Tag Archive: càn


Sỹ quan bảo vệ tiếp cận và những điều ít biết

Họ là những sỹ quan thuộc lực lượng đặc biệt Bộ Tư lệnh Cảnh vệ (Bộ Công an) chuyên đảm trách nhiệm vụ bảo vệ các nguyên thủ, chính khách quốc tế đến thăm Việt Nam. Xuất hiện bên cạnh yếu nhân trong những bộ veston lịch lãm, ngoài việc bảo vệ tuyệt đối an toàn cho khách, những sỹ quan bảo vệ tiếp cận còn  mang đến cho các vị khách cảm nhận về một Việt Nam hoà bình, thân thiện và hiếu khách.

Ở các nước trên thế giới họ có những đội vệ sỹ hay cận vệ được tuyển chọn, đào tạo, huấn luyện cực kỳ bài bản, công phu, đồng thời được trang bị những thiết bị, vũ khí hiện đại bậc nhất. Mục đích cuối cùng là đảm bảo tuyệt đối an toàn cho các yếu nhân. Do tính chất công việc đặc biệt quan trọng nên những sỹ quan Cảnh vệ Việt Nam cũng không nằm ngoài những yêu cầu và đòi hỏi đó.

Thượng tá Vũ Minh Thản tâm sự: Đối với những sỹ quan bảo vệ tiếp cận, công tác huấn luyện, trau dồi nghiệp vụ luôn đòi hỏi rất cao. Ngoài những bài huấn luyện võ thuật, bắn súng theo định kỳ, những sỹ quan bảo vệ tiếp cận cũng phải đáp ứng một số yêu cầu cơ bản khác về bơi lội, điền kinh và khả năng ứng xử, giao tiếp.

Thủ tướng Australia Howard đi quanh hồ Hoàn Kiếm năm 2006 – đi sát bên cạnh là sỹ quan bảo vệ tiếp cận Việt Nam Trung tá Nguyễn Quang Khai.

Còn nhớ hồi APEC 2006 những người dân tập thể dục ven hồ Hoàn Kiếm đã khá bất ngờ khi thấy Thủ tướng Úc Jonh Howard quần short chạy bộ quanh hồ Hoàn Kiếm vào sáng sớm. Thường xuyên xuất hiện trên truyền hình, nên vị nguyên thủ nổi tiếng thế giới này nhanh chóng được nhiều người dân Hà Nội nhận ra. Chạy sát bên cạnh vị Thủ tướng Australia, người ta nhìn thấy một thanh niên Việt Nam cũng quần short, áo phông. Nhìn bề ngoài ít ai biết được đó là Trung tá Nguyễn Quang Khai – sỹ quan bảo vệ tiếp cận thuộc lực lượng Cảnh vệ Việt Nam, người được giao nhiệm vụ bảo vệ Thủ tướng Australia. Đó là tình huống bảo vệ nằm ngoài dự kiến ban đầu nhưng cuối cùng tất cả đã diễn ra cực kỳ suôn sẻ…

Bảo vệ tiếp cận là theo sát như hình với bóng bên cạnh chính khách, nguyên thủ ở cự ly gần nhất cho phép. Do tính chất công việc nên ngoài công việc bảo vệ, nhiều lúc những sỹ quan này còn phải là những “hướng dẫn viên du lịch” khi khách đặt câu hỏi. Những sỹ quan bảo vệ tiếp cận kể với chúng tôi rằng chuyện các anh bơi dưới chân hòn Ti Tốp ở Vịnh Hạ Long hay các bãi biển ở miền Trung vài giờ đồng hồ là chuyện thường gặp trong những chuyến bảo vệ yếu nhân khi những vị khách này bất ngờ thay đổi lịch trình và… tắm biển.

Bảo vệ Quốc vương Campuchia sang thăm Việt Nam

Niềm vinh quang lặng lẽ

Đối với những sỹ quan bảo vệ tiếp cận, được giao nhiệm vụ bảo vệ một nguyên thủ, chính khách vừa là nhiệm vụ nặng nề nhưng đồng thời cũng là vinh dự lớn. Trung tá Phạm Văn Thắng, người đã có 25 năm trong lực lượng Cảnh vệ và có hàng chục lượt bảo vệ các nguyên thủ, chính khách quan trọng chia sẻ: Để đảm bảo việc bảo vệ an toàn cho khách, người sỹ quan bảo vệ tiếp cận còn phải tìm hiểu nét đặc trưng văn hoá của nước bạn, cả những đặc điểm, thói quen cá nhân được bảo vệ để từ đó có những cách ứng xử phù hợp trong công tác tiếp cận. Ở Phòng 7 – Bộ Tư lệnh Cảnh vệ có một nữ sỹ quan còn khá trẻ đó là Trung úy Lê Thị Hiền.

Tốt nghiệp Học viện An ninh khoa Ngoại ngữ tin học năm 2006, Hiền xin về công tác tại Phòng 7 – Bộ Tư lệnh Cảnh vệ. Cho đến nay cô đã tham gia bảo vệ tiếp cận hàng chục nữ nguyên thủ, chính khách và các phu nhân như: Tổng thống Ấn Độ, Tổng thống Philippines, phu nhân Thủ tướng Thái Lan, phu nhân Tổng thống Hàn Quốc…

Hiền kể không ít lần những nữ chính khách, phu nhân đề nghị hạn chế bớt lực lượng bảo vệ để được thoải mái hoà mình dạo phố ăn kem hoặc mua sắm như một du khách. Trong những tình huống ngoài dự kiến đó, cô và một sỹ quan an ninh của bạn sẽ trực tiếp phải đảm nhận việc đảm bảo an toàn cho khách…

Nam

Đối với các sỹ quan Cảnh vệ, được bảo vệ cho các nguyên thủ tầm cỡ trên thế giới luôn là một vinh dự. Trung tá Lê Bá Hằng – người có hơn 20 năm thâm niên trong lĩnh vực này đã kể cho tôi nghe kỷ niệm về lần anh vinh dự được bảo vệ Chủ tịch Fidel Castro trong dịp Chủ tịch sang thăm Việt Nam vào tháng 3/2003. Từng bảo vệ những nguyên thủ, chính khách nổi tiếng như: Vua Thụy Điển, Tổng thống Hàn Quốc, Thủ tướng Nga… tuy nhiên đối với Lê Bá Hằng, những cảm xúc và ấn tượng về lần bảo vệ Chủ tịch Fidel Castro vẫn còn nguyên vẹn.

Anh tâm sự: Lần đó, trên suốt chuyến xe từ sân bay Nội Bài về đến Hà Nội, Chủ tịch Fidel Castro đã làm cho người sỹ quan Cảnh vệ Việt Nam đi hết từ ngạc nhiên này đến ngạc nhiên khác. Là người rất am hiểu, thường xuyên quan tâm đến Việt Nam, ngay khi vừa đặt chân xuống sân bay, Chủ tịch đã quay sang người sỹ quan bảo vệ tiếp cận và đặt câu hỏi: “Nhà ga sân bay này là do ta làm hay phải đi thuê?”, câu hỏi bất ngờ và cách dùng từ ngữ hết sức tình cảm của Chủ tịch đã làm Lê Bá Hằng xúc động. Dọc trên suốt quãng đường về Hà Nội, Chủ tịch liên tục trò chuyện với người sỹ quan bảo vệ tiếp cận như một người thân vừa đi xa trở về. Ông bảo: “Tôi sang lần này thấy cảnh vật đổi thay nhiều quá, hàng quán cũng sầm uất hơn lần trước”. Rồi ông hỏi hiện tại Việt Nam xuất khẩu được bao nhiêu gạo?, bao nhiêu cà phê?… Bình dị và gần gũi.

Ấn tượng về Chủ tịch Fidel Castro trong những sỹ quan bảo vệ tiếp cận như Lê Bá Hằng là hình ảnh một vị lãnh tụ đáng kính và gần gũi. Ông cũng là vị nguyên thủ rất quý anh em cảnh vệ. Lê Bá Hằng còn nhớ, lần đó khi gần kết thúc chuyến thăm, Chủ tịch đã nói với vị cán bộ dưới quyền của mình ra mời anh vào để chụp một kiểu ảnh lưu niệm. Tấm ảnh kỷ niệm quý giá với hình ảnh Chủ tịch Fidel Castro thân mật quàng tay lên vai anh giờ đây luôn được anh nâng niu cất giữ như một báu vật…

Thay lời kết     

Nam

Nhiều lần theo chân lực lượng bảo vệ tiếp cận, xem họ tác nghiệp tại những cuộc hội nghị lớn, các chuyến thăm quan trọng, mới cảm nhận hết sự căng thẳng, vất vả thường xuyên của lực lượng này. Để đảm bảo sự an toàn cho một nguyên thủ, chính khách luôn có sự phối hợp của nhiều lực lượng khác nhau thuộc Bộ Công an. Trong đó những sỹ quan bảo vệ tiếp cận là người trực tiếp giữ vị trí gần nhất với yếu nhân và kịp thời xử lý mọi tình huống bất ngờ xảy ra ngoài dự kiến.

Đến trụ sở đơn vị này vào những ngày cuối năm, cảm nhận được không khí bận rộn của đơn vị trong lịch trình dày đặc của những chuyến công tác. Đây là một năm mà đơn vị đã huy động quân số, phương tiện ở mức cao nhất để phục vụ các hội nghị, chuyến thăm của chính khách quốc tế đến Việt Nam. Những sỹ quan bảo vệ tiếp cận có quyền tự hào về những thành tích mà mình đã đóng góp.

Đã không ít lần chúng tôi đặt câu hỏi với những sỹ quan bảo vệ tiếp cận: Đặt giả thiết trong những trường hợp khẩn nguy ảnh hưởng đến sự an toàn của người được bảo vệ, các anh, các chị có sẵn sàng hy sinh thân mình để bảo vệ khách, chúng tôi đều nhận được những cái gật đầu không chút ngần ngại. Thượng tá Vũ Minh Thản nói rằng: Trong giáo trình giảng dạy của lực lượng cảnh vệ luôn luôn giáo dục ý thức sẵn sàng xả thân mình để che chở khách. Đó cũng là một trong những phẩm chất cao quý của những chiến sỹ CAND Việt Nam

 

Xuân Luận – CAND Xuân 2011 

Advertisements

Bản IDM silent là bản cài đặt tự động và làm dùm luôn cho bạn công việc Crack, bạn ko cần phải crack thủ công.

Hướng dẫn:
Download về, giải nén & chạy file IDM 6.15 build 10.exe rồi nhập Họ tên của bạn và chỗ “Hãy điền tên để đăng ký IDM” rồi bấm “Bắt đầu” là xong.

IDM Slient 6.15 Build 10

Sau khi cài đặt, ngôn ngữ hiển thị là tiếng Việt, các bạn có thể đổi thành tiếng Anh bằng cách sau:

IDM 6.15 full crack

Link download IDM 6.15 Build 10 Full (Silent Install Plus):
http://file.sinhvienit.net/d39f0ea2

Nếu bạn không thích crack tự động, bạn có thể tải bản IDM 6.15 build 10 Full, Crack bằng tay tại link sau:
http://sinhvienit.net/forum/idm-6-15…ll.252810.html

Nguon: SVIT

‘Việt Nam không chấp nhận sự can dự xâm hại chủ quyền’

 

Trong thế giới mở, sự can dự lợi ích của các quốc gia là điều không thể ngăn cấm. Nhưng nếu đó là sự can dự xâm hại chủ quyền thì không được phép chấp nhận.
Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh trao đổi với VnExpress.

– Đối thoại Shangri La lần thứ 12 vào cuối tháng 5 đầu tháng 6 tới diễn ra trong bối cảnh an ninh khu vực nhất là Biển Đông có nhiều căng thẳng. Việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được mời với tư cách là diễn giả chính mang thông điệp gì thưa ông?

– Lời mời dành cho Thủ tướng Việt Nam được Giám đốc Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS) của Vương quốc Anh đưa ra, đồng thời Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long có lời mời chính thức. Như vậy, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ là khách mời chính thức của IISS và là Quốc khách của Singapore.

Từ khi Việt Nam chính thức công bố Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dự đối thoại Shangri La và có bài phát biểu quan trọng mở đầu hội nghị, các hãng tin quốc tế đều đưa tin này với độ nóng cao. Họ đang chờ đợi Thủ tướng Việt Nam sẽ nói gì trong hội nghị này.

Trong bối cảnh tình hình an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương có nhiều vấn đề phức tạp, cả thuận lợi và thách thức, thì việc Thủ tướng Việt Nam được mời phát biểu đầu tiên chứng tỏ Ban tổ chức, nước chủ nhà cũng như cộng đồng quốc tế đánh giá cao vai trò của Việt Nam, đặc biệt trong đóng góp vào hòa bình, an ninh ổn định và hợp tác trong khu vực. Đồng thời, sự tham gia của Thủ tướng cho thấy Việt Nam rất quyết tâm mở rộng quan hệ quốc tế đa dạng, không chỉ song phương mà còn đa phương; quyết tâm hội nhập, trở thành đối tác tin cậy của tất cả các nước.

– Đối thoại Shangri La sắp diễn ra tại Singapore sẽ bàn đến sự can dự của Mỹ vào vấn đề an ninh khu vực cũng như vai trò của Trung Quốc đối với an ninh toàn cầu. Là một quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng, quan điểm của Việt Nam trước những vấn đề này như thế nào, thưa Thứ trưởng?

– Trong một thế giới mở, sự can dự lợi ích các quốc gia là điều không thể ngăn cấm. Họ có quyền bảo về chủ quyền và can dự lợi ích đồng thời tìm lợi ích trong quan hệ với các quốc gia khác. Sự can dự ấy nếu là can dự hòa bình, hợp tác và phát triển thì đó là tích cực. Điều này có lợi cho các nước nhỏ, các nước đang phát triển bởi nó tạo điều kiện hội nhập mạnh mẽ hơn giữa các nước trong khu vực, nhất là các nước đang phát triển như Việt Nam. Chúng ta kỳ vọng những can dự này sẽ đem lại sức sống mới, năng động mới cho cả khu vực.

Nhưng nếu việc can dự mang mục đích lợi ích đơn phương, cục bộ, cao hơn là mang tính bạo lực, xâm hại chủ quyền lợi ích quốc gia khác sẽ không được chấp nhận.

Tôi muốn nói thêm là sự can dự nếu quá thiên về quốc phòng, an ninh sẽ gây nguy cơ tiềm tàng va chạm trong khu vực. Hãy hình dung tình trạng này như có nhiều thùng thuốc súng để gần nhau quá sẽ có ngày bắt lửa. Sự hiện diện quân sự ấy có thể đem lại lo lắng dẫn đến cuộc chạy đua vũ trang mới trong khu vực mà gần đây đã có dấu hiệu của cuộc chạy đua này.

– Việt Nam từng trở thành bài toán mặc cả trong thỏa hiệp lợi ích của các nước lớn. Trong bối cảnh phức tạp hiện nay thì Việt Nam cần làm gì để tránh bị các nước thỏa hiệp trên lưng mình?

– Việc các nước thỏa hiệp mặc cả hy sinh lợi ích của Việt Nam chỉ xảy ra khi ta mất độc lập tự chủ, ngả về bên này hoặc bên kia. Việt Nam đã tuyên bố rõ đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, không tham gia liên minh quân sự, không đi với bên này để chống bên kia.

Thế giới xác định có 3 cách để bảo đảm hòa bình, tự chủ: Một là trở thành nước lớn để hạn chế đối phương hại đến hòa bình lợi ích nước mình. Hai là kiểu “đu dây”, lúc ngả theo bên này, lúc ngả bên kia, sẵn sàng hy sinh lợi ích chiến lược và uy tín quốc gia trong từng thời điểm để đạt mục tiêu trước mắt. Cách thứ ba, khó nhưng bền vững nhất là giữ được độc lập tự chủ, làm bạn với tất cả các nước. Trước hết là độc lập về chính trị, rồi đến độc lập về kinh tế, văn hóa, độc lập về quốc phòng an ninh.

Với Việt Nam, tính chất địa chính trị không cho phép chúng ta chọn “chỗ vắng” được mà buộc phải chọn “chốn đông người”. Vì vậy, trong khi giữ độc lập tự chủ thì mình phải đẩy mạnh mở cửa, trở thành bạn, thành đối tác với tất cả các nước. Đây là vấn đề có tính sống còn cho giữ gìn ổn định, hòa bình, phát triển, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và chế độ chính trị của đất nước ta.

– Quy tắc ứng xử trên Biển Đông chưa ra đời, Việt Nam đề xuất cơ chế hợp tác gì để có thể tránh các vụ va chạm, xung đột trên biển giữa các quốc gia trong khu vực?

– Những va chạm đáng tiếc trên Biển Đông hiện nay khiến ta rất quan ngại. Thậm chí đó là nguy cơ cho an toàn tính mạng của người dân. Điều này trước hết làm xáo trộn môi trường hòa bình của người lao động trên biển. Lợi ích của các nước có chủ quyền bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tôi quan ngại trước hành vi bạo lực nếu nó xuất hiện trên Biển Đông, nhất là khi nó trở thành có tính hệ thống.

Để đẩy lùi nguy cơ này, ta kiên quyết theo đuổi biện pháp hòa bình. Điển hình là Thỏa thuận về nguyên tắc xử lý các vấn đề trên Biển Đông mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký với Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào vào năm 2011. Thỏa thuận này không chỉ giải quyết vấn đề giữa Việt Nam – Trung Quốc mà còn đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định trong khu vực.

Thứ hai, ta đấu tranh mạnh mẽ với các hành vi bạo lực, với người sử dụng vũ lực, gây ra xung đột. Chúng ta cần công khai minh bạch, yêu cầu không tái diễn.

– Nhưng trong những tình huống thực tế, khi phải đối mặt với hành động bạo lực của lực lượng quân sự tấn công người dân như vụ tàu cá ở Quảng Ngãi bị tàu hải quân Trung Quốc bắn vừa qua thì lực lượng trên biển của ta phải hành động gì để đối phó?

– Chúng ta có cách để hạn chế họ dùng vũ lực và không để xảy ra xung đột. Trước hết là đấu tranh ngoại giao trực diện trên các diễn đàn song phương và đa phương. Trên thực địa, ta có nhiều biện pháp linh hoạt, hiệu quả như sử dụng lực lượng chấp pháp kết hợp với tàu đánh cá để bao vây, đẩy đuổi.

Về một số hành động vũ lực đối với tàu cá của ngư dân Việt Nam vừa qua, tôi hy vọng rằng đây mới chỉ là hành động cục bộ chứ chưa phải là chủ trương, tuy nhiên vẫn cần đấu tranh kiên quyết ngay từ những dấu hiệu ban đầu này, không để những hiện tượng tương tự tái diễn.

Lực lượng thực thi luật pháp trên biển của Việt Nam luôn đề cao tính nhân đạo trong xử lý các vấn đề trên biển với lao động bình thường. Xử lý nghiêm minh nhưng nhân đạo, đặc biệt không dùng vũ lực, bạo lực đe dọa ức hiếp người dân Trên bình diện đa phương, ta cũng cần nêu vấn đề công khai minh bạch, để cộng đồng quốc tế hiểu rõ chính sách của Việt Nam và hiểu rõ các vấn đề mà ta đang gặp phải.

– Cách đây một năm, ông từng nói Biển Đông sẽ có những diễn biến bất thường và khó lường. Vậy tại thời điểm này, ông đánh giá tình hình như thế nào?

– “Nhiệt độ” trên Biển Đông đã đến điểm mà các nước phải có tính toán rất kỹ nếu đi thêm bất kỳ bước nào nữa. Ví dụ như vừa qua nói rằng một số nước lớn phát triển chiến lược biển, có nhiều động thái đơn phương, không theo đúng luật pháp quốc tế, tuy mang nặng tính biểu tượng, mặc dù vậy đã gây ra nhiều quan ngại. Nhưng nếu họ đi từ tuyên bố đến hành xử trên thực tế thì vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn rất nhiều. Ta cần đấu tranh với từng thái độ, từng hành động để mọi tuyên bố đi ngược lại với luật pháp quốc tế, đi ngược với cam kết giữa các bên, phương hại đến hòa bình, ổn định trong khu vực không xảy ra trên thực tế.

NGUYỄN HƯNG (VNEXPRESS)

Hãy cẩn thận với Wikipedia tiếng Việt!!!!

Kể từ lúc Wikipedia mới ra đời thì tôi là một trong những người thường xuyên sử dụng nó.
– Thứ nhất bởi vì nó miễn phí, thay vì trước kia tôi phải mua DVD từ Brockhaus.
– Thứ hai nữa là sự tiện lợi của nó, có thể sử dụng ở mọi chỗ, mọi nơi mà không cần phải cài đặt trong máy tính, cũng không cần phải dùng tới DVD hay CD.
– Thứ ba nữa nó được lưu rất nhiều những những thông tin bổ ích, giúp đỡ chúng ta hiểu biết thêm thế giới xung quanh ta, hiểu thêm về thế giới bên ngoài.

Có thể nói trên Wikipedia, thượng vàng, hạ cám, cái gì cũng có và chúng ta cần phải biết ơn người đã tạo dựng nên, các tổ chức phi lợi nhuận hỗ trợ phát triển, những nhà khoa học, sử học, giáo viên, các nhà nghiên cứu,…. đã giúp cho chúng ta có một kho kiến thức khổng lồ như vậy.

Bản thân trang Wikipedia đã là một tranh cãi chưa có hồi kết thúc: Một số hãng xưa nay kiếm bộn tiền nhờ bán bản quyền sử dụng từ điển bách khoa toàn thư của họ, nay bị Wikipedia làm cho miếng ăn của họ bị đụng chạm tới mức họ mở những chiến dịch bôi nhọ thông tin về Wikipedia.
Mặc khác, một số thông tin trên đó đưa ra nhiều khi chỉ lấy từ một cuốn sách, một công trình nghiên cứu nào đó và chưa hề được chứng minh rằng độ chính xác của nó được bao nhiêu % và đây chính là một trong những khuyết điểm của nó, nhất là trong môi trường tiếng Việt!

Cách đây một thời gian, khi tôi tranh luận với một chị là giảng viên đại học bên Hà lan, rất tiếc là tôi đã quên tên (có lẽ bạn Trần Quang Khải còn nhớ). Chị ta có đưa ra links từ một bài viết trên Wikipedia . Tôi đã chứng minh cho chị ta thấy rằng, nguồn trên Wikipedia đôi khi không đáng tin cậy bằng cách tôi vào đó, thay đổi số liệu cho chị ta thấy rõ, Wikipedia là môi trường mở, bất kể ai cũng có thể viết, chẳng cần biết đúng sai và đôi khi, chỉ cần ngôn ngữ thông thạo, lý luận sắc bén, bạn có thể viết lên một điều khiến cho người khác phải tin cho dù nó không phải là sự thật!

Mới đây nhất, tôi vô tình đọc một bài kể tội về chế độ cộng sản. Giống như nhiều bài báo, nhiều cuốn sách khác viết theo đơn đặt hàng, luôn có một ý muốn rõ ràng, rằng hễ cộng sản phải xấu, phải giết người không ghê tay, phải dã man với dân.

Người ta viết rằng, trong cải cách ruộng đất ở Việt nam, từ 1950-1954 có thể tới 900.000 người bị thiệt mạng!!(?) Sau khi tìm hiểu thì tôi được biết, con số ấy được xuất bản trong một cuốn sách của Havard University Press, tại Hoa kỳ.

Cuốn sách đó là có in ra thật, có số xuất bản hẳn hoi, nhưng con số đó không hề được kiểm chứng mà chỉ là sự thổi phồng lên để vùi dập những người Việt Minh, che dấu tội ác của người Mỹ và đồng minh đã làm ra tại Việt nam. Cuốn sách đó chắc không cần phải tìm hiểu kỹ cũng biết được rằng, một góc nào đó là do chính sự tài trợ của CIA hoặc của chính phủ tiểu bang / liên bang bên Mỹ!

Nhưng khi tranh luận với một trong những người trên Wikipedia, có thể là những người viết ra, hoặc bảo vệ bài viết đó, họ cho tôi biết “sách được CIA tài trợ hay đặt hàng thì càng là một nguồn dễ kiểm chứng”.

Câu nói của họ khiến cho tôi giật mình!!!!!

Tôi giật mình, bởi vì nhiều lý do, trong đó về thông tin những con số không hề được kiểm chứng, nhưng họ vẫn cho lên và coi đó là chân lý!

Và nếu những con số không hề được kiểm chứng tức là bịa đặt, vậy mà vẫn tồn tại, vẫn được bảo vệ trên đó và đó chỉ là một ví dụ nhỏ.
Nhưng liệu trên đó còn bao nhiêu bài viết, bao nhiêu con số, đang hàng ngày đầu độc những người tin vào Wikipedia, tin vào đường lối trung lập mà người sáng lập ra Wikipedia đã đưa ra?
Một điểm mà chúng ta cần lưu ý thêm, đó là về nhiều thành viên tích cực trên Wikipedia, với chức danh “Bảo quản viên”,….. có một số kẻ liên quan tới các tổ chức lưu vong ở nước ngoài, hoặc một số cá nhân trong nước đang tìm cách kích động dân chúng, định hướng dư luận theo con đường mà chúng mong muốn.
Từ nhìêu năm nay, chúng tìm mọi mặt trận để phá hoại: WordPress, Blogsport, Facebook, Multiply, Yahoo, Youtube,….. Trên hầu hết các tuyến đó, tôi đều đã đối đầu với họ và phải nói, họ được đào tạo rất bài bản về cách nguỵ trang và bao biện thông tin. Họ sẵn sàng làm con cáo, mặc dưới vỏ bọc “trung lập, khách quan” để đánh lừa những ai nhẹ dạ cả tin.
*****************************
Để chứng minh về sai lầm của những con số đó, tôi xin nêu một ví dụ nhỏ về logic của nó: Trước năm 1954 khi cuộc kháng chiến 9 năm đang bước vào giai đoạn cuối. Khi ấy cần sự hổ trợ của toàn dân tộc, của tất cả các thành phần. Nếu thực sự Việt Minh giết người nhiều như vậy, trong khi dân số của cả nước, từ nam tới bắc chưa nổi 25 triệu. Trong đó bao gồm cả họ hàng, con cháu, người thân của những người lính khố xanh, khố đỏ, công chức người Việt làm cho Pháp, các khu giáo sứ thân Pháp v.v. ai sẽ là người ủng hộ Việt Minh? Có bao giờ giữa lúc Việt Minh đang kêu gọi đoàn kết toàn dân mà lại quay sang giết dân? Ai sẽ cùng kéo pháo lên Điện Biên Phủ? Ai sẽ là người thồ gạo lên Điện Biên Phủ? Nếu giả sử cả nước ta hiện nay có 8000 xã, mỗi xã phải có tới hàng 100 người bị giết thì con số ấy mới tới 800 ngàn người! Mà mỗi xã hàng trăm người bị giết là điều hoàn toàn không có logic! Điều này các bạn có thể kiểm chứng được qua ông bà cha mẹ của mình!
******************************
Hãy thận trọng với Wikipedia, bởi nó là con dao nhiều lưỡi! Nó giúp ta có thêm kiến thức, nhưng nó cũng hại ta bằng những thông tin không hề khách quan, trung thực, cũng không đúng đường lối trung lập của nó.
[https://www.facebook.com/dangVietNam/posts/510220982331395]

Nhận bằng đại học chỉ sau 3 năm

TT – Tháng 12, bốn sinh viên Trường ĐH Nông lâm TP.HCM sẽ nhận bằng ĐH chỉ sau ba năm học tại trường. Bí quyết của các bạn ở đâu?

“Tôi đã lên kế hoạch học tập cụ thể cho mình và đã tiết kiệm được một năm học”

NGUYỄN THỊ BÍCH HUỆ
– Ảnh: NHƯ HÙNG

“Lê Vũ cho rằng điều kiện kinh tế khó khăn là động lực để Vũ học vượt, ra trường sớm”

Ảnh: HÀ BÌNH

” Muốn học vượt, bạn cần xem xét đến sức khỏe, quỹ thời gian và năng lực học tập”

PHẠM THỊ TOÀN LANH
– Ảnh: HÀ BÌNH

Đầu năm học này, khi các bạn cùng khóa 2009-2013 bước vào năm học cuối thì Nguyễn Thị Bích Huệ (ngành quản trị kinh doanh thương mại Trường ĐH Nông lâm TP.HCM) đã tốt nghiệp và đang làm việc toàn thời gian cho một công ty chuyên về marketing online.

Tiết kiệm một năm

Cô SV quê Cẩm Mỹ, Đồng Nai kể khi vào năm nhất, bạn chưa biết về tín chỉ và có thể ra trường trước thời hạn. Khi nghe giảng viên nói SV tích lũy đủ tín chỉ sẽ được ra trường sớm, Huệ quyết định thử sức. “Biết tôi ấp ủ dự định học ĐH trong ba năm, anh của tôi đang học ĐH và bạn bè đều cho rằng tôi viển vông. Nhưng sau khi tham khảo ý kiến từ thầy cô cố vấn học tập, cách lựa chọn, đăng ký môn học, tôi đã lập kế hoạch học tập để đi đến mục tiêu của mình” – Huệ nhớ lại.

Để hoàn thành 135 tín chỉ cho chương trình ĐH, Huệ cho biết mỗi học kỳ bạn đăng ký 25 tín chỉ. Nghỉ hè, khi bạn bè cùng lớp về quê thăm gia đình thì Huệ ở lại trường đăng ký học thêm.

Huệ cho biết: “Trước khi đến lớp, tôi tranh thủ coi bài ở nhà và dành toàn bộ thời gian để nghe giảng. Tôi thấy điều SV cần nhất ở giảng viên là kiến thức thực tế chứ lý thuyết đã có trong sách rồi.

Chính những đề thi mở, đòi hỏi SV phải tìm hiểu kiến thức từ thực tế đã cuốn hút tôi vào bài học nên tôi luôn học một cách thoải mái nhất”.

Sau hai năm rưỡi “vừa học vừa chơi”, vừa đi dạy kèm, tham gia câu lạc bộ phát thanh… Huệ đã hoàn thành chương trình ĐH. Sáu tháng sau đó, Huệ làm khóa luận tốt nghiệp và ra trường. “Tôi đã lên kế hoạch học tập cụ thể cho mình và nay đã tiết kiệm được một năm học. Tôi có thể đi làm sớm và thực hiện tiếp những dự định khác” – Huệ nói.

Kết hợp nhiều yếu tố

Trong khi đó, điều kiện kinh tế khó khăn là động lực lớn nhất để bạn Lê Vũ – sinh viên ngành kinh tế Trường ĐH Nông lâm TP.HCM – quyết tâm phải ra trường sớm để tiết kiệm chi phí ăn học. Sau ba năm học, hiện Vũ đã đi làm công việc kinh doanh cho một công ty và chuẩn bị học thêm văn bằng hai về công nghệ sinh học.

Học nhiều hơn bình thường, Vũ còn đi làm bảo vệ buổi tối trong dịp hè để trang trải việc học. Vừa học vừa làm nhưng Vũ đã tốt nghiệp loại giỏi và luận văn tốt nghiệp của bạn đạt 8,7 điểm. Chàng SV quê Sơn Tịnh, Quảng Ngãi cho biết: “Học kỳ đầu tiên mình đăng ký 16 tín chỉ, thấy còn dư nhiều thời gian nên đăng ký lên 19, rồi 25 tín chỉ.

Ở năm nhất, năm hai việc học vẫn nhẹ nhàng nhưng cực nhất là năm ba. Nhiều môn học mà môn nào cũng làm tiểu luận nên nhiều đêm phải thức trắng làm cho kịp”. Theo Vũ, khi quyết định học vượt, SV phải xác định năng lực học tập, quỹ thời gian của mình xem có theo nổi hay không. “Quan trọng nhất là phải có động lực để cố gắng” – Vũ kết luận.

Được tốt nghiệp khi tích lũy đủ học phần

Quy chế 43 về đào tạo theo học chế tín chỉ của Bộ GD-ĐT quy định: “Điều kiện xét tốt nghiệp, công nhận tốt nghiệp khi SV tích lũy đủ số học phần quy định cho chương trình đào tạo với: khối lượng không dưới 180 tín chỉ đối với khóa đại học 6 năm, 150 tín chỉ đối với khóa đại học 5 năm, 120 tín chỉ đối với khóa đại học 4 năm.

Hiệu trưởng quy định cụ thể khối lượng kiến thức tối thiểu cho từng chương trình được triển khai đào tạo trong phạm vi trường mình”. Theo đó, tùy theo sức học của mình, SV có thể đăng ký học vượt để tốt nghiệp trước thời hạn.

Cùng lớp với Vũ, bạn Phạm Thị Toàn Lanh cũng đã tốt nghiệp sau ba năm học. Lanh cho rằng khi quyết định học vượt, bạn xem xét đến những khía cạnh như sức khỏe, quỹ thời gian, năng lực học tập của mình.

“Phải có kế hoạch học tập ngay từ đầu thì mới có thể hoàn thành việc học trước thời hạn – Lanh nói – Ngoài ra, cần phải có sự tư vấn thêm từ thầy cô, cố vấn học tập. Học vượt phải đi học, thực tập với anh chị khóa trên. Phải làm việc nhóm thường xuyên với lớp mới nên nhiều khi có những xung đột rất khó hòa giải”.

Theo Lanh, khó khăn lớn nhất là sắp xếp thời gian hợp lý để có thể học tốt. Bạn nói thêm: “Dù đã chuẩn bị kỹ kiến thức cơ bản để vào chuyên ngành nhưng đôi khi vẫn bị quên, phải tìm tài liệu xem lại.

Vào lớp, mình thường xuyên “xí” chỗ ngồi đầu bàn để chăm chú lắng nghe thầy cô giảng bài. Buổi sáng mình đến trường học đến khi nào thư viện đóng cửa mới về. Mùa hè mình cũng ở lại trường để học thêm”. Ngoài giờ học, Lanh còn tranh thủ đi phục vụ suất ăn công nghiệp để kiếm tiền trang trải việc học.

Tạo điều kiện cho SV giỏi

TS Trần Đình Lý – trưởng phòng đào tạo Trường ĐH Nông lâm TP.HCM – cho rằng đào tạo theo học chế tín chỉ thể hiện sự phân hóa rất cao trong SV, tạo cơ hội cho SV giỏi thể hiện và khẳng định năng lực của họ.

Số SV học vượt trong thời gian 3-3,5 năm tại trường nhiều hơn trước nhưng đồng thời số SV bị buộc thôi học cũng không ít.

Chính từ sự phân hóa ấy, TS Lý cho rằng SV phải biết lượng sức mình, đưa ra kế hoạch học tập toàn khóa học và lên kế hoạch học vượt.

Trong khi đó, TS Nguyễn Kim Quang – Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐHQG TP.HCM) – lưu ý SV học vượt phải học nhiều môn trong mỗi học kỳ so với bình thường nên đòi hỏi SV phải thật sự có năng lực.

Với SV có sức học trung bình, nếu đăng ký học vượt sẽ gặp nhiều khó khăn và kết quả có thể không cao. “SV cần cân nhắc xác định tốc độ học tập của mình. Nếu không có nhu cầu ra trường sớm thì không nên chọn việc học với tốc độ cao vì rất dễ đuối sức và sẽ không hoàn thành tốt kế hoạch học tập. Ngược lại những SV giỏi cần được khuyến khích học vượt để họ đạt được trình độ cao ở lứa tuổi còn trẻ…” – TS Quang nói.

TRẦN HUỲNH – HÀ BÌNH

[TTO]


Ông Hoàng Hữu Phước

Câu nói hay nhất đầu năm 2011 cũng là câu đầy dõng dạc, dứt khoát, và khí thế – rất hiếm khi được nghe thấy ở Việt Nam trong suốt vài thập kỷ qua – chính là câu trả lời“Việt Nam Không Cần Đa Đảng” của một lãnh đạo Đảng khi được phóng viên nước ngoài phỏng vấn nhân Đại Hội Đảng Lần Thứ XI vừa qua. Cái thần uy của vị lãnh đạo Đảng là ở chỗ không cần nói nhiều, không cần giải thích dài dòng, vì sự phân bua nhỏ nhẹ dịu dàng không bao giờ là chiến thuật thượng đẳng hay phong thái đường bệ luôn phải có của người chiến thắng. Thế nhưng, vấn đề đa đảng sẽ cứ mãi được phóng viên nước ngoài lập đi lập lại trong những ngày tháng năm sắp đến, cũng như sẽ mãi được các nhóm chống Cộng khai thác để công kích Việt Nam, còn những người Việt ít làm việc trí óc thường dễ bị phân vân trước các khích bác. Nhân một số học trò và bạn hữu ở nước ngoài, những người hay chuyển đến tôi nhiều bài viết chống cộng ở hải ngoại do thích nghe tôi phản pháo [1] mà họ cho là dễ hiểu dễ nhớ khó cãi khó chống, hỏi tôi dịp Tết này vì sao Việt Nam vẫn còn “độc đảng độc tài” khi sự kiện Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn còn nóng hổi và vì cũng để những bạn trẻ Việt Nam hiểu biết thấu đáo hơn và hết phân vân trước các luận điệu chống đối của nước ngoài, tôi thấy cũng nên mạn phép dùng kiểu giải thích “cực kỳ bình dân” cho vấn đề “cực kỳ hàn lâm” trên.

Việt Nam không cần đa đảng vì sáu lý do rất đơn giản mà tất cả những người Việt Nam có sở hữu trí tuệ uyên bác và trong tình trạng sức khỏe tâm thần ổn định tốt đều đã hiểu và biết rất rõ như sau:

1) L‎ý do thứ nhất: Lẽ Công Bằng

Tại các nước Âu Mỹ dù có hay không có kinh qua các cuộc chiến tranh nội bộ, xâm lược hay bị xâm lược, khu vực hay toàn cầu, thì mọi tầng lớp nhân dân thuộc mọi phe nhóm hay đảng phái đều có đóng góp công của vào việc xây dựng đất nước, đóng góp xương máu trong tiến hành xâm chiếm nước khác làm giàu cho nước mình, hay đóng góp máu xương chống giặc xâm chiếm nước mình để giữ yên bờ cõi; thế nên ở xứ của họ đương nhiên là các phe nhóm chính trị, các đảng phái chính trị, và các tầng lớp nhân dân có quyền lợi như nhau trong sinh hoạt phe nhóm, đảng phái, mà họ gọi hoa mỹ là “đa đảng” như một nền tảng của “tự do ngôn luận” và “tự do lập đảng”. Tất nhiên, “đa đảng” là để che dấu một sự thật là tất cả các đảng đều chỉ khác nhau ở cái tên còn giống y nhau ở hai điểm (a) phục vụ lợi ích các nhà tài phiệt chủ nhân của đảng cầm quyền và (b) phục vụ lợi ích các nhà tài phiệt chủ nhân của các đảng khác đang nắm quyền ở Thượng Viện và Hạ Viện – nghĩa là nếu giả dụ hoang đường rằng ngay cả khi đảng “Cộng Sản Mỹ” có người “đắc cử” làm Tổng Thống Hoa Kỳ thì người ấy vẫn phải răm rắp thực hiện đầy đủ các cam kết của và tiếp tục các đường lối đối ngoại và thậm chí các cuộc chiến tranh gây ra bởi vị tổng thống tiền nhiệm. Tương tự, đa đảng ở Anh Quốc có nghĩa là bất kỳ đảng nào lãnh đạo chính phủ cũng đều phải tuyệt đối ủng hộ Mỹ, chung vai sát cánh với Mỹ tiến hành chiến tranh tại bất kỳ khu vực nào Mỹ muốn. Thêm vào đó, “đa đảng” tại các quốc gia theo thể chế quân chủ lập hiến chính là trò bát nháo buồn cười khi vẫn tồn tại miên viễn đặc quyền bất khả xâm phạm của các “vua”, các “nữ hoàng”, tức “đảng cấp trên” hay “đảng thượng cấp”, còn các đảng ở quốc hội và “nội các” là … “đảng hạ cấp” mà họ tự an ủi bằng danh xưng hoa mỹ “đa đảng của tự do dân chủ”.

Việt Nam hoàn toàn khác: tất cả các phe nhóm và đảng phái chính trị đều hoặc làm tay sai cho Pháp hay Nhật hay Hoa hay Mỹ, hoặc tự bươn chải chỉ biết dùng nước mắt bạc nhược cố tìm “đường cứu nước” (như Phan Bội Châu khóc lóc với Lương Khải Siêu [2] khi nhờ Lương Khải Siêu giới thiệu với Nhật xin giúp kéo quân sang Việt Nam đánh Pháp, mà không biết mình rất có thể đã “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi về dày mả tổ”, mở đường cho sự quan tâm của Quân Phiệt Nhật tàn bạo đánh chiếm và giết chết nhiều triệu người Việt Nam sau này, và phải nhờ Lương Khải Siêu ban phát cho lời khuyên can mới hiểu ra sự nguy hiểm của lời yêu cầu Nhật đem quân đến Việt Nam giúp đánh Pháp), và tất cả đều chống Cộng. Chỉ có Đảng Cộng Sản Việt Nam đánh thắng tất cả, tạo dựng nên đất nước Việt Nam thống nhất, nên việc “đòi quyền lợi” hay “đòi quyền tham chính” của tất cả các cá nhân, tất cả các phe nhóm chính trị bên ngoài Đảng Cộng Sản Việt Nam là điều không tưởng, vô duyên, khôi hài và bất công, nếu không muốn nói là hành vi bất lương của kẻ cướp muốn thụ hưởng quyền lực chính trị trong khi đã không có bất kỳ công sức đóng góp nào cho Đảng Cộng Sản Việt Nam, ngoài sự chống phá ngay từ bản chất.

Người Việt Nam yêu sự công bằng nên không ai chấp nhận đa đảng. Bất kỳ ai nói nhặng lên về đa đảng đích thị là phường gian manh muốn ngồi mát ăn bát vàng, hoặc phường Việt gian tay sai Hoa-Mỹ, và do đó không thuộc cộng đồng người dân Việt chân chính.

2) Lý do thứ nhì: Yêu Cầu Cao Và Chuyên Nghiệp Của Trị Nước

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về chính trị.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về quân sự.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về ngoại giao.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về kinh tế.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về tạo uy danh lớn, uy tín cao, uy thế mạnh trên trường quốc tế.

Do đó, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã bảo vệ đất nước thành công, đã xây dựng đất nước thành công, và tất cả những điều này có nghĩa rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam có kinh nghiệm thực tế về trị quốc.

Nhân dân Việt Nam không bao giờ cho phép Đảng Cộng Sản Việt Nam đặt sinh hoạt chính trị sống còn của đất nước Việt Nam vào tay những kẻ vô danh tiểu tốt chỉ có hai thứ lận lưng là (a) tấm bằng thạc sĩ hay tiến sĩ của đại học Mỹ và (b) tiền tài trợ của Mỹ và những nước tương cận mưu toan xóa sổ Đảng Cộng Sản Việt Nam để ăn cướp thành quả cách mạng mà chỉ riêng Đảng Cộng Sản Việt Nam tạo dựng nên.

3) L‎ý do thứ ba: Kinh Nghiệm Thực Tế Và Sâu Sắc Của Người Việt Đối Với Những Kẻ Đặt Vấn Đề Đa Đảng

Tất cả những kẻ đặt vấn đề đa đảng đều nhận tiền của các thế lực chống cộng, từ đó dễ dàng suy ra rằng đòi hỏi đa đảng chỉ nhằm một mục đích duy nhất là tiêu diệt cộng sản để chỉ còn một đảng duy nhất của riêng chúng, chứ không phải để cùng Đảng Cộng Sản hữu hảo sinh hoạt chính trị “tự do” như ở các nước khác. Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ không xứng đáng lãnh đạo đất nước Việt Nam nếu để bản thân Đảng bị tiêu diệt vì luận điệu đa đảng ngây ngô trẻ nít ấy.

Điều nói thêm tuy không cần thiết do đã là sự thật quá rõ ràng là tất cả những người đã và đang kêu gào đòi đa đảng đều là phường bất tài vô dụng, vô danh tiểu tốt, vô hạnh, và vô lại. Không một ai trong nhóm người đòi đa đảng có thể cho ra một cái tên cụ thể nào của một con người cụ thể nào trong toàn thế giới chống cộng có uy danh hiển hách cùng kỳ tích trong và kinh nghiệm về trị quốc để có thể “tham chính” tại Việt Nam.

4) Lý do thứ tư: Kinh Nghiệm Thực Tế Và Sâu Sắc Của Người Việt Đối Với Đa Đảng

Người dân Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã có kinh nghiệm rằng Đảng Cộng Sản ở Miền Bắc đã lãnh đạo cách mạng thành công, chiến thắng xâm lược, xây dựng đất nước, và thống nhất đất nước trong vẻ vang.

Người dân Việt Nam Cộng Hòa đã có kinh nghiệm rằng Miền Nam đã chưa hề có chế độ đa đảng mà chỉ có vài phe nhóm linh tinh hay nói đúng hơn là chế độ đa đảng với chữ “đảng” là “băng đảng”. Sau nhiều năm làm tổng thống, Nguyễn Văn Thiệu cho rằng nhất thiết phải có một đảng chính trị để hòng có được uy danh một tổ chức có cương lĩnh hẳn hoi hầu sánh được với Đảng Cộng Sản Việt Nam nên đã khẩn cấp tổ chức nên cái gọi là Đảng Dân Chủ, với cờ vàng sao đỏ (đối chọi với cờ đỏ sao vàng) do Nguyễn Văn Thiệu làm đảng trưởng (đối chọi với chủ tịch đảng Hồ Chí Minh) trong lễ ra mắt ồn ào rợp cờ xí năm 1973 tại tòa nhà sát bên nơi nay là trụ sở Ủy Ban Nhân Dân Quận Bình Thạnh. Kỳ dư chỉ là những “liên danh tranh cử” của các tên tài phiệt, nhân sĩ “xôi thịt”, trí thức nửa vời, tu sĩ hổ mang, tay sai Mỹ, bất tài về kinh tế, bất lực về quân sự, dẫn đến sự thất bại nhục nhã khi các tổng thống nối đuôi nhau khóc lóc trên đài truyền hình quốc gia, run rẩy giàn giụa nước mắt thề tử thủ trước khi ôm vàng trốn chạy, còn quân đội vứt bỏ cả quân trang quân dụng và quân phục tháo chạy tán loạn.

Người dân Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam biết rất rõ rằng “tự do đa đảng” kiểu Mỹ áp dụng ở Đông Nam Á hoàn toàn là “độc-đảng-có-sự-ủng-hộ-của-Mỹ” như vết xe đổ của Philippines, Indonesia, v.v.; đồng thời, “tự do dân chủ” dưới sự bảo trợ của Mỹ luôn đồng nghĩa với độc tài gia đình trị tàn bạo và phản dân chủ như phiên bản các “đồng minh” khủng khiếp của Mỹ mà cụ thể là các tên tổng thống “độc đảng độc tài” như Ferdinand Marcos (Philippines), Suharto (Indonesia), Park Chung-hee (Hàn Quốc), Ngô Đình Diệm (Việt Nam Cộng Hòa), Nguyễn Văn Thiệu (Việt Nam Cộng Hòa), v.v., mà hiện nay là Husni Mubarak (Ai Cập) đã cai trị cùng kiểu và bị lật đổ cùng với sự dấy lên của phong trào chống Mỹ và/hoặc chủ nghĩa cực đoan gây bất ổn triền miên trên toàn thế giới.

Do đó, người dân Việt Nam chân chính, biết tự trọng, có tính hào hùng dân tộc, và hiểu biết sâu sắc về chính trị sẽ không bao giờ đặt vấn đề về đa đảng hay có nhu cầu đối với đa đảng.

Người Việt chân chính và có học thức đều biết rằng Hoa Kỳ và Việt Nam đều độc đảng, với điểm khác nhau duy nhất là đảng ở Việt Nam ở dạng sinh học nhất thể, còn đảng ở Hoa Kỳ là dạng sinh năm sinh ba sinh mười giống nhau như đúc do tự phân thân kiểu vi trùng để hoạt động giống y nhau bằng những cơ thể khác nhau, phục vụ cho mục đích không khác nhau.

Người Việt chân chính và có học thức đều biết rằng Hoa Kỳ và phe người Việt chống cộng hiểu rất rõ là họ đang sử dụng chiêu bài công kích cộng sản độc đảng chỉ với mong muốn tiêu diệt cộng sản, hình thành một xã hội độc-đảng-không-cộng-sản mà thôi, như những cuộc tiêu diệt cộng sản và chụp mũ cộng sản lên đầu phe đối lập đã luôn xảy ra dưới thời Suharto, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu cùng những tên tương cận khắp thế giới.

Người Việt chân chính và có học thức muốn đất nước được lãnh đạo bởi một đảng chính trị có thực tài để không phải chứng kiến trò hề tranh cử như ở Mỹ và sự rối loạn chính trị như ở Thái Lan. Đảng phái chính trị ở Việt Nam Cộng Hòa hoặc hữu danh vô thực, hoặc bất tài vô dụng, nên không bao giờ là mong muốn có tồn tại của người dân. Đảng phái chính trị “tương lai” mà những tên nhóc con vô danh tiểu tốt điên rồ như Lê Công Định [3] hay Cù Huy Hà Vũ [ 4] hoặc những tên lưu manh mặc áo chùng đen hay cà sa điên loạn muốn thành lập dù bất tài vô dụng về chính trị, ngu dốt về trị quốc, và chà đạp giáo lý đấng Chí Tôn không bao giờ được người dân Việt Nam chân chính yêu nước cho phép hình thành.

5) L‎ý do thứ năm: Người Dân Việt Nam Hài Lòng Với Và An Tâm Dưới Sự Lãnh Đạo Của Đảng Cộng Sản Việt Nam

6) Lý do cuối cùng và là lý do quan trọng nhất: Sự Tồn Tại Của Việt Nam

Mỹ kiêng sợ Trung Quốc đến độ nhiều chục năm qua không bao giờ dám gọi đồng minh Đài Loan là quốc gia. Thái Lan kiêng sợ Trung Quốc. Thế giới kiêng sợ Trung Quốc. Trung Quốc không sợ bất kỳ quân đội nào của thế giới. Trung Quốc chiếm Hoàng Sa đánh tan các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa ngay trước mũi Đệ Thất Hạm Đội hùng hậu của Hoa Kỳ. Trung Quốc chỉ sợ quân đội của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Bọn đòi đa đảng là nhằm xóa sổ Đảng Cộng Sản Việt Nam. Người dân Việt Nam biết rằng xóa sổ Đảng Cộng Sản Việt Nam đồng nghĩa với thủ tiêu tất cả các tướng lĩnh Cộng Sản của quân đội Việt Nam, và làm tan rã quân đội Việt Nam. Người dân Việt Nam biết rằng Trung Quốc không trông mong gì hơn là Việt Nam có đa đảng, vì ngay khi bọn đa đảng xóa sổ được Đảng Cộng Sản Việt Nam, Trung Quốc sẽ xua quân đánh chiếm toàn bờ cõi Việt Nam và chiếm Việt Nam trong vòng 8 giờ làm việc của một ngày làm việc.

Người Việt chống cộng hay rêu rao Đảng Cộng Sản Việt Nam làm tay sai cho “giặc” Trung Quốc mà không đủ trí tuệ để hiểu rằng chính những hành vi chống Việt Nam của họ mới làm hài lòng mấy anh “giặc” ấy.

Hoa Kỳ thiếu ánh sáng trí tuệ nếu tài trợ dưỡng nuôi các phe nhóm chống Việt Nam Cộng Sản, vì chỉ có quân đội của Đảng Cộng Sản Việt Nam mới có thể ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc xuống vùng Đông Nam Á, không cho Trung Quốc uy hiếp Châu Úc, không cho Trung Quốc đặt dấu chấm hết cho sự ngự trị tung hoành của các hạm đội Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương.

Cộng sản không bao giờ có thể bị tiêu diệt; do đó, sự trỗi dậy của đa đảng đồng nghĩa với nội chiến, tàn phá đất nước, tàn diệt dân tộc, và tạo điều kiện cho Trung Quốc xóa sổ Việt Nam.

Ngoài sáu lý do đơn giản cực kỳ bình dân dễ hiểu và dễ nhớ trên còn có vô số các lý do khác, chẳng hạn (a) thế giới đang đánh giá cao về sự ổn định chính trị (do độc đảng đem lại) ở Việt Nam, nên Việt Nam dứt khoát kiên trì độc đảng để không làm thất vọng các nhà đầu tư quốc tế; (b) thế giới tư bản biến loạn với sự suy thoái kinh tế toàn cầu và các chủ thuyết của Karl Marx được Châu Âu quan tâm tái nghiên cứu tìm cách cứu thân trong khi Việt Nam đã nhuần nhuyễn áp dụng sáng tạo nên không lý do gì phải đi theo con đường đa đảng vô hiệu và thất bại của Âu Mỹ; hay (c) ngay cả Chính Phủ Hoa Kỳ cũng phải nhìn nhận vai trò quan trọng chiến lược của Việt Nam, đất nước độc đảng, trong an ninh khu vực và quốc tế, v.v.

Lời kết luận sẽ rất đơn giản, như lời lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nói:

“Việt Nam Không Cần Đa Đảng.”

Hoang Huu Phuoc, MIB

* Tựa đề do kenminhthien.net đặt.

[nguồn: http://my.opera.com/thanhniendatviet/blog/2012/09/29/da-dang]

Danh sách các cty được Sở Công thương TP.HCM cấp phép:

  1. Công ty TNHH Tân Hy Vọng
  2. Công ty TNHH Mỹ phẩm Trường Xuân
  3. Công ty TNHH Thế giới Toàn Mỹ
  4. Công ty TNHH Thương mại Lô Hội
  5. Công ty TNHH TM-DV Vĩnh Nhật Quang
  6. Công ty TNHH No Ni Vi Na
  7. Công ty TNHH TM – XNK Huy Hồng
  8. Công ty Cổ phần Kim Đô
  9. Công ty cổ phần quốc tế Việt – Am
  10. Công ty TNHH TM-SX Hưng Thời Đại
  11. Công ty TNHH Bảo Lan Thiên Sư
  12. Công ty TNHH sản xuất TM-DV Ai On
  13. Công ty TNHH MTV Nam Trường Giang
  14. Công ty TNHH MTV XNK Vi Na Linh
  15. Công ty TNHH quốc tế Đa Bảo
  16. Công ty TNHH MTV TM-DV Kỳ Diệu

3 công ty đã bị thu hồi giấy phép:

  • Công ty cổ phần Sinh Lợi
  • Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ Du lịch Ích Lợi
  • Công ty TNHH Sản xuất Thương mại quốc tế Thượng Thống

Danh sách các công ty bán hàng đa cấp có khai báo hoạt động trên địa bàn TP.HCM

  1. Công ty TNHH Mỹ phẩm Avon (Việt Nam)
  2. Công ty TNHH Tầm nhìn Việt Nam
  3. Công ty TNHH Ánh Sáng T.I.A.N.S.H.I
  4. Công ty TNHH Thiên Ngọc Minh Uy
  5. Công ty Cổ phần Liên Kết Tri Thức
  6. Công ty TNHH Thương mại Yahgo
  7. Công ty cổ phần tập đoàn Liên Kết Việt Nam
  8. Công ty CP đầu tư và phát triển quốc tế Monjoin VN
  9. Công ty TNHH Amway Việt Nam

Danh sách các công ty do các bạn SV từ nhiều trường nhận dạng

  • Ignite
  • SIC
  • Ngọn Lửa Vàng
  • Khởi Minh
  • Duy Tân
  • Thái Bình Dương
  • Seven Group
  • SuperStorm
  • Kết Nối Việt
  • K-Link
  • Vision
  • Happy dolls
  • EMT.vn
  • Dai Viet
  • FNG
  • Tân Trường Sanh
  • Gso_media
  • Thuc pham chuc nang Herbalife
  • Oriflame
  • KOREA LIFE INSURANCE VIET NAM
  • Công ty Tài chính Quốc tế Mỹ
  • CÔNG TY SAPPHIRE LIGHT
  • Tập Đoàn Tài Chính Châu Á
  • CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN – ĐẦU TƯ THẢO NGUYÊN
  • Công Ty Cổ Phần Hoàng Giang
  • CÔNG TY CP QUẢN LÝ QUỸ ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH VN
  • HANWHA Corporation(KOREA LIFE INSURANCE VIET NAM)
  • ĐẠI DIỆN CÔNG TY AIGLIFE 100% VỐN HOA KỲ
  • CÔNG TY TNHH TƯ VẤN VÀ ĐẦU TƯ TÀI CHÍNH
  • Công ty TNHH L.U.X
  • Agency / American International Assurance Limited Company
  • Công Ty Cổ Phần TMSX Tân Úc Việt

Danh sách các địa chỉ mà các cty bán hàng đa cấp hay sử dụng:

Array:
  • 22 đường Phạm Thận Duật,CG,HN
  • 77 vương thừa vũ (gần ngã tư sở)
  • Tập đòan tài chính Cathay 266 Đội Cấn, Ba Đình, Hà Nội
  • Tập đoàn tài chính Hàn Quốc 102 Thái Thịnh – Ba Đình – HN
  • TNHH dịch vụ tài chính Mặt Trời Toà nhà AGRIBANK Đội Cấn – Ba Đình – Hà nội
  • 83 phố cự lộc (gần siêu thị pico plaza ,ngã tư sở)
  • 391 Điện Biên Phủ, P.4, Q.3, TPHCM
  • 909 đường Nguyễn Kiệm P3 Gò Vấp TpHCM
  • 144A Bạch Đằng F.2 Q.Tân Bình TpHCM
  • 19 phố cự lộc (gần siêu thị pico plaza ,ngã tư sở)
  • 13 Công ty TNHH thương mại YMG Việt Nam Km 9+500 Nguyễn Trãi Thanh Xuân HN
  • 9 ngõ 36 phố nguyễn viết xuân, Hà Nội
  • 605 Nguyễn Kiệm,Phường 3 ,GÒ VẤP , TpHCM
  • 9 ngõ 36 phố nguyễn viết xuân-Thanh xuân_Hà Nội
  • 349- Đội cấn – Ba đình – Hà nội
  • 262 Thanh Xuân Hà Nội
  • 274 Bạch Đằng, Q. Hoàn Kiếm, Hà Nội
  • Số 8 ngõ 129 Trương Định – HN
  • Số nhà 5 ngõ 218/2 đường Trần Duy Hưng, quận Cầu Giấy, Hà Nội
  • 909 Đường Nguyễn Kiệm Q Gò Vấp P3 TpHCM
  • 21 Thăng Long, phường 4, Tân Bình TpHCM
  • 100 Nguyễn Văn trỗi P8 Q Phú Nhuận TpHCM
  • Số 69 – Tổ 50 – TT Tổng Cục Chính Trị – Phố Trung Kính – Yên Hoà – Quận Cầu Giấy – Hà Nội
  • 37A Dương Khuê P.Hiệp Tân Q.Tân Phú TpHCM
  • 46-48-50 – Phạm Hồng Thái – Quận 1 – TPHCM
  • 36/495 Nguyễn Trãi – Thanh Xuân – HN
  • Tòa nhà Hà Thành 102 Thái Thịnh – HN
  • Số 145 nghách 162 ngõ 72, Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội
  • Số 864 ngõ 850 Đường Láng – HN
  • Số 10 Trần Phú – Hà Đông
  • 88 Hai Bà Trưng – Hà Nội
  • 256 Đường Bưởi, Ba Đình – HN
  • 850 Đường Láng-Đống Đa-HN
  • 72/8 Trương Quốc Dung P.10 Q.Phú Nhuận TpHCM
  • Lô 5 Đền Lừ – Hoàng Mai – Hà Nội
  • 31C Tràng Thi – HN
  • 84B Trần Quốc Toản, Phường 8, Quận 3, TPHCM
  • 106 – Hoàng Quốc Việt – Cầu Giấy – Hà Nội
  • 21 Thăng long – P.4 – Q.Tân bình – TP Hồ Chí Minh
  • 100-102 Nguyễn Văn Trỗi Q.Phú Nhuận TPHCM
  • số 9, ngõ 1, Trần Quý Kiên ( cạnh KFC 372 Cầu Giấy )
  • 4 Quách Văn Tuấn, Q.Tân Bình, TPHCM
  • Số 1-2, Lô L, Khu biệt thự Mê Linh, P. Anh Dũng, Q.Dương Kinh, Hải Phòng.
  • Số 75 Lương Thế Vinh – Thanh Xuân – Hà Nội
  • 30 – 32 Hòa Mã, Hai Bà Trưng, HN
  • Số nhà 145 Ngõ 46 Nguyễn Trãi – Thanh Xuân – HN
  • 124 Đào Duy Anh – P9 – Q. Phú Nhuận – TpHCM
  • 26 Phùng Khắc Khoan – HBT – Hà Nội
  • 62-64 Tôn Đức Thắng – Lê Chân – Hải Phòng
  • 167 Bùi Thị Xuân – Hà Nội
  • Số 3 ô 4 Lô 4A khu đô thị Đền Lừ 2 – Hoàng Mai – Hà Nội

Cẩn trọng, tin tưởng vào các lời chào mời hảo này là rất nguy hiểm

Nguồn bài viết từ: http://sinhviennganhang.com/diendan/showthread.php?t=77711#ixzz27h5gWBLM

TÂM SỰ VUI BUỒN CỦA SỐ CÁN BỘ CHIẾN SỸ CẢNH SÁT BIỂN
“Chúng tôi yêu cầu tàu cá dừng hành động vi phạm và rời ngay vùng biển Việt Nam!” – Đó là mệnh lệnh các chiến sĩ Cảnh sát biển Vùng 2 thường xuyên dùng đến để xua đuổi hàng trăm tàu nước ngoài xâm phạm chủ quyền lãnh hải.

CÁN BỘ CHIẾN SỸ CẢNH SÁT BIỂN VIÊT NAM TẠI TRƯỜNG SA

Đến Trường Sa thân yêu

Trong phòng khách trên con tàu Cảnh sát biển 6006 treo một tấm huân chương ở vị trí trang trọng. Các cán bộ trên tàu cho biết: Trước đó, chiếc tàu này thuộc lực lượng hải quân và biên chế qua lực lượng Cảnh sát biển. Nhiều năm trụ bám ở Trường Sa, trong đó có DK1, chính vì vậy, con tàu này gắn với biết bao câu chuyện vui buồn của các chiến sĩ trên biển khơi.

Các chiến sĩ cảnh sát biển vùng 2 tuần tra trên biển.
Khi ra Trường Sa, anh em trong đội tàu Cảnh sát biển thường đến thăm các gia đình đang sinh sống trên đảo. Một chiến sĩ tâm sự: “Nhìn vào khuôn mặt những em thơ trong các gia đình, chúng em cảm thấy sự gian nan của mình thật chẳng đáng là bao. Anh em như được tiếp thêm nghị lực để bảo vệ biển khơi”.

Trong những chuyến hải trình này, tàu Cảnh sát biển luôn quét radar để quan sát một vùng biển rộng lớn thuộc chủ quyền của VN. Tháng 4 năm 2011, anh em trên tàu đã phát hiện một số tàu nước ngoài đang đánh bắt cá trên vùng biển thuộc chủ quyền của VN.

Thượng úy Vũ Đức Tuyên nhấn ga, con tàu gầm lên như một con kình ngư, lao nhanh về phía mục tiêu. Khi áp sát tàu ngư dân Trung Quốc, loa trên tàu phát đi thông điệp bằng một số tiếng nước ngoài: “Giải quyết các vấn đề tranh chấp trên biển bằng biện pháp hòa bình, chúng tôi yêu cầu dừng ngay hành động vi phạm và rời ngay khỏi vùng biển VN…”.

Khi bắt và xử lý tàu Trung Quốc, các chiến sĩ thường giáo dục, nhắc nhở, và buộc các ngư dân vi phạm phải rời ngay khỏi vùng biển VN. Biện pháp xử lý vừa lý, vừa tình, thể hiện chính sách nhân đạo của người lính Cụ Hồ.

Theo đại tá Nguyễn Quang Trung – Chỉ huy trưởng Vùng Cảnh sát biển 2, trước tình hình các tàu cá của ngư dân đánh bắt trên vùng biển VN, đặc biệt là vùng biển Hoàng Sa luôn bị các tàu nước ngoài xua đuổi, bắt giữ, tịch thu hải sản, lực lượng Cảnh sát biển phối hợp với các lực lượng chức năng tăng cường hoạt động tuần tra trên biển và tổ chức các điểm trực ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, đảo Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quý.

Đặc biệt, từ ngày 1.6, Cảnh sát biển vùng 2 đã điều một tàu túc trực thường xuyên 24/24 ở Cồn Cỏ (Quảng Trị). Từ khi có tàu túc trực tại đây, qua theo dõi trên radar, lực lượng Cảnh sát biển không phát hiện tàu nước ngoài xâm phạm vào vùng biển này. Hiện đơn vị cũng triển khai 1 tàu nữa túc trực thường xuyên tại Lý Sơn (Quảng Ngãi) để cơ động trong mọi tình huống, giúp ngư dân yên tâm đánh bắt hải sản.

Tuần trăng mật trên biển

Tại vùng 2 Cảnh sát biển, từ chỉ huy đến các chiến sĩ, phần lớn đều quê tận đất Bắc đến đóng quân nơi dải đất miền Trung xa xôi. Chính vì vậy, mỗi người lính đều có những câu chuyện riêng về mái ấm nơi quê nhà.

Trong một chuyến đi Trường Sa, thiếu úy Hoàng Văn Sáu, nhân viên máy tàu, quê ở Quảng Xương, Thanh Hóa, nhận được tin người mẹ già ở quê lại lên cơn đau tim. Chỉ kịp gọi điện về nhà động viên gia đình đưa mẹ vào viện cấp cứu, thiếu úy Sáu lên tàu nhổ neo ra khơi. Ngày tàu cập bến, được sự cho phép của cấp trên, anh mới tất tả mang món quà của chỉ huy và anh em đơn vị đón xe về quê thăm mẹ.

Nhiều chiến sĩ tâm sự: Khi ra vùng biển Trường Sa rộng mênh mông, mỗi khi nhìn thấy một chiếc tàu của ngư dân Việt Nam đánh cá treo lá cờ đỏ sao vàng, lòng ai cũng phấn chấn. Và ở vùng biển Trường Sa, những người lính biển thường gặp những chiếc tàu cá mang biển số Quảng Ngãi. Họ như những cột mốc chủ quyền trên biển.
Có gia đình thấy con đóng quân biền biệt ở miền Trung, một năm về phép một lần nên lo sắp chuyện tơ duyên cho con. Tết năm 2011, thiếu úy Phan Văn Trung, nhân viên pháo và thiếu úy Trần Văn Quân, nhân viên máy của tàu 4033 về quê ở tận Nghệ An để ăn tết và thực hiện lời hẹn ước với người thương. Khi hai chàng lính biển về quê thì mọi đồ sính lễ của nhà trai đã sắp đủ, bố mẹ cùng con sang nhà gái rước dâu.

Đám cưới xong, tuần trăng mật mới được 3 ngày thì có lệnh đi biển khẩn cấp. Vậy là 2 chàng lính biển phải chia tay người vợ trẻ, khoác ba lô quay trở lại dải đất miền Trung, nơi có con tàu đang chuẩn bị nhổ neo ra khơi làm nhiệm vụ. Những ngày trên biển, 2 chàng lính trẻ vẫn còn lâng lâng men say của hạnh phúc.

Trong hành trang của Thuyền trưởng Tuyên cũng có những tấm ảnh của mái ấm gia đình của anh. Quê ở Quảng Ninh, hàng ngày, chị vừa đi dạy, vừa chăm sóc đứa con trai kháu khỉnh 2 tuổi. Ở dải đất miền Trung xa xôi, thỉnh thoảng anh thăm vợ qua… điện thoại. Là thuyền trưởng, trách nhiệm đứng mũi chịu sào càng lớn, người thuyền trưởng này càng phải gác niềm riêng cho anh em noi theo.

“Kiên quyết dũng cảm – Khắc phục khó khăn – Đoàn kết hợp đồng – Giữ nghiêm kỷ luật” – đó chính là phương châm của những người lính Cảnh sát biển. Phương châm đó giúp các anh vững vàng tay súng trên biển cả, không mắc mưu trước sự khiêu khích của kẻ địch.
Nguồn: Dân Việt

Là một tôn giáo lớn trên thế giới, đạo Tin lành đã có mặt ở Việt Nam hơn 100 năm. Trong quá trình tồn tại và phát triển ở Việt Nam, Tin lành đã chọn lựa các hình thức hoạt động mềm dẻo, giáo lí và lễ nghi được đơn giản hoá, quần chúng hoá.

Ở nhiều nơi đạo Tin lành đã thích nghi dễ dàng với phong tục tập quán của người địa phương, số lượng tín đồ đạo Tin lành ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, những ảnh hưởng của nó tới đời sống chính trị xã hội, tâm lý lối sống, phong tục tập quán… đang đặt ra nhiều vấn đề khá phức tạp và nhạy cảm.

Dưới đây là bài viết khái quát một số đặc điểm lịch sử về đạo Tin lành ở Việt Nam và những vấn đề đặt ra hiện nay.

1. Sự hình thành đạo Tin lành và một số đặc điểm nhận biết

1.1 Sự hình thành đạo Tin lành

Nếu so sánh với các tôn giáo lớn trên thế giới như Phật giáo, Công giáo hay Hồi giáo thì Đạo Tin lành ra đời muộn hơn cả. Tuy nhiên, kể từ khi ra đời cho đến nay, đạo Tin lành đã phát triển rất mạnh, trở thành một tôn giáo quốc tế với khoảng 550 triệu tín đồ, gần 300 hệ phái tổ chức khác nhau và có mặt trên nhiều quốc gia.

Vào khoảng đầu thế kỷ XVI ở Châu Âu diễn ra sự phân biệt trong đạo Ki tô, dẫn tới việc ra đời của đạo Tin lành. Thực chất đó là cuộc cải cách tôn giáo và chính trị xã hội sâu sắc. Đạo Tin lành là kết quả của sự khủng hoảng đến mức trầm trọng về uy tín của Công giáo do những tham vọng quyền lực trần thế, sự sa sút về đạo đức của hàng giáo phẩm; là kết quả của sự lúng túng, bế tắc của nền thần học kinh viện thời trung cổ; là kết quả đầu tiên mà giai cấp tư sản mới ra đời giành được trong cuộc đấu tranh chống  lại giai cấp phong kiến mà chỗ dựa tư tưởng của giai cấp này là đạo công giáo.

Phong trào cải cách tôn giáo nổ ra đầu tiên ở Đức. Người khởi xướng và trở thành lãnh tụ nổi tiếng của phong trào này là Matin Luther. Ông là người đã bỏ dở chương trình Đại học Luật Erfurt để quyết định “dâng mình cho Chúa” rồi tu tại dòng Oguxtino. Sau đó Luther trở thành giáo sư, tiến sĩ thần học của truờng Đại học tổng hợp Wittenberg. Khi có dịp sang Rôma, Luther đã hoàn toàn thất vọng vì tận mắt chứng kiến đời sống xa hoa trần tục của số đông giáo sỹ. Với sự kiện này ông đã nhen nhóm những ý tưởng cải cách tôn giáo. Sau đó Luther đã công bố 95 luận đề với nội dung phê phán kịch liệt việc lợi dụng danh thánh để bóc lột dân chúng, lên án chức vụ giáo hoàng và giáo quyền Rôma…

Những quan điểm của Luther đã được đông đảo các tầng lớp nhân dân Đức ủng hộ, nhất là các công hầu quý tộc. Đến năm 1532, trước sự lớn mạnh của phong trào này, hoàng đế Đức đã phải thừa nhận sự tự do hoạt  động của đạo Tin lành.

Thụy Sĩ cũng là trung tâm lớn thứ hai của cuộc cải cách tôn giáo gắn với tên tuổi của Jean Calvin. Ông là người Pháp, đã từng theo học thần học và luật học  bằng học bổng của giáo hội Công giáo nhưng do hưởng ứng phong trào cải cách của Luther nên bị trục xuất khỏi Pháp và sinh sống ở Thuỵ Sĩ. Calvin đã nghiên cứu và hình thành một giáo thuyết riêng đồng thời cải cách về lễ nghi, giáo hội làm chuẩn mực cho phần lớn các hệ phái Tin lành đi theo…

Từ trung tâm Đức và Thuỵ Sĩ, phong trào cải cách tôn giáo phát triển nhanh chóng sang Pháp, Scotlen, Ireland, Hà lan, Anh , Nauy, Đan mạch… Đến cuối thế kỷ XVI đã hình thành một tôn giáo mới tách hẳn khỏi đạo Công giáo. Trong quá trình phát triển của mình, đạo Tin lành đã hình thành rất nhiều hệ phái khác nhau như Trưởng lão, Menhônai, Moóc Mông, Ngũ tuần, Giám lý, Thanh giáo và Giáo hội cộng đồng, Cơ đốc Phục lâm, Giáo hội thống nhất, Môn đệ đấng Chrits, Hội  Liên hiệp Phúc âm truyền giáo…

1.2. Đặc điểm nhận biết của đạo Tin lành

Đạo Tin lành có nhiều tổ chức hệ phái mặc dù có những dị biệt về giáo thuyết, nghi thức hành đạo và cách tổ chức giáo hội nhưng nhìn chung đều thống nhất ở những nội dung, nguyên tắc chính. Có thể khái quát và so sánh với đạo Công giáo:

Trước hết về thần học: Đạo Tin lành là một nhánh của Kitô giáo nên cũng lấy kinh thánh Cựu ước và Tân ước làm nền tảng giáo lý. Khác với Công giáo, Tin lành đề cao vị trí kinh thánh, coi đó là chuẩn mực căn bản duy nhất của đức tin và sự hành đạo, nhưng không coi kinh thánh là cuốn sách của riêng giáo sĩ mà tất cả các tín đồ, giáo sĩ đạo Tin lành đều đọc, sử dụng, nói và làm theo kinh thánh.

Đạo Tin lành cũng thờ Thiên chúa và thừa nhận chúa 3 ngôi: Cha, Con, Thánh thần; tin muôn vật đều do thiên chúa tạo dựng. Nhưng trong tín điều về Đức Bà hoài thai chúa GiêSu một cách mầu nhiệm, đạo Tin lành cho rằng Chúa chỉ mượn lòng bà Maria làm nơi sinh thành chứ Maria không thể là mẹ của Chúa dù theo bất cứ nghĩa nào, thậm chí sau khi sinh ra GiêSu, Maria không còn đồng trinh nữa và còn sinh rất nhiều con cái: Giacôp, Giôdep, Ximôn, Gruđa… Chính vì thế họ phản đối mọi sự thờ phụng bà Maria.

Là một tôn giáo đặc biệt đề cao lý trí trong đức tin. Do đó, luật lệ, lễ nghi, cách thức hành đạo của Tin lành đơn giản, không cầu kỳ rườm rà. Đạo Tin lành không thờ các tranh ảnh, hiện tượng cũng như dị vật phản đối việc hành hương đến các thánh địa. Trong 7 phép bí tích của đạo Công giáo, đạo Tin lành chỉ thừa nhận và thực hiện phép rửa tội và phép thánh thể. Nếu tín đồ đạo Công giáo xưng tội trong toà kín với linh mục là hình thức chủ yếu nhất thì tín đồ đạo Tin lành khi xưng tội và cầu nguyện có thể đứng giữa nhà thờ, đám đông để sám hối hoặc nói lên ý nguyện  của mình một cách công khai. Thánh đường của đạo Tin lành thường có kiến trúc hiện đại, đơn giản. Trong thánh đường chỉ có duy nhất cây thập giá, biểu tượng của Chúa GiêSu bị nạn.

Về nhân sự, đạo Tin lành cũng có giáo sĩ như công giáo. Giáo sĩ đạo Tin lành có hai chức: mục sư và giảng sư, không áp dụng luật độc thân như giáo sĩ đạo Công giáo. Và có một điều đặc biệt là giáo sĩ Tin lành có nhiều người là nữ. Các giáo sĩ tuy cũng được coi là người chăm sóc linh hồn cho tín đồ nhưng không có quyền thay mặt Chúa để ban phúc hay tha tội cho con chiên.

Về phương diện tổ chức, đạo Tin lành không lập ra tổ chức giáo hội mang tính chất phổ quát cho toàn đạo mà đi theo hướng xây dựng các giáo hội riêng rẽ, độc lập với những hình thức khác nhau theo từng hệ phái, từng quốc gia. Trong tổ chức giáo hội, các hệ phái Tin lành chủ trương giao quyền tự trị cho các giáo hội cơ sở, chi hội, các cấp giáo hội bên trên hình thành phù hợp với điều kiện hoàn cảnh cho phép. Giáo hội Tin lành không cấu thành bởi các vị giáo sĩ một cách cố định như Công giáo mà cả tín đồ, giáo sĩ tham gia thông qua bầu cử một cách dân chủ…

Nhìn chung, có thể thấy sự cải cách của Tin lành về cách thức hành đạo cũng như tổ chức giáo hội chịu ảnh hưởng đậm nét của tư tưởng dân chủ và khuynh hướng tự do cá nhân, giảm thiểu và bớt đi sự linh thiêng về luật lệ, lễ nghi, cơ cấu tổ chức của đạo Công giáo. Sinh hoạt tôn giáo không lệ thuộc nhiều vào việc lễ bái, nơi thờ tự, chức sắc… Người ta khó có thể đánh giá mức độ và nhu cầu tín ngưỡng của tín đồ Tin lành qua việc họ có đến nhà thờ tham dự các sinh hoạt tôn giáo hay không. Đối với tín đồ Tin lành, nếu có đức tin thì ở tại gia đình với quyển kinh thánh, họ có thể chu toàn bổn phận của một tín đồ.

Với lối sống đạo nhẹ nhàng đơn giản, không rườm rà và ràng buộc khắt khe như đạo Công giáo, lại đề cao tinh thần dân chủ trong các hoạt động về tổ chức nên đạo Tin lành là một tôn giáo có màu sắc mới mẻ, thích hợp với lối sống của giai cấp tư sản, tiểu tư sản, công chức thị dân nói chung trong xã hội công nghiệp. Ngày nay, người ta dễ dàng nhận thấy những nước có nền công nghiệp tiên tiến là những nước có đông người theo đạo Tin lành như Thụy Điển, Nauy, Đan Mạch, Đức, Anh, Hà Lan, Mỹ…

Bên cạnh đó, cũng có thể  nhận thấy rằng  Tin lành ra đời khi các tôn giáo lớn đã tạo được nhiều hình ảnh ở những địa bàn nhất định. Ví dụ như Phật giáo ở Châu Á, Công giáo ở Châu Âu, Hồi giáo ở Trung cận đông… Trước thực tế đó, Tin lành một mặt nỗ lực lôi kéo Công giáo ở Châu Âu, mặt khác tìm đến vùng xa xôi hẻo lánh để phát triển đạo. Ở những vùng này, đạo Tin lành không chỉ khai thác lợi thế là một tôn giáo có lối sống đạo đơn giản, đề cao dân chủ và vai trò cá nhân mà còn nghiên cứu rất kỹ đặc điểm văn hoá tâm lý, lối sống của từng dân tộc ở những vùng này để có phương thức phù hợp. Đặc biệt những nơi có phong tục tập quán lạc hậu, Tin lành xuất hiện với những điều mới lạ và tiến bộ lôi kéo người tin theo và trong những trường hợp đó đạo Tin lành phát triển rất nhanh. Vậy đối tượng tín đồ của Đạo Tin lành ngoài tầng lớp trí thức thị dân còn là dân tộc thiểu số.

Mặc dù được đánh giá là một tôn giáo “tiến bộ”, “năng động” và dễ thích nghi nhưng vì đạo Tin lành đề cao vai trò của kinh thánh, thậm chí có một số hệ phái Tin lành tỏ ra rất bảo thủ, không chấp nhận những điều gì trái với kinh thánh nên dẫn đến sự phản ứng đối kháng với văn hoá tín ngưỡng truyền thống của các tín đồ ở những nơi đạo Tin lành truyền bá.

2. Đạo Tin lành ở Việt Nam

2.1. Đặc điểm lịch sử

Với những đặc điểm riêng về địa lý, lịch sử, văn hoá, dân cư… Việt Nam là một quốc gia có nhiều tôn giáo và loại hình tín ngưỡng. Trước khi đạo Tin lành được truyền vào, Việt Nam đã có các tôn giáo lớn như Phật giáo, Lão giáo, Công giáo. Đạo Tin lành có mặt ở  Việt Nam vào những năm cuối thế kỷ XIX do tổ chức Tin lành Liên hiệp phúc âm và truyền giáo Mỹ (CMA) truyền vào. Tổ chức này đã cử nhiều mục sư sang Việt Nam để tìm hiểu và thăm dò: Mục sư Tiến sĩ A.B Sumpsm (1887); D.Leclacher (1893); C.H Reves (1897); R.A Jaffray (1899); S.Dayan (1901)… Đến năm 1911, CMA đã cử R.A.Jaffray, Paul.M.Husel, G.LoyHugher đến Đà Nẵng lập Hội thánh đầu tiên. Đây là sự kiện đánh dấu mốc cho sự truyền bá đạo Tin lành vào Việt Nam. Từ cơ sở ở Đà Nẵng, các giáo sĩ hội truyền giáo mở thêm một số cơ sở khác ở những vùng lân cận như: Hội An, Tam kỳ, Đại Lộc… và cử người dân đi truyền đạo ở Bắc kỳ và Nam kỳ với các hoạt động chủ yếu là: dịch kinh thánh, lập nhà in và mở trường đào tạo mục sư truyền đạo.

Tuy nhiên, chính quyền Pháp ở Việt Nam không ưa đạo Tin lành, họ lo ngại ảnh hưởng của Mỹ thông qua việc phát triển đạo Tin lành. Do đó đạo Tin lành trong thời kỳ này hoạt động rất khó khăn. Khi chiến tranh thế giới thứ nhất xảy ra, thực dân Pháp cho rằng các giáo sĩ Tin lành làm gián điệp cho Đức nên đã ra lệnh đóng cửa nhà thờ Tin lành và cấm các giáo sĩ Tin lành hoạt động. Ngoài ra người Pháp còn dựa vào Hoà ước 6/6/1884 chỉ cho phép Thiên chúa giáo được truyền bá vào Việt Nam. Toàn quyền Đông dương đã cho đóng cửa nhà thờ, trục xuất giáo sỹ truyền giáo CMA. Phải tới năm 1927, khi phong trào dân chủ Pháp lên cao thì những lệnh cấm này mới được huỷ bỏ. Thế nhưng trong sự cấm đoán đó, đạo Tin lành vẫn tìm mọi cách để phát triển. Tới năm 1918, CMA đã lập được 5 chi hội ở Bắc kỳ, 6 chi hội ở Trung kỳ và 5 chi hội ở Nam kỳ. Tất cả các chi hội Tin lành lúc đó đều được giấy phép hoạt động cả của khâm sứ 3 kỳ và đều lấy tên là : “Hội thánh Tin lành Đông Pháp” (MEI).

Từ năm 1924 đến năm 1927, đã có 4 Đại hội đồng của Đạo Tin lành được tổ chức. Đại hội đồng lần thứ IV ở Đà Nẵng đã bầu ra Ban Trị sự Tổng liên Hội thánh Tin lành Việt Nam do mục sư Hoàng Trọng Thừa làm Hội trưởng đầu tiên.

Trong thời kỳ chiến tranh Thế giới thứ 2, phát xít Nhật vào Đông Dương, tình hình chính trị xã hội phức tạp, Uỷ ban truyền giáo của CMA New York đã có lệnh triệu hồi tất cả các giáo sĩ rời Đông Dương. Hội thánh Tin lành Việt Nam rơi vào tình trạng suy thoái, các sinh hoạt tín ngưỡng của tín đồ cũng bị xáo trộn. Chiến tranh kết thúc, các giáo sĩ trở lại Việt Nam và các sinh hoạt của đạo Tin lành ở cả 3 miền được phục hồi.

Trải qua một quá trình truyền bá và phát triển, đến năm 1954, đạo Tin lành có khoảng 60.000 tín đồ với gần 100 mục sư truyền đạo. Trụ sở chung của giáo hội Tin lành Việt Nam được đặt tại Hà nội.

Sau Hiệp định Giơnevơ (1954), đạo Tin lành ở hai miền Nam – Bắc có sự khác nhau. Ở Miền Bắc số đông tín đồ giáo sĩ bị đế quốc Mỹ và các thế lực thù địch kích động nên đã di cư vào Nam. Những người ở lại miền Bắc đã lập tổ chức giáo hội riêng lấy tên gọi là Hội thánh Tin lành Việt Nam thường gọi là Tổng hội Tin lành miền Bắc với những hoạt động bình thường, phạm vi ảnh hưởng không lớn, số lượng tín đồ cũng tăng một cách không đáng kể. Ở miền Nam, những năm 1954 – 1975, lợi dụng cuộc chiến tranh xâm lược, đế quốc Mỹ, CMA đã lập ra Tổng liên hội thánh Tin lành Việt Nam thường gọi là Hội thánh Tin lành Việt Nam.

Giai đoạn này, đạo Tin lành ở miền Nam phát triển mạnh mẽ. Tin lành ra sức củng cố, mở rộng hệ thống tổ chức cơ sở tôn giáo, các cơ sở kinh tế văn hoá xã hội, mở rộng phạm vi truyền đạo ra nhiều địa bàn, nhất là ở Tây Nguyên. Hội thánh Tin lành miền Nam đã cho tách riêng hai “hạt” vùng dân tộc ít người ra khỏi người Kinh và lập ra “cơ quan truyền giáo người Thượng” dưới sự chỉ đạo trực tiếp của các giáo sĩ Tin lành Mỹ, đồng thời, mở cửa cho các hệ phái Tin lành, các tổ chức xã hội văn hoá, nhân đạo, từ thiện của Mỹ vào truyền đạo và xây dựng cơ sở khắp miền Nam. Hội thánh Tin lành miền Nam rất chú trọng đào tạo mục sư và truyền đạo, nâng “Trường kinh thánh” thành “Viện kinh thánh thần học” toàn miền Nam, đầu tư mở hai trường kinh thánh trung cấp cho Tây nguyên. Hội thánh Tin lành còn đưa nhiều mục sư và truyền đạo ra nước ngoài đào tạo. Giáo hội Tin lành đã thành lập hệ thống tuyên uý trong quân đội nguỵ từ Bộ Tổng tham mưu đến quân đoàn, quân khu và những đơn vị đặc biệt. Họ đã tuyển chọn và đưa gần 100 mục sư và truyền đạo vào ngụy quân.

Bên cạnh CMA, ở miền Nam còn có hệ phái Tin lành cũng từ Mỹ du nhập vào từ những năm 30 của thế kỷ XX, phát triển chủ yếu sau những năm 50, đó là phái Cơ đốc Phục lâm. Đây là phái lớn thứ hai sau CMA, có hệ thống giáo hội với hơn 10.000 tín đồ, gần 40 mục sư, 34 nhà thờ và một số cơ sở tôn giáo xã hội khác. Hội thánh cơ đốc Phục lâm còn có hơn 20 hệ phái vào truyền giáo và xây dựng cơ sở ở miền Nam như: Baptism, Pentecostim (Ngũ tuần), (Nhân chứng Giêhôva), Jehovah’s Witnesses…

Sau 1975, đất nước được hoà bình thống nhất, giáo sĩ người nước ngoài rút khỏi Việt Nam, một số giáo sỹ người Việt di tản, phạm vi và mức độ hoạt động của đạo Tin lành ở miền Nam thu hẹp lại. Hội thánh Tin lành Miền Nam còn khoảng 450 giáo sĩ, 487 nhà thờ. Các hoạt động của đạo Tin lành ở hai miền Nam Bắc vẫn tiếp tục phát triển tới năm 1990 đã có 300.000 người theo đạo Tin lành.

Những thập kỷ gần đây, các giáo phái Tin lành đã đẩy mạnh hoạt động như phục hồi các hình thức tôn giáo, phát triển tín đồ, củng cố giáo hội… Nhiều hoạt động như vận động lập lại các tổ chức cũ, quan hệ với bên ngoài… Cơ quan cứu trợ và phát triển Cơ đốc Phục lâm gần đây có thực hiện một số dự án viện trợ  nhân đạo trong lĩnh vực y tế, giáo dục, thuỷ lợi, ngư nghiệp…

Điểm lại diễn biến 100 năm đạo Tin lành vào Việt Nam, chúng ta có thể ghi nhận rằng quá trình này chịu sự tác động quá lớn của các sự kiện chính trị xã hội, nhất là khi đất nước bị chia cắt. Hội thánh Tin lành Việt Nam ngay từ đầu là một tổ chức chung nhưng sau đó lại bị chia rẽ  bởi hai tổ chức giáo hội ở hai miền với những tính chất chính trị và quy mô khác nhau. Tuy vậy, đạo Tin lành đã có cơ sở trong quần chúng ở nhiều vùng trên đất nước ta, thực tế hiện nay đã có khoảng hơn 1,2 triệu tín đồ. Đặc biệt là khoảng 10 năm trở lại đây, đạo Tin lành phát triển đột biến ở Tây Nguyên, Tây Bắc và một số vùng dân tộc thiểu số khác đang đặt ra một số vấn đề nhạy cảm, phức tạp cần được giải quyết, tháo gỡ.

2.2. Một số vấn đề đặt ra hiện nay

Có thể thấy đạo Tin lành là vấn đề nổi trội đột xuất trong các vấn đề tôn giáo ở Việt Nam.Sự hiện diện của cộng đồng Tin lành ở Việt Nam gần đây đã trở nên những điểm nóng khá phức tạp, nhạy cảm.

Trước hết đó là sự va chạm, xung đột với các tập tục gia đình, xã hội, tín ngưỡng cổ truyền và các tôn giáo khác ở Việt Nam. Đối với mỗi người Việt Nam, thờ cúng ông bà, tổ tiên, thành hoàng và những người có công với làng, nước… là sự thiêng liêng, thậm chí đã thành tiêu chí hàng đầu về đạo đức của mỗi thành viên trong gia đình, họ tộc, làng xóm. Những tập tục xuất phát từ trong  nghi lễ chịu ảnh hưởng của Nho giáo, thể hiện lòng hiếu thảo của con cái đối với ông bà, cha mẹ như giỗ chạp, ma chay, cưới xin đã góp phần vào nết đẹp văn hoá mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

Trong khi đó, đạo Tin lành là một tôn giáo độc thần, chỉ thờ phụng một đức Chúa Trời duy nhất. Tin lành vốn chủ trương triệt để phản đối việc thờ tranh ảnh, tượng thánh và nâng lên một bước nữa là chống lại việc thờ hình tượng. Điều kiện để trở thành tín đồ chính thức của đạo Tin lành là: không dự vào việc hương hoả, cúng cấp cùng các sự dị đoan, không nên dùng hoặc buôn bán các vật không hợp với tôn chỉ của đạo Tin lành như: thuốc phiện, rượu, các vật phẩm thờ cúng hình tượng.

Đạo Tin lành còn có những lí lẽ biện giải để chống đối với các tập tục gia đinh, tín ngưỡng cổ truyền như: Các ông thờ lạy tổ tiên được mấy đời? Thờ trong nhà chẳng qua được hai, ba, đời; thờ trong họ chẳng qua được đôi mươi đời, trước đôi mươi đời há không phải tổ tông xa nữa sao? Cho nên chúng tôi chỉ thờ một mình đức chúa Trời là tổ tông của chúng ta. Khi Tin lành du nhập vào Việt Nam, các nhà truyền giáo đã ra sức bài bác, tuyên chiến với hệ thống tín ngưỡng của người Việt như: xem địa lí,chọn ngày, thờ thổ công, thờ bà chúa Liễu Hạnh…

Vậy, cùng với sự phát triển của đạo Tin lành là sự thay đổi lối sống, tâm lý, tình cảm, sự phân giới về xã hội, văn hoá, tín ngưỡng  dân tộc.  Nó cũng tạo nên sự chia rẽ trong nội bộ gia đình, dòng họ, lưu tồn định kiến hoài nghi cộng sản, làm giảm sút lòng tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và  nghiêm trọng hơn là các tín đồ Tin lành dễ bị các phần tử xấu lôi kéo chống đối chính quyền, nổi loạn….Đây quả thật là những thách đố đối với chúng ta.

Hơn nữa, hiện nay các thế lực thù địch và lực lượng chống đối muốn thông qua đạo Tin lành để thực hành chủ nghĩa li khai, giải lãnh thổ. Ở Việt Nam, điều này đã trở thành hiện thực khi người ta thấy Tin lành lan toả một cách nhanh chóng ở những vùng đất “phên dậu” của tổ quốc: miền núi phía Bắc, Tây Nguyên..

Đặc biệt, sự phát triển của đạo Tin lành trong các đồng bào dân tộc thiểu ở Tây Nguyên vừa là hệ quả vừa là tác nhân của những diễn biến chính trị phức tạp trên địa bàn này thời gian gần đây. Đạo Tin lành có mặt ở Tây nguyên từ những thập kỷ 20 của thế kỷ trước, kể từ đó, nó đã kiên trì, bền bỉ chiếm cả không gian, xã hội cao nguyên, xâm thực vào buôn làng, văn hoá truyền thống và thâm nhập vào các nhóm xã hội mới xuất hiện theo đà chuyển đổi của nền kinh tế theo hướng thị trường hoá. Thí dụ: nhà thờ Tin lành thay thế cho nhà Rông trong việc đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cộng đồng của con người Tây nguyên. Lễ Noen, Phục sinh thay thế cho lễ Cơm mới, lễ Năm mới cổ truyền…

Số lượng tín đồ của đạo Tin lành ở vùng đất đỏ ba gian này ngày càng gia tăng và luôn chiếm ½ số tín đồ Tin lành cả nước. Các thế lực thù địch trên cơ sở này luôn ra sức kích thích, nuôi dưỡng chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, biệt lập li khai trong một bộ phận tầng lớp trên của các dân tộc Tây Nguyên, đồng thời lôi kéo các lực lượng này vào các phong trào bạo loạn nhằm khuynh đảo thể chế chính trị ở nước ta.

Hiện nay hùa theo chiến dịch: nhân quyền và tự do tôn giáo của chính giới Mỹ, Ksorkơk và các phần tử chính trị phản động gốc Tây Nguyên lưu vong ở Mỹ cho ra đời cái gọi là “Hội thánh Tin lành Đềga”, đòi lập nhà nước Đềga  của người Thượng. Đây là một chiêu thức lưu manh chính trị nguy hiểm lôi kéo một số tín đồ không nhỏ của Hội thánh Tin lành miền Nam, tạo nên một vụ áp phe chính trị đội lốt tôn giáo vào đầu năm 2001 và năm 2004.

Vấn đề đạo Tin lành hiện nay vẫn còn là một chủ đề “chứa chất nhiều tiềm năng” đối với các thế lực thù địch Việt Nam và các phần tử cơ hội chủ nghĩa trong chính giới Mỹ để họ khai thác trong các chiến dịch nhân quyền và tự do tôn giáo.

Với tinh thần đảm bảo và tôn trọng quyền phát triển tự do tín ngưỡng tôn giáo của công dân, nhà nước Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc giải quyết các vấn đề tôn giáo, đặc biệt là đối với đạo Tin lành. Nhà nước Việt Nam đã công nhận tư cách pháp nhân của Tổng Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) từ năm 1958 và Tổng Liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) từ đầu năm 2001. Vậy có nghĩa là chúng ta thừa nhận sự tồn tại khách quan của đạo Tin lành ở Việt Nam, từng bước đưa đạo Tin lành vào thể chế luật pháp tôn giáo để khai thác những mặt tích cực, nhưng kiên quyết ngăn chặn chống lại bất cứ một nhóm người nào lợi dụng đạo Tin lành để phá hoại sự nghiệp đoàn kết toàn dân làm hại đến nền văn hoá lành mạnh của dân tộc.

Là một tôn giáo lớn trên thế giới, đạo Tin lành đã có mặt  ở Việt Nam hơn 100 năm. Trong quá trình tồn tại và phát triển ở Việt Nam, Tin lành đã chọn lựa các hình thức hoạt động mềm dẻo, giáo lí và lễ nghi được đơn giản hoá, quần chúng hoá, ở nhiều nơi đã thích nghi dễ dàng với phong tục tập quán của người địa phương, số lượng tín đồ đạo Tin lành ngày càng gia tăng. Điều cốt yếu là tín đồ đạo Tin lành không tách rời với điều kiện lịch sử mới, tìm được nhiều phương sách đúng đắn để hoà nhập trong cộng đồng dân tộc, không đi ngược lại lợi ích của dân tộc. Chúng ta có quyền hy vọng vào một cộng đồng Tin lành ở Việt Nam “kính chúa, yêu nước” “sống phúc âm…” như đường hướng hoạt động của Hội thánh Tin lành miền Bắc và miền Nam đề ra.

_____________________________

Tài liệu tham khảo

1. Nguyễn Xuân Hùng, Về nguồn gốc và sự xuất hiện tên gọi đạo Tin lành tại Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, Số 3, 2001.

2. Nguyễn Xuân Hùng, Tìm hiểu những hệ quả của việc truyền giáo Tin lành đối với văn hoá truyền thống và tín ngưỡng tôn giáo Việt Nam, Tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, Số 1, 2001.

3. Phạm Đăng Hiển, Góp một góc nhìn về vấn đề đạo Tin lành ở Tây nguyên, Tạp chí Dân tộc học, Số 5, 2003.

4. Nguyễn Thanh Xuân, Bước đầu tìm hiểu đạo Tin lành trên thế giới và ở Việt Nam, NXB Tôn giáo, Hà Nội, 2002.

5. Nguyễn Văn Trung, Một số hiểu biết về tôn giáo ở Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1993.

TRẦN THANH GIANG (ĐH VĂN HÓA HÀ NỘI)

[Reds.vn]