Tag Archive: chấp


Tranh chấp tại quần đảo Trường Sa và những bài học từ Philippines dành cho chúng ta

Ảnh chụp chiếc tàu RP Gregorio del Pilar (PF_15), tàu hiện đại nhất của Philippines

Chào các đồng chí.

Như chúng ta đã biết, Philippines vừa quyết định chi 1.8 tỉ USD cho việc hiện đại hóa quân đội, đặc biệt chú trọng tới hải quân. Đây là một bước tiến lớn cho một anh bạn bốn bề là biển mà chiếc tàu hiện đại nhất lại là một con tàu từ Thế chiến thứ 2, lại còn bị gỡ sạch vũ khí và radar, chỉ để lại một pháo 76mm dẫn bắn bằng radar. Tất nhiên, qua đây cũng rút ra được nhiều bài học dành cho chính chúng ta. Có thể kể tới như:

1. Trong vấn đề chủ quyền lãnh thổ lãnh hải, không thể nhờ vào sự trợ giúp của ai ngoài chính bản thân mình.
Với việc bị chiếm mất bãi cạn Scarborough và gần đây là bãi Cỏ Mây, Philippines có lẽ đã nhận ra được việc Mỹ sẽ không nhảy vào giúp trừ khi các hòn đảo chính bị xâm lược. Trước nay thì anh bạn Phil vẫn dựa oai của Mỹ để lớn tiếng “đấu tranh” với TQ và Đài Loan, nhưng thái độ im lặng của Mỹ trước các xung đột đã cho thấy rằng: Các nước lớn sẽ không dại gì mà gây xung đột với nhau khi lợi ích chưa bị xâm phạm, các nước đồng minh chỉ là ưu tiên thứ cấp. Chính vì quá dựa dẫm vào Mỹ mà tiềm lực quân sự, đặc biệt là không quân và hải quân của Philippines quá yếu kém. Từ đó, khi xảy ra tranh chấp mà không có sự hỗ trợ từ Mỹ thì Philiippines hoàn toàn không có khả năng chống đỡ, và kết quả thì ai cũng biết. Một bài học đắt giá mà Philippines được học với cái giá quá đắt là 2 bãi cạn và vô số những cái khác.
Nhìn về Việt Nam, chúng ta cũng có tranh chấp về chủ quyển lãnh hải với các nước như TQ, Đài Loan, Philippines. Nhưng chúng ta khác Philippines ở chỗ là chúng ta không có và cũng không muốn có ai để chống lưng, tất cả đều phải dựa vào nội lực của bản thân. Vì vậy, chúng ta có thể tự bảo vệ chủ quyền của mình mà chẳng cần ai trợ giúp hay gây khó khăn. Điều này được chứng minh bằng việc các đảo và cụm đảo tại Trường Sa vẫn luôn đứng vững, và chúng ta chưa mất một đảo nào kể từ sau sự kiện ngày 14/3/1988.

2. Muốn bảo vệ được chủ quyền, cần nhiều thứ hơn là những tuyên bố “cứng rắn” và “mạnh miệng”
Có thể thấy, trong những nước có tranh chấp tại biển Đông thì Philippines là nước thuộc dạng “to mồm” nhất, với những tuyên bố rất “mạnh mẽ” đối với TQ và Đài Loan. Không ít các bạn trẻ và các nhà hoạt động “rận chủ” đã tung hô các tuyên bố trên của Philippines, cho rằng nó tỏ vẻ không run sợ trước TQ. Nhưng thực tế là gì? Tuyên bố cứ tuyên bố, đảo vẫn mất, dân ra biển thì bị tàu TQ đuổi không làm ăn gì được, cho tàu hải quân ra rồi lại chạy về vì mỗi một tàu chả làm gì được.
Vấn đề của Philippines là gì? To mồm thì to mồm thật, nhưng cái quan trọng là tiềm lực quân sự thì lại không có. Cái này các cụ nhà ta đã có câu “Thùng rỗng kêu to” hay tệ hơn là “Chó sủa là chó không cắn”. Khi tiềm lực quân sự đã kém cỏi thì những tuyên bố vung trời cũng chỉ làm trò cười cho các nước khác, và chủ quyền vẫn bị xâm phạm.
Trái lại, nhà ta có hướng tiếp cận riêng trong vấn đề này. Chúng ta cũng tuyên bố liên tục, như các bạn trẻ hay nói là “nhai đi nhai lại” việc phản đối TQ xâm phạm chủ quyền lãnh hải của Việt Nam. Mục đích chính là để có bằng cớ để sau này còn có cái mà đấu tranh, tránh việc TQ sẽ lợi dụng việc ta im lặng để nói rằng “không phản đối tức là đồng ý với chủ quyền của TQ tại khu vực”, hay như các cụ vẫn nói là “để lâu cứt trâu hóa bùn”. Nhìn qua thì có vẻ ta cũng giống Philippines, thậm chí có phần kém hơn vì không mạnh miệng như anh bạn đó. Nhưng, xin được nhấn mạnh rằng, đằng sau những tuyên bố “nhai đi nhai lại” đó là một lực lượng hải quân và không quân hùng hậu đang được hiện đại hóa toàn diện. Chúng ta có lực lượng hải quân và cảnh sát biển đủ mạnh để luôn sẵn sàng đâm húc đẩy đuổi các tàu TQ xâm phạm lãnh hải. Phải như vậy thì các tuyên bố của chúng ta mới có trọng lượng.
Ở phần này, Ft xin được kết luận thế này: Người ta thường sợ cái thằng ít nói nhưng lúc nào cũng lộ ra mấy thanh đại đao treo trong nhà, chứ ai thèm sợ cái thằng chỉ có con dao cùn mà cứ thích to mồm, không cẩn thận lại ăn tát lật mặt ấy chứ. Chính vì vậy, gần đây anh bạn Phil mới bắt đầu rục rịch đầu tư mua sắm cho hải quân với ngân sách 1.8 tỉ USD. Tuy khá muộn, nhưng có vẻ anh bạn này cũng bắt đầu nhận ra những vấn đề cần phải giải quyết trong tranh chấp trên biển Đông. Hi vọng Phil sẽ không mất thêm bãi cạn và đảo nào trước khi kịp hiện đại hóa quân đội.

3. Phải biết kiềm chế và giữ cái đầu lạnh
Lại nói việc kiềm chế trong các vấn đề tại biển Đông. Chắc ai cũng biết việc tàu Philippines bắn chết một ngư dân Đài Loan, và sự kiện này được nhiều vị tung hô hết lời như là một ví dụ về sự “dũng cảm” và “cứng rắn” của Philippines trong tranh chấp biển đảo. Nhưng tới lúc họ phải xin lỗi phía Đài Loan và bị ra một loạt yêu sách nặng nề thì cấm có thấy mấy vị tung hô đâu. Xin lỗi đã đành, đây quì xuống xin lỗi mà chúng nó còn chẳng thèm nghe mới nhục. Một phần cũng là do tiềm lực quân sự yếu, bị o ép cũng chẳng làm gì được nên chỉ còn cách xin lỗi.
Nhìn lại Việt Nam ta thì nhiều bạn trẻ cứ thấy nói tới việc tàu TQ xâm phạm lãnh hãi ở khu vực Trường Sa và vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) là bật auto-chửi, cho rằng Nhà nước ta yếu hèn, không dám bắn bọn TQ xâm phạm. May mắn cho tất cả chúng ta là các bác ở trên không nóng đầu và suy nghĩ thiển cận như vậy. Trong các vấn đề tranh chấp thế này, thằng nào nổ sung trước chắc chắn sẽ gặp bất lợi rất lớn trên trường quốc tế. Việt Nam ta quá rõ điều này nên mặc kệ nó có khiêu khích thế nào thì ta cũng vẫn quyết không nổ sung, chỉ cho các tàu ra đâm húc và đuổi tàu nó ra khỏi lãnh hải của ta. Chính nhờ đó mà chủ quyền vẫn được giữ vững mà chúng nó cũng chẳng có cớ để làm gì được ta.

4. Kết luận
Trên đây chính là những bài học được rút ra từ các tranh chấp của Philippines trên biển Đông với TQ và Đài Loan, cũng là những bài học mà chúng ta cần phải nhớ kĩ khi nói về các vấn đề liên quan đến chủ quyền và ngoại giao với các nước khác. Cám ơn các đồng chí đã theo dõi.

 

Đơn vị tác chiến điện tử ( Comrade Commissar )

‘Việt Nam không chấp nhận sự can dự xâm hại chủ quyền’

 

Trong thế giới mở, sự can dự lợi ích của các quốc gia là điều không thể ngăn cấm. Nhưng nếu đó là sự can dự xâm hại chủ quyền thì không được phép chấp nhận.
Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh trao đổi với VnExpress.

– Đối thoại Shangri La lần thứ 12 vào cuối tháng 5 đầu tháng 6 tới diễn ra trong bối cảnh an ninh khu vực nhất là Biển Đông có nhiều căng thẳng. Việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được mời với tư cách là diễn giả chính mang thông điệp gì thưa ông?

– Lời mời dành cho Thủ tướng Việt Nam được Giám đốc Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS) của Vương quốc Anh đưa ra, đồng thời Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long có lời mời chính thức. Như vậy, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ là khách mời chính thức của IISS và là Quốc khách của Singapore.

Từ khi Việt Nam chính thức công bố Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dự đối thoại Shangri La và có bài phát biểu quan trọng mở đầu hội nghị, các hãng tin quốc tế đều đưa tin này với độ nóng cao. Họ đang chờ đợi Thủ tướng Việt Nam sẽ nói gì trong hội nghị này.

Trong bối cảnh tình hình an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương có nhiều vấn đề phức tạp, cả thuận lợi và thách thức, thì việc Thủ tướng Việt Nam được mời phát biểu đầu tiên chứng tỏ Ban tổ chức, nước chủ nhà cũng như cộng đồng quốc tế đánh giá cao vai trò của Việt Nam, đặc biệt trong đóng góp vào hòa bình, an ninh ổn định và hợp tác trong khu vực. Đồng thời, sự tham gia của Thủ tướng cho thấy Việt Nam rất quyết tâm mở rộng quan hệ quốc tế đa dạng, không chỉ song phương mà còn đa phương; quyết tâm hội nhập, trở thành đối tác tin cậy của tất cả các nước.

– Đối thoại Shangri La sắp diễn ra tại Singapore sẽ bàn đến sự can dự của Mỹ vào vấn đề an ninh khu vực cũng như vai trò của Trung Quốc đối với an ninh toàn cầu. Là một quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng, quan điểm của Việt Nam trước những vấn đề này như thế nào, thưa Thứ trưởng?

– Trong một thế giới mở, sự can dự lợi ích các quốc gia là điều không thể ngăn cấm. Họ có quyền bảo về chủ quyền và can dự lợi ích đồng thời tìm lợi ích trong quan hệ với các quốc gia khác. Sự can dự ấy nếu là can dự hòa bình, hợp tác và phát triển thì đó là tích cực. Điều này có lợi cho các nước nhỏ, các nước đang phát triển bởi nó tạo điều kiện hội nhập mạnh mẽ hơn giữa các nước trong khu vực, nhất là các nước đang phát triển như Việt Nam. Chúng ta kỳ vọng những can dự này sẽ đem lại sức sống mới, năng động mới cho cả khu vực.

Nhưng nếu việc can dự mang mục đích lợi ích đơn phương, cục bộ, cao hơn là mang tính bạo lực, xâm hại chủ quyền lợi ích quốc gia khác sẽ không được chấp nhận.

Tôi muốn nói thêm là sự can dự nếu quá thiên về quốc phòng, an ninh sẽ gây nguy cơ tiềm tàng va chạm trong khu vực. Hãy hình dung tình trạng này như có nhiều thùng thuốc súng để gần nhau quá sẽ có ngày bắt lửa. Sự hiện diện quân sự ấy có thể đem lại lo lắng dẫn đến cuộc chạy đua vũ trang mới trong khu vực mà gần đây đã có dấu hiệu của cuộc chạy đua này.

– Việt Nam từng trở thành bài toán mặc cả trong thỏa hiệp lợi ích của các nước lớn. Trong bối cảnh phức tạp hiện nay thì Việt Nam cần làm gì để tránh bị các nước thỏa hiệp trên lưng mình?

– Việc các nước thỏa hiệp mặc cả hy sinh lợi ích của Việt Nam chỉ xảy ra khi ta mất độc lập tự chủ, ngả về bên này hoặc bên kia. Việt Nam đã tuyên bố rõ đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, không tham gia liên minh quân sự, không đi với bên này để chống bên kia.

Thế giới xác định có 3 cách để bảo đảm hòa bình, tự chủ: Một là trở thành nước lớn để hạn chế đối phương hại đến hòa bình lợi ích nước mình. Hai là kiểu “đu dây”, lúc ngả theo bên này, lúc ngả bên kia, sẵn sàng hy sinh lợi ích chiến lược và uy tín quốc gia trong từng thời điểm để đạt mục tiêu trước mắt. Cách thứ ba, khó nhưng bền vững nhất là giữ được độc lập tự chủ, làm bạn với tất cả các nước. Trước hết là độc lập về chính trị, rồi đến độc lập về kinh tế, văn hóa, độc lập về quốc phòng an ninh.

Với Việt Nam, tính chất địa chính trị không cho phép chúng ta chọn “chỗ vắng” được mà buộc phải chọn “chốn đông người”. Vì vậy, trong khi giữ độc lập tự chủ thì mình phải đẩy mạnh mở cửa, trở thành bạn, thành đối tác với tất cả các nước. Đây là vấn đề có tính sống còn cho giữ gìn ổn định, hòa bình, phát triển, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và chế độ chính trị của đất nước ta.

– Quy tắc ứng xử trên Biển Đông chưa ra đời, Việt Nam đề xuất cơ chế hợp tác gì để có thể tránh các vụ va chạm, xung đột trên biển giữa các quốc gia trong khu vực?

– Những va chạm đáng tiếc trên Biển Đông hiện nay khiến ta rất quan ngại. Thậm chí đó là nguy cơ cho an toàn tính mạng của người dân. Điều này trước hết làm xáo trộn môi trường hòa bình của người lao động trên biển. Lợi ích của các nước có chủ quyền bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tôi quan ngại trước hành vi bạo lực nếu nó xuất hiện trên Biển Đông, nhất là khi nó trở thành có tính hệ thống.

Để đẩy lùi nguy cơ này, ta kiên quyết theo đuổi biện pháp hòa bình. Điển hình là Thỏa thuận về nguyên tắc xử lý các vấn đề trên Biển Đông mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký với Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào vào năm 2011. Thỏa thuận này không chỉ giải quyết vấn đề giữa Việt Nam – Trung Quốc mà còn đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định trong khu vực.

Thứ hai, ta đấu tranh mạnh mẽ với các hành vi bạo lực, với người sử dụng vũ lực, gây ra xung đột. Chúng ta cần công khai minh bạch, yêu cầu không tái diễn.

– Nhưng trong những tình huống thực tế, khi phải đối mặt với hành động bạo lực của lực lượng quân sự tấn công người dân như vụ tàu cá ở Quảng Ngãi bị tàu hải quân Trung Quốc bắn vừa qua thì lực lượng trên biển của ta phải hành động gì để đối phó?

– Chúng ta có cách để hạn chế họ dùng vũ lực và không để xảy ra xung đột. Trước hết là đấu tranh ngoại giao trực diện trên các diễn đàn song phương và đa phương. Trên thực địa, ta có nhiều biện pháp linh hoạt, hiệu quả như sử dụng lực lượng chấp pháp kết hợp với tàu đánh cá để bao vây, đẩy đuổi.

Về một số hành động vũ lực đối với tàu cá của ngư dân Việt Nam vừa qua, tôi hy vọng rằng đây mới chỉ là hành động cục bộ chứ chưa phải là chủ trương, tuy nhiên vẫn cần đấu tranh kiên quyết ngay từ những dấu hiệu ban đầu này, không để những hiện tượng tương tự tái diễn.

Lực lượng thực thi luật pháp trên biển của Việt Nam luôn đề cao tính nhân đạo trong xử lý các vấn đề trên biển với lao động bình thường. Xử lý nghiêm minh nhưng nhân đạo, đặc biệt không dùng vũ lực, bạo lực đe dọa ức hiếp người dân Trên bình diện đa phương, ta cũng cần nêu vấn đề công khai minh bạch, để cộng đồng quốc tế hiểu rõ chính sách của Việt Nam và hiểu rõ các vấn đề mà ta đang gặp phải.

– Cách đây một năm, ông từng nói Biển Đông sẽ có những diễn biến bất thường và khó lường. Vậy tại thời điểm này, ông đánh giá tình hình như thế nào?

– “Nhiệt độ” trên Biển Đông đã đến điểm mà các nước phải có tính toán rất kỹ nếu đi thêm bất kỳ bước nào nữa. Ví dụ như vừa qua nói rằng một số nước lớn phát triển chiến lược biển, có nhiều động thái đơn phương, không theo đúng luật pháp quốc tế, tuy mang nặng tính biểu tượng, mặc dù vậy đã gây ra nhiều quan ngại. Nhưng nếu họ đi từ tuyên bố đến hành xử trên thực tế thì vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn rất nhiều. Ta cần đấu tranh với từng thái độ, từng hành động để mọi tuyên bố đi ngược lại với luật pháp quốc tế, đi ngược với cam kết giữa các bên, phương hại đến hòa bình, ổn định trong khu vực không xảy ra trên thực tế.

NGUYỄN HƯNG (VNEXPRESS)

Lợi dụng tự do ngôn luận để chống phá là không thể chấp nhận

(VOV) -Hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận để vi phạm pháp luật, không chỉ Việt Nam mà bất kỳ quốc gia nào cũng không thể chấp nhận.
Gần đây, một số cơ quan, tổ chức nước ngoài đua nhau lên án việc Việt Nam xét xử 3 blogger Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần với luận điệu rằng bản án này “quá nặng” và “không nhất quán” với một số thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Đây là những cáo buộc không chính xác khi mà quyền tự do ngôn luận được ba blogger này lợi dụng nhằm chống phá nhà nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Trước hết phải khẳng định rằng, quyền tự do ngôn luận được pháp luật Việt Nam công nhận và được ghi tại Điều 69 của Hiếp pháp.
Trên thực tế, quyền này được đảm bảo và thực thi ở Việt Nam. Nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế và nhân dân trên thế giới ghi nhận và đánh giá cao thành tựu của Việt Nam trong việc thực hiện quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí. Chính vì vậy, những cáo buộc về việc Việt Nam không đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, đặc biệt là trong vụ xét xử 3 blogger là không có căn cứ.
Điều 19 Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền khẳng định: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm… và bày tỏ qua mọi phương tiện truyền thông”.
Tuy nhiên, cũng trong chính văn bản này, tại Điều 29 cũng khẳng định rõ rằng “trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người phải chịu những hạn chế do luật định… nhằm thỏa mãn… những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng và nền an sinh chung”.
Như vậy rõ ràng, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là bị giới hạn bởi các quy định của luật pháp.
Đối chiếu vào trường hợp ba blogger Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần thì rõ ràng là ba đối tượng này đã lợi dụng quyền tự do ngôn luận, chính sách phát triển công nghệ thông tin và việc tạo điều kiện để người dân được bày tỏ quan điểm cũng như tiếp cận thông tin một cách đa dạng của nhà nước Việt Nam.
Ba blogger này còn thể hiện rõ sự thiếu thiện chí trước chính sách tích cực và cởi mở của Nhà nước.
Mới đây, phản ứng trước bộ phim của một người Mỹ nhạo báng Đạo Hồi, Tổng thư ký LHQ Ban Ki moon đã chỉ rõ rằng: Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí chỉ được bảo vệ khi nó được dùng vào các mục đích công lý và phục vụ cộng đồng. Còn các bằng chứng về hành vi của ba blogger này đã cho thấy họ đã xuyên tạc, châm biếm nhằm chống lại các cá nhân và cơ quan, tổ chức của Việt Nam. Do đó, các hành vi này đáng bị lên án.
Hàng trăm trang tài liệu có nội dung tuyên truyền chống nhà nước Việt Nam đã được ba đối tượng này phát tán trên mạng.
Hành vi này rõ ràng là đã vi phạm pháp luật của Việt Nam mà cụ thể là Điều 88 của Bộ Luật hình sự.
Trên cơ sở đó, việc đưa ba blogger này ra xét xử là hoàn toàn dựa trên căn cứ của pháp luật. Quá trình điều tra, xét xử ba blogger này cũng được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục của pháp luật Việt Nam. Vì thế việc cho rằng bản án “quá nặng” là cáo buộc không có cơ sở, không dựa trên căn cứ pháp luật.
Cũng giống nhiều quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam công nhận và đảm bảo việc thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Những hành vi lợi dụng các quyền này mà vi phạm pháp luật thì không chỉ Việt Nam mà bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều không thể chấp nhận.
Điều 18 Hiến pháp CHLB Đức ghi rõ: “Ai lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, đặc biệt là tự do báo chí, tự do tuyên truyền… làm công cụ chống lại trật tự của xã hội tự do dân chủ sẽ bị tước bỏ quyền công dân”.
Chính vì vậy, việc Việt Nam xét xử 3 blogger Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần là hoàn toàn phù hợp với pháp luật Việt Nam, tập quán cũng như các quy định quốc tế.
Việc phản đối vụ xét xử này là sự cố tình can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, can thiệp vào quá trình tư pháp vốn dĩ cần phải được tôn trọng và tiến hành một cách độc lập. Vì thế, các hành động này không được hoan nghênh./.

Theo Việt Nga/VOV1/http://vov.vn/Binh-luan/Loi-dung-tu-do-ngon-luan-de-chong-pha-la-khong-the-chap-nhan/228536.vov

Cách nhìn nhận không thể chấp nhận

QĐND – Thủ tướng Chính phủ Việt Nam vừa chỉ đạo các cơ quan chức năng làm rõ, xử lý nghiêm minh một số trang thông tin điện tử đăng tải thông tin vu khống, bịa đặt, xuyên tạc nhằm bôi xấu bộ máy lãnh đạo của đất nước, kích động chống Đảng và Nhà nước Việt Nam, gây hoài nghi và tạo dư luận xấu trong xã hội. Bình luận về việc này, trên VOA Việt ngữ, bà Lucie Morillon – nhân vật thuộc tổ chức Phóng viên Không biên giới, đã phát biểu rằng: “…Chính phủ Việt Nam muốn siết chặt quản lý thông tin để củng cố quyền lực”.
Cần phải nói ngay rằng, cách nhìn nhận của bà Lucie Morillon thực chất là hành vi xuyên tạc, hậu thuẫn những đối tượng đang cố tình lợi dụng tự do dân chủ, tự do internet, tự do báo chí để xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam.
Tự do ngôn luận, tự do báo chí là quyền căn bản của con người. Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin… của công dân. Nhưng tự do báo chí ở Việt Nam không phải là thứ tự do vô chính phủ, tự do vô tổ chức. Để bảo đảm quyền được thông tin, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của mọi công dân được thực thi trong cuộc sống, Nhà nước, Chính phủ và các cơ quan chức năng của Việt Nam đã ban hành nhiều luật và văn bản dưới luật. Công dân Việt Nam có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí… nhưng phải tuân thủ các quy định của pháp luật. Các cơ quan báo chí, người làm báo và mọi công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền được thông tin… trên cơ sở phát huy đầy đủ trách nhiệm của mình đối với xã hội. Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí nhưng không được làm tổn hại đến quyền tự do của người khác, đến lợi ích chung của quốc gia, dân tộc.
Việt Nam khuyến khích tự do báo chí vì lợi ích của quốc gia, dân tộc, bảo vệ lợi ích của Đảng, Nhà nước và lợi ích nhân dân, bảo vệ chế độ XHCN. Việt Nam không chấp nhận mọi hành vi lợi dụng tự do báo chí, tự do internet để gây mất ổn định, chống lại Tổ quốc và dân tộc, xuyên tạc chủ trương, chính sách; bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Những công dân cố tình lợi dụng tự do dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí để tung ra những thông tin bịa đặt, truyền bá những thông tin thiếu xác thực, chưa được kiểm chứng, thậm chí cả những ý kiến mạo danh các đồng chí lão đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội, Công an, cán bộ lão thành cách mạng, các đồng chí nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước lên blog cá nhân, lên các trang thông tin điện tử nhằm phục vụ mưu đồ cá nhân, sẽ bị xử lý nghiêm minh trước pháp luật.
Thủ tướng Chính phủ Việt Nam chỉ đạo các cơ quan chức năng tiến hành các biện pháp đấu tranh, ngăn chặn những hành vi lợi dụng tự do dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí để gây mất ổn định, đi ngược lại lợi ích của Tổ quốc và dân tộc, xuyên tạc chủ trương, chính sách; bôi nhọ lãnh đạo Đảng, Nhà nước, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, đó là việc làm cần thiết và bình thường. Trước thực tế trên, không chỉ có Chính phủ Việt Nam mà Chính phủ mọi quốc gia trên thế giới đều phải hành động như vậy.

http://www.yeutoquoc.org/threads/176/#post-1304