Tag Archive: Chủ


Từ vấn đề Bắc Cực nhìn về vấn đề Biển Đông, chỉ có thể nói rằng đi đâu Trung Quốc cũng đòi chủ quyền một cách “hết sức vô lý” và đặc biệt là luôn mẫu thuẫn trong chính những lập luận của chính mình!

Tham vọng xâm chiếm bành trướng của Trung Quốc ngày càng thô thiển và “mất dạy”

Cơn khát năng lượng xuất hiện tại nhiều quốc gia trong bối cảnh các nước đều cần phát triển kinh tế một cách mạnh mẽ đã làm cho nhiều vùng lãnh thổ trên biển lẫn đất liền biến thành vùng tranh chấp. Không ngoại lệ, cơn khát tài nguyên này cũng đã khiến cho Trung Quốc trở nên hung hăng và liên tục có những hành động phi lý nhằm đòi chủ quyền lãnh thổ, từ biển Đông cho đến Bắc Cực.

Bắc Cực và vùng nước xung quanh hiện được coi là vùng biển quốc tế và không thuộc chủ quyền của bất cứ quốc gia nào.

Bắt đầu từ những năm 2000, Trung Quốc đã cho thành lập các cơ quan đặc biệt chuyên về Bắc Cực để thể hiện tham vọng của mình. Cụ thể, vào năm 2004, Trung Quốc đã cho xây dựng trạm nghiên cứu khoa học đầu tiên với diện tích 500m2 với 4 phòng thí nghiệm tại Spitsbergen ở Bắc Cực. Đến năm 2009 Trung Quốc lại  thành lập Trung tâm nghiên cứu khoa học vùng cực trên cơ sở cơ quan chuyên trách trước đó với số nhân lực 230 người.

Hoàn toàn có thể lí giải được những động thái này của Trung Quốc liên quan đến Bắc Cực. Theo số liệu của Viện Địa lý Mỹ đưa ra thì Bắc Cực có trữ lượng dầu thô khoảng 90 tỷ thùng, về khí đốt tự nhiên là 1,669 nghìn tỷ m3 và khí tự nhiên hóa lỏng 44 tỷ thùng. Những con số này quy ra sẽ tương ứng với 13% trữ lượng dầu mỏ trên toàn thế giới chưa được khai thác, 30% khí đốt tự nhiên và 20% khí tự nhiên hóa lỏng. Đặc biệt hơn khi lợi ích khu vực này chưa dừng lại ở dầu khí, mà còn là hải sản và nhiều loại khoáng sản khác (kim cương, mangan, đồng, coban, phốt phát, niken, aluminum, urani, gali, indi). Do đó, từng mét vuông đất ở đây đều là mục tiêu để các nước tranh giành nhằm tạo lập vị thế, hướng tới mục tiêu giành được chủ quyền tại các vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) có địa chính trị quan trọng.

Hiện nay Trung Quốc đang là nền kinh tế lớn thứ hai thế giới và là một nền kinh tế “nóng”. Việc Trung Quốc có duy trì được mức tăng trưởng kinh tế cao như hiện nay phụ thuộc rất nhiều vào lượng cung tài nguyên. Trong tương lai thì lượng tài nguyên này dĩ nhiên sẽ phụ thuộc vào nguồn tài nguyên Bắc Cực.

Chưa dừng lại ở các lợi ích tài nguyên, còn có thêm một nguồn lợi rất lớn từ Bắc Cực đó chính là tuyến đường biển đi qua Biển Bắc. Đây chính là tuyến đường biển được xem là ngắn nhất nối các cảng ở Tây Âu và Đông Á. Đây cũng chính là nơi mà lợi ích của các quốc gia xung quanh Bắc Cực và các nước phía nam như Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ và Hàn Quốc gặp nhau.

Theo dự báo của các nhà khoa học, vào mùa hè năm 2013 hoặc 2015, con đường biển Bắc sẽ được mở, và đến năm 2030 thì tuyến đường biển xuyên Bắc Băng Dương sẽ khai thông hoàn toàn.

Trung Quốc đã nộp đơn xin làm quan sát viên Hội đồng Bắc Cực từ lâu nhằm tìm kiếm tiếng nói và tính “chính danh” của mình trong việc yêu sách chủ quyền Bắc Cực. Các nhà phân tích đều dự đoán rằng trong tương lai Bắc Kinh sẽ trở nên quyết đoán và cứng rắn hơn trong vấn đề Bắc Cực.

Hiện tranh chấp chủ quyền tại Bắc Cực chủ yếu diễn ra xung quanh ở các nước giáp ranh Bắc Cực giống như Nga, Na Uy, Đan Mạch, Canada, Mỹ, Thụy Điển, Iceland, Phần Lan. Một điều lạ lùng ở đây là một quốc gia dường như chả liên quan gì về mặt địa lý như Trung Quốc lại lên tiếng đòi chủ quyền một cách trắng trợn.

Thậm chí Trung Quốc còn đặt câu hỏi và yêu cầu được làm rõ về các đòi hỏi chủ quyền của các nước thành viên trong Hội đồng Bắc Cực.

Trung Quốc còn muốn Bắc Cực cùng với các tuyến hàng hải, nguồn dầu mỏ, khoáng sản và nguồn cá tại đó phải mang quy chế lãnh thổ quốc tế, phải là di sản chung của nhân loại. Đây được xem là một đòi hỏi hết sức vô lý. Nó đặc biệt mâu thuẫn nếu không muốn nói là trái ngược hoàn toàn khi đem ra so sánh với những lập luận cho yêu sách của Trung Quốc trên Biển Đông. Khi Trung Quốc liên tục tuyên bố mình có chủ quyền “cố hữu” từ “thời xa xưa” trên Biển Đông, quyết tâm không cho các nước khác “quốc tế hóa” vấn đề này, ra sức giải quyết bằng đàm phán song phương.

Ngay tại quan điểm “quốc tế hóa” này thì Trung Quốc đã thể hiện sự vô lý của mình. Cùng một bản chất tranh chấp mà Trung Quốc lại có hai quan điểm khác nhau ở hai khu vực. Có thể giải thích rằng vì tại Bắc Cực, khi hai ông lớn như Nga, Mỹ có liên quan trực tiếp thì Trung Quốc ra sức “quốc tế hóa” vì Trung Quốc biết rõ mình bị yếu thế tại đây. Có thể thấy rằng những lập luận về chủ quyền của Trung Quốc tại Bắc Cực đã “đi ngược lại” chính những lập luận cũng của nước này tại Biển Đông.

Sự vô lý này của Trung Quốc đều được khẳng định bởi hầu hết các học giả quốc tế. Thượng nghị sĩ Joe Lieberman – Chủ tịch Uỷ ban An ninh nội địa và các vấn đề của Chính phủ Mỹ phát biểu tại Hội thảo An ninh biển Đông ở Washington rằng “Chính sách của Trung Quốc tại khu vực biển Đông thiếu những cơ sở rõ ràng dựa theo luật pháp quốc tế, gây ra sự nghi ngờ và có thể dẫn đến những tính toán sai lầm. Đây cũng chính là điều khiến cho Trung Quốc có thể sẽ ngày càng bị cô lập hơn trong khu vực cũng như trên thế giới”.

Chính quyền Trung Quốc luôn khẳng định rằng họ có chủ quyền “không thể chối cãi” trên gần như toàn bộ khu vực Biển Đông. Thế nhưng Trung Quốc luôn luôn bác bỏ các đề nghị của Việt Nam hay Philippines nhằm đưa tranh chấp ra trước tòa án quốc tế hoặc mở đàm phán đa phương về vấn đề này. Thậm chí, Trung Quốc còn né tranh đưa vấn đề Biển Đông ra hội đàm tại các hội nghị mang tầm cỡ quốc tế. Cụ thể, tại hội nghị ARF diễn ra vào 12/7, phát ngôn viên ngoại giao Trung Quốc Lưu Vi Dân cũng đã thể hiện quan điểm đó rằng “Cuộc họp của các bộ trưởng ngoại giao tại Diễn đàn Khu vực ASEAN là một cơ sở quan trọng để xây dựng lòng tin lẫn nhau và tăng cường hợp tác, nhưng đó không phải là nơi phù hợp để bàn về vấn đề Biển Đông”.

Có thể nhận thấy rằng, nguyên nhân xuất phát cho những động thái cũng như lập trường trên là chính vì bản thân Trung Quốc đã tự nhận thấy rằng lập luận của mình là vô lý, có thể nói là “đuối lý”. Trung Quốc không thể nào đứng vững bằng cách chứng minh tính hợp lý cho quan điểm của mình khi đưa vấn đề ra giải quyết bằng luật pháp quốc tế hay đàm phán đa phương. Để bù vào sự yếu thế trên, Trung Quốc tăng cường tàu hải giảm, đưa tàu đổ bộ và hộ vệ tên lửa đến các đảo và bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa và đề nghị trang bị vũ khí cho các ngư dân trên những vùng nước có tranh chấp cho thấy xu thế muốn sử dụng lợi thế quân sự để “lấy thịt đè người”. Khác với biển Đông, chiêu này của Trung Quốc sẽ không mấy hiệu quả trước cán cân sức mạnh tại Bắc Cực, với sự hiện diện của Nga lẫn Mỹ.

Từ vấn đề Bắc Cực nhìn về vấn đề Biển Đông, chỉ có thể nói rằng đi đâu Trung Quốc cũng đòi chủ quyền một cách “hết sức vô lý” và đặc biệt là luôn mẫu thuẫn trong chính những lập luận của chính mình!

NGHĨA HUỲNH (TUẦN VIỆT NAM)

Advertisements

Ngày 07 tháng 5 năm 2009, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (CHNDTH) phản đối đệ trình của Việt Nam và đệ trình chung của Malaysia-Việt Nam gửi Ủy ban Ranh giới thềm lục địa (CLCS). Để hậu thuẫn cho các yêu sách của mình, Trung Quốc (TQ) đã kèm một bản đồ có vẽ một đường hình chữ U nhiều chấm bao trùm phần lớn Biển Đông vào công hàm phản đối. Bài nghiên cứu này đưa ra một phân tích về mặt pháp lý quốc tế bản đồ nói trên.

Tác giả: Erik Franckx và Marco Benatar.

Nguồn: Tạp chí Tia Sáng.

I. BẢN ĐỒ TRUNG QUỐC

A. Nền tảng

Nguồn gốc của đường chữ U bắt đầu từ các hoạt động của Uỷ ban thẩm tra Bản đồ Đất và Nước của Trung Hoa Dân Quốc (THDQ), thành lập vào năm 1933. Trách nhiệm của Uỷ ban này bao gồm việc khảo sát và đặt tên các đảo ở Biển Đông và in ra các bản đồ cho thấy các đảo này thuộc chủ quyền của TQ. [1]

Đường nhiều chấm được chuẩn nhận chính thức đầu tiên phát xuất từ sau cuộc chiến tranh thế giới thứ hai. Tờ bản đồ đang bàn do Sở lãnh thổ và Ranh giới Bộ Nội vụ THDQ in ra vào tháng 12 năm 1946. [2] Trên bản đồ này, đường chữ U gồm 11 vạch liên tục bao kín phần lớn Biển Đông và các thể địa lý giữa đại dương. [3] Bắt đầu từ ranh giới Trung-Việt, hai vạch đầu tiên đi qua Vịnh Bắc Bộ. Vạch thứ ba và thứ tư của đường này phân cách bờ biển Việt Nam với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tương ứng. Vạch thứ năm và thứ sáu trên đường đứt đoạn đi qua Bãi cạn James (4° N), thể địa lý biển cực nam mà TQ và THDQ tuyên bố chủ quyền. Di chuyển theo hướng đông bắc, hai vạch tiếp theo nằm giữa quần đảo Trường Sa phía này, và Borneo (Indonesia, Malaysia, và Brunei) và Philippines (tỉnh Palawan), phía kia. Vạch thứ chín, thứ mười, và thứ mười một phân cách Philippines với THDQ. [4] Sau khi loại Quốc dân Đảng khỏi Trung Hoa đại lục, CHNDTH cũng phát hành bản đồ vẽ với cùng các vạch trên. [5] Như vậy, từ đó trở đi, ở hai phía của eo biển Đài Loan đều thấy có bản đồ đường chữ U xuất hiện. Một trong thay đổi đặc biệt cần lưu ý: từ năm 1953, bản đồ Biển Đông TQ chỉ vẽ 9 thay vì 11 vạch (2 vạch ở Vịnh Bắc Bộ đã bị xoá). [6]

B. Công hàm TQ gửi Tổng thư ký LHQ (ngày 07 tháng 5 năm 2009)

Ở cấp độ quốc tế, tranh cãi xung quanh đường 9 chấm đã rộ lên trước Liên Hợp Quốc (LHQ) vào năm 2009 liên quan tới đệ trình chung của Malaysia-Việt nam[7] và đệ trình riêng của Việt Nam[8] cho CLCS. CLCS đưa ra khuyến nghị cho các nước ven biển có nhu cầu xác lập ranh giới bên ngoài thềm lục địa vượt quá 200 hải lý (nm). [9] Thời gian đệ trình của các chính phủ Việt Nam và Malaysia có thể được giải thích bởi thời hạn chót của họ là vào tháng 5 năm 2009. [10] Để đáp trả các đệ trình này, trong cùng ngày TQ đã chính thức gửi Tổng thư ký LHQ hai công hàm riêng biệt có kèm bản đồ đó [11], bằng cách này lần đầu tiên xác nhận đường chữ U, ở cấp quốc tế trong một tranh chấp cấp nhà nước, [12] với phản ứng giống hệt nhau sau đây:

TQ có chủ quyền không thể tranh cãi đối với các đảo ở Biển Đông và các vùng biển lân cận, và được hưởng quyền chủ quyền và quyền tài phán trên các vùng biển liên quan cũng như biết đáy biển và lòng đất dưới biển (xem bản đồ kèm theo). Lập trường nêu trên đượcChính phủ TQ nhất quán thể hiện, và được cộng đồng quốc tế biết đến rộng rãi. [13]

Đọc Công hàm này, một học giả Đài Bắc suy ra một số khẳng định của TQ:

1. Chủ quyền đối với các đảo ở Biển Đông và vùng biển tiếp giáp chúng (bản đồ kèm theo cho thấy các thể địa lý biển sau đây trong đường đứt khúc theo tên: quần đảo Tây Sa, [14] quẩn đảo Nam Sa, [15] quần đảo Trung Sa, [16] và quẩn đảo Đông Sa[17]).

2. Quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với vùng biển liên quan bao gồm đáy biển và tầng đất dưới đáy biển của chúng.

3. Tính nhất quán của vị thế chính thức của TQ về các yêu sách biển và lãnh thổ ở Biển Đông.

4. Sự nhận biết của các nước bên thứ ba liên quan đến yêu sách của TQ về biển và lãnh thổ ở Biển Đông.

5. Đường chữ U mô tả những yêu sách của TQ về chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán. [18]

Tuy nhiên, dường như công bằng để nói rằng giải thích chính thức của TQ trích dẫn trên, theo như ý nghĩa chính xác của bản đồ đính kèm, vẫn còn là mơ hồ. Cụ thể, bản chất pháp lý chính xác của các khu vực biển bao bọc bởi đường 9-chấm-vẫn còn mờ mịt, mặc dù có việc “làm rõ” của TQ. Điểu này được thể hiện rõ ràng bởi các phản ứng đang dạng mà họ gây ra tại các hội nghị chuyên ngành được tổ chức kể từ đó. [19]

Theo hiểu biết của chúng tôi, cho đến nay chỉ có một nước là Philippines thực hiện nỗ lực giải thích.[20] TQ nhanh chóng trả lời với một công hàm mới, một lần nữa công hàm này chẳng làm cho rõ ràng hơn bao nhiêu. Trong công hàm mới này, đề ngày 14 tháng 4 năm 2011, TQ nêu rằng “chủ quyền và các quyền và quyền tài phán liên quan của TQ trong Biển Đông” được hỗ trợ bằng “chứng cứ lịch sử và pháp lý phong phú”‘.[21] Điều rõ ràng trong tài liệu ngoại giao mới này là sự thiếu vắng của bất kỳ đề cập nào tới bản đồ trên. Từ sự thiếu vắng này, chúng ta có thể suy ra sự từ bỏ đường 9 chấm hay không? Chắc chắn, không thể giả định có một sự quay ngoắt (volte-face) một cách hời hợt. Hơn nữa, dù họ đang chủ trương làm dịu đi các quan ngại về tự do hàng hải ở Biển Đông, [22] ví như can thiệp gần đây của TQ đối với tàu thuyền Việt Nam và Philippines mà thôi cho thấy các yêu sách quá đáng của họ như trên bản đồ vẫn còn nguyên vẹn.

XEM TIẾP: II. CÁC YÊU SÁCH

 

II. CÁC YÊU SÁCH

Công hàm ngày 07 tháng 5 năm 2009 của TQ, dù là có thể mới trong các khía cạnh vể biển của nó nhưng chỉ lặp lại những khẳng định tương tự như đã đưa ra trong quá khứ liên quan đến các thể địa lý. [23] Hơn nữa, nhiều học giả chủ yếu của TQ và Đài Loan đã đề ra các cách giải thích riêng của họ về đường 9 chấm. Giữa sự rối rắm này, người ta chỉ có thể chắc chắn một điều là các khẳng định TQ về Biển Đông không vượt quá ranh giới này. [24] Những quan điểm và giá trị pháp lý của các khẳng định này sẽ được thảo luận sau đây.

A. Yêu sách lịch sử

1. Thực hành Nhà nước (State practice)

Mặc dù các khẳng định kiểu này dường như không là nét đặc biệt trong chính sách chính thức của TQ, Đài Bắc có truyền thống ủng hộ lập trường này đối với đường chữ U khá mạnh, như có thể thấy trong một loạt các tuyên bố. Ví dụ, trong năm 1991 tại một trong những Hội thảo về Biển Đông, một đại diện Văn phòng Kinh tế và Thương mại Đài Bắc ở Jakarta (Indonesia) tuyên bố:

Biển Đông là một vùng nước thuộc thẩm quyền của THDQ. THDQ có quyền và đặc quyền trong Biển Đông. Bất kỳ hoạt động nào trong Biển Đông phải có sự chấp thuận của Chính phủ THDQ. [25]

Hướng dẫn Chính sách cho Biển Đông năm 1993 (chuẩn nhận bởi Bộ trưởng Hành Chánh) lưu ý rằng:

Trên cơ sở lịch sử, địa lý, luật pháp quốc tế, và nhiều sự kiện, quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa, bãi cạn Macclesfield, và quần đảo Pratas luôn là phần lãnh thổ cố hữu của THDQ. Chủ quyền của nước THDQ đối với chúng không còn chút nghi ngờ nào. Khu vực Biển Đông trong ranh giới vùng nước lịch sử là khu vực biển thuộc thẩm quyền của nước THDQ, THDQ sở hữu tất cả các quyền và lợi ích trong đó. [26]

Trong năm 1994, Bộ trưởng Bộ Hành Chánh, Trương Kim Ngọc (Chang King-yu), nói rằng “các vùng biển được bao bọc bởi đường chữ U ở Biển Đông là vùng nước lịch sử của chúng ta và THDQ được hưởng tất cả các quyền trong đó” (nhấn mạnh thêm). [27]

Chính sách của Đài Bắc được suy luận xa hơn từ các phản đối đã thực hiện chống lại cách ứng xử của các nước ven biển trong khu vực. Đáp trả với việc Malaysia chiếm đóng hai thể địa lý tại quần đảo Trường Sa và việc Philippines quyết địnhsáp nhập bãi cát ngầm Scarborough trên bản đồ của họ, Đài Bắc tuyên bố:

Biển Đông là một vùng nước của THDQ. THDQ có tất cả các quyền và đặc quyền trong vùng Biển Đông. Bất kỳ hoạt động nào (kể cả việc thảo luận về hợp tác chung hoặc Quy tắc ứng xử, vv) trong Biển Đông phải có sự chấp thuận của Chính phủ THDQ. (nhấn mạnh thêm) [28]

Một số chuyên gia đã cóp nhặt nhiều lập luận pháp lý cho tuyên bố mong manh này. [29] Ví dụ, Triệu Quốc Tài (Guocai Zhao) nhận xét:

TQ sở hữu quyền lịch sử các hòn đảo, đá ngầm, bãi cát ngầm, các bãi cạn, và các vùng nước trong đường 9 chấm. Biển Đông được coi là vùng nước lịch sử của TQ, điều đó được thừa nhận phổ quát vào thời điểm đó. Cho đến nay điều này đã kéo dài nửa thế kỷ. [30]

2. Phân tích pháp lý

Việc xem xét các bài viết học thuật về các tuyên bố lịch sử liên quan đến các khu vực biển làm phát sinh rất nhiều nhầm lẫn về thuật ngữ. Các khái niệm thích hợp như quyền lịch sử / sở hữu lịch sử, các vùng nước lịch sử, và vịnh lịch sử không dễ dàng phân biệt và làm sáng tỏ. [31] Để tránh việc tìm hiểu kéo dài không cần thiết và phần nào thừa thãi về sự khác biệt giữa các quyền lịch sử và sở hữu lịch sử, chỉ cần nói rằng “quyền lịch sử” là chủng (genus) mà theo đó người ta có thể đặt các loại (species) “vùng nước lịch sử” vào. Tương tự, “vịnh lịch sử” là một loại “vùng nước lịch sử”. [32] Trong bối cảnh của đường 9 chấm, cách ứng xử của Đài Bắc dường như bao hàm sự công nhận các vùng nước lịch sử liên quan đến một phần chủ yếu của Biển Đông.

Bản đồ do Trung Quốc tự vẽ

Không có định nghĩa được chấp nhận rộng rãi về các vùng nước lịch sử, nhưng theo cách hiểu rộng rãi, nó biểu thị các quyền dành  cho một nước ven biển đối với một hoặc nhiều khu vực biển mà nước đó bình thường sẽ không được hưởng. Phạm vi các quyền đi cùng với vùng nước lịch sử có thể khác nhau đáng kể. Các điều kiện pháp lý cho việc thụ đắc các vùng nước lịch sử đã được xem xét trong một nghiên cứu năm 1962 do Văn phòng Ban thư ký Liên Hợp Quốc của Vụ Pháp chế (OLA) thực hiện theo yêu cầu của Uỷ ban pháp luật quốc tế. [33] Theo quan điểm của OLA:

Có vẻ có một sự nhất trí chung nhất rằng khi xác định liệu một nước có quyền sở hữu lịch sử đối với một khu vực biển hay không phải xem xét tới ít nhất ba yếu tố. Những yếu tố này là: (1) việc thực thi thẩm quyền của nước yêu sách quyền lịch sử đối với khu vực đó (2) tính liên tục của việc thực thi thẩm quyền (3) thái độ của các nước khác. [34]

Đài Bắc lẫn TQ đều không đáp ứng các tiêu chí này cho vấn đề đó. Điều kiện (1) và (2) đòi hỏi nước có yêu sách phải thực thi thẩm quyền thông qua các hành vi thể hiện chủ quyền ở mức đủ thường xuyên và có hiệu quả. Liên quan tới khu vực họ yêu sách, việc thể hiện thẩm quyền của họ cùng lắm chỉ có thể nói là ở mức không thường xuyên. Việc tự do đánh bắt và đi lại của các nước khác vẫn không bị cản trở. [35] Do đó, không yêu sách lịch sử nào có thể thực hiện ở đây. Các đòi hỏi lý thuyết cần để thoả mãn điều kiện (3) là không chắc chắn. Về cơ bản, việc thảo luận xoay quanh vấn đề liệu các nước khác có cần phải ngầm bằng lòng với việc thực hiện chủ quyền của TQ trên Biển Đông hay liệu việc họ không có bất kỳ phản ứng nào là đủ hay không. [36] Nhưng dù theo quan điểm nào, cả hai dường như đều đồng ý rằng sự phản đối của các nước khác có thể ngăn chặn việc thực thi chủ quyền hòa bình và liên tục, và điều này đích xác là những gì đã xảy ra đối với Biển Đông (xem phần IV-B).

Một số người đã vặn lại rằng tuyên bố phải được xem xét dưới ánh sáng của các quy tắc luật quốc tế đã tồn tại khi bản đồ đường chữ U được vẽ ra, tức là năm 1946 (cái gọi là học thuyết của luật liên thời gian [intertemporal law]). [37] Điều này là khá khác thường, vì cách tiếp cận này chỉ làm yếu thêm một luận điểm vốn đã không thuyết phục. Vào thời điểm đó, bề rộng của lãnh hải hợp pháp chỉ là 3 hải lý, khiến cho các yêu sách lịch sử càng thêm quá đáng hơn. [38] Với thực tế rằng các vùng nước lịch sử thường liên quan đến vịnh hoặc một dải lãnh hải, [39] do đó không có gì ngạc nhiên khi nhận thấy một chuyên luận gần đây về vùng nước lịch sử không thấy cần thiết để đề cập tới yêu sách lịch sử của đường 9 chấm. [40] Hơn nữa, ngay cả khi vì mục đích lập luận người ta nhắm tới giả thuyết cho rằng TQ có thể thực hiện một yêu sách lịch sử lớn chưa từng có (cái không có -quod non) thì cũng nên nhớ rằng các yêu sách lịch sử không tạo ra một chế độ liên quan tới mọi nước (erga omnes), mà là phụ thuộc vào sự công nhận tường minh hay hàm ý trên tầm mức quốc gia như một tác giả mới đây đã nhấn mạnh. [41]

Một lưu ý cuối cùng, việc sử dụng cách gọi “Biển Nam Trung Hoa” không có ý trao chủ quyền lịch sử cho TQ. [42] Theo luật pháp quốc tế, việc đặt tên đơn thuần một khu vực không thiết lập chủ quyền đối với khu vực đó. [43] Tên này đã bị các quốc gia có liên quan phản đối mạnh mẽ, trong đó có Việt Nam. [44] Bản đồ nước ngoài dùng tên Biển Nam Trung Hoa chỉ đơn giản là để phù hợp với cách gọi tên do Tổ chức Thủy văn Quốc tế về Ranh giới các Đại dương và biển công bố (1953), cách gọi tên đó “không có bất kỳ ý nghĩa chính trị nào”. [45] Vì thế việc lựa chọn từ ngữ này về phần các nước phương Tây không có hàm ý nhìn nhận chủ quyền của TQ. Ngoài ra, về mặt lịch sử người TQ cũng dùng nhiều tên gọi khác nhau cho vùng biển này như là “Biển Giao Chỉ” (đời Tống và Minh) và “Biển Nam” (đời Thanh (1905), THDQ (1913) và CHNDTH (1952 và 1975)). [46]

3. Những diễn biến mới

Những diễn biến gần đây có thể làm cho sự thảo luận dễ dàng hơn. Thật vậy, rất có thể là Đài Bắc đang từ bỏ luận điểm lâu dài của họ. Các tuyên bố trong những năm gần đây gợi cho thấy một sự thay đổi trong quan điểm của họ, đưa chính sách của Đài Loan về vấn đề này cùng hướng với chính sách của TQ. Việc đề cập tới quyền / vùng nước lịch sử vắng đi trong khi trọng tâm dường như là chủ quyền lãnh thổ đối với các đảo và lãnh hải của chúng. [47] Ví dụ gần đây nhất là tuyên bố hồi tháng 5 năm 2009 phản đối các hồ sơ củaViệt Nam và Malaysia – Việt Nam gửi cho CLCS:

Chính phủ THDQ nhắc lại rằng quần đảo Điếu Ngư Đài (Diaoyutai), quần đảo Nam Sa (Trường Sa), quần đảo Tây Sa (quần đảo Hoàng Sa), quần đảo Trung Sa (Macclesfield) và quần đảo Đông Sa (Pratas Islands) cũng như các vùng biển xung quanh là cácvùng lãnh thổ và các vùng biển cố hữu của THDQ dựa trên các quyền sở hữu chủ quyền không thể chối cãi biện minh bằng các cơ sở lịch sử, địa lý và luật quốc tế. Theo luật quốc tế, THDQ được hưởng tất cả các quyền và lợi ích đối với các quần đảo nói trên, cũng như các vùng biển xung quanh và đáy biển và lòng đất dưới đáy của chúng. [48]

B. Các yêu sách đảo

1. Cách giải thích 1: Tất cả các thể địa lý trong đường chữ-U là lãnh thổ Đài Bắc/TQ

Người đề xuất trước nhất cách giải thích yêu sách lãnh thổ này, nhà ngoại giao Indonesia Hasji Djalal, trong khi thừa nhận tính chất “khó hiểu” của đường chữ U, đã nêu các tìm hiểu của mình dựa trên việc phân tích cẩn thận các tuyên bố của TQ, đặc biệt là những tuyên bố hình thành trong cuộc họp của Tổ chức Hàng không dân dụng (ICAO) quốc tế năm 1979. [49]

Smith ghi nhận rằng các thể địa lý giữa đại dương nằm bên trong “các vạch phân bổ này” là những thể địa lý mà TQ tuyên bố chủ quyền. Ông nhấn mạnh rằng các dấu vạch này không gợi ra bất kỳ yêu sách ranh giới biển nào và sẽ không có chút tác động nào đối với việc giải quyết tranh chấp biên giới biển. [50]

Dzurek cũng tin tưởng rằng đường chữ U không phân ranh các biên giới thuộc thẩm quyền trên biển của TQ, với việc tin tưởng này dựa trên một lập luận về bản đồ học, cụ thể là, sự kiện rằng các dấu vạch chia cắt Malaysia và quần đảo Natuna đi chệch khỏi đường phân giới thềm lục địa Indonesia-Malaysia đã thoả thuận. [51]

Như đã nói ở trên, việc thực hành nhà nước hiện nay của Đài Bắc dường như chứng minh một sự chuyển đổi về phía vị thế này.

Câu hỏi tinh tế về các đảo trong Biển Đông thuộc nước nào, đòi hỏi phải phân tích nghiêm ngặt một ma trận sự kiện phức tạp và ứng dụng các khái niệm pháp lý đa dạng (chẳng hạn như phát hiện, ngày tới hạn [ngày mà các hành động của các bên liên quan thực hiện sau ngày đó sẽ không được toà xét đến-ND] , và tính hiệu quả), sẽ đưa chúng ta quá xa khỏi chủ đề hiện tại. [52] Với điều này trong trí, có lẽ thích hợp để nhấn mạnh ở đây rằng bản đồ TQ không thể tạo thành một quyền sở hữu lãnh thổ hợp lệ đối với các đảo cho từng bản đồ. Trong vụ Burkina Faso / Mali, Tòa Công lý Quốc tế (ICJ) đưa ra lời giải thích “dứt khoát”[53] về giá trị chứng cứ của bằng chứng bản đồ:

Các bản đồ chỉ đơn thuần tạo thành thông tin, chúng thay đổi về tính chính xác theo từng trường hợp; và bằng sự tồn tại của một mình chúng, chúng không có thể tạo thành một quyền sở hữu lãnh thổ, nghĩa là, một tài liệu được luật quốc tế phú cho hiệu lực pháp lý nội tại cho mục đích xác lập các quyền lãnh thổ. Tất nhiên, trong một số trường hợp, bản đồ có thể có được hiệu lực pháp luật như vậy, nhưng trong những trường hợp như thế hiệu lực pháp luật không phát sinh duy nhất từ giá trị nội tại của chúng mà chính vì do bản đồ đó thuộc về loại biểu hiện vật lý về ý muốn của một nước hoặc các nước có liên quan. Ví dụ, trường hợp khi các bản đồ được kèm theo một văn bản chính thức mà chúng là một phần không thể thiếu. Ngoại trừ trường hợp xác định rõ ràng này, các bản đồ chỉ là bằng chứng bên ngoài có độ tin cậy khác nhau hay không đáng tin cậy, chúng có thể được sử dụng, cùng với các bằng chứng khác loại gián tiếp, để thiết lập hoặc tái thiết lại các sự kiện thật. [54]

Ý kiến nhân tiện (obiter dictum) này đã được trích dẫn một cách đồng tình trong một loạt các trường hợp tranh cãi. [55] Một số người đã đọc đoạn văn này như một bác bỏ “dứt khoát” đối với khái niệm về quyền sở hữu theo bản đồ. [56] Trong mọi trường hợp, Tòa án dường như còn để mở một cửa sổ nhỏ[57] (“các bản đồ … kèm theo một văn bản chính thức mà chúng tạo thành một phần không thể thiếu'”) đề cập đến nhưng công cụ như các hiệp ước[58] và do đó không áp dụng được trong trường hợp này.

2. Cách giải thích 2: Đường chữ U là đường ranh giới của vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) được tạo ra từ các đảo ở Biển Đông

Một số học giả TQ dường như ủng hộ thuyết này, mặc dù lý luận của họ hơi khác nhau và thường liên kết với thuyết các quyền / vùng biển lịch sử. Triệu Lý Hải (Zhao Lihai) viết:

Đường chín chấm chỉ rõ lãnh thổ và chủ quyền của TQ về bốn quần đảo trong Biển Đông và khẳng định ranh giới biển của các đảo của TQ ở Biển Đông mà các đảo này đã được bao gồm trong phạm vi TQ ít nhất từ thế kỷ 15. Tất cả các hải đảo và các vùng nước lân cận trong đường biên giới phải thuộc thẩm quyền và kiểm soát của TQ.[59]

Kiều Vĩnh Khoa (Jiao Yongke) nêu:

Các khu vực nước bên trong đường biên giới ở Biển Đông của TQ tạo thành các vùng nước mà TQ có quyền sở hữu lịch sử đối với chúng, chúngtạo thành vùng đặc quyền kinh tế đặc biệt, hay vùng đặc quyền kinh tế lịch sử của TQ, do đó phải có địa vị tương tự như vùng đặc quyền kinh tế theo các quy định của UNCLOS [Công ước LHQ về Luật Biển]. [60]

Cuối cùng, Trâu Khoa Uyển (Zou Keyuan) tin rằng TQ đã khẳng định một tuyên bố lịch sử, nhưng tuyên bố này là “tương đương với tình trạng pháp lý của vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa”. [61]

Cách giải thích thứ hai này về các vạch liên tục là phụ thuộc hoàn toàn vào cách đầu tiên. Nó suy từ nguyên tắc “đất thống trị biển” mà cách tiếp cận này nhất thiết phải dựa trên tiền đề là TQ có chủ quyền đối với các thể địa lý ở Biển Đông. [62] Những người ủng hộ thuyết này xem đường chữ U như một ranh giới trên biển nối các ranh giới của vùng đặc quyền kinh tế hoặc thềm lục địa phát sinh từ các đảo. Một loạt các câu hỏi nẩy lên. Vấn đề gai góc đầu tiên liên quan đến việc phân định vùng biển đó. Suy cho cùng, một nước ven biển không thể chỉ đơn giản áp đặt việc phân giới lên các nước khác một cách đơn phương. Sự hợp lệ của hành động như vậy sẽ phụ thuộc vào sự tuân thủ các chuẩn mực luật pháp quốc tế. [63]

Hơn nữa, còn có vấn đề là các thể địa lý biển có thể tạo ra các khu vực biển (bất chấp ai là chủ sở hữu hợp pháp) hay không? Tất cả phụ thuộc vào việc thể địa lý đó có hội đủ điều kiện là đảo theo nghĩa pháp lý hay không. Công ước 1982[64] có chứa một điều khoản cho mục đích này, Điều 121, nêu như sau:

1. Một hòn đảo là một khu đất hình thành tự nhiên, bao quanh bởi nước, nằm bên trên mặt nước khi triều cao.

2. Ngoại trừ như quy định tại mục 3, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của một đảo được xác định theo quy định của Công ước này áp dụng cho lãnh thổ đất liền khác.

3. Đá không thể duy trì sự cư trú của con người hay có đời sống kinh tế của riêng mình sẽ không có vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa. [65]

Do đó, các bề mặt có đất trong vùng Biển Đông sẽ tạo ra thêm các vùng đặc quyền kinh tế (và thềm lục địa) nếu chúng đáp ứng các yêu cầu nghiêm ngặt nêu trên. [66] Do đó, tính chất đảo của một loạt các tính năng hàng hải tại Biển Đông đã bị rơi vào nghi vấn. Oude Elferink thận trọng nêu rằng “ít ra có một số đảo trong Biển Đông có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Các thể địa lý có tính đảo khác gần như chắc chắn có thể được coi là rơi vào vòng khống chế của Điều 121 (3) [đá].” [67] Nếu biết ra rằng những bề mặt đất đó không phải là đảo, (ít nhất là một phần) thì cách giải thích vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của đường chữ U là không có giá trị pháp lý.

Về mặt này, rất đáng để đề cập ngắn gọn đến các bước do TQ mới thực hiện ở cấp độ quốc tế ủng hộ di sản chung của loài người bằng cách cố gắng bảo vệ khu vực này chống lại sự xâm nhập không chính đáng của một vài nước. [68] Về thực chất, các can thiệp này nhằm mục đích chống lại đệ trình của Nhật Bản cho CLCS vể đảo Okinotorishima ở Thái Bình Dương. [69] Tuy nhiên, hành động này ngay lập tức bị phản ứng ngược đối với Biển Đông, Indonesia đã chất vấn đường 9 chấm của TQ ngay chính trên cơ sở của các cơ quan đại diện của đất nước này nêu ra trước cuộc họp của các nước thành  viên năm 2009 cũng như trước Cơ quan quốc tế đáy biển, đó là, các mỏm đá không thể duy trì sự cư trú của con người, đời sống kinh tế riêng không tạo ra một vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa.[70]

Dù các diễn biến có thể thú vị như thế nào, điều bắt buộc này, mà đúng hơn là việc điều tra nặng thực tế và kỹ thuật về tình trạng pháp lý chính xác của các thể địa lý khác nhau ở Biển Đông theo Điều 121 (3) của Công ước năm 1982 vượt quá xa phạm vi nghiên cứu của chúng tôi.

XEM TIẾP: III. CÁC YẾU TỐ LÀM SUY YẾU SỨC MẠNH CHỨNG MINH CỦA BẢN ĐỒ

 

III. CÁC YẾU TỐ LÀM SUY YẾU SỨC MẠNH CHỨNG MINH CỦA BẢN ĐỒ

Theo một quy tắc đã được ghi nhận, [71] các thẩm phán quốc tế được hưởng sự tự do đặc biệt rộng rãi trong việc xác định trọng lượng của tài liệu chứng cứ. [72] Cảnh giác về quyền tự do theo nguyên tắc này, chúng tôi đã xem xét các tiền lệ[73] liên quan đến bản đồ để suy ra các yếu tố[74] thường được thẩm phán hoặc trọng tài sử dụng để đánh giá hiệu lực chứng minh của bằng chứng bản đồ. Cần nhấn mạnh rằng trong khi làm như vậy, chúng tôi dựa vào các tiền lệ liên quan cho đất liền lẫn trên biển không phân biệt. Mặc dù đúng là các nguyên tắc quy định việc thụ đắc những vùng biển và phân giới biển khác biệt đáng kể so với những quy tắc làm cơ sở cho việc thụ đắc và phân giới lãnh thổ, [75] câu hỏi cốt yếu này (chế độ pháp luật áp dụng được) là tách biệt với câu hỏi về bằng chứng (các bản đồ). Hơn nữa, học thuyết dường như không có sự phân biệt có ý nghĩa giữa bản đồ đất liền và bản đồ biển trong việc phân loại các quy tắc bằng chứng, và ICJ đã trích dẫn các quy tắc pháp lý bổ sung trong các vụ trên đất liền khi đánh giá các bản đồ do các bên tham gia tranh chấp nộp vào có chứa một yếu tố liên quan đến biển. [76]

Các yếu tố sau đây chứng tỏ sự thiếu sót về chứng cứ vốn có của đường 9-chấm của TQ.

A. Cách tiếp cận thận trọng với chứng cứ bản đồ

Như một quan sát bước đầu, cần chỉ ra rằng xu hướng chung là các tòa và các toà án quốc tế không đưa ra các phán quyết chỉ đơn thuần dựa trên các kết luận về bản đồ. [77] Mặc dù những bản đồ chính xác phản ánh ý định của các bên có thể thực sự tạo thành “một cơ sở vững chắc và liên tục cho việc thảo luận” sự vắng mặt của chúng “là một sự bất tiện đáng tiếc”‘, [78] chúng thường sẽ đóng vai trò phụ trong việc làm vững thêm bằng chứng khác cùng chỉ về một hướng.[79] Trở lại với quyết định cho vụ Burkina Faso / Cộng hòa Mali:

Các bản đồ vẫn không thể có giá trị pháp lý hơn so là giá trị của bằng chứng củng cố trong việc chuẩn nhận một kết luận mà một tòa án đi đến bằng các phương tiện khác không dính dáng tới các bản đồ, trừ khi các bản đồ thuộc loại biểu hiện vật lý ý muốn của Nhà nước, tự chúng không thể được xem như là bằng chứng về một đường biên giới, vì trong trường hợp đó chúng sẽ hình thành một giả định không thể bác bỏ, thật sự đồng nghĩa với quyền sở hữu pháp lý. Giá trị duy nhất mà chúng có là bằng chứng thuộc loại phụ hoặc khẳng định thêm, và điều này cũng có nghĩa rằng chúng không thể được gán cho đặc tính của một giả định không thể bác bỏ (juris tantum) như là để thực hiện một sự đảo ngược trách nhiệm chứng minh. [80]

Lập trường thận trọng này đã được phát hiện và ghi nhận theo ý kiến của học giả có thẩm quyền, [81] và trong một số trường hợp đã được sự chấp thuận đáng kể. [82]

B. Các bản đồ không tương thích nhau

Khi trình bày các khẳng định mâu thuẫn lẫn nhau, sắp xếp các sự kiện cho chỉnh trang đòi hỏi cố gắng lớn. [83] Khá tương tự như vậy, khi các tài liệu bản đồ mâu thuẫn với nhau, chúng sẽ mất đi sự tin cậy. [84] Như ICJ đã nêu trong trường hợp Kasikili / Sedudu:

“dưới ánh sáng của sự không chắc chắn và không thống nhất của tài liệu bản đồ được đệ trình, Tòa tự thấy mình không thể rút ra kết luận từ những bằng chứng bản đồ đưa ra trong trường hợp này.” [85]

Các bản đồ với đường 9-chấm vẽ ra một hình ảnh Biển Đông khác biệt với bằng chứng bản đồ và các tài liệu khác của các nước ven biển trong khu vực. Sẽ khó khăn để đạt được một sự hiểu biết chính xác ranh giới biển và chính trị chỉ dựa trên việc đặt các bản đồ kế bên nhau. Ngoài ra, các điều mà đường chữ U thể hiện cũng không nhất quán. Như đã đề cập ở trên, đường chữ U trong bản đồ ở TQ trước năm 1953 bình thường gồm có 11 vạch, [86] trong khi các phiên bản sau này của đường nhiều chấm chỉ gồm 9 đoạn. Một bản đồ điện tử trực tuyến gần đây của Cục Khảo sát và Bản đồ Nhà nước TQ ngày 21 tháng 10 năm 2010 lại thêm một đoạn nữa vào phía Bắc giữa Đài Loan và nhóm Ryukyu, trong đó có đảo Yonaguni là hòn đảo ở cực tây, tất cả đều thuộc về Nhật Bản. [87] Không có lý do nào được đưa ra cho việc loại bỏ bí ẩn hai vạch trong quá khứ hay việc thêm vào vạch thứ 10 mới gần đây. [88]

C. Ký hiệu bản đồ rời rạc / nhập nhằng

Bản đồ không rõ ràng đã xuất hiện trong các tố tụng qua trọng tài trong quá khứ. Trong vụ Trọng tài Eritrea / Yemen, Eritrea đã nộp các bản đồ mô tả một đường chấm chấm hỗ trợ yêu sách của mình. Tòa án đưa ra một tuyên bố ngắn về phương pháp chứng cứ của bên liên quan:

Trong một số trường hợp Tòa án có thể không đồng ý với các đặc tính của các bản đồ mà bên đưa ra mong muốn. Hơn nữa, nếu không có chỉ dẫn cụ thể từ chính bản đồ, Tòa án không muốn gán ý nghĩa cho các đường chấm thay cho màu sắc hoặc thay cho việc ghi địa danh trên bản đồ. Các kết luận trên cơ sở này do Eritrea thúc hối liên quan tới một số bản đồ của họ không được chấp nhận. [89]

Đương nhiên,có sự tương tự của trường hợp này với đường chữ U, sự thiếu vắng một chú giải (legend), và lời lẽ bí ẩn chứa trong công hàm của TQ gửi Tổng thư ký LHQ đã soạn sẵn. Sự lúng túng càng lớn hơn bởi vì cách mô tả của đường 9-chấm sai lệch với các tiêu chuẩn vẽ bản đồ quốc tế được Tổ chức Thủy văn Quốc tế đề ra đích xác cho mục đích về tính rõ ràng. [90] Cần nhớ rằng TQ là một thành viên của tổ chức quốc tế này. [91]

D. Ý định không rõ ràng

Như Thẩm phán Oda đã chỉ ra một cách đúng đắn trong ý kiến riêng của ông trong vụ Kasikili / Sedudu, “một tuyên bố lãnh thổ chỉ có thể được thực hiện với dấu hiệu rõ ràng về ý định của chính phủ, dấu hiệu đó có thể được phản ánh trong các bản đồ. Một bản đồ tự nó, nếu không có bằng chứng hỗ trợ khác thì không thể biện minh cho một tuyên bố chính trị” (nhấn mạnh thêm). [92] Trong trường hợp này (in casu) tiêu chí về ý định rõ rệt về phía chính phủ TQ không được đáp ứng một cách thoả đáng. Sự đa dạng về cách giải thích đường chữ U do các học giả luật học đưa ra cũng như công hàm mơ hồ của TQ đề ngày7 tháng 5 năm 2009 là chứng cứ cho kết luận này. Bên cạnh các cấu trúc câu khó hiểu, các từ ngữ được sử dụng trong công hàm, cụ thể là “vùng biển có liên quan” và “vùng biển tiếp giáp” là đặc biệt khó hiểu vì chúng không xuất hiện bất cứ chỗ nào trong UNCLOS. Sự mơ hồ có vẻ như cố tình làm trầm trọng thêm, vì TQ vẫn chưa thông qua luật tạo cho đường chữ U bất kỳ hiệu lực trong trật tự luật pháp trong nước. [93] Ngay cả khi người ta có thể bới ra các ý định đằng sau bản đồ này, ý nghĩa pháp lý của chúng không nên được đánh giá cao. Trở lại bài viết nói trên của Thẩm phán Oda:

Một bản đồ được sản xuất bởi một cơ quan chính phủ có liên quan đôi khi có thể chỉ ra vị thế của chính phủ liên hệ đến lãnh thổ hay chủ quyền của một khu vực cụ thể hay đảo. Tuy nhiên, một mình sự kiện đó không có tính quyết định về tư cách pháp lý của khu vực hay đảo đang có vấn đề. Đường ranh giới trên những bản đồ như vậy có thể được hiểu như là thể hiện cho yêu sách tối đa của nước có liên quan, nhưng không nhất thiết biện minh cho yêu sách đó. [94]

E. Thiếu tính trung lập

Khi bản đồ được vẽ lên bởi một chuyên gia khách quan, giá trị chứng minh của nó có xu hướng tăng lên. [95] Trái lại, các tài liệu bản đồ được sản xuất theo chỉ thị của một trong các bên tranh chấp sẽ được xét với sự nghi ngờ nhiều hơn, và do đó sự phụ thuộc vào tài liệu như vậy chỉ là ngoại lệ không phải là quy tắc. [96] Các trọng tài trong vụ Trọng tài kênh Beagle nhận xét như sau:

Trong khi các bản đồ đến từ các nguồn khác hơn những bản đồ của các bên không thuộc vụ đó được coi là nhất thiết phải chính xác hơn hoặc khách quan hơn, trước nhất (prima facie) chúng có tình trạng độc lập, điều này có thể tạo cho chúng giá trị lớn trừ khi chúng chỉ là các bản sao chép của – hoặc dựa trên bản gốc xuất phát từ – các bản đồ do một trong các bên vẽ ra, hoặc giả được xuất bản trong một nước có liên quan, hoặc thay mặt cho, hoặc theo yêu cầu của một Bên, hoặc rõ ràng có động cơ chính trị. Nhưng chỗ nào mà tư cách độc lập của chúng không để lộ cho việc nghi ngờ về một hoặc các cơ sở nêu trên, chúng có ý nghĩa tương đối cho việc giải quyết tranh chấp lãnh thổ liên hệ trong đó chúng cho thấy sự tồn tại của một sự hiểu biết chung theo một nghĩa nào đó, như về cách giải quyết đó là gì, hoặc, chúng mâu thuẫn ở đâu, sự thiếu vắng của bất kỳ sự hiểu biết chung như vậy. [97]

Việc thiếu tính trung lập là rõ rành rành đối với đường 9 chấm. Như đã thảo luận trong phần II-A, lịch sử của đường chữ U có thể được truy ngược về một ủy ban nội bộ do chính phủ Trung Hoa Dân Quốc thành lập để cập nhật các bản đồ TQ và tái khẳng định vị thế của họ. Một cơ quan chính phủ được thành lập và phân bổ nhân viên đơn phương như thế khó có thể được coi là khách quan đối với các nước có liên quan khác trong khu vực Biển Đông. Không nên quên rằng các nhà vẽ bản đồ có lương tâm vẫn có thể bị sử dụng cho các mục đích lừa đảo:

Một nhà làm bản đồ … có thể được sử dụng để biểu lộ khẳng định của một nước cụ thể như nước của chính ông ta về kích cỡ đầy đủ miền lãnh thổ của nước đó là gì, bất kể tính đúng đắn của khẳng định này và không có việc doạ dẫm rằng việc vẽ đó mô tả phạm vi của một yêu sách chứ không phải là vị trí của một ranh giới được chấp nhận. Qua việc sao chép tiếp theo và việc vẽ lại của các nhà làm bản đồ thiếu phối kiểm không những các sai sót tiếp tục tồn tại mà sự kiện về việc lặp lại có xu hướng chuyển cho chúng sự thừa nhận pháp lý qua việc in ra một số lượng lớn bản đồ thống nhất với lời khai của họ. [98]

F. Không chính xác về kỹ thuật

Trong tiểu luận về giá trị chứng cứ của bản đồ, De Visscher đưa ra các tiêu chuẩn sau đây: “những bảo đảm về tính chính xác nội tại của bản đồ … sự chính xác liên quan tới các điểm đang tranh chấp”. [99] Theo Brownlie, “giá trị chứng minh mà một bản đồ có tương ứng với chất lượng kỹ thuật của nó”.[100] Luật về án lệ cũng chỉ ra đòi hỏi độ chính xác kỹ thuật trong bản đồ. [101] Trong vụ đảo Palmas, trọng tài duy nhất Max Huber đã viết rằng: “điều kiện đầu tiên đòi hỏi của các bản đồ phục vụ với tư cách là bằng chứng đối với những điểm pháp lý là độ chính xác địa lý của chúng.” [102]

ICJ phát biểu rằng:

Trọng lượng thực tế được phân cho các bản đồ đem làm bằng chứng phụ thuộc vào một loạt các cân nhắc. Một số trong các cân nhắc này liên quan đến độ tin cậy kỹ thuật của các bản đồ. Điều này đã nâng lên đáng kể, đặc biệt là do những tiến bộ đạt được qua không ảnh và ảnh vệ tinh từ những năm 1950. Nhưng kết quả chỉ mang tới tính chất trung thực hơn cho bản đồ và sự ăn khớp ngày càng chính xác giữa bản đồ và không ảnh. Thông tin xuất phát từ sự can thiệp của con người, chẳng hạn như tên của các địa điểm và các thể địa lý (địa danh học) và việc miêu tả biên giới và ranh giới chính trị khác, do đó không khả tín hơn. Tất nhiên, độ tin cậy của các thông tin địa danh học cũng tăng lên nhở kiểm chứng thực địa, mặc dù ở mức độ thấp hơn, nhưng theo ý kiến của các nhà vẽ bản đồ, sai sót vẫn còn phổ biến trong biểu thị các đường biên giới, nhất là khi thể hiện các địa danh này này ở các khu vực biên giới khó tiếp cận. [103]

Dưới ánh sáng của những quan điểm này, sự ra đời của công nghệ hiện đại có thể tăng truy đòi của các thẩm phán đối với bằng chứng bản đồ. Một trường hợp nổi bật về điểm này là ý kiến tư vấn của ICJ 2004 đối với bức tường của Israel, trong đó họ dựa (một phần) vào một bản đồ điện tử được đăng trên trang web Bộ Quốc phòng Israel để xác định các tuyến đường hiện tại và tương lai của các bức tường trong vùng lãnh thổ Palestine. [104] Ngược lại, các bản đồ TQ không có vẻ có thể đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt. Mặc dù đường nhiều chấm của TQ thường đi theo đường đẳng sâu 200 mét (đường nối các điểm có độ sâu 200m với nhau), cho đến nay nó chưa bao giờ được phân ranh giới chính xác, do đó thiếu các toạ độ địa lý chính xác. [105] Ngoài ra, có vẻ có một số sự mâu thuẫn nhỏ giữa các tài liệu bản đồ biển của TQ: các điểm cuối của các vạch tạo nên đường chữ U thay đổi (mức khác biệt chạy từ 1 đến 5nm). [106] Nhưng ngay cả vị trí của chính các vạch đôi khi có sai biệt rõ ràng với những vạch trên bản đồ ở Phụ lục I.[107] Hơn nữa, vì nó liên quan các đường trên biển, ảnh vệ tinh cũng không thật hữu ích.

Một yếu tố bổ sung góp phần vào tính không chính xác của bản đồ TQ là tỉ lệ của nó nhỏ quá mức. ICJ đã than phiền các bản đồ vẽ với tỉ lệ không đủ lớn. Một ví dụ điển hình có thể tìm thấy trong Tranh chấp đất, đảo và biên giới biển:

Honduras đã vẽ một bản đồ thứ hai, năm 1804, cho thấy vị trí của các giáo xứ của tỉnh San Miguel trong Tổng Giáo Phận Guatemala. Tuy nhiên, tỉ lệ của bản đồ này không đủ lớn để có thể xác định xem đoạn cuối của sông Goascoran là đoạn do El Salvador khẳng định, hoặc đoạn do Honduras khẳng định. [108]

Các vấn đề tương tự cũng đã được trình bày trước tòa trọng tài. Ví dụ, Uỷ ban ranh giới Eritrea-Ethiopia cho rằng: “hơn nữa, nhiều bằng chứng về bản đồ theo một tỉ lệ quá nhỏ, hoặc quá thiếu chi tiết đến nỗi nó chỉ có thể được coi là mơ hồ trong lĩnh vực này.” [109]

Cuối cùng, cần lưu ý rằng các bản đồ TQ không chứa bất kỳ chỉ dấu nào về mốc quy chiếu (tức là một quy chiếu sử dụng trong trắc địa để đo đạc) được sử dụng, đó có vẻ là một yếu tố quan trọng trong việc đánh giá độ chính xác kỹ thuật của bất kỳ ranh giới biển nào. [110]

XEM TIẾP: IV. BẢN ĐỒ KHÔNG BỊ CÁC NƯỚC KHÁC TRONG KHU VỰC PHẢN ĐỐI

 

IV. BẢN ĐỒ KHÔNG BỊ CÁC NƯỚC KHÁC TRONG KHU VỰC PHẢN ĐỐI

A. Tiêu chuẩn áp dụng

Ngay cả khi ta chấp nhận rằng đường 9 chấm là một mô tả sai lầm của hiện thực thì điều đó không có nghĩa là nó có thể được gạt sang một bên ngay lập tức. Điều này đã được làm sáng tỏ trong vụ kênh Beagle:

tầm quan trọng của bản đồ có thể không nằm ở chính bản đồ mà trên lý thuyết nó có thể không chính xác mà ở thái độ biểu lộ – hoặc hành động thực hiện – đối với bản đồ đó của các bên liên quan hoặc của các đại diện chính thức của họ.[111]

Các thẩm phán trong vụ Đền Preah Vihear đã rõ rệt hơn, gửi một tín hiệu cảnh báo rõ ràng về những ảnh hưởng tiềm năng của việc sơ suất trong khi đối mặt với sự quyết đoán về bản đồ:

Rõ ràng rằng các trường hợp như vậy đòi hỏi một phản ứng nào đó, về phía nhà chức trách Thái Lan trong một thời hạn hợp lý, nếu họ muốn tỏ sự không đồng ý với bản đồ hoặc nếu có bất kỳ câu hỏi nghiêm trọng nào phải nêu ra liên quan đến nó. Họ đã không làm như vậy, hoặc là sau đó hoặc trong nhiều năm, và do đó phải được xem là đã mặc nhận. Qui tacet consentire videtur si loqui debuisset ac potuisset. [112] (Ai im lặng thì dường như là đồng ý, nếu anh ta biết nói đáng lẽ anh ta đã phải nói).

Một ví dụ của mối liên kết giữa bản đồ và sự mặc nhận được Ủy ban Ranh giới Eritrea-Ethiopia nêu lại gần đây: “một bản đồ có thể có chút trọng lượng pháp lý cho từng cái (per se): nhưng nếu bản đồ là thỏa đáng về mặt bản đồ học trong các khía cạnh có liên quan, nó có thể, có vai trò là căn cứ thực tế , có ý nghĩa pháp lý cao, ví dụ như cho hành vi mặc nhận.”[113]

Tất nhiên, các kiểu cách thực tế của các vụ nêu trên là hoàn toàn khác biệt với trường hợp mà chúng ta đang phải đối mặt, tao ra tranh cãi về việc liệu các tiền lệ đó có thể áp dụng được ở đây không. Trong trường hợp này, chúng ta đang đối phó với một đường biên giới biển có mục đích xấu, việc hình thành nó, theo lời của ICJ, là “một vấn đề có tầm quan trọng lớn và việc thỏa thuận không phải là dễ dàng giả định trước”. [114] Hơn nữa, theo quan sát của Strupp:

Yêu sách hình chữ U lạ lùng này là quá bất thường và quá đáng vượt ngoài thực tế trong các thập niên từ 30 tới 60 đến nỗi không thể hiểu được theo cách có “sự mặc nhận đối với yêu sách bản đồ” một công nhận (ngầm) của cộng đồng nước ngoài về những tham vọng “cực kỳ bất thường”, bằng cách áp dụng quy tắc qui tacet consentire videtur si loqui debuisset ac potuisset hoặc quy tắc khác, có thể nghiêm ngặt đi đến xem xét. [115]

Strupp cũng nhận xét rằng:

Trong những trường hợp hoàn toàn quá đáng kiểu như “tuyên bố chủ quyền mặt trăng” của “đường chữ U” ở Biển Đông rõ ràng không tồn tại một cơ sở hợp lý nào cả cho một độ “siêu nhạy cảm” to lớn về phía các nước phải đối mặt với các yêu sách bản đồ đối địch về mặt “mặc nhận”. [116]

Tuy nhiên, cần thận trọng khi áp dụng một phương pháp tiếp cận trung gian. Sau khi xem xét một bộ phận lớn về việc thực hành nhà nước, trong công trình có ảnh hưởng của ông về quyền sở hữu lịch sử, Blum đi đến kết luận sau đây:

Các trường hợp phản đối mới đây chống lại “yêu sách bản đồ” dường như chỉ ra rằng các quốc gia, trên thực tế, “luôn giữ một cái nhìn cảnh giác đối với các bản đồ do các quốc gia văn minh xuất bản ” … Nói chung, có vẻ nổi lên rằng các nước sẽ bị đổ lỗi cho sự hiểu biết về các hoạt động lập pháp trong nước của nhau cũng như các hành vi khác được thực hiện theo thẩm quyền của họ, và lời biện hộ về sự không biết sẽ chỉ được chấp nhận trong những trường hợp đặc biệt nhất.Do đó những nước mong muốn bảo toàn quyền của mình được khuyến cáo nên quan tâm theo dõi sâu sát các hành vi chính thức của các nước khác và đưa ra phản đối – thông qua các phương tiện hợp pháp được luật quốc tế công nhận – nếu họ cảm thấy rằng quyền của mình đã bị ảnh hưởng, hoặc có thể bị ảnh hưởng bởi những hành vi đó.[117]

B. Phản đối / Thiếu sự mặc nhận

Giả sử rằng triển vọng thừa nhận ngầm lồ lộ hiện ra, các nước ven biển được yêu cầu phải bày tỏ sự không chấp nhận chính sách đường chữ U và ý đồ cơ bản của TQ. Một số học giả TQ đã cáo buộc rằng buộc cộng đồng quốc tế đã không lên tiếng về sự bất đồng của mình để ngăn chặn việc củng cố tham vọng của TQ ở Biển Đông:

Khi tuyên bố đường 9 điểm, cộng đồng quốc tế không lúc nào bày tỏ sự bất đồng ý kiến. Không nước lân cận nào đã đưa ra một phản đối ngoại giao. Im lặng khi đối mặt với một tuyên bố công khai có thể nói có nghĩa là mặc nhận, và có thể khẳng định rằng các đường chấm chấm đã được công nhận trong nửa thế kỷ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây một số nước Đông Nam Á, đã tham gia vào tranh chấp chủ quyền Biển Đông, mới đặt ra câu hỏi về tình trạng pháp lý của đường 9 chấm. [118]

Triệu Quốc Khải (Zhao Guocai) cho rằng:

“Từ lúc tuyên bố đường 9- chấm, cộng đồng quốc tế vào thời điểm đó đã không đưa ra bất kỳ sự không bằng lòng nào. Các nước liền kề cũng không đưa ra bất kỳ phản đối ngoại giao nào đối với đường 9-chấm. Những điều này quy thành một sự mặc nhận.” [119]

Sự mặc nhận quốc tế này rất đáng ngờ. [120] Lấy Việt Nam như một trường hợp về điều này, chúng ta có thể thấy rằng hai phát biểu này là không thuyết phục. Các ví dụ bao gồm:

1. Một phản đối đối với các đòi hỏi của TQ qua việc tuyên bố rằng rằng họ sẽ “không công nhận bất kỳ cái gọi là ‘lợi ích lịch sử’ nào, điều đó là không phù hợp với luật pháp quốc tế và vi phạm chủ quyền và quyền chủ quyền của Việt Nam và lợi ích hợp pháp của Việt Nam trong các khu vực biển và thềm lục địa của họ trong Biển Đông”.[121]

2. Một tuyên bố đáp trả công hàm của TQ năm 2009:

Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một phần của lãnh thổ Việt Nam. Việt Nam có chủ quyền không tranh cãi đối với các quần đảo này. Do đó, yêu sách của TQ đối với các đảo và vùng biển lân cận ở Biển Đông như thể hiện trong bản đồ kèm Công hàm CLM/17 / 2009 và CLM/18/2009 là không có cơ sở pháp lý, lịch sử, thực tế, do đó là không có giá trị và vô hiệu. [122]

3. Một yêu cầu loại bỏ dữ liệu khỏi dịch vụ bản đồ trực tuyến của TQ mô tả đường chữ U (nêu trên) trong hai dịp. [123]

4. Các phản kháng gần đây chống lại sự can thiệp của TQ với tàu thuyền Việt Nam, trong đó tính hợp pháp của đường 9 chấm rõ ràng bị bác bỏ. [124]

5. Nhân dịp buổi họp cuối cùng của các nước thành viên UNCLOS, Việt Nam đã nhắc lại phản đối của mình đối với đường 9 chấm theo mục 14 của Chương trình nghị sự. [125]

Cách ứng xử như vậy phải tuân thủ các tiêu chuẩn pháp lý quốc tế cần thiết để làm các hành vi phản đối thấm đầy hiệu lực pháp lí khiến cho đường chữ U không thể được sử dụng để chống lại nước phản đối. Tuy nhiên, có vẻ như không khả thi khi áp dụng các tiêu chí này cho các phản kháng trước đây đối với đường chữ U trong điều kiện vị thế mơ hồ của TQ đối với bản đồ và những gì nó thực sự muốn nói. Xét cho cùng, chỉ có thể hành động bằng cách phản đối một khi nước đối lập đã thực hiện một tuyên bố chính thức và dễ hiểu. Ý tưởng này được phản ánh trong khái niệm về “tai tiếng”của hành động hoặc sự kiện đang có vấn đề. [126] Chúng tôi đã bàn bạc chi tiết các đặc điểm bí ẩn của đường 9 chấm và những ảnh hưởng về ý định không rõ ràng về phía TQ. Vì vậy, chỉ có thể phản đối đối với những khẳng định thấy được và dễ hiểu về đường chữ U trong các trường hợp hiếm hoi mà chúng xảy ra (ví dụ, công hàm TQ gửi cho Tổng Thư ký LHQ năm 2009). Theo thời gian, các tiêu chí theo sau dựa trên các tiêu chí trước trước đây. Theo lập luận, nếu tính rõ ràng của dòng-9-chấm đã được xác lập thì bản chất của sự mặc nhận như thế có xu hướng được chấp nhận chỉ sau một thời gian dài thụ động.[127] Ví dụ dễ thấy là các vụ tranh chấp về Đánh bắt cá và Quyền qua lại trên Lãnh thổ Ấn Độ trong đó ICJ suy ra sự mặc nhận từ trên 60 và 125 năm im lặng, tương ứng. [128] Đòi hỏi về ý định rõ ràng cũng đã được hoàn thành trong các tuyên bố của Việt Nam rõ ràng nhằm mục đích ngăn chặn cái đòi hỏi trở thành quyền lợi pháp lý mới của TQ. Ngoài ra, tiêu chí rằng phản đối phải nhất quán và không bị gián đoạn có thể nói là đã được tuân thủ, như minh họa của nội dung của các ghi chú nói về phản đối. [129]

KẾT LUẬN

Trong đóng góp này, chúng tôi đã cố gắng để khám phá một số những điều không chắc chắn về pháp lý che đậy các vạch trên bản đồ Biển Đông của TQ. Phân tích của chúng tôi đã đưa đến kết luận rằng đường chữ U, cho dù được giải thích như là một thể hiện lãnh thổ hoặc biển, rõ ràng thiếu tính chính xác, và do đó đặt ra nhiều vấn đề nếu vẫn giữ như là một phần của chính sách chính thức của TQ cũng như của Đài Loan. Nếu bộ phận đáng kể luật các án lệ là điều phải đi theo, bản đồ thể hiện với đường 9 chấm sẽ không có giá trị như là tài liệu chứng cứ trong một vụ xử giả thuyết. Trong khi có thể thấy rằng một số người nhìn ra một xu hướng mới nổi lên tạo ảnh hưởng cho sự dễ dãi đối với bản đồ, [130] chúng tôi sẽ cho rằng các luận điệu như vậy là khá vội vã. Các bản đồ không phải là các bản đồ kèm theo các hiệp ước quốc tế sẽ được tiếp nhận một cách thận trọng dễ hiểu và sẽ được đánh giá theo chức năng của chúng vẫn là điều không thay đổi.

Nhưng có một vấn đề cơ bản hơn ở đây. Duy trì một tuyên bố đơn phương trong một khoảng thời gian kéo dài mà không xem xét tới quyền lợi của các bên quan tâm khác là đồng nghĩa với việc áp đặt một việc đã rồi (fait accompli). Điều này sẽ vuột mất đi khi đối mặt với luật quốc tế, luật này ngăn không cho các nước mạnh yêu sách “giành phần trọn” (lion’s share) gây thiệt hại cho các nước láng giềng yếu hơn. [131] Việc bám chặt vào đường 9 chấm cũng là lỡ nhịp với chế độ chính phủ hiện tại, [132] bao gồm các hội thảo[133] và (đề xuất) hợp tác trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và sự đa dạng sinh học. [134] Một giải pháp thực dụng khá thịnh hành trong những năm qua là tìm cách đạt được sự phát triển chung các tài nguyên. Điều này dính dáng tới việc gác các tranh chấp lãnh thổ và biển sang một bên và ký kết các thỏa thuận tạm thời “mà không làm ảnh hưởng” đến kết quả phân định cuối cùng. [135] May mắn thay, TQ, Đài Bắc, và các diễn viên khác trong khu vực đã sử dụng các cơ chế đa phương này và tiếp tục làm như vậy một cách hiệu quả. Chúng tôi hy vọng rằng các nước có tranh chấp từ bỏ các khẳng định cực kỳ quyết đoán về mặt bản đồ và lo tập trung năng lượng của họ vào các kết quả các bên cùng có lợi liên quan đến Biển Đông trên cơ sở UNCLOS.

Người dịch: Phan Văn Song

Hiệu đính: Lê Trung Tĩnh

————–

* Research Professor, President of the Department of International and European Law and Director of the Centre for International Law, Vrije Universiteit Brussel; Member of the Permanent Court of Arbitration. The substance of this article was prepared for the Second International Workshop organized by the Diplomatic Academy of Vietnam and the Vietnam Lawyers Association, entitled ”The South China Sea: Cooperation for Regional Security and Development”, 10-12 November 2010, Ho Chi Minh, Vietnam. This article is a revised version of the paper-”Dotted Lines in the South China Sea: Fishing for (Legal) Clarity”-presented at the Workshop.

**Doctoral Fellow, Research Foundation-Flanders (FWO). Member of the Department of International and European Law and the Centre for International Law, Vrije Universiteit Brussel.


[1] LI Jinming and LI Dexia, ”The Dotted Line on the Chinese Map of the South China Sea: A Note” (2003) 34 Ocean Development and International Law 287 at 289. Trong một công hàm gửi cho Tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, Trung Quốc tuyên bố rằng “kể từ [sic] năm 1930, chính phủ Trung Quốc đã đưa ra công khai nhiều lần [sic] phạm vi địa lý của quần đảo Nam Sa của Trung Quốc và tên các thành phần của nó”, nhưng họ không đề cập đến các hoạt động bản đồ. Vì vậy, trong khi điều này có thể có nghĩa là Trung Quốc chính thức chuẩn nhận các hoạt động đặt tên của Ủy ban, không thể suy ra các bản đồ cũng được chuẩn nhận. Xem People’s Republic of China, ”Letter to the Secretary-General of the United Nations-CML/8/2011” (14 April 2011), online: UN http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/chn_2011_re_phl_e.pdf.

[2] Zou Keyuan đề cập đến sự tồn tại của một đường ở Biển Đông có sớm hơn được nhà vẽ bản đồ TQ Hu Jinjie (Hồ Tấn Tiếp) vẽ vào năm 1914 và tiếp theo vào những năm 1920 và năm 1930. Đường như vậy cũng có thể tìm thấy trong một số tập bản đồ từ thời kỳ này. Tuy nhiên, cần phải nhấn mạnh rằng:

1. Những phiên bản sớm hơn này có trước bản đồ chính thức đầu tiên mô tả “đường chữ U”.

2. Các tập bản đồ nói trên đã được biên soạn bởi các cá nhân, do đó hành động theo khả năng cá nhân của họ.
Xem ZOU Keyuan, ”The Chinese Traditional Maritime Boundary Line in the South China Sea and its Legal Consequences for the Resolution of the Dispute over the Spratly Islands” (1999) 14 International Journal of Marine and Coastal Law 27 at 32-33.

[3] In lại trong HU Nien-Tsu Alfred, ”South China Sea: Troubled Waters or a Sea of Opportunity?” (2010) 41 Ocean Development and International Law 203 at 208.

[4] WANG Kuan-Hsiung, ”The ROC’s Maritime Claims and Practices with Special Reference to the South China Sea” (2010) 41 Ocean Development and International Law 237 at 248.

[5] SHEN Jianming, ”China’s Sovereignty over the South China Sea Islands: A Historical Perspective” (2002) 1 Chinese Journal of International Law 94 at 129, note 122.

[6] Li and Li, supra note 4 at 290. Quan điểm này mâu thuẫn với Zou Keyuan, ông cho rằng hai vạch này bị xoá vào những năm 1960. XemSee Zou, supra note 5 at 34-35.

[7] Malaysia-Socialist Republic of Viet Nam, ”Joint Submission to the Commission on the Limits of the Continental Shelf Pursuant to Article 76, paragraph 8 of the United Nations Convention on the Law of the Sea 1982 in Respect of the Southern Part of the South China Sea, Executive Summary” (May 2009), online: UN http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/mys_vnm2009excutivesummary.pdf. Như chỉ ra trong thư của TTK LHQ, hồi đáp đã nhận, bản đệ trình chung này đã nộp ngày 6/5/2009, xem trực tuyến: UN http://www.un.org/depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/mysvnm_clcs33_2009e.pdf.

[8] Socialist Republic of Vietnam, ”Submission to the Commission on the Limits of the Continental Shelf Pursuant to Article 76, paragraph 8 of the United Nations Convention on the Law of the Sea 1982, Partial Submission in Respect of Vietnam’s Extended Continental Shelf: North Area (VNM-N), Executive Summary” (April 2009), online: UN http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/vnm2009n_executivesummary.pdf. Như chỉ ra trong thư của TTK LHQ, hồi đáp đã nhận, bản đệ trình chung này đã nộp ngày 7/5/2009, xem trực tuyến: UN http://www.un.org/depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/vnm_clcs37_2009e.pdf.

[9] United Nations Convention on the Law of the Sea, 10 December 1982, 1833 U.N.T.S. 397 (entered into force 16 November 1994), online: UN http://www.un.org/Depts/los/convention_agreements/texts/unclos/unclos_e.pdf [UNCLOS], art. 76(8).

[10] Do Malaysia và Việt Nam phê chuẩn UNCLOS ngày 14 tháng 10, 1996 và 25 tháng Bảy năm 1994, tương ứng, hạn chót nộp hồ sơ của họ bình thường theo Phụ lục II của nó, Điều. 4, phải là năm 2006 và 2004, tương ứng. Nhưng vì nhiều nước gặp phải khó khăn trong việc đáp ứng hạn chót này của Phụ lục II, vào năm 2001 các nước thành viên UNCLOS đã quyết định sử dụng một điểm khởi đầu để xác định thời hạn này: ngày thông qua CLCS Hướng dẫn Khoa học và Kỹ thuật đã trở thành điểm khởi đầu của thời kỳ 10 năm thay vì ngày UNCLOS bắt đầu có hiệu lực. Xem Decision Regarding the Date of Commencement of the Ten-Year Period for Making Submissions to the Commission on the Limits of the Continental Shelf Set Out in Article 4 of Annex II to the United Nations Convention on the Law of the Sea, Meeting of State Parties, UN Doc. SPLOS/72 (2001). Đối với tất cả các nước mà UNCLOS đã có hiệu lực trước ngày 13/5/1999, gồm cả Malaysia and Vietnam thì ngày 12/5/2009 trở thành ngày hạn chót mới.

[11] Bản đồ này được in lại trong Phụ lục Iở cuối bài viết này.

[12] Xem thêm NGUYEN Hong Thao, ”Vietnam and Maritime Delimitation” in Ramses AMER và ZOU Keyuan, eds., Conflict Management and Dispute Settlement in East Asia (Farnham, Burlington: Ashgate, 2011), 171 at 184, ông lưu ý rằng đây là dịp đầu tiên CHNDTH bày tỏ vị thế chính thức của họ về đường 9 chấm.

[13] People’s Republic of China, ”Letter to the Secretary-General of the United Nations-CML/17/2009” (7 May 2009), online: UN http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/chn_2009re_mys_vnm_e.pdf.; People’s Republic of China, ”Letter to the Secretary-General of the United Nations-CML/18/2009” (7 May 2009), online: UN http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/chn_2009re_vnm.pdf . The map was attached to these letters. It was also reproduced in the following Chinese sources: (2009) 9 China Oceans Law Review at 200 and 202 and ZHU Lijiang, ”Chinese Practice in Public International Law: 2009” (2009) 9 Chinese Journal of International Law at 622.

[14] Paracel Islands (quẩn đảo Hoàng Sa).

[15] Spratly Islands (quẩn đảo Trường Sa).

[16] Macclesfield Bank (bãi cạn Macclesfiled).

[17] Pratas Islands (quẩn đảo Pratas).

[18] Hu, supra note 6 at 204-6.

[19] See Erik FRANCKX, ”American and Chinese Views on Navigational Rights of Warships” (2011) 10 Chinese Journal of International Law 187 at 196, với tài liệu tham khảo thêm ở chú thích 48 chỉ ra rằng một số học giả phương Tây có khuynh hướng xem nó là sự chuẩn nhận cho yêu sách về quyền sở hữu lịch sử, trong khi các học giả khác nghĩ ngước lại căn cứ trên điều mà việc làm rõ không có nêu lên, tức là bất kỳ quy chiếu cụ thể nào tới vùng nước lịch sử.

[20] Republic of the Philippines, ”Letter to the Secretary-General of the United Nations-No. 000228” (5 April 2011), online: UN http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/phl_re_chn_2011.pdf. Vietnam issued a response to both the Philippines and the PRC, yet refrained from giving any interpretation to these terms. Vietnam, ”Letter to the Secretary-General of the United Nations-77/HC-2011” (3 May 2011), online: UN http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/vnm_2011_re_phlchn.pdf.

[21] People’s Republic of China, supra note 4.

[22] People’s Republic of China, ”Foreign Ministry Spokesperson Hong Lei’s Regular Press Conference” (7 July 2011), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.fmprc.gov.cn/eng/xwfw/s2510/2511/t838221.htm; People’s Republic of China, ”Foreign Ministry Spokesperson Hong Lei’s Regular Press Conference” (28 June 2011), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.fmprc.gov.cn/eng/xwfw/s2510/2511/t835066.htm; People’s Republic of China, ”Foreign Ministry Spokesperson Hong Lei’s Regular Press Conference” (21 June 2011), online: Ministry of Foreign Affairs http:// http://www.fmprc.gov.cn/eng/xwfw/s2510/2511/t833157.htm; ZHU Lijiang, ”Chinese Practice in Public International Law: 2010” (2011) 10 Chinese Journal of International Law 427 at 438.

[23] . Trong nhiều dịp trước công hàm 2009,TQ tái khẳng định chủ quền ”không thể tranh cãi (indisputable)” or ”không thể chối cãi (undeniable)” của họ đối với quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa. Xem ZHU Lijiang, ”Chinese Practice in Public International Law: 2009” (2010) 9 Chinese Journal of International Law 607 at 612; ZHU Lijiang, ”Chinese Practice in Public International Law: 2008” (2009) 8 Chinese Journal of International Law 493 at 504-5; ZHU Lijiang, ”Chinese Practice in Public International Law: 2007 (I)” (2008) 7 Chinese Journal of International Law 485 at 498-9; ZHU Lijiang, ”Chinese Practice in Public International Law: 2006 (II)” (2007) 6 Chinese Journal of International Law 711 at 760; CHEN Qiang, ”Chinese Practice in Public International Law: 2004 (II)” (2005) 4 Chinese Journal of International Law 607 at 630-1; CHEN Qiang, ”Chinese Practice in Public International Law: 2003 (II)” (2004) 3 Chinese Journal of International Law 591 at 598-9; PRC Ministry of Foreign Affairs, ”China’s Indisputable Sovereignty over the Xisha and Nansha Islands”, (1980) 7 Beijing Review 15, discussed in Otani Yoshio, ”À qui appartient l’archipel des Spratley? Un point de vue sur les revendications chinoises” (1996) 1 Annuaire du droit de la mer 179.

[24] Charles C. Hyde, ”Maps as Evidence in International Boundary Disputes” (1933) 27 American Journal of International Law 311 at 315; Hasjim DJALAL, ”South China Sea Island Disputes” in Myron H. NORDQUIST and John Norton MOORE, eds., Security Flashpoints: Oil, Islands, Sea Access and Military Confrontation (The Hague: Nijhoff, 1998), 109 at 113; F. MU¨ NCH, ”Maps” in R. BERNHARDT, ed., Max Planck Encyclopedia of Public International Law vol. III (Amsterdam: Elsevier Science, 1995), 287 at 288; T.S. MURTI, ”Boundaries and Maps” (1964) 4 Indian Journal of International Law 367 at 388; Daniel SCHAEFFER, ”L’interprétation du droit de la mer par la Chine: ses effets majeurs en Extrême-Orient” (2008) 13 Annuaire du droit de la mer 23 at 43; Georg RESS, ”The Delimitation and Demarcation of Frontiers in International Treaties and Maps” (1985) 14 Thesaurus Acroasium 435 at 443.

[25] Dzurek, supra note 3 at 13.

[26] Policy Guidelines for the South China Sea, Point 1, 10 March 1993, in SUN Kuan-Ming, ”Policy of the Republic of China Towards the South China Sea: Recent Developments” (1995) 19 Marine Policy 401 at 408 (Annex I).

[27] Dzurek, supra note 3 at 13.

[28] Republic of China (Taiwan), Statement (1 July 1999), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.tw/webapp/ct.asp?xItem52353&ctNode51902&mp56.

[29] PAN Shiying, ”South China Sea and the International Practice of the Historic Title”, Conference on the South China Sea, American Enterprise Institute, Washington, 7-9 September 1994, referenced in ZOU Keyuan, ”Historic Rights in International Law and in China’s Practice” (2001) 32 Ocean Development and International Law 149 at 161, note 97; SONG Yann-huei and Peter Kien-hong YU, ”China’s ‘Historic Waters’ in the South China Sea: An Analysis from Taiwan, R.O.C.” (1994) 12 American Asian Review 83.

[30] ZHAO Guocai, ”Analysis of the Sovereign Dispute over the Spratlys under the Present Law of Sea” (1999) 9 Asian Review at 22 (in Chinese), translated in Li and Li, supra note 4 at 293. Tuy nhiên, cần nêu rõ rằng không phải mại chuyên gia pháp lý Đài Loan đều ủng hộ các tiếp cận yêu sách vùng nước lịch sử dù có lập trường chính thức của chính phủ của họ. Xem ZOU Keyuan, ”China and Maritime Boundary Delimitation: Past, Present and Future” in Amer and Zou, eds., supra note 15, at 160.

[31] . See Andrea GIOIA, ”Historic Titles” in Rudiger WOLFRUM, ed., The Max Planck Encyclopedia of Public International Law (Oxford: Oxford University Press, 2008), online: MPEPIL http:// http://www.mpepil.com.

[32] Zou, supra note 33 at 152.

[33] Juridical Regime of Historic Waters, Including Historic Bays, Study Prepared by the Secretariat, UN Doc. A/CN.4/143 (1962), (1962) 2 Yearbook of the International Law Commission 1 [Historic Waters Study].

[34] Ibid., at 13. Nghiên cứu này còn nêu khả năng về một đòi hỏi thứ tư (biện minh “trên cơ sở nhu cầu kinh tế, an ninh quốc gia, lợi ích sống còn hay một căn cứ tương tự”) nhưng chưa có sự đồng thuận cao về đòi hỏi này. Tuy nhiên, ngưới ta cần phải hoàn thành danh sách này với một đòi hỏi tổng quát hơn rằng quền sở hữu lịch sử phải thật rõ ràng. Xem Ahmed ABOU-EL-WAFA, ”Les différends internationaux concernant les frontières terrestres dans la jurisprudence de la Cour internationale de justice” (2010) 343 Collected Courses of the Hague Academy of International Law 9 at 397.

[35] Zou, supra note 33 at 161 and references, supra note 25.

[36] For a treatment of both positions, xem Historic Waters Study, supra note 36 at 16-19.

[37] Xem, chẳng hạn,bằng tiếng Anh, Markus KOTZUR, ”Intertemporal Law” in WOLFRUM, ed., supra note 24. Một phân tích chi tiết hơn bằng tiếng Pháp, xem Paul TAVERNIER, Recherches sur l’application dans le temps des actes et des règles en droit international public (problèmes de droit intertemporel ou de droit transitoire) (Paris: Librairie générale de droit et de jurisprudence).

[38] See Hasjim DJALAL, ”South China Sea Island Disputes” (2000) The Raffles Bulletin of Zoology

(Supplement No. 8) 9.

[39] Clive Ralph SYMMONS, Historic Waters in the Law of the Sea: A Modern Re-appraisal (Leiden: Nijhoff, 2008) at 17-37. Đưa ra một lập luận tương tự trên cơ sở công trình của Uỷ ban Luật quốc tế về dàn ý của công ước 1958 cũng như trên cơ sở UNCLOS, see Franckx, supra note 22 at 197, and especially note 50.

[40] Lần duy nhất TQ được nêu liên quan tới yêu sách lịch sử của Liên Xô cũ đối với Vịnh Peter the Great (Symmons, supra note 42 at 144).

[41] Tullio SCOVAZZI, ”Book Review of ‘Historic Waters in the Law of the Sea: A Modern Re-appraisal by Clive Ralph Symmons, Leiden, Martinus Nijhoff, 322 pp., 2008’ ”  (2010) 25 International Journal of Marine and Coastal Law 637 at 642. See also ibid., at 639-40 and in the same sense Symmons, supra note 42, at 242-5, 299-300. Continental Shelf (Tunisia/Libyan Arab Jamahiriya), [1982] I.C.J. Rep. 18 at 73-4:
Không có định nghĩa về khái niệm lẫn nghiên cứu về chế độ pháp lý của ”vùng nước lịch sử” hay ”vịnh lịch sử”. Tuy nhiên, có các quy chiếu về ”vịnh lịch sử” hay ”quyền sở hữu lịch sử” hay các lí lẽ lịch sử theo hướng tạo nên một bảo lưu cho các quy tắc xác lập từ đó trở đi. Vấn đề này dường như rõ ràng tiếp tục bị điều tiết bởi luật quốc tế chung, luật này không đưa ra một” chế độ” đơn nhất  cho ”các vùng nước lịch sử” hay ”vịnh lịch sử”, nhưng chỉ cho một chế độ đặc biệt cho mỗi trường hợp cụ thể đã được thừa nhận về “vùng nước lịch sử” hay “vịnh lịch sử”.

[42] Lập luận này được đưa ra trong WU Fengbing, ”Historical Evidence of China’s Ownership of the Sovereignty over the Spratly Islands” in China Institute for Marine Development Strategy, ed., Selected Papers of the Conference on the South China Sea Islands (Beijing: Ocean Press, 1992) at 111 (in Chinese), referenced in Zou, supra note 33 at 161, note 98.

[43] Nói chung, xem Franckx, Benatar, Joe, and Van den Bossche, supra note 2. Nói cụ thể hơn về Biển Đông, xem NGUYEN Hong Thao, Le Vietnam et ses différends maritimes dans la Mer de Bien Dong (Mer de Chine méridionale) (Paris: Pedone, 2004) at 258.

[44] Như đã nêu ở supra note 2, Vietnam gọi khu vực này là ”Biển Đông” (”East Sea”). Xem National Border Committee under the Ministry of Foreign Affairs of Vietnam, online: National Border Committee http://www.biengioilanhtho.gov.vn/bbg-vie/home.aspx.

[45] International Hydrographic Organization, Limits of Oceans and Seas, 3rd ed. (Monte-Carlo: Imp. Mone´gasque, 1953) at preface and 30, online: IHO http://www.iho-ohi.net/iho_pubs/standard/S-23/S23_1953.pdf. Old maps also use this denomination merely due to the fact that historically European navigators encountered predominantly Chinese ships. See Y. LACOSTE, ”Mer de Chine ou mer de l’Asie du Sud-Est” (1981) 24 Hérodote at 13, referenced in Nguyen, supra note 46 at 257

[46] Nguyen, supra note 46 at 257.

[47] Republic of China (Taiwan), ”Statement of the Ministry of Foreign Affairs concerning the Declaration on the Conduct of Parties in the South China Sea signed by the Association of Southeast Asian Nations (ASEAN) and the People’s Republic of China (PRC) in Cambodia on November 4, 2002” (5 November 2002), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.tw/webapp/ct.asp?xItem52357&ctNode51902&mp56:
Chính phủ THDQ tái khẳng định chủ quyền lãnh thổ trên quần đảo Đông Sa (quần đảo Pratas), Tây Sa (quần đảo Hoàng Sa), Trung Sa (bãi cạn Macclesfield) và Nam Sa (Trường Sa) trong Biển Đông, Đối với các quần đảo này THDQ có tất cảquyền hợp pháp theo luật quốc tế;
Republic of China (Taiwan), ”The Position of the Ministry of Foreign Affairs on Taiwan’s Sovereignty over Islands in the South China Sea” (20 November 2007), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.tw/webapp/ct.asp?xItem527782&ctNode51903&mp56.
Quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa, bãi Macclesfield và quần đảo Pratas luôn luôn là phần cố hữu của các vùng lãnh thổ Đài Loan, dù nhìn từ quan điểm của lịch sử địa lý, pháp luật quốc tế hay thực tế đơn giản. Theo các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, chủ quyền đối với các quần đảo này của chính phủ Đài Loan là không thể nghi ngờ và Đài Loan hưởng tất cả các quyền tương ứng;
Republic of China (Taiwan), ”The Government of the Republic of China (Taiwan) Reiterates its Sovereignty over the Spratly Islands and has Proposed a Spratly Initiative that Focuses on Environmental Protection Instead of Sovereignty Disputes” (15 August 2008), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.tw/webapp/ct.asp?xItem532920&ctNode51903&mp56:
Quần đảo Trường Sa, bao gồm cả rạn san hô Swallow (đảo san hô Layang-Layang), nằm trong vùng lãnh hải của Đài Loan. Dù theo quan điểm pháp lý, lịch sử địa lý hoặc luật quốc tế, quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Macclesfield, quần đảo Pratas và các vùng nước lân cận là một phần của lãnh thổ và lãnh hải của Đài Loan;
Republic of China (Taiwan), ”Solemn Declaration of the Ministry of Foreign Affairs of the Republic of China concerning the Philippine Senate Bill 2699 and House Bill 3216” (6 February 2009), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.tw/webapp/ct.asp?xItem536914&ctNode51902&mp56:
Dù từ góc độ lịch sử, địa lý, thực tế hay luật pháp quốc tế, quần đảo Trường Sa, quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Macclesfield, quần đảo Pratas, cũng như các vùng biển xung quanh, là các vùng lãnh thổ hiện hữu của THDQ. Sự kiện rằng chủ quyền của các khu vực này thuộc về chính phủ của chúng tôi là không thể phủ nhận, Đài Loan được hưởng và xứng đáng với tất cả các quyền tương ứng. Bất kỳ yêu sách chủ quyền nào đối với, hoặc sự chiếm cứ, các quần đảo này và vùng nước xung quanh sẽ không được chính phủ THDQ thừa nhận.

[48] Republic of China (Taiwan), ”Declaration of the Republic of China on the Outer Limits of Its Continental Shelf, no 003” (12 May 2009), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.tw/webapp/content.asp?cuItem538077&ctNode51036&mp56.

[49] Hasjim DJALAL, ”Conflicting Territorial and Jurisdictional Claims in South China Sea” (1979) 7(1) The Indonesian Quarterly 36 at 41-2.

[50] Robert W. SMITH, ”Maritime Delimitation in the South China Sea: Potentiality and Challenges” (2010) 41 Ocean Development and International Law 214 at 224. Xem thêm GAO Zhiguo, ”The South China Sea: From Conflict to Cooperation?” (1994) 25 Ocean Development and International Law 345 at 346: ”nghiên cứu tỉ mỉ các tài liệu Trung Quốc cho thấy rằng Trung Quốc không bao giờ tuyên bố chủ quyền toàn bộ cột nước của vùng biển Biển Đông mà chỉ là các đảo và vùng biển xung quanh bên trọng đường này.” Xem thêm phát biểu của Wang Xiguang (Uông Hi Quang), người đã giúp Cục Địa lý Bộ Nội Chính trong việc chế tác các bản đồ trong những năm 1940 và dùng cùng một kỹ thuật nhưng đi đến một kết quả khác: ”đường biên giới quốc qia chấm chấm được vẽ như là trung tuyến giữa TQ và các nước liền kề”, trong XU Sen’an, ”The Connotation of the 9-Dotted Line on the Chinese Map of the South China Sea” trong ZHONG Tianxiang, ed., Paper Selections of the Seminar on ”The South China Sea in the 21st Century: Problems and Perspective” (Hainan Research Center of the South China Sea, 2000) at 80 (in Chinese), translated in Li and Li, supra note 4 at 290.

[51] Dzurek, supra note 3 at 11.

[52] Một quyển sách nói về cách giải quyết các vần đề này , xem Monique CHEMILLIER-GENDREAU, Sovereignty over the Paracel and Spratly Islands (The Hague: Kluwer Law International, 2000).

[53] Anna RIDDELL and Brendan PLANT, Evidence Before the International Court of Justice (London: British Institute of International and Comparative Law, 2009) at 31.

[54] Frontier Dispute (Burkina Faso/Republic of Mali), [1986] I.C.J. Rep. 554 at 582, para. 54.

[55] Kasikili/Sedudu Island (Botswana/Namibia), [1999] I.C.J. Rep. 1045 at 1098, para. 84, nêu: “Tòa án sẽ bắt đầu bằng việc nhắc lại những gì mà Ban thẩm phán (Chamber) xử vụ tranh chấp biên giới (Burkina Faso / Cộng hòa Mali) phải nói về giá trị chứng cứ của bản đồ”; Tranh chấp lãnh thổ và biển giữa Nicaragua and Honduras trong biển Caribbean (Nicaragua v. Honduras), [2007] I.C.J. Rep. 659 at 723, para. 215, nêu: “Toà án tái khẳng định lập trường của họ trước đây liên quan đến phạm vi vô cùng hạn chế của bản đồ như là một nguồn về quyền sở hữu chủ quyền”; Tranh chấp biên giới (Benin/Niger), [2005] I.C.J. Rep. 90 at 119-20, para. 44, nêu: “nguyên tắc này [như mô tả trong tranh chấp biên giới (Burkina Faso / Cộng hòa Mali) cũng sẽ hướng dẫn Ban Thẩm phán trong việc đánh giá các bản đồ mà các Bên trong trường hợp hiện tại dựa vào”; Sovereignty over Pulau Ligitan and Pulau Sipadan (Indonesia/Malaysia), [2002] I.C.J. Rep. 625 at 667, para. 88; Maritime Delimitation and Territorial Questions between Qatar and Bahrain (Qatar v. Bahrain), Separate Opinion of Judge Kooijmans, [2001] I.C.J. Rep. 225 at 242, para. 68.

[56] Patrick DAILLIER, Mathias FORTEAU, and Alain PELLET, Droit international public, 8th ed. (Paris: L.G.D.J., 2009) at 524, para. 301.

[57] Một bàn luận về khả năng hạn chế này, xem Maurice KAMTO, ”Le matériau cartographique dans les contentieux frontaliers et territoriaux internationaux” in Emile YAKPO and Tahar BOUMEDRA, eds., Liber Amicorum Judge Mohammed Bedjaoui (The Hague: Kluwer, 1999) at 371-98.

[58] Riddell and Plant, supra note 56 at 266.

[59] ZHAO Lihai, Studies on the Law of Sea (Beijing: Beijing University Press, 1996) at 37 (in Chinese), translated in Li and Li, supra note 4 at 291.

[60] JIAO Yongke, ”There Exists No Question of Redelimiting Boundaries in the Southern Sea” (2000) 17 Ocean Development and Management at 52 (in Chinese), translated in Michael STRUPP, ”Maritime and Insular Claims of the PRC in the South China Sea under International Law” (2004) 11 Zeitschrift fu¨ r chinesisches Recht 1 at 16.

[61] Zou, supra note 33 at 160.

[62] Grisbadarna Case (Norway v. Sweden), Decision of 23 October 1909, [1910] 4 American Journal of International Law 226 at 231, nêu rằng: ”lãnh hải là thứ phụ thuộc chính yếu của lãnh thổ đất liền” (translation from the original French, [2006] XI Reports of International Arbitral Awards 159); North Sea Continental Shelf (Federal Republic of Germany/Denmark; Federal Republic of Germany/Netherlands), [1969] I.C.J. Rep. 3 at 51, para. 96: ”Trong cả hai trường hợp [vùng tiếp giáp lãnh hải và thềm lục địa] nguyên tắc được áp dụng là đất thống trị biển”. Nghiên cứu sâu hơn và các trường hợp của nguyên tắc này, xem Abou-el-Wafa, supra note 37 at 88-90.

[63] Fisheries Case (United Kingdom v. Norway), [1951] I.C.J. Rep. 116 at 132.

[64] UNCLOS, supra note 12, has been ratified by all interested parties in the South China Sea dispute with the exception of Taiwan (Vietnam: 25 July 1994, PRC: 7 June 1996, Philippines: 8 May 1984,Malaysia: 14 October 1996, Brunei: 5 November 1996, Myanmar: 21 May 1996, and Thailand: 15 May 2011), online: UN http://www.un.org/Depts/los/reference_files/chronological_lists_of_ratifications.htm.

[65] Ibid.

[66] Một cách tiếp cận mới giới hạn đáng kể khả năng áp dụng ngoại lệ củaĐiều 121(3) đối với việc phân giới trên biển, xem Bernard H. OXMAN, ”On Rocks and Maritime Delimitation” in Mahnoush H. ARSANJANI, Jacob Katz COGAN, Robert D. SLOANE, and Siegfried WIESSNER, eds., Looking to the Future: Essays on International Law in Honor of W. Michael Reisman (Leiden/Boston: Martinus Nijhoff, 2011), 893. Theo lý luận của tác giả, những tranh cãi liên quan đến ý nghĩa chính xác của việc cư trú của con người và đời sống kinh tế sẽ ít quan trọng hơn, bởi vì trong giai đoạn phân giới các đảo nhỏ thường chỉ đóng một vai trò nhỏ.

[67] Alex G. Oude ELFERINK, ”The Islands in the South China Sea: How Does Their Presence Limit the Extent of the High Seas and the Area and the Maritime Zones of the Mainland Coasts?” (2001) 32 Ocean Development and International Law 169 at 182. See also Marius GJETNES, ”The Spratlys: Are They Rocks or Islands?” (2001) 32 Ocean Development and International Law 191 at 199-201; Barry Hart DUBNER, ”The Spratly ‘Rocks’ Dispute: A ‘Rockapelago’ Defies Norms of International Law” (1995) 9 Temple International and Comparative Law Journal 291 at 299-306.

[68] Nó liên quan đến những hành động do TQ thực hiện bởi để đưa vào các mục bổ sung cho chương trình nghị sự tại cuộc họp năm 2009 của các nước thành viên UNCLOS và kỳ họp lần thứ 15 của Cơ quan đáy biển quốc tế (ISA) một năm sau đó. Xem Erik FRANCKX, ”The International Seabed Authority and the Common Heritage of Mankind: The Need for States to Establish the Outer Limits of Their Continental Shelf” (2010) 25 International Journal of Marine and Coastal Law 543 at 563-4. Những nỗ lực như vậy được lặp vào thời điểm Hội nghị của các nước thành viên UNCLOS năm 2011 nhưng không lặp lại tại cuộc họp lần của ISA khoảng một tháng sau đó.

[69] Như chỉ rõ qua danh nghĩa đại diện của giáo sư Jia Yu, đưa ra trong một buổi báo cáo tóm tắt của ISA năm 2009. Mặc dù đóng góp này có tiêu đề là ”Safeguarding the Common Heritage of Mankind”(Bảo vể di sản chung của loài người) trong công bố cho báo chí của ISA (ISA, ”Press Release SB/15/10” (June 2009) at 3, online: ISA http://www.isa.org.jm/files/documents/EN/Press/Press09/SB-15-10.pdf), các phim chiếu slides phân phát vào lúc đó tại buổi báo cáo tóm tắt lại có một tiêu đề cụ thể hơn, đó là ”The Rock of Oki-no-Tori Shall Have No EEZ and Continental Shelf” (Mỏm đá Okinotori sẽ có EEZ và thềm lục địa mở rộng). Xem thêm Ted McDORMAN, ”The South China Sea after 2009: Clarity of Claims and Enhanced Prospects for Regional Cooperation?” (2010) 24 Ocean Yearbook 507 at 514-15. Về chi tiết và các hành động sau này của các bên về mặt này, xem Yann-Huei SONG, ”The Application of Article 121 of the Law of the Sea Convention to the Selected Geographical Features Situated in the Pacific Ocean” (2010) 9 Chinese Journal of International Law 663 at 671-4.

[70] Indonesia, ”Letter to the Secretary-General of the United Nations-480/POL-703/VII/10” (8 July 2010), online: UN http://www.un.org/depts/los/clcs_new/submissions_files/mysvnm33_09/idn_2010re_mys_ vnm_e.pdf. Sự liên kết giữa các hành động can thiệp này với Biển Đông được trình bày trong công hàm này như sau:
Về mặt này, các phát biểu của các đại diện ưu tú của CHNDTH cũng liên quan đến tình hình ở Biển Đông và do đó thật đúng khi nêu rằng những thể địa lý rất nhỏhoặc ở xa xôi ở Biển Đông không xứng đáng được hưởng vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa của riêng mình. Cho phép sử dụng các mỏm đá, các rạn san hô và đảo san hô vòng không có người ở cô lập với đất liền và ở giữa biển khơi như một điểm cơ sở để tạo ra các khu vực biển gây quan ngại tới các nguyên tắc cơ bản của Công ước [1982]  và xâm phạm lợi ích chính đáng của cộng đồng toàn cầu. Vì thế,như  được chứng thực bởi những phát biểu trên, cái gọi là “bản đồ đường 9 chấm” rõ ràng thiếu cơ sở pháp lý quốc tế và đồng nghĩa với việc đảo lộn… Công ước 1982.

[71] Xem bộ phận luật án lệ rộng hơn và ý kiến các học giả nêu trong Gérard NIYUNGEKO, La preuve devant les juridictions internationales (Brussels: Bruylant, 2005) at 322-35, and more recently Case concerning Pulp Mills on the River Uruguay (Argentina v. Uruguay), [2010] I.C.J. Rep. 1 at 52, para. 168.

[72] Raphae¨le RIVIER, ”La preuve devant les juridictions interetatiques à vocation universelles (CIJ et TIDM)” in Hélène Ruiz FABRI and Jean-Marc SOREL, eds., La preuve devant les juridictions internationales (Paris: Pedone, 2007), 9 at 38-48. More generally, judicial bodies select the facts they deem pertinent in a discretionary manner. Xem Jean SALMON, ”Le fait dans l’application du droit international” (1982) 175 Collected Courses of the Hague Academy of International Law 261 at 300. For a critical approach to the freedom of judges with respect to weighing evidence, see Rudiger WOLFRUM, ”Taking and Assessing Evidence in International Adjudication” in Tafsir Malick NDIAYE and Rudiger WOLFRUM, eds., Law of the Sea, Environmental Law and Settlement of Disputes: Liber Amicorum Judge Thomas A. Mensah (Leiden: Martinus Nijhoff, 2007), 341 at 342; Patrick KINSCH, ”On the Uncertainties Surrounding the Standard of Proof in Proceedings before International Courts and Tribunals” in Gabriella VENTURINE and Stafania BARIATTI, eds., Liber Fausto Pocar-Diritti individuali e giustizia internazionale, vol. 1 (Milan: Giuffre’, 2009), 427 at 438-9; Chittharanjan F. AMERASINGHE, Evidence in International Litigation (Leiden: Martinus Nijhoff, 2005) at 232-61.

[73] Mặc dù không có học thuyết về việc dựa vào tiền lệ (stare decisis) trong luật quốc tế, tòa và tòa án quốc tế thường trích dẫn luật án lệ. Điều này đặc biệt đúng đối với ICJ, là toà có tính tự tham chiếu cao độ và sẽ chỉ đi chệch khỏi án lệ trong quá khứ khi có các lý do đáng kể. Xem Alan BOYLE and Christine CHINKIN, The Making of International Law (Oxford: Oxford University Press, 2007) at 293-9; Gilbert GUILLAUME, ”The Use of Precedent by International Judges and Arbitrators” (2011) 2 Journal of International Dispute Settlement 5 at 12.

[74] Frontier Dispute, supra note 57 at 582, para. 55, nêu: ”trọng lượng phân cho các bản đồ với tư cách bằng chứng phụ thuộc vào một số lớn các cân nhắc”; Qatar v. Bahrain, supra note 58, Dissenting Opinion of Judge Torres Berna´rdez at 274, para. 37, stating: ”[t]he weight of maps as evidence depends on a range of considerations.”

[75] Xem Case concerning the Delimitation of Maritime Boundary between Guinea-Bissau and Senegal (Guinea- Bissau/Senegal), Decision of 31 July 1989, Dissenting Opinion of Mr. Mohammed Bedjaoui, [2006] XX Reports of International Arbitral Awards 119 at 166-9, paras. 32-7 (lập luận chống lại một chuyển vị tự động các nguyên tắc lãnh thổ sang phân định biển cho các khác biệt “hiển nhiên” và “không thể giảm hơn” về mặt địa lý, mối quan hệ của chúng với các quyền của các dân tộc và các quốc gia quyền đối với các vùng này); Lea BRILMAYER and Natalie KLEIN, ”Land and Sea: Two Common Sovereignty Regimes in Search of a Common Denominator” (2001) 33 New York University Journal of International Law and Politics 703 at 703-4 (noting 15

[76] Xem các ví dụ về các vụ liên quan một phần đến các tranh chấp trên biển, supra note 58 citing a passage from Frontier Dispute (Burkina Faso/Republic of Mali) (which is a territorial case).

80. Island of Palmas Case (Netherlands v. U.S.A.), Award of 4 April 1928, [2006] II Reports of International Arbitral Awards 829 at 852-3 stating: ”only with the greatest caution can account be taken of maps in deciding a question of sovereignty”, reaffirmed in Nicaragua v. Honduras, supra note 58 at 58, para.

[77] Island of Palmas Case (Netherlands v. U.S.A.), Award of 4 April 1928, [2006] II Reports of International Arbitral Awards 829 at 852-3 nêu: “Chỉ với sự thận trọng lớn nhất các bản đồ có thể được xét tới trong việc quyết định vấn đề chủ quyền”, reaffirmed in Nicaragua v. Honduras, supra note 58 at 58, para. 214; Territorial Sovereignty and Scope of the Dispute (Eritrea/Yemen), Decision of 9 October 1998, [2006] XXII Reports of International Arbitral Awards 209 at 296, para. 388, nêu: “như trong tất cả các trường hợp về bản đồ, bằng chứng phải được xử lý thât  tinh tế”. For an opposing view calling into question the reluctant approach of international adjudicators vis-à-vis cartographic evidence, see Romulo R. UBAY Jr, ”Evidence in International Adjudication: Map Evidence in Territorial Sovereignty Dispute Cases” (2011) 1 Aegean Review of the Law of the Sea and Maritime Law 287.

[78] Arbitration Between Great Britain and Portugal as Regards Questions Relative to the Delimitation of their Spheres of Influence in East Africa (Manica plateau) (United Kingdom/Portugal), Decision of 30 January 1897, [2007] XXVIII Reports of International Arbitral Awards 283 at 298.

[79] Indo-Pakistan Western Boundary (Rann of Kutch) between India and Pakistan (India v. Pakistan), Award of 19 February 1968, Proposal of Mr. Nasrollah Entezam, [2006] XVII Reports of International Arbitral Awards 1 at 505, nêu: “bản đồ chỉ bằng chứng phụ. Chỉ có bản đồ được chuẩn bị bởi người giám định ngay tại chỗ bằng cách quan sát mới là bằng chứng chính. Thầm chí chúng là bằng chứng chính chỉ cho những điều mà người giám định có thể tự mình quan sát”; Qatar v. Bahrain, supra note 58, Dissenting Opinion of Judge Torres Bernardez at 274, para. 37, nêu: ” nói chung, giá trị như là bằng chứng do toà và toà án quốc tế gắn cho chúng là có tính củng cố hay xác nhận cho các kết luận đã được rút ra từ các phương cách khác không dính dáng tới các bản đồ, vì các bản đồ như thế không có danh nghĩa pháp lý”; Island of Palmas, supra note 80 at 853-4, nêu: “dù sao đi nữa, bản đồ chỉ có khả năng đưa ra một chỉ định – và đó là một chỉ định rất gián tiếp – và trừ khi được kèm theo một công cụ pháp lý, không có giá trị của một công cụ như vậy, liên quan đến công nhận hoặc từ bỏ quyền”; ibid., at 853: Nếu trọng tài hài lòng về sự tồn tại của các sự kiện pháp lý có liên quan nhưng các sự kiện này lại mâu thuẫn với lời khai của những người vẽ bản đồ có nguồn thông tin không biết rõ, ông ta có thể sẽ không gán trọng lượng nào cho các bản đồ, tuy các bản đồ này rất nhiều và thường có thể được đánh giá cao.

[80] Frontier Dispute, supra note 57 at 583, para. 56. Xem thêm The Government of Sudan/The Sudan People’s Liberation Movement/Army (Abyei Arbitration), Final Award of 22 July 2009, online: PCA http://www.pca-cpa.org at 256, para. 741:
Toà án tương tự như vậy rất miễn cưỡng để cân bằng biên giới Đông và Tây của khu vực do Ngok Dinka chiếm đóng chuyển giao vào năm 1905 với mô tả bằng bút chì năm 1933 về khu vực chăn thả gia súc mùa khô của Ngok Dinka trên một bản đồ vẽ phác, đặc biệt là khi toà đã có bằng chứng toàn diện và cụ thể hơn.

[81] Sakeus AKWEENDA, ”The Legal Significance of Maps in Boundary Questions: A Reappraisal with Particular Emphasis on Namibia” (1990) 60 British Yearbook of International Law 205 at 212; A.O. CUKWURAH, The Settlement of Boundary Disputes in International Law (Manchester: Manchester University Press, 1967) at 224-5; Hyde, supra note 27 at 313-15; Victor PRESCOTT and Gillian D. TRIGGS, International Frontiers and Boundaries: Law, Politics and Geography (Leiden: Nijhoff, 2008) at 194-5; Durward V. SANDIFER, Evidence before International Tribunals, 2nd ed. (Charlottesville: University Press of Virginia, 1975) at 235; Guenter WEISSBERG, ”Maps as Evidence in International Boundary Disputes: A Reappraisal”, (1963) 57 American Journal of International Law 781 at 781.

[82] E.g., Ian BROWNLIE, The Rule of Law in International Affairs: International Law at the Fiftieth Anniversary of the United Nations (The Hague: Martinus Nijhoff, 1998) at 156.

[83] Manfred LACHS, ”La preuve et la Cour internationale de Justice” in Chaı¨m PERELMAN and Paul FORIERS, eds., La preuve en droit (Brussels: Bruylant, 1981), 109 at 109.

[84] Mức phù hợp trong bản đồ không cần phải luôn luôn là tuyệt đối, nhưng nó phải phù hợp trên tổng quát.. Abouel- Wafa, supra note 37 at 432-4.

[85] Kasikili/Sedudu Island, supra note 58 at 1100, para. 87; see also Dubai/Sharjah Border Arbitration (Dubai v. Sharjah), Award of 19 October 1981, [1993] 91 International Law Reports 543 at 630, para. 168:
Theo quan điểm của Toà án cần phải dẹp sang một bên cả hai bản đồ do ông Walker chuẩn bị, xét về vị trí của Hadlib Azana, vì, mặc dù được chuẩn bị bởi cùng một người, chúng lại mâu thuẫn lẫn nhau về đường ranh giới chung trong khu vực này. Suy đoán thêm về các lý do có thể có cho một mâu thuẫn như vậy là chuyện vô ích.
Eritrea/Yemen Arbitration, supra note 80 at 296, para. 388:
Các bằng chứng cho thời kỳ này bị vây bủa với các mâu thuẫn và sự không chắc chắn. Mỗi bên đã thể hiện sự không thống nhất trong các bản đồ chính thức của mình. Tuy nhiên, xu hướng chung là bằng chứng bản đồ củaYemen là vượt trội về phạm vi và khối lượng so với Eritrea. Tuy nhiên, trọng lượng như vậy có thể được gắn vào bản đồ bằng chứng ủng hộ của một bên được cân bằng bởi thực tế là mỗi bên đã công bố những bản đồ có vẻ đi ngược với khẳng định của mình trong các thủ tục tố tụng.
Delimitation of the Border Between the State of Eritrea and the Federal Democratic Republic of Ethiopia (Eritrea-Ethiopia Boundary Commission), Decision of 1 January 2002, [2002] 41 International Legal Materials 1057 at 1089, para. 4.67:
Bằng chứng bản đồ là không đồng nhất và nhất quán. Phần lớn hỗ trợ sự tồn tại của một phóng chiếu của Belesa và gán lãnh thổ bên trong nó cho Eritrea. Tuy nhiên, có nhiều bản đồ không làm như vậy, hoặc chỉ làm như vậy một phần

[86] Tuy nhiên xem Separate World’s Geography (Chinese Ya Guang Geographic Publisher, 1951) at 18 (Bản dồ nước Cộng hoà), trong đó chỉ có khoảng nửa số vạch được thể hiện [bản đồ TQ 1951].

[87] Xem Chinese State Bureau of Surveying and Mapping, Map World, online: Map World http://www.chinaonmap.cn. Bản đồ này được in lại một phần trong Phụ lục II ở cuối bài viết này.

[88] Vì vậy, về mặt kỹ thuật hình như chính xác hơn khi nói đường chấm chấm với số vạch thay đổi, chẳng hạn như là đường 11/9/10-chấm. Tuy nhiên, vì cho tới nay đường 9 chấm là đường mà TQ dựa vào trên bình diện quốc tế để minh định lập trường của họ trong tranh chấp của quốc gia đối với quốc gia nên bài đóng góp này thường sẽ dùng khái niệm “đường 9 chấm”, trừ khi các đường với số chấm khác có ý nghĩa pháp lý.

[89] Eritrea/Yemen Arbitration, supra note 80 at 295, para. 382.

[90] Các vạch được TQ sử dụng để vẽ đường chữ U không phù hợp với các quy định kỹ thuật biểu đồ do Tổ chức Thủy văn Quốc tế đề ra dùng để chỉ ranh giới biển quốc tế, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, khu thủy sản, vv. Xem International Hydrographic Organization, Regulations of the IHO for International (INT) Charts and Chart Specifications of the IHO, 4th ed. (Monaco: International Hydrographic Bureau, 2010) at B-440, C-407 (International Boundaries and National Limits), online: IHO http://www.iho-ohi.net/iho_pubs/standard/S-4/S4_v4.000_Sep10.pdf . Kiểu lập luận này đã được Ukraina đưa ra chống lại Romania trong vụ ở Biển Đen (Romania v. Ukraine), Counter-memorial of Ukraine, 19 May 2006 at 123-5.

[91] International Hydrographic Organization Membership, online: IHO http://www.iho-ohi.net/english/home/about-the-iho/about-iho-member-states/ms-information.html.

[92] Kasikili/Sedudu Island, supra note 58, Separate Opinion of Judge Oda at 1133-4, para. 40. Xem thêm Frontier Dispute, supra note 57 at 583, para. 57, nêu: “bây giờ Ban thẩm phán (Chamber) quay sang các bản đồ được in trong trường hợp này. Đối với Ban Thẩm phán không có một bản đồ đơn lẻ có sẵn nào có thể nói một cách đáng tin cậy là phản ánh được những ý định của chính quyền thực dân được thể hiện trong các các văn bản liên quan đến biên giới đang có tranh chấp.” Xem thêm Abou-el-Wafa, supra note 37 at 425-6.

[93] Smith, supra note 53 at 224.

[94] Kasikili/Sedudu Island, supra note 58, Separate Opinion of Judge Oda at 1133-4, para. 40.

[95] Cũng phải nói rõ rằng dù ngay cả trong tình huống như thế, việc chế tác bản đồ cũng không phải là một công việc có “giá trị trung lập” về khoa học. Những bóp mép không chủ ý cũng có thể len vào trong quá trình này do những thiên lệch của nhà vẽ bản đồ và bối cảnh xã hội. Jordan BRANCH, ”Mapping the Sovereign State: Technology, Authority, and Systemic Change” (2011) 65 International Organization 1 at 7.

[96] Trừ khi một bản đồ như vậy đi ngược vị thế của họ. Xem chẳng hạn, Sovereignty over Pedra Branca/Pulau Batu Puteh, Middle Rocks and South Ledge (Malaysia/Singapore), [2008] I.C.J. Rep. 12 at 95, para. 272. Abou-el-Wafa, supra note 37 at 460-2.

[97] Beagle Channel Arbitration (Argentina v. Chile), Decision of 18 February 1977, [2006] XXI Reports of International Arbitral Awards 53 at 167, para. 142. Xem thêm Frontier Dispute, supra note 57 at 583, para. 56, nêu rằng: ”những cân nhắc khác để xác định trọng lượng của các bản đồ như là bằng chứng liên quan tới tính trung lập của các nguồn của chúng đối với tranh chấp đang xem xét và với các bên đối với tranh chấp đó.”

[98] Cukwurah, supra note 84 at 224. Xem thêm Hyde, supra note 27 at 315: Các nguyện vọng hung hăng về lãnh thổ của một nước, qua thời gian nhiều năm có thể phản ánh trong một loạt các bản đồ liên tiếp mô tả rõ rệt sự lấn tới dần và thực sự, và những mô tả sau này có thể khác biệt rõ rệt với các mô tả trước đó;dù trên thự tế không có hiệp ước nào mở rộng ranh giới hay điều chỉnh biên giới.

[99] Charles DE VISSCHER, Problèmes de confins en droit international public (Paris: Pedone, 1969) at 46. Xem thêm Joseph Charles WITENBERG, ”La théorie des preuves devant les juridictions internationales” (1936) 56 Collected Courses of the Hague Academy of International Law 1 at 66: ”la valeur scientifique de la méthode ayant présidé´à leur établissement”; Abou-el-Wafa, supra note 37 at 431.

[100] Ian BROWNLIE, African Boundaries: A Legal and Diplomatic Encyclopaedia (London: Royal Institute of International Affairs, 1979) at 5.

[101] Cukwurah, supra note 84 at 217-20.

[102] Island of Palmas, supra note 80 at 853. Cited in Dubai/Sharjah Border Arbitration, supra note 88 at 630, para. 168. Xem thêm Delimitation Between Eritrea and Ethiopia, supra note 88 at 1075, para. 3.19, nêu: Ủy ban cũng lưu ý rằng các bản đồ, dù thông tin nó cung cấp nhiều như thế nào, không nhất thiết thể hiện chính xác, khách quan thực tế trên mặt đất’

[103] Frontier Dispute, supra note 57 at 582-3, para. 55. Xem thêm Beagle Channel, supra note 100 at 174, para. 154, nêu: “Vì thếTòa án bắt buộc đi đến kết luận rằng bản đồ củaPelliza có tính chất quá không chắc chắn để có giá trị chứng minh đòi hỏi”; Request for Interpretation of the Judgment of 15 June 1962 in the Case concerning the Temple of Preah Vihear (Cambodia v. Thailand), Order of 18 July 2011, Dissenting Opinion of Judge ad hoc Cot, [2011] I.C.J. Rep. 1 at 4, para. 21-2 (tuyên bố quyết định của Toà xác định một khu vực phi quân sự tạm thời là “thiếu thận trọng”dưới ánh sáng của tài liệu bản đồ mà ông cho là hạn chế và không đủ đáng tin cậy theo quan điểm kỹ thuật).

[104] Legal Consequences of the Construction of a Wall in the Occupied Palestinian Territory, Advisory Opinion, [2004] I.C.J. Rep. 136 at 168, para. 80. Về việc ICJ chấp nhận ảnh vệ tinh trong các vụ tranh chấp, xem Jana K. HETTLING, ”The Use of Remote Sensing Satellites for Verification in International Law” (2003) 19 Space Policy 33 at 38, nghiên cứu sâu hơn của cùng tác giả trong Satellite Imagery for Verification and Enforcement of Public International Law (Cologne: Heymann, 2008) at 157-65.

[105] Dzurek, supra note 3 at 12; Zou, supra note 5 at 51.

[106] Dzurek, supra note 3 at 11.

[107] Xem chẳng hạn bản đồ TQ 1951, supra note 89. Không những một số lượng các vạch chỉ biến đi (ibid.) mà vị trí của những vạch biểu hiện trên rằng bản đồ đó với tỉ lệ 1:23.500.000 rõ ràng là sai biệt với những vạch thấy trong Phụ lục I: ba vạch đầu tiên rõ ràng là thấy được, nhưng vạch đầu tiên nằm theo hướng tây bắc nhiều hơn, vạch thứ hai ở hướng tây nam, và vạch thứ ba theo hướng phía bắc khi so sánh với bản đồ Phụ lục I.

[108] Land, Island and Maritime Frontier Dispute (El Salvador/Honduras: Nicaragua Intervening), [1992] I.C.J. Rep. 350 at 550, para. 315. Xem thêm Kasikili/Sedudu Island, supra note 58, Dissenting Opinion of Vice-President Weeramantry at 1176, para. 73:
Bản đồ dĩ nhiên có thể mang các mức độ trọng lượng khác nhau tùy thuộc vào tác giả và hoàn cảnh trong đó chúng được làm ra. Hơn nữa, tỉ lệ của các bản đồ thường là quá nhỏ không hiển thị rõ ràng các khu vực cụ thể đang là chủ đề của tranh chấp, trong khi các bản đồ khác đủ lớn có thể chỉ ra các khu vực tranh chấp đầy đủ chi tiết.

[109] Delimitation Between Eritrea and Ethiopia, supra note 88 at 1089, para. 4.67. Earlier on in that case (at 1076, para. 3.21), Ủy ban cũng nêu: “một bản đồ … với tỉ lệ quá nhỏ đến nỗi việc nhập vào sẽ trở thành một vấn đề phải suy xét hơn là sự quan sát chính xác, khó có thể có giá trị pháp lý hay bằng chứng cao.” Xem thêm Case Concerning the Location of Boundary Markers in Taba (Egypt/Israel), Decision of 29 September 1988, [2006] XX Reports of International Arbitral Awards 1 at 48, para. 184:
Tòa án không xem xét các chỉ dẫn dựa trên bản đồ là thuyết phục vì tỉ lệ của bản đồ (1:100,000) là quá nhỏ để thể hiện một vị trí trên mặt đất chính xác theo yêu cầu trong những trường hợp này, trong đó khoảng cách giữa các vị trí trụ cột tranh chấp đôi khichỉ một vài mét.
Dispute Concerning the Course of the Frontier Between BP 62 and Mount Fitzroy (”Laguna del Desierto”) (Argentina/Chile), Resolution of 13 October 1995, [1999] 113 International Law Reports 1 at 224:
Ngay từ đầu, một số quan sát được lưu ý đến về các bản đồ tỉ lệ 1/10.000 do Chile đệ trình. Những bản đồ này được vẽ với một tỉ lệ lớn hơn đáng kể hơn so với bản đồ của Ủy ban Ranh giới hỗn hợp hoặc những bản đồ kèm theo đệ trình yêu sách chủ quyền của Chile ngày 31 tháng năm 1995, cung cấp một biểu diễn chính xác về địa hình thực sự của mặt đất

[110] Maurice KAMTO, ”Sur quelques questions techniques liées à la détermination du tracé d’une frontière maritime de´limitée” in Rafael CASADO RAIGON and Giuseppe CATALDI, eds., L’évolution et l’état actuel du droit international de la mer. Mélanges de droit de la mer offerts à Daniel Vignes (Brussels: Bruylant, 2009), 481 at 493-6, tác giả đưa ra một tường trình chi tiết về những khó khăn nghiêm trọng mà Cameroon và Nigeria gặp phải sau đó do sự kiện rằng trong đánh giá của mình ICJ đã dựa trên một biểu đồ Hải quân Anh không chứa bất kỳ chỉ dẫn của mốc đo lường được dùng.

[111] Beagle Channel, supra note 100 at 164, para. 137. See also John G. MERRILLS, ”The International Court of Justice and the Adjudication of Territorial and Boundary Disputes” (2000) 13 Leiden Journal of International Law 873 at 875, nêu: “về các vấn đề ranh giới và lãnh thổ các bản đồ có khả năng cung cấp bằng chứng về tình hình trên mặt đất và thái độ của các nước có liên quan đối với nó”; Henry DARWIN, ”Judicial Settlement” in Evan LUARD, ed., The International Regulation of Frontier Disputes (London: Thames & Hudson, 1970), 198 at 207-8.

[112] Temple of Preah Vihear (Cambodia v. Thailand), [1962] I.C.J. Reports 6 at 23.

[113] Delimitation Between Eritrea and Ethiopia, supra note 88 at 1075-6, para. 3.22. Một cách tượng tự Uỷ ban nhận thấy rằng (at 1076, para. 3.21):
Tuy nhiên, một bản đồ do một cơ quan chính phủ của một bên vẽ ra, trên một tỉ lệ đủ để cho phép miêu tả của khu vực biên giới tranh chấp là nhận biết được, thường có sẵn để mua hoặc kiểm tra, dù tại nước xuất xứ hoặc ở nơi khác, và bên bị ảnh hưởng bất lợi hành động dựa trên nó, hoặc không phản ứng đối với nó, có thể được dự kiến là sẽ có hậu quả pháp lý quan trọng.

[114] Nicaragua v. Honduras, supra note 58 at 735, para. 253.

[115] Strupp, supra note 63 at 17.

[116] Ibid., at 17, note 98.

[117] Yehuda Z. BLUM, Historic Titles in International Law (The Hague: Nijhoff, 1965) at 150.

[118] Li and Li, supra note 4 at 290. See also ”Carps Among the Spratlys” The Economist (10 March 2011), online: The Economist http://www.economist.com/node/18332702?story_id518332702, stating: ”TQ chỉ vào một bản đồ dùng từ thời THDQ công bố trong cuộc nội chiến những năm 1940 và nói rằng cho tới gần đây không ai quan tâm (mided).”

[119] Zhao, supra note 33 at 22, được dịch lại trong Li and Li, supra note 4 at 292.

[120] Như lập luận trong bài viết do Nguyễn Hồng Thao trình bày tại Hội thảo quốc tế lần hai, nhan đề là ”The South China Sea: Cooperation for Regional Security and Development”, tổ chức vào 10-12 /12/ 2010 tại tp Ho Chi Minh, Vietnam: ”South China Sea-Three Stages, Four Challenges, Two Regional Approaches and One Confidence” at 12-13. On file with the authors.

[121] UN, ”Vietnam: Dispute Regarding the Law on the Exclusive Economic Zone and the Continental Shelf of the People’s Republic of China which was Passed on 26 June 1998” (1998) 38 Law of the Sea Bulletin 54 at 55.

[122] Vietnam, ”Letter to the Secretary-General of the United Nations-86/HC-2009” (8 May 2009), online: UN http://www.un.org/Depts/los/clcs_new/submissions_files/vnm37_09/vnm_re_chn_2009re_vnm.pdf.

[123] Vietnam, ”Viet Nam Request the Chinese Side to Remove from SBSM Map Service All Data and Information that Violate Viet Nam’s Sovereignty” (5 November 2010), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.vn; Vietnam, ”Viet Nam Asks China to Remove Wrongful Data in Its SBSM Map Service” (26 January 2011), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.vn.

[124] Vietnam, ”Foreign Ministry Spokesperson Nguyen Phuong Nga Answers Question from the Media at the Press Conference on June 9th 2011 Concerning the Viking II Incident” (9 June 2011), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.vn, nêu ‘”những hành vi có hệ thống của phía TQ nhằm tranh chấp một khu vực không có tranh chấp với mục tiêu hiện thực hoá yêu sách ‘đường 9 chấm’ [sic], một mục tiêu không thể chấp nhận đối với Việt Nam”; Vietnam, ”Press Conference on Chinese Maritime Surveillance Vessel’s cutting exploration cable of PetroViet Nam Seismic Vessel” (1 June 2011), online: Ministry of Foreign Affairs http://www.mofa.gov.vn, nêu “Đường chín vạch của TQ ở Biển Đông, còn gọi là ‘đường lưỡi bò’ là hoàn toàn không có căn cứ hợp pháp và trái với Công ước Liên Hợp Quốc năm 1982 về Luật biển mà Trung Quốc là một thành viên. Yêu sách chủ quyền này xâm phạm vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của nhiều nước trong khu vực, trong đó có Việt Nam, và do đó nhiều quốc gia bác bỏ. TQ cố gắng để thực hiện tuyên bố này thực tế làm căng thẳng tăng lên trong khu vực.”

[125] Meeting of States Parties to the 1982 United Nations Convention on the Law of the Sea, ”Twenty-First Meeting” (13-17 June 2011), online: UN Office of Legal Affairs, Division for Ocean Affairs and the Law of the Sea http://www.un.org/Depts/los/meeting_states_parties/twentyfirstmeetingstates parties.htm (as further substantiated by participants in that meeting).

[126] . Pensions of Officials of the Saar Territory (Germany, Governing Commission of the Saar Territory), Award of 4 September 1934, [2006] III Reports of International Arbitral Awards 1553 at 1567, nêu: “quyền phản đối của Chính phủ đó chỉ có được vào lúc này khi họ biết về các sự kiện đó”; Fisheries Case, supra note 66 at 139; Nuno Sérgio MARQUES ANTUNES, ”Acquiescence” in Wolfrum, ed., supra note 34, 4, para. 21; D.H.N. JOHNSON, ”Acquisitive Prescription in International Law” (1950) 27 British Yearbook of International Law 332 at 347, nêu: “nếu không biết thì không thể có sực mặc nhận nào cả”; Jean BARALE, ”L’acquiescement dans la jurisprudence internationale” (1965) 11 Annuaire franc¸ais de droit international 389 at 400: ”việc mặc nhận chỉ có thể liên quan đến một tình huống đã được biết đến với nước mặc nhận’, and 401-4; I.C. MACGIBBON, ”The Scope of Acquiescence in International Law” (1954) 31 British Yearbook of International Law 143 at 173, nêu: “mệnh đề cho rằng việc sở hữu trên đó quyền sở hữu bằng cách dựa vào thời hiệu (prescription) phải thoả yêu cầu của trạng thái rõ ràng (notoriety) là hiếm khi đáng ngờ”, and 174-6.

[127] Barale, supra note 129 at 404-6.

[128] Martti KOSKENNIEMI, ”L’affaire du passage par le Grand-Belt” (1992) 38 Annuaire français de droit international 905 at 931; Fisheries Case, supra note 66 at 138; Right of Passage over Indian Territory (Portugal v. India), [1960] I.C.J. Rep. 6 at 40. Xem thêm Land, Island and Maritime Frontier Dispute, supra note 111 at 577, para. 364.

[129] Fisheries Case, supra note 66 at 138; Chamizal Case (Mexico v. United States), Award of 15 June 1911, [2006] XI Reports of International Arbitral Awards 309 at 329.

[130] E.g. Hyung K. LEE, ”Mapping the Law of Legalizing Maps: The Implications of the Emerging Rule on Map Evidence in International Law” (2005) 14 Pacific Rim Law and Policy Journal 159 at 159-75, 188; Abou-el-Wafa, supra note 37 at 438-9.

[131] Abou-el-Wafa, supra note 37 at 128-9.

[132] Xem generally Sam BATEMAN and Ralf EMMERS, eds., Security and International Politics in the South China Sea: Towards a Cooperative Management Regime (Abingdon: Routledge, 2009).

[133] . Đối với một tổng quan về các phương pháp hội thảo và thành công của nó, xem SONG Yann-Huei, ”The South China Sea Workshop Process and Taiwan’s Participation” (2010) 41 Ocean Development and International Law 253 at 256-60.

[134] Xem chẳng hạn. Aldo CHIRCOP, ”Regional Cooperation in Marine Environmental Protection in the South China Sea: A Reflection on New Directions for Marine Conservation” (2010) 41 Ocean Development and International Law 334; John W. MCMANUS, SHAO Kwang-Tsao, and LIN Szu-Yin, ”Toward Establishing a Spratly Islands International Marine Peace Park: Ecological Importance and Supportive Collaborative Activities with an Emphasis on the Role of Taiwan” (2010) 41 Ocean Development and International Law 270; TUAN Vo Si and John PERNETTA, ”The UNEP/GEF South China Sea Project: Lessons Learnt in Regional Cooperation” (2010) 53 Ocean and Coastal Management 589 SONG Yann-Huei, ”AMarine Biodiversity Project in the South China Sea: Joint Efforts Made in the SCS Workshop Process” (2011) 26 International Journal of Marine and Coastal Law 119.

[135] Robert C. BECKMAN, ”Joint Development of Hydrocarbon Resources in the South China Sea: International Legal Framework” (16-17 June 2011), online: National University of Singapore-Centre for International Law http://cil.nus.edu.sg/wp/wp-content/uploads/2011/06/Session-2-Beckman- Session-2-CIL-JD-SCS-pdf.pdf. Xem chẳng hạn. Memorandum of Understanding between Malaysia and the Socialist Republic of Vietnam for the Exploration and Exploitation of Petroleum in a Defined Area of the Continental Shelf Involving the Two Countries, 5 June 1992 (entered into force 4 June 1993), online: NUS-CIL http://cil.nus.edu.sg/1992/1992-memorandum-of-understanding-between-malaysia-and-thesocialist- republic-of-vietnam-for-the-exploration-and-exploitation-of-petroleum-in-a-defined-area-of-thecontinental- shelf-involving-the-two-c/.

Theo TẠP CHÍ TIA SÁNG

Hồi giáo và chủ nghĩa khủng bố

Đại đa số các tín đồ Hồi Giáo là những phần tử ôn hòa chứ không phải là những kẻ bảo thủ cực đoan (fundamentalists). Đại đa số các phần tử bảo thủ cực đoan cũng không phải là những kẻ khủng bố. Tuy nhiên hầu hết những kẻ khủng bố hiện nay trên thế giới đều là những tín đồ Hồi Giáo.

Thế giới Hồi Giáo có xu hướng chấp nhận thánh chiến với Mỹ

Sau biến cố 11-9-2001, Tổng Thống Mỹ và một số chính khách Tây Phương đã công khai tuyên chiến với chủ nghĩa khủng bố – nhưng đồng thời xác định đây không phải là cuộc chiến chống người Ả Rập hoặc chống những người Hồi Giáo. Đối với Osama Bin Ladin và những người theo ông ta thì đây là cuộc chiến tranh tôn giáo – một cuộc chiến tranh của đạo Hồi chống lại những kẻ ngoại đạo (infidels, unbelievers). Và vì thế đương nhiên Hồi Giáo phải chống Hoa Kỳ vì Hoa Kỳ là nước lớn nhất trong thế giới ngoại đạo.

Trong một cuốn băng video được phổ biến trên đài truyền hình ngày 7.10.2001, Osama Bin Ladin nói đến “những điều sỉ nhục mà Hồi Giáo phải chịu trong hơn 80 năm qua”. Đó là vào năm 1918, đế quốc Ottoman là đế quốc lớn nhất của Hồi Giáo đã bị Tây Phương đánh bại. Thủ đô Constantinople bị chiếm đóng. Toàn lãnh thổ của đế quốc Ottoman bị Anh và Pháp chia nhau thống trị. Anh chiếm Iraq và Palestine. Pháp chiếm Syria. Anh chia Palestine thành hai nước là Jordan và Palestine. Pháp cũng chia Syria thành hai nước là Lebanon và Syria.

Trong khi đó tại Thổ Nhĩ Kỳ, nơi xuất phát của đế quốc Ottoman – người hùng Mustapha Kemal lãnh đạo thành công một cuộc cách mạng của “phong trào quốc gia thế tục” (a secular nationalit movement) giải phóng Thổ Nhĩ Kỳ khỏi ách thống trị của Tây Phương nhưng đồng thời cũng loại bỏ vai trò quốc giáo của Hồi Giáo ra khỏi chính quyền.

Đế quốc Ottoman được thành lập từ thế kỷ 13 và bị suy tàn vào đầu thế kỷ 20. Trong suốt 7 thế kỷ hưng thịnh, vị hoàng đế của đế quốc Ottoman cũng là người đứng đầu giáo phái Sunni của toàn thế giới Hồi Giáo (chiếm 80% tổng số tín đồ Hồi Giáo). Vua Hồi Giáo (Sultan) cũng là người kế vị giáo chủ Mohammad trong vai trò lãnh đạo cộng đồng Hồi Giáo, được gọi là Caliph. Nhưng cuộc cách mạng của Mustapha Kemal đã chính thức hủy bỏ “chế độ Caliph” (caliphage) trong tháng 3-1924.

Nhiều người Hồi Giáo cảm thấy đau đớn về điều này vì “chế độ calyph” tượng trưng cho sự thống nhất của Hồi Giáo từ nay không còn nữa.

Ngày 23-2-1998, tờ nhật báo bằng tiếng Ả Rập xuất bản tại Luân Đôn đã đăng “Bản Tuyên Ngôn của Mặt Trận Thế Giới Hồi Giáo kêu gọi Thánh Chiến chống Do Thái và Thập Tự Quân” có chữ ký của Osama Bin Ladin và những người lãnh đạo các nhóm Thánh chiến ở Ai Cập, Pakistan và Bangladesh. Bản tuyên ngôn mở đầu bằng các lời trích dẫn từ kinh Koran hoặc lời của tiên tri Muhammad. Bản tuyên ngôn kể ra ba tội chính của Hoa Kỳ:

Thứ nhất: Trong hơn 7 năm qua, Hoa Kỳ đã chiếm đóng đất thánh thiêng liêng nhất của Hồi giáo là Arabia, cướp phá tài nguyên và sỉ nhục nhân dân nước này. Hơn nữa, Hoa Kỳ xử dụng Arabia làm nơi xuất phát các cuộc chiến tranh chống các nước láng giềng Hồi Giáo.

Thứ hai: Hợp tác với đồng minh Do Thái, Hoa Kỳ đã gây chiến với Iraq làm thiệt mạng trên một triệu người. Sau đó Hoa Kỳ còn bao vây kinh tế nước này một thời gian lâu dài.

Thứ ba: Mục tiêu chính của Hoa Kỳ là chiến tranh tôn giáo và kinh tế. Rõ rệt nhất là quyết tâm của Hoa Kỳ hủy diệt Iraq là nước lớn nhất trong các nước Ả Rập. Hoa Kỳ âm mưu gây chia rẽ và làm suy yếu các nước Saudi Arabia, Ai Cập, Sudan để tạo điều kiện sống còn cho Israel và sự tiếp tục chiếm đóng của Thập Tự Quân tại các vùng đất của Hồi Giáo.

Bản tuyên ngôn kết luận: Rõ ràng Hoa Kỳ là kẻ đã chống lại Allah, chống lại tiên tri của Ngài và các tín đồ Hồi Giáo. Do đó, Thánh chiến đã trở thành một bổn phận cá nhân (a personal duty) của mọi người Hồi Giáo.

Phần cuối cùng, cũng là phần quan trọng nhất của bản tuyên ngôn, kêu gọi toàn thể tín đồ Hồi Giáo “hãy giết người Mỹ và đồng minh, kể cả dân sự lẫn quân sự, là nghĩa vụ cá nhân của mọi tín đồ Hồi Giáo tại mọi quốc gia” (to kill Americans and their allies, both civil and military, is an individual duty of every Muslim who is able, in any country where there is possible).

Sau khi nêu lên nhiều câu thơ trong kinh Koran, bản tuyên ngôn kêu gọi tiếp như sau: “Do được Thiên Chúa cho phép, chúng tôi kêu gọi mọi tín đồ Hồi Giáo có lòng tin nơi Thiên Chúa và sẵn sàng tuân lệnh của Ngài hãy giết bọn Mỹ và cướp phá tài sản của chúng ở bất cứ nơi nào họ thấy và bất cứ khi nào có thể làm được. Chúng tôi cũng kêu gọi các học sĩ và các vị lãnh đạo, các thanh niên và các chiến sĩ hãy tấn công quân đội Mỹ và đồng minh của chúng”. (By God’s leave, we call on every Muslim who believes in God and hopes for reward to obey God’s command to kill the Americans and plunder their possessions wherever he finds them and wherever he can. Likewise we call on the Muslim ulema and leaders and youth and soldiers to launch attacks against the armies of the American devils and against those who are allied with them…)

Điều bất lợi cho Hoa Kỳ là dư luận rộng rãi trong thế giới Hồi Giáo chấp nhận quan niệm cho rằng Hoa Kỳ là kẻ chủ mưu xâm lấn Iraq. Trước khi kết thúc, bản tuyên ngôn còn trích dẫn nhiều câu thơ trong kinh Koran và nhiều lời nói của tiên tri Muhammad kêu gọi Thánh chiến bằng những hành vi bạo động hoặc quân sự. Phần đông các tín đồ Hồi Giáo ngày nay có xu hướng tán thành bản tuyên ngôn kêu gọi Thánh chiến chống Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, hiện nay Hoa Kỳ là một siêu cường về nhiều mặt trên thế giới. Các đồng minh của Hoa Kỳ như Anh Quốc và Israel cũng là những cường quốc quân sự. Trong khi đó, tuyệt đại đa số các tín đồ Hồi Giáo đều thuộc thế giới thứ ba gồm các nước nghèo như Bangladesh, Pakistan, Ấn Độ, các nước Ả Rập, Phi Châu và Trung Á. Nạn nghèo đói và thất học là hai căn bệnh trầm kha của thế giới đạo Hồi. Do đó, để thực hiện cuộc thánh chiến chống Hoa Kỳ và đồng minh, thế giới Hồi Giáo không thể chọn con đường nào khác hơn là chủ nghĩa khủng bố. Chủ nghĩa khủng bố là một hình thức chiến tranh của kẻ yếu chống lại kẻ thù lớn mạnh hơn mình để tồn tại.

Chủ nghĩa khủng bố có liên hệ mật thiết với giáo lý đạo Hồi

Đại đa số các tín đồ Hồi Giáo là những phần tử ôn hòa chứ không phải là những kẻ bảo thủ cực đoan (fundamentalists). Đại đa số các phần tử bảo thủ cực đoan cũng không phải là những kẻ khủng bố. Tuy nhiên hầu hết những kẻ khủng bố hiện nay trên thế giới đều là những tín đồ Hồi Giáo! Đó là một sự thật không ai có thể phủ nhận. Do đó, vấn đề được đặt ra là: Phải chăng chủ nghĩa khủng bố có liên hệ với giáo lý đạo Hồi?

Từ các tổ chức khủng bố nhỏ ở Saudi Arabia, Ai Cập, Nam Dương, Philippines, Palestine cho đến tổ chức khủng bố lớn như Al-Qaida có tầm hoạt động quốc tế, tất cả đều tự xưng là những tín đồ của đạo Hồi chính thống (authentic Islam). Tất cả đều “thánh hóa” các hành vi khủng bố của mình bằng cách dẫn chứng những câu thơ trong kinh Koran hoặc những lời nói của giáo chủ Muhammad trong các sách Hadiths.

Ngày 14.2.1989, giáo chủ Khomenei tuyên án tử hình nhà văn Anh Quốc gốc Ấn Độ, tác giả cuốn tiểu thuyết “The Satanic Verses” có nội dung phỉ báng tiên tri Muhammad và treo giải thưởng 3 triệu đô la cho ai giết được nhà văn này.

Cả thế giới Tây Phương đều lên án hành động của giáo chủ Khomenei. Trong khi đó, thế giới Hồi Giáo cho hành động của Khomenei là hợp với tiêu chuẩn của đạo Hồi. (a standard Islamic practice) vì trong sách Hadith có chép lời tiên tri Muhammad như sau: “Nếu có kẻ nào nhục mạ ta mà tín đồ nghe thấy thì hãy giết nó ngay lập tức” (If anyone insults me, then any Muslim who hears this must kill him immediately” (The Crisis of Islamn, by Bernard Lewis – The Modern Library 2003 – page 141)

Các tổ chức khủng bố của đạo Hồi không phải mới xuất hiện trong thời gian gần đây mà thực sự đã xuất hiện từ thế kỷ 11 tại Iran và Syria. Đó là tổ chức Assassins, bắt nguồn từ tiếng Ả Rập Hashishiyya – có nghĩa là những kẻ hút ma túy (hashish takers). Tổ chức khủng bố Assassins đã gây kinh hoàng khắp Trung Đông trong hai thế kỷ, từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 13, với chủ trương tiêu diệt bất cứ ai muốn cải tổ xã hội Hồi Giáo. Có thể nói tổ chức khủng bố Assassins là tiền thân và là khuôn mẫu cho các tổ chức khủng bố của Hồi Giáo hiện nay.

Tuy nhiên, khác với các tổ chức khủng bố thời xưa, các tổ chức khủng bố ngày nay rất coi thường sự sát hại các thường dân vô tội. Hơn thế nữa, dường như họ coi các thường dân vô tội là mục tiêu chính bởi lẽ càng có nhiều nạn nhân chết trong một vụ khủng bố họ càng đạt được tiếng vang lớn trong dư luận quần chúng và càng gây được sự sợ hãi cho đối phương. Họ coi đó là một chiến thắng về tâm lý (apsychological victory). Điển hình là vụ tổ chức Al-Qaida cho nổ bom tại Tòa Đại Sứ Mỹ ở Đông Phi năm 1998 nhằm giết hại 12 nhà ngoại giao Mỹ, nhưng vụ khủng bố này đã làm thiệt mạng trên 200 người vô tội gồm hầu hết là người Hồi Giáo Phi Châu. Ngay sau đó, các báo Hồi Giáo bằng tiếng Ả Rập đều gọi các nạn nhân vô tội này là “các thánh tử đạo” và tán tụng rằng: “Allah đã tập họp các thánh tử đạo trên nước thiên đàng!”

Bắt đầu từ thập niên 1980, các vụ khủng bố leo thang dưới hình thức ôm bom tự sát (suicide bombing). Các vụ khủng bố tự sát được khởi đầu từ năm 1982 với nhóm khủng bố Hamas và Hizbulla ở Palestine và Li Băng nhằm chống Israel. Các phần tử khủng bố tự sát thường được tuyển mộ trong số các thanh niên trẻ tuổi và nghèo, sống vất vưởng trong các trại tỵ nạn. Họ được hứa hẹn hai điều: một là được lên thiên đàng hưởng thú nhục dục với 72 cô gái đẹp đến muôn đời. Hai là thân nhân của họ được trợ cấp một số tiền lớn.

Các thiếu nữ khủng bố tự sát đầu tiên được tuyển lựa trong số những người Kurk ở Thổ Nhĩ Kỳ trong các năm 1996-1999 và tại Palestine trong năm 2002.

Giáo lý Hồi Giáo từ xa xưa vốn coi hành đông tự sát là một trọng tội và kẻ tự sát sẽ bị phạt bằng lửa hỏa ngục. Nhưng ngày nay, hành vi ôm bom tự sát lại được các giáo sĩ Hồi Giáo giải thích là sự hy sinh trong cuộc Thánh chiến nên người tự sát phải được coi là “thánh tử đạo”! Giáo chủ Hồi Giáo Ai Cập Yousef Quaradawi tuyên bố: Mọi người chết vì tham gia thánh chiến đều là tử đạo vì thánh chiến là một bổn phận và là một điều răn tôn giáo (a religious commandment).

Sau biến cố 9-11, giới trí thức Hoa Kỳ không xét đoán Hồi Giáo qua hành động của các nhóm khủng bố, nhưng xét đoán Hồi Giáo qua những điều được thuyết giảng trong kinh Koran, trong truyền thống Hồi Giáo (Islamic tradition) và trong các học thuyết của các nhóm Hồi Giáo cực đoan:

1. Kinh Koran: Nếu hình ảnh Thiên Chúa trong Cựu Ước của đạo Do Thái là một vị thần Chiến Tranh (God of War) thì hình ảnh Thiên Chúa Allah trong kinh Koran là một vị thần của sự kinh hoàng (God of Terror) vì thiên chúa Allah công khai ra lệnh cho các tín đồ Hồi Giáo phải giết hại những người ngoại đạo:

“Ta sẽ gieo kinh hoàng nơi trái tim của những kẻ ngoại đạo. Các con hãy chặt đầu chúng và hãy cắt rời tất cả các đầu ngón tay của chúng”. (I will cast terrors into the hearts of those who disbelieve. Therefore, trike of their heads and strike off every fingertips of them – Koran 8:12).

Kinh Koran của đạo Hồi cũng như Cựu Ước của đạo Do Thái và Tân Ước của đạo Ki Tô đều qui các kẻ thù của đạo mình thành kẻ thù của Thiên Chúa (enemies of God). Nói chung, các tôn giáo độc thần đều có ý tưởng cho rằng Thiên Chúa có kẻ thù và Ngài cần có sự giúp đỡ của các tín đồ để chống lại những kẻ thù đó. Do đó, chiến đấu chống kẻ thù của tôn giáo mình là chiến đấu cho Thiên Chúa hoặc chiến đấu theo con đường của Ngài (fighting in the path of God).

Điều nguy hiểm đáng chú ý là kinh Koran xúi giục các tín đồ Hồi Giáo giết người ngoại đạo (kẻ thù của Thiên Chúa) mà không phải chịu trách nhiệm về hành vi sát nhân này vì đó là việc Thiên Chúa làm. Kinh Koran xác nhận: “Không phải các con đã giết chúng mà Thiên Chúa mới là đấng đã giết chúng và không phải các con đã đập tan kẻ thù mà Thiên Chúa mới là đấng đã dẹp tan chúng” (You did not slay them but it was God who slew them. You did not smite when you smote the enemy but it was God who smote – Koran 8:17).

2. Truyền thống Hồi Giáo (Islamic Tradition). Truyền thống Hồi Giáo được tạo thành do các sách Hadiths và các sách Sunnas. Hadiths ghi chép các lời nói và hành động của Muhammad. Sunna là sách sưu tầm các bài giảng nổi tiếng của các giáo sĩ Hồi Giáo qua nhiều thế kỷ. Truyền thống Hồi Giáo đã hình thành những quan niệm đặc biệt trong đời sống của các tín đồ.

Một trong những quan niệm đặc biệt mang tính chất cực đoan nguy hiểm của đạo Hồi là Đạo Hồi chia thế giới thành hai khu vực:

– Khu vực Hồi Giáo (Dar al-Islam/Land of Islam), còn được gọi là Nền Hòa Bình Hồi Giáo (Pax Islamica). Các nước Hồi Giáo đều trở thành anh em nên không được đánh phá lẫn nhau. Khu vực Hồi Giáo phải được sống trong hòa bình.

– Khu vực ngoại đạo (Dar al-Harb/Land of unbelievers) được kinh Koran định nghĩa là khu vực của những kẻ “theo sự sai lầm”. Tất cả những kẻ ngoại đạo đều đáng bị chặt đầu hoặc bị bỏ tù! (The unbelievers follow falsehood. When you meet the unbelievers in the battlefield, strike off their heads or make them prisoners – Koran 47: 4).

Nhiệm vụ của thế giới Hồi Giáo là phải truyền bá đạo Hồi đến toàn thể nhân loại bằng mọi phương tiện kể cả chiến tranh. Mục tiêu của đạo Hồi là sự nhận biết về Thiên Chúa Allah bao trùm trái đất như nước bao trùm đại dương (Islam’s aime is that the knowledge of God should cover the earth as the waters cover the ocean).

Các nước Hồi Giáo quan niệm tôn giáo và chính trị là một, do đó luật pháp Hồi Giáo (sharia) luôn luôn chi phối mọi khía cạnh của đời sống toàn dân. Các ý niệm về “dân chủ” và “nhân quyền” là những điều xa lạ trong các nước Hồi Giáo. Hầu hết các nước Hồi Giáo đều ngăn cấm dân của họ đổi đạo với những hình phá hết sức nặng nề.

– Tại Maroc: Ai bỏ đạo Hồi để theo đạo khác sẽ bị phạt tử hình. Kẻ dụ dỗ tín đồ Hồi Giáo bỏ đạo bị phạt từ 6 tháng đến 3 năm tù.

– Luật Pháp của xứ Saudi Arabia khẳng định: Không thể có hai tôn giáo trên bán đảo Ả Rập. Do đó, việc thiết lập bất cứ một tôn giáo nào khác ngoài đạo Hồi đều bị cấm chỉ tại Saudi Arabia.

– Tại xứ Hồi Giáo Sudan, trong thập niên 1990, hơn hai triệu người Ki Tô Giáo da đen đã bị sát hại.

– Luật pháp Iran qui định hình phạt tử hình đối với ai bỏ đạo Hồi để theo đạo Ki Tô.

Quả thật thần học Hồi Giáo đã mang lại những hậu quả nguy hiểm chết người (the lethal consequences) cho những người ngoại đạo. Vì thế nhiều người đã coi Hồi Giáo như một tôn giáo của sự khủng bố (a religion of terror) và kinh Koran như một cuốn sách của tử thần (the book of Death). Theo sự ước lượng của các chuyên viên chống khủng bố thì các thành phần cực đoan chỉ chiếm 15% trong tổng số các tín đồ Hồi Giáo mà thôi. Tuy nhiên, tổng số tín đồ 15% có nghĩa là trong thế giới Hồi Giáo hiện có 200 triệu kẻ sát nhân sẵn sàng phạm tội ác chống lại nhân loại!

CHARLIE NGUYỄN (SACHHIEM.NET)

Dấu tích về chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam ở Lý Sơn

Bảo tàng Lý Sơn, Quảng Ngãi, đang lưu giữ nhiều hình ảnh, bản đồ từ thế kỷ thứ 16 đến 19, khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa.

 
 Hiện tại bảo tàng Hoàng Sa (Lý Sơn, Quảng Ngãi) còn lưu giữ nhiều tài liệu quý về Hoàng Sa.
 
 Những bài báo và bản đồ chính trị (từ thời Việt Nam Cộng Hòa 1954 – 1975) nêu rõ quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam.
 
 Những dòng chữ được ghi trong Đại Nam Thực Lực Chính Biên (năm 1848) và Quảng Ngãi Tỉnh Chí (năm 1933) ghi chép về quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
 
 Những dấu tích, bản đồ, sắc phong còn được giữ nguyên vẹn tại bảo tàng.
 
 Dụng cụ trã đất nấu ăn của binh phu Hoàng Sa khi đi ra đảo.
 
 Những vật chứng của ngư dân và đội lính có mặt tại Hoàng Sa từ thời nhà Nguyễn.
Bia chủ quyền Việt Nam ở Hoàng San năm 1930.
Bản đồ phía Đông Ấn Độ và những vùng lân cận, xác định quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam, bản đồ xuất bản tại London, Anh năm 1956.
Bản đồ Nam Việt ghi rõ, Hoàng Sa và Vạn lý Trường Sa trong sách Đại Nam Thống Nhất Toàn Đồ do quốc sử quán triều Nguyễn ấn hành thế kỷ 19.
 
 Bản dịch tài liệu châu bản của Tống Lý đại thần ngày 15/12 niên hiệu Bảo Đại thứ 15 (1939) về việc xin truy thưởng Tú hạng long tinh cho cai đội Hoàng Sa người Pháp M.Fontan.
 Bản đồ Việt Nam do người Hà Lan vẽ năm 1594, hiện đang lưu giữ tại Amsterdam (Hà Lan). Khi đó Hoàng Sa, Trường Sa đã là của Việt Nam.
Một góc đảo Đá Lát, quần đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa năm 2009.
Hải đăng Việt Nam trên quần đảo Trường Sa trước năm 1945.
 Cơ sở hành chính trên đảo Hoàng Sa trước năm 1945.
Ông Nguyên Giáo, nhân viên ty khí tượng Hoàng Sa, trước năm 1974 đang đo nhiệt độ, độ ẩm tại lều máy trạm khí tượng Hoàng Sa.
 
 Văn tế trong lễ khao lế thế lính Trường Sa năm Tự Đức thứ 20, Đinh Mão 1867.
 
 Bài vị các tướng quân, binh sĩ hy sinh tại Hoàng Sa.
 Thuyền nhỏ được đội quân Hoàng Sa kiêm Bắc Hải ra Hoàng Sa để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ biển đảo.
Cho đến nay, lớp lớp người dân Lý Sơn vẫn tự hào về quá khứ hào hùng của cha ông. Các em nhỏ luôn được nhắc nhở về Hoàng Sa như một phần máu thịt của đất nước.

THÁI AN

theo infonet

Sẽ có ngày TQ đòi chủ quyền cả Mặt trăng

“Nếu chấp nhận logic này thì chắc Ấn Độ sẽ làm chủ toàn bộ Ấn Độ Dương, còn eo biển Magellan chắc thuộc về Tây Ban Nha hoặc Bồ Đào Nha. Rồi đây với việc đưa người lên quỹ đạo, sẽ có lúc Bắc Kinh đưa người lên Mặt trăng, sao Hỏa hoặc sao Kim, rồi tuyên bố phát hiện ‘dấu vết Trung Quốc’ tại đó”.

Tiếp theo vụ mời thầu tại vùng biển thuộc chủ quyền VN của Tổng công ty Dầu khí hải dương Trung Quốc (CNOOC), thêm một hành động gây hấn, ngang ngược bất chấp luật pháp và công luận quốc tế của Trung Quốc: Tân Hoa xã ngày 2-7 đưa tin Tổng cục Hải dương Trung Quốc đã triển khai bốn tàu hải giám đến tuần tra ở bãi Châu Viên thuộc quần đảo Trường Sa của VN. Trước đó ngày 1-7, Thời báo Hoàn Cầu, trong xã luận của mình, lại “đổ tội” cho VN và Philippines là gây hấn khi khẳng định việc mời thầu và việc thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” cho thấy “Trung Quốc đã kiềm chế” và “kiên nhẫn chứ không khinh suất”.

Tờ báo này còn lớn tiếng đe dọa: “Nếu tiếp tục gây hấn, VN và Philippines sẽ phải đối đầu với những biện pháp mạnh của Trung Quốc”, bởi “Trung Quốc có đủ khả năng thay đổi tình thế địa – chính trị ở biển Nam Trung Hoa (biển Đông)… Mỹ là một lực lượng chiến lược trong khu vực, nhưng không phải là lực lượng mà VN và Philippines có thể điều động tùy ý”.

Đòi chủ quyền với đàn chim di trú!

Lên tiếng trước những hành động gây hấn gần đây của Bắc Kinh, như báo Daily Inquirer cho biết, Chủ tịch Thượng viện Philippines Juan Ponce Enrile đã vạch trần cho thấy việc Trung Quốc đòi chủ quyền trên biển Đông là không có cơ sở pháp lý. Ông bác bỏ cái mà Trung Quốc gọi là “chủ quyền dựa trên bằng cớ lịch sử” khi nhấn mạnh luận điệu này là khập khiễng. Ông cho biết vào thế kỷ 16, nhiều thương nhân Trung Quốc đã đến làm ăn tại các vùng như Fuga và Batanes trên quần đảo Philippines, rồi mỉa mai đặt câu hỏi: “Liệu điều đó có biến Fuga và Batanes thành lãnh thổ của Trung Quốc không?”.

Bác bỏ việc Trung Quốc dựa vào “bản đồ cổ” để đòi chủ quyền đối với bãi cạn Scarborough, thượng nghị sĩ Enrile vạch rõ: “Nếu chấp nhận logic này thì chắc Ấn Độ sẽ làm chủ toàn bộ Ấn Độ Dương, còn eo biển Magellan chắc thuộc về Tây Ban Nha hoặc Bồ Đào Nha”, và như ông mỉa mai, rồi đây với việc đưa người lên quỹ đạo, sẽ có lúc Bắc Kinh đưa người lên Mặt trăng, sao Hỏa hoặc sao Kim, rồi tuyên bố phát hiện “dấu vết Trung Quốc” tại đó.

“Sẽ chẳng có gì ngạc nhiên nếu Trung Quốc cũng đòi chủ quyền trên Mặt trăng và các hành tinh này” – ông Enrile kết luận. Theo ông, việc Trung Quốc đòi chủ quyền đối với một hòn đảo hoặc các khu vực thuộc chủ quyền rành rành của một quốc gia khác là hoàn toàn vô lý, “đơn giản chỉ vì các đàn chim di trú từ Trung Quốc đã đến làm tổ tại đó”.

Ông cho rằng đối với Philippines, giải pháp duy nhất để đối phó với Trung Quốc là tăng cường an ninh hàng hải, hiện đại hóa quân đội. “Nếu quốc gia láng giềng có hành vi gây hấn, sẽ là sai lầm của chính chúng ta nếu không có sự chuẩn bị” – thượng nghị sĩ Enrile nhấn mạnh.

Theo báo Philippines Star, hôm qua 2-7, hải quân Mỹ và Philippines đã bắt đầu cuộc tập trận chung kéo dài chín ngày ở Mindanao.

Căng thẳng do “diều hâu quân sự”

Trên báo Wall Street Journal, giáo sư Willy Lam, chuyên gia nghiên cứu Trung Quốc thuộc ĐH Akita (Nhật) và ĐH Hong Kong, nhận định những căng thẳng trên biển Đông thời gian qua xuất phát từ ảnh hưởng chi phối của quân đội Trung Quốc (PLA) đối với chính sách ngoại giao của Bắc Kinh.

Kể từ năm 2010, các quan chức theo đường lối “diều hâu” trong PLA đã liên tục đưa ra các tuyên bố hiếu chiến. Cuối năm ngoái, thiếu tướng hải quân Dương Nghị kêu gọi Bắc Kinh từ bỏ chính sách “giấu mình chờ thời” của Đặng Tiểu Bình. Tháng trước, thiếu tướng Hàn Húc Đông thuộc ĐH Quốc phòng PLA thậm chí còn lớn tiếng tuyên bố đã đến lúc Trung Quốc cần từ bỏ nguyên tắc “chống bành trướng”. Trong bài viết đăng trên Thời báo Hoàn Cầu, ông Hàn Húc Đông đã trơ tráo kêu gọi Bắc Kinh áp dụng chính sách bành trướng trong cả lĩnh vực quân sự, kinh tế và địa – chính trị. “Chỉ khi chúng ta loại bỏ rào cản tâm lý chống bành trướng thì Trung Quốc mới có thể đẩy nhanh sự chuyển đổi từ một cường quốc khu vực thành một cường quốc toàn cầu”- Hàn Húc Đông viết.

Đối với vấn đề biển Đông, giới tướng lĩnh Trung Quốc đã đưa ra thông điệp: “PLA không e ngại trừng phạt các quốc gia phản đối việc Trung Quốc đòi chủ quyền”. Thiếu tướng La Viện đe dọa Trung Quốc đã “hết kiên nhẫn” với Philippines và “chẳng việc gì phải thận trọng”.

Giáo sư Willy Lam khẳng định chính PLA đứng sau việc Bắc Kinh tuyên bố thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa”. Trước đó, một số quan chức ngoại giao Trung Quốc đã phản đối kế hoạch này do lo sợ nó sẽ thổi bùng lên tâm lý chống Trung Quốc trong khu vực.

Nhiều học giả Trung Quốc cũng đã lên tiếng chỉ trích việc PLA khuấy đảo chính sách ngoại giao của nước mình. Giáo sư Sở Thụ Long của ĐH Thanh Hoa chỉ trích PLA là “có quá nhiều quyền lực trong chính sách ngoại giao”. Giáo sư Vương Tập Tư của ĐH Bắc Kinh cho rằng những con “diều hâu” trong PLA đã “đưa ra những tuyên bố khinh suất, gây hiểu lầm”. Phản ứng lại, thiếu tướng Trương Châu Trung đã thẳng thừng tuyên bố: “Có hơn 1 triệu kẻ phản quốc ở Trung Quốc. Một số học giả là do Mỹ đào tạo, đọc sách Mỹ, chấp nhận quan niệm Mỹ và họ đang giúp Mỹ chống Trung Quốc”.

Trước đó, nghiên cứu của Tổ chức Khủng hoảng quốc tế cho thấy PLA cố tình gây bất ổn trên biển Đông nhằm giành thêm miếng bánh ngân sách. Đơn giản là PLA cũng chỉ vì mục đích ăn tiền mà gây ra bất ổn quốc tế.

SƠN HÀ (TUỔI TRẺ ONLINE)

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – Kỳ 14: Thụ đắc chủ quyền Trường Sa

16/08/2011 0:29

Đối với quần đảo Trường Sa, những quan trắc cụ thể đầu tiên khu vực này được thực hiện năm 1867-1868 bởi tàu nghiên cứu hải dương của Anh Riflemean.

>> Kỳ 13: Đặt dấu mốc 1909: Quá muộn!

Vùng này sau đó bị bỏ qua cho đến chuyến thám sát của tàu Pháp de Lanessan thực hiện trong khu vực biển của đảo Trường Sa. Tàu này quan tâm nhiều tới việc xác định chính xác các điều kiện hàng hải đi qua khu vực này nằm trên con đường thẳng từ Sài Gòn đi Manila (Philippines).

Tháng 12.1927, ông Kurosawa, Tổng lãnh sự Nhật tại Hà Nội, có hỏi Toàn quyền Đông Dương về quy chế lãnh thổ của đảo Trường Sa và các đảo khác. Ngoài ra, các kết quả quan trắc được của tàu de Lanessan cũng kéo theo sự chú ý của công ty phốt phát mới của Bắc Kỳ, công ty này đã gửi cho Thống đốc Nam Kỳ ngày 19.10.1928 một bản tuyên bố về việc nghiên cứu mỏ tại Trường Sa. Các sự kiện này đã đưa nước Pháp đến xem xét lại số phận các đảo nổi, mà theo họ là vô chủ (res nullius) cho tới ngày mà họ chiếm hữu chính thức.

 


Đảo Trường Sa Lớn trong quần đảo Trường Sa thuộc chủ quyền Việt Nam – Ảnh: Đỗ Hùng

 

Chiến dịch chiếm hữu đảo Trường Sa bằng tàu Malicieuse được đề nghị vào tháng 10.1929 đã bị hoãn lại do điều kiện khí hậu không thuận lợi. Cuối cùng nó cũng có thể đã được thực hiện vào ngày 13.4.1930.

Ba năm sau, bằng thông báo đăng trong Công báo ngày 26.7.1933, Pháp thông báo cho các cường quốc ý định mở rộng chủ quyền của họ ra tất cả các đảo nhỏ và đá nằm giữa vĩ tuyến 7 và 12 độ bắc và nằm ở phía tây của vùng tam giác Mỹ xung quanh quần đảo Philippines, được trù định trong hiệp ước ngày 10.12.1898.

Ngày 21.12.1933, bằng Nghị định N4762-CP, Thống đốc Nam Kỳ J.Krautheimer đã sáp nhập quần đảo Trường Sa vào tỉnh Bà Rịa. Đối với Pháp, việc chiếm hữu các đảo không phải dựa trên các danh nghĩa lịch sử của An Nam như trong trường hợp của quần đảo Hoàng Sa mà là trên sự kiện đây là một lãnh thổ vô chủ (res nullius). Việc các tàu Pháp chiếm các đảo này có bản chất là nước Pháp thực hiện việc thụ đắc chủ quyền nếu không có một quốc gia nào vào hoàn cảnh đó xác lập được rằng họ đã thụ đắc từ trước và họ đã bảo tồn chủ quyền đó trên các đảo.

Hành động của Pháp tuyên bố chủ quyền trên quần đảo Trường Sa sẽ là không có giá trị nếu TQ đã từng có một danh nghĩa đã được thiết lập. Nhưng khác với trường hợp của quần đảo Hoàng Sa, đã không có một biểu hiện nào về mặt vật chất lẫn ý định từ phía Chính phủ TQ trên các đảo trước khi Pháp chiếm đóng. Về mặt hình thức, báo cáo chính phủ phát hành tại Quảng Châu năm 1928 đã tuyên bố rằng điểm mút tận cùng của lãnh thổ TQ về phía nam được xác định là Tây Sa (tức Hoàng Sa, Paracel). Không có một lời nào về Trường Sa (Spratly) [1].

Hơn nữa, trong quan hệ Pháp – Việt, các đảo Trường Sa không được coi là lãnh thổ vô chủ (res nullius) nếu ta tính đến đòi hỏi của VN dựa trên danh nghĩa lịch sử. Đội Bắc Hải hằng năm đã tiến hành các hoạt động dưới sự kiêm quản của Đội Hoàng Sa trong vùng biển này, dù rằng hoạt động này đã bị suy yếu nhiều từ năm 1852 do việc vua An Nam phải bận tâm nhiều tới việc bảo vệ các tỉnh lục địa chống lại sự chiếm đóng của Pháp hơn là các đảo ngoài khơi xa bờ biển Nam Kỳ.

Cuộc tranh cãi pháp lý các đảo Trường Sa có lẽ sẽ trở nên phức tạp thêm nếu Pháp bảo lưu quyền trên các đảo này cho chính họ. Nhưng trên thực tế VN đã trở thành bên kế thừa Pháp đối với quần đảo Trường Sa. Hiệp ước Vịnh Hạ Long ký tháng 3.1949 đã chuyển giao cho quốc gia VN chủ quyền của Pháp trên Nam Kỳ, trong đó Trường Sa là một bộ phận.

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] R.Halleir – Trost, Sđd, tr. 39.

>> Kỳ 15: Quyền kế thừa bất khả xâm phạm

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – Kỳ 10: Ý chí khẳng định chủ quyền Việt Nam

12/08/2011 0:28

Các bằng chứng do VN đưa ra cho thấy các hoạt động do các chúa và các vua nhà Nguyễn trên Hoàng Sa và Trường Sa thường tiến hành trên năm lĩnh vực sau:

>>  Kỳ 9: Tư liệu khách quan thừa nhận chủ quyền Việt Nam

1. Tổ chức khai thác có hệ thống các đảo.

2. Tổ chức công tác khảo sát đo đạc nhằm hiểu biết rõ lãnh thổ và đồng thời để kiểm tra, kiểm soát biển.

3. Xây dựng các miếu, đền, trồng cây như các dấu hiệu tượng trưng chủ quyền An Nam trên các đảo.

4. Tổ chức thu thuế tại chỗ.

5. Cứu trợ các tàu thuyền nước ngoài gặp nạn.

Về việc tổ chức các đội  Hoàng Sa và Bắc Hải nhằm khai thác các tài nguyên sản vật trên biển, Phủ biên tạp lục (1776) có ghi:

“Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa, lấy người xã An Vĩnh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng ba nhận giấy sai đi, mang lương ăn đủ sáu tháng, đi bằng chiếc thuyền tiểu câu ra biển ba ngày ba đêm thì đến các đảo ấy rồi ở  lại đó. Tha hồ kiếm lượm, bắt chim bắt cá mà ăn. Lấy được hóa vật của tàu, như là gươm ngựa,  hoa  bạc, tiền bạc, vòng bạc, đồ đồng, thiếc khối, chì đen, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiên cùng là kiếm lượm mai đồi mồi, mai hải ba, hải sâm, hột cốc hoa, rất nhiều.

Đến kỳ tháng tám thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp. Cân và định hạng xong mới đem bán riêng các thứ ốc hoa, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về… Họ Nguyễn lại đặt đội Bắc Hải, không định bao nhiêu suất hoặc người thôn Tu Chính ở Bình Thuận hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền tiểu câu ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên, tìm lượm hóa vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản”([1]).

Với việc dựng các đội thủy quân đặc biệt để khai thác các đảo, các chúa và vua nhà Nguyễn đã tỏ rõ ý chí nhà nước. Hoạt động này được tiến hành hằng năm và được đặt dưới kỷ luật nhà nước. Các đội viên có quyền được cấp giấy sai đi, được miễn thuế sưu, tiền đò và được thưởng tiền. Ngược lại, ai không hoàn thành nhiệm vụ sẽ bị trừng phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của lỗi. Các chuyến đi và tuần tra các đảo được tổ chức thường xuyên. Mỗi khi hoàn cảnh đòi hỏi phải tạm hoãn, đều phải có chỉ dụ của nhà vua.


Tờ lệnh ban hành ngày 15 tháng 4 năm Minh Mạng thứ 15 (Giáp Ngọ – 1834) lệnh Bộ Binh và triều đình cử binh thuyền đi Hoàng Sa mà gia tộc họ Đặng ở Lý Sơn (Quảng Ngãi) gìn giữ hàng trăm năm nay – Ảnh: Hiển Cừ

Ngay cả dưới thời Tây  Sơn, triều đại ngắn ngủi, gián đoạn thời nhà Nguyễn, truyền thống đó vẫn được duy trì không ngắt đoạn.

Sách Đại Nam thực lục chính biên (1848) ghi nhận một loạt các hành động của vua Nguyễn để củng cố chính quyền của họ trên các đảo. Năm 1815, 1816, 1833, 1834, 1835, 1836, vua Gia Long và người kế nhiệm ông – vua Minh Mạng đều ra chiếu chỉ lệnh cho thủy quân và đội Hoàng Sa tới các đảo Hoàng Sa để ghi lại lộ trình. Quyển 165 viết:

“Năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mạng thứ 17 (1836)… Bộ Công tâu: Xứ Hoàng Sa thuộc cương vực mặt biển nước ta, rất là hiểm yếu, từng sai vẽ bản đồ  nhưng vì tình thế xa rộng, nên mới chỉ vẽ được một nơi, lại cũng chưa biết nên làm thế nào. Hằng năm thường phái người đi xem xét cho khắp để thông thuộc đường biển. Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, phái thủy quân, biền binh và giám thành đáp một chiếc thuyền ô nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Nghĩa (Ngãi – TN), giao cho hai tỉnh Quảng Bình, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa.

Không cứ là đảo nào, bãi nào, phàm khi thuyền đến nơi, tức là chiếu chỗ ấy chiều dài, chiều ngang, chiều cao, chiều rộng, chu vi Việt Nam và nước biển bốn bên xung quanh nông hay sâu, có bãi  ngầm, đá  ngầm  hay  không, hình thế hiểm trở bình dị thế nào, phải xem xét, đo đạc kỹ càng, vẽ thành bản đồ. Lại chiếu ngày khởi hành, từ cửa biển nào ra khơi, nhằm phương hướng nào đi đến nơi  ấy, căn cứ vào thủy trình đã qua, tính ước được bao nhiêu dặm. Lại từ xứ ấy trông ra bờ biển, đối thẳng vào tỉnh hạt nào, phương hướng nào, đối chếch là tỉnh hạt nào, phương hướng nào, ước lượng cách bờ biển chừng bao nhiêu dặm, đều nhất nhất phải nói rõ, lần lượt đem về dâng trình.

Vua y lời tâu, sai Suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi chuẩn bị mang theo 10 cái bàn gỗ, đến nơi dựng lên làm dấu ghi (mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 5 tấc, dài 1 tấc, mặt bài khắc chữ: “Năm Minh Mạng thứ 17, Suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật vâng lệnh ra Hoàng Sa xem xét đo đạc đến đây lưu dấu để ghi nhớ”.

[1] Trích từ Sách trắng của Bộ Ngoại giao CHXHCN Việt Nam năm 1981, tr 9 – 11.

TS Nguyễn Hồng Thao

>> Kỳ 11: Chiếm hữu đúng luật 

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – Kỳ 9: Tư liệu khách quan thừa nhận chủ quyền Việt Nam

Để giải quyết cuộc tranh luận dai dẳng xung quanh danh nghĩa lịch sử, cách tốt nhất là nên tham khảo ý kiến bên thứ ba.

>> Kỳ 8: Đi đến luận cứ chắc chắn

Người phương Tây đã từng nói về sự quy thuộc của quần đảo Paracel vào An Nam. Các nhà truyền đạo Pháp trên tàu Amphitrite trên đường sang TQ đã ghi trong một bài tiếng Pháp năm 1701: “Paracel là một quần đảo thuộc Vương quốc An Nam. Đó là một bãi đá ngầm khủng khiếp có đến hàng trăm dặm, rất nhiều lần đã xảy ra các tai nạn đắm tàu ở đó” ([1]).

 
Một trong những bản đồ hàng hải của người Bồ Đào Nha thế kỷ XVI. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được gộp làm một với tên “Paracel” vẽ ở biển Đông cách xa các đảo ven bờ biển miền Trung Việt Nam – Ảnh: tư liệu

Jean-Louis Taberd ghi nhận:

“Pracel hoặc Paracels (Bãi cát vàng), mặc dù quần đảo này không có gì ngoài các đá, bãi và độ sâu lớn hứa hẹn nhiều bất tiện lợi hơn, Vua Gia Long đã nghĩ tới việc mở rộng lãnh thổ của ngài bằng cách chiếm thêm vùng đất buồn bã này. Năm 1816, ngài đã tới đây long trọng cắm cờ, chính thức chiếm hữu các đảo đá này, mà không một ai tranh giành gì với ngài cả”([2]).

Về phần mình, J.B.Chaigneau, cố vấn của nhà vua An Nam, đã viết trong cuốn hồi ký về nước Cochinchine:

“Nước Cochinchine mà nhà vua bấy giờ đã lên ngôi Hoàng đế gồm xứ Cochinchine và xứ Đông Kinh… một vài đảo có dân cư không xa biển và quần đảo

Paracel do những đảo nhỏ, ghềnh và đá không có dân cư hợp thành. Chỉ tới năm 1816, Hoàng đế mới chiếm hữu quần đảo này”([3]).

Dubois de Jancigny trong Thế giới, lịch sử và mô tả các dân tộc Nhật, Đông Dương, Ceylan có viết: “Chúng tôi quan sát thấy rằng từ ba mươi tư năm nay, quần đảo Paracel (người An Nam gọi là Cát vàng), một ma hồn trận thật sự của các đảo nhỏ, các đá và các bãi cát đầy ngờ vực của các nhà hàng hải và có thể được coi là hoang dã và vô tích sự nhất trong số các điểm của quả địa cầu, đã được người An Nam (Cochinchine) chiếm hữu. Chúng tôi không để ý liệu họ có tạo nên một công trình nào trên đó không (nhằm mục đích, có thể, bảo vệ nghề cá); nhưng chắc chắn rằng Vua Gia Long đã gắn thêm vòng hoa này vào vương miện của người, bởi vì ngài đã thân chinh tới đó chiếm hữu, việc này xảy ra vào năm 1816 khi ngài long trọng kéo cờ của An Nam lên đó”([4]).

Gutzlaff trong bài Địa lý Vương quốc Cochinchine xuất bản năm 1849 tại London (Anh) cũng ghi Cát Vàng (để chỉ Paracel) thuộc Cochinchine. Gutzlaff viết:

“Không biết vì san hô hay vì lẽ khác mà các ghềnh đá ấy lớn dần, nhưng rõ ràng nhận thấy các đảo nhỏ ấy càng năm càng cao, và một vài cái bây giờ đã có người ở thường xuyên, thế mà chỉ mấy năm trước sóng đã vỗ dập qua. Những đảo ấy đáng lẽ không giá trị nếu nghề chài ở đó không phồn thịnh và không biết bù hết mọi nguy nan cho kẻ phiêu lưu. Từ lâu đời, những thuyền phần lớn từ đảo Hải Nam tới, đã hằng năm đến thăm các bãi nổi này và tiến hành cuộc viễn du xa xa tới tận bờ đảo Borneo. Tuy rằng hằng năm hơn phần mười bị đắm, nhưng cá đánh được rất nhiều, đến nỗi không những bù hết được mọi thiệt thòi, mà còn để lại món lợi rất to. Chính phủ An Nam thấy những lợi có thể mang lại nếu một ngạch thuế được đặt ra, bèn lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ ở chỗ này để thu thuế mà mọi người ngoài tới đây đều phải trả, và để bảo trợ người đánh cá bản quốc” ([5]).

Trong Địa lý tóm tắt của Ý (Compendio di Geografia) do Adriano Balbi soạn năm 1850, trang 641 mô tả về địa lý Vương quốc An Nam có ghi: Cũng thuộc vương quốc này còn có quần đảo Paracel, nhóm đảo Pirati và nhóm đảo Poulo Condor (tức Hoàng Sa, nhóm đảo Hải Tặc và Côn Đảo). Cũng trong tác phẩm này tr.644-648 về địa lý Trung Hoa không viết gì về Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngay cả các sách TQ cũng công nhận việc quy thuộc các đảo này vào An Nam. Chúng ta có thể đọc được điều đó trong phần tựa cuốn Hải Lục năm 1842 trong đó Vương Bính Nam đã so sánh các điều mắt thấy tai nghe do Tạ Thanh Cao, một thủy thủ TQ từng đi nhiều nước nhiều vùng về kể lại:

“Vạn lý Trường Sa là đất nổi giữa biển, dài vài ngàn dặm, là phên giậu của An Nam”.

Hải ngoại ký sự của Thích Đại Sán (người TQ) năm 1696 ([6]) quyển III đoạn thuật lại chuyến đi về Quảng Đông bắt đầu đi từ Quảng Nam viết: “…bãi cát rộng cả trăm dặm, chiều dài thăm thẳm chẳng biết bao nhiêu mà kể, gọi là “Vạn lý Trường Sa”, mù tít chẳng thấy cỏ cây nhà cửa; nếu thuyền bị trái gió trái nước tấp vào dầu không tan nát cũng không gạo, không nước, trở thành ma đói mà thôi. Quãng ấy cách Đại Việt bảy ngày đường, chừng bảy trăm dặm ([7]). Các quốc vương thời trước, hằng năm sai thuyền đi đánh cá đi dọc theo bãi cát, lượm vàng bạc khí cụ của các tàu thuyền hư hỏng dạt vào”. Đoạn văn mô tả này đã xác nhận việc hành xử chủ quyền của thời Chúa Nguyễn qua hoạt động thu lượm hóa vật của Đội Hoàng Sa.

Các mô tả về Paracel từ các nguồn nước ngoài chứng tỏ Hoàng Sa không phải là các đảo ven bờ biển Trung VN. Trong khi có khá nhiều nguồn tài liệu trung gian chứng minh sự chiếm hữu Paracels của các Chúa và Vua Nguyễn, không có một nguồn tư liệu nước ngoài nào chỉ rõ sự chiếm hữu các đảo này của TQ.

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Trích dẫn theo P.B Lafont, Sđd, tr.248.

[2] J.L Taberd, Ghi chép về địa lý Nam Kỳ trong the Journal of Bengal, Calcutta, serie VI, September 1837, tr.737 – 745.

[3] Tập san của người bạn cũ của Huế, số 2,1923, tr.257.

[4] M.A Dubois de Jancigny, Thế giới, lịch sử và mô tả các dân tộc Nhật, Đông Dương, Xeylan, Paris éd, Firmin Didot Freres, 1850, tr. 555.

[5] Journal of the Geographical Society of London (Tạp chí Hội Địa lý London), quyển 19 (1849), London, John Murray, 1849, tr. 93-94.

[6] Hải ngoại ký sự là ghi chép chuyến đi của tác giả Đại Sán Hán Ông, tên là Thạch Liêm từ chùa Trường Thọ tỉnh Quảng Đông đến vùng Thuận Quảng nước Đại Việt vào năm Ất Hợi triều Vua Khang Hy (1695) và trở về Trung Quốc vào năm sau (1696). Sách nguyên bản chữ Hán gồm 6 quyển đã được Viện Đại học Huế dịch trọn bộ ra Quốc ngữ năm 1963. Sau này người TQ đã dựng nên một chiến dịch nói xấu tác giả, chứng minh ông là người không bình thường, là kẻ điên để giảm bớt tính chân thực của tác phẩm. Nguyễn Quang Ngọc, Sđd, tr. 43.

[7] Phạm Hoàng Quân cho rằng ở đây có lỗi dịch Hán-Nôm, thất canh lộ không phải là 7 ngày đêm, canh ở đây là đơn vị chiều dài. Tuy nhiên ông cũng công nhận một canh khoảng trăm dặm. Như vậy về khoảng cách Hải ngoại ký sự mô tả khá chính xác khoảng cách từ bờ đến quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Cách dịch đúng được đề xuất là: “Quãng ấy cách Đại Việt bảy canh đường, chừng bảy trăm dặm”.

>> Kỳ 10: Ý chí khẳng định chủ quyền Việt Nam

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – Kỳ 6: Những luận cứ chủ quyền không vững chắc

– Sự kiện  thứ ba: Ngô Thăng, phó tướng thủy sư Quảng Đông đã thực hiện việc  tuần biển vào khoảng các năm 49 và 51 đời nhà Thanh (1710 – 1712). “Tự Quỳnh Thôi, lịch Đồng Cổ, kinh Thất Châu Dương, Tứ Canh Sa, Châu Tào tam  thiên  lý, Cung  tự tuần thị (từ Quỳnh Nhai, qua Đồng Cổ, qua Thất Châu Dương, Tứ Canh  Sa,  vòng  quanh  ba  ngàn  dặm,  đích thân đi tuần tra xem xét). Gọi Thất Châu Dương ở đây tức quần đảo Tây Sa ngày nay, lúc bấy giờ do hải quân Quảng Đông phụ trách đi tuần”.

>> Kỳ 5: Độ chênh của lịch sử trong Sách trắng Trung Quốc

Việc nghiên cứu nghiêm túc lại cho ta một sự  thật khác hẳn. Những địa danh nêu trong đoạn trích trên đều nằm xung quanh  đảo Hải Nam, theo các tác giả VN ([1]) :

–  Quỳnh Nhai, tức “Đạo binh bị Quỳnh  Nhai” (Đảo Hải Nam) đời Thanh, sở tại Quỳnh Sơn gần thị trấn Hải Khấu ngày nay, phía bắc đảo Hải Nam.

– Đồng Cổ ở mỏm đông bắc đảo Hải Nam

– Thất Châu Dương  là vùng biển có bảy hòn đảo gọi là Thất Châu nằm ở phía đông đảo Hải Nam.

– Tứ Canh Sa là bãi cát ở phía tây đảo Hải Nam.


Các chuyến đi của Trịnh Hòa (1405-1443) không được Sách trắng của Bộ Ngoại giao TQ nhắc đến – Ảnh tư liệu

Các địa danh  trên đều được  tìm  thấy trên các hải đồ TQ. Trong hải đồ N 5012 tỷ lệ 1/500.000 do hải quân TQ  xuất bản bằng tiếng TQ  và  tiếng VN  tháng  5.1956  có  tiêu đề: “Vùng  phụ  cận  Lôi Châu  và  đảo Hải Nam”,  và các bản đồ “Bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam”, và Nam Hải địa  hình  đo, tỷ  lệ  1/300.000.000 do  Nhà xuất  bản  địa  đồ TQ  xuất  bản  tháng  5.1984,  có  nhóm  đảo có tên Thất Châu Đảo và vùng biển  xung  quanh các đảo nhỏ đó ở phía đông nam của  đảo  Hải  Nam  được  gọi  tên  đúng  là Thất  Châu Dương. Rõ ràng tên này không được dùng để chỉ toàn bộ biển phía Nam Trung Hoa. Ngoài  ra, trong cuốn Quảng  Đông  dư  địa  đồ thuyết in năm  1909, Lý Hàn  Chung đã nói về các cuộc tuần biển của hải quân Quảng Đông như sau:

“Biên giới  trên biển ngày nay  lấy phía Nam đảo Hải  Nam  làm  giới  hạn,  bên  ngoài  là  Thất  Châu Dương, Đô  đốc  thuỷ  quân Quảng Đông  đi  tuần  đến đó là quay về”.

Ở  đây một  lần  nữa,  chúng  ta  không  thấy  bất  kỳ một ghi chép chính xác nào về các đảo Paracel dưới tên gọi Tây Sa.

Hơn  nữa,  các  hành  vi  quản  lý  mà  TQ viện dẫn, nếu đúng, chỉ  liên quan tới các đảo Tây Sa mà  không  nhắc  gì  đến  các  đảo  Nam  Sa.  Đối  với Spratly, TQ chỉ nêu ra được  sự kiện  năm 1883  khi  tàu  nghiên  cứu  của  Đức  tiến  hành các nghiên cứu  khoa  học  tại  quần  đảo  Nam  Sa,  chính quyền Quảng Đông đã phản  đối  (theo  Heinzig,  sự kiện này  liên quan Tây Sa hơn là tới Nam Sa). Việc phía TQ thiếu một  danh  nghĩa  chiếm hữu của Nhà nước được xác lập một cách vững chắc và từ lâu đời làm cho việc phản đối ngoại giao dựa trên cơ sở quyền thụ  đắc  theo  thời  hiệu  để  ngăn chặn một hành động như vậy không  còn  giá  trị. Đúng  hơn  nó chỉ được coi như một  tham vọng chủ quyền mà thôi.

Để chứng minh cho lập luận của họ, các tác giả TQ  viện dẫn tới cả các chuyến đi của Thái giám Trịnh  Hòa  trong thời gian từ 1405 đến 1433 qua các đảo này. Tuy nhiên các chuyến đi này không được Sách trắng của Bộ Ngoại giao TQ nhắc đến. Các chuyến đi của Trịnh Hòa tới Java, Ấn Độ và bờ biển Phi châu chỉ có giá trị tạo uy danh cho triều Minh ([2]) và Trịnh Hòa cũng không đưa ra một yêu sách  tạo lập danh nghĩa chiếm hữu  các đảo nào thay mặt thiên triều TQ. ([3])

Các thí dụ kể trên chỉ  tạo  ra sự nhận biết về các đảo, đúng hơn là một số đảo. Nếu các đảo trong biển Đông được các thủy thủ và ngư dân TQ biết tới là điều không phải bàn cãi thì việc khẳng định chủ quyền  TQ trên  các  quần  đảo  này  thật  khó thuyết  phục.  Trong  các  sách  và  văn  kiện do TQ trích dẫn, không có một ghi chép nào về quyền phát hiện hoặc sự củng cố một danh nghĩa chiếm hữu các  đảo  này, và về  thực chất không  thể hiện ý định thực  thi chủ quyền tại đó của họ.

Các  sự kiện kể  trên diễn  ra với khoảng thời gian cách quãng  200-500  năm. Điều  đó  rõ  ràng  làm yếu thêm lập luận của TQ, theo đó các Hoàng đế Trung Hoa đã quản  lý các đảo này  từ hai nghìn năm nay một cách liên tục và không ngắt quãng.

Để chứng minh chủ quyền, cần phải cung cấp các bằng  chứng  liên  quan  trực  tiếp  tới  việc  chiếm  hữu. D.L Bennett, luật gia Mỹ, nhận xét:

“Nếu các đảo hoặc không được quản lý bởi một chính phủ hoặc không được thăm viếng bởi các nhân viên nhà nước, vấn đề đặt ra  là liệu những cuộc tiếp xúc riêng rẽ bởi các ngư dân tư nhân TQ có đủ  để  thiết  lập  chủ  quyền trên  Spratly  theo  luật quốc  tế  không. Vì  vậy  giá  trị  của  lập  trường  chính thức của TQ là đáng nghi ngại”. ([4])

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Vũ Phi Hoàng, Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lãnh thổ Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr. 88;  Nguyễn Quang Ngọc, Sđd.

[2] BBC, ngày 27 tháng 11 năm 2008

[3] Năm 2005 Trung Quốc tuyên  truyền nhiều về Trịnh Hòa, tổ chức thi  “Nhịp cầu Hán ngữ” kỷ niệm các chuyến đi  của ông, gọi ông  là nhà hàng hải  vĩ  đại ngang  tầm Colombo  nhằm mục đích  gắn chuyến  đi  của Trịnh Hòa với quyền phát hiện. 

[4] D.L Benne, “Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và việc sử dụng luật pháp quốc  tế  trong  vụ  tranh  chấp  các  đảo  Spratleys”,  Stanford  Journal  of International Law, quyển 28 (1991-1992), tr. 435.

>> Kỳ 7: Tư liệu phía Việt Nam

Ngày Của Cha là một lễ được dùng để tôn vinh những người làm cha, tôn vinh cương vị làm cha, mối quan hệ với người cha và ảnh hưởng của người cha trong xã hội. Ngày này được ăn mừng vào Chủ nhật thứ ba của tháng 6 tại nhiều quốc gia và có thể rơi vào những ngày khác ở một số nơi. Ngày này bổ sung cho Ngày của Mẹ – lễ tôn vinh các bà mẹ.

Cha – cuộc đời con…

Ngày Của Cha được ăn mừng phổ biến từ những năm đầu thế kỷ 20 để bổ sung cho Ngày của Mẹ trong những ngày lễ tôn vinh những bậc làm cha mẹ . Ngày của Cha được cử hành vào nhiều ngày khác nhau trên toàn thế giới và thường liên quan đến việc tặng quà, bữa ăn tối đặc biệt cho cha, mẹ, và các hoạt động mang tính gia đình.

Nhưng việc ăn mừng Ngày của Cha sớm nhất được biết đến đã diễn ra ở Fairmont, Tây Virginia vào ngày 5 tháng 7 năm 1908. Sự kiện được bà Grace Golden Clayton tổ chức, với mong muốn vinh danh cuộc đời của 210 người cha bị mất vài tháng trước trong Thảm họa Monongah Mining ở Monongah, Tây Virginia, vào ngày 06 tháng 12 năm 1907. Có thể Clayton chịu ảnh hưởng bởi việc ăn mừng Ngày của Mẹ lần đầu tiên trong năm đó, và chỉ cách đó một vài dặm. Clayton đã chọn ngày Chủ nhật gần nhất so với ngày sinh của người cha vừa mới qua đời của bà.

Tuy nhiên, sự kiện đó bị lu mờ bởi các sự kiện khác trong thành phố. Tây Virginia không chính thức công nhận ngày lễ này, và nó không được tổ chức trở lại. Tất cả công lao trong việc giúp Ngày của Cha ra đời về sau lại được ghi nhận cho Sonora Dodd người Spokane, đã tổ chức Ngày của Cha một cách độc lập vào 2 năm sau đó. Sự kiện của bà cũng chịu ảnh hưởng từ Ngày của Mẹ.

lễ kỷ niệm của bà Clayton đã bị lãng quên cho đến năm 1972, khi một trong những người tham dự để buổi lễ do bà tổ chức nhìn thấy Tổng thống Mỹ Richard Nixon công bố Ngày của Cha, và làm việc để phục hồi di sản của nó. Ngày lễ này hiện được tổ chức hàng năm nhà thờ chính tòa Methodist – tức nhà thờ Williams Memorial Methodist Episcopal. Fairmont nay được đề cử là “Quê hương Ngày của Cha đầu tiên”.

Một dự luật công nhận Ngày của Cha là ngày lễ quốc gia được đưa lên Quốc hội Mỹ vào năm 1913. Năm 1916, Tổng thống Woodrow Wilson đến Spokane để nói chuyện trong lễ kỷ niệm Ngày của Cha và muốn công nhận nó chính thức, nhưng Quốc hội phản đối, vì sợ rằng nó sẽ bị Thương mại hóa. Tổng thống Mỹ Calvin Coolidge đề nghị vào năm 1924 rằng nên đưa Ngày của Cha vào diện ngày được quan sát bởi quốc gia, nhưng chưa phát hành một công bố quốc gia.

Năm 1957, Thượng nghị sĩ Margaret Chase Smith viết một kiến nghị buộc tội Quốc hội đã bỏ phớt lờ Ngày của Cha suốt 40 năm, trong khi tôn vinh các bà mẹ, do đó “chỉ tôn vinh 1 trong 2 phụ huynh của chúng ta”. Năm 1966, Tổng thống Lyndon B. Johnson đã đưa ra lời loan báo tổng thống đầu tiên tôn vinh những người cha, và chỉ định dành ngày Chủ nhật thứ ba trong tháng 6 làm Ngày của Cha.

Sáu năm sau, ngày này đã được chính thức trở thành ngày nghỉ lễ trên toàn quốc ở Mỹ sau khi Tổng thống Richard Nixon ký nó thành luật vào năm 1972. Ngoài Ngày của Cha, còn có Ngày Quốc tế Đàn ông được tổ chức tại nhiều quốc gia vào ngày 19 tháng 11 để dành cho những người đàn ông con trai không phải là cha.

  • Việt Nam:

Ngày của Gia đình (cả cha và mẹ) được tổ chức vào ngày 28 tháng Sáu[1].

  • Thái Lan:

Tại Thái Lan, Ngày của Cha được thiết lập như ngày sinh nhật của nhà vua. ngày 05 tháng 12 là ngày sinh của vua hiện tại, Bhumibol Adulyadej (Rama IX). Theo truyền thống, người Thái ăn mừng bằng cách cho cha hay ông nội của họ một hoa Canna (ดอก พุทธรักษา), được coi là một bông hoa nam tính, tuy nhiên, đây không phải là điều thường được thực hiện ngày hôm nay. Người Thái sẽ mặc màu vàng vào ngày này để tôn trọng nhà vua, bởi vì màu vàng là màu của ngày Thứ Hai, ngày vua Bhumibol Adulyadej ra đời. Năm 2007, vua Bhumibol Adulyadej được nhìn thấy rời khỏi bệnh viện trong trang phục một áo em bé màu hồng (?). Vì vậy, ngày nay người Thái mặc màu hồng thay vì màu vàng.

  • Những nơi có ăn mừng Ngày của Cha còn có: thế giới Arab, Argentina, Úc, Brazil, Canada, Costa Rica, Đan Mạch, Đức, Hồng Kông, Ireland, Pakistan, Nhật Bản, Hàn Quốc, Seychelles, Nepal, New Zealand, Philippines, Romania, Singapore, Tây Ban Nha, Đài Loan, Vương quốc Anh, Mỹ…
  • Ngoài ra Ngày của Cha còn được nhắc đến trong văn hóa Thiên Chúa giáo, với việc ăn mừng chung với ngày lễ Thánh Giuse.

[sưu tầm]