Tag Archive: bình


TT – Một nhóm nghiên cứu của Trường Bách khoa liên bang Lausanne (EPFL) của Thụy Sĩ vừa chứng minh được các bóng ma chỉ là ảo giác của con người…

Một người tham gia thí nghiệm về ma của các nhà nghiên cứu Thụy Sĩ – Ảnh: EPFL

Theo Telegragh, từ lâu giới khoa học đã nghi ngờ ma quỷ chỉ là sản phẩm của trí óc con người. Các bóng ma chỉ là ảo giác của con người trong khoảnh khắc mất cảm giác về vị trí trong không gian. Tiếp tục đọc

Nhân quyền và “Cánh đồng chết” !

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

—Trích bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ

 

Còn biết bao nhiêu hành động ghê rợn như thế hoặc hơn thế vì thời gian mà dần dần bị chìm vào quên lãng. Nếu những sự kiện đó được liệt kê đầy đủ, hẳn “người Mỹ sẽ còn kinh sợ và xấu hổ hơn nhiều” – tờ Life nhận định.
45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai
Nhà báo Phranh Bran-mai-ơ vừa có bài trên tờ Earthtime viết về cuộc thảm sát Mỹ Lai của đế quốc Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ông cho rằng, mặc dù cuộc thảm sát Mỹ Lai đã qua 44 năm, nhưng thời gian vẫn không thể xóa nhòa được tội ác của kẻ đi xâm lược, nỗi hổ thẹn đó vẫn còn làm nhức nhối trong lòng nước Mỹ.
 
Ngày 16-3-1968, đây là ngày định mệnh của dân làng Mỹ Lai, khi mà những binh lính Lữ đoàn bộ binh số 11 của Mỹ từ bên kia bán cầu kéo đến. Theo lệnh chỉ huy, chúng bắn giết phụ nữ, trẻ em, người già và san phẳng Mỹ Lai trong vòng 3 tiếng đồng hồ. Những thi thể đẫm máu nằm ngổn ngang khắp làng. Từ xa, người ta đã nhìn thấy những đống lửa rừng rực bốc cao từ những ngôi nhà bị đốt cháy. Đau xót hơn, những dấu hiệu trên các thi thể phụ nữ cho thấy họ đã bị hiếp trước khi bị giết. Con số người chết trong vụ thảm sát này thật kinh khủng – 504 người, gần như toàn bộ cư dân trong làng.
45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai
 Họ là những thường dân vô tội, là nạn nhân của Đại đội Sác-li khát máu và sát nhân. Không một ai bị giết trong cuộc giao tranh thực sự. Họ bị dồn thành từng đám, không một thứ vũ khí trong tay, phụ nữ, trẻ em, người già… tất cả bị bắn bởi những loạt đạn lạnh lùng của lính Mỹ. Vụ sát hại thảm thương này không chỉ đơn thuần là những hành vi của nhóm lính côn đồ bất trị “coi người Việt Nam không phải là người” gây ra. Nó là một cuộc bắn giết được lên kế hoạch cẩn thận với mục tiêu giết càng nhiều càng tốt. Nhưng hơn một năm sau, công luận Mỹ mới biết được sự thật qua loạt bài phóng sự của nhà báo Xay-nơ Hớt-xơ, vì quân đội Mỹ đã che đậy bưng bít thông tin.
 45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai
Nhà báo Rôn Ha-béc-lơ, người đầu tiên công bố những tấm hình về vụ thảm sát Mỹ Lai trên tờ Life hơn một năm sau vụ thảm sát cho rằng, bọn chúng (lính Mỹ) như những con thú đói mồi, thèm được giết, được ăn một cách nghiến ngấu. Ha-béc-lơ kể: “Là phóng viên chiến trường, tôi được phép đi cùng lính Mỹ trong các vụ càn quét. Hôm đó, trên con đường mòn ở Mỹ Lai, chúng tôi gặp hai đứa trẻ. Một người lính bắn vào đứa trẻ bé. Đứa trẻ lớn hơn lao vào để che chở cho em nhưng đã bị ăn 6 phát đạn vào người. Một lúc sau, chúng tôi gặp người đàn ông và 2 đứa trẻ khác, một bé trai và một bé gái. Những tên lính Mỹ nổ súng và cắt họ ra làm đôi. Đứa bé trai bị thương vào cánh tay và cẳng chân. Thằng bé lao về phía chúng tôi trong sự thất đảm, kinh hoàng, người nó đầy máu. Tôi quỳ gối để chụp ảnh thằng bé và một người lính cũng quỳ gối cạnh tôi để bắn thằng bé. Phát súng đầu tiên nổ hất ngửa thằng bé ra phía sau, phát thứ 2 hất tung nó lên cao, đến phát thứ 3, thằng bé rơi xuống. Bắn xong, tên lính này bỏ đi dửng dưng. Không có một chút biểu hiện nào trên gương mặt của hắn ta, không có một chút thể hiện nào trên gương mặt của tất cả những người lính Mỹ. Họ đã phá hủy, giết hại với một vẻ hoàn toàn thản nhiên, với vẻ của một người đang làm công việc bình tâm. Thật kinh hoàng!”
45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai
Khi sự thật về vụ thảm sát Mỹ Lai được tiết lộ đã khiến sự phẫn nộ, bất bình của dư luận Mỹ và thế giới lên đến cực điểm (11-1969) và phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Vào mùa thu 1969, hàng triệu người biểu tình ở khắp nơi trên thế giới. Điển hình là cuộc biểu tình của 250.000 người tại Oa-sinh-tơn xuống đường phản đối chiến tranh ở Việt Nam, đây là cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam lớn nhất nước Mỹ.
Đối với một thế hệ những người Mỹ, người châu Âu và châu Á lúc đó, Mỹ Lai đồng nghĩa với hình ảnh đáng sợ của người Mỹ. Tờ Thời báo đã viết: “Nước Mỹ lúc bấy giờ và những người Mỹ đó phải đứng ở ghế bị cáo và phải tự vấn lương tâm về những tội lỗi gây ra tại Mỹ Lai. Họ sẽ không bao giờ có thể thoát được những tội lỗi của mình”.
Thế nhưng khi đó, “chiến thắng luôn nằm trong tay kẻ mạnh”, không một binh lính Mỹ nào phải chịu trách nhiệm về hành động giết người dã man của mình, ngoại trừ Trung úy Ca-lây giết 22 người dân vô tội ở Mỹ Lai (con số thực tế là 109 người). Phiên tòa xét xử Trung úy Ca-lây được coi như là phiên tòa “dài nhất, lớn nhất và đau đớn nhất trong lịch sử nước Mỹ” thế kỷ XX. Tuy nhiên, Ca-lây chỉ bị quản thúc tại gia hơn 3 năm. Một phán quyết thật bất công và phi lý của Tòa án Mỹ.
Trước khi xử Ca-lây, quân đội Mỹ đã có cuộc điều tra riêng về vụ thảm sát Mỹ Lai. Cuộc điều tra này được tiến hành từ tháng 12-1969 đến tháng 3-1970. Trong vòng 14 tuần, Tướng Uy-li-am Pia-xơ và Ủy ban điều tra đã ghi nhận lời khai của 403 nhân chứng, bao gồm các quân nhân, sĩ quan chỉ huy, tuyên úy, nhà báo Mỹ và của cả những người Việt. Kết quả cuộc điều tra đã khiến quân đội Mỹ “sốc” tới mức phải ỉm ngay nó đi. Gần 400 giờ thu âm các nhân chứng vào băng đã bị chuyển sang chế độ bảo mật cho tới bây giờ. 

Theo BBC4, những lời khai ghi trong băng khiến Lầu Năm Góc thực sự choáng váng. Một lính Mỹ kể: “Phát đạn đầu tiên trúng vào đầu một trẻ sơ sinh và tôi phải quay mặt đi để nôn mửa”. Một người khác cho biết: “Đa số đồng ngũ trong Đại đội của tôi không coi người Việt Nam là người… Một gã tóm ngay một cô gái và… sau đó, họ đã bắn chết cả nhóm con gái đó khi đã… xong…”.
Các cuốn băng trong cuộc điều tra chứng minh rằng, các binh lính Mỹ đã hiếp và giết hàng trăm dân thường không chỉ ở một làng mà cả trong 3 làng ngày hôm đó (16-3). Băng ghi âm cũng chứng minh rằng 3 đại đội, chứ không phải chỉ có Đại đội Sác-li gây ra tội ác man rợ ghê tởm này.
Nhưng phải đến 6 năm sau (tháng 4–1975) người Mỹ mới chịu rút khỏi Sài Gòn trong một cuộc tháo chạy trên trực thăng. Sức mạnh phi thường của một dân tộc nhỏ bé đã đánh bại và làm bẽ mặt một siêu cường hàng đầu thế giới về công nghệ giết người. Cuộc chiến tranh Việt Nam cũng đã gửi lại nước Mỹ “bộ sưu tập lính” mắc hội chứng chiến tranh với những vết thương tâm lý in hằn cùng quá khứ khủng khiếp. Hàng chục bộ phim, hàng trăm cuốn sách tiếp tục “cày xới” lên quá khứ. Mọi lính Mỹ tham chiến ở nước ngoài trong bản cam kết phục vụ đều có thêm cảnh báo: “Không có thêm Việt Nam”. Thượng nghị sĩ Ken-nơ-đi đã gọi I-rắc là “Việt Nam của G.Bu-sơ”.
45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai
Lời sám hối muộn màng: “Tôi luôn nghĩ rằng có ai đó sẽ bất ngờ chỉ một ngón tay vào tôi và nói rằng: Hắn là một trong số đó.”
Trong cuộc chiến tranh vùng vịnh đầu tiên 1990, một thông điệp rõ ràng mà các chỉ huy Mỹ gửi đến cho lính của họ khi đang thi hành mệnh lệnh là “Không được có Mỹ Lai nữa, hiểu chứ?” Nhưng trong cuộc chiến ở I-rắc, bắt đầu từ năm 2003, những nỗi sợ hãi về Mỹ Lai có vẻ đã bị lãng quên, khi lính Mỹ tra tấn dã man tù nhân ở nhà tù A-bu Gra-íp, hay câu chuyện về vụ thảm sát ở Ha-đi-tha, nơi mà lính Mỹ đã sắp hàng 24 người dân I-rắc rồi nổ súng, cũng như những vụ bạo hành và lạm dụng ở nhà tù Goan-ta-na-mô.
Tổ chức theo dõi nhân quyền thế giới có thể gọi đó là “Mỹ Lai ở I-rắc”. Dù I-rắc còn bất ổn, số lính Mỹ thiệt mạng ngày một tăng, sự so sánh là không thể tránh được, nhưng ở đây có một sự khác biệt rõ ràng so với hơn bốn mươi năm trước ở Việt Nam. Vào lúc đó, không một người lính Mỹ nào phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình. Duy nhất chỉ có Trung úy Ca-lây với 3 năm tù quản thúc tại gia. Trong khi ở Ha-đi-tha, nhiều quan chức phải khiển trách, nhiều người phải ra tòa vì bị cáo buộc là đồng phạm và không ngăn cản, trong khi nhân viên an ninh U-tơ-rích phải chịu đối mặt với cáo buộc giết 18 người dân. Công luận và các nhà sử học đã bị xúc phạm khi Tổng thống Bu-sơ so sánh Việt Nam với I-rắc. Ông ta đã từng nói rằng, những nguy hiểm của việc rút quân khỏi I-rắc sẽ gây nên những “cánh đồng chết” giống như Mỹ rút khỏi Việt Nam.
AMARI TX (TH)

Chùm ảnh: Phong cách ‘Madame Bình’ tại Hội nghị Paris

Với phong cách lịch lãm và duyên dáng trong các cuộc họp báo tại Hội nghị Paris, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình được truyền thông Pháp đặt biệt hiệu “Madamee Bình”.

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình và Trưởng đoàn đàm phán của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Xuân Thủy trong những ngày đầu của Hòa đàm Paris, 1968.

Bà Nguyễn Thị Bình và ông Xuân Thủy tại Paris năm 1970.

“Madame” Nguyễn Thị Bình tại Paris tháng 12/1970.

Nét mặt vui tươi của Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình được phóng viên ghi lại ngày 1/7/1971, sau vòng đàm phán thứ 119.

Sự thay đổi nét mặt của những người tham gia đàm phán từ năm 1969 (nửa bên trái bức ảnh) đến ngày 2/7/1971 (nửa bên phải bức ảnh), khi những tiến triển trong đàm phán được ghi nhận.

Những sắc thái khác nhau của bà Nguyễn Thị Bình khi trả lời báo chí tại vòng đàm phán thứ 123 vào ngày 29/7/1971.

Bà Nguyễn Thị Bình trong buổi trao đổi với phóng viên hãng thông tấn AP ngày 30/7/1971, khẳng định miền Bắc Việt Nam sẽ trao trả toàn bộ tù binh chiến tranh nếu Mỹ đưa ra được một thời hạn rút quân khỏi miền Nam Việt Nam.

Bà Nguyễn Thị Bình trả lời phỏng vấn tại phòng nghỉ của mình ở Paris ngày 24/10/1972.

Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Thị Bình trả lời phỏng vấn tại Paris ngày 31/3/1972.

Tại buổi đàm phá diễn ra ngày 17/8/1972, Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Thị Bình đã lên án Nixon “bỏ lỡ cơ hội quý giá nhất để kết thúc cuộc chiến tranh”.

Hai bức ảnh của “Madame Bình” năm 1969 và 1972 được lưu trữ tại thư viện của hãng thông tấn AP.

Thời khắc lịch sử: Ký kết Hiệp định Hòa bình ngày 27/1/1973.

Theo KIẾN THỨC

(TNO) Từ đầu năm 1988, Trung Quốc đã sử dụng một lực lượng lớn hải quân gồm nhiều tàu chiến chiếm đóng một loạt đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam

Cao trào của hành động xâm lược này diễn ra vào ngày 14.3.1988 khi biên đội gồm 6 tàu chiến, trong đó có 3 tàu hộ vệ có trang bị tên lửa và pháo 100 mm, của Trung Quốc đã bắn chìm và cháy 3 tàu vận tải của Việt Nam tại bãi đá ngầm Gạc Ma trong cụm đảo Sinh Tồn của Việt Nam.

Đảo Gạc Ma đã bị quân Trung Quốc đánh chiếm vào ngày 14.3.1988 – Ảnh: D.Đ.Minh

Trong vụ thảm sát này, 64 binh sĩ Việt Nam đã anh dũng hy sinh. Sau đó Trung Quốc còn ngăn chặn không cho tàu mang cờ chữ thập đỏ ra cứu những người bị thương, bị nạn.

Điều phải lưu ý là đây là lần đầu tiên người Trung Quốc (lục địa) đặt chân đến Trường Sa. Trước đó, với tư cách quan phương, Trung Quốc chưa bao giờ có mặt ở vùng biển này.


Tàu HQ505 đã lao lên bãi ngầm ở đảo Cô Lin cắm cờ khẳng định chủ quyền Tổ quốc vào ngày 14.3.1988 – Ảnh: tư liệu

Đã một phần tư thế kỷ trôi qua, từ sự kiện 14.3.1988, có những điều cần phải nói rõ như sau:

Đầu tiên, ngay sau ngày 14.3.1988, thông qua hệ thống tuyên truyền khổng lồ của mình, Trung Quốc đã ngang nhiên bịa đặt trắng trợn với dư luận trong nước và quốc tế rằng: Các tàu Trung Quốc đang thả neo để yểm trợ cho tàu chở đoàn các nhà khoa học Liên Hiệp Quốc (LHQ) đi khảo sát khoa học tại Trường Sa thì bị các tàu chiến của Việt Nam tấn công. Vì thế hải quân Trung Quốc bắt buộc phải đánh trả tự vệ!

Sau đó thông qua người phát ngôn của Tổng thư ký, LHQ đã nói rõ: không hề có tàu của LHQ tổ chức khảo sát khoa học ở Trường Sa vào 3.1988!

Rõ là “cháy nhà ra mặt chuột” và chính quyền Trung Quốc đã “lấy thúng úp voi”, đã “lấy thịt đè người” lại còn muốn lấy tay che mặt trời!

Đã không có tàu khảo sát khoa học của LHQ thì chắc chắn không có việc tàu chiến Việt Nam tấn công tàu Trung Quốc. Điều mà nhiều người đều biết đó là chuyện “ngậm máu phun người” là sở trường của các nhà cầm quyền Trung Quốc.

Trước đó, năm 1962 Trung Quốc phát động chiến tranh biên giới với Ấn Độ và chiếm của Ấn Độ hàng nghìn km2 nhưng lại vu cáo Ấn Độ xâm lược Trung Quốc. Năm 1979, Trung Quốc tiếp tục đem 60 vạn quân xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Bắc. Sự việc rõ ràng như vậy nhưng cũng được họ tuyên truyền là “phản kích tự vệ quân Việt Nam xâm lược”!


Lễ tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh ngày 14.3.1988 tại Cam Ranh (Khánh Hòa) – Ảnh: tư liệu

Thứ hai, có một câu hỏi cần đặt ra là, tại sao Trung Quốc lại tiến hành đánh chiếm các đảo của Việt Nam tại Trường Sa vào tháng 3.1988?

Cuối 1987 đầu 1988 là thời kỳ Việt Nam rơi xuống điểm thấp nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội. Tình hình trong nước chồng chất khó khăn: kinh tế đình đốn, đời sống của đại đa số người dân cực kỳ vất vả.

Cũng trong thời điểm đó, Liên Xô cũng bắt đầu lâm vào khủng hoảng chính trị – xã hội. Bắc Kinh cúi mình trước Washington, tự nhận là “NATO phương Đông” để nhận được nguồn tài chính và công nghệ, kỹ thuật từ Mỹ và phương Tây để phục vụ cho mục tiêu hiện đại hóa. Trong bối cảnh ấy, Trung Quốc cũng đã câu kết với Mỹ và hầu hết các nước trong khu vực (trừ Lào và Campuchia) siết chặt vòng bao vây, cấm vận đối với Việt Nam.

Lợi dụng tình thế khó khăn đó của Việt Nam, Trung Quốc đánh chiếm một số đảo của Việt Nam tại Trường Sa phục vụ cho ý đồ lâu dài.

Trung Quốc cũng là bậc thầy trong việc lợi dụng thời điểm. Mặc dù đã đưa lực lượng ra Trường Sa và có những hoạt động đe dọa từ đầu năm 1988, nhưng thời điểm được Trung Quốc lựa chọn nổ súng rơi đúng vào 14.3.1988 cũng là thời điểm lễ tang Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng được tổ chức tại Hà Nội! Một khi họ đã có dã tâm thì chuyện “tang gia bối rối” lại trở thành điều có thể lợi dụng được!


Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là tài sản lớn nhất, quý giá và quan trọng nhất của cả dân tộc – Ảnh: Chiến sĩ canh gác trên đảo Len Đao (quần đảo Trường Sa) – Ảnh: D.Đ.Minh

Câu chuyện xảy ra ngày 14.3.1988 tại Trường Sa đến nay vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự. Sự hy sinh của những người lính Việt Nam 25 năm trước là một lời nhắc nhở tới 90 triệu người đồng bào hôm nay, trước hết là những người có trọng trách với dân tộc, không bao giờ được quên 3 điều:

Một là, lòng tin phải được đặt đúng chỗ. Đối với Trung Quốc, điều quan trọng không phải là lời nói mà là hành động. Các đấng quân vương Trung Hoa từ xưa đến nay và từ nay về sau đều là những bậc thầy về nghệ thuật “nói một đàng làm một nẻo”. Tin vào những điều mà giới lãnh đạo cấp cao ở Bắc Kinh nói không khác gì chuyện “gửi trứng cho ác”!

Hai là, cần phải hiểu về con đường mà Trung Quốc lựa chọn. Những toan tính và hành động của Trung Quốc liệu có phải là một quốc gia cộng sản đồng chí như họ từng miêu tả hay thực tế là chính sách dân tộc nước lớn vị kỷ?

Việc vô cớ đem quân đánh chiếm các đảo của một quốc gia láng giềng, bất kể quốc gia đó phát triển theo đường lối nào cũng là đi ngược lại những nguyên tắc sơ đẳng trong quan hệ quốc tế và phản bội đối với chủ nghĩa Marx – Lênin mà Trung Quốc từng sử dụng như một chiêu bài.

Láng giềng là vĩnh viễn và không bao giờ thay đổi, trừ phi có một trận siêu động đất đẩy hai quốc gia ra xa nhau!

Việt Nam cần và mong muốn có một mối quan hệ hữu nghị, ổn định, lâu dài với Trung Quốc. Tuy nhiên quan hệ ấy cần được đặt trong sự tôn trọng lẫn nhau về nhiều mặt, đặc biệt là vấn đề “bất biến” là chủ quyền quốc gia, lợi ích dân tộc. Không tỉnh táo nhận thức được điều này, lệ thuộc vào những yếu tố “ứng vạn biến” như “mười sáu chữ”, “bốn tốt” có thể dẫn đến những bước đi sai lầm mang lại hậu quả lớn cho quốc gia, dân tộc!

Chúng ta đã có được bài học đắt giá khi rơi vào cảnh bị cô lập trên trường quốc tế từ 1979-1990. Bài học ấy cùng với sự kiện 14.3.1988 mách bảo chúng ta rằng bị cô lập không đồng nghĩa với có độc lập, mà ngược lại, bị cô lập sẽ dẫn đến thảm họa, thậm chí mất cả độc lập và chủ quyền quốc gia.

Các nhà sử học Việt Nam chân chính và những người Việt có lương tâm trong sáng sẽ còn mất nhiều thời gian và công sức nghiên cứu, mổ xẻ, soi xét sự kiện 14.3.1988 một cách khách quan để rút ra bài học bổ ích cho những người Việt hiện nay và các thế hệ mai sau.

Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc không thuộc sở hữu riêng của riêng ai. Nó là tài sản lớn nhất, quý giá và quan trọng nhất của cả dân tộc.

Liêm Thạch
Nguồn : http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130314/tai-sao-trung-quoc-danh-chiem-cac-dao-cua-viet-nam-vao-thang-3-1988.aspx

Hải chiến Trường Sa 1988: Lá cờ màu máu mãi thắm tươi

 

25 năm trước, ngày 14-3-1988, hải quân Trung Quốc đưa tàu đến gây sự ở 3 đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Trong cuộc chiến không cân sức ấy, những người lính hải quân Việt Nam đã xả thân giữ đảo, để máu mình tô thắm cờ Tổ quốc.

Quyết tử vì Gạc Ma

Dù đảo Gạc Ma đã bị Trung Quốc xâm chiếm trái phép nhưng trong cuộc hải chiến 14-3-1988, hình ảnh những cột cờ sống và “vòng tròn bất tử” vẫn khắc sâu trong tâm trí bao người…

Anh hùng Nguyễn Văn Lanh, người vào sáng 14-3-1988 đã cùng thiếu úy Trần Văn Phương và các chiến sĩ hải quân (hải quân) được cử từ tàu vận tải hải quân-604 lên đảo Gạc Ma bảo vệ cờ Tổ quốc, nhớ lại: “hải quân Trung Quốc (Trung Quốc) hạ xuồng từ tàu lớn mang theo nhiều lính trang bị vũ khí hạng nặng đổ bộ lên Gạc Ma. Chúng cho rằng công binh đang xây dựng đảo của ta ít, chỉ trang bị thô sơ, có người thậm chí không vũ khí trong tay, sẽ dễ dàng bị khuất phục. Nhưng chúng đã nhầm!”.

Còn cờ, còn đảo

Trong trận hải chiến ngày 14-3-1988, trong 3 đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao, cuộc đối đầu khốc liệt nhất diễn ra tại Gạc Ma. Theo đại tá Nguyễn Hữu Doanh, người chuyên lo kế hoạch cung ứng, tiếp tế nhu yếu phẩm và lên kế hoạch xây dựng nhà chủ quyền kiên cố trên các đảo ở Trường Sa những năm 1980, sở dĩ hải quân Trung Quốc tấn công Gạc Ma dữ dội nhất vì đảo này nằm ở vị trí đắc địa trong khu vực quần đảo Trường Sa và biển Đông.

Khi lính Trung Quốc đổ bộ lên Gạc Ma, đại úy Vũ Phi Trừ, thuyền trưởng tàu hải quân-604, giao nhiệm vụ cho thiếu úy Trần Văn Phương lên đảo cắm chốt, bảo vệ cờ Tổ quốc để xác định chủ quyền. Thấy lính Trung Quốc tiến vào đảo với số lượng lớn và sẵn sàng bắn vào ta, đại úy Trừ ra lệnh: “Ai bơi giỏi, lập tức vào hỗ trợ thiếu úy Phương”. “Tôi cùng 10 chiến sĩ nhảy xuống biển bơi vào đảo hỗ trợ anh Phương giữ cờ. Lúc ấy, trên đảo có khoảng 40 công binh của ta bị địch chĩa súng nã đạn không thương tiếc” – ông Nguyễn Văn Lanh hồi tưởng.

Ông Lanh không thể nào quên hình ảnh thiếu úy Phương hôm đó. Khi bị lính Trung Quốc bắn trọng thương, anh vẫn cố ngoi lên mặt nước, tay luôn giữ chặt lá cờ, tự biến mình thành cột cờ sống. “Khi bơi đến nơi, tôi đề nghị thiếu úy Phương về tàu cứu chữa nhưng anh ấy nói như ra lệnh: “Thà hy sinh chứ không thể để mất đảo. Hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng hải quân”. Sau khi dặn tôi và đồng đội tiếp tục giữ cờ Tổ quốc bằng mọi giá, anh Phương hy sinh” – ông Lanh nghẹn ngào.

Thấy người trước ngã xuống, người sau vẫn tiếp tục lao tới tự biến mình thành cột cờ sống trên biển, lính Trung Quốc lao đến giằng lấy. “Chúng dùng lưỡi lê và báng súng đâm và uy hiếp chúng tôi. Trong tay không vũ khí nhưng tôi vẫn chiến đấu không chút run sợ. Hai tên lính Trung Quốc lao vào, một tên đâm xuyên lưỡi lê qua vai tôi. Lúc đó, nhiều đồng đội bơi tới yểm trợ tôi tiếp tục giữ cờ” – ông Lanh xúc động.

Lòng quả cảm, ý chí sắt đá

Ông Nguyễn Văn Lanh cho biết những người lính hải quân Việt Nam trong gần 1 giờ quần thảo với lính Trung Quốc đã đứng kề vai nhau thành một “vòng tròn bất tử” để bảo vệ cờ, ngăn chặn chúng tiến sâu vào đảo. Chứng kiến ý chí chiến đấu quyết tử giữ đảo của hải quân ta, lính Trung Quốc đành rút về tàu. Chúng nã pháo điên cuồng vào tàu hải quân-604 neo đậu bên ngoài và những người lính trên đảo Gạc Ma. Trung tá Trần Đức Thông, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 146, thuyền trưởng Vũ Phi Trừ và hầu hết cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh hoặc chìm theo tàu hải quân-604 mất tích. Nhiều người bị thương nặng, trôi lênh đênh trên biển…

Anh hùng – đại tá Vũ Huy Lễ, người thuyền trưởng của tàu hải quân-505 nhận trách nhiệm đóng giữ đảo Cô Lin năm xưa, xúc động: “Tôi nhìn sang vùng biển Gạc Ma, thấy nhiều đồng đội vừa ngã xuống. Không thể để anh em nằm lại giữa biển khơi, chúng tôi đưa xuồng sang cứu. Tuy nhiên, hải quân Trung Quốc dùng súng AK bắn phá, không để chúng tôi cứu thương. Mặc, chúng tôi vẫn bình tĩnh, tiếp tục bơi xuồng sang. Suốt buổi sáng hôm ấy, chúng tôi đã vớt được 44 thương binh và tử sĩ”.

Đại tá Trần Minh Cảnh giờ đã bước sang tuổi 78 nhưng vẫn nhớ như in những giờ phút nóng bỏng 25 năm trước. Vị Chủ nhiệm Chính trị Vùng 4 hải quân vào thời điểm đó, người được anh em hải quân xem là “ra Trường Sa như đi xe buýt”, trầm mặc hồi tưởng những hình ảnh bi hùng của đồng đội năm xưa. “Đó là cuộc chiến không cân sức khi Trung Quốc với nhiều tàu chiến lớn, vũ khí hạng nặng; còn ta chủ yếu giữ đảo bằng lòng quả cảm và ý chí sắt đá bảo vệ chủ quyền” – ông tự hào.

Giữ vững Cô Lin, Len Đao

Sự kiện ngày 14-3-1988 được biết đến trong lịch sử hải quân Nhân dân Việt Nam với tên gọi CQ88 hay “Chủ quyền 88”. Khi đó, Tư lệnh hải quân là Đô đốc Giáp Văn Cương cùng Bộ Tham mưu đã trực tiếp chỉ huy Vùng 4 và các đơn vị có mặt ở Trường Sa chiến đấu, quyết giữ đảo. Một sở chỉ huy tiền phương được thành lập và đóng ở Quân cảng Cam Ranh – Khánh Hòa.

Đại tá Lê Xuân Bạ, nguyên chính ủy Lữ đoàn 146, Bí thư Huyện ủy Trường Sa, lúc đó là trung tá, Phó Chủ nhiệm Chính trị Vùng 4 hải quân – thuộc Sở Chỉ huy tiền phương, cho biết: Ngày 11-3-1988, tàu hải quân-604 của thuyền trưởng Vũ Phi Trừ được lệnh đến đóng giữ Gạc Ma, tàu hải quân-505 của thuyền trưởng Vũ Huy Lễ đóng giữ Cô Lin và tàu hải quân-605 nhận lệnh đến Len Đao. Phối hợp với các tàu này còn có 2 phân đội công binh thuộc Trung đoàn 83, 2 tổ chiến đấu thuộc Lữ đoàn 146 do trung tá – lữ đoàn phó Trần Đức Thông chỉ huy.

Sau trận hải chiến ngày 14-3-1988, dù chúng ta gặp tổn thất lớn về người với 64 chiến sĩ hy sinh nhưng hải quân Trung Quốc không dám mở rộng phạm vi xâm lấn; các đảo Cô Lin, Len Đao được giữ vững.

Theo NGƯỜI LAO ĐỘNG

 

Với phong cách lịch lãm và duyên dáng trong các cuộc họp báo tại Hội nghị Paris, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình được truyền thông Pháp đặt biệt hiệu “Madamee Bình”.

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình và Trưởng đoàn đàm phán của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Xuân Thủy trong những ngày đầu của Hòa đàm Paris, 1968.

Bà Nguyễn Thị Bình và ông Xuân Thủy tại Paris năm 1970.

“Madame” Nguyễn Thị Bình tại Paris tháng 12/1970.

Nét mặt vui tươi của Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình được phóng viên ghi lại ngày 1/7/1971, sau vòng đàm phán thứ 119.

Sự thay đổi nét mặt của những người tham gia đàm phán từ năm 1969 (nửa bên trái bức ảnh) đến ngày 2/7/1971 (nửa bên phải bức ảnh), khi những tiến triển trong đàm phán được ghi nhận.

Những sắc thái khác nhau của bà Nguyễn Thị Bình khi trả lời báo chí tại vòng đàm phán thứ 123 vào ngày 29/7/1971.

Bà Nguyễn Thị Bình trong buổi trao đổi với phóng viên hãng thông tấn AP ngày 30/7/1971, khẳng định miền Bắc Việt Nam sẽ trao trả toàn bộ tù binh chiến tranh nếu Mỹ đưa ra được một thời hạn rút quân khỏi miền Nam Việt Nam.

Bà Nguyễn Thị Bình trả lời phỏng vấn tại phòng nghỉ của mình ở Paris ngày 24/10/1972.

Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Thị Bình trả lời phỏng vấn tại Paris ngày 31/3/1972.

Tại buổi đàm phá diễn ra ngày 17/8/1972, Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Thị Bình đã lên án Nixon “bỏ lỡ cơ hội quý giá nhất để kết thúc cuộc chiến tranh”.

Hai bức ảnh của “Madame Bình” năm 1969 và 1972 được lưu trữ tại thư viện của hãng thông tấn AP.

Thời khắc lịch sử: Ký kết Hiệp định Hòa bình ngày 27/1/1973.

Theo KIẾN THỨC

– Việc Việt Nam thông qua Luật Biển là việc làm bình thường và cần thiết của một quốc gia ven biển có chủ quyền, thành viên của Công ước Liên hợp quốc về luật biển (UNCLOS) 1982.

Tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao chiều nay, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước tin Đài Loan tuyên bố tiến hành thăm dò dầu khí tại vùng biển xung quanh đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lương Thanh Nghị khẳng định đây là hành động “vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa”.

 

Chiến sĩ hải quân Việt Nam trên quần đảo Trường Sa. Ảnh: Minh Thăng

“Việt Nam có đầy đủ chứng cứ pháp lý và lịch sử khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc phía Đài Loan có kế hoạch tiến hành thăm dò dầu khí tại vùng biển xung quanh đảo Ba Bình là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa, gây căng thẳng và làm phức tạp tình hình ở Biển Đông. Việt Nam kiên quyết phản đối và yêu cầu phía Đài Loan hủy bỏ ngay kế hoạch phi pháp nêu trên” – ông tuyên bố.

Tại cuộc họp báo, phóng viên nước ngoài cũng đặt câu hỏi đề nghị cho biết bình luận của Việt Nam về việc phía Trung Quốc và Đài Loan gần đây lên tiếng bày tỏ quan ngại cho rằng luật Biển Việt Nam có hiệu lực sẽ ảnh hưởng đến quan hệ với các nước trong khu vực.

Ông Lương Thanh Nghị nói rằng việc Việt Nam thông qua luật Biển là việc làm bình thường và cần thiết của một quốc gia ven biển có chủ quyền, thành viên của Công ước Liên hợp quốc về luật biển (UNCLOS) 1982.

“Luật Biển Việt Nam khẳng định rõ chủ trương của Việt Nam giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về luật biển 1982 và các thỏa thuận, cơ chế liên quan, góp phần duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và hợp tác ở khu vực Biển Đông” – người phát ngôn nêu rõ.

Linh Thư[http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/104733/-viet-nam-thong-qua-luat-bien-la-viec-binh-thuong-.html]

Nhiều người Việt ở nước ngoài hay nói Cộng sản yếu hèn, dâng nhiều đảo ở Trường Sa cho ngoại bang. Họ nói vậy, có lẽ vì họ ghét Cộng sản, vì họ không có thông tin, hoặc vì cả hai.

Nhưng mới rồi có nhà báo trong nước ra vẻ hiểu biết, nói Việt Nam Cộng hòa đã giữ nhiều đảo ở Trường Sa, chả để mất đảo nào, nay mình dở quá, để mất vào tay Trung Quốc bao nhiêu đảo.

Nói với bạn ý, Trung Quốc đã chiếm 7 đảo ở Trường Sa, nhưng chưa hề chiếm được đảo nào bộ đội ta đã đóng giữ. Gạc Ma bị Trung Quốc chiếm ngày 14-3-1988, khi công binh ta mới lên cắm cờ trên đảo vài giờ.

Nhân tiện cũng nói luôn, lâu nay mọi người thường chỉ nói đến việc Trường Sa bị Trung Quốc chiếm. Nhưng sự thực, Philippines còn chiếm đóng nhiều đảo ở Trường Sa hơn cả Trung Quốc. Có một bác ở hải ngoại nhắc đến việc nhiều đảo ở Trường Sa bị Philippines chiếm, đổ tội cho “bọn cầm quyền Cộng sản” chả biết giữ mấy đảo đó. Bác này nói đại ý, trên mấy đảo Phi đang chiếm giữ có cả bia chủ quyền lập từ thời Việt Nam Cộng hòa, chứng tỏ Cộng sản đã làm mất về tay Philippines các đảo, trước kia Việt Nam Cộng hòa giữ. Lập luận đến hay!

Một số đảo ở Trường Sa bị Philippines chiếm giữ từ bao giờ, như thế nào?

Năm 1956, sau khi tiếp thu từ Pháp quyền kiểm soát quần đảo Trường Sa, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tổ chức thị sát, dựng bia chủ quyền ở một số đảo.

Năm 1963, Hải quân Việt Nam Cộng hòa đưa ba tàu là HQ-404 Hương Giang, HQ-01 Chi Lăng và HQ-09 Kì Hoà ra xây dựng lại bia chủ quyền Việt Nam tại một số đảo thuộc Trường Sa. Sách trắng năm 1975 về quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa nêu rõ ngày xây dựng lại bia chủ quyền ở 6 đảo: ngày 19-5-1963, ở đảo Trường Sa; ngày 20-5-1963, ở đảo An Bang; ngày 22-5-1963, ở đảo Thị Tứ và Loại Ta; ngày 24-5-1963 ở đảo Song Tử Đông và đảo Song Tử Tây.

Nhưng năm 1970. Philippines đã tổ chức chiếm giữ đảo Song Tử Đông, đảo Thị Tứ, đảo Loại Ta và 4 đảo nữa. Domingo Tucay, năm 1970 là một trung úy trẻ tham gia cuộc hành quân đó kể lại, họ mang theo mật lệnh, được dặn đến tọa độ nhất định mới được mở ra. Có 7 đảo, bãi hoàn toàn hoang vắng, họ chiếm đóng dễ dàng. Chỉ khi tới đảo Song Tử Tây, họ thấy quân Việt Nam Cộng hòa đóng. “Chúng tôi báo về sở chỉ huy, được chỉ thị cứ để mặc họ”. Tucay nói.

Trong những đảo Philipines chiếm dịp đó có 6 đảo nổi, Thị Tứ là đảo lớn thứ nhì, Bến Lạc (Đảo Dừa) là đảo lớn thứ ba, Song Tử Đông là đảo lớn thứ năm ở quần đảo Trường Sa.

Theo như bài báo đăng lời Tucay kể chuyện, nhiều tháng sau khi Philippines chiếm đóng 7 đảo ở quần đảo Trường Sa, các nước khác mới biết.

Như vậy, câu hỏi về việc ai đã đế các đảo ở quần đảo Trường Sa mất vào tay Philippines đã có lời giải đáp rất rõ ràng.

————————————-

Tham khảo: Báo Philippines nói về việc quân đội Philipines bí mật chiếm 7 đảo ở quần đảo Trường Sa.

http://www.abs-cbnnews.com/global-filipino/07/11/11/secret-mission-1970-put-ph-troops-spratlys

http://www.manilamaildc.net/navy-officer-tells-how-the-philippines-claimed-spratly-islets.html

Theo THIỀM THỪ
[http://www.reds.vn/index.php/lich-su/hoang-sa-truong-sa/3106-ai-da-de-philippines-chiem-cac-dao-o-truong-sa]

(REDS.VN) Sự sụp đổ của Liên bang Xô viết vào năm 1991 tưởng như là hồi chuông báo tử cho hệ tư tưởng của Marx và Lenin tại Nga, tuy nhiên chỉ sau gần hai thập kỷ, một làn sóng mới của các nhà hoạt động xã hội chủ nghĩa tại Nga, những người sẵn sàng vẫy cờ đỏ một lần nữa trên nóc điện Kremlin, đã xuất hiện ngày càng rõ rệt hơn.

Isabel Magkoeva, 21 tuổi, một nhà hoạt động của Mặt trận Xã hội Cách mạng, ngôi sao đang lên của cánh tả nước Nga cho biết “Tôi đã đặc biệt hứng thú với lý tưởng xã hội chủ nghĩa ngay từ khi còn là một thiếu niên.”

Magkoeva cho biết, cô luôn quan tâm đến các vấn đề bất công trong nền kinh tế và bắt đầu tự hỏi về nguyên nhân gây ra tình trạng này, sau đó, cô đã đi tìm câu trả lời trong các tài liệu cánh tả, và nhận ra cô phải tự tay tham gia đấu tranh chống lại chuyện này. Isabel Markoeva đã từng là một người mẫu tuổi thiếu niên, người được cho là có đặc điểm rất giống với thủ lĩnh biểu tình sinh viên người Chile có tên Camila Vallejjo.

Tuy nhiên, dù Magkoeva luôn coi Lenin là “Nhà cách mạng vĩ đại” nhưng cô vẫn còn rất mơ hồ về Liên bang Xô viết, một thể chế đã sụp đổ vào cùng năm mà cô được sinh ra.

Cô cho biết: “Thực ra nhà nước Xô viết chưa đi theo con đường chủ nghĩa xã hội thực thụ, và do đó, sẽ là rất sai lầm nếu miêu tả những người như tôi cố gắng hành động để khôi phục lại một nhà nước từ quá khứ. Thực sự, chúng tôi đấu tranh cho một hình thái hiện đại hơn của chủ nghĩa xã hội”.

Thực trạng lý tưởng xã hội chủ nghĩa ngày một phổ biến tại Nga đã ngày được xác nhận rõ ràng qua những báo cáo về tình trạng phân hóa giầu nghèo được đưa ra tháng trước bởi công ty tài chính Credit Suisse của Thụy Sĩ. Trong báo cáo có đoạn: “Không kể đến một số nước vùng Caribbe vốn là nơi được chọn đặt dinh thự của rất nhiều tỷ phú, sự phân hóa giàu nghèo tại Nga là cao nhất trên thế giới. Trên quy mô toàn cầu, các nhà tỷ phú đang sở hữu không tới 2% tài sản cá nhân, tuy nhiên tại nước Nga hiện nay, 100 tỷ phú đã chiếm giữ tới 30% tổng khối tài sản này”.

Chính vì lý do này, nhiều người trẻ nước Nga ngày càng bị cuốn hút vào các nhóm hoạt động mang tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tạo bước đột phá cho phong trào cánh tả khi trong so với gần hai mươi năm trước, khi những người Cộng sản thời Xô viết là những người duy nhất còn mang tư tưởng xã hội chủ nghĩa.

Nhà hoạt động cánh tả Sergei Fomchenkov, 38 tuổi, thủ lĩnh mặt trận Nước Nga khác cho biết: “Những người trẻ gần như không có cơ hội mua được nhà cửa với mức giá trên trời và lo cho gia đình một cuộc sống bình thường. Cơ hội để họ leo lên những tầng lớp trên của xã hội cũng gần như không có, đặc biệt là với những người không có gốc gác Moskva. Khi tất cả mọi người phải chịu đựng điều này, họ lại thấy một nhóm nhỏ những tỷ phú giầu có xây dựng những dinh thự xa hoa, từ đó, những tư tưởng đấu tranh theo mô hình cánh tả đã thu hút họ”.

Tuy nhiên, giống như Magkoeva, Fomchenkov không hề có ý tưởng đưa nước Nga lại thời kỳ Xô viết. Ông cho biết cái mình muốn là một nhà nước xã hội chủ nghĩa kiểu mới, với mô hình nhà nước kiểm soát hoàn toàn các ngành công nghiệp chính, tuy nhiên, những hình thức kinh doanh quy mô nhỏ vẫn có được toàn quyền tự do. Theo Fomchenkov, nếu nhà nước muốn kiểm soát đến từng mặt nhỏ nhất của đời sống, ví dụ như từng quán café một, đó thực sự là độc tài chứ không phải xã hội chủ nghĩa.

Những nhà phân tích nhìn nhận phong trào cánh tả đang lên ở Nga cũng tương tự những gì đang xảy ra ở châu Âu trong thời kỳ khủng hoảng này. Kết quả là tại châu Âu, các đảng cánh Tả cũng đang lớn mạnh một cách bất ngờ trong hệ thống chính trị của các nước thành viên.

Một nhà phân tích tại Trung tâm phân tích Carnegie, Moskva tên Lilia Shevtsova bình luận: “Giống mọi nơi khác tại châu Âu, những người trẻ bị tác động mạnh hơn bởi khủng hoảng kinh tế toàn cầu và họ sẽ dễ bị ảnh hưởng bởi tư tưởng xã hội chủ nghĩa”.

Ilya Ponomaryov, một trong những nhà sáng lập của Mặt trận cánh tả nhận định: “Ngày nay, những nhóm đấu tranh kiểu mới đã xây dựng được một cương lĩnh đấu tranh với tư tưởng xã hội chủ nghĩa kiểu mới và đã nhận được rất nhiều biểu hiện tích cực từ dân chúng và càng ngày càng có nhiều người trẻ tham gia”.

Ponomaryov cũng phủ nhận ngay những quan điểm cho rằng việc xây dựng nhà nước cộng sản và xã hội chủ nghĩa lý tưởng là bất khả thi. Ông bày tỏ quan điểm khi nói về sự thất bại của hệ tư tưởng này trong quá khứ: “Mọi người đã hiểu sai hết ý tưởng của Marx và Engels, đáng lẽ ra bạn phải thi hành đường lối kinh tế xã hội chủ nghĩa hoàn chỉnh trước khi bạn muốn xây dựng một nhà nước xã hội chủ nghĩa.”

Tổng thống Putin thường gọi sự sụp đổ của liên bang Xô viết là “thảm họa địa chính trị khủng khiếp nhất” của thế kỷ 20, thể hiện sự đồng cảm với những người thuộc về thế hệ đã sinh sống dưới thời kỳ này.

Đồng thời, đối thủ chính của ông Putin là Gennady Gudkov, một sĩ quan KGB trong quá khứ hiện là một nhà đấu tranh chống lại chính quyền Kremlin cũng tự bạch với tạp chí RIA Novosti khi được hỏi quan điểm về tổng thống: “Dù sao chúng tôi cũng phải giữ cho đất nước sự đoàn kết.”

Còn đối với nhà đồng sáng lập mặt trận cánh tả Ponomaryov, ông thừa nhận có “cảm xúc lẫn lộn” về nhà nước Xô viết trong quá khứ. Trong phát biểu của Ponomaryov có đoạn: “Liên bang Xô viết là một nhà nước rất mạnh với nhiều bảo đảm xã hội, tuy nhiên, họ lại quá chuyên quyền. Nhưng một điều khá rõ ràng là xã hội thời Xô viết còn tốt hơn hiện nay”.

Trong con mắt các nhà phân tích, những người cánh tả đang là đe dọa lớn nhất cho quyền lực của tổng thống Putin. Về vấn đề này, nhà phân tích Shevtsova của trung tâm Carnegie cho biết: “Ngày trước thì những nhóm dân tộc cực đoan là đe dọa lớn nhất đối với quyền lực chính quyền, nhưng ngày nay thì chắc chắn rằng, vai trò này đang thuộc về các nhóm đấu tranh cánh tả”.

NGUYỄN LINH (trích dịch từ RIA Novosti)

Để thực hiện nhiệm vụ mà Bộ Quốc phóng giao phó, ngày 7/11/1987, Tư lệnh Quân chủng Không quân ra lệnh cho Sư đoàn 372 cơ động một phi đội Su-22 (Trung đoàn 923) vào sân bay Phan Rang để huấn luyện làm quen với khu vực chiến đấu. Đồng thời, hiệp đồng với Vùng 4 Hải quân sẵn sàng chiến đấu, đánh địch trên biển.

GIẢI MẬT QUÁ TRÌNH ĐIỀU ĐỘNG SU-22 BẢO VỆ TRƯỜNG SA

Tiêm kích – bom Su-22

Từ cuối những năm 1980 tới nay, những chiếc Su-22M/M4 luôn giữ vai trò là chiến đấu cơ chủ lực bảo vệ Quần đảo Trường Sa.

Cuối những năm 1980, tình hình chủ quyền biển đảo trở nên căng thẳng. Trước tình hình này, ngày 6/11/1987, Bộ Quốc phòng ra lệnh bảo vệ quần đảo Trường Sa, quy định nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ quần đảo cho Tư lệnh Quân chủng Hải quân, Không quân, Phòng không và Binh chủng Thông tin Liên lạc. Trong đó, Hải quân và Không quân được coi là lực lượng nòng cốt làm nhiệm vụ bảo vệ chi viện cho đơn vị trên đảo.

Lần đầu ra Trường Sa

Để thực hiện nhiệm vụ mà Bộ Quốc phóng giao phó, ngày 7/11/1987, Tư lệnh Quân chủng Không quân ra lệnh cho Sư đoàn 372 cơ động một phi đội Su-22 (Trung đoàn 923) vào sân bay Phan Rang để huấn luyện làm quen với khu vực chiến đấu. Đồng thời, hiệp đồng với Vùng 4 Hải quân sẵn sàng chiến đấu, đánh địch trên biển.

Trường Sĩ quan Chỉ huy – Kỹ thuật Không quân được lệnh phối hợp với Sư đoàn 372 tổ chức chuyển sân, triển khai sở chỉ huy tiền phương, bảo đảm phương tiện chỉ huy, dẫn đường trong huấn luyện và chiến đấu.

Ngày 14/11/1987, phi đội Su-22 đã bay từ Thọ Xuân vào Phan Rang. Từ ngày 21/11, sư đoàn 372 tổ chức trực ban chiến đấu và huấn luyện bay biển cho phi công lái Su-22 tại sân bay Phan Rang.

Ngoài đơn vị Su-22, một bộ phận máy bay vận tải chiến thuật An-26 cũng được cơ động vào Nam để trinh sát chụp ảnh, chở quân tiếp viện, thả dù hàng…

Sau thời gian dài huấn luyện, đầu năm 1988, máy bay Su-22UM do Phi đội trưởng Vũ Xuân Cương điều khiển đã thực hiện thành công chuyến bay từ Phan Rang ra Trường Sa. Đây là lần đầu tiên, máy bay chiến đấu của Không quân Nhân dân Việt Nam bay ra tuần tiễu Trường Sa.

Sẵn sàng đánh chìm tàu địch

Ngày 24/4/1988, Quân chủng Không quân điều thêm 3 chiếc Su-22M từ Thọ Xuân vào Phan Rang. Cuối tháng 6/1988, Quân chủng Không quân điều tiếp 10 chiếc Su-22M vào Phan Rang.

Sư đoàn 372 tổ chức sở chỉ huy tiền phương tại Phan Rang, hiệp đồng với Vùng 4 Hải quân và Binh đoàn 17.

Ngày 10/6/1988, Tư lệnh Không quân phê duyệt lại kế hoạch triển khai nhiệm vụ bảo vệ và chi viện quần đảo Trường Sa.

Theo đó, kế hoạch đề ra là sử dụng các lực lượng hiện có gồm các loại máy bay tiêm kích (MiG-21bis), tiêm kích – bom (Su-22M), vận tải (An-26), trực thăng (Mi-8, Ka-25/28) thực hiện 4 nhiệm vụ: bay trinh sát, vận chuyển đường không, đánh các mục tiêu trên biển và trên đảo, tiêm kích bảo vệ đội hình chiến đấu Không quân – Hải quân, hiệp đồng chặt chẽ với Quân chủng Hải quân và Phòng không bảo vệ Trường Sa.

Ngày 24 và 28/6/1988, các kíp trực dẫn đường Sư đoàn 372 và Trung đoàn 923 đã phối hợp chặt chẽ thực hiện dẫn thành công 2 đôi Su-22M lần lượt bay ra đảo Trường Sa và An Bang. Đây là chuyến bay đầu tiên của Su-22M do các phi công Trung đoàn 923 độc lập thực hiện.

Từ 24-29/10/1988, Tư lệnh Quân chủng sử dụng một phần lực lượng không quân phía Nam tham gia đợt diễn tập chi viện quần đảo Trường Sa (mang tên CV-88) trong tác chiến phòng thủ.

Địa điểm diễn tập là căn cứ Phan Rang, Cam Ranh và vùng biển hai tỉnh Phú Khánh – Thuận Hải. Lực lượng tham gia có: phi đội Su-22M (Trung đoàn 923), 2 trực thăng Mi-8 (Trung đoàn 917), 2 vận tải cơ An-26 (Trung đoàn 918)…

Trong cuộc diễn tập CV-88: phi đội Su-22M luyện tập phương án tấn công tiêu diệt và ngăn chặn đội hình tàu hải quân đối phương trên biển, chi viện yểm hộ cho tàu hải quân ta phản công chiếm lại đảo; tiêm kích MiG-21 hộ tống bảo vệ đội hình tàu hải quân và phi đội Su-22M; máy bay An-26 làm nhiệm vụ trinh sát, chụp ảnh, chuyển quân và Mi-8 tìm kiếm cứu nạn…

Su-22M ra Bắc, Su-22M4 ra biển

Bước sang năm 1989, lực lượng chiến đấu cơ bảo vệ Trường Sa tiếp tục được tăng cường thêm lực lượng.

Ngày 3/3/1989, Trung đoàn tiêm kích – bom 937 (Sư đoàn 372) tiếp nhận 4 chiếc Su-22M4 đầu tiên tại Đà Nẵng và tổ chức chuyển sân về Phan Rang. Su-22M4 là biến thể được sản xuất cuối cùng của dòng máy bay Su-22 với những cải tiến đáng kể trong hệ thống điện tử.

Từ ngày 17/4/1989, trung đoàn 937 tổ chức bay huấn luyện phi công. Cuối tháng 8/1989, 7 chiếc Su-22M4 được cơ động chuyển sân ra Thọ Xuân thực hiện bắn thử vũ khí mới.

Ngày 19/10/1989, tiêm kích – bom Su-22M4 do phi công Vũ Kim Điển và Nguyễn Văn Thận (Trung đoàn 937) hoàn thành xuất sắc chuyến bay nhiệm vụ đầu tiên ra Trường Sa. Cuối tháng 10/1989, Su-22M4 thực hiện thành công cuộc bắn đạn thật tại trường bắn Hòn Tý.

Sau khi hoàn thành đầy đủ công tác huấn luyện chiến đấu cho phi công, ngày 20/12/1989, Trung đoàn 937 được Tư lệnh Quân chủng giao nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ quần đảo Trường Sa và vùng kinh tế biển phía Nam thay cho Trung đoàn 923 trở lại Thọ Xuân – bảo vệ miền Bắc.

Từ 1989 tới nay, những chiếc Su-22M4 đảm nhiệm vai trò chính trong nhiệm vụ bay tuần tra, bảo vệ Trường Sa. Dù, hiện nay, các máy bay tiêm kích đa năng Su-27/30 hiện đại hơn của Không quân Nhân dân Việt Nam đủ khả năng thực hiện chuyến bay tuần tiễu Trường Sa. Nhưng trong tương lai gần, “đôi cánh ma thuật” Su-22M4 vẫn đóng vai trò quan trọng trong nhiệm vụ thiêng liêng tổ quốc giao phó.

Phượng Hồng [LG]

ẢNH: Tiêm kích – bom Su-22 có khả năng vươn tới Trường Sa, hỏa lực máy bay tương đối mạnh với vũ khí điều khiển có thể đánh chìm tàu chiến lớn đối phương