ – nguyên phó tổng thống VNCH lúc còn sống, phải than rằng: “Báo chí trong nước ngày càng hay, trong khi báo chí hải ngoại ngày càng tồi tệ” (trích từ sách “Tường trình cùng đồng bào trong nước” – xuất bản tại Mỹ 1998, trang 54).

Tuy gặp nhiều khó khăn như vậy, nhưng báo Việt ở Mỹ sẽ “dễ thở” hơn rất nhiều nếu như không có kềm kẹp, đàn áp man rợ của các tổ chức phản động lưu vong. Bọn khủng bố báo chí này thường xưng danh “Tập thể quân lực VNCH”, “Chánh nghĩa quốc gia”, “Kháng chiến phục quốc”, “Bảo vệ cờ vàng”… để bóp nghẹt tự do báo chí. Thế Uyên – một cây bút chống cộng thâm độc từ thập niên 60, 70 ở Sài Gòn, nay sang Mỹ tiếp tục đời viết văn, làm báo. Dù đã có “số má” như vậy, nhưng Thế Uyên vẫn không thoát khỏi “vòng kim cô” của lực lượng áp bức báo chí. Trong bài “Sống và viết trên đất Mỹ”, đăng trên tờ Tiền vệ tháng 4-1998, Thế Uyên cay đắng, uất hận kể: “Những môn đệ còn theo trường phái chống cộng cổ điển ở Mỹ ép buộc cộng đồng hải ngoại phải chấp nhận những tiền đề chính trị xã hội chẳng liên quan gì đến thực tại Việt Nam. Ai mà không chịu phát ngôn theo các tiền đề đó thì trước sau cũng bị chụp mũ, đả kích thậm tệ, biểu tình và tẩy chay. Và nếu là người cầm bút thì còn bị đánh trọng thương, bị đốt chết, bắn chết…”.
[http://www.congan.com.vn/?mod=detnews&catid=942&p&id=466363http://www.congan.com.vn/?mod=detnews&catid=942&p&id=466363]

Tổng bí thư: Nhiều người không chịu nhận khuyết điểm

 – Chia sẻ với cử tri Hà Nội sáng nay (1/12) trong buổi tiếp xúc cử tri sau kỳ họp QH, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cho hay, nhiều vị không chịu thừa nhận khuyết điểm, sai lầm. Do vậy việc phê bình và tự phê bình theo tinh thần NQ Trung ương 4 vẫn phải tiếp tục.

‘Bỏ phiếu vì cái ghế, chế độ sẽ suy vong’
Lấy phiếu tín nhiệm cả Chủ tịch nước và Thủ tướng

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng: Đụng đến lợi ích là phản ứng, nhất là khi lợi ích đã thành nhóm


Lập Ủy ban Kỷ luật TƯ?

Nhiều cử tri đề nghị Tổng bí thư vạch rõ đích danh chân tướng “một bộ phận không nhỏ cán bộ suy thoái”. Các đại biểu cũng bày tỏ sự không hài lòng với kết quả phê bình và tự phê bình theo NQ Trung ương 4 bởi phát động thì rầm rộ mà rốt cuộc không ai bị kỷ luật, dư luận cho là hòa cả làng. Thậm chí, nhiều vị ra trước QH chỉ “nhận trách nhiệm” là xong. Tiền lệ này có thể sẽ khiến dân không mấy tin tưởng vào chủ trương bỏ phiếu tín nhiệm mà QH sẽ tiến hành vào năm sau.

Theo mô tả của ông Trần Viết Hoàn (phường Liễu Giai), một bộ phận không nhỏ đó chính là “những kẻ tranh thủ một thời làm quan, cậy quyền, cậy thế để vơ vét, đục khoét tiền của dân, của nước. Lớp người này lấy đồng tiền làm cứu cánh, làm cái đà cho danh vọng, cái lọng để che thân, làm cán cân của công lý, làm cái cần cho lý trí, tiền là hết ý… Dân ta đã coi đây là giặc nội xâm, quốc nạn, giặc trong lòng, giặc trong tổ chức”.

Cũng theo ông, NQ của Đảng cũng như luật Phòng chống tham nhũng nếu làm không không triệt để thì chỉ e mọi việc lại trở về như cũ, có khi còn tồi tệ hơn. Đặc biệt, dân chúng rất chia sẻ với quyết tâm làm trong sạch bộ máy của Tổng bí thư nhưng dân không hiểu vì sao cả bộ máy lại không có sự chuyển biến “thất thoát cả trăm nghìn tỷ đồng mà chỉ cần một lời xin lỗi là xong? Như vậy thì muôn thuở không chống được tham nhũng mà chỉ mở đường cho tham nhũng”.

Ông Trần Viết Hoàn (nguyên Giám đốc Khu di tích Phủ Chủ tịch) kiến nghị lập Ủy ban Kỷ luật TƯ

Ông Hoàn kiến nghị Đảng lập Ủy ban Kỷ luật TƯ do Tổng bí thư đứng đầu, kỷ luật ngay bất kỳ người nào phạm vào tham nhũng.

Cuộc đấu tranh phê bình và tự phê bình nên học theo tinh thần của Bác dạy, “với những kẻ sai lầm nặng mà không chịu sửa đổi thì phải đấu tranh không được nể nang. Có một số ít người mà phê bình, thúc giục mấy vẫn cứ ỳ ra không chịu sửa đổi, với hạng người này cần nghiêm khắc mời họ ra khỏi Đảng, tránh chuyện một con sâu làm rầu nồi canh”, ông Hoàn đề xuất.

Nhiều người kỳ vọng chủ trương bỏ phiếu tín nhiệm sẽ giúp QH thêm công cụ giám sát bộ máy và loại được “bộ phận không nhỏ suy thoái” ra khỏi hàng ngũ lãnh đạo.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Khắc Thịnh (phường Giảng Võ) e chủ trương này lại tiếp tục “ngâm tôm” kéo dài như rất nhiều NQ khác của QH, lúc ban hành thì rất rầm rộ nhưng hiệu quả chưa thấy đâu.

Nhiều ý kiến khác cũng quan ngại tinh trạng chạy phiếu, mua phiếu, vận động hành lang.

Ông Võ Trọng Hốt (phường Trúc Bạch) đề xuất, “có thể mạnh dạn chuyển từ hình thức lấy phiếu trong QH sang lấy phiếu trưng cầu dân ý để đạt đến dân chủ thực chất. Nhưng liệu ta có dám làm hay không?”.

“Đụng lợi ích là phản ứng”

Chia sẻ với cử tri, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng thừa nhận, kết quả Hội nghị Trung ương 6 khiến nhiều cử tri tâm tư, không hài lòng, thậm chí thất vọng, bực bội vì không kỷ luật được ai.

Tuy nhiên, các giải pháp nêu trong NQ Trung ương 4 mới tiến hành được một thời gian ngắn, hơn nữa đây cũng là một NQ chung cho các nhiệm kỳ sau bởi đụng chạm tới vấn đề liên quan đến sự tồn vong của Đảng. “Nhiều biện pháp đưa ra để tất cả cùng tiến lên chứ không phải nhằm mục đích phải kỷ luật nhiều thì mới tốt”, ông Trọng cho hay.

Theo Tổng bí thư, NQ Trung ương 4 có tác dụng cảnh tỉnh với những người quên đi mất nguy cơ sụp đổ chế độ. Thứ hai là để răn đe, thứ ba là nhằm ngăn chặn sai phạm. Và cuối cùng nếu không sửa thì mới xử lý kỷ luật, một cách có lý có tình trên cơ sở pháp luật.

Ông khẳng định, tác dụng răn đe đã nhìn thấy rõ. Vì vậy, tinh thần của NQ giống như nhóm lên một cái lò, tạo ra hơi nóng, để “củi tươi, củi khô ném vào đều phải cháy lên hết, một khi đã có sự đồng lòng nhất trí. Quan trọng là phải nhóm cái lò ấy lên”.

Tổng bí thư cũng giải thích, “tự phê” không có nghĩa là phải đạt đến mục đích kỷ luật. Bởi, nếu làm không kỹ sẽ nảy sinh mặt tiêu cực là làm rối ren tình hình, rối ren nội bộ, chia rẽ bè phái. Cách tốt nhất vẫn là để tự mỗi người ý thức được cái sai để sửa chữa. Bởi sắp tới, QH sẽ tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm, nếu ai đó không đạt được tín nhiệm sẽ thấy rất rõ. Mặc khác, người dân còn rất nhiều kênh giám sát khác nhau.

Liên quan đến câu hỏi của cử tri mong nhận diện “bộ phận không nhỏ suy thoái”, ông Trọng khẳng định, “nói là bao nhiêu thì trừu tượng quá”, cũng khó tách bạch ai nằm trong bộ phận đó”.

Đồng thời, để nói tình trạng không ai muốn tự nhận mình đang nằm trong bộ phận suy thoái bởi e ngại mất quyền lợi, Tổng bí thư mượn một câu vè: “Miếng ăn là miếng tồi tàn/ Mất ăn một miếng lộn gan lên đầu”.

Theo ông Trọng, rất khó để ai đó tự nhận ra khuyết điểm của mình, “đụng đến lợi ích là va chạm, là phản ứng, nhất là khi lợi ích đã thành nhóm”.

Ông Trọng kết luận, NQ Trung ương 4 vừa qua cơ bản là đạt yêu cầu. Song, việc kiểm điểm phải được làm đi làm lại. Sửa được việc nào là phải sửa ngay.

Một số kết quả có thể nhìn thấy, đó là quyết định lập lại Ban nội chính TƯ, Ban kinh tế TƯ, xây dựng quy hoạch các chức danh từ Bộ Chính trị đến Ban Bí thư. Rồi xem xét xử lý kỷ luật một loạt lãnh đạo ở các tỉnh.

Cũng theo Tổng bí thư, chủ trương bỏ phiếu tín nhiệm vừa được QH thông qua đã tách bạch được hai khâu bỏ phiếu, lấy phiếu. Với tinh thần không chặn con đường tiến của ai mà quan trọng là “răn đe” để tiến bộ hơn.

Tuy nhiên, cũng không nên xem đây là “cây đũa thần” đưa ra là giải quyết ngay được nhiều vấn đề. Bởi trong thực tế vẫn còn có nhiều người không chịu thừa nhận khuyết điểm, sai lầm của mình. Rồi chuyện lợi ích bị ảnh hưởng, chuyện vận động, hứa hẹn. “Sắp tới phải có quy trình chặt chẽ thực hiện, răn đe ngăn ngừa tiêu cực nữa mới có thể phát huy hiệu quả. Việc hỏi ý kiến cử tri cũng là một cách. Đây cũng là biện pháp nằm trong hoạt động giám sát của QH”, ông Trọng cho hay.

Ông Nguyễn Tấn Dũng bị nói xấu như thế nào?

Nếu là một người dân Việt Nam chịu quan tâm tới các vấn đề nóng của đất nước và đặc biệt là tìm hiểu thông tin về vị thủ tướng đương nhiệm: ông Nguyễn Tấn Dũng thì có lẻ chúng ta sẽ được tiếp thu hầu như là các thông tin có thể nói là xấu, bội nhọ, không đúng so với những gì ông đã làm cho đất nước…. Các thông tin chính thống gần như không thể đấu lại với các thể loại tin này trên trang tìm kiếm Google.

Thời đại ngày nay quá dễ để đưa một thông tin nào đó lên Internet, đã qua rồi cái thời mà nhà nhà người người viết về các cảm xúc cá nhân, thay vào đó giờ đây họ đã đưa các chính kiến, các suy nghĩ về nhiều vấn đề của đất nước lên Internet, có thể là nhiều mục đích khác nhau, tốt thì là lo lắng cho đất nước xấu thì là xuyên tạc người khác (cấp độ thấp có thể là ca sĩ, diễn viên, cao hơn nữa là lãnh đạo quốc gia cụ thể ở bài viết này là thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng).

Tập Viết Báo chỉ đơn thuần là một tờ blog cập nhật các thông tin về tình hình đất nước bên cạnh đó cũng hay đưa các tin về lãnh đạo của chúng ta, qua quá trình thanh lọc tin tức TVB (từ đây xin viết tắt Tập Viết Báo thành TVB) phát hiện rất nhiều các tin tức, bài viết trên các blog cá nhân cố tình viết xấu về ông Nguyễn Tấn Dũng, TVB đứng ở vị thế trung lập không phán xét các bài viết đó chỉ biết rằng thông tin một khi không có kiểm chứng mà chỉ nói càn và cố tình bôi nhọ ai đó thì thông tin đó không đáng được tin tưởng và trân trọng. Nhưng với người đọc bình thường và lần đầu tiên tiếp cận các thông tin đó rất dễ cho đó là… đúng.

TVB xin lấy ví dụ về một loạt các bài viết cách đây khoảng 5 tháng về một từ khoá được tìm kiếm khá nhiều trên mạng: Lâu đài/Biệt thự Nguyễn Tấn Dũng <- xuất phát điểm của vấn đề này nếu người dùng chịu tìm hiểu kĩ thì đó là do 1 sự nhầm lẫn tại của 1 website lấy các hình của một lâu đài nước ngoài và gán cho ông Nguyễn Tấn Dũng [Chi tiết xin đọc ở đây: Sự thật về Biệt thự của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng,http://www.yeutoquoc.org/threads/97/ ], một ví dụ như trên thôi cũng đủ để 1 bộ phận đọc thông tin này cho rằng thủ tướng Dũng là người tham nhũng, tham ô, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hình ảnh của một nguyên thủ quốc gia…. từ đó sẽ có ác cảm dẫn đến các tin tức xấu về sau tiếp cận sẽ tin hơn nữa, cứ thế.

Bạn đọc cứ để ý hễ đất nước Việt Nam có một cái gì đó xấu về kinh tế hay quốc phòng là cứ y như rằng trên Internet có ngay những bài viết xoi mói nói xấu thủ tướng Dũng (chưa nói là còn các các vị lãnh đạo khác).

Như đã nói ở bên trên một thông tin mà không có kiểm chứng mà lại đi nói xấu người khác thì không đáng tin tưởng. Tình thế hiện nay đất nước ta đang phải chống chọi với Trung Quốc về các vấn đề trên Biển Đông, mọi người cần phải là một khối đồng lòng mới có thể chống được các tư tưởng ngoại xâm đang lăm le bờ cõi vì thế hãy nhìn vào những gì mà ông Dũng đã làm tốt cho đất nước, đừng tin vào những bài viết xăm xoi đời tư của ông Dũng, xăm xoi đến cá gia đình và con cái của thủ tướng thì hết nói.

TVB rất ít khi thấy các blog “đó” viết các bài dạng như: kế sách để phát triển kinh tế, bày kế cho thủ tướng tăng GDP, tâm thư gửi thủ tướng về Trường Sa Hoàng Sa,…. đại loại là các bài viết chia sẽ kinh nghiệm, kế sách,… để đất nước cùng phát triển mà suốt ngày chỉ thấy toàn tin tào lao về các vấn đề không một chút nào có thể giúp cho đất nước VN này khá hơn được.

—> Những thành tựu mà TVB cho rằng website nguyentandung.org đưa ra ở đây rất đáng để người dân VN biết đến và để thấy sức làm việc của ông đáng nể đến nhường nào: Hoạt động của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng 6 tháng đầu năm 2012 (http://www.yeutoquoc.org/threads/97/ ) .

(Phần này kenminhthien.net tôn trọng nguồn nên giữ nguyên bài viết. Kenminhthien.net không khuyến khích việc truy cập vào các trang web có tên các vị lãnh đạo mà không có giấy phép cụ thể.)

Và cũng xin lưu ý là website này các bạn nên đọc thường xuyên để cập nhật các tin tức tổng hợp về tình hình đất nước cũng như các hoạt động, ý kiến của ông Nguyễn Tấn Dũng.

Bài từ TVB

Người dân, binh lính Trung Quốc là những con cừu bị lừa dối

“Tháng 6 vừa rồi, Quốc hội Việt Nam thông qua luật Biển. Trên hành tinh này, thử hỏi Trung Quốc xem có quốc gia ven biển nào không có luật Biển không? Trung Quốc không có luật Biển thì họ có bảy đạo luật khác để chi phối, bảo vệ chủ quyền trên biển: Luật Hàng hải, luật Đường cơ sở, luật Hải dương… Giờ Việt Nam làm luật Biển cũng giống như nhà có vườn, người ta phải rào chứ” – Thiếu tướng Lê Văn Cương nói.

Hệ thống nói dối lớn nhất hành tinh

– Trong thời gian căng thẳng vừa qua, báo chí Trung Quốc đã đưa những thông tin rất sai lệch về Việt Nam. Dường như họ đang cố dùng bộ máy truyền thông do nhà nước kiểm soát để kích động dân chúng của họ?

– Thiếu tướng Lê Văn Cương: Một số nhà báo, học giả Trung Quốc viết trên tờ Hoàn Cầu – một ấn phẩm của nhật báo Nhân Dân – kêu gọi phát động chiến tranh, chỉ có đánh Việt Nam mới giải quyết được vấn đề biển Đông, rằng trên thế giới này duy nhất Việt Nam là nước đi xâm lược, là hung hăng nhất, hiếu chiến nhất. Họ vẽ ra một hình ảnh đất nước Việt Nam như một tội đồ, để lừa dối nhân dân họ, lừa dối quân đội họ và lừa dối cả thế giới.

Trong gần ba triệu quân nhân, sĩ quan, binh lính Trung Quốc, tôi tin tưởng tuyệt đại đa số không muốn gây hấn. Họ cũng muốn giao hảo. Ngay cả 1,3 tỉ người dân Trung Quốc cũng là người tốt, nhân hậu lắm, họ muốn bang giao, còn chuyện gây chiến họ không được gì cả. Họ là những con bài bị thí, bị lừa dối. Ngay cả hơn 20 ủy viên bộ Chính trị, mấy trăm ủy viên Trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc không phải ai cũng muốn gây chiến, chỉ là số nhỏ thôi.

Trong cuộc chiến 1979 với Việt Nam cũng vậy, truyền thông Trung Quốc có hàng ngàn bài báo xuyên tạc, nhồi nhét vào đầu người Trung Quốc rằng đó là chiến công oanh liệt của quân giải phóng Trung Quốc phản công quân Việt Nam xâm lược. Đến giờ phút này, số người hiểu thực chất bản chất cuộc chiến chỉ có 1%.

Hôm 17.8 vừa rồi, khi nói chuyện với các nguyên thủ các quốc gia châu Phi tại Bắc Kinh, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào có nói rằng: Chúng ta kiên quyết phản đối nước giàu lấn lướt nước nghèo, kiên quyết phản đối nước lớn đàn áp nước nhỏ. Nói hay như thế nhưng làm thì ngược lại.

– Cũng đã từng có nhiều người nói về việc hệ thống truyền thông Trung Quốc đưa thông tin sai lệch, “làm hỏng dân”…

– Chuyện lừa dối của họ là truyền thống, từ thời Đông Chu liệt quốc đến giờ. Họ biến con người thành những con cừu, chỉ thực hiện mệnh lệnh của cấp trên. Đến giờ phút này, truyền thông Trung Quốc là hệ thống nói dối lớn nhất hành tinh, chỉ phục vụ ý đồ chính trị của giới chóp bu. Về khoản này, Mỹ thua Trung Quốc.

Hồi năm 1979, Trung Quốc xâm lược ban ngày ban mặt chứ có phải buổi tối đâu. Nhưng cứ đến kỷ niệm năm chẵn, báo chí Trung Quốc tung ra trung bình khoảng 700 – 800 bài báo kéo tít gần như nhau: Chiến công oanh liệt của quân giải phóng Trung Quốc phản công quân Việt Nam xâm lược; cuộc phản công chiến lược thắng lợi…

Sẵn sàng dùng thủ đoạn tàn bạo

– Chúng ta vẫn thường nhắc đến chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc. Ông đánh giá như thế nào về độ phổ biến của chủ nghĩa bành trướng trên thế giới?

– Về mặt khoa học, phàm các dân tộc lớn, nước lớn, đều có nhân tố bành trướng chứ không phải chỉ có Trung Quốc. Mỹ, Nga, Đức, Nhật, Ấn Độ đều như vậy. Đó là đặc điểm có tính phổ biến, như là người giàu, lớn, khỏe thì hay xem thường kẻ nghèo hèn. Một con người cũng thế, một cộng đồng cũng thế mà một dân tộc cũng thế.

Cho nên diễn biến hòa bình không phải chỉ có Mỹ. Tất nhiên gốc tích của diễn biến hòa bình thời hiện đại là từ Mỹ nhưng những thủ đoạn tác động vào các nước khác để đảm bảo có một chính quyền ở đó theo ý mình thì Trung Quốc là cha đẻ, là bậc thầy của thế giới. Cách đây 2.600 năm, chính ông Quản Trọng, người nước Tề thời Xuân Thu, là người đẻ ra diễn biến hòa bình với các thủ đoạn chia rẽ nội bộ, lũng đoạn kinh tế, khoét sâu mâu thuẫn, đưa thông tin vu khống để vua bạc đãi người trung thực, xung quanh nhà vua chỉ còn những loại nịnh thần, ngu dốt thôi. Từ đó đất nước họ suy yếu, ông ta thâu tóm năm nước xung quanh chỉ trong vài năm. Người Mỹ chỉ học mót người Trung Quốc về khoản này.

– Vậy chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc có gì khác biệt dẫn đến việc họ bị thế giới ghét bỏ như ông vừa đề cập?

– Trung Quốc có hai điểm đặc biệt. Một là máu bành trướng của họ dữ dội, quyết liệt hơn các nước khác.

Hai là về mặt thủ đoạn, họ sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn bất kể tính chất. Người Mỹ, Nhật, EU không bao giờ làm cái trò cho người sang xui nông dân Việt Nam trộn bùn vào chè, đưa về Trung Quốc quay lên truyền hình, chụp ảnh cho cả thế giới xem; họ cũng không bao giờ mua móng trâu, mua rễ quế, mua đỉa, tuồn hàng chất lượng kém, có chất độc sang Việt Nam. Cho nên cả thế giới chăm chăm cảnh giác Trung Quốc. Họ là một cường quốc không có đồng minh.

– Khi nào Trung Quốc dùng vũ lực?

– Nghiên cứu các cuộc xung đột vũ trang của Trung Quốc từ năm 1949 đến nay, ông đánh giá thế nào về những yếu tố dẫn các nhà lãnh đạo Trung Quốc đến việc giải quyết các vấn đề quan hệ quốc tế bằng vũ lực?

Nó là hợp lưu cộng hưởng của hai dòng: Dòng bành trướng và dòng phục vụ cho lợi ích trước mắt. Cuộc chiến tranh năm 1969 với Liên Xô chính là vật tế thần để họ chứng tỏ với Mỹ rằng tôi không liên kết với Liên Xô. Đến tháng 2.1979, họ biến Việt Nam thành vật tế thần, một lần nữa chứng minh cho Mỹ thấy họ không đồng minh gì với Việt Nam cả. Trước khi đánh Việt Nam, Đặng Tiểu Bình còn đến Washington, đội mũ cao bồi, nói với Tổng thống Mỹ Carter rằng: “Chúng tôi là NATO phương Đông”. Việt Nam thành vật tế thần để Trung Quốc mua bán với Mỹ.

Suốt từ năm 1979 đến năm 1991, Trung Quốc câu kết với Mỹ và phản động quốc tế bóp nghẹt Việt Nam, bao vây cấm vận Việt Nam. Lịch sử Việt Nam lùi mất 30 năm. Đó là một thời kỳ đen tối của lịch sử Việt Nam, khi tất cả mọi lối ra thế giới đều bị Trung Quốc và Mỹ bịt hết.

Bành trướng là chiến lược lâu dài của họ nhưng khi cần sử dụng vũ lực để giải quyết lợi ích trước mắt và phù hợp với chiến lược đó, họ sẵn sàng.

– Chuyện nước lớn, với tư tưởng bành trướng, thỏa thuận với nhau trên lưng nước nhỏ, đã từng xảy ra nhiều trên thế giới. Trong quan hệ giữa Việt Nam, Trung Quốc và các nước khác thì sao, thưa ông?

– Tôi cho là Việt Nam từng năm lần bị bán đứng.

Lần thứ nhất tại Hội nghị Genève năm 1954. Trung Quốc đã có sự mặc cả với Mỹ, Pháp chứ đúng ra ranh giới hai miền không phải vĩ tuyến 17 mà có thể là 13, nếu không thì là 15. Nhưng để lấy lòng Mỹ và phương Tây, Trung Quốc đã nhân nhượng Mỹ và Pháp kéo lên vĩ tuyến 17. Sau này chính Pháp nói với ta điều ấy.

Lần thứ hai khi Việt Nam gần thắng Mỹ năm 1972, Henry Kissinger đã ký tắt với ông Lê Đức Thọ, hai bên báo cáo cấp cao để chuẩn bị ký Hiệp định Paris. Nhưng sau đó Mao Trạch Đông mời Tổng thống Mỹ Nixon sang ký Thông cáo chung Thượng Hải. Ngày 1.3.1972, Kissinger về Tokyo họp báo, nói một câu nổi tiếng: Bây giờ chúng tôi chỉ còn nhìn về Mạc Tư Khoa để nghiền nát Hà Nội! Sau khi ký xong, những việc tày trời trước đây các tổng thống Mỹ khác không làm được thì Nixon làm được, đó là phong tỏa cảng Hải Phòng, con đường biển duy nhất Việt Nam ra thế giới, cho máy bay đánh sát biên giới Trung Quốc, rồi sau đó là 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không. Thiệt hại về người và tài sản trong cuộc không chiến của Mỹ ở miền Bắc từ 1.3.1972 đến khi ký Hiệp định Paris bằng cả sáu năm trước cộng lại. Ở miền Nam, ta cũng phải đổ xương máu nữa. Nên thông cáo Thượng Hải thực chất đã được viết bằng máu của người Việt Nam.

Lần thứ ba, họ đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974. Không có sự đồng ý của Mỹ thì Trung Quốc không bao giờ dám đánh.

Lần thứ tư, chính Trung Quốc là kẻ chủ mưu gây nên vụ thảm sát hơn hai triệu người Campuchia. Trung Quốc cung cấp từ A đến Z, lương thực thực phẩm, vũ khí, đạn dược, thuốc men cho Khmer Đỏ. Chiến tranh biên giới Tây Nam 1976 – 1978 là Trung Quốc mượn Khmer Đỏ để đánh Việt Nam. Sau đấy, khi ta giải phóng Campuchia, Trung Quốc là kẻ lu loa trên thế giới rằng Việt Nam có âm mưu lập “Liên bang Đông Dương”. Kẻ gây ra họa diệt chủng lại vu cáo cho những người cứu người Campuchia khỏi họa diệt chủng.

Lần thứ năm là chiến tranh biên giới năm 1979. Năm lần họ buôn bán trên lưng mình.

HỮU LONG (PHÁP LUẬT TPHCM)

“Chuyện bi thương đối với người chiến sĩ hình sự là chuyện hàng ngày… Té ngã và đổ máu là chuyện thường con à. Nhưng một mình ba chết đã đành, đằng này ba đã vô tình làm khổ cả mẹ con!”.

Nguyễn Thành Dũng, nguyên Trung úy CSHS Công an quận 11, TP HCM, viết trong nhật ký khi biết mình bị lây nhiễm HIV.

Anh đã hy sinh ngày 13/6/2006, sau 5 năm gắng gượng chiến đấu với căn bệnh HIV mà anh vô tình bị lây nhiễm. Vợ của Dũng cũng đã ra đi vào tháng 12/2005. Họ để lại một đứa con nhỏ vừa qua tuổi lên 10. Hình ảnh bé Nguyễn Duy Minh quỳ lặng bên quan tài cha mình khiến những người có mặt đều rơi nước mắt. Nỗi đau quá lớn đối với bé, chỉ trong 6 tháng, cả cha lẫn mẹ đều lần lượt ra đi…

Đổ máu vì cuộc sống bình yên

Nguyễn Thành Dũng sinh ra và lớn lên ở xóm đình Tân Liễu, huyện Bình Chánh nghèo khó. Ba của Dũng đi biền biệt từ khi Út Dũng còn nhỏ xíu, một tay mẹ của Dũng tảo tần nuôi chị em Dũng lớn khôn. Dũng lớn lên trong tình thương của mẹ, điều ấy thôi thúc Dũng gắng học để sớm đỡ đần cho mẹ.

Năm 1988, Dũng thi đậu vào Trường Cao đẳng Sư phạm nhưng sự nghèo khó đã ngăn bước Dũng trở thành thầy giáo như ước mơ thuở nhỏ. Tháng 9/1989, Nguyễn Thành Dũng thoát ly gia đình vào lực lượng Công an với chế độ nghĩa vụ quân sự. Dũng bảo, mình tự nguyện vào lực lượng Công an chỉ đơn giản vì hồi đó còn nhiều tội phạm quá…

Tháng 11/1992, Dũng thi đậu và học tại Trường Trung học Cảnh sát nhân dân tại Thủ Đức. Dũng chọn học chuyên ngành Cảnh sát hình sự để đấu tranh chống cướp, trộm cắp, lừa đảo, cờ bạc, mại dâm, ma túy, lưu manh, côn đồ theo như tâm nguyện vào lực lượng Công an của mình. Dũng biết chuyên ngành mình theo là nguy hiểm! Trong hồi ký của mình, Dũng đã ghi lại rằng: “Tôi đã học được những cái hay, phẩm chất tốt đẹp của người chiến sĩ Công an nhân dân và mong mỏi sẽ phấn đấu để phục vụ suốt đời cho ngành, cho nhân dân”.

Tháng 8/1994, đồng chí Nguyễn Thành Dũng nhận quyết định về công tác tại Đội Cảnh sát hình sự Công an quận 11. Trung úy Nguyễn Thành Dũng bắt đầu cuộc chiến đấu cam go khốc liệt với đủ loại tội phạm. Các đồng chí chỉ huy Công an quận khi ấy nhận xét về Dũng rằng: “Một chiến sĩ hình sự có vóc người nhỏ con nhưng sự dũng cảm thì ngược lại…”.

Người viết là một trong số ít người đầu tiên được biết tin Dũng bị phơi nhiễm HIV, cũng là một trong số những người cùng đồng đội thường xuyên ghé thăm vợ chồng Dũng từ khi họ bị bệnh tại căn nhà nhỏ tuềnh toàng tại xã Hưng Long, huyện Bình Chánh. Dũng cũng không biết bản thân mình bị lây nhiễm HIV trong trường hợp nào, anh chỉ ân hận một điều rằng: “Mình không biết sớm để tránh lây nhiễm cho vợ”.

Tháng 10/1998, khu vực bãi đất trống – bây giờ là Trường học Chu Văn An, quận 11, là một ổ buôn bán ma túy. Sau thời gian điều tra, Công an quận 11 quyết định tung một mẻ lưới. Khi các CSHS ập vào, bọn tội phạm cũng chống trả quyết liệt hòng tẩu thoát, Dũng được phân công “chăm sóc” một tên cao to và bặm trợn với những hình xăm vằn vện trên tay.

Dũng đã bị hắn đâm nhiều nhát dao vào người, máu anh và máu tên tội phạm cùng đổ rồi hai người vật lộn trên một đống xà bần, cuối cùng tên tội phạm cũng phải chịu thúc thủ tra tay vào còng trước sự dũng cảm của anh.

Tháng 4/2001, sau một đợt truy quét những đối tượng tổ chức lấy chồng Đài Loan tại Công viên Lãnh Binh Thăng, Dũng thấy nhiều kim tiêm còn dính đầy máu tươi của những con nghiện vương vãi nhiều nơi ở công viên, sợ người ta giẫm phải, khu vực này lại nhiều trẻ con thường xuyên chạy nhảy nô đùa, Dũng lặng lẽ nhặt từng chiếc đem bỏ vào bịch, sơ ý một ống kim rơi xuống làm chân anh chảy máu…

Tháng 2/2002, Dũng bị sốt cao kéo dài vào mỗi lúc hoàng hôn, nghĩ bị sốt rét, anh vào nằm Viện 30/4 và xét nghiệm máu. Cầm tờ giấy xét nghiệm trên tay, vợ anh bật khóc nức nở, còn anh thì chết lặng…

Cuốn hồi ký viết dở

Lúc còn sống, Dũng tâm sự với tôi: “Mình chỉ hy vọng được sống tới ngày cu Bi (con anh) lớn khôn, đến ngày tự nó có thể lo cho nó, vậy là mình mãn nguyện lắm rồi!”. Anh đã không sống được đến ngày đó…

Đầu năm 2006, trong bệnh viện, khi sức khỏe của anh như ngọn đèn leo lét trước gió, anh bảo anh sẽ viết hồi ký để lại cho con trai anh. Con anh còn quá nhỏ, những lời dặn dò của Dũng bây giờ, anh sợ bé sẽ mau quên. Anh muốn ghi lại một phần đời ngắn ngủi của mình, sau này, một ngày nào đó, con anh đọc, nó sẽ tự hiểu về người cha, người mẹ của nó.

… Ngày 26/1/1995 thì đám cưới của ba và mẹ được tiến hành. Một đám cưới giản dị nhưng tràn đầy hạnh phúc.

Đầu tháng 4/1995, mẹ báo tin vui cho ba biết là mẹ đã có thai, ba mừng quá ôm mẹ nâng cao và hôn nhẹ vào bụng mẹ: “Cám ơn em, anh ước gì nó là con trai…”. Mẹ cười: “Em thì trai gái gì cũng được”. Lúc này, lương chiến sĩ cũng nghèo lắm, nhưng ba cố dành dụm để lo cho con.

Rồi 9 tháng cũng qua, ngày 24/1/1996, ba mừng đến rơi nước mắt khi nghe tiếng khóc chào đời của con.

Cuộc sống của gia đình ta thật hạnh phúc…

Con là hoàng tử của ba, con đi học về là lại hát cho ba nghe… Ba cầu mong sao cuộc sống cứ êm đềm như thế. Dự định đến đầu năm 2003 thì sẽ sanh cho con một đứa em nữa cho vui cửa vui nhà…

Dũng công tác xa, hai ba ngày mới về, lo mảnh vườn ao cá, dạy thằng nhóc bi bô học, rồi lại đi. Vợ Dũng ở nhà, một tay lo toan mọi việc.

Vào tháng 10/1998, trong một lần kết hợp với Công an phường 8, quận 11 mai phục triệt phá một ổ buôn bán ma túy, ba bị tai nạn. Một tên tội phạm ma túy đã vật lộn và đâm ba, có lẽ nó đã bị bệnh HIV… Tháng 11/2000, trong khi trinh sát tại Công viên Lãnh Binh Thăng, ba bị một đối tượng dùng kim tiêm đâm lén từ phía sau rồi bỏ chạy, trời tối và đang làm nhiệm vụ, ba không đuổi theo. Về đơn vị, bác đội phó kêu ba đi chích ngừa, nhưng ba đã không đi…

Anh vào nằm viện trong nỗi chán chường, tuyệt vọng, thường lảm nhảm những câu vô nghĩa rồi tự cười một mình, cười khanh khách mà vô cảm. Chị cũng bệnh nhưng thấy anh tuyệt vọng, chị không cho phép mình gục ngã, hàng ngày chị đến bên anh, đút cho anh từng miếng sữa!

Về đến nhà, chị tự nhốt mình trong phòng, những giọt nước mắt cứ lăn dài trên gò má gầy gò. Chị sợ sẽ không còn nhiều ngày để lo cho anh, cho con khi mình đổ bệnh… Nghĩ đến chuyện anh đang nằm bệnh viện một mình, sợ anh nghĩ quẩn, chị lại tất tả đi vào trong bệnh viện và tự nhủ sẽ luôn ở bên anh, không cho anh biết là mình cũng đang đau khổ…

Anh bớt bệnh cũng là lúc chị kiệt sức, mấy tháng trời đi từ nhà lên Bệnh viện Nhiệt Đới gần 30 cây số lo cho anh rồi về lo cho con, chăm sóc người mẹ già 75 tuổi thi thoảng phát bệnh tâm thần đã gần lú lẫn của anh, chăm nom mảnh vườn, thửa ruộng của gia đình vượt quá sức chịu đựng đối với người phụ nữ.

Bệnh, chị vẫn gượng cười và mong anh đừng tuyệt vọng, trong hơi thở thều thào, chị thì thầm bên tai anh: “Còn con, còn mẹ, anh ơi”! Nghe vậy, anh bật khóc bên giường bệnh của chị, những nỗi buồn đau kìm nén bao lâu nay trong người đàn ông tưởng chừng như không bao giờ được khóc bật nên rưng rức.

Những ngày khó khăn của gia đình Dũng, các đồng đội đã từng kề vai sát cánh bên anh trong những ngày cùng truy quét tệ nạn xã hội vẫn thay nhau đến để giúp đỡ, động viên, người mang đến lon sữa, trái cam và nhiều khi là một miếng thịt heo tươi rói để anh nấu cháo cho chị. Nhiều anh em đến ngủ lại và kể cho anh nghe những cuộc truy quét mới, báo cho anh biết quận 11 đã được thành phố công nhận là địa bàn không còn ma túy. Nghe vậy anh vui lắm, trong chiến công ấy anh đã góp một phần công sức và cả máu của mình!

Anh có được sự hỗ trợ tiền thuốc điều trị từ lực lượng Công an nhưng còn chị, chị phải tự chịu chi phí thuốc men cho mình, cũng bởi những trường hợp như chị xưa nay chưa có nên không được hưởng chế độ trợ cấp. Để lo tiền thuốc men cho chị, đồ đạc trong nhà cứ lần lượt ra đi, tiền thuốc điều trị khi ấy quá đắt so với khả năng của gia đình, căn nhà chung cư cơ quan cấp cho phải sang tay gấp cho người ta, hai công đất mà cha mẹ để lại cũng phải bán nốt. Cơ quan, đồng đội vẫn đóng góp hàng tháng lo cho anh chị nhưng không thấm vào đâu so với số tiền quá lớn hàng ngày anh chị phải bỏ ra mua thuốc.

Nhiều tháng nhà không còn tiền, chị bỏ không dùng thuốc nữa, anh không chịu, anh nhường thuốc cho chị. Nhưng người có HIV phải thường xuyên dùng thuốc nếu không thuốc sẽ vô hiệu, biết vậy, chị ép anh uống nếu không chị… tự tử. Anh ngoan cố bảo: “Em có mệnh hệ gì thì ai lo cho mẹ, cho con”.

Anh nhường chị, chị nhường anh, họ cứ nhường từng viên thuốc cho nhau trong khi bệnh tình của hai người mỗi ngày một nặng.

Niềm an ủi duy nhất, hạnh phúc duy nhất của hai vợ chồng Dũng là bé Nguyễn Duy Minh xét nghiệm âm tính. Những ngày sau đó, hai vợ chồng Dũng cứ kìm nén nỗi khao khát được ôm thằng bé vào lòng. Anh thú thật với tôi rằng: “Nhiều khi nghĩ quẩn, mình và vợ muốn chết cho xong nhưng chỉ lo cho thằng bé, mẹ già…”.

Ban Chỉ huy Công an quận 11 và Ban Chỉ huy Đội CSHS của ba đã hết lòng an ủi và khuyên ba và mẹ bình tĩnh, có chuyện gì thì cơ quan hết lòng giúp đỡ, không được nghĩ quẩn, dù sao vẫn còn hy vọng là con…

Nhiều đêm thằng bé ngủ, anh chị muốn đặt môi vào đôi má bầu bĩnh của con nhưng rồi lại sợ, sợ lây nhiễm qua thằng bé, nỗi sợ vô hình cứ đẩy anh chị phải xa con nhỏ. Những giọt nước mắt của người mẹ nhiều đêm rớt lên đôi má con trẻ ấy. Chỉ tội cháu bé vô tư, thấy ba mẹ ở đâu là sấn vào bá vai ôm cổ, anh chị phải cắn răng kiên quyết từ chối tình cảm thiêng liêng ấy! Khi phát bệnh nặng, vợ chồng Dũng đã gửi hẳn bé Minh về ở bên ngoại.

Ngày 3/4/2005, phái đoàn của UBND quận 11 do bà Võ Thị Mỹ dẫn đầu xuống thăm ba và còn hứa giúp đỡ cho 1 căn nhà ở quận 11 để ba có điều kiện tiện đi chữa bệnh. Ba được an ủi phần nào, Đảng không bỏ ba, Nhà nước không bỏ ba, đồng đội không quên ba…

Ba chỉ tội cho mẹ của con…

Gia đình đồng chí Nguyễn Thành Dũng cũng mong chúng tôi thay lời, gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban Biên tập Báo CAND, đến độc giả của Báo CAND – Chuyên đề ANTG, những nhà hảo tâm đã giúp đỡ gia đình đồng chí Nguyễn Thành Dũng rất nhiều trong thời gian vợ chồng anh điều trị (sau bài viết đăng trên Chuyên đề ANTG).

Gia đình cũng chân thành cảm ơn Ban Biên tập Báo Công an TP Hồ Chí Minh, tờ báo đã nhận tài trợ học bổng cho cháu Nguyễn Duy Minh; Ban Biên tập và độc giả Báo Pháp luật, Báo Tuổi trẻ. Báo Tuổi trẻ cũng đã nhận nuôi dưỡng cháu Nguyễn Duy Minh.

Hồi ký của đồng chí Dũng kết thúc ở đây, những ngày cuối tháng 4, Dũng yếu lắm rồi, dù muốn viết thêm nhiều nữa nhưng Dũng cầm bút không nổi. Người thân của Dũng kể lại rằng: Những ngày sắp mất, nằm trong bệnh viện, Dũng muốn gặp bé Minh lắm nhưng Dũng sợ, ngày nào Dũng cũng gọi điện về nhà ngoại, chỉ để hỏi bé Bi ăn cơm chưa? Thèm nghe lắm một tiếng “Ba ơi”! Nhưng gần 6 tháng ròng rã, Dũng nén lòng và không một lần cho bé Minh lên bệnh viện thăm mình.

Lời tri ân cuối cùng

Đồng chí Nguyễn Thành Dũng trút hơi thở cuối cùng vào ngày 13/6/2006, sau 5 năm vợ chồng anh chống chọi với virus HIV từng giờ, từng phút cũng khốc liệt, cũng cam go như cuộc chiến đấu của anh và đồng đội với bọn tội phạm.

Ngày 14/6, Đại tá Lê Đông Phong – Phó Giám đốc Công an TP Hồ Chí Minh đã dẫn đầu đoàn đại biểu Công an thành phố về thắp hương viếng linh cữu đồng chí Nguyễn Thành Dũng. Trên quan tài anh, cờ đỏ sao vàng phủ kín. Sáng 15/6, đồng đội và người thân đã đưa Trung úy Nguyễn Thành Dũng về nơi an nghỉ cuối cùng, anh nằm lại sau một ngôi chùa, cạnh mộ vợ mình, mộ người vợ vẫn chưa kịp xanh cỏ…

Sáng 17/6, tôi và vài đồng nghiệp đã trở lại ngôi nhà xưa của anh Dũng ở xã Hưng Long, huyện Bình Chánh, thắp thêm một nén nhang, tôi đặt trang trọng lên bàn thờ anh tờ báo Chuyên đề ANTG số 562 có bài viết về anh, như một lời tri ân cuối cùng!

“Có cái chết hóa thành bất tử” – người viết xin mượn lời của nhà thơ Tố Hữu để thay lời kết. Đồng đội sẽ tiếp tục cuộc chiến đấu chống tội phạm, cái ác, tiếp tục sự nghiệp mà anh còn dang dở. Người thân và xã hội sẽ thay anh chị lo lắng cho đứa con nhỏ mồ côi của hai người…

========================
Theo CAND

VN cần chuẩn bị cho những bước đi ngang ngược hơn của TQ

Họ có thể sẽ cho lính giả làm dân ra xây dựng nhà giàn. Thậm chí có thể họ chiếm một đảo ở quần đảo Trường Sa của ta hiện nay để thử phản ứng của VN và thế giới ra sao.

Nguyên là Tổng lãnh sự Việt Nam tại Quảng Châu từ năm 1993 đến 1996 và làm việc, tìm hiểu Trung Quốc (TQ) trong nhiều năm, nhà nghiên cứu Dương Danh Dy là người rất am tường vấn đề TQ. Từ lâu nay ông đã lên tiếng về việc báo chí TQ tuyên truyền không đúng thực tế về Việt Nam.

Ông cũng cảnh báo rằng Việt Nam cần chuẩn bị cho những bước đi ngang ngược hơn của TQ. Trao đổi với Lao Động, ông nói:

– Nếu nói về chuyện tuyên truyền của TQ, tôi buộc phải nói rằng, hơn 30 năm qua, người dân TQ đã được truyền thông TQ nhuộm đen cách nhìn của họ về VN. Họ ngang nhiên nói rằng VN chiếm đất của họ, rồi Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam nhưng TQ nói rằng VN đã chiếm của họ, họ nói Việt Nam chiếm nguồn dầu khí của họ…

Cần hiểu những luận cứ của TQ về chủ quyền, 1986 để tranh thủ nhân dân Nhật Bản, thì chính tờ Nhân dân Nhật báo có bài viết công nhận rằng quần đảo Senkaku là của Nhật. Giờ họ mới lật lại là của TQ. Luận cứ của TQ đổi trắng thay đen, ngang ngược miễn là có lợi cho TQ. Tôi đã đến Hải Nam, chính là chỗ mà TQ gọi là chân trời góc biển trong sử sách của họ.

Từ 1949 thành lập Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, TQ làm gì có chỗ đứng ở biển Đông. Năm 1956, TQ thừa cơ nhân dịp Pháp rút lui, chưa kịp bàn giao nửa tây quần đảo Hoàng Sa cho chính quyền Sài Gòn thì họ mang quân ra chiếm. Tháng giêng năm 1974 khi được Mỹ bật đèn xanh, TQ mang quân chiếm nốt nửa phía đông Hoàng Sa từ tay chính quyền Sài Gòn.

Hoàn Cầu thời báo là của Nhân dân Nhật báo. Vậy phải chăng họ cố tình đưa ra những thông tin trái ngược để đánh lừa dư luận?

– Trung Quốc luôn có chuyện như vậy. Thời báo Hoàn Cầu là con đẻ của Nhân dân Nhật báo. Tân Hoa xã có Sina.com, mạng quân sự có mạng phụ là Trung Quân võng… Tất cả các mạng phụ này không từ điều gì khi nói về VN, thậm chí cả kế hoạch đánh chiếm VN. Rõ ràng họ đã được bật đèn xanh, làm đa số người đọc người dân TQ hiểu rằng VN là kẻ thù của TQ.

Từ việc cắt cáp tàu Bình Minh, mời thầu dầu khí trong thềm lục địa VN, thành lập thành phố Tam Sa… TQ đang ngày càng ngang ngược, bằng hành động với VN?

– Chúng ta phải tính trước các hành động của TQ. Họ có thể sẽ cho lính giả làm dân ra xây dựng nhà giàn. Thậm chí có thể họ chiếm một đảo ở quần đảo Trường Sa của ta hiện nay để thử phản ứng của VN và thế giới ra sao. Nếu không có vai trò các nước lớn, ASEAN không đoàn kết thì TQ có thể làm tất cả.

Hiện nay, TQ không được thế giới tán thành trên vấn đề biển Đông. TQ biết nếu làm quá TQ sẽ bị trừng phạt. Chính người TQ đã viết bài trên các mạng của họ với tiêu đề “Giả sử phương Tây cấm vận TQ lần nữa”. Họ nói nếu bị cấm vận, chỉ sau 3 năm là máy bay, tàu hỏa cao tốc của họ không có phụ tùng nhập khẩu để thay thế, không bay, không hoạt động được nữa, các ngành điện tử của họ sụp đổ vì phải dựa vào nhập khẩu…

Chúng ta đang thuận lợi, có ai ủng hộ TQ đâu. Đây là điều TQ phải suy ngẫm. Nhưng phải chuẩn bị họ sẽ có hành động cụ thể. Tôi rất ủng hộ lãnh đạo PVN nói, các phương tiện VN hợp tác với các nước đang thăm dò ở 9 lô TQ mời thầu vẫn hoạt động bình thường. Phải có sự tự tin thì mới hoạt động bình thường chứ.

Thưa ông, VN có thể dựa vào những yếu tố gì để tự tin?

– Bây giờ VN chưa giàu nhưng GDP 100 tỉ USD, thu nhập bình quân hơn 1.000USD. VN có quan hệ ngoại giao, làm ăn hợp tác với gần 150 nền kinh tế, quân đội của ta giờ trang bị cũng khác trước, ta có tàu ngầm, tên lửa, máy bay hiện đại…

Tại sao TQ chỉ trích việc máy bay Sukhoi của ta tuần tra ở Trường Sa? Vì đó là máy bay rất hiện đại. Chúng ta còn yếu tố thiên thời địa lợi. TQ thừa nhận máy bay hiện đại nhất của họ vừa đến Trường Sa phải bay về nếu không tiếp dầu. Người TQ phải công nhận rằng đánh chiếm Trường Sa thì dễ, nhưng giữ Trường Sa vô cùng khó.

Nếu xung đột trên biển Đông, tàu TQ chở dầu từ Trung Đông về gặp khó khăn. TQ mỗi năm nhập hơn 200 triệu tấn dầu. Họ cố thảo luận với Ấn Độ mở thêm một đường nữa miễn không phải qua biển Đông nhưng chưa được. Họ khoe có 3 triệu quân thường trực, 10 triệu dự bị, có thể huy động 100 triệu thanh niên. Nhưng nếu họ không được rèn luyện thử thách, và đặc biệt họ chiến đấu không vì chính nghĩa, thì đó là lợi thế của chúng ta.

Không ai muốn xung đột ở biển Đông. Nhưng cần nhớ biển Đông không chỉ là bá quyền, mà là lợi ích sống còn của TQ. Và phải nói sòng phẳng, chủ quyền không phải là vấn đề nhân nhượng, mặc cả được. Phải chuẩn bị tư tưởng cao nhất nếu TQ có bước tiến xa nữa. Trong thế giới hội nhập này, khi luật pháp được nêu lên thì TQ vẫn phải tôn trọng. Nhưng vẫn xin nhắc lại, bài học lịch sử cho thấy ta phải đề phòng khả năng xấu nhất.

TQ đang tăng cường sức mạnh quân sự, nhưng chúng ta cũng đang mở rộng hợp tác với các nước?

– TQ chuẩn bị rất kỹ lưỡng. Từ khi chưa đứng chân trên biển Đông thì TQ đã bành trướng trên giấy, đã đặt tên hết các đảo rồi. Giờ đây họ xây dựng sân bay trên đảo Phú Lâm mà họ coi là thủ phủ của cái họ gọi là Tam Sa, đóng hàng không mẫu hạm, tuyên bố đấu thầu các đảo không có người ở… Chúng ta cũng phải chuẩn bị kỹ lưỡng cả về kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao. Chỉ khi nào chúng ta mạnh, tỏ rõ quyết tâm thì TQ mới coi trọng.

Chẳng hạn, ta có thể học tập điều mà Nga đã làm với Mỹ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai: Ký hợp đồng thuê mượn tàu của Mỹ. Nếu ta thuê thiết giáp hạm, khu trục hạm, vận động người Mỹ gốc Việt là sĩ quan hải quân giúp vào, trên biển Đông VN sẽ có tư thế khác.

– Xin cảm ơn ông!

“Nếu không có vai trò các nước lớn, ASEAN không đoàn kết thì Trung Quốc có thể làm tất cả”.

Ông Dương Danh Dy

MỸ HẰNG (LAO ĐỘNG ONLINE)

Người dân Trung Quốc đang bị kích động

TT – Tại sao ở Trung Quốc liên quan đến vấn đề biển Đông lại xuất hiện dư luận hiếu chiến đến mức mù quáng, bất chấp lẽ phải và sự thật, bất chấp luật pháp quốc tế? Kết quả của một cuộc thăm dò của Thời báo Hoàn Cầu.

Tàu Trung Quốc tuần tra trên biển Đông – Ảnh: Mạng quân sự Trường Giang

Kết quả của một cuộc thăm dò do Thời báo Hoàn Cầu thực hiện với gần 1.500 người ở Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Thành Đô, Tây An, Thẩm Dương… cho thấy rõ điều này. Gần 80% ủng hộ Trung Quốc “sử dụng vũ lực để đập tan các hành động gây hấn và xâm phạm” trên biển Đông. Chỉ vỏn vẹn 16,6% là nói không.

Thử khảo sát trên các trang Weibo… của cư dân mạng Trung Quốc cũng dễ dàng nhận thấy một dư luận tương tự. Rất nhiều ý kiến đòi chính quyền tuyên chiến trên biển Đông. “Không có chỗ cho đàm phán khi xét đến vấn đề lãnh thổ. Một cuộc chiến có thể đem lại 10 năm hòa bình” – một người viết. Người khác lại thẳng thừng: “Tôi ủng hộ việc bắn phá Philippines”. Nhiều người còn chỉ trích chính quyền Trung Quốc là hèn nhát, không dám bảo vệ đất nước. Đa số khẳng định căng thẳng trên biển Đông là “âm mưu thâm độc” do Mỹ dàn dựng để chống Trung Quốc…

Tâm lý nạn nhân

Tất nhiên, ở Trung Quốc vẫn còn có những người tử tế, biết tôn trọng lẽ phải và sự thật, biết yêu đất nước mình và tôn trọng quyền lợi chính đáng của những nước khác như hội thảo “Chủ quyền quốc gia và quy tắc quốc tế” do Viện Nghiên cứu kinh tế và báo mạng Tân Lãng tổ chức mới đây đã cho thấy. Thế nhưng những tiếng nói như vậy còn ít ỏi và lẻ loi, thậm chí đang có nguy cơ bị xem là “những kẻ phản quốc”. Nguyên văn tuyên bố của thiếu tướng quân đội Trương Châu Trung như sau: “Có hơn 1 triệu kẻ phản quốc ở Trung Quốc. Một số học giả là do Mỹ đào tạo, đọc sách Mỹ, chấp nhận quan niệm Mỹ và họ đang giúp Mỹ chống Trung Quốc”.

Tại sao dư luận Trung Quốc lại mù quáng, bất chấp đạo lý và lẽ phải đến như vậy? Câu trả lời dễ nhận ra là do người dân đã bị “tẩy não” và bị “đầu độc” hằng ngày hằng giờ những điều sai lệch.

Các phương tiện truyền thông Trung Quốc, điển hình nhất là tờ Thời báo Hoàn Cầu, thường xuyên cáo buộc Việt Nam và Philippines là “kích động”, “gây hấn” trên biển Đông và đòi chính quyền Bắc Kinh phải phát động “một cuộc chiến tranh quy mô nhỏ” chống lại các quốc gia Đông Nam Á. Giới tướng lĩnh quân đội Trung Quốc (PLA) liên tục đe dọa sẽ trừng trị các nước láng giềng.

Sách giáo khoa của học sinh tiểu học và trung học đều khẳng định cực nam lãnh thổ Trung Quốc là quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Các bản đồ chính thức của Trung Quốc cũng vẽ lãnh thổ Trung Quốc kéo dài tới tận Trường Sa.

Tất nhiên, sách giáo khoa Trung Quốc đã lờ tịt việc hải quân nước này đánh chiếm bất hợp pháp quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào năm 1974. Giới “học giả” Trung Quốc cứ ra rả một luận điệu dối trá khi nhấn mạnh trước thập niên 1970 không hề có cái gọi là “vấn đề biển Đông” do “biển Đông thuộc quyền quản lý của Trung Quốc”.

Trung Quốc hiện có một số tổ chức lớn chuyên nghiên cứu về biển Đông như Viện Hàng hải Trung Quốc, Viện Nghiên cứu Nam Hải, Học viện Khoa học xã hội, Viện Quan hệ quốc tế đương đại… Các “học giả” và “chuyên gia” của các tổ chức này, thông qua các hội nghị, hội thảo, diễn đàn, đều chung một luận điệu dối trá cho rằng khu vực được quy định bởi “đường chín đoạn” là thuộc chủ quyền lịch sử của Trung Quốc.

Phân tích dư luận của Trung Quốc về vấn đề biển Đông, nghiên cứu của Tổ chức Khủng hoảng quốc tế (ICG) cho rằng nguyên nhân là do chính quyền Bắc Kinh đã “tẩy não” người dân nước mình ngay từ khi họ còn là những đứa trẻ và “đầu độc” họ hằng ngày, nên người dân luôn tin rằng toàn bộ biển Đông là của Trung Quốc. Hằng ngày họ liên tục tiếp nhận những thông tin méo mó, dối trá qua các phương tiện thông tin. Do đó, niềm tin này càng trở nên mạnh mẽ đến mức họ coi các quốc gia khác là kẻ gây hấn, còn Trung Quốc là người vô tội.

Tâm lý của kẻ bị vây hãm

Vẫn theo ICG, trong vấn đề biển Đông, chính quyền Trung Quốc đã kích động một tâm lý dân tộc cực đoan bằng cách mô tả Trung Quốc là “nạn nhân” của các quốc gia xung quanh, là “kẻ yếu thế” trong các tranh chấp trên biển Đông. Chẳng hạn, báo chí Trung Quốc thường đưa tin theo kiểu: “Có hơn 1.000 giàn khoan dầu trên biển Đông và bốn sân bay ở Trường Sa, nhưng không có một cái nào là của Trung Quốc”.

Việc Mỹ tuyên bố trở lại châu Á càng là cơ hội để truyền thông Trung Quốc tô đậm “tâm lý nạn nhân” này, đẩy nó lên thành “tâm lý của kẻ bị vây hãm” bởi “những thế lực chống Trung Quốc” ở bên ngoài, và Trung Quốc đang phải tả xung hữu đột để chống đỡ và cố thoát ra tình trạng bị bủa vây này. Tất nhiên, như ICG vạch rõ, bằng cách này các cơ quan và chính quyền địa phương ở Trung Quốc mới có thể lợi dụng để thực hiện những ý đồ riêng. Họ thường công khai chỉ trích các quốc gia khác để gây sức ép buộc chính quyền Bắc Kinh hỗ trợ thêm nguồn lực. PLA cũng lợi dụng tranh chấp ở biển Đông để mở rộng ngân sách quốc phòng.

Chính do những thứ tâm lý này, các giọng điệu hiếu chiến luôn chiếm ưu thế trước quan điểm ôn hòa trong dư luận Trung Quốc. Cũng chính vì tự thổi ngọn lửa dân tộc cực đoan, chính quyền Bắc Kinh lại luôn bị áp lực phải thể hiện bộ mặt cứng rắn để không bị xem là yếu thế mỗi khi đề cập đến vấn đề biển Đông. Một số học giả nhận định chính Bắc Kinh đã “tự tạo ra một con quái vật mà nó sẽ khó lòng kiểm soát”.

SƠN HÀ – ĐÔNG PHƯƠNG

Xem thêm nhiều bài báo tại Tuổi Trẻ

Xem hồ sơ Trung Quốc mở thầu phi pháp trên biển Đông: “Công ty nước ngoài không tham gia gói thầu Trung Quốc” I Thượng nghị sĩ Mỹ: Các lô dầu khí là của Việt Nam I Trung Quốc tự xóa sạch cam kết I Trung Quốc mời thầu phi pháp: Ngang ngược và tráo trở I Bắc Kinh “diễn trò chính trị” I Hội Luật gia VN phản đối TQ mời thầu sai trái I Trung Quốc đang bành trướng I Vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam I “Khu vực Trung Quốc mời thầu thuộc chủ quyền Việt Nam” | Trao công hàm phản đối Trung Quốc mời thầu phi pháp | Trung Quốc mời thầu tại thềm lục địa VN là phi pháp I Trung Quốc mời thầu 9 lô dầu khí trên biển Việt Nam

Những bí ẩn chưa thể giải mã của thế giới cổ đại

Sự mất tích của kho vàng Inca hay sự “bay hơi” của thành phố Atlantis là những bí ẩn có từ lâu nhưng vẫn chưa có lời giải.

Sự mất tích của vàng Inca

Truyền thuyết này bắt đầu từ thế kỷ 16, khi Đế chế Inca bị người châu Âu xâm lược. Tướng chỉ huy người Tây Ban Nha tên Francisco Pizarro bắt giữ một vị vua Inca tên Atahualpa. Tướng Pizarro hứa sẽ thả vua Atahualpa nếu nhà vua chịu đưa cho ông ta một số vàng ngoài sức tưởng tượng.

Thần dân của vua Atahualpa thu thập tất cả số vàng họ có thể tìm thấy. Một nửa số vàng được giao cho Pizarro nhưng trước khi giao một nửa còn lại, người dân yêu cầu tướng Pizarro phải giữ đúng lời hứa thả vua Atahualpa.

Nhiều nguồn tin cho rằng, những cận thần trung thành với vua Atahualpa chôn kho báu trong một hang núi và kho báu được cho là vẫn ở đó cho đến ngày nay.

Nhiều người cố gắng để tìm kiếm kho báu này. Vào năm 1886, Barth Blake tuyên bố rằng ông tìm thấy kho báu Inca huyền thoại. Ông viết: “Có hàng ngàn đồng tiền vàng cũng như những chế tác thủ công mỹ nghệ bằng vàng và bạc, những tác phẩm nghệ thuật đẹp nhất mà con người không thể tưởng tượng nổi”.

Ông cũng mô tả “những bình vàng đầy ắp ngọc lục bảo” và những bức tượng khổng lồ được làm hoàn toàn bằng vàng. Ông Blake lên kế hoạch sẽ gây quỹ cho một chuyến thám hiểm quy mô lớn trên vùng đất này nhưng thật không may ông đã chết trên biển trước khi có cơ hội thực hiện kế hoạch của mình. Kể từ đó, nhiều người tuyên bố nhìn thấy vùng đất huyền thoại này – nơi chôn giấu kho báu nhưng không có bằng chứng hữu hình nào tồn tại.

Thành phố vàng El Dorado

El Dorado là một thành phố Nam Mỹ huyền thoại được làm hoàn toàn bằng vàng. Truyền thuyết xuất hiện vào thế kỷ 16 và 17 cùng với sự phát triển của thế giới mới.

Nhiều người mạo hiểm đi vào vùng hoang dã của Nam Mỹ để tìm kiếm thành phố này nhưng hầu hết các cuộc thám hiểm đều kết thúc trong bi kịch. Một nhà thám hiểm mất con trai của mình trong khi tìm kiếm thành phố El Dorado huyền thoại. Sau đó, do mặc cảm tội lỗi về cái chết của con trai, ông cũng tự sát.

Trong thực tế, huyền thoại này không có nguồn gốc rõ ràng. Khi những nhà thám hiểm Tây Ban Nha lần đầu tiên đặt chân lên thế giới mới, họ được người dân trong các bộ tộc khác kể về một vị vua ném thần dân của mình cùng đồ trang sức quý giá xuống hồ Guatavita để xoa dịu vị thần sống trong hồ.

Người Tây Ban Nha cố gắng tát nước từ chính chiếc hồ đó và tìm thấy một ít vàng nhưng không thể tát cạn nước hồ để lấy được số vàng lớn được cho là nằm sâu dưới đáy nước.

Đây là một truyền thuyết lâu đời và nhiều người vẫn kể những câu chuyện xung quanh thành phố huyền thoại được làm bằng vàng này. Mặc dù những câu chuyện không hề logic nhưng nhiều người vẫn muốn tin rằng có một thành phố được làm bằng vàng.

Họ tin rằng, họ sẽ có cơ hội sống sót để tìm được sự giàu có vượt ra ngoài những giấc mơ ngông cuồng nhất của họ dựa vào một thành phố đã mất tích từ lâu.

Thành phố huyền thoại Atlantis

Câu chuyện về sự biến mất của Atlantis là một trong những truyền thuyết vẫn còn tồn tại trong nhiều thế kỷ. Nguồn gốc của các truyền thuyết về Atlantis bắt nguồn từ câu chuyện của nhà triết học Hy Lạp Plato.

Câu chuyện kể về một thành phố tuyệt vời được tạo ra bởi cuộc đua tranh giữa thần và người. Nơi đây là quê hương của các động vật hoang dã kỳ lạ và có nền văn minh rực rỡ nhất.

Plato kể câu chuyện tuyệt vời này vào năm 360 trước Công nguyên và câu chuyện vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay.


Hầu hết các học giả tin rằng câu chuyện của Plato chỉ đơn thuần là câu chuyện triết học hay câu chuyện ngụ ngôn với ngụ ý xã hội văn minh không bao giờ thực sự chinh phục được thiên nhiên, nhưng một số người lại tin rằng Atlantis là có thực.

Có nhiều giả thuyết được đưa ra về vị trí chính xác của thành phố Atlantis, có thể là bắt đầu từ giữa Đại Tây Dương cho đến hết biển Địa Trung Hải.

Khả năng tồn tại của thành phố Atlantis cổ đại không phải là không thực tế, bởi lẽ các thành phố cổ đại cũng như các thành phố hiện đại ngày nay liên tục bị tàn phá bởi lũ lụt và các vụ phun trào núi lửa. Chính vì thế nên việc tồn tại một thành phố lớn như Atlantis có thể là có thực.

Đầu lâu pha lê

Huyền thoại có chút khác biệt so với các huyền thoại khác bởi vì những chiếc sọ pha lê là những hiện vật có thực, nhưng mục đích sử dụng của chúng vẫn còn là một bí ẩn.

Những chiếc sọ này thậm chí không phải là hiếm, nhưng những tàn dư còn sót lại này từ một nền văn minh cổ đại thì quả là bí ẩn.

Những hộp sọ được tìm thấy tất cả ở Mexico và một số nhà khảo cổ học cho rằng chúng đã được chạm khắc hàng chục ngàn năm trước bởi một nền văn minh Trung Mỹ cổ đại.


Những chiếc đầu lâu bí ẩn này là gì? Một số người tin rằng chúng là những đồ tạo tác từ Atlantis còn những người khác lại cho rằng các đầu lâu pha lê là bằng chứng về việc người ngoài hành tinh đến thăm trái đất trong quá khứ.

Nhiều người trong thời đại mới tin rằng chiếc sọ có năng lực siêu nhiên, có thể nâng cao khả năng tâm linh và chúng cũng có khả năng chữa bệnh.

Núi trường sinh bất lão

Nhiều nền văn hóa có truyền thuyết tương tự với câu chuyện về núi trường sinh bất lão. Có tin đồn cho rằng khi vua Alexander Đại đế cận kề cái chết, ông đã truy tìm một dòng sông huyền thoại mà có thể khiến con người trẻ lại.

Ngoài ra ở Châu Âu cũng còn tồn tại huyền thoại kể về một vị vua vĩ đại, người cai trị một vương quốc đem lại cho bạn sự trường sinh bất lão.

Với việc khám phá thế giới mới vào thế kỷ 16, nhiều người đã bị hấp dẫn bởi hàng loạt vùng đất mới này và các huyền thoại về núi trường sinh bất lão lại một lần nữa trở nên phổ biến.

Trong thời gian này, núi trường sinh bất lão được cho là nằm ở Châu Mỹ. Do vậy nhà thám hiểm người Tây Ban Nha Juan Ponce de Leon nổi tiếng đã tìm kiếm ngọn núi này ở nơi mà trở thành St Augustine, Florida ngày nay.

Điều kỳ lạ là không hề có hồ sơ ghi chép chi tiết về cuộc thám hiểm của Leon ở Florida. Điều này đã khiến nhiều học giả tin rằng câu chuyện huyền thoại này là do de Leon hoặc do một số người cùng thời với de Leon dựng lên.

Tuy nhiên, huyền thoại đó vẫn tồn tại và phổ biến hơn bao giờ hết. Tại Florida có một địa điểm thu hút khách du lịch được tuyên bố là núi trường sinh bất lão. Đáng buồn thay, những người uống nước ở đây lại không thể trở nên bất tử như trong huyền thoại.