Tag Archive: các


Mấy ngày gần đây dư luận lại xôn xao về đề xuất phương án đổi tên nước trở lại thành Việt Nam dân chủ cộng hòa thay cho tên hiện hành. Đề xuất này vốn không hề mới, nhưng nó nóng lên vì gắn với đợt tổng kết 3 tháng lấy ý kiến sửa đổi hiến pháp của ủy ban dự thảo sửa đổi hiến pháp. Tôi không rõ số liệu cụ thể mà Ủy ban tổng kết thế nào nhưng qua những gì báo chí thể hiện thì tôi rất lấy làm ngạc nhiên khi Ủy ban lại cho rằng đây là một đề xuất có tính nghiêm túc. Tôi dẫn nguồn như sau:

Báo Pháp luật TP.HCM: Thêm phương án về tên nước: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Điều 1 dự thảo tiếp thu, bên cạnh cách viết cũ (tên nước là CHXHCN Việt Nam), xuất hiện phương án mới, phản ánh chính xác hình thức chính thể và chủ quyền quốc gia về lãnh thổ: “(1) Nước VN là một nước dân chủ cộng hòa, độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời. (2) Tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH)”.
Phương án này thể hiện ý kiến nhiều tầng lớp nhân dân, cho rằng VNDCCH là tên gọi gắn liền với sự ra đời của chính thể cộng hòa đầu tiên ở nước ta, là thành quả của Cách mạng Tháng Tám, đã được long trọng tuyên bố với nhân dân và toàn thế giới qua bản tuyên ngôn độc lập do Hồ Chủ tịch tuyên đọc ngày 2-9-1945 lịch sử. Tên gọi ấy được khẳng định trong HP 1946, 1959 và chỉ chính thức được thay đổi bởi HP 1980.Tên nước ấy gắn với hai cuộc kháng chiến, hai cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc và Tây Nam và công cuộc xây dựng đất nướcVề mặt pháp lý, tính đến thời điểm này, tên gọi ấy được sử dụng nhiều hơn so với tên nước hiện nay.

Trở lại với VNDCCH tạo ra sức lôi cuốn, tập hợp đoàn kết dân tộc, tạo đồng thuận toàn xã hội, thuận lợi hơn trong quan hệ quốc tế, góp phần phát huy, tranh thủ các nguồn lực kiến thiết, phát triển đất nước, vượt qua tình trạng khó khăn hiện nay. Trở lại với tên gọi ấy không phải là phủ nhận định hướng XHCN. Định hướng ấy nằm trong nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước và cả ở những nội dung cần thiết trong HP mới.

Báo Dân trí: Đề xuất phương án mới về tên nước: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Tên gọi này cũng được cho là phản ánh đúng trình độ phát triển của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, phù hợp với tính chất của nền kinh tế định hướng XHCN. Tên gọi này có khả năng lôi cuốn, tập hợp đoàn kết toàn dân tộc, tạo sự đồng thuận chung trong xã hội, đồng thời thuận lợi hơn trong quan hệ hợp tác với các nước khác trên thế giới…

Việc lựa chọn tên nước theo phương án này, UB dự thảo nhận định, không làm ảnh hưởng đến việc tiếp tục phát triển đất nước theo định hướng XHCN bởi chủ trương, đường lối, pháp luật của nhà nước cũng như bản thân các quy định của Hiến pháp vẫn đang khẳng định mục tiêu nàyThực tế, trong giai đoạn từ 1954 đến 1976, với tên gọi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước vẫn khẳng định và thực hiện công cuộc xây dựng CNXH.

Từ những lập luận đó, UB Dự thảo thể hiện lại Điều 1 để làm rõ hơn hình thức chính thể và chủ quyền của Nhà nước, đồng thời đề xuất phương án quy định tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Trong những vấn đề mà tôi gạch chân ở trên, điều đầu tiên mà tôi đặt dấu hỏi là cụm từ “Phương án này thể hiện ý kiến nhiều tầng lớp nhân dân” của báo Pháp luật TPHCM. Không hiểu đây là nguyên văn thông báo kết quả của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp hay là của tác giả bài báo (Nghĩa Nhân) sáng tác ra? “Nhiều tầng lớp nhân dân” ở đây là những tầng lớp nào? mỗi tầng lớp có bao nhiêu “nhân dân”? Những “ný nuận” khác tôi gom lại như dưới đây:
1. Tên gọi gắn liền với Tuyên ngôn độc lập, với chính thể cộng hòa đầu tiên, do Bác Hồ đặt.
2. Tạo sức lôi cuốn, đoàn kết dân tộc, thuận lợi trong quan hệ quốc tế…
3. Phản ánh đúng trình độ phát triển của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Thứ nhất, tại sao tên gọi đầu tiên của nước ta là Việt Nam Dân chủ cộng hòa?

Chữ Cộng hòa trong tên nước thể hiện chế độ nghị viện (quốc hội) và có trong hầu hết tên các nước trên thế giới nên không bàn tới nữa. Chữ “dân chủ” vốn là một thuộc tính của các cuộc cách mạng tư sản chống lại sự thống trị của chế độ phong kiến, giai cấp quý tộc và đối lập với “quân chủ”. “Dân chủ” ở đây cũng không có nghĩa là toàn bộ nhân dân lao động được làm chủ đất nước mà chỉ dành cho giai cấp tư sản, chủ thể của cuộc cách mạng tư sản.

Cách mạng Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20 có 2 nhiệm vụ chính là: “phản đế, phản phong”, tức lật đổ chế độ phong kiến và ách thống trị của thực dân Pháp (“đế” là “đế quốc”, “phong” là “phong kiến”). Năm 1945, cách mạng tháng 8 thành công nhưng mới chỉ lật đổ được chế độ phong kiến chứ gốc rễ của thực dân vẫn bám chặt trên mảnh đất hình chữ S này (mục tiêu “dân chủ”). Mặt trận Việt Minh do Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập năm 1941 với mục đích Liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước, đang cùng nhau đánh đuổi Nhật – Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, dựng lên một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Tức là  trong thời điểm bấy giờ, việc giành độc lập dân tộc là mục tiêu tối thượng, không phân biệt tầng lớp nhân dân, quan điểm chính trị, tôn giáo,… miễn là “người yêu nước”. Ngoài ra, để tránh việc trở thành quân cờ trong tình hình đối đầu ý thức hệ nóng bỏng của thế giới bấy giờ, cần thiết phải có một cái tên nước trung dung, không ngả nghiêng theo phe nào cả. Có được điều đó là nhờ con mắt tinh tường và kinh nghiệm của Bác Hồ sau bao năm lăn lộn ở chính trường quốc tế. Vì vậy tên gọi “Việt Nam dân chủ cộng hòa” bấy giờ là hoàn toàn hợp lý.

Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – 2/9/1945

Những năm gần đây, các vị “bất đồng chính kiến” rất hay lợi dụng những câu nói của Bác để làm bình phong cho ý đồ của mình, hòng “lòe” thiên hạ vốn tin yêu tuyệt đối vào Người. Nhưng khi lợi dụng hình ảnh Bác, họ đã không biết, không hiểu hoặc cố tình quên rằng những điều Bác nói, Bác làm (hay bất kỳ nhân vật lịch sử nào khác) là thuận theo hoàn cảnh lịch sử, điều kiện cụ thể bấy giờ chứ không nhất thiết là phải áp dụng cho muôn đời sau (trừ những thứ đã là chân lý). Các thế hệ sau phải biết kế thừa và phát huy những thành tựu, di sản của Bác và thế hệ đi trước lên những tầm vóc cao hơn chứ không phải chăm chăm đòi quay trở lại “xuất phát điểm” như thế. Đó là suy nghĩ của những kẻ bất tài hoặc những kẻ âm mưu phá hoại sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Thứ hai, tại sao nước ta đổi tên thành Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam?

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ thống nhất đất nước (cách mạng dân tộc, dân chủ), nhân dân ta đã đạt được một cột mốc mới trong sự nghiệp cách mạng của mình. Để đánh dấu chặng đường này và vạch ra phương hướng cho chặng đường tiếp theo, Quốc hội khóa VI ngày 2/7/1976 đã quyết định đổi tên nước thành nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Những lý do chính khác của việc thay đổi này là:

  • Khẳng định với thế giới và nhân dân rằng nước Việt Nam chúng ta kiên định xây dựng đất nước tiến lên theo con đường CNXH.
  • Thực trạng bấy giờ là đất nước ta đang tồn tại 2 tên nước: Việt Nam dân chủ cộng hòa và Cộng hòa miền nam Việt Nam. Do đó, tất yếu phải có một cái tên chung vừa thể hiện được bản chất, mục tiêu của chế độ vừa“tạo sự đoàn kết dân tộc” (chắc chắn không thể lấy tên CHMNVN đặt tên nước còn dùng VNDCCH thì có vẻ “áp đặt” đối với những người dân miền Nam, nhất là những người trung dung hoặc có liên quan đến chế độ cũ).

Như vậy, ngay việc đổi tên nước năm 1976 đã bao hàm ý nghĩa “đoàn kết dân tộc”rồi. Vậy mà bây giờ lại có những kẻ cố tình lộn ngược cái ý nghĩa đó rồi rêu rao rằng nhằm mục đích bảo vệ cho điều ấy! Ngu xuẩn hay lố bịch?

Quốc hội khóa VI – 1976. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đang phát biểu.

Họ còn nặn ra những “lợi ích” mơ hồ như: tạo ra sự lôi cuốn (?), tạo đồng thuận toàn xã hội (?), thuận lợi hơn trong quan hệ quốc tế (?),…
Đây thực sự chỉ là những cái lý lẽ vu vơ của những kẻ mồm loe mép dãi, vung vít những từ ngữ sáo rỗng để lòe bịp thiên hạ mà chẳng có một cơ sở khoa học, thực tế nào cả.

  • “Tạo sự lôi cuốn”: phải chăng các vị này học tập mấy đứa trẻ chơi Facebook, kiếm cái nick thật kêu và cái avatar thật gợi để “lôi cuốn”người khác? Thế nào là cái tên nước “lôi cuốn”? Tên “Cu Ba”, “Hai ti”, “Séc”, “Ê-cu-anh-đó (Ecuador)” có lôi cuốn không nhỉ? Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng đã “lôi cuốn” hai đế quốc Pháp, Mỹ sống chết nhảy vào tranh giành đó. Quý vị muốn “lôi cuốn” kiểu đó nữa hay không? Khuyến mãi cho quý vị một cách giải thích mang “tầm quốc tế” về cái tên Việt Nam để quý vị xem nó có “hấp dẫn” không nhé: V.I.E.T.N.A.M = Viagra In Every Time. Night And Morning. 
  • “Tạo sự đồng thuận xã hội”: Ối giời, vậy ra bấy lâu nay xã hội Việt Nam đang rất chia rẽ về cái tên nước à? Thông tin này ở đâu ra? Số liệu thống kê thế nào? Ai đảm bảo rằng sau khi đổi tên thành VNDCCH thì toàn xã hội lại đồng thuận cả? Dân Việt Nam bấy lâu nay ngoài việc lo “cơm áo gạo tiền” lại còn thừa thời gian để đi tranh cãi đến mức chia rẽ về cái tên nước nữa cơ đấy!
  • “Thuận lợi hơn trong quan hệ quốc tế”: nhảm nhí! Cái tên CHXHCN Việt Nam gặp bất lợi gì khi gia nhập Liên Hợp Quốc (20/09/1977), ASEAN (28/07/1995), WTO (07/01/2007) à? Hay do cái tên CHXHCN Việt Nam sẽ gặp bất lợi nếu chịu cúi đầu làm chư hầu cho Mỹ, Nato? Hay do cái tên CHXHCNVN viết dài hơn, tốn nhiều mực in hơn VNDCCH? Chẳng biết thuận lợi hơn cái gì chứ trước mắt là cả đống bất lợi cho các nước, doanh nghiệp quốc tế có quan hệ với Việt Nam khi phải thay đổi chứng từ có liên quan.. Muốn thuận lợi, muốn kêu gọi người ta đến hợp tác làm ăn với mình thì cái cần thay đổi là cung cách làm việc, môi trường đầu tư, thủ tục hành chính,.. chứ nào phải thay đổi cái tên? Một chuyện giản đơn như thế mà các vị “lật pháp” há chăng không hiểu?

Chưa hết, bên cạnh đó còn có những lý lẽ thể hiện sự thiếu hiểu biết hoặc cố tình bóp méo lịch sử như: Tên nước ấy gắn với hai cuộc kháng chiến, hai cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc và Tây Nam và công cuộc xây dựng đất nước; Về mặt pháp lý, tính đến thời điểm này, tên gọi ấy được sử dụng nhiều hơn so với tên nước hiện nay; Tên gọi ấy được khẳng định trong HP 1946, 1959 và chỉ chính thức được thay đổi bởi HP 1980.

Tên nước CHXHCN Việt Nam đã được Quốc Hội thông qua từ ngày 2/7/1976, cùng với đó là Quốc kỳ, Quốc huy, Thủ đô, Quốc ca. Vậy thì các vị cho ý kiến này lấy tư cách gì mà nói rằng khoảng thời gian từ lúc đó đến khi hiến pháp 1980 ra đời thì tên nước CHXHCNVN là không có tính pháp lý? Không có pháp lý mà tên nướcCHXHCNVN được ghi nhận là thành viên thứ 149 của Liên Hiệp Quốc (1977) trong khi VNDCCH không có một giây phút nào là thành viên của tổ chức này? Không có pháp lý mà tên nước, quốc huy được sử dụng trong mọi văn bản pháp luật, công hàm quốc tế trong giai đoạn này à? Giả sử mà Quốc hội bấy giờ không cảm thấy cần thiết phải sửa đổi hiến pháp năm 1980 mà duy trì hiến pháp 1959 đến ngày nay thì 37 năm qua nước CHXHCNVN là không có tính pháp lý à?

Rồi từ cái lý luận củ chuối ấy mà họ cho rằng hai cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc và Tây Nam gắn với cái tên VNDCCH chứ không phải CHXHCNVN. Trên Đôi Mắt có tài liệu “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc 30 năm qua“, xuất bản tháng 10/1979, được coi là “Sách trắng” của Bộ ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam, mời quý vị tham khảo. Rồi “Về mặt pháp lý, tính đến thời điểm này, tên gọi ấy được sử dụng nhiều hơn so với tên nước hiện nay” (?!). Câu này không ngu ngơ thì cũng tối tăm vô cùng. Sử dụng nhiều hơn là thế nào? Có ai đã thống kê bao nhiêu văn bản pháp luật, công văn, chứng từ,.. sử dụng VNDCCH và CHXHCNVN để so sánh tên nào được dùng nhiều hơn chưa? Còn nếu tính theo năm thì VNDCCH được sử dụng 31 năm trong khi CHXHCNVN tính đến nay là 37 năm. Mà trẻ con tiểu học cũng biết rằng 37 lớn hơn 31 nhé! Thật ra thì việc so sánh ít – nhiều kiểu này chẳng khác gì trò trẻ con?!

Thứ ba, phải chăng tên gọi là phải phản ánh chính xác thực trạng đất nước?

Theo quan niệm của người Việt Nam, việc đặt tên cho con cái là một vấn đề hệ trọng, bởi nó thể hiện mong muốn, ước nguyện của bậc cha mẹ đối với tương lai của con cái. Cái tên cũng chính là lời nhắc nhở cho người con ghi nhớ điều mà cha mẹ mong đợi ở mình để từ đó cố gắng hoàn thành ước nguyện ấy. Như vậy, cái tên có trước khi nguyện ước của đấng sinh thành trở thành hiện thực. Ví dụ như một đứa bé mới sinh được đặt tên là Trung Hậu thì không có nghĩa rằng người ta thấy nó trung hậu ngay từ lúc lọt lòng mà đặt tên như vậy. Hay như ông Nguyễn Phước Tương cố mãi mà không được công nhận hàm giáo sư nên tự đổi tên mình thành Tương Lai với mong ước sẽ thành giáo sư trong tương lai. Có điều ông này cố mãi, cố quá đến giờ, ở cái tuổi có thể “quá cố” bất cứ lúc nào nhưng vẫn chẳng được ai công nhận hàm giáo sư nên đành cố đấm ăn xôi tự gọi mình là giáo sư Tương Lai.

Quay trở lại tên gọi CHXHCNVN, như trên đã phân tích, đó là lời khẳng định nguyện vọng của nhân dân Việt Nam xây dựng đất nước tiến lên theo con đường XHCN. Bây giờ các vị ấy lại lấy lý do rằng ngày trước với tên VNDCCH, nước ta cũng đi theo con đường XHCN nên giờ có đổi tên cũng chẳng ảnh hưởng gì đến “con đường đã chọn”. Tên nào cũng chẳng thay đổi bản chất của vấn đề thì đổi để làm gì? Làm một cái việc vô nghĩa như thế với đủ loại tốn kém và phiền hà kèm theo, tưởng đâu chỉ là chuyện của những kẻ có vấn đề về thần kinh mới nghĩ ra.

Quốc huy nước VNDCCH và CHXHCNVN

Nhìn ra thế giới thì thế nào? Liên Xô ngay từ thời kỳ đầu thành lập đã mang tên làLiên bang CHXHCN Xô Viết mà như Lê Nin giải thích rằng “CHXHCN” có nghĩa là chính quyền Xô viết quyết tâm thực hiện bước chuyển lên chủ nghĩa xã hội chứ hoàn toàn không có nghĩa là đã thừa nhận chế độ kinh tế hiện nay là chế độ xã hội chủ nghĩa. Điều đó giống như nước ta hiện nay: tên nước phản ánh mục tiêu, nhiệm vụ và quyết tâm chính trị của giai cấp cầm quyền. Nếu hiểu một cách trụi lủi như các vị “lật pháp” rằng tên nước cần phải “thể hiện đúng trình độ phát triển hiện nay của đất nước” thì không lẽ vài năm sau trình độ của đất nước lên 1 mức mới thì lại phải đổi tên nước lần nữa và cứ thế cứ thế đổi? Các nước phát triển trên thế giới hiện nay danh xưng chỉ có chữ Cộng hòa và tên nước như: Cộng hòa Pháp, Cộng hòa liên bang Đức, Cộng hòa Ý, Liên bang Nga, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ,… chẳng nước nào có chữ Dân chủ cả. Vậy phải chăng ở những nước đó không có Dân chủ? Hay những nước như vậy đương nhiên là có dân chủ rồi nên không cần viết vào tên nước nữa? Nếu hiểu theo ý thứ hai này thì Việt Nam chẳng hề có dân chủ nên phải đặt tên là Việt Nam dân chủ cộng hòa? Rồi sau khi đổi tên nước thành VNDCCH được vài năm, các nhà “lật pháp” lại kiến nghị rằng nước ta hiện giờ đã thừa dân chủ rồi nên bỏ cái chữ dân chủ đi cho thành Việt Nam Cộng hòa? Ôi… tư duy các nhà “lật pháp”!!!!

Một vấn đề nhỏ nữa là trong cách hành văn tiếng Việt, danh xưng, tước hiệu, họ, chức vụ,.. đứng trước tên của đối tượng. Đầu thế kỷ 20, ảnh hưởng của Nho giáo Trung Quốc còn nặng nề nên cách gọi thường hơi hướng kiểu Tàu. Ví dụ: Tương Lai tiên sinh chứ không gọi tiên sinh Tương Lai… Theo cách đó, tên nước Việt Nam đã được đặt là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tương tự Trung Hoa Dân quốc, Đại Hàn dân quốc,… Ngày nay, tôn ti trật tự trong tiếng Việt đã ổn định, đi vào khuôn khổ, nề nếp nên danh xưng nước CHXHCN Việt Nam là “chuẩn men” chứ đổi lại thành VNDCCH thế nào cũng có bạn rận rành tiếng Việt lại lu loa lên rằng Nam Trung Hải đã thò tay vào sâu đến nỗi chỉnh sửa cả cái tên quốc gia!

Nói thêm chút về cấu trúc tiếng Việt ở đây:
Trong tiếng Việt thì danh từ đi trước và tính từ bổ nghĩa theo sau. Do đó một số ý kiến cho rằng đúng ngữ pháp thì phải là “Việt Nam Cộng hòa xã hội chủ nghĩa” (Việt Nam là danh từ, CHXHCN là tính từ theo sau) và do đó “Việt Nam dân chủ cộng hòa” là đúng ngữ pháp. Theo quan điểm của tôi, CHXHCN Việt Nam là đúng ngữ pháp vì: Cộng hòa là một danh từ (đầy đủ là “Nền cộng hòa”) còn XHCN là một tính từ bổ nghĩa cho danh từ “cộng hòa” trước nó. Hai từ này ghép lại là một cụm danh từ “CHXHCN”, nghĩa là “nền cộng hòa theo chủ nghĩa xã hội” và là danh xưng đứng trước danh từ Việt Nam. Tương tự vậy, “Việt Nam Dân chủ cộng hòa” đổi đúng theo ngữ pháp Việt Nam phải là “Cộng hòa dân chủ Việt Nam” (2 chữ “cộng hòa” và “dân chủ” đổi chỗ cho nhau). Nhìn sang tiếng Anh thì có thể thấy rõ hơn: Socialist Republic of Viet Nam, trong đó: Socialist (XHCN) là tính từ của Republic (Cộng hòa) of (của) nước Việt Nam.

Thứ tư, những hệ lụy trước mắt nếu đổi tên nước theo ý kiến của các nhà lật pháp

Trước bất kỳ sự thay đổi nào, một vấn đề luôn luôn được đặt ra là: làm điều đó chúng ta được gì và mất cái gì? Ví dụ khi bạn muốn đổi một cái điện thoại thì bạn phải trả lời được câu hỏi: mua nó bạn được trải nghiệm tính năng gì mới và khả năng tài chính của bạn có đáp ứng nổi điều đó một cách thoải mái không? Đôi khi chỉ vì “lỡ yêu rồi” nên cũng ráng “bóp mồm bóp miệng” để “rước được em nó về rinh”. Nhưng danh xưng một quốc gia thì đâu thể tùy hứng thế được! Đổi tên nước là một sự kiện trọng đại của quốc gia và chỉ xảy ra khi có những biến động chính trị to lớn và kéo theo nó là những thay đổi có hệ thống, phức tạp, phiền hà và tốn kém.

Chẳng phải quá thông minh để hình dung ra những phiền hà và tốn kém như sau:Thay đổi toàn bộ quốc huy, quốc danh trên các con dấu, biểu mẫu, tài khoản quốc tế, chứng từ quốc tế, sổ sách, ĐỔI TIỀN,.. Một con số khổng lồ, chưa kể đến khoảng thời gian mất cho những việc đó và những trục trặc, gián đoạn mà các công dân phải gánh chịu trong quá trình chuyển giao này. Tôi còn nhớ, sau khi “xứ Đoài” vinh dự được “nhập hộ khẩu Thủ đô” không bao lâu, tôi đi làm lại chứng minh nhân dân. Khi khai báo nguyên quán Hà Tây, cô nàng cán bộ lạnh lùng phán một câu: làm gì có tỉnh nào là tỉnh Hà Tây? Chợt rùng mình nghĩ giả sử các nhà “lật pháp” thành công, không biết bao nhiêu sương Sa Pa, Đà Lạt có đủ để bọc những câu tương tự: làm gì có nước nào là nước CHXHCN Việt Nam?

Mới chỉ là “kiến nghị” vu vơ mà đã có “hệ lụy” thế này đây!

Vậy đất nước này đánh đổi một khối lượng khổng lồ ngân sách, thời gian, sức lực cùng bao hệ lụy kèm theo để được cái gì? Chẳng được gì cả ngoài những cái “bánh vẽ” (đã chứng minh ở trên) và một cái tên nước “mới”, “tái chế” từ cái tên đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của chính mình, đồng thời chứng minh cho thiên hạ thấy rằng mình vừa dốt lịch sử, vừa dốt tiếng Việt lại thích … đi giật lùi! Chuyện này còn hài hước hơn việc ta có một cái áo đã sử dụng chán chê, vứt đâu đó và lãng quên đi, cho đến một ngày ta gặp nó trong một tiệm quần áo cũ, lúc này kiểu áo đó đang “mốt” lại và ta phải bỏ ra một khoản tiền kha khá để mua lại nó.

Thế thì kẻ nào thực sự được hưởng lợi từ câu chuyện hài hước trên nếu nó thành sự thật? Đương nhiên, dễ thấy nhất và cụ thể nhất là các nhà máy in, các cửa hàng khắc dấu, băng rôn cờ hiệu,…- những con kiến cặm cụi đi tha những mảnh vụn lợi ích rơi vãi từ cái mỏ của đàn kền kền quốc tế, của đám sâu đang đục khoét rường cột chế độ – và sự hí hửng, thỏa mãn của lũ rận khi chúng nhấm nháp chút hoa hồng của hợp đồng bán nước mà quan thầy ban cho. Và chắc chắn một điều, biên lai của “bữa tiệc mừng tên mới” này sẽ do nhân dân Việt Nam thanh toán!

Vậy thì… có ai quen biết với các vị trong Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp không nhỉ? Hãy nhắc họ rằng ngày cá tháng tư đã qua được nửa tháng rồi trừ phi họ muốn bán món cá ươn khi cho rằng đề xuất đổi tên nước này là một điều nghiêm túc!

CẬP NHẬT 1:
Vậy là không phải chuyện cá ươn tháng tư nữa rồi. Hôm nay vnexpress.net phỏng vấn nhà “lật pháp” Nguyễn Minh Thuyết tại đây. Tôi đọc qua thì chẳng thấy có điều gì mới mẻ ngoài ba cái luận điệu cũ rích, rẻ tiền mà tôi đã phân tích ở trên. Xin điểm qua vài vấn đề mà ông “Giáo xư” này đưa ra:
NMT: Theo tôi, chúng ta nên trở lại với tên đầu tiên đã đặt khi mới giành được độc lập. Tên gọi này thể hiện đúng bản chất của chế độ là Cộng hòa Dân chủ. Thể chế Xã hội chủ nghĩa cũng là một kiểu nhà nước dân chủ, tuy nhiên tên Cộng hòa Dân chủ khái quát và phổ biến hơn.
Đôi mắt: Về “tên gọi” và “bản chất chế độ” thì tôi đã phân tích ở trên. Nhưng nếu nói “thể chế Cộng hòa Dân chủ là khái quát hơn và phổ biến hơn” thì không hiểu ông này muốn nói cái gì? Nếu phổ biến hơn nữa thì bỏ chữ Dân chủ đi cho thành Việt Nam cộng hòa đi. Bản chất chế độ “Cộng hòa dân chủ” là bản chất như thế nào? Cộng hòa Pháp, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ,… không có chữ dân chủ thì bản chất nó như thế nào? Không hiểu ông GS này nói mà có hiểu những gì mình nói hay không?

NMT: Đối với đông đảo kiều bào nước ngoài, kể cả những người đã ra đi trước năm 1945 thì cái tên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn là một tên gọi quen thuộc, gần gũi. Nó cũng sẽ tạo điều kiện để nhiều kiều bào xích lại gần hơn với đất nước.
Đôi mắt: Ông này lấy cái gì chứng minh rằng tên gọi VNDCCH là “một tên gọi quen thuộc, gần gũi” với kiều bào hơn để “tạo điều kiện để nhiều kiều bào xích lại gần hơn với đất nước”? Kiều bào trước ra đi do sự kiện 30/04/1975 thì thấy tên gọi VNDCCH “quen thuộc” với “nỗi ám ảnh bị xâm lược”, nên đến tận bây giờ vẫn có những “kiều bào” kêu gọi “báo thù”, “quốc hận”,… Giáo với chẳng sư!

NMT: Cái tên cũng giống như bức tượng Phật trong nhà. Có tượng hay không có tượng, tượng gỗ hay tượng đồng thì thế gian vẫn có Phật. Cái tên không phải là chỉ dấu cho một sự đổi hướng nào. Lấy tên nào thì mục tiêu của chúng ta vẫn là xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Đương nhiên, đổi tên nước sẽ dẫn đến việc chi tiêu một khoản tiền nhất định để đổi con dấu, biển hiệu của cơ quan nhà nước, giấy tờ giao dịch… Tốn kém là có, nhưng cũng không lớn đến nỗi không nên làm. Nếu so sánh thì lợi ích đem lại lớn hơn nhiều. Và cũng phải cân nhắc, những gì không nhất thiết phải đổi như đồng tiền chẳng hạn thì không nên đổi.

Đôi mắt: ông này đúng là “miệng nam mô bụng một bồ dao găm”! Miệng thì leo lẻo có tượng hay không có tượng (có đổi tên hay không đổi tên) thì bản chất sự việc không đổi, vậy thì đòi đổi tên nước làm cái gì? Ông ta căn cứ vào đâu mà nói là “tốn kém không đến nỗi lớn”? “Ích lợi đem lại” là những cái bánh vẽ mà tôi đã phân tích trong bài. Cái ông giáo sư này có thấy trên thế giới này có nước nào mà tên nước trên đồng tiền khác với tên nước thực hay không?
Lạy trời cho đất nước này bớt đi cái đám “giáo sư” như vậy!

CẬP NHẬT 2:Liên quan đến bài viết này có một số bạn như Phạm Như Ý có ý kiến rằng: “Mỗi người một quan điểm, ai cũng có lý lẽ riêng và có quyền bày tỏ chính kiến của mình. Một số người ủng hộ có vị trí cao trong xã hội như nguyên Chủ nhiệm VPQH Vũ Mão”. Bên cạnh đó, tôi lên Facebook cũng có nhiều người ủng hộ tên “VNDCCH” nhưng sau khi “đấu lý” không được, họ vẫn bảo lưu quan điểm của họ nhưng với lý lẽ “dù sao thì tôi vẫn thích cái tên VNDCCH hơn”!Thưa các bạn đọc!Việc đòi đổi tên nước thật ra không phải là vấn đề mới mà đã âm ỉ hàng chục năm nay, giờ bất chợt “bùng lên” cùng sự kiện nhà nước lấy kiến nghị sửa đổi hiến pháp. Nếu chỉ là một quan điểm đơn thuần thì không nói làm gì, nhưng đây là một trong những mục tiêu của “diễn biến hòa bình”: đổi tên nước, rồi đòi bỏ quyền lãnh đạo của ĐCS, rồi trung lập quân đội,…Nhưng cho dù biết là thế, tôi cũng không phản đối nếu như lý do họ đưa ra là đúng, là thuyết phục và có lợi ích cho đất nước này. Vậy như tôi phân tích ở trên, các bạn xem họ đúng chỗ nào và dân lợi chỗ nào?Về đối tượng, tôi không lên án ai nếu chưa biết rõ về họ (thông qua các hành động phá hoại hoặc âm mưu phá hoại sự yên ổn của đất nước) mà “đánh” vào cái tư tưởng mà tôi cho rằng sai trái. Do vậy, tôi có thể hiểu và thông cảm cho từng CON NGƯỜI cụ thể chứ không chấp nhận thỏa hiệp với TƯ TƯỞNG sai trái.Về vấn đề tên nước này, tôi chia thành phần ủng hộ ra thành các loại sau:

  1. Thành phần cố tình cổ vũ cho việc này nhằm mục đích phá hoại sự ổn định chính trị của đất nước (rận chủ, lật pháp và đám giật dây sau lưng).
  2. Thành phần thích cái tên VNDCCH một cách tự nhiên, cảm tính, vì nhiều lý do như: tên đầu tiên của đất nước, tên Bác Hồ đặt, tên nghe hay,…
  3. Thành phần có vai vế trong XH mà tôi không chứng minh được nằm trong loại 1 (coi như họ theo loại 2), tích cực ủng hộ phương án đổi tên nước, phát biểu cổ vũ trên báo chí mà không đưa ra được một lý luận hợp lý nào, như ông Vũ Mão.

Thành phần 1 thì đã nói trong bài. Thành phần 2 nếu là những người hiểu lý lẽ thì khi được “tư vấn” sẽ biết cân đối nặng nhẹ mà thay đổi ý kiến của mình. Nếu họ vẫn thích theo sở thích cá nhân, còn thiệt hại của đất nước thì “sống chết mặc bay”, tôi cũng tôn trọng ý kiến của họ (làm gì có cái gì hoàn hảo được đâu!). Riêng đối với loại thứ 3, một số bạn đưa ra làm “lá chắn” (ông ấy to thế, quan trọng thế mà còn ủng hộ,..), tôi lấy trường hợp ông Vũ Mão làm ví dụ để trình bày như sau:1. Với cá nhân ông Vũ Mão (và các ông bà tương tự), tôi tôn trọng và biết ơn ông về những gì đã làm cho đất nước. Tuy nhiên, thành tích trong quá khứ chỉ có giá trị tham khảo đối với những vấn đề hiện tại. Không thể lấy huy chương vàng mà 1 VĐV đoạt được năm ngoái ra làm cơ sở chắc chắn rằng anh ta sẽ đoạt HCV năm nay! Ông Hoàng Văn Hoan đã từng là một “cây đa cây đề” của cách mạng Việt Nam nhưng điều đó không đảm bảo rằng ông ta đã không sai lầm khi bắt tay với Trung Quốc để chống lại dân tộc mình. Đối với một vấn đề cần tranh luận, tôi tin vào lý lẽ chứ không thể tin vào “cái tên” được. Ví dụ bây giờ, ông Lê Đức Anh nói không thể đổi tên nước thì các bạn nghe ai hay chỉ cân đong đo đếm xem “tên tuổi” ông nào to hơn? Do đó, nếu ông Vũ Mão nhận định sai thì tôi có thể thông cảm cho cá nhân ông ấy chứ không thể “thông cảm” cho cái tư tưởng, cái lý lẽ sai được.2. Về những điều ông Vũ Mão phát biểu trên báo Dân trí, tôi thấy chẳng có gì khác mấy so với lý lẽ của ông Nguyễn Minh Thuyết mà tôi đã phân tích ở trên. Tôi lược qua vài lý luận hơi “tươi mới” của ông ấy cho mọi người cùng đánh giá:- “Cho rằng việc này thực sự hợp lòng dân”: câu này rất vô bổ, sáo rỗng. Đã ai thống kê bao nhiêu người đồng ý, bao nhiêu người không đồng ý mà ông ấy nói vậy? Đây là bệnh chung của các quan chức thì phải, cái gì cũng rất chung chung, khái quát, kiểu: “tham nhũng những năm gần đây đã giảm nhiều rồi” mà chẳng đưa ra được số liệu giảm thế nào, nhiều là bao nhiêu,..- “Đảng ta phát động phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Việc lấy lại tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một việc làm rất thiết thực. Tên nước là Việt Nam dân chủ cộng hoà được Bác Hồ đặt ra, được quy định trong Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959.”: Lý này thì chẳng hề mới, vẫn dựa vào cái bóng của Bác. Ngoài việc tôi phân tích lý do tên nước là VNDCCH ở phần trên, xin hỏi thêm một câu cho những người có cùng quan điểm với ông Vũ Mão: các vị lấy cơ sở gì để nói rằng nếu Bác còn ở lại với chúng ta và vẫn tham gia chính sự đến hết năm 1976 thì Bác lại không đồng ý đổi tên nước thành CHXHCN Việt Nam? hay thậm chí rất có thể Bác lại là người tiên phong trong việc đề nghị điều đó?- “Trong nhiều năm qua, tôi đã nhiều lần được gặp gỡ, “tiếp xúc với các cử tri Việt Kiều”. Tôi hiểu được nguyện vọng của bà con. Tôi tin rằng việc đổi lại tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ được bà con hoan nghênh. Như thế, càng có lợi cho sự nghiệp Đại đoàn kết toàn dân tộc.”: lại là con bài “đoàn kết dân tộc”, lại chủ quan khi cho rằng “tôi tin rằng việc đổi lại tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ được bà con hoan nghênh”. Như đã nói ở trên, tên VNDCCH gắn liền với chiến tranh, đặc biệt là cuộc kháng chiến chống Mỹ, dẫn đến nỗi “ám ảnh” ăn sâu trong đầu của không ít kiều bào là “VNDCCH xâm lược VNCH”. 1976 đổi tên nước cũng một phần là xóa bỏ cái nỗi “ám ảnh” đó. Còn muốn xem kiều bào “hoan nghênh” thế nào thì mời mọi người xem ý kiến của độc giả hải ngoại đối với bài viết của tôi trên KBCHN.- “Tôi nghĩ bạn bè quốc tế cũng rất vui đón nhận tên gọi nói trên”: Vâng, lại nghĩ giùm cho cả thế giới! Có thể họ “vui vẻ” đó nhưng các bạn có bao giờ không đặt dấu hỏi cho một công ty đang làm ăn với mình bỗng dưng đổi tên, đổi dấu không? Chí ít là phải cảnh giác thế này: chắc nó gặp khó khăn nên đổi tên cho hợp phong thủy chăng? Vậy có ai mà “vui vẻ” tiếp tục làm ăn với 1 công ty như vậy không? Đổi tên nước thì một thằng nước ngoài vô tư nhất cũng phải đặt dấu hỏi về tình hình chính trị của nước này: cái gì biến động? có ảnh hưởng gì đến “nồi cơm” của mình không? chuẩn bị “đảo chính” à?.v.v… Vậy họ có “ngãng ra” để nghe ngóng một thời gian không? Ở đó mà “vui vẻ đón nhận”, trừ những thằng đã “biết trước” điều này!- “Các nước cùng thể chế chính trị như nước ta thì hầu như không nước nào đổi tên để có cụm từ xã hội chủ nghĩa như nước ta. Trung Quốc từ năm 1949 đến nay vẫn giữ nguyên gọi là nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa”: Chẳng có nước nào trong các nước này trải qua cảnh bị chia đôi đất nước và chiến đấu sát nhập lại được như nước ta. Vậy thì họ đâu cần đổi tên nước làm gì vì một trong những lý do đổi tên nước là có 1 cái tên chung? Một chuyện nữa là nếu nói cùng thể chế chính trị, sao ông ấy không nói về các nước thuộc Liên bang Xô Viết ngày trước cũng đều là CHXHCN? Mà tại sao chúng ta cứ phải nhìn xem thế giới họ đặt tên thế nào thì mình bắt chước? Nước Cu Ba theo CNXH nhưng tên chỉ là Cộng hòa Cu Ba, giống như các nước đại tư bản vậy!- Nói về “tốn kém” thì lại giống như ông Nguyễn Minh Thuyết, ông Vũ Mão cũng ý rằng “không đáng bao nhiêu so với đại cuộc” dù cái “đại cuộc” được gì mất gì thì tôi đã phân tích ở trên (phải chăng phần lớn các ông “quan” đều có cái suy nghĩ tiêu tiền nhà nước như vậy?). Xin hỏi đã có ai hình dung (chưa cần thống kê) là sẽ tốn bao nhiêu tiền (chưa tính phiền toái) cho việc này chưa mà các ông ấy cứ nói nhẹ tênh vậy nhỉ? Một cây cầu, một con đường bị “ngắt nhéo” thì ít ra người dân còn có cầu, có đường mà đi nhưng tốn kém để đổi tên nước thì người dân được gì ngoài việc đọc tên nước nó hay, nó sướng? Những câu dạy thuộc dạng “chân lý” của Bác Hồ như về “tiết kiệm”, “chống lãng phí” thì ai cũng thuộc và đọc rất to nhưng cái việc mà các ông đang ủng hộ làm này là “lãng phí” hay “tiết kiệm”? Phải chăng các ông ấy chỉ thích “vận dụng” lời Bác theo ý của mình? 3. Mỗi cá nhân đương nhiên là sẽ có quan điểm riêng của mình. Nhưng khi đã là người gánh vách trọng trách của xã hội thì bắt buộc người ta phải biết cân nhắc, biết đắn đo lợi – hại đối với đất nước, với nhân dân trước khi đưa ra ý kiến của mình. Với vai trò như ông Vũ Mão, ông Nguyễn Minh Thuyết thì những phát biểu một cách tùy tiện như thế thậtvô trách nhiệm, bởi lẽ đến một dân đen như tôi còn hình dung ra những tiêu cực của việc mà các ông ấy đang ủng hộ, thì chẳng có lý gì các ông ấy lại không nghĩ đến được. Giả sử nước ta đổi tên thật, mất một đống tiền và công sức (trong thời buổi “thóc cao gạo kém” hiện nay), sau cơn hoan hỉ của những người thích cái tên VNDCCH, mà nước ta vẫn không thể “đi lên” như ước nguyện thì những ông như Vũ Mão, Nguyễn Minh Thuyết,.. cũng nào phải gánh vác trách nhiệm gì ngoài việc mang tiếng “dự sai”!? Không lẽ lúc đó lại quay về CHXHCN Việt Nam? Năm rồi nước ta cũng có khối cái luật, quy định được “đưa vào rồi lại đưa ra” đó thôi! Không lẽ đất nước này đã đến mức cần phải nghe theo lời của các “thầy phong thủy” đổi tên nước đặng mong đổi vận để phát triển?! Ôi cái sự đời!!!Nói tóm lại, mỗi người có một ý thích đối với cái tên nước nhưng nếu là một người có lòng với đất nước thì cần phải tỉnh táo nhìn nhận vấn đề một cách khoa học, cân nhắc thiệt hơn chứ đừng để mình ngã vào “đám đông”.

Nguồn: Đôi Mắt

Advertisements

(TNO) Từ đầu năm 1988, Trung Quốc đã sử dụng một lực lượng lớn hải quân gồm nhiều tàu chiến chiếm đóng một loạt đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam

Cao trào của hành động xâm lược này diễn ra vào ngày 14.3.1988 khi biên đội gồm 6 tàu chiến, trong đó có 3 tàu hộ vệ có trang bị tên lửa và pháo 100 mm, của Trung Quốc đã bắn chìm và cháy 3 tàu vận tải của Việt Nam tại bãi đá ngầm Gạc Ma trong cụm đảo Sinh Tồn của Việt Nam.

Đảo Gạc Ma đã bị quân Trung Quốc đánh chiếm vào ngày 14.3.1988 – Ảnh: D.Đ.Minh

Trong vụ thảm sát này, 64 binh sĩ Việt Nam đã anh dũng hy sinh. Sau đó Trung Quốc còn ngăn chặn không cho tàu mang cờ chữ thập đỏ ra cứu những người bị thương, bị nạn.

Điều phải lưu ý là đây là lần đầu tiên người Trung Quốc (lục địa) đặt chân đến Trường Sa. Trước đó, với tư cách quan phương, Trung Quốc chưa bao giờ có mặt ở vùng biển này.


Tàu HQ505 đã lao lên bãi ngầm ở đảo Cô Lin cắm cờ khẳng định chủ quyền Tổ quốc vào ngày 14.3.1988 – Ảnh: tư liệu

Đã một phần tư thế kỷ trôi qua, từ sự kiện 14.3.1988, có những điều cần phải nói rõ như sau:

Đầu tiên, ngay sau ngày 14.3.1988, thông qua hệ thống tuyên truyền khổng lồ của mình, Trung Quốc đã ngang nhiên bịa đặt trắng trợn với dư luận trong nước và quốc tế rằng: Các tàu Trung Quốc đang thả neo để yểm trợ cho tàu chở đoàn các nhà khoa học Liên Hiệp Quốc (LHQ) đi khảo sát khoa học tại Trường Sa thì bị các tàu chiến của Việt Nam tấn công. Vì thế hải quân Trung Quốc bắt buộc phải đánh trả tự vệ!

Sau đó thông qua người phát ngôn của Tổng thư ký, LHQ đã nói rõ: không hề có tàu của LHQ tổ chức khảo sát khoa học ở Trường Sa vào 3.1988!

Rõ là “cháy nhà ra mặt chuột” và chính quyền Trung Quốc đã “lấy thúng úp voi”, đã “lấy thịt đè người” lại còn muốn lấy tay che mặt trời!

Đã không có tàu khảo sát khoa học của LHQ thì chắc chắn không có việc tàu chiến Việt Nam tấn công tàu Trung Quốc. Điều mà nhiều người đều biết đó là chuyện “ngậm máu phun người” là sở trường của các nhà cầm quyền Trung Quốc.

Trước đó, năm 1962 Trung Quốc phát động chiến tranh biên giới với Ấn Độ và chiếm của Ấn Độ hàng nghìn km2 nhưng lại vu cáo Ấn Độ xâm lược Trung Quốc. Năm 1979, Trung Quốc tiếp tục đem 60 vạn quân xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Bắc. Sự việc rõ ràng như vậy nhưng cũng được họ tuyên truyền là “phản kích tự vệ quân Việt Nam xâm lược”!


Lễ tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh ngày 14.3.1988 tại Cam Ranh (Khánh Hòa) – Ảnh: tư liệu

Thứ hai, có một câu hỏi cần đặt ra là, tại sao Trung Quốc lại tiến hành đánh chiếm các đảo của Việt Nam tại Trường Sa vào tháng 3.1988?

Cuối 1987 đầu 1988 là thời kỳ Việt Nam rơi xuống điểm thấp nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội. Tình hình trong nước chồng chất khó khăn: kinh tế đình đốn, đời sống của đại đa số người dân cực kỳ vất vả.

Cũng trong thời điểm đó, Liên Xô cũng bắt đầu lâm vào khủng hoảng chính trị – xã hội. Bắc Kinh cúi mình trước Washington, tự nhận là “NATO phương Đông” để nhận được nguồn tài chính và công nghệ, kỹ thuật từ Mỹ và phương Tây để phục vụ cho mục tiêu hiện đại hóa. Trong bối cảnh ấy, Trung Quốc cũng đã câu kết với Mỹ và hầu hết các nước trong khu vực (trừ Lào và Campuchia) siết chặt vòng bao vây, cấm vận đối với Việt Nam.

Lợi dụng tình thế khó khăn đó của Việt Nam, Trung Quốc đánh chiếm một số đảo của Việt Nam tại Trường Sa phục vụ cho ý đồ lâu dài.

Trung Quốc cũng là bậc thầy trong việc lợi dụng thời điểm. Mặc dù đã đưa lực lượng ra Trường Sa và có những hoạt động đe dọa từ đầu năm 1988, nhưng thời điểm được Trung Quốc lựa chọn nổ súng rơi đúng vào 14.3.1988 cũng là thời điểm lễ tang Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng được tổ chức tại Hà Nội! Một khi họ đã có dã tâm thì chuyện “tang gia bối rối” lại trở thành điều có thể lợi dụng được!


Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là tài sản lớn nhất, quý giá và quan trọng nhất của cả dân tộc – Ảnh: Chiến sĩ canh gác trên đảo Len Đao (quần đảo Trường Sa) – Ảnh: D.Đ.Minh

Câu chuyện xảy ra ngày 14.3.1988 tại Trường Sa đến nay vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự. Sự hy sinh của những người lính Việt Nam 25 năm trước là một lời nhắc nhở tới 90 triệu người đồng bào hôm nay, trước hết là những người có trọng trách với dân tộc, không bao giờ được quên 3 điều:

Một là, lòng tin phải được đặt đúng chỗ. Đối với Trung Quốc, điều quan trọng không phải là lời nói mà là hành động. Các đấng quân vương Trung Hoa từ xưa đến nay và từ nay về sau đều là những bậc thầy về nghệ thuật “nói một đàng làm một nẻo”. Tin vào những điều mà giới lãnh đạo cấp cao ở Bắc Kinh nói không khác gì chuyện “gửi trứng cho ác”!

Hai là, cần phải hiểu về con đường mà Trung Quốc lựa chọn. Những toan tính và hành động của Trung Quốc liệu có phải là một quốc gia cộng sản đồng chí như họ từng miêu tả hay thực tế là chính sách dân tộc nước lớn vị kỷ?

Việc vô cớ đem quân đánh chiếm các đảo của một quốc gia láng giềng, bất kể quốc gia đó phát triển theo đường lối nào cũng là đi ngược lại những nguyên tắc sơ đẳng trong quan hệ quốc tế và phản bội đối với chủ nghĩa Marx – Lênin mà Trung Quốc từng sử dụng như một chiêu bài.

Láng giềng là vĩnh viễn và không bao giờ thay đổi, trừ phi có một trận siêu động đất đẩy hai quốc gia ra xa nhau!

Việt Nam cần và mong muốn có một mối quan hệ hữu nghị, ổn định, lâu dài với Trung Quốc. Tuy nhiên quan hệ ấy cần được đặt trong sự tôn trọng lẫn nhau về nhiều mặt, đặc biệt là vấn đề “bất biến” là chủ quyền quốc gia, lợi ích dân tộc. Không tỉnh táo nhận thức được điều này, lệ thuộc vào những yếu tố “ứng vạn biến” như “mười sáu chữ”, “bốn tốt” có thể dẫn đến những bước đi sai lầm mang lại hậu quả lớn cho quốc gia, dân tộc!

Chúng ta đã có được bài học đắt giá khi rơi vào cảnh bị cô lập trên trường quốc tế từ 1979-1990. Bài học ấy cùng với sự kiện 14.3.1988 mách bảo chúng ta rằng bị cô lập không đồng nghĩa với có độc lập, mà ngược lại, bị cô lập sẽ dẫn đến thảm họa, thậm chí mất cả độc lập và chủ quyền quốc gia.

Các nhà sử học Việt Nam chân chính và những người Việt có lương tâm trong sáng sẽ còn mất nhiều thời gian và công sức nghiên cứu, mổ xẻ, soi xét sự kiện 14.3.1988 một cách khách quan để rút ra bài học bổ ích cho những người Việt hiện nay và các thế hệ mai sau.

Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc không thuộc sở hữu riêng của riêng ai. Nó là tài sản lớn nhất, quý giá và quan trọng nhất của cả dân tộc.

Liêm Thạch
Nguồn : http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130314/tai-sao-trung-quoc-danh-chiem-cac-dao-cua-viet-nam-vao-thang-3-1988.aspx

Nhiều người Việt ở nước ngoài hay nói Cộng sản yếu hèn, dâng nhiều đảo ở Trường Sa cho ngoại bang. Họ nói vậy, có lẽ vì họ ghét Cộng sản, vì họ không có thông tin, hoặc vì cả hai.

Nhưng mới rồi có nhà báo trong nước ra vẻ hiểu biết, nói Việt Nam Cộng hòa đã giữ nhiều đảo ở Trường Sa, chả để mất đảo nào, nay mình dở quá, để mất vào tay Trung Quốc bao nhiêu đảo.

Nói với bạn ý, Trung Quốc đã chiếm 7 đảo ở Trường Sa, nhưng chưa hề chiếm được đảo nào bộ đội ta đã đóng giữ. Gạc Ma bị Trung Quốc chiếm ngày 14-3-1988, khi công binh ta mới lên cắm cờ trên đảo vài giờ.

Nhân tiện cũng nói luôn, lâu nay mọi người thường chỉ nói đến việc Trường Sa bị Trung Quốc chiếm. Nhưng sự thực, Philippines còn chiếm đóng nhiều đảo ở Trường Sa hơn cả Trung Quốc. Có một bác ở hải ngoại nhắc đến việc nhiều đảo ở Trường Sa bị Philippines chiếm, đổ tội cho “bọn cầm quyền Cộng sản” chả biết giữ mấy đảo đó. Bác này nói đại ý, trên mấy đảo Phi đang chiếm giữ có cả bia chủ quyền lập từ thời Việt Nam Cộng hòa, chứng tỏ Cộng sản đã làm mất về tay Philippines các đảo, trước kia Việt Nam Cộng hòa giữ. Lập luận đến hay!

Một số đảo ở Trường Sa bị Philippines chiếm giữ từ bao giờ, như thế nào?

Năm 1956, sau khi tiếp thu từ Pháp quyền kiểm soát quần đảo Trường Sa, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã tổ chức thị sát, dựng bia chủ quyền ở một số đảo.

Năm 1963, Hải quân Việt Nam Cộng hòa đưa ba tàu là HQ-404 Hương Giang, HQ-01 Chi Lăng và HQ-09 Kì Hoà ra xây dựng lại bia chủ quyền Việt Nam tại một số đảo thuộc Trường Sa. Sách trắng năm 1975 về quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa của Bộ Ngoại giao Việt Nam Cộng hòa nêu rõ ngày xây dựng lại bia chủ quyền ở 6 đảo: ngày 19-5-1963, ở đảo Trường Sa; ngày 20-5-1963, ở đảo An Bang; ngày 22-5-1963, ở đảo Thị Tứ và Loại Ta; ngày 24-5-1963 ở đảo Song Tử Đông và đảo Song Tử Tây.

Nhưng năm 1970. Philippines đã tổ chức chiếm giữ đảo Song Tử Đông, đảo Thị Tứ, đảo Loại Ta và 4 đảo nữa. Domingo Tucay, năm 1970 là một trung úy trẻ tham gia cuộc hành quân đó kể lại, họ mang theo mật lệnh, được dặn đến tọa độ nhất định mới được mở ra. Có 7 đảo, bãi hoàn toàn hoang vắng, họ chiếm đóng dễ dàng. Chỉ khi tới đảo Song Tử Tây, họ thấy quân Việt Nam Cộng hòa đóng. “Chúng tôi báo về sở chỉ huy, được chỉ thị cứ để mặc họ”. Tucay nói.

Trong những đảo Philipines chiếm dịp đó có 6 đảo nổi, Thị Tứ là đảo lớn thứ nhì, Bến Lạc (Đảo Dừa) là đảo lớn thứ ba, Song Tử Đông là đảo lớn thứ năm ở quần đảo Trường Sa.

Theo như bài báo đăng lời Tucay kể chuyện, nhiều tháng sau khi Philippines chiếm đóng 7 đảo ở quần đảo Trường Sa, các nước khác mới biết.

Như vậy, câu hỏi về việc ai đã đế các đảo ở quần đảo Trường Sa mất vào tay Philippines đã có lời giải đáp rất rõ ràng.

————————————-

Tham khảo: Báo Philippines nói về việc quân đội Philipines bí mật chiếm 7 đảo ở quần đảo Trường Sa.

http://www.abs-cbnnews.com/global-filipino/07/11/11/secret-mission-1970-put-ph-troops-spratlys

http://www.manilamaildc.net/navy-officer-tells-how-the-philippines-claimed-spratly-islets.html

Theo THIỀM THỪ
[http://www.reds.vn/index.php/lich-su/hoang-sa-truong-sa/3106-ai-da-de-philippines-chiem-cac-dao-o-truong-sa]

Một sự tiếp tay cho các hoạt động chống phá Việt Nam

Tổ chức HRW đã đi lệch tôn chỉ của chính mình.

Ngày 18-12, Ðại sứ quán Mỹ tại Hà Nội đã gửi thông cáo tới giới truyền thông phê phán việc cơ quan chức năng Việt Nam không cho Huỳnh Trọng Hiếu xuất cảnh đi Mỹ để nhận giải thưởng do Tổ chức nhân quyền thế giới trao cho cha và chị gái là Huỳnh Ngọc Tuấn, Huỳnh Thục Vy.

Thông tin trên lập tức được một số cơ quan truyền thông nước ngoài và các thế lực thù địch lợi dụng để vu cáo Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam về vấn đề dân chủ, nhân quyền. Vậy thực chất của sự kiện này là gì?

Ngày 20-12-2012, Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW) ra thông cáo báo chí về việc HRW trao “Giải nhân quyền Hellman/Hammett” cho 41 người ở 19 quốc gia. Trong danh sách có năm công dân Việt Nam, gồm: Huỳnh Ngọc Tuấn, Huỳnh Thục Vy, Nguyễn Hữu Vinh, Phạm Minh Hoàng, Vũ Quốc Tú – những cái tên mà người quan tâm đều biết họ là các blogger “tích cực” viết bài trên các blog cá nhân và các trang web có tính chất chống đối, cũng như trả lời phỏng vấn trên một số cơ quan truyền thông nước ngoài như BBC, RFA, VOA,… mà trong đó chủ yếu là xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền tại Việt Nam, kích động chống phá Nhà nước.

Tiền thân của HRW là tổ chức Helsinki Watch do Robert L.Bernstein thành lập năm 1978 với mục đích “giám sát” Liên Xô (trước đây) bằng cách thu thập tư liệu liên quan tới việc Liên Xô thực hiện quy ước của Tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu (OSCE), hỗ trợ các nhóm bảo vệ nhân quyền tại nước này.

Năm 1988, Helsinki Watch hợp nhất với một số tổ chức quốc tế khác cùng tôn chỉ, mục đích, từ đó đổi tên thành Tổ chức theo dõi nhân quyền (HRW).

Tuy nhiên, hoạt động của HRW đang đi lệch tôn chỉ, mục đích ban đầu và trở thành “con rối” đội lốt nhân quyền phục vụ mục đích chính trị.

Nhiều năm qua, lợi dụng chiêu bài hoạt động bảo vệ “dân chủ, nhân quyền” theo tiêu chí phương Tây, HRW đưa ra nhiều thông tin sai sự thật khi đánh giá về tình hình “dân chủ, nhân quyền” ở nhiều quốc gia, gây phản ứng trong dư luận quốc tế. Tổ chức này ngày càng phải chịu nhiều chỉ trích từ chính phủ các nước, các tổ chức phi chính phủ, các cơ quan, trong đó có cả ý kiến của người sáng lập HRW là cựu Chủ tịch Robert L.Bernstein khi ông này cho rằng: HRW có phương pháp nghiên cứu sai lầm, cung cấp thông tin thiếu chính xác, hoặc không thể kiểm chứng.

Thậm chí, Chính phủ Venezuela còn cáo buộc HRW từng bị chính quyền Bush thao túng vì mục đích chính trị. Ðối với Việt Nam, HRW thường tuyên truyền, xuyên tạc tình hình nhân quyền qua báo cáo nhân quyền thường niên, các thông cáo báo chí, gửi thư tới lãnh đạo Nhà nước, Chính phủ Việt Nam và một số cơ quan, tổ chức quốc tế.

Ðiều đáng nói là HRW không dựa vào khảo sát thực tế mà chỉ cóp nhặt thông tin sai sự thật, một chiều và có dụng ý xấu về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam do các thế lực thù địch với Ðảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam phát tán trên internet hoặc rêu rao trên một vài tờ báo lá cải ở nước ngoài.

“Giải nhân quyền Hellman/Hammett” do HRW lập ra cách đây 23 năm, với mục đích hỗ trợ về tài chính cho các nhân vật được gán cho cái mác “nhà văn đấu tranh cho nhân quyền phương Tây”.

Giải thưởng này được đặt theo tên của nhà viết kịch người Mỹ là Lillian Hellman và bạn của bà, tiểu thuyết gia Dashiell Hammett. Trong 23 năm qua, HRW đã trao giải cho hơn 750 “nhà văn” ở 92 quốc gia với mỗi giải thưởng trị giá khoảng 10 nghìn USD. Hơn 10 năm trở lại đây, HRW dần dà lái việc trao “giải” cho cả những nhân vật chống chính quyền, gây mất an ninh trật tự ở Việt Nam.

Thực chất đây chính là màn kịch do HRW dựng lên để hậu thuẫn tài chính, kích động một số đối tượng chống Nhà nước Việt Nam. Những nhân vật là người Việt Nam được HRW chọn trao “Giải nhân quyền Hellman/Hammett” đều là các đối tượng có “thâm niên” trong hoạt động chống đối chế độ, kích động hận thù, gây chia rẽ khối đoàn kết dân tộc.

Trong số họ, chẳng có người nào là “nhà văn” như tiêu chí để xét trao “Giải thưởng nhân quyền Hellman/Hammett”. Ðiểm chung nhất của những người này là bán rẻ danh dự, nhân phẩm, tự nguyện trở thành công cụ trong tay thế lực xấu để chống phá đất nước, chống phá chế độ.

Nổi bật trong năm người Việt Nam được HRW “vinh danh” vào năm 2012 là Phạm Minh Hoàng – nhân vật trung thành với tổ chức khủng bố “Việt Tân”.

Trong thời gian du học tại Pháp, Phạm Minh Hoàng đã được kết nạp vào “Việt Tân”. Năm 2000, Hoàng trở về Việt Nam và được Ðại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh ký hợp đồng làm giảng viên môn khoa học ứng dụng.

Tuy nhiên, Hoàng vẫn giữ liên lạc thường xuyên với “Việt Tân”. Từ năm 2002 tới 2010, với bút danh Phan Kiến Quốc, Phạm Minh Hoàng viết 33 bài có nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Ðảng, Nhà nước. Bài viết của Hoàng được “Việt Tân” nhanh chóng đăng tải, phát tán trên internet.

Không chỉ viết bài xuyên tạc sự thật, trong tháng 11-2009, sau khi tham dự lớp tập huấn tại nước ngoài của “Việt Tân”, Hoàng còn cùng vợ là Lê Thị Kiều Oanh, em trai là Phạm Duy Khánh, cùng một số Việt kiều khác đứng ra tổ chức hai khóa học mang tên “kỹ năng phần mềm” cho 43 thanh niên, sinh viên, nữ tu tại TP Hồ Chí Minh với nội dung tuyên truyền, lôi kéo, tập hợp lực lượng cho “Việt Tân” để chống phá Nhà nước.

Cùng với Phạm Minh Hoàng, Huỳnh Ngọc Tuấn và con gái Huỳnh Thục Vy (thường trú tại Tam Kỳ – Quảng Nam) cũng liên tục viết bài rêu rao trên các blog, các trang web và báo đài phản động, xuyên tạc lịch sử, bóp méo thực tế phát triển kinh tế – xã hội và tiến bộ nhân quyền tại Việt Nam.

Năm 1992, Huỳnh Ngọc Tuấn bị Tòa án nhân dân phạt 10 năm tù về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Mãn hạn tù, Tuấn không những không ăn năn hối cải mà còn lôi kéo hai con ruột là Huỳnh Thục Vy, Huỳnh Trọng Hiếu đi theo vết xe đổ của mình. Ngày 2-12-2011, Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam đã ký ba quyết định xử phạt ba cha con Huỳnh Ngọc Tuấn 270 triệu đồng, vì đã có hành vi vi phạm hành chính về công nghệ thông tin. Tuy nhiên, đến nay, ba đối tượng này vẫn ngoan cố không chịu thi hành quyết định. Bên cạnh việc viết bài kích động chống phá Nhà nước, Huỳnh Ngọc Tuấn và hai con còn bày tỏ thái độ chống đối, như không đi bầu cử Quốc hội khóa XII (năm 2005), bầu cử Quốc hội khóa XIII (năm 2011). Khi tổ công tác đến nhà vận động đi bầu cử, thì bị Tuấn và gia đình xúc phạm. Ngoài ra, ba cha con Tuấn còn ghi vào thẻ cử tri chữ “NO!”; sau đó, chụp ảnh đăng tải trên internet và trả lời phỏng vấn của báo chí nước ngoài với nội dung xuyên tạc bầu cử Quốc hội ở nước ta. Vừa qua, do hành động chống phá Nhà nước, vi phạm pháp luật của cha con Huỳnh Ngọc Tuấn, nên ngày 16-12-2012, Huỳnh Trọng Hiếu sang Mỹ để thay mặt bố và chị gái nhận “Giải nhân quyền Hellman/Hammett”, đã bị cơ quan chức năng tại sân bay Tân Sân Nhất (TP Hồ Chí Minh) không cho xuất cảnh.

Ngay sau đó, Ðại sứ quán Mỹ tại Hà Nội và Tổng Lãnh sự quán Mỹ tại TP Hồ Chí Minh ra tuyên bố bày tỏ “quan ngại”, và kêu gọi Việt Nam bãi bỏ hạn chế đi lại đối với Huỳnh Trọng Hiếu… Lập tức, mấy cơ quan truyền thông như VOA, RFA, BBC,… đều đồng loạt đưa tin, nhân sự việc này vu cáo Việt Nam tiếp tục vi phạm các quyền tự do cơ bản!

Những năm qua, với tinh thần mở cửa và hội nhập, Việt Nam luôn luôn tạo điều kiện để công dân Việt Nam được xuất cảnh đi nước ngoài vì mục đích thăm nom người thân, du lịch, học tập, hay đầu tư, kinh doanh, định cư nhân đạo,… Tuy nhiên, để bảo đảm an ninh quốc gia, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, công dân Việt Nam, pháp luật Việt Nam cũng cấm xuất cảnh đối với các đối tượng “đang phải chấp hành án hình sự, dân sự, các quyết định xử phạt hành chính; đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang bị truy cứu về trách nhiệm dân sự, hành chính”. Huỳnh Trọng Hiếu là đối tượng đang trong thời gian thi hành quyết định xử phạt hành chính của UBND tỉnh Quảng Nam, do đó việc cơ quan chức năng Việt Nam cấm xuất cảnh đối với đối tượng này là phù hợp với quy định của pháp luật. Ðáng tiếc là Ðại sứ quán Mỹ tại Việt Nam lại không quan tâm tới điều này. Việc tặng “Giải nhân quyền Hellman/Hammett” cho năm nhân vật đã và đang có hành vi tuyên truyền, kích động chống đối Nhà nước Việt Nam, HRW đã khuyến khích, cổ súy cho hoạt động gây mất ổn định an ninh chính trị ở một đất nước có chủ quyền. Và tuyên bố của Ðại sứ quán Mỹ tại Việt Nam là can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền, phải chăng là sự nối dài của thói quen áp đặt “tiêu chuẩn kép” về dân chủ, nhân quyền đối với các nước khác?

Phía sau các ‘giải thưởng nhân quyền’

Ngày nay, nhân quyền đang trở thành một vấn đề tranh luận “nóng bỏng” giữa một số nước muốn áp đặt những quan niệm và sử dụng như một cái cớ để gây sức ép với những nước không chấp nhận sự chi phối và sự can thiệp từ bên ngoài.

Sự khác biệt trong quan niệm về nhân quyền là do nhiều nguyên nhân khác nhau về văn hóa, xã hội, nhân sinh, đặc biệt là từ sự lựa chọn các giá trị riêng có vai trò định hướng cho quá trình phát triển của mỗi quốc gia. Ðây cũng là một số trong nhiều lý do làm cho sách lược “lưỡng chuẩn về nhân quyền” của Mỹ và phương Tây bị nhiều nước lên án như là sự áp đặt để đạt tới những mục đích kinh tế, chính trị, tôn giáo…

Khi đánh giá nhân quyền, phải xem xét từ những thành tựu mà mỗi Nhà nước đã đem lại cho nhân dân của mình. Không thể nấp dưới chiêu bài nhân quyền để ngạo mạn đánh giá thành tích nhân quyền, từ đó tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác. Áp đặt về nhân quyền để đạt những mục đích kinh tế, chính trị, tôn giáo, đó là điều mà giới tri thức phương Tây từng thừa nhận. Noam Chomsky – một học giả của Mỹ viết: “Thật ra chính sách ngoại giao của Mỹ là đặt căn bản trên nguyên tắc không liên quan gì đến nhân quyền, mà là liên quan nhiều đến sự tạo ra một bầu không khí thuận lợi cho ngoại thương”. Lịch sử cũng đã và đang minh chứng, chưa bao giờ các quốc gia phương Tây đứng đầu là Mỹ, lại tỏ ra tôn trọng nhân quyền ở các nơi khác trên thế giới. Bởi thế, bất chấp việc chưa có một khái niệm thống nhất về nhân quyền trên thế giới, thì tiêu chí về nhân quyền đã và đang được Mỹ cùng các quốc gia phương Tây khai thác từ bản Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền được Liên hợp quốc thông qua ngày 10-12-1948. Nhưng kể cả khi vận dụng Tuyên ngôn này, họ vẫn cố tình lờ đi Ðiều 29 của Tuyên ngôn và một số điều khoản trong hai bản Giao ước quốc tế về quyền dân sự và quyền chính trị; Giao ước quốc tế về những quyền kinh tế – xã hội và văn hóa đã được Ðại hội đồng Liên hợp quốc chấp thuận ngày 6-12-1966, trong đó có một số quy định chỉ rõ các quyền cơ bản của con người đều chịu “sự hạn chế do luật pháp đặt ra”.

Hằng năm, tự đặt mình ở cương vị phán xét người khác, Mỹ lại đưa ra những bản phúc trình về tình trạng nhân quyền, tự do tôn giáo của các quốc gia khác, trừ Mỹ, và đều bị các nước liên quan phản đối kịch liệt.

Những cuộc xung đột đó sẽ còn dài và một trong những phương tiện đang được sử dụng trong cuộc chiến nhân quyền ấy là: trao giải thưởng nhân quyền. Ðến ngay cả giải thưởng Nobel hòa bình – một giải thưởng mà người sáng lập ra nó đặt tiêu chí là trao giải cho “người có cống hiến to lớn cho tình hữu nghị giữa các quốc gia, cho việc giải trừ hoặc hạn chế các lực lượng vũ trang và việc tổ chức hay xúc tiến các hội nghị hòa bình”, tưởng như chẳng dính dáng gì mấy tới cuộc xung đột nhân quyền, cũng đang bị biến dạng. Không ít học giả quốc tế nhận xét, Nobel hòa bình “đã chệch xa khỏi sứ mệnh ban đầu của mình”. Tác giả Ronald R.Krebs – Phó Giáo sư Khoa học Chính trị tại Ðại học Minnesota, Hoa Kỳ trên Tạp chí Foreign Policy đánh giá: “Từ 1971 đến 2008, các nhà bất đồng chính kiến được nhận giải tới 10 lần… giải thưởng của họ không đồng nghĩa với những đóng góp đáng kể vào hòa bình trong nước và quốc tế”.

Việt Nam không phải là ngoại lệ. Chưa bao giờ, việc trao các loại giải thưởng nhân quyền cho những người được gọi là “nhà bất đồng chính kiến bị chính quyền đàn áp” trong nước lại “nhộn nhịp” như mấy năm gần đây. Tính sơ sơ đã có gần chục loại giải thưởng nhân quyền được trao cho các đối tượng chống Nhà nước Việt Nam, như “giải thưởng Hellman/Hammet” của tổ chức Quan sát nhân quyền quốc tế (HRW); “giải thưởng Stephanus” của Hiệp hội quốc tế nhân quyền tại Ðức; “giải thưởng quốc tế Gruber” của Nghiệp đoàn luật sư quốc tế; “giải nhân quyền Gwangju”; giải thưởng nhân quyền của “Mạng lưới nhân quyền Việt Nam”,… Với một số giải thưởng khác, như “giải thưởng nhân quyền Sakharov” của Quốc hội châu Âu; giải thưởng Nobel hòa bình, Nobel văn chương… tuy chưa có cá nhân nào là người Việt Nam được nhận, nhưng một số “nhân vật” đã được đưa vào danh sách đề cử như: Thích Quảng Ðộ, Nguyễn Văn Lý, Dương Thu Hương…

Vậy những “giải thưởng nhân quyền” ấy có biểu lộ chút giá trị nào như tên gọi không? Ðiểm mặt một số cá nhân được các tổ chức nọ “vinh danh”, sẽ thấy ngay bản chất của các loại giải thưởng này. Lê Thị Công Nhân, người được nhiều “giải thưởng nhân quyền” nhất, chỉ được biết đến sau khi Tòa án kết tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Trong vài năm liền, hầu như năm nào, nhân vật này cũng được các tổ chức chống phá chính quyền Việt Nam trao giải thưởng: năm 2007 là giải thưởng của “mạng lưới nhân quyền Việt Nam”; năm 2008 là “giải nhân quyền Gwangju”. Năm 2009 là “giải thưởng quốc tế Gruber” và năm 2010 là “giải thưởng Stephanus”. Lý do trao giải không có gì khác, ngoài việc kích động Lê Thị Công Nhân ngày càng liều lĩnh chống chính quyền như con thiêu thân. Ðáp lại sự “lăng-xê” của các tổ chức này, Lê Thị Công Nhân không ngại nói năng xằng bậy, cho rằng cả dân tộc Việt Nam “mê muội” và “cuồng tín”, kích động quần chúng phải đứng lên lật đổ chính thể hiện hành, ca tụng các hành động khủng bố điên cuồng của Lý Tống, kể cả hành động cướp máy bay xâm nhập lãnh thổ Việt Nam để rải truyền đơn…

Kế đến là Nguyễn Văn Lý, người có “thâm niên” đi tù nhiều lần vì các tội danh chống chính quyền nhân dân từ những năm 1977. Ðó là người hễ mở miệng ra là kêu gọi lật đổ chế độ, kích động chống Nhà nước, kêu gọi nước ngoài cấm vận, đề nghị đưa Việt Nam vào danh sách CPC (các nước cần quan tâm đặc biệt về vấn đề Tôn giáo), không cho Việt Nam vào WTO, tẩy chay bầu cử Quốc hội và Ðại lễ 1000 năm Thăng Long – Hà Nội…, toàn những việc làm phi pháp; phản dân, hại nước.

Thứ nữa là những kẻ như Trần Khải Thanh Thủy, kẻ “nổi tiếng” với thành tích lừa phỉnh dân khiếu kiện và lập ra “hội dân oan” để “kinh doanh” kiếm lời, rồi có hành vi côn đồ hung hãn, đánh người gây thương tích… Không phải ngẫu nhiên mà người ta lại dùng cái hỗn danh “Trần Khải Ma Quỷ” để đặt cho Trần Khải Thanh Thủy. Hay Nguyễn Khắc Toàn, trình độ tư duy quá thấp kém nhưng bằng cái tài lưu manh làm cho đồng bọn phải kinh hãi, như thủ đoạn “triệt hạ” Trần Khải Thanh Thủy để chiếm lấy món lợi “dân oan”, khiến kẻ thân tín là Hồ Thị Bích Khương bỏ chạy “tháo thân” bằng những bài viết tố Nguyễn Khắc Toàn trên Internet v.v. Ðiểm qua vài gương mặt được nhận các “giải thưởng nhân quyền” đã đủ thấy tiêu chí của các giải thưởng này rất cụ thể là: càng chống chính quyền cực đoan thì càng nhận được nhiều giải thưởng! Hoàn toàn trái ngược với những căn cứ được nêu trong các văn bản quốc tế về nhân quyền.

Xét đến công cụ trao giải, trước tiên phải kể đến “mạng lưới nhân quyền Việt Nam” gồm những kẻ chống phá Nhà nước Việt Nam đã có thâm niên, như Nguyễn Thanh Trang, Võ Văn Ái, Nguyễn Tường Bách, Nguyễn Ngọc Bích, Nguyễn Minh Cần, Ðoàn Viết Hoạt, Nguyễn Hữu Lễ, Phạm Ngọc Lũy, Nguyễn Quốc Quân, Nguyễn Chí Thiện… Mạng lưới này được lập ra từ năm 2002, với hàng loạt các hoạt động “chống cộng”, và “giải thưởng nhân quyền” được trao theo kiểu xếp hàng, lần lượt được trao cho các đối tượng có hoạt động tuyên truyền hoặc mưu đồ lật đổ Nhà nước Việt Nam như: Trần Anh Kim, Ðỗ Nam Hải, Nguyễn Chính Kết, Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn…

Còn các tổ chức trao giải nhân quyền quốc tế khác, thì từ khâu xét chọn đến trao giải, đều có vai trò tích cực của các cá nhân, tổ chức thù địch với Nhà nước và nhân dân Việt Nam, như: “Việt Tân”, “tập hợp dân chủ đa nguyên”, “cao trào nhân bản”… Nổi bật là tổ chức Quan sát nhân quyền quốc tế (HRW) với “giải thưởng Hellman/Hammet” mà tiền thân là tổ chức Helsinki để “giám sát” dân chủ, nhân quyền của Liên Xô (cũ), sau này được bành trướng, mở rộng thành một tổ chức tự phong cho mình quyền giám sát nhân quyền thế giới! Sự thật là những đối tượng được HRW trao “giải thưởng Hellman/Hammet” đều là các công dân Việt Nam vi phạm pháp luật. Nhìn khung cảnh những buổi lễ trao giải của HRW, không ai có thể nhận xét khác được về vai trò tích cực của các cá nhân, tổ chức mà ta gọi là bọn phản động lưu vong người Việt. “Giải thưởng Hellman/Hammet 2010” được trao cho sáu đối tượng người Việt thì trong đó có bốn đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật, hiện đang là phạm nhân trong các trại cải tạo.

Không có gì ngạc nhiên khi đứng sau mỗi giải thưởng nhân quyền ấy đều có hình bóng trực tiếp hoặc gián tiếp điều hành của một số nước phương Tây và đồng minh. Việc khai thác chiêu bài bảo vệ nhân quyền để ép buộc những quốc gia có chủ quyền khác vẫn không ngoài tham vọng điều hành thế giới. Trước xu thế phản đối quan điểm nhân quyền cưỡng chế của Mỹ và phương Tây (thể hiện trong Hội nghị Quốc tế Nhân quyền ở Vienna năm 1993 và nhiều diễn đàn, hội nghị khu vực, quốc tế khác), việc đẩy mạnh hình thức trao “giải thưởng nhân quyền” chỉ là màn kịch vụng về trên sân khấu chính trị hải ngoại, ngày càng phơi bày bộ mặt chống phá Nhà nước Việt Nam của các thế lực thù địch và những kẻ phản động lưu vong.

Theo NHÂN DÂN ONLINE

ần đây, có rất nhiều tin đồn “từ trên trời rơi xuống” kéo theo một xã hội thu nhỏ đua nhau lan truyền, chia sẻ thông tin, khiến ai cũng nghĩ rằng đó là sự thật, để rồi khi cơ quan ngôn luận lên tiếng mới chịu vỡ lẽ. 
[IMG]

[IMG]Từ khi các trang mạng xã hội ra đời, nó đã mang đến cho người dùng rất nhiều lợi ích. Không phải ngẫu nhiên mà người dùng, đặc biệt là giới trẻ lại mê tít việc sử dụng facebook, twitter,… Tuy nhiên, đằng sau những lợi ích không thể chối cãi của mạng xã hội thì mặt trái của nó gây ra cũng không hề nhỏ. Trong nhiều trường hợp, còn ảnh hưởng cực kỳ nghiêm trọng.
Một trong số đó chính là việc không thể kiểm soát được hàng triệu thông tin được share đi mà không biết đúng hay sai. Điểm hạn chế khó khắc phục của Facebook đó là chỉ cần một người share thông tin và sau đó lợi dụng tính dây chuyền để lan truyền những tin đồn thất thiệt thì những tin đồn này rất nhanh chóng được cư dân mạng “tin sái cổ” mà không kiểm chứng sự thật.
Gần đây, có rất nhiều sự việc chỉ vì một vài tin đồn “từ trên trời rơi xuống” mà đã kéo theo một xã hội thu nhỏ đua nhau lan truyền, chia sẻ thông tin, khiến ai cũng nghĩ rằng đó là sự thật, để rồi một thời gian sau khi cơ quan ngôn luận chính thống lên tiếng rồi mới chịu vỡ lẽ. Thế nhưng, có vẻ như sự việc như thế này sẽ vẫn chưa chịu dừng lại.
Từ việc share hàng loạt tin đồn không kiểm chứng
Tăng giá xăng là tin đồn thất thiệt
Tháng 6 vừa qua, cư dân mạng được một phen “nháo nhào” khi đua nhau truyền thông tin giá xăng tăng 2900 đồng/lít. Sự việc này bắt nguồn từ một trang web giả mạo đưa ra nguồn thông tin giả về văn bản của Bộ Tài Chính với nội dung “Theo văn bản vừa được Bộ Tài chính ban hành chiều 1/6, kể từ 20h ngày 2/6/2012, giá bán lẻ xăng dầu đồng loạt tăng. Cụ thể, xăng A92 tăng 2.900 đồng lên 25.600 đồng một lít và là nức tăng cao nhất trong số các mặt hàng…”
Tuy nhiên, đáng nói là những người lan truyền thông tin này đều không để ý kỹ mà chỉ đua nhau share, khiến cho rất nhiều người hoang mang. Ngay sau đó, thông tin này đã được xác nhận là không chính xác. Thế nhưng chờ đến khi được xác nhận thì cộng đồng mạng cũng được một phen hoảng hốt rồi. Thiết nghĩ, nếu đây không phải là tin đồn sai lệch về giá xăng, mà là một sự việc nào đó nghiêm trọng hơn, chắc người dùng cũng dễ bị “lừa” chán chê rồi mới phát hiện ra (!?)
Hoang mang tin đồn “Đỉa có trong sữa”
Thời gian gần đây một số trang báo mạng xã hội, diễn đàn và blog cá nhân có đăng thông tin trong sữa bò có đỉa và vi sinh vật lạ. Thông tin này được nhanh chóng truyền đi với tốc độ chóng mặt, gây hoang mang, lo lắng cho hàng triệu người bởi vì sữa là một thực phẩm mà chúng ta sử dụng hàng ngày.
Thậm chí trên một số diễn đàn, nhiều member còn đưa ra “dẫn chứng” như thật, rằng một số gia đình đã… bắt được đỉa trong sữa, hay “Một bệnh nhân nữ ở Tuyên Quang bị đau bụng và được đưa đi bệnh viện, được các bác sĩ ở đây chụp chiếu thì phát hiện có rất nhiều sinh vật lạ và đã tiến hành phẫu thuật. Vị bác sĩ này đã ngất ngay tại chỗ vì khi vạch bụng bệnh nhân ra toàn là đỉa”. Thế nhưng khi phóng viên tới kiểm chứng thông tin thì bệnh viện cho biết không hề tiếp nhận một bệnh nhân nào như thế cả.
Cuối cùng, mới đây, Cục trưởng cục chăn nuôi cùng như nhiều giáo sư, tiến sĩ trong ngành đã khằng định đây chỉ là tin đồn thất thiệt, nhảm nhí. “Đỉa không thể nào sống trong một môi trường ngọt, đậm đặc và được đóng kín như sữa”. Thế nhưng tin đồn này đã khiến cho ngành sữa Việt Nam đang gặp khó khăn lại thêm muôn phần trắc trở, tất cả là vì sự lan truyền quá ghê gớm của mạng xã hội.
Đến những hình ảnh share nhầm ý nghĩa
Bị đánh vì… chụp ảnh không xin phép
Ngày lễ Trung Thu đã qua được gần một tuần nhưng những “dư âm” của nó thì dường như vẫn còn đọng lại. Không chỉ vì những ý nghĩa tuyệt vời của nó mà còn vì trong những ngày này có quá nhiều cơn “dư chấn”. Một trong số đó là bức ảnh một cô gái bị đánh ở một con phố được cho là Hãng Mã (Hà Nội), kèm với bức ảnh là dòng caption “giải thích”: “Kết quả của việc chụp hình lưu niệm trung thu khi chưa xin phép chủ cửa hàng”.

[IMG]

Bức hình này được cư dân mạng share liên tục kèm theo nhiều lời cảnh báo khiến dân tình lên phố không dám chụp ảnh, đi chơi mà cũng nơm nớp lo sợ gặp phải tình huống như trên. Thế nhưng sau khi lên sóng được ít ngày, dân tình mới chịu vỡ lẽ ra sự thật rằng đây là vụ xô xát giữa các chủ cửa hàng lưu niệm chứ không hề liên quan đến việc chụp hình. Vậy mà hàng ngàn lượt share với ý nghĩa sai lệch đã gây ảnh hưởng không hề nhỏ đến tâm lý nhiều người.
Và cả những “chuyện cũ viết lại”
Không hiếm những câu chuyện, những bức ảnh mặc dù đã ra đời và dậy sóng cách đây từ rất lâu, thế nhưng vài ba năm sau đó, người ta lại đưa nó ra, truyền tay nhau share kinh hoàng giống như là mới xảy ra, khiến hàng nhiều bức xúc, phẫn nộ.
Đầu tháng 8 năm 2012, bức ảnh về một một nam thanh niên quỳ giữa hai tượng cụ rùa ở Văn Miếu Quốc Tử Giám (Hà Nội), trên lưng cõng tấm biển “Xin đừng sờ đầu rùa” bất ngờ xuất hiện trên mạng xã hội. Chỉ sau khoảng một giờ xuất hiện trên Facebook đã thu hút gần 2.000 lượt chia sẻ, cùng với lượt like chóng mặt là rất nhiều những chia sẻ bày tỏ sự đồng tình.

[IMG]
[IMG]

Vì trước đó có một số hành động không đẹp tại Văn Miếu nên mọi người đều cho rằng bức ảnh mới được chụp giống như một lời cảnh tỉnh những hành động bột phát, bất kính. Thậm chí cư dân mạng còn rất tò mò về nhân vật này.
Thế nhưng, sự thật là bức ảnh này đã được chụp cách đây 2 năm vào ngày 8/7/2010. Người đàn ông này là họa sĩ Phạm Huy Thông, sinh năm 1981 và đây là một màn nghệ thuật trình diễn (performance) của họa sĩ Phạm Huy Thông diễn ra cũng trùng với kì thi Đại học, Cao Đẳng năm 2010.
Không dừng lại ở đó, ngày 16/8, lại thêm một bức ảnh gây bức xúc và phẫn nộ nữa. Bức ảnh một đứa trẻ trần truồng nằm vật vã trên tấm bìa giấy sũng nước, thỉnh thoảng còn bị một đứa trẻ lớn hơn bắt nằm bẹp xuống, đánh đến khóc thét, lấy lòng thương từ người qua đường.
Bức ảnh này đã gây được hiệu ứng khủng khiếp từ cư dân mạng khi có hàng ngàn thành viên lên tiếng về hành động bạo lực này. Nhưng có một vấn đề là vụ việc này từng được đưa lên báo chí từ năm 2009 và trên facebook “Góc Yêu Thương” chứ không phải mới đây.

[IMG]
[IMG]

Những bức ảnh thế này tuy không phải là ảnh giả, cũng không phải là thông tin giả, thế nhưng việc trích dẫn thiếu thông tin, rồi đưa lại những sự việc xảy ra từ rất lâu và nói là vừa xảy ra đôi khi sẽ khiến dư luận hoang mang. Một cư dân mạng bình luận: “Những sự việc này hiện giờ đã không còn nữa rồi, sao vẫn đưa lại thế này?”.
Phải chăng độc giả đang bị động trước thông tin?
Một câu hỏi đặt ra, đó là phải chăng độc giả, cũng như các thành viên trong mạng xã hội luôn là những người bị động khi nhận thông tin? Bất cứ một thông tin nào khi đưa lên diễn đàn, facebook, chỉ cần đánh trúng tâm lý người dùng là sẽ được lan truyền như siêu virus, mặc cho nó đúng hay sai, thừa hay thiếu, mới xảy ra hay đã lâu,… Nguyên nhân của sự việc này đó là ở chỗ, người dùng chúng ta quá chủ quan, nhẹ dạ khi tiếp nhận thông tin. Bất kỳ một thứ gì khi được share và nhận được sự ủng hộ của quá nhiều người, chúng ta thường tin rằng đó là đúng mà không cần kiểm tra lại hay không mảy may nghi ngờ.
Chính tính chất thông tin được lan truyền theo xu hướng dây chuyền vô tội vạ như thế này mà nhiều khi lòng tin của mỗi người đôi khi lại bị lợi dụng. Không hề ít những trường hợp sử dụng nhiều bức ảnh đáng thương, lợi dụng sự cảm thông của cư dân mạng để tư lợi hay đạt mục đích tuyên truyền một vấn đề nào đó mà cần đến sự ủng hộ, cổ vũ của đám đông. Phải chăng, đôi khi bởi vì thông tin của mình là sai, nên mới mất tự tin, mới cần sức mạnh từ quân số đến thế (?!)
Chính vì vậy, ngay từ lúc này, mỗi người dùng hãy thận trọng trước những thông tin được share và lan truyền trên facebook hay bất kỳ trang mạng xã hội nào khác. Đành rằng trên facebook cũng có rất nhiều thông tin tốt, hữu ích, tuy nhiên thông tin thất thiệt, gây nhiễu dư luận, lợi dụng hiệu ứng đám đông, thậm chí làm sai lệch vấn đề cũng vô cùng nhiều. Do đó, khi tiếp cận thông tin, hãy tỉnh táo thận trọng trước khi ủng hộ hay phản bác. Mặt khác, cũng nên tìm đọc thông tin từ những cơ quan chính thống để tránh bị nhiễu thông tin.
Dĩ nhiên, trong xã hội này, chúng ta không thể tránh được những rủi ro thông tin, thế nhưng khi tiếp nhận bất kỳ một thông tin nào đó, hãy suy xét, tìm hiểu kỹ, nhìn nó dưới nhiều góc độ, phương diện, không nên chỉ nghe một phía rồi lại lan truyền rộng rãi, sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến nhiều người khác, rộng hơn nữa là xã hội, bạn nhé!
Theo TTVN

Tổng hợp các thủ thuật lập trình SQL server

1. Sử dụng hàm Isnull

Giá trị là null trong SQL đôi khi khiến kết quả tính toán của ta không thể thực hiện được. Để đảm bảo giá trị truy vấn hoặc truyền vào biến luôn có giá trị (Không phải null) bạn sử dụng hàm isnull như ví dụ:

DECLARE @count int
SELECT @count=isnull(Count(*),0) FROM TB_News tn WHERE tn.idNews=10

Ở ví dụ này nếu bảng TB_News của bạn không có idNews=10 thì sẽ trả về null nhưng nếu bạn sử dụng isnull thì biến @count của bạn sẽ là 0. Nếu không sử dụng isnull bạn thường phải làm như sau:

	
DECLARE @count int
ELECT @count =Count(*) FROM TB_News tn WHERE tn.idNews=10
IF @count IS NULL SET @count =0

Bạn có thể so sánh 2 cách và lựa chọn

 

2. Cập nhật số lần xem bài viết

Khi người dùng truy cập website của bạn và chọn một bài viết để đọc bạn muốn theo dõi số lượt bài viết đó được xem bao nhiêu lần thì trong bảng TB_News (lưu các bài viết của bạn) cần có thêm trường NumRead (int), Khi bài viết được xem bạn cần viết thủ tục như sau để vừa truy vấn vừa cập nhật số lần xem

CREATE PROCEDURE sTB_News_SelectByID
@idNews int
AS
BEGIN
	--Cập nhật số lần xem trước khi hiển thị
	DECLARE @numread int
	SELECT @numread=isnull(tn.NumRead,0) FROM TB_News tn WHERE tn.idNews=@idNews
	UPDATE TB_News SET NumRead = @numread+1 WHERE idNews=@idNews
	-- Truy vấn hiển thị
	SELECT tn.idNews, tn.CateID, tn.LanguageCode, tn.UserName, tn.Title,
	       tn.Description, tn.Content, tn.Keyword, tn.Author, tn.CreateDate,tn.NumRead,
	       tn.Status
	  FROM TB_News tn WHERE tn.idNews=@idNews
END

Chú ý là các trường và tên bảng trong CSDL của bạn sẽ khác, Và ở ví dụ này mình sẽ cập nhật số lần xem trước khi truy vấn dữ liệu

3. Hàm Trim trong SQL

Trong SQL không có hàm trim nhưng lại có các hàm RTRIM và LTRIM vậy ta có thể kết hợp hai hàm này để có hàm Trim

Create Function fTrim
(
	@str nvarchar(500)
)
Returns nvarchar(500)
As
BEGIN
	Return RTRIM(LTRIM(@str))
End

Nhờ có các mã nguồn mở (hay còn gọi là Open source) này mà việc sở hữu 1 trang web đẹp và hoàn chỉnh ngày nay là vô cùng dễ dàng, nó không còn khó khăn và phức tạp như ngày xưa để có thể tự mình xây dựng 1 trang web.

Thế nhưng vẫn luôn có những câu hỏi xoay quanh giữa việc nên dùng mã nguồn nào để làm web: cái nào dễ làm web hơn? cái nào nhẹ nhàng hơn? Cái nào SEO tốt hơn?….

Tùy vào mục đích mà lựa chọn 1 mã nguồn phù hợp, còn với mình thì WordPress vẫn là mã nguồn yêu thích nhất, và thực tế là nó cũng là mã nguồn web/blog thông dụng nhất hiện nay :D (Trang chủ Việt Designer hiện cũng đang sử dụng nền tảng WordPress)

Cùng tham khảo qua Infographic này để có cái nhìn khách quan hơn nhé!
[IMG]

Xem thêm tại đây: http://forum.vietdesigner.net/threads/infographic-so-sanh-giua-cac-ma-nguon-wordpress-drupal-joomla.5272/#ixzz2BkMo0CJV

Từ hải ngoại nghĩ về các “nhà dân chủ”

Nhiều năm trở lại đây, một số tổ chức và cá nhân ở nước ngoài, nấp dưới chiêu bài “dân chủ, nhân quyền”, thường đưa ra nhận xét, đánh giá xuyên tạc vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam; đáng tiếc là việc làm của các tổ chức, cá nhân này lại được một số nhân vật tự nhận là “nhà dân chủ” ở trong nước phụ họa theo. Bức xúc trước vấn đề này, từ Hoa Kỳ, tác giả Trần Mai gửi tới Báo Nhân Dân bài Từ hải ngoại nghĩ về các “nhà dân chủ”. Xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Tôi muốn bàn về vấn đề dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam khi một số tổ chức phản động cực đoan của người Việt ở nước ngoài và một số phần tử cơ hội ở trong nước được sự “bảo kê” của một số cơ quan truyền thông, một số tổ chức nhân danh “dân chủ, nhân quyền” hỗ trợ tài chính qua các loại “giải thưởng”; từ đó xuyên tạc, bóp méo sự thật, rồi tung hô nhau là “nhà dân chủ” nhằm dễ bề lôi kéo dư luận khi bị pháp luật Việt Nam trừng phạt. Trước đây, tôi từng tranh luận với một người bạn là nhà báo tại Hoa Kỳ về đề tài dân chủ và nhân quyền ở Việt Nam. Khi đó, người bạn tôi đang bị cái vòng “kim cô” chống cộng cực đoan (CCCÐ) siết chặt, dù các luận điểm anh đưa ra đều bị bẻ gãy, nhưng anh vẫn “không phục”. Tôi nói với anh: “Theo tôi, khi viết bằng tất cả niềm tin vào sự thật thì chắc chắn không ai buộc  tội mình được. Không chỉ nhà báo mới có cơ hội tiếp cận sự thật, nhà báo cũng không hẳn phải là người duy nhất vạch ra chân lý. Nhưng lương tâm của người cầm bút là biết hướng dư luận đi tới chân lý, sự thật”. Anh bạn tôi lắng nghe, không nói gì.

Tuy sinh sống ở nước ngoài, nhưng là người con của dân tộc Việt Nam nên tôi biết, trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta, đôi khi có cá nhân, tổ chức đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc, thậm chí có người cam tâm phản bội. Gần đây, có người vì bất mãn, hoặc mờ mắt khi được các thế lực thù địch tâng bốc, hứa hẹn, đã bị các tổ chức xấu ở hải ngoại lợi dụng để chống lại Nhà nước Việt Nam, v.v. Tiếc thay, trong đó lại có một vài người được coi là trí thức. Từ việc họ làm, từ lời lẽ họ đưa ra, tôi thấy dường như họ đã trút bỏ những thứ mà gần như cả cuộc đời họ theo đuổi, rồi sám hối về một số việc họ cho là “lỗi lầm”. Trong đó có người như là con kỳ nhông, sẵn sàng đổi màu để trở thành “nhà dân chủ”, để được các thế lực thù địch ngợi ca, đưa ảnh lên in-tơ-nét như là “anh hùng”, được nhắc tới tên trong thông báo hay lời kêu gọi của các tổ chức chưa bao giờ có thiện chí với Việt Nam. Theo dõi trên các phương tiện truyền thông ở hải ngoại, những người Việt luôn hướng về Tổ quốc như chúng tôi đã thấy họ chỉ là những con người cơ hội. Ðối với họ, quá khứ đau thương của dân tộc đã không còn ý nghĩa, mà tương lai cuộc “đấu tranh” của họ thì lại mơ hồ và ảo vọng; nếu thời thế đổi thay, có khi họ lại biến hình thành người khác!

Trước tiên, xin điểm qua mấy “nhà dân chủ, nhân quyền” ở hải ngoại, đó là người mà dân thường như chúng tôi vẫn gọi là các ông bà “mặt trơ trán bóng”. Họ là người có bề dày “thành tích bất hảo”, thành thạo trong việc vu khống, chống phá Nhà nước Việt Nam, trong đó có người mấy chục năm nay chỉ làm cái việc xấu xa là lập ra các “tổ chức ma” để lừa bịp và quyên góp tiền bạc của người Việt không có điều kiện tìm hiểu hiện tình đất nước. Có thể kể ra Nguyễn Ngọc Bích, Võ Văn Ái, Nguyễn Tường Bách, rồi Ðoàn Viết Hoạt, Nguyễn Minh Cần, Nguyễn Hữu Lễ, Phạm Ngọc Lũy, Nguyễn Quốc Quân,… Những người này đã hợp bè kết đảng với nhau, tự xưng là “mạng lưới nhân quyền Việt Nam”. Họ tiến hành vô số hoạt động CCCÐ, hằng năm trao “giải thưởng nhân quyền” cho các phần tử chống đối ở quốc nội. Các giải này được trao theo kiểu “anh trước em sau”, người nào rồi cũng có. Người nhận giải là  các nhân vật có hành vi vi phạm pháp luật đã bị Tòa án Nhân dân tuyên án, như Trần Anh Kim, Ðỗ Nam Hải, Nguyễn Chính Kết, Nguyễn Văn Ðài, Lê Thị Công Nhân, Phạm Hồng Sơn, Nguyễn Vũ Bình, Nguyễn Khắc Toàn, Nguyễn Văn Lý, Thích Quảng Ðộ, Nguyễn Ðan Quế, Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần,… Không phải bà con ở hải ngoại không biết họ là ai, chúng tôi biết họ chỉ là mấy “nhà dân chủ cuội” và đã có rất nhiều ý kiến vạch rõ bản chất của họ, cùng những lời phê phán họ trên các phương tiện truyền thông ở hải ngoại.

Theo chỗ tôi được biết, hiện nay trên thế giới có hai cách tiếp cận quyền con người: thứ nhất, nhân quyền là quyền tự nhiên, không phụ thuộc vào phong tục, tập quán, truyền thống văn hóa, ý chí của bất cứ cá nhân, giai cấp, tầng lớp, tổ chức, cộng đồng hay nhà nước nào và không một chủ thể nào, kể cả nhà nước, có thể ban phát hay tước bỏ các quyền con người; thứ hai, quyền con người không phải là bẩm sinh và vốn có, mà phải do nhà nước quy định trong pháp luật; và đây là quan điểm đã được phần lớn các quốc gia trên thế giới vận dụng trong khi thực thi quyền con người. Ðiều này là đúng đắn, cần thiết, bởi đối với các chế độ chính trị – xã hội đề cao quyền con người, ngoài yêu cầu về tính văn hóa, mà trước hết và trực tiếp là các chuẩn mực đạo đức, việc mỗi người thực thi quyền của mình như thế nào để không làm ảnh hưởng tới quyền của người khác, việc giữ gìn trật tự, an toàn xã hội, việc hạn chế các cơ quan hành pháp, cá nhân có trách nhiệm có thể vi phạm quyền con người,… phải được đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của pháp luật. Về vấn đề này, ngài Sérgio Vieira De Mello, nguyên Cao ủy nhân quyền Liên hợp quốc, người đã tử nạn khi đang làm việc tại Iraq năm 2003, từng phát biểu: “Văn hóa nhân quyền có được sức mạnh lớn nhất từ những mong muốn và hiểu biết của mỗi cá nhân. Trách nhiệm bảo vệ nhân quyền thuộc về các nhà nước. Nhưng chính những hiểu biết, tôn trọng, mong muốn về nhân quyền của mỗi cá nhân là điều mang lại kết cấu và sức bật hằng ngày cho nhân quyền”.

Thực tiễn lịch sử phát triển của nhân loại cho thấy, nhân quyền luôn là vấn đề được các chế độ chính trị – xã hội quan tâm, song không phải chế độ chính trị – xã hội nào cũng thật sự quan tâm bảo đảm về nhân quyền. Các “nhà dân chủ” trong nước thử nhìn sang những nước khác, bên một số ít quốc gia ở Bắc Âu có sự quan tâm nhất định, thì tại nhiều nước khác, việc vi phạm nhân quyền, chà đạp lên quyền con người,… vẫn khá phổ biến. Ngay tại Mỹ, nơi chúng tôi đang sống, nhân quyền nhiều khi cũng chỉ là câu khẩu hiệu, bởi tình trạng phân biệt chủng tộc, tình trạng bạo lực trong trường học, việc xả súng bừa bãi,… vẫn tồn tại trong thời gian dài. Chẳng hạn theo số liệu của FBI, mỗi năm ở Mỹ có tới 30 nghìn người bị chết do các vụ bạo lực liên quan đến súng. Các “nhà dân chủ” ở quốc nội nên hiểu rằng, quốc gia có mô hình xã hội mà họ muốn mô phỏng và xây dựng ở Việt Nam, lúc nào cũng sử dụng trò chơi hai mặt, họ chỉ bảo vệ quyền lợi của họ mà thôi. Hình như các “nhà dân chủ” ở quốc nội không thật sự hiểu được những lời ban tặng từ hải ngoại, để rồi biến mình thành con rối đáng thương. Vâng, nếu đất nước không có dân chủ và nhân quyền, người gốc Việt từ khắp năm châu đã không trở về nước làm ăn, sinh sống. Bản thân tôi cũng vậy, vì công việc và gia đình nên tôi không thể như người khác, nhưng hằng năm tôi vẫn trở về, và được tận mắt chứng kiến bao sự đổi thay trên quê hương, đất nước. Ðể nhìn rõ tính khách quan của vấn đề, tôi dẫn lại kết quả nghiên cứu của Viện Phát triển quốc tế Harvard thuộc Ðại học Harvard (Hoa Kỳ) sau khi khảo sát Việt Nam, nhà nghiên cứu Dam Fforde đánh giá: “Việt Nam có được những lợi thế chính trị quan trọng. Lên nắm quyền qua chiến tranh và cách mạng chứ không phải do lực lượng bên ngoài áp đặt, năm 1975, Ðảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu một hệ thống chính trị nhất thể với một quyền lực và tính hợp pháp không bị ai thách thức. Sau ba thập kỷ đấu tranh, Ðảng đã loại mọi đối thủ và khôi phục Việt Nam thành một nước độc lập và thống nhất. Ban lãnh đạo của Ðảng nằm trong số ổn định và thật sự nhất trí trong thế giới cộng sản, đảng viên của Ðảng bao gồm một phần lớn những người tận tụy và yêu nước nhất ở Việt Nam. Hơn nữa, đó là một đảng mà sự tồn vong và thắng lợi cuối cùng đã dựa vào việc huy động sự ủng hộ của quần chúng”.

Ðương nhiên, chúng tôi cũng hiểu rõ những thách thức mà Ðảng Cộng sản Việt Nam có thể gặp phải trong vai trò là đảng cầm quyền. Một vấn đề khách quan luôn có thể đặt ra với bất kỳ đảng cầm quyền nào, là khả năng bị tha hóa bởi lạm quyền và quan liêu hóa. Ở hải ngoại, theo dõi Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), gần đây là Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XI), chúng tôi thấy Ðảng Cộng sản Việt Nam đã tiếp tục chứng tỏ sự nghiêm túc khi nhìn thẳng vào sự thật, không che giấu khuyết điểm và hạn chế, từ đó đề ra các giải pháp cấp bách và cơ bản để khắc phục, đưa đất nước đi lên. Từ đầu năm đến nay, chúng tôi thấy rất rõ sự quan tâm, ủng hộ của các tầng lớp nhân dân trong và ngoài nước khi Ðảng Cộng sản Việt Nam quyết tâm tiến hành các giải pháp cấp bách, cơ bản để xây dựng, chỉnh đốn Ðảng. Nhiều hành động công khai và minh bạch đã được tiến hành, thể hiện quyết tâm lớn trong  chống tiêu cực,  tham nhũng, hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính, và từng bước hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN. Ðó là thông điệp rõ ràng, báo hiệu sự chuyển mình mạnh mẽ vì quyền lực và lợi ích của nhân dân, vì một nền dân chủ rộng rãi cho mọi người. Chúng tôi hiểu, việc một số tổ chức, cá nhân đặt vấn đề Việt Nam vi phạm quyền con người và đàn áp người bất đồng chính kiến, cần thực hiện “tam quyền phân lập”,… thực chất là vu khống, xuyên tạc, thiếu thiện chí, không phản ánh đúng đắn tình hình trong nước thời gian qua. Trước sự thật không thể bác bỏ ấy, chúng tôi nghĩ, nếu các “nhà dân chủ” ở trong nước thực tâm mong muốn xây dựng một nước Việt Nam phồn vinh, độc lập dân tộc và chủ quyền đất nước được giữ vững, mọi người đều được tạo điều kiện để phát triển,… thì nên làm những việc ích nước, lợi dân. Hãy cống hiến và cùng toàn dân xây dựng Tổ quốc Việt Nam hùng cường. Hãy là người Việt Nam chân chính để chúng tôi có thể học hỏi và noi theo.

TRẦN MAI (Hoa Kỳ)

Từ khi sinh ra, Lý Thái Tông sau gáy có đến 7 nốt ruồi tụ lại như chòm sao Bắc Đẩu, được xem là điềm báo xứng đáng nối ngôi thiên tử.

Lý Thái Tông tên húy Phật Mã, sinh năm Canh Tý (1000) ở chùa Duyên Ninh thuộc cố đô Hoa Lư. Ông là con trai trưởng của Vua Lý Thái Tổ và bà Lê Thị Phất Ngân, con gái Vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) và Dương Vân Nga.

Tượng Lý Thái Tông tại đền Lý Bát Đế.

Tương truyền, ngay từ khi lọt lòng, Lý Phật Mã đã có những dấu hiệu lạ lùng. Lúc bé, chơi đùa với bọn trẻ trong cung, ông thường bắt chúng dàn hàng tả hữu trước sau để làm quân hầu hộ vệ cho mình. Ông cho một vị đạo sĩ cái áo. Đạo sĩ treo cái áo trong quán, nửa đêm thấy rồng vàng hiện ra, khiến người ta duy tâm đây là lời “sấm truyền” cho một đế vương.

Lý Thái Tổ (Lý Công Uẩn) rất chú ý tới Phật Mã và có ý nuôi dạy ông kế vị. Năm Nhâm Tý (1012), lúc mới 13 tuổi, Lý Phật Mã đã được lập làm Đông cung Thái tử, rồi được phong làm Khai Thiện Vương, đồng thời nhiều lần được cử làm tướng cầm quân đi dẹp loạn và lập được công lớn. Vì thế, triều thần cũng như thần dân lúc bấy giờ rất tôn kính Phật Mã. Năm 1028, vua cha mất, Lý Phật Mã lên ngôi.

Sách Đại Việt Sử Ký Toàn Thư nhận xét về Lý Thái Tông: “Vua là người trầm mặc, cơ trí, biết trước mọi việc, giống như Hán Quang Vũ đánh đâu được đấy, công tích sánh với Đường Thái Tông”. Ông là vị vua giỏi thời nhà Lý. Hơn 30 năm chinh chiến và trị quốc, ông đã củng cố nền cai trị của nhà Lý, chống lại những nguy cơ chia cắt, bạo loạn, xâm lấn, thu phục lòng dân, khiến cho nước Đại Cồ Việt trở nên vững mạnh.

Trần Nhân Tông: Có màu da như vàng ròng

Trần Nhân Tông tên thật là Trần Khâm, sinh ngày 11/11 năm Mậu Ngọ (1258), là con trưởng của Vua Trần Thánh Tông và Nguyên Thánh Hoàng thái hậu. Khi mới sinh toàn thân màu da như vàng ròng – sáng chói. Vua cha đặt tên là Phật Kim. Sách Thánh Đăng ngữ lục chép: “Đến khi vua ra đời, màu da như vàng ròng. Thánh Tông đặt tên là Kim Phật…”.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi: “Được tinh anh của Thánh nhân, đạo mạo thuần túy, nhan sắc như vàng ròng, thể chất hoàn toàn, thần khí tươi sáng… Vai bên tả có một nốt ruồi đen, các nhà tướng số cho rằng: ngày sau sẽ gánh vác việc lớn”.

Ảnh thờ Vua Trần Nhân Tông.

Trần Khâm được vua cha Trần Thánh Tông nhường ngôi vào ngày 22/10 năm Mậu Dần (1278). Ông ở ngôi 14 năm, nhường ngôi 5 năm, xuất gia 8 năm, thọ 51 tuổi, qua đời ở am Ngọa Vân núi Yên Tử, đưa về táng ở Đức lăng (nay thuộc tỉnh Thái Bình). Các sử gia thời Hậu Lê đã viết về Trần Nhân Tông: “Vua nhân từ hòa nhã, cố kết lòng dân, sự nghiệp trùng hưng sáng ngời thuở trước, thực là bậc vua hiền của nhà Trần. Song để tâm nơi kinh Phật, tuy nói là để siêu thoát, nhưng đó không phải là đạo trung dung của thánh nhân”.

Lê Thái Tổ: Miệng rộng, mũi cao và bả vai có 7 nốt ruồi

Về lý lịch xuất thân của Lê Thái Tổ (Lê Lợi), sách Đại Việt thông sử chép: “Vua sinh giờ Tí (tức từ khoảng 23h đến 1h sáng) ngày mùng 6 tháng 8 năm Ất Sửu (1385), niên hiệu Xương Phù thứ 9 nhà Trần, tại làng Chủ Sơn, huyện Lôi Dương. Nguyên trước, xứ Du Sơn, thôn Như Áng Hậu thuộc làng này (Chủ Sơn), có một cây quế, dưới cây quế này có con hùm xám thường xuất hiện, nhưng nó hiền lành, vẫn thường thân cận với người mà chưa từng hại ai.

Từ khi Vua ra đời thì không thấy con hùm ấy đâu nữa. Người ta cho là một sự lạ. Ngày Vua ra đời thì trong nhà có hào quang đô chiếu sáng rực và mùi thơm ngào ngạt khắp làng. Khi lớn lên thì thông minh dũng lược, độ lượng hơn người, vẻ người tươi đẹp hùng vĩ, mắt sáng, miệng rộng, sống mũi cao, xương mi mắt gồ lên, bả vai bên trái có 7 nốt ruồi, bước đi như rồng như hổ, tiếng nói vang vang như tiếng chuông. Các bậc thức giả biết ngay là một người phi thường”.

Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ở Đông Kinh, mở đầu triều Lê sơ, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam.

Lê Lợi sinh ra trong một gia đình “đời đời làm quân trưởng một phương”. Năm ông 21 tuổi cũng là năm nhà Minh đem 80 vạn quân sang xâm lược nước Việt. Cuộc kháng chiến chống Minh của vương triều Hồ thất bại, nước Đại Việt rơi vào ách thống trị tàn bạo của giặc Minh. Trước cảnh đất nước bị kẻ thù giày xéo, tàn phá, Lê Lợi đã nung nấu một quyết tâm đánh đuổi chúng ra khỏi bờ cõi.

Đầu năm 1416, tại núi rừng Lam Sơn trên đất Thanh Hóa, Lê Lợi cùng với 18 người bạn thân thiết, đồng tâm cứu nước đã làm lễ thề đánh giặc giữ yên quê hương. Đó là hội Thề Lũng Nhai đã đi vào sử sách. Rồi sau một thời gian chuẩn bị chín muồi, đầu năm 1418, Lê Lợi xưng là Bình Định Vương, truyền hịch đi khắp nơi, kêu gọi nhân dân đứng lên đánh giặc cứu nước. Lê Lợi là linh hồn, là lãnh tụ tối cao của cuộc khởi nghĩa ấy.

Năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế ở Đông Kinh, mở đầu triều Lê sơ, triều đại lâu dài nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam. Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Mặc dù ở ngôi ngắn ngủi được có 6 năm nhưng những việc làm của ông vua này có ý nghĩa đặt nền móng vững chắc cho cả một triều đại và nên độc lập phồn vinh của quốc gia Đại Việt. Việc làm đầu tiên của Lê Thái Tổ là bàn định luật lệnh. Và nhờ cố gắng đó, hai năm sau (1430), Lê Thái Tổ đă cho ban hành những điều luật đầu tiên của triều đại mình”.

Quang Trung: Mắt lập lòe như ánh điện

Nguyễn Huệ (1753 – 1792), còn được biết đến là Vua Quang Trung hay Bắc Bình Vương, là vị hoàng đế thứ hai của nhà Tây Sơn (ở ngôi từ 1788 tới 1792). Ông là một trong những lãnh đạo chính trị tài giỏi với nhiều cải cách xây dựng đất nước, quân sự xuất sắc trong lịch sử Việt Nam với những trận đánh nội chiến và chống ngoại xâm chưa thất bại lần nào.

Quang Trung – Nguyễn Huệ cũng được xem là người anh hùng áo vải của dân tộc Việt Nam.

So với các hoàng đế khác trong lịch sử Việt Nam, có lẽ Quang Trung – Nguyễn Huệ được các sử thần lưu lại những miêu tả chi tiết hơn về vóc dáng, thậm chí miêu tả cả đến làn da, mái tóc và đặc biệt là đôi mắt: “Quang Trung là người cao lớn, tóc quăn, da sần, tiếng nói sang sảng như chuông. Kỳ lạ nhất là cặp mắt sáng như chớp, có thể nhìn rõ mọi vật trong đêm tối, nó khiến nhiều người khi thấy đều run sợ, hãi hùng…“không một người nào dám nhìn thẳng vào mắt ông” (Hoàng Lê nhất thống chí). “Đôi mắt lập lòe như ánh điện” (Đại Nam chính biên liệt truyện), “con mắt nhỏ nhưng cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn, ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu” (Tây Sơn thuật lược)…

Sách Những khám phá về Hoàng đế Quang Trung cũng trích dẫn tướng mạo của Hoàng đế Quang Trung theo mô tả của một quan viết sử dưới thời Nguyễn: “Huệ tóc quăn, mặt đầy mụn, có con mắt nhỏ, nhưng cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi không có đèn, ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu, lúc lâm trận thì thế thắng uy nghi, anh hùng lẫm liệt, cho nên mới bình định được phương Nam, dẹp phương Bắc, tiến đến đâu thì không ai hơn được… Óc thông minh đó sẽ làm nên sự nghiệp lớn, tiếng nói sang sảng như chuông sẽ là lệnh truyền hiệu nghiệm đầy sức thuyết phục. Với đôi mắt như ánh điện, thay được đèn soi sáng cả chiếu vào lúc ban đêm, có thể xuyên thấu mọi tâm can sâu thẳm của mỗi con người, của đối phương nên đã làm người người đều kinh sợ. Cái nhãn quang đó cùng bộ óc thông minh của ông đã làm nên sự nghiệp phi thường như lịch sử đã ghi lại”.

Ngoài ra, trong một phác họa chân dung vua Quang Trung in trên một tờ tiền giấy, hậu thế có thể thấy đôi mắt của vua là một đôi mắt đẹp đặc trưng kiểu người Việt Nam, nghĩa là đôi mắt to, hai mí lớn, nhãn cầu hơi lồi và ánh nhìn ngay thẳng, chính trực. Có lẽ do quá ấn tượng về nhân cách, tài trí vô song của vị vua áo vải này mà các sử gia đã phần nào “thần thánh hóa” đôi mắt của vua, nhằm cho đời sau cảm nhận được uy lực lạ lùng của đôi mắt ấy. Việc miêu tả chi tiết đôi mắt, làn da cũng như mái tóc của vua Quang Trung càng cho thấy sự gần gũi của vị vua có xuất thân dân dã này.

 

Theo Đất Việt [tiêu đề gốc: 

Tướng mạo dị thường của các ông vua Việt]