Tag Archive: bien


Sự lạ ở một tên gọi quen – Kỳ cuối: Nhân sự theo cách Viettel (P2)

Canh trời giữ biển theo cách Viettel (P1)

TP – Thi thoảng gặp bộ ba trong Ban lãnh đạo của Tập đoàn Viettel, tôi hay chợt nghĩ đến chữ may! May cho ai? Cho cả ba, cho cơ chế? Chả biết! Mỗi người một tính nhưng may hợp cạ!

 

Một góc phòng làm việc của Viện
Một góc phòng làm việc của Viện.

 

Lại đương nói dở cái vận hội đang hồi hanh thông, thịnh đạt của Viettel. Lúc này, nếu ai nói Viettel đang có triệu chứng suy yếu ắt là… nhảm, là càn! Nhưng đôi hồi lại, chả phải không có lý? Trong dịch biến, thịnh và cực thịnh đã hàm chứa cái suy vậy. Vậy nên phải tính để khỏi suy.

Vậy Viettel đã tính thế nào? Ấy là sau khi bão hòa những là điện thoại để bàn, điện thoại di động và nhiều tiện ích thông tin khác, không ầm ĩ khua động giới truyền thông, Viettel lẳng lặng đầu tư thành công ở nước ngoài như Campuchia, Haiti, Mozambique… Viettel lẳng lặng đầu tư tiền vào Công ty phần mềm thu hút hơn 400 kỹ sư vào làm việc.

Nhanh chóng triển khai dây chuyền sản xuất thiết bị điện tử viễn thông (một tổ hợp có tên là M1 thu hút 350 kỹ sư). Rồi tiếp một tổ hợp sản xuất khuôn mẫu mang tên M3 với hơn 300 kỹ sư, nhân viên kỹ thuật.

Thi thoảng gặp bộ ba trong Ban lãnh đạo của Tập đoàn Viettel, tôi hay chợt nghĩ đến chữ may! May cho ai? Cho cả ba, cho cơ chế? Chả biết! Mỗi người một tính nhưng may hợp cạ! Tổng Giám đốc – Trung tướng Hoàng Anh Xuân cố hữu với cái nhìn lừ lừ và thường xồn xồn những khó khăn. Đang khó khăn lắm. Đang phải tìm cách mà vượt đây… Khó khăn ấy là chuyện kinh doanh mà Ban lãnh đạo đang phải đối mặt.

Còn Thiếu tướng, Bí thư Đảng ủy Dương Văn Tính cũng lại cố hữu với nụ cười cởi mở… Người ta nói ông là người tạo ra chất kết dính nội bộ, kiểu nói khác đi của hạt nhân đoàn kết.

Còn ông Phó Tổng Giám đốc, Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng thì luôn không để hai ông kia yên với những dự định táo bạo… Tôi nghe vậy thì chỉ biết vậy. Nhưng dứt khoát việc ra đời Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Viettel này chả phải là vô tình mà có trù tính kỹ càng cùng những lao tâm khổ tứ của ba vị ấy…

 

 Lúc này nếu ai nói Viettel đang có triệu chứng suy yếu ắt là… nhảm, là càn! Nhưng đôi hồi lại, chả phải không có lý?

Tôi tưởng nghe nhầm phải hỏi lại, thượng tá Viện trưởng Nguyễn Đình Chiến khi được thông báo rằng 34.000 tỷ đồng (vâng ba tư nghìn tỷ, ấy là lấy con số tròn), là số tiền Viettel được phép trích ra từ lợi nhuận trước thuế để đầu tư cho riêng Viện này trong công tác nghiên cứu! (Lẩn thẩn lẫn giật mình nghĩ đến gói cứu trợ bất động sản vừa tung ra nói nghe ghê khiếp nhưng cũng chỉ tròn 30.000 tỷ của Chính phủ!).

 

Có nghe thoáng qua những chế tài phân bổ vừa thoáng vừa chặt của các bộ phận ở Viện khi sử dụng đồng vốn đầu tư, nhưng tôi nghe kỹ hơn cơ chế tuyển dụng nhân sự hơi bị lạ của Viện.

Người vào làm ở Viện đích thị và dứt khoát phải là người tài và là người trẻ! Những cảm giác khâm phục tự hào khi hồi nãy ở gian chung rộng thênh, chúng tôi lướt qua hàng chục gương mặt trẻ măng (đó là mới một phòng của Viện) người cao nhất mới nhỉnh hơn 30 còn hầu hết chưa ai tới tuổi băm.

Gần trăm hồ sơ ngâm cứu, kiểm tra, gạn lọc mãi cũng chỉ nhặt được vài ba người. Nhân sự và cơ sở hạ tầng tính đến ngày 20/3/2013 là 441 người. Trong đó 33 tiến sĩ, 63 thạc sĩ chuyên ngành, đại học 244. Mục tiêu nhân sự đến năm 2015 sẽ là 1.000 người, năm 2020 sẽ là 2.500 người để Viện ứng lẫn xứng với tầm khu vực và quốc tế.

 

Một số khí tài thiết bị thông tin
Một số khí tài thiết bị thông tin.

 

Thu nhập tạm gọi là bình quân vài chục triệu một tháng cho mỗi kỹ sư, chuyên gia… rất nhiều người cao gấp đôi, gấp rưỡi thế. Tiền ? Chế độ đãi ngộ thỏa đáng? Cú hích để những người trẻ vào làm việc ở Viện, yếu tố đó cũng chỉ là một phần.

Ngồi một lát với các kỹ thuật viên hàm tiến sĩ, kỹ sư như Nguyễn Cương Hoàng chuyên ngành điện tử thông tin. Sinh năm 1978, Hoàng từng nhiều năm được đào tạo, làm việc ở Anh quốc. Nhiều nơi chào mời. Nhưng Hoàng đã chọn Viettel. Vì sao? Vì ở Viettel có nhiều cái open (mở) mà Hoàng nói đó là những cú hích, những gợi mở cho việc độc lập sáng tạo.

Nguyễn Lê Minh sinh 1980 – một chuyên gia hàng không được đào tạo ở Pháp. Minh đang tích cực, tự tin trong nhóm nghiên cứu dự án UAV- máy bay không người lái của Viện. Ngạc nhiên mới vừa xong sự kiện là Viện Công nghệ Không gian của Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam chế tạo và thử nghiệm thành công dự án máy bay không người lái. Nay ở Viện này lại tiếp tục? Viettel chậm? Hay dự án, phương án của Viettel khác với UAV nọ? Hóa ra khác thật.

Qua Minh, tôi láng máng về một UAV độc đáo của Viện nay mai. Có lẽ không xa nữa thiết bị UAV của Viện, của riêng Viettel với trọng lượng, trần bay, tầm bay và tốc độ ưu việt nhất có thể, được lập trình một chế độ bay tự động với nhiều tiện ích phục vụ cho dân sự và quốc phòng. Cười thông cảm trước câu hỏi lẩn thẩn của tôi rằng sao không mua của nước ngoài? Thứ hàng với tính năng tác dụng như Minh nói sẵn quá mà? Công phu nghiên cứu làm gì? Hóa ra cung cách giải thích của Minh chính là Viện này đang phải tìm ra bí quyết- chủ quyền của Viettel cho riêng loại khí tài này.

Kiến thức, công nghệ có thể của nước ngoài nhưng phải do người mình, người của Viettel làm. Làm một cách sáng tạo theo kiểu Viettel. Có một dự án nếu mua của nước ngoài phải mất 10 triệu đô la, nhưng anh em ở Viện đã làm được theo cách riêng tốn chỉ 2 triệu đô la. Tướng Xuân chi thưởng vài tỷ. Láng máng biết thêm UAV của Viettel sẽ bay bằng chế độ điều khiển vô tuyến, bằng hệ thống điều khiển tự động sử dụng các cảm biến quán tính và nữa, sẽ có cả UAV hạng trung.

Còn Vũ Việt Tiến, một chuyên gia điện tử có 6 năm tu nghiệp ở Hàn Quốc thì chia sẻ cảm giác tự tin và tự hào rằng, qua bạn bè mách bảo, tìm đến Viện mới thấy Viện đã âm thầm táo bạo dựng nên cả một ngành công nghiệp phần mềm. Tiến cho rằng có thể Viettel là nhân tố nòng cốt để xây dựng nền công nghệ cao ở Việt Nam nên Tiến rất yên tâm làm việc ở Viện này.

 

Còn nhớ mùa hè năm 1972, Bộ Chính trị và các cơ quan hữu trách có một cuộc họp trọng thể đặng tìm ra câu trả lời nếu Mỹ dùng B52 đánh Hà Nội chúng ta sẽ đối phó ra sao. Hằng trăm cặp mắt đổ dồn vào Giáo sư (GS) Trần Đại Nghĩa khi ông phát biểu. Những tưởng vị GS khả kính đó sẽ trưng ra bí quyết hay thứ át chủ bài nào đó nhưng GS đã điềm đạm và khúc chiết rằng, các phương án đánh B52, quân chủng PKKQ đã có nhưng bí quyết vẫn là con người!

Con người- những người lính rađa trắc thủ, phòng không tên lửa đã làm nên lịch sử như thế đó!

Và thời điểm ấy nếu như bộ đội rada có được những thiết bị khí tài như ở Viện bây giờ? Nhưng tiếc lịch sử không có nếu! Chỉ có kế tổ tông chi nghiệp của những người lính Việt Nam trong các cuộc vệ quốc.

Cũng có nghe qua kế hoạch của Viện sẽ thành lập những công ty chi nhánh tại nước ngoài mà cụ thể là ở Hoa Kỳ. Nói sẽ, nhưng mọi việc đương trong tầm tay cả rồi. Nghe thấy như một kế hoạch đi tắt đón đầu của Viện? Chứ không à? Rất nhiều chuyên gia người Việt ở nước ngoài đang có nhu cầu làm việc liên hệ với Viettel nói chung và Viện. Nhưng có thể do hoàn cảnh gia đình, địa lý và lý do khó về Việt Nam thì họ sẽ tìm đến những vệ tinh của Viện Nghiên cứu & Phát triển đang có mặt ở nước ngoài. Sẽ hữu ích tiện lợi nhiều bề.

 

Bây giờ tôi mới hiểu hàng ngàn nhân sự có cả những thành phần liên lục địa và quốc tế góp chất xám cho Viettel như thế! Một đồng nghiệp hỏi vui Viện trưởng Chiến rằng người của Viện nhưng ở nước ngoài Viện trả lương thế nào? Thượng tá Chiến cũng cười trả lời ngay rằng, với một mức khác chả hạn vài ngàn, vài chục ngàn USD/tháng chứ sao!

Hơi hiếm ở một cơ sở quốc phòng ngay cổng ra vào không lính gác nhưng ấn tượng ngay với khách là hai bức tượng kích cỡ như người thật đứng hai bên. Đó là tượng một nhà bác học (tượng trưng) với kính trắng và sách. Tượng kia là một người thợ với dụng cụ búa và thước kẻ. Hằng ngày vào ra Viện, hình ảnh hai nhân vật đó như thông điệp thân ái lẫn nghiêm cẩn với những người lính chuyên viên kỹ thuật.

Lại nữa, cũng hơi bị hiếm trên tường, trong phòng làm việc các công sở mà lại trưng ra những tấm biển, bảng đại loại như ở Viện này. Như tấm biển: Những tồn tại lớn trong năm nay. Ngoài những nhắc nhở thân ái ấy còn khuyến khích không phải bằng những mệnh lệnh khô khan cứng nhắc mà là những câu như: Trong mớ hỗn độn, hãy tìm ra cái đơn giản; Từ những bất đồng tìm ra cái hòa hợp; Trong khó khăn có cơ hội v.v…

Tôi biết những mệnh lệnh rất người của người lính đại loại thế không phải trích ra từ một cuốn sách nào đó, mà tác giả của nó chính là Phó TGĐ Viettel Nguyễn Mạnh Hùng mới được phong quân hàm Thiếu tướng mấy tháng nay.

Xuân Ba [TPO]

Sự lạ ở một tên gọi quen:

Canh trời giữ biển theo cách Viettel (P1)

TP – Ngày đẹp trời mới đây tôi may mắn được… lạc vào một cơ ngơi của “ông lớn” Viettel. Thi sĩ Hồng Thanh Quang vốn quen thuộc chốn này có người nhà (vợ) ở Viettel thế mà chả giấu được ngạc nhiên, quay sang tôi, buông gọn lỏn một từ: Khủng!

Made in Viettel

Trụ sở Tập đoàn Viettel trước ở Giang Văn Minh, Ba Đình (Hà Nội) vừa mới chuyển về khu vực Mỹ Đình thì nhiều người rành, nhưng cơ ngơi Viện Nghiên cứu& Phát triển của Viettel thì tọa lạc ở một vị trí hơi bị khuất nẻo…Một năm rưỡi, vâng Viện ấy mới thành lập ngày 12/9/2011 thôi mà đã chế ra bao thứ khủng như Hồng Thanh Quang từng nắc nỏm.

Viện trưởng Viện Nghiên cứu & Phát triển Viettel, thượng tá Nguyễn Đình Chiến (thứ 2 trái sang) đang giới thiệu các thiết bị
Viện trưởng Viện Nghiên cứu & Phát triển Viettel, thượng tá Nguyễn Đình Chiến (thứ 2 trái sang) đang giới thiệu các thiết bị.

Trước khi lang thang trong căn phòng rộng thênh của cơ ngơi ấy, tôi biên kỹ câu giới thiệu của Viện trưởng, thượng tá Nguyễn Đình Chiến vào sổ tay:

Viettel đủ năng lực đáp ứng hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ, phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin. Sửa chữa nâng cấp và sản xuất các chủng loại thiết bị điện tử viễn thông quân sự và dân sự.

Hóa ra Viettel không chỉ có mạng viễn thông cùng là máy di động này khác!

Nhưng hút mắt vẫn là rada. Đài rada bắt sóng thấp đề – xi – mét. Tôi không được phép chép ra đây những thông số, tính năng tác dụng khiến thế hệ cha anh phát… thèm, vì bí mật quân sự. Cũng như các thiết bị khác như xe ăng – ten rada P18, P19. Rồi khủng hơn, như thiết bị rada cảnh giới 3D băng S; rada cảnh giới bờ biển; thiết bị sonar cảnh giới dưới nước…

Đứng trước thiết bị quản lý vùng trời VQ, các ký giả dường như hơi bị choáng? Choáng không phải là cảm giác những lần may mắn được lọt vào Sở chỉ huy phòng không nào đó.

 Những thiết bị này đang thông tuệ và cần mẫn từng giây từng phút để Tổ quốc không bị bất ngờ trước một cuộc chiến tranh điện tử nào đó!

Trực tiếp ngắm ngó các cô báo vụ tóc tết đuôi sam (mốt của những năm bảy mươi) mồ hôi rịn bết mớ tóc, còn bên thái dương tai đeo cáp nghe, mắt các cô gần như không chớp, tay cầm chì đỏ, liên tục vạch những gạch đỏ trên tấm mica để nối mục tiêu. Miệng liên tục thông báo các thông số về tọa độ, độ cao… Các trận địa tên lửa phòng không tiếp nhận những tín hiệu ấy tùy cơ xử lý!

Biết bao những vất vả nhiêu khê cùng bất an, nguy hiểm của những người lính rada thời chống Mỹ? Và nữa, hiệu suất tác chiến đâu có được như mong muốn? Thế hệ cha anh của bộ đội rada của Phòng không Không quân từng vít cổ những Thần sấm ( F105), Con ma (F4), Giặc nhà trời (AD6) và Pháo đài bay B52 hẳn chẳng ngại ngần gì buông câu con hơn cha nhà có phúc để chỉ những thiết bị phát hiện mục tiêu ưu việt do những người lính kỹ thuật Viettel chế ra. Những thiết bị này đang thông tuệ và cần mẫn từng giây từng phút để Tổ quốc không bị bất ngờ trước một cuộc chiến tranh điện tử nào đó!

Mặt tiền của Viện Nghiên cứu & Phát triển Viettel
Mặt tiền của Viện Nghiên cứu & Phát triển Viettel.

Thốt nhiên dậy lên một cảm giác rân rân trong người khi nghĩ về các cô báo vụ kiêm đánh dấu đường bay cùng các trắc thủ rada vạch nhiễu tìm thù ngày ấy khi tôi đang đứng trước một màn hình trong văn vắt nhỏ hơn mặt cái tivi 30 inch.

Khoảng trời chủ quyền quốc gia thân yêu bao la cùng những vùng phụ cận nhấp nháy các tín hiệu của các loại tàu bay dân dụng đương thư thả (ngó thong thả vậy nhưng đang vun vút với tốc độ 900 cho đến 1.200 km/h ở độ cao trên 10 ngàn feet Và đâu đây những chấm sáng đỏ của các loại máy bay quân sự bay tập.

Khoảng trời bình yên ấy, nói dại mồm, thế lực thù địch nào đó manh tâm gây chiến, nhỡ không may nổi bão giông chiến sự thì từng mục tiêu, ngay tức thì bị những thiết bị điện tử do Viettel chế tạo khóa chặt! Và cũng ngay lập tức, những mục tiêu ấy chỉ bằng động thái nhẹ nhàng như nhấp chuột, được bàn giao cho các đơn vị hỏa lực từ cấp trung đoàn, sư đoàn và cấp quốc gia đương giăng, đương chờ sẵn.

Tôi còn nghe thêm rằng các loại nhiễu tiêu cực tích cực mà bộ óc điện tử của Không lực Hoa Kỳ ngày ấy tác oai tác quái trên bầu trời miền Bắc Việt Nam, hiện giờ khó mà nhằm nhò gì trước các thiết bị điện tử do người lính Viettel chế ra!

Vùng trời sơ bộ là thế. Còn biển đảo chủ quyền? Biên chép ra đây những thiết bị canh biển giữ đảo có lẽ không được phép. Nhưng tôi cũng may mắn được dò dẫm bên cạnh những thiết bị tạm gọi là giám sát tình trạng kỹ thuật tàu hải quân.

Hệ thống giám sát trinh sát định vị và chỉ thị mục tiêu cho hải đảo. Hệ thống thông tin chỉ huy phục vụ cho công tác tìm kiếm cứu nạn trên biển. Và nhất là thiết bị rada giám sát mặt nước vv… Đã đành là vào đây, thấy lắm sự lạ sự tinh khéo khiến mồm chữ O mắt chữ A.

Nhưng nghe vậy thì chỉ biết vậy. Thứ người trần mắt thịt như cánh ký giả đây nhỡn tiền cũng chỉ loáng thoáng nguyên lý là thiết bị điện tử của Viettel đọc mục tiêu trên trời cũng na ná như trên mặt biển chủ quyền! Nhưng chợt dậy lên cảm giác thêm an lòng thêm vững dạ.

Bỗng như muốn bật kêu “Hỡi các lương dân Việt, trời biển chủ quyền Tổ quốc đang được những cặp mắt thần ngày đêm canh giữ!” Nhưng câu ấy cũ rồi, giờ có lẽ phải thêm cụm từ hệ thống mắt thần đa năng và hữu hiệu thì mới tạm chính xác?

Cũng được nghe thoáng qua một thiết bị khủng khác, thiết bị điều khiển tổ hợp năng lượng tàu chiến loại hiện đại nhất của Hải quân nhân dân Việt Nam.

Tự tin hơn

Bạn đọc nên nhớ, những thiết bị khí tài phòng vệ và tấn công ấy, các nước Phương Tây, Âu, Mỹ, chả hạn như NATO rồi Nga, xa hơn là khối Vacsava đã có. Nhưng điều độc đáo và đáng nói ở đây là nó rơi vào tay Viettel sẽ phải khác! Tại sao khác? Cái câu cao nhân tắc hữu cao nhân trị phải được hiểu ở đây nôm na thế này: Người giỏi chế ra thứ vũ khí tài khéo thì cũng biết cách vô hiệu hóa nó khi lọt vào tay đối phương!

Vậy nên có thể đi mua (nếu nhiều tiền và bằng một giá rất đắt) nhưng nhiêu khê oái oăm là liệu có an tâm mà sử dụng dài dài khi bí quyết lại nằm trong tay người khác?

Sẽ phải khác vì chủ quyền quốc gia, vì xương máu người lính. Những bộ óc Viettel ấy từng hào phóng dân chủ với khách hàng ấy là nói theo cách của bạn! Nhưng trong lĩnh vực này đã làm theo cách của mình để tạo ra bản quyền và độ bảo mật cao của riêng Viện nghiên cứu& Phát triển Viettel.

Tổ quốc trong tầm tay
Tổ quốc trong tầm tay.

Không phải sẽ mà đã và đang khác. Ngoài tính bảo mật cao những sản phẩm điện tử viễn thông quân sự và dân sự của Viện chế tạo đã và đang phát huy thế mạnh canh trời giữ biển, đồng thời tiết kiệm khá nhiều ngoại tệ. Đến năm 2015, Viện Nghiên cứu& Phát triển Viettel sẽ phấn đấu đạt doanh thu hơn 1 tỷ USD.

Có vào đây mới thấy thấm thêm, những thiết bị thông tin cồng kềnh nặng cả vài chục ký, cả tạ của các cuộc chiến tranh vệ quốc trước đây, nay được những bộ óc Viettel cải hoán sao đó để nó chỉ thu gọn diện tích vài kilôgam hoặc bé gọn như những cuốn sổ lại phong phú thêm về chức năng hiệu quả sử dụng.

Viện trưởng Chiến cũng chia sẻ cảm giác của Trung tướng Hoàng Anh Xuân, Tổng giám đốc Tập đoàn Viettel lần ấy cứ xuýt xoa rằng cả đời ông từng miệt mài với ngành thông tin (vốn là lính của Bộ Tư lệnh Thông tin, rồi tiếp đó phụ trách luôn Tập đoàn Viễn thông Quân đội) nay mới được tận mắt nhìn tận tay sờ những thiết bị thông tin gọn nhẹ với nhiều tiện ích như thế này!

Người ta thường nói nhiều đến cuộc vượt thoát ngoạn mục đến cuộc đổi ngôi ngoạn mục của Viettel. Sau 12 năm tham gia “chợ” viễn thông Việt khi các sạp lớn nhỏ của các ông chủ VNPT, Mobifone, Vinaphone này khác đã giăng đầy “chợ” với 80-85% thị phần. Thế mà Viettel đã “nói theo cách của bạn”, từ vị trí thứ tư vươn lên thứ nhất.

Thầm nghĩ, nghiệp binh như tướng Xuân đây, được can dự vào một cuộc chơi do chính mình bày đặt ra tại Viện Nghiên cứu & Phát triển này. Bày đặt trên cơ sở mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Tối cao quyết không để Tổ quốc bị bất ngờ trong tác chiến chiến tranh điện tử. Lại cũng do chính mình đôn đốc lao tâm khổ tứ cùng anh em viết nên những dự án táo bạo, những chương độc đáo sáng tạo phần mềm. Để đến hôm nay, hàng chục công trình dự án quân sự và dân sự được quân dân hân hoan chào đón, lại cũng chẳng sướng sao?

Người ta nhắc nhiều đến Viettel đứng đầu trong những doanh nghiệp Việt Nam về nộp ngân sách đến con sốkhủng doanh thu 141.000 tỷ VND năm 2012. Người ta nói nhiều đến hệ thống cáp quang rải đều ở hơn 90% các xã vùng sâu vùng xa. Và nữa, hệ thống hàng trăm ngàn trạm BTS làm nên chất lượng mạng viễn thông của di động Viettel.

Hầu như chả ai nhắc nhớ đến một đơn vị trực thuộc Viettel ấy là Viện Nghiên cứu & Phát triển. Hay cái tên ấy vốn vô thưởng vô phạt nghe đã phát nhàm (mà hầu như bộ, ngành tỉnh, thành nào cũng có?). Hay anh Viettel này vẫn vốn chả mấy khi chú trọng ngó ngàng, chăm bẵm công tác truyền thông? Hoặc cái Viện này thuộc vùng cấm? Chả biết nữa…

(còn nữa)

Xuân Ba [TPO]

Mấy anh em mình tuy “bô lão” cũ kỹ, nhưng cùng dàn hàng phi tàu Khựa (màu trắng), khiến chúng chả đi đâu được

Đi biển với lính Hải quân, ai mới lần đầu cũng lắc đầu quầy quậy, khi thấy phần lớn những tàu được gọi là “tàu chiến đấu” mang số hiệu HQ cũ kỹ, chậm chạp và trang bị đơn sơ đến thảm hại, với vài khẩu pháo phòng không 12ly7, cao hơn nữa là khẩu 14ly5 trùm bạt im ỉm trên mũi và đuôi tàu.

Thế nhưng, đi nhiều mới vỡ lẽ “tưởng vậy nhưng không phải vậy”: Những con tàu tưởng như sắp chuyển công tác lên… Gang thép Thái Nguyên ấy, thường xuyên được gia cố, nâng cấp mũi – vỏ rất chắc chắn và ngoài đảm đương nhiệm vụ vận chuyển, trực đảo – nhà giàn, còn phải làm nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, cần thiết là chiến đầu với những tàu hiện đại của Tàu khựa, cứ rình rình sơ hở là phi vào lãnh hải ta.

Dĩ nhiên, từ “chiến đấu” dùng trong trường hợp này, giai đoạn vừa qua – hiện nay, chỉ dừng ở việc vây ép, đâm va hoặc chắn đường, không cho chúng xâm phạm hải phận, bắt nạt những tàu dân sự khác…

Còn nếu xảy ra chiến đấu thực sự, những “bô lão” này khó có thể chống chọi với tên lửa, pháo hạm, ngư lôi của tàu địch, mà phải cần đến những “thanh niên mới lớn” Đinh Tiên Hoàng, Lý Thái Tổ…

Đấy là giả dụ thế thôi, chứ hiện tại thì những chuyện đâm va, vây ép giữa ta và địch, xảy ra như cơm bữa và chúng, hình như cũng… xót của, thấy ta hùng hục lao vào, phi bình bịch vào thân tàu cảnh quất trắng muốt, vỏ sắt nhẹ hều, lên chỉ vài cú đâm, là chán hẳn, chạy mất dép. Thế mới thấy “thô sơ thắng hiện đại” là thế nào.

Anh em Hải quân công tác trên những tàu “bô lão” này đã quá quen thuộc với những chiến thuật vây ép. Đơn cử như húc tàu. Chiến thuật này được dùng khi tàu đối phương lớn hơn tàu mình, vị trí húc thì thường ở 1/3 thân tàu về phía mũi, nếu muốn ép tàu đối phương chuyển hướng.

Biện pháp đâm ngang thân là cách húc quyết liệt nhất, ít dùng.

Một chiến thuật khác là chèn mạn và chỉ áp dụng khi công suất máy tàu ta mạnh hơn, phải biết chọn góc tiếp cận để ép tàu đối phương bẻ lái theo hướng ta muốn. Nếu dùng biên đội tàu thì thường là ép cả lái và mũi.

Đặc biệt, trên các tàu thường xuyên đâm, húc thì ở các vị trí phải làm việc trên mặt boong, đều có dây an toàn, đệm vải bạt để chiến sĩ đeo, tránh rơi xuống biển, hoặc bị ngã ra khỏi vị trí công tác quá xa…

Nghe chuyện và chứng kiến cùng anh em Hải quân, mới thấm thía: Việc bảo vệ chủ quyền trên biển, có những chuyện không thể ngờ được, ngặt 1 nỗi cả ta và đối phương đều tiết chế, không làm rùm beng.

Thế nhưng, có điều phải khẳng định là những hình ảnh, video clip mà cư dân mạng mới được chứng kiến vừa rồi, không phải là cái gọi là “sắp xếp, dàn dựng, diễn trò” như nhiều người lầm tưởng. Đừng nói vậy mà anh em bộ đội Hải quân làm nhiệm vụ trên các tàu “bô lão” buồn, tủi.

Chả ở đâu vất vả, khó khăn, thiếu thốn như sống trên những con tàu ấy.

Chả ở đâu, những người lính lại dũng cảm, can trường và chấp nhận hy sinh, như sống – làm nhiệm vụ trên những con tàu ấy. Đụng độ trên biển, không hẳn là nổ súng bắn nhau, mà còn là những biện pháp – chiến thuật mềm dẻo, cương quyết nhưng cũng rất gan góc, nguy hiểm để ngăn chặn đối phương có sức mạnh quân sự hiện đại, đủ đầy hơn ta nhiều lần.

Và từ đó mới càng thấm thía lời dạy của Ông Cụ từ những năm xa tít tắp: “Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm. Nếu không có súng – gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc…”.

Đầu tuần, mình kể lại 1 cuộc đụng độ trên biển Đông giữa tàu của Hải quân ta và tàu Ngư chính của Trung Quốc. Hình ảnh do phía Trung Quốc ghi lại, từ trên tàu và trực thăng, của chính họ.

Cuộc đụng độ này, diễn ra tại tọa độ XYZ nào đấy. Tại thời điểm ABC nào đấy, mà bạn nào thắc mắc, hỏi hộ mình với. Đơn giản là mình chả biết tiếng Tàu, lại chả có vinh dự công tác trên những con tàu tuy “bô lão”, nhưng rất can trường, dũng cảm ấy và dĩ nhiên, mình cũng rất… tò mò muốn biết: Sự thể ra răng?. Hi! Hi!..

Mai Thanh Hải [link]

971281_451630561592023_2071654550_n

2 "bô lão" cùng ép lòi rom tàu Khựa

2 “bô lão” cùng ép lòi rom tàu Khựa

983825_451630598258686_1306296577_n

Tàu ta (nâu sẫm) tuy 1 nhưng dũng cảm chọi với 2 thằng tàu Khựa (màu trắng)

Tàu ta (nâu sẫm) tuy 1 nhưng dũng cảm chọi với 2 thằng tàu Khựa (màu trắng)

Chắn ngay trước mũi, khiến Khựa không nhúc nhích nổi (hình do trực thăng Khựa ghi lại, từ trên cao)

Chắn ngay trước mũi, khiến Khựa không nhúc nhích nổi (hình do trực thăng Khựa ghi lại, từ trên cao)

270507_451630618258684_1742592281_n 943163_451630624925350_574207815_n

Tàu ta (Đông Nam 29, Quân chủng Hải quân) chắn trước mũi, không cho tàu Khựa xâm phạm sâu vào lãnh hải

Tàu ta (Đông Nam 29, Quân chủng Hải quân) chắn trước mũi, không cho tàu Khựa xâm phạm sâu vào lãnh hải

TT – Quân và dân VN ngày 17-2-1979 buộc phải cầm súng một lần nữa, chiến đấu kiên cường trước một đội quân đông hơn nhiều lần, trên một phòng tuyến biên giới dài gần 600km.

TS Nguyễn Mạnh Hà – Ảnh: V.Dũng

TS NGUYỄN MẠNH HÀ, viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, nguyên đại tá, chính ủy sư đoàn 308 anh hùng, nhiều năm là viện phó Viện Lịch sử quân sự (Bộ Quốc phòng). Những ngày tháng 2 này, ông chia sẻ với Tuổi Trẻ về cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc từ ngày 17-2 đến 5-3-1979.

* Thưa ông, cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc xảy ra đến nay đã được 34 năm. Ông nói về sự kiện này như thế nào?

– Cuộc chiến tranh biên giới không chỉ bắt đầu từ ngày 17-2-1979, không chỉ bắt đầu sau câu chuyện “nạn kiều” 1978, cũng không chỉ bắt đầu từ những rạn nứt trong quan hệ Việt – Trung sau chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ năm 1975, một chiến thắng mà một số nhà sử học trên thế giới đã cho rằng Trung Quốc không mong muốn. Cũng không phải hoàn toàn như vậy mà nó có gốc rễ sâu xa từ những tính toán trong lợi ích chiến lược của cả Liên Xô và Trung Quốc trên phạm vi toàn cầu chứ không chỉ với một nước nhỏ như VN.

Sai sót lớn là chúng ta đã nhận ra quá muộn bản chất của chế độ Pol Pot. Năm 1977, đồng chí Lê Trọng Tấn được Quân ủy Trung ương cử vào biên giới Tây Nam nghiên cứu tình hình xung đột biên giới với Campuchia trở về, khi trở ra Hà Nội đã bức xúc khẳng định: “Đây không còn là xung đột nữa. Đây là một cuộc chiến tranh biên giới thật sự”. Lúc đó, chúng ta mới tìm hiểu đằng sau Pol Pot là ai. Là rất nhiều cố vấn nước ngoài từng giúp chúng ta trong cuộc kháng chiến trước đó.

Khi chúng ta tổ chức phản kích, tiến vào giải phóng Phnom Penh ngày 7-1-1979, giúp dân tộc Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, hồi sinh thì đúng 40 ngày sau, Trung Quốc phát động chiến tranh biên giới, với chiêu bài “dạy cho VN một bài học”. Quân chủ lực VN lúc đó đã tăng cường cho chiến trường Campuchia, Trung Quốc hi vọng VN sẽ gục ngã vì bất ngờ.

Lịch sử dân tộc ta có tới 17 cuộc chiến tranh chống xâm lược thì chúng ta đã chiến thắng 14, còn ba cuộc kháng chiến dai dẳng, hàng chục, thậm chí hàng trăm năm chúng ta bị nước ngoài đô hộ nhưng rồi dân tộc ta vẫn chiến thắng.Có thể trong lịch sử hiện đại, khái niệm biên giới quốc gia không còn được tính bằng các cột mốc nữa mà bằng “biên giới mềm”, “sức mạnh mềm”, bằng sự xuất hiện của hàng hóa, hình ảnh, văn hóa của quốc gia nào đó trên đất nước mình, nhưng tôi vẫn tin là chúng ta sẽ bảo vệ được nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của mình, một khi cả dân tộc kết thành một khối, dưới sự lãnh đạo của Đảng dày dạn kinh nghiệm cả trong chiến tranh và trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc

TS NGUYỄN MẠNH HÀ

Ông Trương Tấn Sang – khi là ủy viên Bộ Chính trị, thường trực Ban Bí thư – đến thắp hương tri ân các anh hùng liệt sĩ tại Pò Hèn (Quảng Ninh) ngày 26-5-2010 – Ảnh tư liệu

Quân và dân VN bị buộc phải cầm súng một lần nữa, đã chiến đấu kiên cường trước một đội quân đông hơn nhiều lần, trên một phòng tuyến biên giới dài gần 600km, và đã đánh bật được quân Trung Quốc về bên kia biên giới sau khi làm tổn thất đáng kể sinh lực đối phương.

* Liệu việc bình thường hóa quan hệ sau chiến tranh có làm chúng ta chịu những thiệt thòi nhất định như những điều kiện đi kèm thường thấy trong các hiệp định mà nước lớn thường áp đặt cho nước nhỏ?

– Cuộc chiến tranh biên giới chính thức kéo dài chỉ 17 ngày, từ 17-2 đến 5-3-1979. Nhưng những cuộc xung đột còn kéo dài đến tận năm 1988. Trong suốt chín năm, một phần đáng kể nhân tài vật lực của chúng ta đã phải dồn cho biên giới phía Bắc, trong khi Mỹ cấm vận, viện trợ của Liên Xô cắt giảm so với trước và Trung Quốc thì từ bạn thành thù. Có thể nói VN đã hao tốn nhiều sức lực vì cuộc chiến biên giới đó. Nếu căng thẳng tiếp tục kéo dài, VN càng ngày càng bất lợi. Chính vì vậy, năm 1988, khi VN chủ động rút quân chủ lực lùi xa biên giới 40km, tình hình biên giới lắng dịu ngay, và đến năm 1991 thì VN và Trung Quốc chính thức bình thường hóa quan hệ sau cuộc gặp giữa lãnh đạo hai nước ở Thành Đô, Trung Quốc.

Một người dân đến thắp hương tri ân các liệt sĩ tại đài tưởng niệm Pò Hèn (Quảng Ninh) tháng 2-2013 – Ảnh: Lê Đức Dục

Là một người nghiên cứu lịch sử, nhưng cũng là một người lính, tôi xin nói thẳng là dù bất cứ hoàn cảnh nào thì hòa bình vẫn là quý giá nhất. Chiến tranh biên giới kết thúc thật sự, chúng ta mới có thể tiếp tục sự nghiệp đổi mới, có những chính sách lâu dài và bền vững để phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống nhân dân, để có một vị thế mới trong bản đồ ngoại giao thế giới như hôm nay.

Nhưng như vậy không có nghĩa là trang sử về chiến tranh biên giới đã khép lại. Lịch sử bản chất là sòng phẳng, khách quan, cái gì đã xảy ra rồi cũng có lúc sẽ được đặt lại trên bàn cân lịch sử để luận định. Chúng ta nhìn lại chiến tranh biên giới, trước hết là để học bài học cho chính mình: cái gì lẽ ra đã có thể tránh được, cái gì cần nhớ để nhắc lại cho thế hệ sau.

Chúng ta cần có những sự vinh danh và tri ân các liệt sĩ đã ngã xuống để bảo vệ Tổ quốc trong cuộc chiến tranh ngắn ngủi mà đằng đẵng đó. Chúng ta cũng cần rút kinh nghiệm xương máu từ thực tế lịch sử của dân tộc mình khi hoạch định đường lối đối ngoại trong một thế giới hiện đại đang thay đổi từng ngày, lợi ích các bên đan xen nhau cực kỳ phức tạp. Cần hiểu rõ bạn – thù và phải đặt quyền lợi của dân tộc lên trước hết và trên hết thì mới có chính sách đúng được.

TTO

THU HÀ THỰC HIỆN

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979

Đúng vào ngày này 34 năm trước (17.2.1979), Trung Quốc bất ngờ tung hơn 60 vạn quân nổ súng xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía bắc, nhưng đã phải rút quân sau hơn một tháng gặp sự kháng cự mãnh liệt của quân và dân ta, chịu nhiều tổn thất nặng nề.

Tuy vậy cuộc chiến tranh xâm lược này cũng mở màn cho cuộc xung đột vũ trang tại biên giới giữa VN và Trung Quốc (TQ) kéo dài suốt 10 năm sau đó. Theo thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược – Bộ Công an, với độ lùi về thời gian, việc nhìn nhận lại cuộc chiến tranh này là hoàn toàn cần thiết.

 

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Thiếu tướng Lê Văn Cương

 

Kể từ sau khi VN và TQ bình thường hóa quan hệ (1991), hai bên dường như đều không muốn nhắc lại cuộc chiến này. Từ hơn 30 năm qua, cuộc chiến chống quân xâm lược Trung Quốc gần như không được nhắc tới. Theo ông tại sao cuộc chiến lại bị rơi vào lãng quên như vậy?

Để trả lời câu hỏi này có lẽ cần cả một hội thảo khoa học. Tôi chỉ xin lưu ý như sau, vào những năm kỷ niệm chẵn 10, 15… hay gần đây nhất là 30 năm sau cuộc chiến tranh chống TQ xâm lược (2009), báo chí, truyền hình của VN gần như không đưa tin gì về sự kiện này. Đây là một sự thiếu sót lớn trên góc độ Nhà nước. Hơn thế nữa, đó là một sự xúc phạm đến linh hồn của những đồng bào, chiến sĩ đã bỏ mình để bảo vệ Tổ quốc trong cuộc chiến tháng 2.1979 và gần mười năm sau đó. Họ nằm dưới mộ có yên không? Gia đình vợ con bạn bè và những người thân thích của họ sẽ nghĩ gì về chuyện này?  Đã có ý kiến cho rằng nhắc đến những chuyện này cũng có nghĩa là kích động chủ nghĩa dân tộc. Tôi có thể khẳng định rằng nói như vậy là ngụy biện.

Trong khi chúng ta im lặng thì những dịp đó chúng tôi đã thống kê hệ thống phát thanh, truyền hình báo chí của TQ tung ra trung bình từ 600-800 tin, bài với những cái tít gần như có nội dung giống nhau về cái mà họ gọi là “cuộc chiến tranh đánh trả tự vệ trước VN”. Có thông tin cho rằng hiện tại có tới trên 90% người dân TQ vẫn quan niệm rằng năm 1979 Quân đội VN đã vượt biên giới sang tấn công TQ và bắt buộc TQ phải tự vệ đánh trả. Từ hàng chục năm nay, hệ thống tuyên truyền của TQ đã nhồi nhét vào đầu người dân TQ rằng cuộc chiến 1979 chỉ là cuộc phản công trước sự xâm lược của VN.

Theo tôi nghĩ, trong tuyên truyền đối nội và đối ngoại, cả ở kênh nhà nước, nhân dân và trên truyền thông, chúng ta phải làm rõ và góp phần làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ bản chất của cuộc chiến tranh Việt – Trung 1979. Đồng thời góp phần làm cho hơn 1,3 tỉ người TQ biết được sự thật rằng vào ngày đó hơn 60 vạn quân TQ đã vượt biên giới xâm lược VN. Việc chúng ta im lặng hàng chục năm qua, theo tôi là  không đúng. Việc nói ra cũng không liên quan gì chuyện kích động chủ nghĩa dân tộc. Hãy thử so sánh chuyện đó với việc TQ tung ra hàng nghìn bài báo xuyên tạc lịch sử từ hàng chục năm qua.

 

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Bộ đội Việt Nam đánh trả quân Trung Quốc xâm lược tại Lạng Sơn năm 1979

 

Với độ lùi về thời gian, theo ông chúng ta có thể rút ra những điều gì từ cuộc chiến tranh này? Những điều đó có ý nghĩa thế nào trong bối cảnh hiện tại ?

Theo tôi, khoảng thời gian 34 năm đã là khá đủ cho chúng ta nhận thức lại những vấn đề xung quanh cuộc chiến 1979. Thế nhưng đến giờ phút này tôi có cảm giác không phải lúc nào chúng ta cũng có được sự nhận thức thống nhất, nhất quán từ trên xuống dưới.

Vấn đề thứ nhất, phải xác định rõ về mặt khoa học, cuộc chiến 1979 là cuộc chiến tranh chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc. Đây là vấn đề phải nhận thức rõ từ cấp cao nhất. Sự nhận thức ấy cũng phải được thống nhất trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Đây là chuyện không được phép mơ hồ.

Không chỉ nhận thức mà Nhà nước có trách nhiệm đưa câu chuyện này vào sách giáo khoa. Thực tế cho thấy phần lớn học sinh tiểu học, trung học và thậm chí đa số trong 1,4 triệu sinh viên hầu như không biết gì về cuộc chiến tranh này. Nếu để tình trạng này kéo dài, trách nhiệm thuộc về Nhà nước. Chắc chắn chúng ta sẽ không tránh được sự phê phán của thế hệ sau này. Hàng vạn người con ưu tú của chúng ta đã bỏ mình để bảo vệ từng tấc đất biên giới phía bắc của Tổ quốc, tại sao không có một dòng nào nhắc đến họ? Bây giờ đã quá muộn. Nhưng không thể để muộn hơn được. Theo quan điểm của tôi, Nhà nước phải yêu cầu đưa phần này vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Chúng ta không thể mơ hồ được, không thể  lờ đi vấn đề lịch sử này được.

 

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Bệnh viện huyện Trùng Khánh, Cao Bằng bị quân Trung Quốc tàn phá tháng 2.1979 – Ảnh: Tư liệu

 

Tôi đã nhiều lần trao đổi với các học giả nước ngoài và họ đã thắc mắc khá nhiều chuyện tại sao sự kiện chiến tranh chống quân TQ xâm lược năm 1979 lại không được nhắc đến trong các giáo trình lịch sử của VN. Tôi đã phải chống chế với lý do rằng người VN muốn quên đi quá khứ và hướng đến tương lai. Nhiều học giả Hàn Quốc, Nhật Bản đã phản bác tôi vì “Lịch sử là lịch sử. Quá khứ là quá khứ. Tương lai là tương lai”. Họ nói rằng: “Chúng tôi biết người VN rất nhân hậu, muốn hòa hiếu với các dân tộc khác. Nhưng điều này không thể thay thế cho trang sử chống ngoại xâm này được”.

Thứ hai,  trong thế giới hiện đại toàn cầu hóa, các quốc gia đều phụ thuộc lẫn nhau. Không có quốc gia nào hoàn toàn độc lập tuyệt đối. Ngay cả Mỹ nhiều lúc cũng phải nhân nhượng các quốc gia khác. Chúng ta không có quan niệm về độc lập chủ quyền tuyệt đối trong thời đại toàn cầu hóa. Nhưng trong bối cảnh này, phải nhận thức rõ cái gì là trường tồn? Theo tôi có 3 thứ là chủ quyền quốc gia, ý thức dân tộc và lợi ích quốc gia. Ở đây chúng ta phân biệt chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, chủ nghĩa dân tộc nước lớn với lòng yêu nước chân chính, ý thức tự tôn tự hào dân tộc. Hai cái đó khác nhau. Người VN có truyền thống yêu nước, có tinh thần chống ngoại xâm bất khuất, đó là điều cần được phát huy trong 92 triệu người VN trong và ngoài nước.

Chủ quyền quốc gia, ý thức dân tộc và lợi ích quốc gia là những cái “dĩ bất biến”, những cái còn lại là “ứng vạn biến”. Những chuyện “16 chữ”, “bốn tốt” trong quan hệ với TQ là “ứng vạn biến”. Bài học từ cuộc chiến chống xâm lược năm 1979 cho thấy nếu không nhận thức được điều này thì rất nguy hiểm.

Thứ ba, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, tiêu chí để phân biệt người yêu nước hiện nay là anh có bảo vệ lợi ích quốc gia hay không. Trên thế giới này không có bạn bè vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia mới là vĩnh viễn. Năm nay chúng ta chuẩn bị tổng kết Nghị quyết T.Ư 8 (7.2003) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Tôi thấy có một quan điểm bây giờ vẫn đúng, đó là: “Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh”. Đồng thời, cũng phải có cách nhìn biện chứng về đối tượng và đối tác: trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong một số đối tác, có thể có mặt khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của ta, cần phải đấu tranh.

 

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Tù binh Trung Quốc bị bắt tại Cao Bằng

 

Nhìn lại từ câu chuyện của 34 năm trước đến những căng thẳng hiện tại trong vấn đề biển Đông, theo ông có thể hy vọng gì ở tương lai trong quan hệ giữa VN và TQ ?

Tạo ra lòng tin, sự hữu nghị chân thật giữa hai nước là con đường tất yếu nhưng đòi hỏi thời gian lâu dài và từ cả hai phía. Đây không phải là điều có thể hy vọng có được trong vài ba năm tới đây. Lịch sử mách bảo chúng ta muốn giữ được hòa bình, ổn định, giữ được độc lập tự chủ thì điều quan trọng nhất là giữ được lòng dân. Trên dưới một lòng, có được sự đoàn kết dân tộc thì chắc chắn không có kẻ xâm lược nào dám dại dột động đến chúng ta cả. Lịch sử VN đã cho thấy những lần mất nước đều bắt đầu từ việc chính quyền mất dân. Năm 179 trước CN An Dương Vương để mất nước là do mất dân. Một ông vua đứng đầu quốc gia mà tin vào kẻ thù thì chuyện mất nước là không thể tránh khỏi. Năm 1406, nhà Hồ mất nước cũng vì đã mất dân. Đến mức độ nhà Minh truy bắt cha con Hồ Quý Ly thì chính những người trong nước đã chỉ điểm cho quân Minh. Năm 1788 Lê Chiêu Thống sang cầu viện Mãn Thanh đưa 20 vạn quân sang giày xéo quê cha đất tổ cũng là ông vua đã mất dân. Đó là bài học muôn đời để bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Ng.Phong
(thực hiện)
nguồn: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130217/nhin-lai-chien-tranh-bien-gioi-1979.aspx

Vắng phản biện, cạnh tranh dễ độc đoán, chuyên quyền

Không có sự phản biện, sự cạnh tranh, Đảng dễ chủ quan, duy ý chí. Đường lối chính trị dễ bị sai lầm, hành động độc đoán, chuyên quyền, làm mất dân chủ trong xã hội và không bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, không bảo đảm và phát huy vai trò quản lý của Nhà nước.

Câu chuyện đổi mới, nâng cao phương thức lãnh đạo của Đảng là một trong những vấn đề “cốt tử” được bàn tại hội thảo “Đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta” sáng 31/1 ở Hà Nội.

Không lực lượng nào phản biện đủ mạnh

Một trong những vấn đề được xem là “cốt tử” được bàn tại hội thảo là câu chuyện đổi mới, nâng cao phương thức lãnh đạo của Đảng.

Nói như PGS.TS Lê Quốc Lý, Phó giám đốc Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, hiện Đảng cũng đang gặp khó khăn, thách thức không nhỏ ảnh hưởng đến uy tín chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn tại của chế độ. Đó là tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên dễ lộng quyền, lạm quyền, coi thường pháp luật. Đảng cũng đã coi trọng và tích cực khắc phục để loại trừ tình trạng này bằng nhiều biện pháp kiểm tra, giám sát.

PGS.TS Mạch Quang Thắng cũng từ Học viện bổ sung thêm, do đặc trưng “duy nhất” đó nên dẫn đến một nguy cơ: không có lực lượng nào phản biện với tư cách một tổ chức chính trị đủ mạnh.

Ông Thắng phân tích, dùng Mặt trận để phản biện là cần thiết song chưa có cơ chế nào cho toàn thể nhân dân phản biện. Không có sự phản biện, sự cạnh tranh, Đảng dễ chủ quan, duy ý chí. Đường lối chính trị dễ bị sai lầm, hành động độc đoán, chuyên quyền, làm mất dân chủ trong xã hội và không bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, không bảo đảm và phát huy vai trò quản lý của Nhà nước. Đặc biệt, quan điểm, đường lối của Đảng ít được cọ xát.

Sau khi trích dẫn văn kiện Đại hội Đảng về nguy cơ thoái hóa, biến chất trong đội ngũ, ông Thắng phân tích, các cảnh báo đó phản ánh tình hình thực trạng nguy hiểm cho Đảng.

“Chỉ những người có chức có quyền, những cán bộ, công chức nắm trong tay quyền, tiền, của cải thì mới có khả năng tham nhũng. Mà tuyệt đại đa số trong đó là đảng viên”, ông Thắng kết luận.

Theo TS Mạch Quang Thắng, sự suy yếu đó còn biểu hiện ở chỗ lòng tin của nhân dân với Đảng đã bị suy giảm.

PGS.TS Trần Khắc Việt (Học viện Xây dựng Đảng) phân tích, hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng với cơ quan nhà nước chưa thường xuyên, hiệu quả còn thấp. Việc xử lý các sai phạm của cán bộ, công chức chưa thật kiên quyết, nghiêm minh. “Phương thức lãnh đạo của Đảng với công tác cán bộ chậm đổi mới, quy trình phức tạp nhưng vẫn để lọt cán bộ không thật sự xứng đáng tham gia vào bộ máy lãnh đạo, quản lý của cơ quan nhà nước”, ông Việt cho hay.

Cũng theo ông Việt, tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm còn diễn ra ở nhiều nơi. Càng xuống dưới cơ sở thì tình trạng cấp ủy bao biện, làm thay việc của chính quyền càng thể hiện rõ. Còn nhiều trường hợp cấp ủy can thiệp sâu vào hoạt động của cơ quan điều tra, tố tụng, xét xử.

Trong tham luận công phu gửi hội thảo, GS Nguyễn Văn Huyên (nguyên Viện trưởng Viện Chính trị học) cảnh báo, Đảng cần xem lại cả về tâm lẫn tầm để xem liệu Đảng có đạo đức, văn minh, là trí tuệ, thiên tài.

Ông Huyên phân tích, một nguy cơ của đảng cầm quyền là dễ đi đến chuyên quyền, độc đoán. Khi có quyền, cá nhân đảng viên, người lãnh đạo dễ dàng tự thỏa mãn, dùng quyền lực thay cho chân lý, cho pháp luật trong chỉ đạo. Đặc biệt, việc ít chịu học tập, rèn luyện làm không ít người có chức quyền bị tụt hậu, trì trệ. Tất cả dẫn đến hạn chế tầm tư duy chiến lược, hoạch định chính sách, không theo kịp xu thế vận động, thậm chí còn bảo thủ làm kìm hãm tốc độ phát triển của xã hội.

Tranh cử, cạnh tranh bình đẳng

Sau khi chỉ ra hàng loạt nguy cơ nói trên, rất nhiều đại biểu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát và giám sát quyền lực trong thể chế chính trị một đảng. Đặc biệt, cần xây dựng một cơ chế cụ thể để đảm bảo vai trò giám sát của nhân dân.

Theo TS Tống Đức Thảo (Viện Chính trị học), một trong các quyền quan trọng thể hiện quyền lực thuộc về nhân dân là quyền được quyết định chọn lựa các đại diện thể hiện cho ý chí của mình, đi đôi với nó là quyền phế truất khi người được ủy quyền không thi hành đúng ý nguyện của dân chúng.

Theo ông Thảo, Đảng nên giới thiệu cán bộ của mình ra tranh cử, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng và để dân được quyền lựa chọn người đại diện. “Làm như thế không những Đảng nâng cao uy tín, tính chính đáng cho quyền lãnh đạo của mình mà còn tăng thêm sức mạnh cho dân để cùng tham gia xây dựng bộ máy nhà nước”, ông Thảo nhận xét.

ĐB Trần Đình Nghiêm nói rõ hơn, vấn đề kiểm tra, giám sát của Đảng cần có sự phối hợp chặt chẽ với công tác thanh tra của Chính phủ, công tác giám sát của QH, với MTTQ và các đoàn thể xã hội.

“Nhân dân phải được giám sát quyền lực thông qua các hình thức phổ biến nhất như bầu người đại diện, bãi miễn người đại diện trong các cơ quan quyền lực. Người dân cũng phải có quyền phản biện với Hiến pháp, pháp luật cũng như các chủ trương lớn của nhà nước và phải được quyền bày tỏ chính kiến về những vấn đề quốc kế dân sinh”, ông Nghiêm cho hay.

Nhân cơ hội đang sửa đổi Hiến pháp 1992, một số đại biểu đề xuất xúc tiến xây dựng luật về Đảng để đảm bảo tổ chức Đảng hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.

LÊ NHUNG (VIETNAMNET)

Trả lời phỏng vấn Thông tấn xã Việt Nam, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho biết: “Người dân lo lắng, bức xúc về tình hình biển Đông là đúng. Đó là lòng yêu nước và tinh thần độc lập đã được trao chuyền qua bao thế hệ”.V

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang – Ảnh tư liệu Tuổi Trẻ

Chủ tịch nước nói thêm: “Lợi ích của Việt Nam trên biển Đông được luật pháp quốc tế thừa nhận và bảo vệ theo Công ước Luật biển 1982”.

 

 

 Thưa Chủ tịch nước, năm 2012 ngoại giao Việt Nam có hàng loạt sự kiện hợp tác song phương và đa phương sôi nổi. Kết quả của những hoạt động đó như thế nào?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Năm 2012, Việt Nam nhấn mạnh chủ trương mới và quan trọng trong đối ngoại: Việt Nam không chỉ hội nhập kinh tế mà còn hội nhập quốc tế một cách sâu rộng và toàn diện, cả về chính trị.

Mặc dù tình hình kinh tế đất nước trong năm qua còn nhiều khó khăn, tình hình quốc tế và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, nhưng do chính sách đối ngoại đúng đắn, bạn bè quốc tế tiếp tục tin tưởng, ủng hộ sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước của Việt Nam. Vốn ODA cơ bản không giảm so với những năm trước, vốn FDI đăng ký mới thấp hơn nhưng phần vốn thực hiện vẫn xấp xỉ năm trước, góp phần duy trì phát triển trong điều kiện hết sức khó khăn, tiếp tục củng cố vai trò và vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế.

Lập trường của Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo được bạn bè quốc tế chia sẻ, ủng hộ. Năm qua đã có hơn 30 đoàn khách gồm nguyên thủ, người đứng đầu nhà nước, chính phủ, các cơ quan lập pháp của các quốc gia đã đến thăm, làm việc với Việt Nam và đều kỳ vọng về sự hợp tác trước mắt và lâu dài với nước ta. Đó là những quan hệ hợp tác có lợi cả trên bình diện song phương và đa phương…

– Thưa Chủ tịch nước, các quốc gia Đông Nam Á giữ vị trí như thế nào trong chính sách đối ngoại của Việt Nam?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Việt Nam luôn xác định là thành viên tích cực và có trách nhiệm của ASEAN. Đảm nhiệm chủ tịch luân phiên ASEAN cũng như khi là thành viên bình thường, Việt Nam luôn có những việc làm, sáng kiến góp phần củng cố sự đoàn kết và thúc đẩy xây dựng cộng đồng ASEAN, được các thành viên ASEAN cùng các nước tán thành.

Những nước lớn trong quan hệ đối tác với ASEAN cũng rất coi trọng quan hệ với Việt Nam, quyết định nâng tầm quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam và qua Việt Nam để khẳng định quan hệ với khu vực Đông Nam Á.

Chúng ta quan hệ đa phương, chú ý phát triển quan hệ với các nước lớn, nhưng luôn đặc biệt coi trọng quan hệ với ASEAN. Đây là chủ trương nhất quán trong quan hệ với các nước láng giềng. Tôi muốn hỏi lại, bạn có coi trọng quan hệ với hàng xóm của mình không?

– Hiện nay chủ đề biển Đông đang được chú ý tại các diễn đàn trong nước và quốc tế. Quan điểm của Việt Nam về vấn đề này như thế nào, thưa Chủ tịch?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Biển Đông là chủ đề Việt Nam luôn quan tâm, ASEAN và nhiều nước trên thế giới có quan hệ lợi ích gắn với biển Đông cũng rất chú trọng. Việt Nam đã tuyên bố và khẳng định rất rõ ràng lập trường của mình: tranh chấp về chủ quyền ở biển Đông phải được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế trong đó có Công ước Luật biển 1982.

Giữa Trung Quốc và ASEAN đã ký thỏa thuận về DOC. Hai bên cũng đã thỏa thuận việc xây dựng bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông COC, nâng những nguyên tắc đó lên cao hơn, có tính pháp lý ràng buộc. Tuy nhiên, chúng ta chủ trương tất cả những vấn đề đó phải được giải quyết hòa bình, hữu nghị, không dùng vũ lực, để biển Đông thực sự hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải.

Trung Quốc cũng tuyên bố như vậy với ASEAN. Trên thực tế, các vấn đề diễn ra về cơ bản là cũng theo các nguyên tắc và phương châm như trên. Tuy nhiên, vẫn có những va chạm nhất định trên biển Đông mà chúng ta đã chứng kiến trong năm qua.

Tôi một lần nữa nhấn mạnh giải quyết tháo gỡ vấn đề này phải tuân thủ nguyên tắc luật pháp quốc tế và thực hiện theo phương châm hòa bình, hữu nghị giữa các bên liên quan. Những nguyên tắc này không chỉ Trung Quốc và ASEAN công nhận, mà cộng đồng quốc tế, nhất là những nước quan tâm và có lợi ích ở biển Đông, cũng thừa nhận và ủng hộ. Việt Nam luôn khẳng định nguyên tắc này trên các diễn đàn, hội thảo…

– Thưa Chủ tịch nước, cũng tuyên bố chủ quyền với quần đảo Trường Sa, Philippines và Brunei có đồng tình với Việt Nam trong việc xử lý vấn đề biển Đông?


 

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Không chỉ Philippines, Brunei mà cả Malaysia, Indonesia và nhiều nước khác trong ASEAN, tuy không có lợi ích trực tiếp ở biển Đông, cũng ủng hộ những quan điểm đó. ASEAN lấy đồng thuận làm nguyên tắc hoạt động, nghĩa là tất cả các thành viên đều thống nhất trong vấn đề này. Đó là quan điểm, nguyên tắc chung của tất cả các thành viên ASEAN; là cơ sở quan trọng để Việt Nam cũng như cộng đồng ASEAN đi đến đàm phán với Trung Quốc hiện nay và tương lai.

– Chúng ta chủ trương giữ vững chủ quyền biển đảo bằng con đường ngoại giao hòa bình, nhưng tình hình biển đảo ở biển Đông thời gian qua khiến người dân chưa an tâm. Chủ tịch nước có thông điệp gì đối với người dân về vấn đề này?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Người dân lo lắng, bức xúc về tình hình biển Đông là đúng. Đó là lòng yêu nước và tinh thần độc lập đã được trao chuyền qua bao thế hệ. Đảng và Nhà nước ta chủ trương như thế nào cũng phải trên cơ sở lòng dân làm gốc. Lợi ích của Việt Nam trên biển Đông được luật pháp quốc tế thừa nhận và bảo vệ theo Công ước Luật biển 1982.

Chúng ta sẽ dựa vào luật pháp quốc tế, lấy đó làm cơ sở và sức mạnh để bảo vệ lợi ích, chủ quyền quốc gia của mình. Chúng ta đấu tranh mềm dẻo nhưng cũng đồng thời phải thường xuyên chủ động củng cố mặt trận quốc phòng an ninh, nâng cao cảnh giác trước mọi diễn biến ở khu vực, kiên quyết bảo vệ bằng được chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc mình.

– Việt Nam là một quốc gia tham gia đàm phán tương đối sớm Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương – TPP. Việt Nam đã tính đến những lợi ích về kinh tế và chính trị trong tương lai với TPP như thế nào, thưa Chủ tịch?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Trước khi chúng ta tham gia khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA), nhiều người lo sợ Việt Nam sẽ bị thua thiệt. Thực tế đã không hẳn diễn ra như thế. Quan trọng là vì chúng ta đã chuẩn bị thực lực để giành thắng lợi trong hội nhập. Vừa chuẩn bị thực lực vừa hội nhập. Do đó kinh tế của Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, toàn diện trong một thời gian dài. Khi chúng ta tham gia WTO cũng vậy, ở quy mô toàn cầu, chúng ta lo ngại sức mạnh của những nền kinh tế lớn sẽ chèn ép kinh tế Việt Nam. Thế nhưng, sau khi vào WTO, kinh tế Việt Nam còn có điều kiện phát triển hơn…

Những suy giảm kinh tế thời gian gần đây không phải do WTO mà do những nguyên nhân chủ quan và sự yếu kém của chính chúng ta, đòi hỏi chúng ta phải tái cơ cấu nền kinh tế và điều chỉnh chính sách để kinh tế vĩ mô ổn định.

Muốn phát triển, chúng ta phải mở cửa với thế giới. Tham gia TPP là nằm trong chủ trương này. Điều quan trọng là chúng ta phải rút kinh nghiệm từ AFTA và WTO để làm tốt việc chuẩn bị. Nếu không, thắng lợi khó đạt được mà thất bại cũng khó tránh. Tôi cho rằng thắng lợi hay thất bại là do chính nội lực chủ quan của chúng ta. Mỗi doanh nghiệp, mỗi địa phương, mỗi bộ ngành và toàn quốc phải chuẩn bị thật kỹ lưỡng trong quá trình hội nhập, tham gia TPP trong tương lai.

– Thưa Chủ tịch nước, vị trí của Việt Nam trong bảng xếp hạng tín nhiệm gần đây bị tụt xuống so với những năm trước. Phải chăng Việt Nam chưa tận dụng, khai thác hết những lợi thế của mình trong quá trình hội nhập quốc tế?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Thông thường, để phát triển kinh tế, tăng trưởng GDP thì phải đầu tư vốn. Có một tương quan tỉ lệ giữa vốn đầu tư và tốc độ tăng trưởng. Tỉ lệ này càng cao thì đồng nghĩa với hiệu quả sử dụng vốn kém. Ở nước ta tỉ lệ đó có khi lên đến 5-6. Tức là chi phí của Việt Nam gấp rưỡi hoặc gấp đôi các nước có trình độ phát triển tương đương. Tình trạng đó tồn tại trong nhiều năm, dẫn đến một lượng vốn đưa vào đầu tư lớn nhưng hiệu quả thấp…

Đại hội XI của Đảng chủ trương phải đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, hệ thống ngân hàng… cùng một loạt công việc để giải quyết những hạn chế đó nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững.

Chủ trương là như vậy nhưng để thực hiện đạt kết quả đòi hỏi nỗ lực cao của tất cả các cấp, các ngành, các địa phương, từng doanh nghiệp. Tôi hi vọng và kêu gọi những nỗ lực như thế phải được thực hiện mạnh mẽ trong thời gian tới.

– Thành công của các nước xung quanh Việt Nam dựa chủ yếu vào 3 lĩnh vực then chốt: cơ sở hạ tầng, tính cạnh tranh quốc tế của doanh nghiệp và tính hiệu quả của bộ máy nhà nước. Việt Nam sẽ có sự lựa chọn nào vì mục tiêu phát triển, thưa Chủ tịch?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Chúng ta đã xác định phải thực hiện tốt 3 yếu tố: phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hoàn thiện thể chế kinh tế. Vấn đề là phải tổ chức thực hiện sao cho tốt.

Về hạ tầng, rõ là sau 25 năm đổi mới, chúng ta có nhiều thành tựu, nhưng muốn phát triển cao hơn trong giai đoạn tiếp theo, không thể chấp nhận hạ tầng như hiện nay. Đường bộ chẳng hạn. Nhất định phải có hệ thống xa lộ đúng nghĩa. Hệ thống cảng biển cũng vậy. Đặt cạnh những nước tiên tiến trong ASEAN, chi phí cho một đơn vị hàng hóa tại cảng của chúng ta trung bình cao gấp đôi họ. Như vậy thì làm sao cạnh tranh? Chính vì vậy, phải đẩy nhanh tốc độ phát triển kết cấu hạ tầng. Chủ trương đã có và nói nhiều rồi. Bây giờ là phải triển khai việc này.

Cạnh tranh quốc tế của các doanh nghiệp phải được quan tâm hơn nữa. Không phải vì mở cửa làm một số doanh nghiệp chúng ta cạnh tranh kém, mà do chính những yếu kém của chúng ta. Tại sao người ta mở cửa cho anh bán hàng, anh không làm được cho tốt? Để khi người ta cũng bán hàng như mình nhưng năng lực cạnh tranh tốt hơn, lại đổ cho sự “mở cửa” đó là không được. Yếu kém có phần quan trọng là do chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, điều này không chỉ là do các doanh nghiệp đâu mà còn do chính chúng tôi, những người điều hành, lãnh đạo đất nước, khi chưa tạo ra được môi trường kinh doanh, chưa đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao thuận lợi cho doanh nghiệp.

Về thể chế, chúng ta đang sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992. Sau khi được Quốc hội thông qua cuối năm 2013 thì một loạt các văn bản pháp luật sẽ được sửa đổi, bổ sung để cụ thể hóa và thực hiện theo bản hiến pháp mới được ban hành. Trong đó, quan trọng là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Lượng công việc thực hiện rất lớn.

Chúng ta đừng quên đến năm 2015, tự do hóa thương mại không chỉ trong ASEAN mà còn là với cả Trung Quốc, một nền kinh tế khổng lồ, lớn thứ 2 thế giới hiện nay. Đến những năm 2017-2018 sẽ tự do thương mại hoàn toàn giữa Việt Nam và các thành viên của WTO. Lúc đó quan hệ doanh nghiệp các nước sẽ hoàn toàn sòng phẳng, theo những cam kết khi gia nhập WTO, chứ không thể “ngăn sông, cấm chợ” được nữa…

Nhân tố chủ quan bên trong cần được rà soát và nâng cao năng lực cạnh tranh một cách khẩn trương ở từng doanh nghiệp, địa phương, ngành và toàn bộ nền kinh tế. Kể cả lãnh đạo các cấp từ trung ương đến địa phương cũng phải soát xét lại “hành trang” của mình, đảm bảo cho công cuộc hội nhập có được hiệu quả cụ thể, có thể nhìn và sờ thấy được.

– Thưa Chủ tịch nước, những sản phẩm công nghiệp của chúng ta chưa đạt được tính cạnh tranh như mong muốn. Có phải chúng ta đang gặp vấn đề trong việc kiểm soát và phân phối nguồn lực không?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Kiểm soát và phân phối nguồn lực thì không chỉ quan tâm tới lĩnh vực công nghiệp mà kể cả nông nghiệp và dịch vụ. Làm sao để không bị thất thoát, lãng phí về vốn, về tài nguyên, về con người… Có những nơi đáng ra nguồn lực được phân phối thì sẽ phát huy tác dụng tốt hơn nhưng lại không có và ngược lại.

Chúng ta phải tính toán lại. Làm thế nào thực hiện đúng quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, để nguồn lực có thể chảy vào những nơi có hiệu quả cao nhất. Đó chính là trách nhiệm của Nhà nước trong việc quản lý, thực thi, xây dựng các cơ chế, chính sách, luật pháp để tạo ra môi trường kinh doanh, điều chỉnh các nguồn lực một cách hợp lý. Tôi đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề cải cách thủ tục hành chính và phòng chống tham nhũng, lãng phí phải thực sự có hiệu quả, tạo điều kiện đảm bảo việc phân phối các nguồn lực một cách chính xác.

– Thời điểm hiện nay, GDP của Việt Nam không cao, nhưng dư luận quốc tế cho rằng Việt Nam đang đặt nền móng, chuẩn bị cho một giai đoạn, quá trình phát triển mới. Thưa Chủ tịch nước, nền kinh tế Việt Nam sẽ như thế nào trong vài năm tới, với những chính sách mà chúng ta đã và đang thực hiện?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Hiện nay, yếu kém của kinh tế Việt Nam biểu hiện rõ nhất là lạm phát cao, nhập siêu lớn… Chất lượng tăng trưởng những năm qua là tăng trưởng chiều rộng; trông chờ vào vốn chứ không phải dựa vào năng suất lao động hay công nghệ tiên tiến. Tình trạng này không thể để kéo dài, nên chúng ta phải điều chỉnh và cơ cấu lại, chuyển dần tăng trưởng theo chiều sâu, nâng cao chất lượng và năng suất lao động, sử dụng công nghệ tiên tiến…

Khi tiến hành tái cấu trúc nền kinh tế, phải chấp nhận là GDP thấp nhưng cũng phải giữ khoảng 5%/năm. Thấp hơn nữa thì nguy hiểm, thất nghiệp sẽ cao, phấn đấu dần đưa tốc độ tăng trưởng lên 7-8%/năm và ổn định kinh tế vi mô. Làm được điều đó không chỉ cải thiện đời sống mà còn là ổn định chính trị, xã hội.

– Đồng thời cũng là một đại biểu Quốc hội, Chủ tịch nước đánh giá như thế nào về sự tin tưởng của nhân dân đối với chế độ?


 

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Nhân dân Việt Nam đã tin tưởng, gắn bó với Đảng và chế độ hơn 80 năm qua, kể cả những lúc khó khăn nhất. Niềm tin đó đang bị thách thức và suy giảm do tệ tham nhũng, lãng phí, suy thoái đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Nhưng tôi tin nhân dân bao dung vẫn tin và kỳ vọng vào Đảng nếu Đảng kịp thời chỉnh đốn, sửa chữa những yếu kém, khuyết điểm trong bộ máy của mình. Tuy vậy, không được lạm dụng lòng tin của nhân dân. Mỗi một cán bộ, chức càng cao, quyền càng to thì trách nhiệm trước sự suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng càng lớn.

Khắc phục những khuyết điểm hiện nay còn là để khẳng định vai trò, trách nhiệm của Đảng với tương lai của đất nước và sự trường tồn của dân tộc như Đảng ta đã làm trong suốt gần một thế kỷ đã qua.

– Thưa Chủ tịch, năm qua tính cởi mở và dân chủ đã được thể hiện rất rõ trên các diễn đàn thảo luận về những vấn đề hệ trọng của đất nước. Chủ tịch nước đánh giá như thế nào về nhận định này?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Tôi thấy rất rõ hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước ngày càng được người dân quan tâm. Qua những cuộc tiếp xúc cử tri gần đây, tôi thấy người dân đánh giá cao hoạt động của Quốc hội. Với tư cách là cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước, Quốc hội đã ngày càng đáp ứng được nhiệm vụ và vai trò, nhất là việc thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân.

– Thưa Chủ tịch, Nghị quyết Trung ương 4 đã được ban hành gần 1 năm. Trong đó, nghị quyết đã khẳng định có một bộ phận không nhỏ đảng viên suy thoái, nhưng kết quả thực hiện nghị quyết vừa qua chưa cao. Xin Chủ tịch nước đánh giá về vấn đề này.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Chúng tôi được hỏi câu này nhiều lắm, có người khen, người chê. Vấn đề này xin khẳng định là phải kiên trì tiến hành, không lùi bước, không thể không làm nhưng không thể chỉ một lần, một sớm một chiều mà giải quyết ngay được.

Thực tế là vậy, không nên chán nản. Chúng ta phải nhận thức cho đúng, phải hết sức kiên trì, liên tục tiến hành công cuộc xây dựng Đảng. Quốc hội đã thông qua nghị quyết về lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm hằng năm. Đó chính là dân chủ hóa. Điều quan trọng là phải làm thực chất, phải có cơ chế kiểm tra chống lại hiện tượng “vận động,” “mua phiếu”. Trung ương Đảng cũng có chủ trương bỏ phiếu tín nhiệm tương tự và Mặt trận Tổ quốc cũng sẽ có cơ chế tham gia giám sát đội ngũ cán bộ.

– Thưa, Chủ tịch nước có thường xuyên nhận được thư từ của công dân?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Thư thì hằng ngày tôi nhận được rất nhiều, trên tất cả các lĩnh vực, từ những chuyện rất cụ thể của cuộc sống hằng ngày đến những công việc lớn lao của đất nước, tôi chú ý đến những bức thư chân thực, tâm huyết, xây dựng. Nhiều bức thư rất cảm động, hữu ích, thậm chí có tác dụng trực tiếp đến chính sách của Nhà nước và tôi không thể nói điều gì khác ngoài lòng cảm ơn chân thành.

– Sau hơn 1 năm ở cương vị là người đứng đầu Nhà nước, đã có những vụ việc nào về bức xúc của nhân dân để lại cho Chủ tịch băn khoăn, trăn trở nhiều nhất?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Tôi nghĩ rằng bức xúc thì nhiều, nhưng tựu trung lại mấy vấn đề lớn là làm thế nào trong năm mới chúng ta tập trung giải quyết những vấn đề về dân sinh và kinh tế cho tốt hơn.

Đến doanh nghiệp thì được nghe kiến nghị thiếu vốn, bất cập vướng mắc nhiều quá; gặp người lao động thì được phản ánh về thiếu việc làm, thu nhập thấp, tình trạng tiêu cực, tham nhũng…

Sắp tới, phải làm sao vừa giải quyết tốt hơn vấn đề dân sinh kinh tế, vừa phải giải quyết tốt hơn vấn đề quốc phòng an ninh đất nước, giữ vững chủ quyền quốc gia và triển khai toàn diện công tác đối ngoại theo đường lối Đại hội XI của Đảng.

Mình mong dân tin Đảng, nhưng vẫn còn nhiều người mất việc, không có việc làm, nghèo đói; tham nhũng, lãng phí không kiên quyết ngăn chặn có hiệu quả thì làm sao tin? Băn khoăn, trăn trở nhiều lắm!

– Thưa Chủ tịch nước, bước sang năm mới Chủ tịch có thông điệp gì gửi đến toàn thể nhân dân?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Chúng ta đã bước sang năm thứ 3 thực hiện kế hoạch 5 năm của Đại hội Đảng XI. Chúng ta đang quyết tâm thay đổi, tái cấu trúc nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô để phát triển ngày càng bền vững hơn, chất lượng hơn, hiệu quả hơn. Từ đó đảm bảo mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Trong 2 năm qua, kể cả năm 2013, chúng ta vẫn phải trải qua giai đoạn tái cơ cấu nền kinh tế, chấp nhận mức độ tăng trưởng thấp hơn giai đoạn trước; nhưng đồng thời phải thay đổi chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế, chuẩn bị tiền đề cho những giai đoạn sau.

Vì thế, tôi mong rằng đồng chí, đồng bào cả nước hết sức nỗ lực phấn đấu trên mỗi cương vị khác nhau của mình để thực hiện tốt, thành công những mục tiêu mà chúng ta đã đề ra. Tôi tha thiết mong nhân dân ta ấm no, hạnh phúc, đất nước ta hòa bình, thịnh vượng…

Xin trân trọng cảm ơn Chủ tịch nước!
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/530991/nguoi-dan-lo-lang-buc-xuc-ve-tinh-hinh-bien-dong-la-dung.html

– Việc Việt Nam thông qua Luật Biển là việc làm bình thường và cần thiết của một quốc gia ven biển có chủ quyền, thành viên của Công ước Liên hợp quốc về luật biển (UNCLOS) 1982.

Tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao chiều nay, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước tin Đài Loan tuyên bố tiến hành thăm dò dầu khí tại vùng biển xung quanh đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lương Thanh Nghị khẳng định đây là hành động “vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa”.

 

Chiến sĩ hải quân Việt Nam trên quần đảo Trường Sa. Ảnh: Minh Thăng

“Việt Nam có đầy đủ chứng cứ pháp lý và lịch sử khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc phía Đài Loan có kế hoạch tiến hành thăm dò dầu khí tại vùng biển xung quanh đảo Ba Bình là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa, gây căng thẳng và làm phức tạp tình hình ở Biển Đông. Việt Nam kiên quyết phản đối và yêu cầu phía Đài Loan hủy bỏ ngay kế hoạch phi pháp nêu trên” – ông tuyên bố.

Tại cuộc họp báo, phóng viên nước ngoài cũng đặt câu hỏi đề nghị cho biết bình luận của Việt Nam về việc phía Trung Quốc và Đài Loan gần đây lên tiếng bày tỏ quan ngại cho rằng luật Biển Việt Nam có hiệu lực sẽ ảnh hưởng đến quan hệ với các nước trong khu vực.

Ông Lương Thanh Nghị nói rằng việc Việt Nam thông qua luật Biển là việc làm bình thường và cần thiết của một quốc gia ven biển có chủ quyền, thành viên của Công ước Liên hợp quốc về luật biển (UNCLOS) 1982.

“Luật Biển Việt Nam khẳng định rõ chủ trương của Việt Nam giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về luật biển 1982 và các thỏa thuận, cơ chế liên quan, góp phần duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và hợp tác ở khu vực Biển Đông” – người phát ngôn nêu rõ.

Linh Thư[http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/104733/-viet-nam-thong-qua-luat-bien-la-viec-binh-thuong-.html]

Trong quần đảo Trường Sa, so với các đảo khác, với vị trí chiến lược của mình, đảo Cô Lin được coi như “mắt thần” của biển.

Nằm ở vị trí quan trọng, nhiều năm trước, ra Cô Lin người ta thấy thiếu thốn cam go đủ bề.

Nhưng với sự quan tâm và đầu tư cũng như vượt lên khó khăn của người lính, để khẳng định chủ quyền biển, vị thế dân tộc Việt Nam trên biển, nay Cô Lin hiện ra bề thế, vững chãi trước biển. Là nơi bà con đi biển gửi gắm niềm tin, tìm đến neo đậu tránh trú bão, lấy thêm nước ngọt và lương thực cho mình.

Ảnh: Hoàng Long

Hoài niệm Cô Lin

Trên chuyến tàu ra đảo, thăm các chiến sỹ và tận mắt chứng kiến cuộc sống ngày một đổi thay của các đảo nằm trong quần đảo Trường Sa, Nhà báo Nguyễn Trọng Thiết, đang công tác ở Báo Hải Quân, người luôn được mệnh danh là “sói biển” của giới báo chí đã dành cho tôi nhiều ưu ái. Vì là “người của biển”, lại thêm cái nghề làm báo, tính đến nay anh là nhà báo duy nhất đã ra công tác nhiều nhất trên hầu hết các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Đi nhiều, ghi nhận nhiều, anh như “cuốn biên niên về đảo và các đảo” trong quần đảo Trường Sa. Từ thời gian khó nhất cho đến những ngày vinh quang nhất, đầy đủ nhất như ngày nay qua lời kể của anh.

Hiểu biết của tôi về các đảo hình thành và tỏ tường dần qua những tối hai anh em ngồi cạn đêm trên boong tàu. Ấy là những tấm gương, sự hy sinh cao cả của những người lính, thế hệ đàn anh đã không tiếc máu xương ra với các đảo từ ngày các đảo này còn bộn bề khó khăn và thiếu thốn. Với lính hải quân, những ngày ấy, ra với đảo ai cũng biết khó khăn, có thể một đi không trở về vì bão gió, vì những sự bất ổn trên biển. Nhưng lạ thế, không một ai từ chối cả. Cứ có lệnh, ai nấy vui vẻ lên đường. Vì họ biết, sự ra đi của họ là góp sức cho sự vững chắc của chủ quyền trên biển. Và đồng nghĩa như vậy là sự bình yên của đất liền, tôn vinh thêm sức mạnh và tinh thần Việt.

Trong các câu chuyện anh kể về đảo, ấn tượng nhất với tôi là cuộc “hải chiến năm 1988” đã xảy ra tại đây. Biết Cô Lin có vị trí quan trọng, dù vẫn biết đảo này là của dân Việt, đất Việt nhưng “người ta” vẫn cố tình định đoạt nó. Vì ngày ấy cơ sở vật chất của đảo Cô Lin chưa được đầu tư, đảo chưa kiên cố và nổi hẳn lên mặt nước như bây giờ. Vào lúc triều cường, anh em trên đảo vẫn phải lội biển ngang bụng mà giữ đảo. Lợi dụng lúc ta khó khăn lại cậy sự “lớn mạnh” của mình, “người ta” đã ngang nhiên đưa tầu ra khiêu chiến. Với văn hóa Việt, những người lính chúng ta ngày ấy đã bình tĩnh giải thích và tôn trọng họ, ngay cả những lúc họ ngang ngược nhất.

Thế rồi không dừng ở đấy, những “tàu lạ” kia đã lấn tới. Đảo và chủ quyền đảo của đất Việt lâm nguy. Nhận được chỉ đạo từ trên, không nề hà, những người lính của chúng ta đã có hành vi cao cả là “cho tàu ủi bãi”. Chính nhờ sự mưu trí và dũng cảm này, bên cạnh đau thương và mất mát, chúng ta đã làm chủ và giữ được đảo. Giữ bình yên và nguyên vẹn “con mắt thần” này cho đến ngày hôm nay.

Cũng theo anh Thiết, ngày những người lính hải quân của ta cho “tàu ủi bãi” – một cách bảo vệ đảo hết sức táo bạo và không ngờ tới này cũng như các năm tiếp theo – Cô Lin còn khó khắn lắm. Đảo chưa được xây cất hiện đại, mọi thứ đều không chủ động được. Rau thiếu, lương thực thiếu đến nước ngọt cũng thiếu. Vậy nên ca khúc “mưa, chúng tôi cần mưa” luôn là nỗi khát khao của các chiến sỹ và các đoàn công tác ra Cô Lin thời gian ấy.

Ở một nơi vô cùng khắc nghiệt, nhưng bằng sự chăm chỉ của mình, những người lính đảo Cô Lin đã trồng được những vườn rau mướt mát như thế này.

Xanh thắm “mắt thần”

Những ngày gian khó, những đau thương thầm lặng ngày nào ở Cô Lin đã nhanh chóng lùi vào quá khứ. Ngày nay nhiều người chỉ còn hình dung và biết được qua những lời kể. Cách đảo Sinh Tồn 9 hải lý, đảo Len Đao 7 hải lý và cách đảo Gạc Ma 4 hải lý, đảo Cô Lin là một đảo nằm trên một quần thể san hô khá rộng. Lướt trên những rặng san hô, chúng tôi nhẹ nhàng tiếp cận đảo, nước biển trong vắt, nhìn thấy cả những đàn cá tung tăng bơi lội.

Đảo trưởng, Thượng úy Hoàng Thanh Sơn cùng anh em trên đảo chỉnh tề quân phục đứng đón những đoàn khách từ đất liền ra thăm. Trên khuôn mặt dạn dầy gió biển và mặn mòi vị muối của các anh, chúng tôi “đã đọc” được những niềm vui và sự an tâm của các anh về một cuộc sống ngày một hiện đại hóa ở đây. Sóng điện thoại, điện thắp sáng bằng các nguồn năng lượng sạch cùng sóng ti vi đã ngày một đưa các anh “về gần” với đất liền hơn.

Từ một đảo chìm, bằng sự gia cố và đầu tư, hiện nay Cô Lin đã “ngoi lên” mặt nước và trở thành một trong những đảo kiên cố. Đảo có thể chịu sóng gió tới bất kỳ cấp độ nào và sẵn sàng có thể ứng chiến về quân sự ở mức độ quyết liệt nhất. Cũng như các đảo khác, nước và rau xanh luôn là chủ đề muôn thuở và là thách đố của biển cả với con người mỗi khi họ có ý định ra đây sinh sống với nó. Nhưng nay, bằng việc đầu tư hệ thống bể chứa và trữ nước mưa và nước do các tầu vận tải chở ra nên Cô Lin đã hoàn toàn chủ động về nguồn nước. Nếu biển cả “trở mình”, không có nguồn cung ứng nước cơ học và có thể không có mưa trong thời gian dài thì hệ thống bể chứa ở đây vẫn có thể đáp ứng nước sinh hoạt cho anh em.

Cái quan trọng, bằng sự tự thân vận động, sự cần cù chịu khó nên ngoài thời gian phải làm nghĩa vụ trong ngày của một người lính, anh em trên đảo Cô Lin đã dành quỹ thời gian của mình để cải tạo, đem lại mầu xanh cho đảo. Ngoài cây cảnh, thì mướt mát và thích thú nhất ở đây vẫn là mầu xanh của những vườn rau do những người lính tự trồng và chăm sóc nấy. Tôi quả quyết, nếu nhìn thấy những loại rau mà các chiến sỹ đã trồng bằng các loại đất được các tầu dày công chở ra từ đất liền trên các khay nhựa đặc chủng, bất kỳ một phụ nữ nào cũng phải thấy “chạnh lòng” trước sự khéo léo của lính đảo Cô Lin. Và ai trong họ cũng ước ao mình có những đôi bàn tay khéo léo như vậy.

Ngoài rau, thì lính đảo cũng nuôi được những chú “ỉn” béo mập thế này để cải thiện thêm khẩu phần ăn cho mình.

Từ một đảo luôn luôn ngóng trông và phụ thuộc vào các loại thực phẩm được chở ra từ đất liền thì nay các chiến sỹ trên đảo Cô Lin đã chủ động được rất nhiều thứ. Nhìn bảng khẩu phần ăn trong ngày, trong tuần, trong tháng chúng tôi rất yên tâm về sức khỏe của lính nơi đây. Đại diện anh em, Đảo trưởng Hoàng Thanh Sơn vui vẻ cho biết: “Bằng sự tự tăng gia sản xuất của mình, tổng năm 2010 và hết quý 1 năm 2011, anh em ở đảo đã “làm thêm” được 865 kg rau xanh, đánh bắt được 402 kg cá các loại, chăn nuôi được 60 kg thịt các loại… Tổng số tiền làm ra này đã đem lại nguồn thu trên 21 triệu đồng để chi ăn thường xuyên và mua sắm vật chất cho anh em”. Có ra Cô Lin, trước khó khăn về thời tiết, bốn phía là biển chúng ta mới thấy nguồn thu này nó quý hiếm đến mức nào. Và con số này đã khẳng định thêm sự chắt chiu, cần cù, bám biển, bám sóng đến quên mình của anh em lính trên đảo.

Từ một đảo vốn dĩ phụ thuộc vào đất liền, nay với sự nắm tay chiu chắt, chiến đấu, lao động không mệt mỏi mà Cô Lin đã trở thành điểm tìm đến neo đậu của nhiều ngư dân Việt Nam. Ngoài việc tạo thu, tạo chi, nay Cô Lin đã có điều kiện quay lại giúp đỡ ngư dân, đền đáp cho đất liền phần nào. Tổng kết trong thời gian qua, Đảo đã cung ứng cho ngư dân đến 2.000 m3 nước ngọt. Bên cạnh nước ngọt, Đảo cũng là nơi tìm đến của của hơn 200 lượt tầu thuyền và là chỗ neo đậu cho nhiều bà con ngư dân ra đây khai thác thủy hải sản bằng các loại tầu thuyền như: tầu câu, tầu xiên lặn và tầu đánh lưới.

Ngoài vị trí “mắt thần”, ngoài nơi tìm đến neo đậu tránh trú bão của bà con, đảo Cô Lin còn đang được mệnh danh là Trạm y tế tiền phương trên biển. Với sự chủ động, ngoài việc khám chữa bệnh cho cán bộ, chiến sỹ, Đảo còn tạo điều kiện chữa trị bệnh cho 13 lượt bà con ngư dân, nhập đón và đưa bà con rời đảo đúng quy định, an toàn.

Cô Lin một thời ngày xưa để nhớ và Cô Lin xứng tầm là con “mắt thần” trước biển như ngày nay. Ấy là những ghi nhận, những nỗi nhớ mà chúng tôi có được trong hành trình đến và chia tay cùng các chiến sỹ ở Đảo này!

Theo Đại Đoàn Kết

TÂM SỰ VUI BUỒN CỦA SỐ CÁN BỘ CHIẾN SỸ CẢNH SÁT BIỂN
“Chúng tôi yêu cầu tàu cá dừng hành động vi phạm và rời ngay vùng biển Việt Nam!” – Đó là mệnh lệnh các chiến sĩ Cảnh sát biển Vùng 2 thường xuyên dùng đến để xua đuổi hàng trăm tàu nước ngoài xâm phạm chủ quyền lãnh hải.

CÁN BỘ CHIẾN SỸ CẢNH SÁT BIỂN VIÊT NAM TẠI TRƯỜNG SA

Đến Trường Sa thân yêu

Trong phòng khách trên con tàu Cảnh sát biển 6006 treo một tấm huân chương ở vị trí trang trọng. Các cán bộ trên tàu cho biết: Trước đó, chiếc tàu này thuộc lực lượng hải quân và biên chế qua lực lượng Cảnh sát biển. Nhiều năm trụ bám ở Trường Sa, trong đó có DK1, chính vì vậy, con tàu này gắn với biết bao câu chuyện vui buồn của các chiến sĩ trên biển khơi.

Các chiến sĩ cảnh sát biển vùng 2 tuần tra trên biển.
Khi ra Trường Sa, anh em trong đội tàu Cảnh sát biển thường đến thăm các gia đình đang sinh sống trên đảo. Một chiến sĩ tâm sự: “Nhìn vào khuôn mặt những em thơ trong các gia đình, chúng em cảm thấy sự gian nan của mình thật chẳng đáng là bao. Anh em như được tiếp thêm nghị lực để bảo vệ biển khơi”.

Trong những chuyến hải trình này, tàu Cảnh sát biển luôn quét radar để quan sát một vùng biển rộng lớn thuộc chủ quyền của VN. Tháng 4 năm 2011, anh em trên tàu đã phát hiện một số tàu nước ngoài đang đánh bắt cá trên vùng biển thuộc chủ quyền của VN.

Thượng úy Vũ Đức Tuyên nhấn ga, con tàu gầm lên như một con kình ngư, lao nhanh về phía mục tiêu. Khi áp sát tàu ngư dân Trung Quốc, loa trên tàu phát đi thông điệp bằng một số tiếng nước ngoài: “Giải quyết các vấn đề tranh chấp trên biển bằng biện pháp hòa bình, chúng tôi yêu cầu dừng ngay hành động vi phạm và rời ngay khỏi vùng biển VN…”.

Khi bắt và xử lý tàu Trung Quốc, các chiến sĩ thường giáo dục, nhắc nhở, và buộc các ngư dân vi phạm phải rời ngay khỏi vùng biển VN. Biện pháp xử lý vừa lý, vừa tình, thể hiện chính sách nhân đạo của người lính Cụ Hồ.

Theo đại tá Nguyễn Quang Trung – Chỉ huy trưởng Vùng Cảnh sát biển 2, trước tình hình các tàu cá của ngư dân đánh bắt trên vùng biển VN, đặc biệt là vùng biển Hoàng Sa luôn bị các tàu nước ngoài xua đuổi, bắt giữ, tịch thu hải sản, lực lượng Cảnh sát biển phối hợp với các lực lượng chức năng tăng cường hoạt động tuần tra trên biển và tổ chức các điểm trực ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, đảo Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quý.

Đặc biệt, từ ngày 1.6, Cảnh sát biển vùng 2 đã điều một tàu túc trực thường xuyên 24/24 ở Cồn Cỏ (Quảng Trị). Từ khi có tàu túc trực tại đây, qua theo dõi trên radar, lực lượng Cảnh sát biển không phát hiện tàu nước ngoài xâm phạm vào vùng biển này. Hiện đơn vị cũng triển khai 1 tàu nữa túc trực thường xuyên tại Lý Sơn (Quảng Ngãi) để cơ động trong mọi tình huống, giúp ngư dân yên tâm đánh bắt hải sản.

Tuần trăng mật trên biển

Tại vùng 2 Cảnh sát biển, từ chỉ huy đến các chiến sĩ, phần lớn đều quê tận đất Bắc đến đóng quân nơi dải đất miền Trung xa xôi. Chính vì vậy, mỗi người lính đều có những câu chuyện riêng về mái ấm nơi quê nhà.

Trong một chuyến đi Trường Sa, thiếu úy Hoàng Văn Sáu, nhân viên máy tàu, quê ở Quảng Xương, Thanh Hóa, nhận được tin người mẹ già ở quê lại lên cơn đau tim. Chỉ kịp gọi điện về nhà động viên gia đình đưa mẹ vào viện cấp cứu, thiếu úy Sáu lên tàu nhổ neo ra khơi. Ngày tàu cập bến, được sự cho phép của cấp trên, anh mới tất tả mang món quà của chỉ huy và anh em đơn vị đón xe về quê thăm mẹ.

Nhiều chiến sĩ tâm sự: Khi ra vùng biển Trường Sa rộng mênh mông, mỗi khi nhìn thấy một chiếc tàu của ngư dân Việt Nam đánh cá treo lá cờ đỏ sao vàng, lòng ai cũng phấn chấn. Và ở vùng biển Trường Sa, những người lính biển thường gặp những chiếc tàu cá mang biển số Quảng Ngãi. Họ như những cột mốc chủ quyền trên biển.
Có gia đình thấy con đóng quân biền biệt ở miền Trung, một năm về phép một lần nên lo sắp chuyện tơ duyên cho con. Tết năm 2011, thiếu úy Phan Văn Trung, nhân viên pháo và thiếu úy Trần Văn Quân, nhân viên máy của tàu 4033 về quê ở tận Nghệ An để ăn tết và thực hiện lời hẹn ước với người thương. Khi hai chàng lính biển về quê thì mọi đồ sính lễ của nhà trai đã sắp đủ, bố mẹ cùng con sang nhà gái rước dâu.

Đám cưới xong, tuần trăng mật mới được 3 ngày thì có lệnh đi biển khẩn cấp. Vậy là 2 chàng lính biển phải chia tay người vợ trẻ, khoác ba lô quay trở lại dải đất miền Trung, nơi có con tàu đang chuẩn bị nhổ neo ra khơi làm nhiệm vụ. Những ngày trên biển, 2 chàng lính trẻ vẫn còn lâng lâng men say của hạnh phúc.

Trong hành trang của Thuyền trưởng Tuyên cũng có những tấm ảnh của mái ấm gia đình của anh. Quê ở Quảng Ninh, hàng ngày, chị vừa đi dạy, vừa chăm sóc đứa con trai kháu khỉnh 2 tuổi. Ở dải đất miền Trung xa xôi, thỉnh thoảng anh thăm vợ qua… điện thoại. Là thuyền trưởng, trách nhiệm đứng mũi chịu sào càng lớn, người thuyền trưởng này càng phải gác niềm riêng cho anh em noi theo.

“Kiên quyết dũng cảm – Khắc phục khó khăn – Đoàn kết hợp đồng – Giữ nghiêm kỷ luật” – đó chính là phương châm của những người lính Cảnh sát biển. Phương châm đó giúp các anh vững vàng tay súng trên biển cả, không mắc mưu trước sự khiêu khích của kẻ địch.
Nguồn: Dân Việt