Tag Archive: bien dao


Để thực hiện nhiệm vụ mà Bộ Quốc phóng giao phó, ngày 7/11/1987, Tư lệnh Quân chủng Không quân ra lệnh cho Sư đoàn 372 cơ động một phi đội Su-22 (Trung đoàn 923) vào sân bay Phan Rang để huấn luyện làm quen với khu vực chiến đấu. Đồng thời, hiệp đồng với Vùng 4 Hải quân sẵn sàng chiến đấu, đánh địch trên biển.

GIẢI MẬT QUÁ TRÌNH ĐIỀU ĐỘNG SU-22 BẢO VỆ TRƯỜNG SA

Tiêm kích – bom Su-22

Từ cuối những năm 1980 tới nay, những chiếc Su-22M/M4 luôn giữ vai trò là chiến đấu cơ chủ lực bảo vệ Quần đảo Trường Sa.

Cuối những năm 1980, tình hình chủ quyền biển đảo trở nên căng thẳng. Trước tình hình này, ngày 6/11/1987, Bộ Quốc phòng ra lệnh bảo vệ quần đảo Trường Sa, quy định nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ quần đảo cho Tư lệnh Quân chủng Hải quân, Không quân, Phòng không và Binh chủng Thông tin Liên lạc. Trong đó, Hải quân và Không quân được coi là lực lượng nòng cốt làm nhiệm vụ bảo vệ chi viện cho đơn vị trên đảo.

Lần đầu ra Trường Sa

Để thực hiện nhiệm vụ mà Bộ Quốc phóng giao phó, ngày 7/11/1987, Tư lệnh Quân chủng Không quân ra lệnh cho Sư đoàn 372 cơ động một phi đội Su-22 (Trung đoàn 923) vào sân bay Phan Rang để huấn luyện làm quen với khu vực chiến đấu. Đồng thời, hiệp đồng với Vùng 4 Hải quân sẵn sàng chiến đấu, đánh địch trên biển.

Trường Sĩ quan Chỉ huy – Kỹ thuật Không quân được lệnh phối hợp với Sư đoàn 372 tổ chức chuyển sân, triển khai sở chỉ huy tiền phương, bảo đảm phương tiện chỉ huy, dẫn đường trong huấn luyện và chiến đấu.

Ngày 14/11/1987, phi đội Su-22 đã bay từ Thọ Xuân vào Phan Rang. Từ ngày 21/11, sư đoàn 372 tổ chức trực ban chiến đấu và huấn luyện bay biển cho phi công lái Su-22 tại sân bay Phan Rang.

Ngoài đơn vị Su-22, một bộ phận máy bay vận tải chiến thuật An-26 cũng được cơ động vào Nam để trinh sát chụp ảnh, chở quân tiếp viện, thả dù hàng…

Sau thời gian dài huấn luyện, đầu năm 1988, máy bay Su-22UM do Phi đội trưởng Vũ Xuân Cương điều khiển đã thực hiện thành công chuyến bay từ Phan Rang ra Trường Sa. Đây là lần đầu tiên, máy bay chiến đấu của Không quân Nhân dân Việt Nam bay ra tuần tiễu Trường Sa.

Sẵn sàng đánh chìm tàu địch

Ngày 24/4/1988, Quân chủng Không quân điều thêm 3 chiếc Su-22M từ Thọ Xuân vào Phan Rang. Cuối tháng 6/1988, Quân chủng Không quân điều tiếp 10 chiếc Su-22M vào Phan Rang.

Sư đoàn 372 tổ chức sở chỉ huy tiền phương tại Phan Rang, hiệp đồng với Vùng 4 Hải quân và Binh đoàn 17.

Ngày 10/6/1988, Tư lệnh Không quân phê duyệt lại kế hoạch triển khai nhiệm vụ bảo vệ và chi viện quần đảo Trường Sa.

Theo đó, kế hoạch đề ra là sử dụng các lực lượng hiện có gồm các loại máy bay tiêm kích (MiG-21bis), tiêm kích – bom (Su-22M), vận tải (An-26), trực thăng (Mi-8, Ka-25/28) thực hiện 4 nhiệm vụ: bay trinh sát, vận chuyển đường không, đánh các mục tiêu trên biển và trên đảo, tiêm kích bảo vệ đội hình chiến đấu Không quân – Hải quân, hiệp đồng chặt chẽ với Quân chủng Hải quân và Phòng không bảo vệ Trường Sa.

Ngày 24 và 28/6/1988, các kíp trực dẫn đường Sư đoàn 372 và Trung đoàn 923 đã phối hợp chặt chẽ thực hiện dẫn thành công 2 đôi Su-22M lần lượt bay ra đảo Trường Sa và An Bang. Đây là chuyến bay đầu tiên của Su-22M do các phi công Trung đoàn 923 độc lập thực hiện.

Từ 24-29/10/1988, Tư lệnh Quân chủng sử dụng một phần lực lượng không quân phía Nam tham gia đợt diễn tập chi viện quần đảo Trường Sa (mang tên CV-88) trong tác chiến phòng thủ.

Địa điểm diễn tập là căn cứ Phan Rang, Cam Ranh và vùng biển hai tỉnh Phú Khánh – Thuận Hải. Lực lượng tham gia có: phi đội Su-22M (Trung đoàn 923), 2 trực thăng Mi-8 (Trung đoàn 917), 2 vận tải cơ An-26 (Trung đoàn 918)…

Trong cuộc diễn tập CV-88: phi đội Su-22M luyện tập phương án tấn công tiêu diệt và ngăn chặn đội hình tàu hải quân đối phương trên biển, chi viện yểm hộ cho tàu hải quân ta phản công chiếm lại đảo; tiêm kích MiG-21 hộ tống bảo vệ đội hình tàu hải quân và phi đội Su-22M; máy bay An-26 làm nhiệm vụ trinh sát, chụp ảnh, chuyển quân và Mi-8 tìm kiếm cứu nạn…

Su-22M ra Bắc, Su-22M4 ra biển

Bước sang năm 1989, lực lượng chiến đấu cơ bảo vệ Trường Sa tiếp tục được tăng cường thêm lực lượng.

Ngày 3/3/1989, Trung đoàn tiêm kích – bom 937 (Sư đoàn 372) tiếp nhận 4 chiếc Su-22M4 đầu tiên tại Đà Nẵng và tổ chức chuyển sân về Phan Rang. Su-22M4 là biến thể được sản xuất cuối cùng của dòng máy bay Su-22 với những cải tiến đáng kể trong hệ thống điện tử.

Từ ngày 17/4/1989, trung đoàn 937 tổ chức bay huấn luyện phi công. Cuối tháng 8/1989, 7 chiếc Su-22M4 được cơ động chuyển sân ra Thọ Xuân thực hiện bắn thử vũ khí mới.

Ngày 19/10/1989, tiêm kích – bom Su-22M4 do phi công Vũ Kim Điển và Nguyễn Văn Thận (Trung đoàn 937) hoàn thành xuất sắc chuyến bay nhiệm vụ đầu tiên ra Trường Sa. Cuối tháng 10/1989, Su-22M4 thực hiện thành công cuộc bắn đạn thật tại trường bắn Hòn Tý.

Sau khi hoàn thành đầy đủ công tác huấn luyện chiến đấu cho phi công, ngày 20/12/1989, Trung đoàn 937 được Tư lệnh Quân chủng giao nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ quần đảo Trường Sa và vùng kinh tế biển phía Nam thay cho Trung đoàn 923 trở lại Thọ Xuân – bảo vệ miền Bắc.

Từ 1989 tới nay, những chiếc Su-22M4 đảm nhiệm vai trò chính trong nhiệm vụ bay tuần tra, bảo vệ Trường Sa. Dù, hiện nay, các máy bay tiêm kích đa năng Su-27/30 hiện đại hơn của Không quân Nhân dân Việt Nam đủ khả năng thực hiện chuyến bay tuần tiễu Trường Sa. Nhưng trong tương lai gần, “đôi cánh ma thuật” Su-22M4 vẫn đóng vai trò quan trọng trong nhiệm vụ thiêng liêng tổ quốc giao phó.

Phượng Hồng [LG]

ẢNH: Tiêm kích – bom Su-22 có khả năng vươn tới Trường Sa, hỏa lực máy bay tương đối mạnh với vũ khí điều khiển có thể đánh chìm tàu chiến lớn đối phương

Advertisements

Yêu nước là gì? Yêu nước như thế nào?

 

Đối với em, yêu nước xuất phát từ tình yêu gia đình, dòng tộc, yêu cha mẹ và những năm tháng tuổi thơ sống trong yên bình dưới mái nhà nơi làng quê, yêu xóm giềng, yêu cả những khuôn mặt người quen nơi đồng đất quê nhà. Đi tha phương cả bốn phương trời, kết giao với đủ bạn bè, bằng hữu, tham gia đủ mọi mỗi quan hệ giản đơn cũng như phức tạp để biết rằng sẽ không ai yêu thương ta, hi sinh vì ta vô điều kiện và sẵn sàng như cha mẹ, anh chị em. Gia đình là tình yêu thiêng liêng đầu đời, cũng là cái nôi đầu tiên giúp ta nuôi dưỡng lý tưởng. Nếu một ngày có phải chiến đấu, phải hi sinh cho tổ quốc, cũng sẵn lòng vì tổ quốc phải đâu là khái niệm quá xa vời, tổ quốc chính là nơi có mẹ cha, có gia đình, dòng tộc, những bạn bè, những người quen thân, tổ quốc là một phần máu thịt.

 

Yêu nước là yêu quê hương. Quê em nghèo, chênh vênh trên những mảnh đồi bát úp hướng ra sông Lục Nam. Mỗi tháng 7 nước lên, đồng quê lại mênh mông thành biển nước, con sông nhỏ như dòng kênh vào mùa xuân giờ cuộn cuộn sóng liếm lên tận cổng nhà. Càng khôn lớn, càng đi xa để hiểu nhiều, biết nhiều em càng khao khát được về chạy giữa cánh đồng quê, được nằm vóng mắc trước sân nhà ngửa mặt lên trời nhìn trăng sao vằng vặc. Quê hương thành mảnh đất thiêng liêng, thành nỗi nhớ thiết tha cho mỗi đứa con tha phương. Còn quê hương là còn một chốn để trở về sau hết thảy những rốt ráo bộn bề vinh nhục. Quê hương như mẹ, không bao giờ chối bỏ những đứa con.

 

Yêu nước là yêu dân tộc Việt, dòng máu Việt. Yêu nước là biết đau thương, xót xa và chia sẻ với đồng bào mình. Yêu nước là biết đau lòng vì Miền Trung mỗi mùa lũ lụt lại có mất mát, lại có đói khát thảm thương. Yêu nước là xót xa khi thấy đồng bào mình cơm đói áo lạnh trên những rẻo cao mùa đông khắc nghiệt. Yêu nước là biết buồn cho những phận người ĐBSCL trồng lúa nhiều nhất cả nước mà vẫn đói nghèo, vẫn thất học vì từng bữa chạy ăn. Đối với em, yêu nước là yêu dân tộc.

 

Yêu nước cũng là biết sống có trách nhiệm hơn, cả trong suy nghĩ và trong hành động. Mọi tình yêu cuồng dại và mù quáng đều dẫn đến bi kịch, yêu nước cũng thế. Ai yêu nước thì hãy cố gắng hiểu nhiều hơn về nước mình để biết lợi biết hại, biết giữ cho trái tim nóng mà cái đầu thì nguội bớt những suy nghĩ ngông cuồng. Yêu nước không phải là mù quáng xả thân mình cho những phiêu lưu nguy hiểm và viển vông hay chỉ biết kêu gào yêu nước bằng máu xương của người khác. Trong suy nghĩ của em, yêu nước giản đơn là làm tốt công việc của mình, sống tốt bổn phận của mình và sẵn sàng đáp lời khi tổ quốc thật sự cần. Cuộc sống đã phân công sẵn cho mỗi con người những việc phải làm, những vị trí phải đảm nhận, khi hòa bình, làm tốt trách nhiệm ấy cũng đã là yêu nước, khi tranh đấu, đâu đâu cũng là mặt trận, hãy cố gắng cống hiến thật nhiều dù đang ngoài tuyến lửa hay đang ở hậu phương.

 

Yêu nước là biết trân trọng lịch sử, biết tự hào rằng mảnh mình sống hôm nay đã đổi bằng máu xương của biết bao thế hệ cha anh, bằng mất mát của cả một dân tộc suốt những tháng năm trường kỳ kháng chiến. Yêu nước là khắc cốt ghi tâm rằng một tấc đất non sông, một ngày tháng hòa bình, độc lập và tự chủ mà chúng ta đang hưởng là thành quả, là nỗ lực phi thường của cả một dân tộc, là sự đánh đổi bằng sự hi sinh của cả triệu thanh niên mang dòng máu Lạc Hồng đã nằm lại với chiến trường. Việt Nam là dân tộc yêu chuộng hòa bình, lịch sử dân tộc mình là lịch sử dựng nước và giữ nước, sức mạnh phi thường của dân tộc đến từ lòng yêu nước, tinh thần chính nghĩa và tình đoàn kết đồng bào máu mủ ruột già. Nếu yêu nước, xin hãy giữ bài học lịch sử ấy làm lòng.

 

Yêu nước xin hãy biết gạt bỏ những định kiến cá nhân để đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Hãy nhớ rằng có giữ được nước mới có cơ sở để mà xây dựng được một đất “đàng hoàng hơn” “to đẹp hơn”, công bằng hơn, tốt đẹp hơn như các bạn vẫn thường mong. Yêu nước là biết quan tâm đúng mực đến vận mệnh của dân tộc, là biết trân trọng hòa bình, gìn giữ hòa bình nhưng cũng sẵn sàng đứng lên để bảo vệ hòa bình cho tổ quốc thân yêu.

 

Em đang sống những tháng năm lãng mạn nhất của một đời người: Tuổi đôi mươi. Bao nhiêu những người trẻ như em cũng đang sống với nhiệt huyết, với tham vọng, vơi bao nhiêu dự định còn đang toan tính dở dang. Chúng ta nuôi những giấc mộng khác nhau, sống với lý tưởng khác nhau và quan điểm cũng khác nhau rất nhiều, nhưng chắc chăn lòng yêu nước và quyết tâm bảo vệ tổ quốc trong mỗi chúng ta là điều không hề khác.

 

 

sưu tầm facebook. [https://www.facebook.com/bmmua]

DK1 23 tuổi: Còn nhà giàn là còn biển

TT – Ngày 5-7-2012 là ngày kỷ niệm 23 năm thành lập cụm nhà giàn DK1. “Sinh nhật” nhưng mọi sinh hoạt của các cán bộ, chiến sĩ tại nhà giàn cũng như ban chỉ huy vẫn diễn ra bình thường.

Đoàn đại biểu TP.HCM đến thăm cán bộ, chiến sĩ trên nhà giàn DK1/15 vào tháng 4-2012 – Ảnh: MINH ĐỨC

“Vì là năm lẻ mà” – thiếu tá Nghiêm Xuân Thái, chính trị viên phó tiểu đoàn DK1, cười nói khi tiếp đoàn đại diện báo Tuổi Trẻ đến thăm hỏi, chúc mừng.

Món quà lần này báo Tuổi Trẻ đại diện bạn đọc ở đất liền mang đến DK1 là những chiếc tủ đông. Trong đợt thăm nhà giàn gần nhất vào tháng 5-2012, các chiến sĩ nhà giàn đã thổ lộ mong muốn có được chiếc tủ đông để trữ thức ăn tươi, sau khi những tấm pin mặt trời đã cung cấp đủ điện cho các sinh hoạt thường ngày.

“Trước khi có chương trình Thắp sáng nhà giàn của Tuổi Trẻ, chúng tôi thật là trăm bề khổ” – trung tá Dương Thế Đường, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn DK1, nhắc. Những câu chuyện cũ ùa về: những ngày không đủ điện, không ánh sáng, không phương tiện giải trí, để duy trì liên lạc có khi tàu phải chở máy phát điện đi từ nhà giàn này sang nhà giàn kia, lại có khi tàu đi rồi phải quay lại vì máy phát thiếu tay quay…

Chuyện như từ ngày xưa nhưng thật ra chỉ mới đây thôi, trước tháng 5-2009, trước sinh nhật lần thứ 20 của nhà giàn, trước khi Tuổi Trẻ phát động chương trình Chung tay thắp sáng nhà giàn DK1.

15 nhà giàn DK1, những căn nhà treo trên cọc thép đang lần lượt được sửa chữa, nâng cấp để tiếp tục trụ vững với nhiệm vụ làm cột mốc chủ quyền của Việt Nam giữa biển Đông. 23 năm, đã có chín cán bộ, chiến sĩ hi sinh khi bảo vệ nhà giàn và hàng trăm cán bộ, chiến sĩ khác vẫn đang ngày đêm bám trụ giữa nắng gió, mưa bão và những căng thẳng chính trị.

“Hôm rồi đổi quân, có nhiều anh em xung phong ở lại không về” – trung tá Đường kể trong câu chuyện. Hết chuyện cũ đến chuyện mới, không thể không nhắc về những bất ổn trên biển Đông những ngày gần đây, các sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn DK1 khẳng định: “Các chiến sĩ của chúng tôi trên nhà giàn coi như treo trên biển, chân không đạp đất nhưng đầu đội trời Việt Nam. Dù có việc gì xảy ra, chúng tôi không có chọn lựa nào khác ngoài việc bảo vệ nhà giàn, bảo vệ biển Việt Nam. Còn người là còn nhà giàn, còn nhà giàn là còn biển”.

Những khẳng định mạnh mẽ dường như đối lập với những thiếu thốn mà các chiến sĩ đã và vẫn đang phải kiên trì chịu đựng, khắc phục. Thiếu nước, thiếu điện, thiếu tiện nghi, thiếu tình cảm. Chỉ có sự hi sinh là dư thừa. Và vì vậy, càng biết rằng món quà nhỏ mà chúng tôi mang đến hôm nay thật nhỏ bé, càng biết rằng đất liền còn quá nhiều việc phải làm để góp phần gìn giữ biển Đông.

P.VŨ [Tuổi trẻ]

Người dân Trung Quốc đang bị kích động

TT – Tại sao ở Trung Quốc liên quan đến vấn đề biển Đông lại xuất hiện dư luận hiếu chiến đến mức mù quáng, bất chấp lẽ phải và sự thật, bất chấp luật pháp quốc tế? Kết quả của một cuộc thăm dò của Thời báo Hoàn Cầu.

Tàu Trung Quốc tuần tra trên biển Đông – Ảnh: Mạng quân sự Trường Giang

Kết quả của một cuộc thăm dò do Thời báo Hoàn Cầu thực hiện với gần 1.500 người ở Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Thành Đô, Tây An, Thẩm Dương… cho thấy rõ điều này. Gần 80% ủng hộ Trung Quốc “sử dụng vũ lực để đập tan các hành động gây hấn và xâm phạm” trên biển Đông. Chỉ vỏn vẹn 16,6% là nói không.

Thử khảo sát trên các trang Weibo… của cư dân mạng Trung Quốc cũng dễ dàng nhận thấy một dư luận tương tự. Rất nhiều ý kiến đòi chính quyền tuyên chiến trên biển Đông. “Không có chỗ cho đàm phán khi xét đến vấn đề lãnh thổ. Một cuộc chiến có thể đem lại 10 năm hòa bình” – một người viết. Người khác lại thẳng thừng: “Tôi ủng hộ việc bắn phá Philippines”. Nhiều người còn chỉ trích chính quyền Trung Quốc là hèn nhát, không dám bảo vệ đất nước. Đa số khẳng định căng thẳng trên biển Đông là “âm mưu thâm độc” do Mỹ dàn dựng để chống Trung Quốc…

Tâm lý nạn nhân

Tất nhiên, ở Trung Quốc vẫn còn có những người tử tế, biết tôn trọng lẽ phải và sự thật, biết yêu đất nước mình và tôn trọng quyền lợi chính đáng của những nước khác như hội thảo “Chủ quyền quốc gia và quy tắc quốc tế” do Viện Nghiên cứu kinh tế và báo mạng Tân Lãng tổ chức mới đây đã cho thấy. Thế nhưng những tiếng nói như vậy còn ít ỏi và lẻ loi, thậm chí đang có nguy cơ bị xem là “những kẻ phản quốc”. Nguyên văn tuyên bố của thiếu tướng quân đội Trương Châu Trung như sau: “Có hơn 1 triệu kẻ phản quốc ở Trung Quốc. Một số học giả là do Mỹ đào tạo, đọc sách Mỹ, chấp nhận quan niệm Mỹ và họ đang giúp Mỹ chống Trung Quốc”.

Tại sao dư luận Trung Quốc lại mù quáng, bất chấp đạo lý và lẽ phải đến như vậy? Câu trả lời dễ nhận ra là do người dân đã bị “tẩy não” và bị “đầu độc” hằng ngày hằng giờ những điều sai lệch.

Các phương tiện truyền thông Trung Quốc, điển hình nhất là tờ Thời báo Hoàn Cầu, thường xuyên cáo buộc Việt Nam và Philippines là “kích động”, “gây hấn” trên biển Đông và đòi chính quyền Bắc Kinh phải phát động “một cuộc chiến tranh quy mô nhỏ” chống lại các quốc gia Đông Nam Á. Giới tướng lĩnh quân đội Trung Quốc (PLA) liên tục đe dọa sẽ trừng trị các nước láng giềng.

Sách giáo khoa của học sinh tiểu học và trung học đều khẳng định cực nam lãnh thổ Trung Quốc là quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Các bản đồ chính thức của Trung Quốc cũng vẽ lãnh thổ Trung Quốc kéo dài tới tận Trường Sa.

Tất nhiên, sách giáo khoa Trung Quốc đã lờ tịt việc hải quân nước này đánh chiếm bất hợp pháp quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào năm 1974. Giới “học giả” Trung Quốc cứ ra rả một luận điệu dối trá khi nhấn mạnh trước thập niên 1970 không hề có cái gọi là “vấn đề biển Đông” do “biển Đông thuộc quyền quản lý của Trung Quốc”.

Trung Quốc hiện có một số tổ chức lớn chuyên nghiên cứu về biển Đông như Viện Hàng hải Trung Quốc, Viện Nghiên cứu Nam Hải, Học viện Khoa học xã hội, Viện Quan hệ quốc tế đương đại… Các “học giả” và “chuyên gia” của các tổ chức này, thông qua các hội nghị, hội thảo, diễn đàn, đều chung một luận điệu dối trá cho rằng khu vực được quy định bởi “đường chín đoạn” là thuộc chủ quyền lịch sử của Trung Quốc.

Phân tích dư luận của Trung Quốc về vấn đề biển Đông, nghiên cứu của Tổ chức Khủng hoảng quốc tế (ICG) cho rằng nguyên nhân là do chính quyền Bắc Kinh đã “tẩy não” người dân nước mình ngay từ khi họ còn là những đứa trẻ và “đầu độc” họ hằng ngày, nên người dân luôn tin rằng toàn bộ biển Đông là của Trung Quốc. Hằng ngày họ liên tục tiếp nhận những thông tin méo mó, dối trá qua các phương tiện thông tin. Do đó, niềm tin này càng trở nên mạnh mẽ đến mức họ coi các quốc gia khác là kẻ gây hấn, còn Trung Quốc là người vô tội.

Tâm lý của kẻ bị vây hãm

Vẫn theo ICG, trong vấn đề biển Đông, chính quyền Trung Quốc đã kích động một tâm lý dân tộc cực đoan bằng cách mô tả Trung Quốc là “nạn nhân” của các quốc gia xung quanh, là “kẻ yếu thế” trong các tranh chấp trên biển Đông. Chẳng hạn, báo chí Trung Quốc thường đưa tin theo kiểu: “Có hơn 1.000 giàn khoan dầu trên biển Đông và bốn sân bay ở Trường Sa, nhưng không có một cái nào là của Trung Quốc”.

Việc Mỹ tuyên bố trở lại châu Á càng là cơ hội để truyền thông Trung Quốc tô đậm “tâm lý nạn nhân” này, đẩy nó lên thành “tâm lý của kẻ bị vây hãm” bởi “những thế lực chống Trung Quốc” ở bên ngoài, và Trung Quốc đang phải tả xung hữu đột để chống đỡ và cố thoát ra tình trạng bị bủa vây này. Tất nhiên, như ICG vạch rõ, bằng cách này các cơ quan và chính quyền địa phương ở Trung Quốc mới có thể lợi dụng để thực hiện những ý đồ riêng. Họ thường công khai chỉ trích các quốc gia khác để gây sức ép buộc chính quyền Bắc Kinh hỗ trợ thêm nguồn lực. PLA cũng lợi dụng tranh chấp ở biển Đông để mở rộng ngân sách quốc phòng.

Chính do những thứ tâm lý này, các giọng điệu hiếu chiến luôn chiếm ưu thế trước quan điểm ôn hòa trong dư luận Trung Quốc. Cũng chính vì tự thổi ngọn lửa dân tộc cực đoan, chính quyền Bắc Kinh lại luôn bị áp lực phải thể hiện bộ mặt cứng rắn để không bị xem là yếu thế mỗi khi đề cập đến vấn đề biển Đông. Một số học giả nhận định chính Bắc Kinh đã “tự tạo ra một con quái vật mà nó sẽ khó lòng kiểm soát”.

SƠN HÀ – ĐÔNG PHƯƠNG

Xem thêm nhiều bài báo tại Tuổi Trẻ

Xem hồ sơ Trung Quốc mở thầu phi pháp trên biển Đông: “Công ty nước ngoài không tham gia gói thầu Trung Quốc” I Thượng nghị sĩ Mỹ: Các lô dầu khí là của Việt Nam I Trung Quốc tự xóa sạch cam kết I Trung Quốc mời thầu phi pháp: Ngang ngược và tráo trở I Bắc Kinh “diễn trò chính trị” I Hội Luật gia VN phản đối TQ mời thầu sai trái I Trung Quốc đang bành trướng I Vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam I “Khu vực Trung Quốc mời thầu thuộc chủ quyền Việt Nam” | Trao công hàm phản đối Trung Quốc mời thầu phi pháp | Trung Quốc mời thầu tại thềm lục địa VN là phi pháp I Trung Quốc mời thầu 9 lô dầu khí trên biển Việt Nam

Dấu tích về chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam ở Lý Sơn

Bảo tàng Lý Sơn, Quảng Ngãi, đang lưu giữ nhiều hình ảnh, bản đồ từ thế kỷ thứ 16 đến 19, khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa.

 
 Hiện tại bảo tàng Hoàng Sa (Lý Sơn, Quảng Ngãi) còn lưu giữ nhiều tài liệu quý về Hoàng Sa.
 
 Những bài báo và bản đồ chính trị (từ thời Việt Nam Cộng Hòa 1954 – 1975) nêu rõ quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam.
 
 Những dòng chữ được ghi trong Đại Nam Thực Lực Chính Biên (năm 1848) và Quảng Ngãi Tỉnh Chí (năm 1933) ghi chép về quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
 
 Những dấu tích, bản đồ, sắc phong còn được giữ nguyên vẹn tại bảo tàng.
 
 Dụng cụ trã đất nấu ăn của binh phu Hoàng Sa khi đi ra đảo.
 
 Những vật chứng của ngư dân và đội lính có mặt tại Hoàng Sa từ thời nhà Nguyễn.
Bia chủ quyền Việt Nam ở Hoàng San năm 1930.
Bản đồ phía Đông Ấn Độ và những vùng lân cận, xác định quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam, bản đồ xuất bản tại London, Anh năm 1956.
Bản đồ Nam Việt ghi rõ, Hoàng Sa và Vạn lý Trường Sa trong sách Đại Nam Thống Nhất Toàn Đồ do quốc sử quán triều Nguyễn ấn hành thế kỷ 19.
 
 Bản dịch tài liệu châu bản của Tống Lý đại thần ngày 15/12 niên hiệu Bảo Đại thứ 15 (1939) về việc xin truy thưởng Tú hạng long tinh cho cai đội Hoàng Sa người Pháp M.Fontan.
 Bản đồ Việt Nam do người Hà Lan vẽ năm 1594, hiện đang lưu giữ tại Amsterdam (Hà Lan). Khi đó Hoàng Sa, Trường Sa đã là của Việt Nam.
Một góc đảo Đá Lát, quần đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa năm 2009.
Hải đăng Việt Nam trên quần đảo Trường Sa trước năm 1945.
 Cơ sở hành chính trên đảo Hoàng Sa trước năm 1945.
Ông Nguyên Giáo, nhân viên ty khí tượng Hoàng Sa, trước năm 1974 đang đo nhiệt độ, độ ẩm tại lều máy trạm khí tượng Hoàng Sa.
 
 Văn tế trong lễ khao lế thế lính Trường Sa năm Tự Đức thứ 20, Đinh Mão 1867.
 
 Bài vị các tướng quân, binh sĩ hy sinh tại Hoàng Sa.
 Thuyền nhỏ được đội quân Hoàng Sa kiêm Bắc Hải ra Hoàng Sa để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ biển đảo.
Cho đến nay, lớp lớp người dân Lý Sơn vẫn tự hào về quá khứ hào hùng của cha ông. Các em nhỏ luôn được nhắc nhở về Hoàng Sa như một phần máu thịt của đất nước.

THÁI AN

theo infonet

“VẠCH MẶT” MƯU ĐỒ VÀ KỊCH BẢN DẦU KHÍ CỦA TRUNG QUỐC

Thời gian qua, những hành động ngang ngược và các phát biểu bất chấp đạo lý, luật pháp quốc tế của Trung Quốc trong vấn đề biển Đông đã thu hút sự quan tâm của tất cả người Việt Nam. Các ý kiến đưa ra đều bày tỏ sự phản đối những hành động gây hấn và xâm phạm chủ quyền Việt Nam của Trung Quốc. Phóng viên Báo GDVN đã có cuộc trao đổi với Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện chiến lược – Bộ Công an xung quanh vấn đề này.

TRUNG QUỐC ĐÃ NÓI “MỘT ĐẰNG LÀM MỘT NẺO” NHƯ THẾ NÀO?

Nói về những hành động vừa qua của Trung Quốc, Thiếu tướng Lê Văn Cương cho rằng: “Trước tiên phải nói rằng những hành động của Trung Quốc đều được tính toán một cách kỹ càng, cẩn thận. Người ta chọn không gian địa điểm, thời gian để làm việc này. Đây không phải là hành vi bột phát mà nó nằm trong một chuỗi hành động để thể hiện chủ trương “độc chiếm biển Đông” của Trung Quốc. Tôi cho rằng, việc này có sự chỉ đạo của nhà nước chứ không chỉ đơn thuần là một công ty dầu khí có thể dám làm.

Thứ hai là hành động của Trung Quốc đã vi phạm công ước quốc tế về Luật Biển 1982 trong đó cả Việt Nam và Trung Quốc đều đã ký. Chín lô Trung Quốc mời thầu nằm trọn trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam. Vùng này thuộc chủ quyền của Việt Nam, không thể là vùng có tranh chấp với bất kỳ quốc gia nào. Như vậy hành vi của Trung Quốc đã vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc, vi phạm Tuyên bố ứng xử trên biển Đông (DOC). Đây cũng là việc chứng tỏ cho thế giới thấy rằng lãnh đạo Trung Quốc nói một đằng làm một nẻo”.

Chứng minh cho luận điểm này, ông Cương nói: “Cụ thể, gần đây nhất là tháng 10/2010, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã gửi điện cho những người đồng cấp ASEAN nói rõ rằng Trung Quốc muốn xây dựng lòng tin cùng các bên liên quan để xây dựng biển Đông thành một vùng hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển.

Đến tháng 1/2011, tại Washington, trong tuyên bố chung Mỹ – Trung được ký kết giữa Tổng thống Obama và Chủ tịch Hồ Cẩm Đào gồm 41 điểm, cả hai bên đều cam kết hợp tác để đảm bảo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nói chung và khu vực Đông Á nói riêng là một khu vực ổn định, hòa bình, hợp tác, phát triển; trong điều kiện như vậy thì nước nào cũng có lợi.

Đến giữa năm 2011, trong tuyên bố chung với Việt Nam ở chuyến công du của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói rõ: Trong khi hai bên chưa giải quyết được vấn đề thì hai bên có những bước đi nhỏ để chuẩn bị về lâu dài giải quyết một cách cơ bản, không làm phức tạp thêm tình hình chung.

Những hành động trên đây của Trung Quốc đều chứng tỏ lãnh đạo Trung Quốc nói một đằng, làm một nẻo. Tất cả những hành động gây hấn của Trung Quốc không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với cả Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippin… trong mấy năm gần đây cho thế giới thấy rằng Trung Quốc không muốn phát triển hòa bình trên biển.

Lãnh đạo Trung Quốc, những học giả của Trung Quốc đã tận dụng những diễn đàn song phương để quảng bá chủ trương Trung Quốc trỗi dậy hòa bình (sau này gọi là phát triển hòa bình) phát triển nhanh, mạnh chỉ có lợi cho các quốc gia, không có hại ai cả và các bạn hãy làm ăn với Trung Quốc; Trung Quốc phát triển mạnh nhưng không xâm phạm chủ quyền của nước nào cả. Tuy nhiên, những hành động trong 2 năm gần đây đi ngược lại với chủ trương mà người ta đã quảng bá. Một lần nữa chứng tỏ dư luận thế giới không thể tin lãnh đạo Trung Quốc vì họ đã nói một đằng, làm một nẻo”.

“BÓC MẼ” THỦ ĐOẠN CỦA TRUNG QUỐC

Theo ông Cương, hành động của Trung Quốc kêu gọi, mời thầu 9 lô thuộc chủ quyền của Việt Nam thể hiện sự ngang ngược, bất chấp đạo lý. “Những công ty, tập đoàn làm ăn tử tế sẽ không tham gia lời mời thầu này vì thế giới biết Trung Quốc rồi. Tự Trung Quốc đã bóc bộ mặt nạ của mình ra rồi. Thủ đoạn của Trung Quốc là biến những vùng không tranh chấp thành những vùng xảy ra tranh chấp. Cụ thể là vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam thuộc chủ quyền của Việt Nam nhưng Trung Quốc lại đi rêu rao với thế giới rằng vùng đó thuộc chủ quyền của họ. Đó là một sự ngụy biện của Trung Quốc.

Dù như vậy nhưng một tình huống có thể xảy ra là một số công ty dưới danh nghĩa của nước ngoài nhưng thực tế lại quan hệ rất chặt chẽ và phụ thuộc vào Trung Quốc (những CNOOC phẩy) sẽ nhận thầu. Và nếu không có công ty nào nhận thầu thì Trung Quốc rất có thể sẽ kéo dàn khoan khủng vào khai thác dầu trong vùng thuộc chủ quyền của ta”, ông Cương cho biết.

Ông Cương nói tiếp: “Trung Quốc sẽ làm gì? Đó không chỉ phụ thuộc vào ý đồ của họ mà còn phụ thuộc vào sức mạnh, phản ứng của Việt Nam. Lịch sử đã chứng minh, dưới những triều đại phong kiến Việt Nam mạnh thì Trung Quốc không dám xâm phạm bờ cõi của ta. Còn những lần Trung Quốc tràn xuống xâm lược thì đều là những lần Việt Nam suy yếu”.

ĐIỂM YẾU CỦA TRUNG QUỐC NẰM Ở ĐÂU?

Trước một Trung Quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ, ông Cương phân tích: “Trung Quốc có điểm yếu không? Câu trả lời ở đây là có. Trung Quốc phát triển mạnh như vậy nhưng Trung Quốc cần quan hệ với thế giới. Thêm nữa, sự phát triển của Trung Quốc mới chỉ là bề rộng, còn về bề sâu thì Trung Quốc còn kém Mỹ và Nhật Bản hàng chục năm.

Nền kinh tế Trung Quốc phụ thuộc vào thế giới. Trung Quốc là Ủy viên thường trực HĐBA Liên hợp quốc và hàng trăm lần lãnh đạo Trung Quốc nói rằng phải duy trì xu thế tất yếu của thời đại. Nhưng những hành động của Trung Quốc lại đi ngược với xu thế chung của thế giới và bị cộng đồng quốc tế phản đối. Trong thời buổi hiện nay, các nước nương tựa vào nhau, quyền lợi kinh tế của Trung Quốc đan xen với các nước khác”.

Ông Cương nói: “Còn điểm mạnh của ta nằm ở đâu? Điểm mạnh của ta nằm ở việc được luật pháp quốc tế bảo vệ. Thứ hai là cộng đồng quốc tế đứng về phía chúng ta. Yếu tố này phụ thuộc vào việc chúng ta thể hiện như thế nào. Mình phải tỏ thái độ lập trường kiên quyết, vững vàng thì thế giới sẽ ủng hộ mạnh mẽ.

Đó là việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Mà muốn vậy, bản thân trong nước phải mạnh mà muốn nước mạnh thì trước hết bộ máy nhà nước phải vững mạnh: Gắn bó với nhân dân, thực sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Khi có được lòng tin của dân đối với Đảng, nhà nước thì sẽ tạo ra sức mạnh của đất nước.

Nghị quyết Trung ương 4 đã nêu rõ lúc này mỗi Đảng viên phải gương mẫu nhất là ở cấp cao. Việc thực hiện thành công nghị quyết Trung ương 4 sẽ giúp cho Đảng mạnh, nhà nước mạnh. Và từ đó tạo ra sức mạnh trong lòng dân tộc. Khi đó chúng ta mới có khả năng tiếp thu sức mạnh thời đại.

Có một điều tôi muốn nói là dù bây giờ đã là quá muộn nhưng vẫn phải làm ngay đó là đưa vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa và biển Đông vào sách giáo khoa lịch sử, địa lý để dạy cho thanh thiếu niên các cấp và đưa vào giáo trình ở bậc Đại học và cao đẳng để dạy cho sinh viên. Trong khi Trung Quốc hoàn toàn không có chủ quyền tại Hoàng Sa, Trường Sa nhưng người ta lại dạy cho học sinh của họ rằng những quần đảo đó là của Trung Quốc. Đó là một việc xuyên tạc lịch sử lừa dối cả nhân dân Trung Quốc.

Còn chúng ta có cơ sở văn hóa, lịch sử, pháp lý để chứng tỏ rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam lại không phổ biến rộng rãi để toàn thể người dân biết. Ngay kỳ học tới đây chúng ta phải đưa ngay vào SGK. Thêm nữa, phương tiện thông tin đại chúng có một sức mạnh rất lớn trong việc tuyên truyền này. Tuy nhiên, tôi có cảm giác chúng ta chưa phát huy được hết sức mạnh này. Đầu tư vào vũ khí thì còn có hạn chứ nhưng đầu tư vào báo chí thì sẽ tạo ra một sức mạnh khủng khiếp.

Nói một cách “sòng phẳng” Trung Quốc đối với Việt Nam là vấn đề dân tộc. Chúng ta đối với Trung Quốc là láng giềng hữu nghị nhưng phải trên nguyên tắc là bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ. Đó là mục tiêu tối thượng”.

 

Nguồn: Internet

Âm mưu Tam Sa của Trung Quốc

Song hành cùng tuyên bố thành lập TP.Tam Sa, Bắc Kinh âm mưu biến thành phố này thành tiền đồn quân sự mang ý nghĩa chiến lược.

Cuối tháng trước, Trung Quốc tuyên bố thành lập TP.Tam Sa, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhật báo Phương Nam ngày 2.7 nhận định động thái trên nhằm “nâng cấp” đảo Phú Lâm, ở quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, để đảo này đóng vai trò thủ phủ của TP.Tam Sa. Đồng thời, phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Trung Quốc Cảnh Nhạn Sinh ngày 28.6 tuyên bố thiết lập bộ chỉ huy quân sự cho TP.Tam Sa. Vì thế, nhật báo Phương Nam đánh giá đảo Phú Lâm sẽ đóng vai trò “trung tâm chính trị, quân sự” trong tham vọng thâu tóm Hoàng Sa và Trường Sa mà Bắc Kinh đang theo đuổi.

 

Âm mưu Tam Sa của Trung Quốc 1
Mô hình phát triển do Trung Quốc đề ra cho đảo Phú Lâm – Ảnh: Baidu

 

Ráo riết chuẩn bị quân sự

 

Tàu hải giám Trung Quốc diễn tập ở Trường Sa

Đội tàu hải giám Trung Quốc gồm 4 tàu số 83, 84, 71 và 66 tổ chức diễn tập trái phép tại bãi Châu Viên, ở quần đảo Trường Sa vốn thuộc chủ quyền của Việt Nam, vào ngày 2.7. Theo Tân Hoa xã, đội tàu này xuất phát từ TP.Nam Á vào ngày 26.6 để đến biển Đông thực hiện chuyến tuần tra dài 2.400 hải lý (4.500 km). Sau khi đến Châu Viên vào ngày 1.7, đội tàu trên nhanh chóng triển khai diễn tập vào sáng hôm sau. Tuy nhiên, một trực thăng được mang theo đã không thể tham gia diễn tập vì điều kiện thời tiết xấu.

 

Thực tế, phát ngôn viên Cảnh đã công khai việc Trung Quốc ráo riết thiết lập cơ sở quân sự tại Tam Sa. Không chỉ bất chấp luật pháp quốc tế để xâm phạm chủ quyền Việt Nam, phát ngôn viên này còn ngang ngược cho rằng việc thiết lập cơ sở quân sự nói trên là “điều tất yếu”. Theo Tân Hoa xã, Trung Quốc hiện có nhiều cơ sở (trái phép) tại đảo Phú Lâm như: tòa nhà chính phủ, ngân hàng, bưu điện, bệnh viện, cửa hàng, khách sạn, thư viện, sân bay, cầu cảng, trạm khí tượng, doanh trại…

Ủng hộ cho quan điểm sai trái trên, phó giáo sư Bạch Tú Lan của Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế thuộc Trường Đảng trung ương Trung Quốc, cho rằng Tam Sa cần được tập trung đầy đủ cả hải, lục, không quân. Ông còn đề nghị Trung Quốc cần bổ nhiệm một lãnh đạo cấp tướng cho bộ chỉ huy quân sự tại đây. Cụ thể, ông Bạch đưa ra đề xuất biến Tam Sa thành một tiền đồn quân sự khi kêu gọi rằng: “TP.Tam Sa có vị trí chiến lược nên cần nhiều binh lực hơn nữa. Ngoài lục quân, nơi này cần có thêm không quân và hải quân để cùng nhau phối hợp”. Đáng quan ngại hơn, ông này cho rằng đề xuất trên nhằm phục vụ cho mưu đồ bá quyền của Bắc Kinh là: “Thành lập cơ quan quân sự mới cho TP.Tam Sa sẽ giúp tăng cường thực lực để Trung Quốc thâu tóm Trường Sa, Hoàng Sa và bãi ngầm Macclesfield. Khi đó, Bắc Kinh sẽ chủ động trong việc chiếm giữ các khu vực này”.

Vị thế chiến lược

 

 Âm mưu Tam Sa của Trung Quốc 2
Đường băng hiện tại trên đảo Phú Lâm – Ảnh: Koming.com.hk

 

Vốn dĩ, Phú Lâm là đảo san hô có địa hình phẳng và cảnh quan đẹp. Tuy nhiên, lý do then chốt khiến đảo này được chọn làm trọng tâm của chính quyền TP.Tam Sa không phải vì vẻ đẹp độc đáo mà là tham vọng của Bắc Kinh nhằm thâu tóm biển Đông. Tân Hoa xã dẫn lời phó giáo sư Bạch công khai ý định trên: “Phần lớn các đảo trên quần đảo Hoàng Sa đều là đảo san hô, tương đối nông. Nhiều đảo không có sẵn điều kiện để con người sinh sống. Trong đó, Phú Lâm là một đảo lớn, có sân bay, bưu điện, có môi trường làm việc bình thường và ở gần biển Đông. Điều này rất có lợi cho việc Trung Quốc kiểm soát cả khu vực biển Đông”. Theo đó, Bắc Kinh có thể biến đảo Phú Lâm thành địa điểm trung chuyển, tiếp vận cho tàu chiến, máy bay của Trung Quốc trên hành trình từ đảo Hải Nam đến các đảo gần Philippines. Hiện tại, sân bay tại đảo Phú Lâm có thể cho phép máy bay Boeing 737 cất và hạ cánh. Đồng thời, cầu cảng tại đây cũng có chỗ neo đậu cho tàu tải trọng lên đến 5.000 tấn.

Lucy Nguyễn [Thanh Niên]

Thế trận binh lực của Trung Quốc: Không quân dày đặc phía nam

25/05/2012 3:36

Trung Quốc đang bố trí lực lượng hùng hậu gồm máy bay tiêm kích, cường kích và ném bom ở khu vực biên giới phía nam của nước này.

Theo báo cáo Military and Security Developments Involving the People’s Republic of China 2012 của Bộ Quốc phòng Mỹ,không quân Trung Quốc hiện có 29 sư đoàn gồm các loại: máy bay tiêm kích, máy bay cường kích, máy bay ném bom và máy bay vận tải. Ngoài ra, 3 hạm đội hải quân nước này cũng được biên chế tổng cộng 6 sư đoàn máy bay chiến đấu. Trong đó, Trung Quốc hiện có tổng cộng 8 sư đoàn chiến đấu cơ và 1 sư đoàn máy bay vận tải ở khu vực sát biên giới phía nam. Cụ thể, số sư đoàn chiến đấu cơ tại đây gồm: 1 sư đoàn tiêm kích của quân khu Thành Đô, 4 sư đoàn tiêm kích và 1 sư đoàn ném bom của quân khu Quảng Châu, 2 sư đoàn gồm máy bay tiêm kích, cường kích và ném bom của hạm đội Nam Hải. Theo đó, một lực lượng máy bay chiến đấu đông đảo của Trung Quốc đang đồn trú trên đảo Hải Nam (cách quần đảo Hoàng Sa Việt Nam khoảng 430 km). Vùng sát biên giới phía nam trở thành khu vực tập trung lực lượng chiến đấu cơ Trung Quốc dày đặc nhất.

 Thế trận binh lực của Trung Quốc: Không quân dày đặc phía nam
Sơ đồ bố trí lực lượng không quân Trung Quốc  – Đồ họa: Hoàng Đình

Để tăng cường khả năng tác chiến cho lực lượng trên không hùng hậu, Bắc Kinh ra sức nâng cấp, hiện đại hóa các loại chiến đấu cơ. Về máy bay tiêm kích, Trung Quốc đang chủ yếu sử dụng các loại gồm J-7, J-8, J-10, J-11 do nước này tự sản xuất và Su-27, Su-30 được Nga chế tạo. Số máy bay trên hầu hết là chiến đấu cơ đa nhiệm, được trang bị đầy đủ các loại vũ khí gồm súng pháo, tên lửa đối không, đối hạm, tấn công mặt đất và bom. Tuy nhiên, Trung Quốc đang dần thay thế 2 dòng chiến đấu cơ J-7 và J-8 bằng các loại hiện đại hơn như J-10, J-11, JF-17. Gần đây, J-10, J-11 và JF-17 trở thành niềm tự hào của Bắc Kinh nhờ vào năng lực tác chiến tầm xa. Điển hình như máy bay tiêm kích đa năng J-10 có tốc độ tối đa trên 2.000 km/giờ, bán kính chiến đấu lên đến 1.600 km (khi được tiếp nhiên liệu trên không).

Đối với máy bay cường kích, Trung Quốc chủ yếu dựa vào loại JH-7 có bán kính tác chiến lên đến 1.700 km. Ngoài ra, Bắc Kinh còn nâng cấp số máy bay ném bom H-6, vốn có nguồn gốc từ dòng Tu-16 của Nga, đạt bán kính chiến đấu 1.800 km và mang được 9 tấn bom, tốc độ xấp xỉ 1.000 km/giờ. Bên cạnh đó, Trung Quốc còn bổ sung hàng chục máy bay do thám, cảnh báo sớm tối tân cho lực lượng không quân.

Ngoài việc tăng cường năng lực không quân, Bắc Kinh còn phát triển nhiều dòng tên lửa tấn công. Đến nay, tên lửa DF-5 của Trung Quốc đạt tầm bắn lên đến 13.000 km, đủ sức bao trùm khu vực Nam Thái Bình Dương lẫn toàn bộ châu Phi.

Phân bổ lực lượng không quân

 

Quân khu Lực lượng
Bắc Kinh 3 sư đoàn máy bay tiêm kích

2 sư đoàn máy bay vận tải

Lan Châu 2 sư đoàn máy bay tiêm kích

1 sư đoàn máy bay ném bom

Nam Kinh 3 sư đoàn máy bay tiêm kích

1 sư đoàn máy bay cường kích

1 sư đoàn máy bay ném bom

Quảng Châu 4 sư đoàn máy bay tiêm kích

1 sư đoàn máy bay ném bom

1 sư đoàn máy bay vận tải

Tế Nam 2 sư đoàn máy bay tiêm kích

1 sư đoàn máy bay cường kích

Thành Đô 2 sư đoàn máy bay tiêm kích

1 sư đoàn máy bay vận tải

Thẩm Dương 3 sư đoàn máy bay tiêm kích

1 sư đoàn máy bay cường kích

Hạm đội Nam Hải 2 sư đoàn chiến đấu cơ
Hạm đội Đông Hải 2 sư đoàn chiến đấu cơ
Hạm đội Bắc Hải 2 sư đoàn chiến đấu cơ

 

 (nguồn: Bộ Quốc phòng Mỹ)

Lực lượng tên lửa tấn công của Trung Quốc

 

Chủng loại Tầm bắn

(km)

Số lượng

tên lửa

Số lượng bệ phóng
Tên lửa liên lục địa Trên 5.500 50 – 75 50 – 75
Tên lửa đạn đạo tầm xa 3.000 – 5.500 5 – 20 5 – 20
Tên lửa đạn đạo tầm trung 1.000 – 3.000 75 – 100 75 – 100
Tên lửa đạn đạo tầm ngắn Dưới 1.000 1.000 – 2.000 200 – 250
Tên lửa hành trình Trên 1.500 200 – 500 40 – 55

Ngô Minh Trí [Thanh niên]

Trước thông tin phía Trung Quốc thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” với phạm vi quản lý bao gồm huyện đảo Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam) và huyện đảo Hoàng Sa (thành phố Đà Nẵng, Việt Nam), lãnh đạo hai tỉnh, thành phố trên đã lên tiếng phản đối quyết định trên của phía Trung Quốc.

Trường Sa, Hoàng Sa là bộ phận không tách rời của lãnh thổ Việt Nam.

Ông Nguyễn Chiến Thắng, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Khánh Hòa khẳng định huyện đảo Trường Sa là một bộ phận không tách rời của lãnh thổ Việt Nam và trực thuộc quyền quản lý hành chính của tỉnh Khánh Hòa.

Ông Thắng nhấn mạnh chính quyền và nhân dân tỉnh Khánh Hòa hết sức bất bình trước việc Trung Quốc quyết định thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” với phạm vi quản lý bao gồm huyện đảo Trường Sa. Quyết định này đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam và không có giá trị về pháp lý.

“Chúng tôi kiên quyết phản đối và yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ quyết định sai trái và phi pháp này, không có thêm hành động làm tổn hại đến quan hệ hai nước, tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước và tình cảm của nhân dân Tỉnh Khánh Hòa.” – Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Khánh Hòa tuyên bố.

Ông Văn Hữu Chiến, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng cũng khẳng định huyện đảo Hoàng Sa là một bộ phận không tách rời của lãnh thổ Việt Nam và trực thuộc quyền quản lý hành chính của thành phố Đà Nẵng.

Ông Chiến cho biết chính quyền và nhân dân thành phố Đà Nẵng hết sức bất bình trước việc Trung Quốc quyết định thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” với phạm vi quản lý bao gồm huyện đảo Hoàng Sa.

Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Năng tuyên bố: “Quyết định này đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam và không có giá trị về pháp lý. Chúng tôi kiên quyết phản đối và yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ quyết định sai trái và phi pháp này, không có thêm hành động làm tổn hại đến quan hệ hai nước, tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước và tình cảm của nhân dân thành phố Đà Nẵng”./.

 Nguồn: Báo Thanh Niên Online