Tag Archive: chê


VẠCH MẶT ÂM MƯU LẬT ĐỔ CHẾ ĐỘ XHCN VIỆT NAM

Nước CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Thời gian qua, sau những biến động chính trị gắn với những cái gọi là “cách mạng hoa nhài” ở Ai Cập, Tuy-ni-di, Li-bi, một số kẻ phản động trong và ngoài nước đang hí hửng cho rằng, các cuộc “cách mạng” ấy chẳng bao lâu sẽ lan tới Việt Nam. Chúng kích động những người nhẹ dạ cả tin, kêu gọi biểu tình, “tập dượt” cho một cuộc “cách mạng hoa sen” để lật đổ chế độ XHCN.

Nhận diện một âm mưu
Trước hết, có thể nhận thấy ngay đây là một chiêu bài “Diễn biến hòa bình”, lợi dụng các trào lưu xã hội trên thế giới để phát động phong trào chống đối, đi tới lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam. Ở đây, từ “cách mạng” đã bị lạm dụng đến mức nguy hiểm. Trên thực tế, những cuộc “cách mạng nhung”, “cách mạng cam”, “cách mạng hoa nhài” hay hoa gì đi chăng nữa không hề tạo ra một sự biến đổi xã hội mang tính sâu sắc, toàn diện, tạo bước ngoặt thay đổi về chất trong mọi lĩnh vực xã hội, thay thế hình thái kinh tế – xã hội lỗi thời, lạc hậu bằng hình thái xã hội cao hơn mà thực chất chỉ là cuộc lật đổ chế độ bằng các thủ đoạn phi bạo lực kết hợp với bạo lực ở mức độ khác nhau. Sự độc tài, bất công chẳng những không mất đi mà còn trầm trọng hơn, đổ máu nhiều hơn, nghèo đói nhiều hơn, bất ổn nhiều hơn. Vì vậy, không thể gọi đó là một cuộc cách mạng dù nó có mang màu sắc sặc sỡ bao nhiêu, mang tên loài hoa đẹp bao nhiêu đi chăng nữa! Đặc biệt, hoa sen, một loài hoa với vẻ đẹp Việt Nam và mang nhiều triết lý nhân sinh Việt Nam, không thể gắn với những âm mưu và hành động đi ngược lợi ích của Tổ quốc, dân tộc, mang lại khổ đau, chém giết, huynh đệ tương tàn.

Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, Trung với Đảng, Hiếu với Dân

Tại nhiều diễn đàn, mạng xã hội trên internet hiện nay, các thế lực thù địch hải ngoại có khá nhiều bài viết, thậm chí cả các chương trình truyền hình, đối thoại, bàn luận khá rầm rĩ về “cách mạng hoa nhài và hiện tình Việt Nam”. Một số nhân vật chống Cộng say sưa phân tích thế sự từ Tây sang Đông, từ chuyện Ai Cập, Tuy-ni-di, Li-bi… để “soi rọi”, “cảnh báo cho quốc dân đồng bào trong nước”. Chúng cho rằng, một cuộc cách mạng dân chủ theo kiểu mẫu của phương Tây, có thể tạo ra cuộc “chuyển giao quyền lực êm đềm, không đổ máu” ở Việt Nam. Chúng huênh hoang, bất chấp lý luận về cách mạng xã hội khi lập luận: “Cách mạng hoa nhài” mang tính tự phát của quần chúng, không cần gắn liền với một ý thức hệ, cương lĩnh hay tổ chức nào cả và đây lại là một yếu tố quan trọng góp phần thành công mà những cuộc cách mạng trước kia không có. Kiểu “lý luận” này thực sự chỉ là một kiểu suy luận bừa. Lê-nin từng nói: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”. Nếu cuộc cách mạng không cương lĩnh, không tổ chức, thì cuộc cách mạng đó vì ai, dựa vào đâu?

Sự thâm độc, xảo quyệt của chiêu bài này càng lộ rõ khi các thế lực phản động và thù địch “mách” rõ những cách làm rất cụ thể, tỉ mỉ cho từng giai tầng, lực lượng xã hội ở Việt Nam. Chúng luôn đề cao vai trò của các mạng xã hội và công cụ internet, từ facebook, youtube đến twitter, thậm chí điện thoại di động là “vũ khí hữu hiệu” trong việc tập hợp lực lượng nổi dậy ở nhiều nước. Từ đó, chúng kích động giới trẻ Việt Nam hãy tận dụng lợi thế của sự phát triển internet để “hành động”. Chúng cũng cho rằng cách mạng “hoa sen” thuận lợi hơn vì dân số trẻ, sẽ đi theo từng nấc thang để chính quyền khó đàn áp. Chúng đưa ra các bước hành động: Ban đầu chỉ kêu gọi nhau tụ tập mặc áo trắng ở chỗ đông người rồi dần dần tiến tới tụ tập vì biển, đảo, vì kinh tế khó khăn. “Hương hoa nhài, hoa sen” sẽ khích lệ tiếng nói đối kháng qua các phong trào cùng ký tên vào tâm thư, thỉnh nguyện, các bản tuyên cáo, kiến nghị nào đó để tạo dư luận xã hội. Ở nấc thang cao hơn, sẽ phát động biểu tình sẽ hướng tới phản đối những hạn chế trong điều hành, quản lý kinh tế, những tiêu cực xã hội rồi tiến tới kêu gọi lật đổ chính quyền, phát động phong trào “toàn dân xuống đường… cứu nước”. Chúng lại đưa ra chiêu bài kêu gọi: “Quân đội nhân dân sẽ thực sự là của nhân dân nên sẽ không bắn vào người biểu tình. Lực lượng công an và quân đội hãy trở về với nghĩa vụ giúp đỡ và bảo vệ nhân dân, vốn đã sinh ra và nuôi nấng mình”. Khi các cuộc biểu tình đã được đẩy lên ở mức cao tại các thành phố lớn, sẽ có sự hà hơi tiếp sức của các tổ chức phản động trong và ngoài nước, rồi chúng sẽ kêu gọi sự can thiệp của nước ngoài… Nhìn lại một vài cuộc tụ tập đông người vừa qua, có nhiều dấu hiệu cho thấy đã có bàn tay kích động, đứng sau của các thế lực thù địch theo một “kịch bản” dài hơi.

Đẩy lùi, ngăn chặn và làm thất bại

Những chiêu bài, thủ đoạn thâm độc trên, may thay, đã sớm bị bóc trần. Ngay tại cộng đồng hải ngoại, đã có không ít ý kiến khách quan, phản đối thẳng thừng âm mưu “cách mạng hoa sen”. Ông Phúc Nguyễn, một Việt kiều sống ở Hoa Kỳ khi được hỏi về một cuộc “cách mạng hoa nhài” ở Việt Nam đã thẳng thắn nói: “Không thể có một cuộc cách mạng như thế và cũng không cần phải có. Bởi nó chỉ làm xã hội Việt Nam xấu đi khi đất nước đang phát triển đầu tư, hòa bình. Vả lại, cách quản lý xã hội ở Việt Nam chặt chẽ, không thể xảy ra chuyện như ở một số nước gần đây”.

GoocBachop – kẻ cơ hội

Tuy nhiên, để ngăn chặn, đẩy lùi và làm thất bại hoàn toàn âm mưu phát động những cuộc “cách mạng” như thế, cần sự quan tâm nghiên cứu, phân tích, làm rõ bản chất các trào lưu, hiện tượng xã hội và tình hình thế giới đầy biến động sâu sắc và phức tạp hiện nay. Dư luận xã hội, đặc biệt là nhận thức của thế hệ trẻ cần phải được định hướng rõ ràng, phân biệt giữa bản chất và hiện tượng, các mối liên hệ giữa các sự kiện để tránh sa vào cực đoan, bị kích động, lôi kéo. Nhìn lại một số sự kiện quốc tế vừa qua, các phương tiện báo chí, truyền thông có lúc, có nơi mới chỉ phản ánh được bề nổi của sự kiện, cần có nhiều hơn những đánh giá, bình luận mang tầm khái quát, phân tích rõ bản chất các hiện tượng, sự kiện, định hướng dư luận xã hội một cách tích cực.

Về mặt quản lý, rõ ràng những biện pháp bảo vệ trật tự trị an, an ninh xã hội vừa qua là rất cần thiết và cần được duy trì hiệu quả hơn nữa. Ở Việt Nam, Đảng, Nhà nước khuyến khích các ý kiến phản biện xã hội mang tính xây dựng, khuyến khích đấu tranh chống tiêu cực xã hội, tham ô, quan liêu, cửa quyền… Tuy nhiên, những âm mưu và hành vi lợi dụng đấu tranh chống tiêu cực hay lợi dụng dân chủ để chống đối chế độ XHCN sẽ phải được xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật.

Những kẻ cơ hội Chính trị sẽ trốn khỏi đôi mắt Nhân dân

Chúng ta không cần một cuộc “cách mạng hoa sen, hoa nhài” hay loài hoa nào khác, mà kiên trì con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, thời kỳ quá độ lên CNXH là một quá trình đầy khó khăn, gian khổ, kéo dài. Chỉ có sự đoàn kết, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, nhìn thẳng vào sự thật, đấu tranh đẩy lùi tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực xã hội, hạn chế các yếu kém trong quản lý, điều hành xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh mới giúp cho cách mạng XHCN sớm thành công. Cái gọi là “cách mạng màu, cách mạng hoa” mà các thế lực thù địch đang mưu toan chỉ là sự lừa phỉnh nhân dân!

Bài viết của: Nguyễn Văn Minh. [Đã được đăng trên Việt Nam – Đất Nước – Con Người bởi Hoa Phượng Đỏ]

Đường hòa nhập của những nhân sĩ chế độ cũ

Với những nghiên cứu thầm lặng, Nhóm trí thức này đã đóng góp tích cực vào quá trình đổi mới của thành phố. Họ để lại dấu ấn trong những đột phá về cải cách giá – lương – tiền, cải tổ ngành ngân hàng, đề xuất lập khu chế xuất Tân Thuận…

LTS: GS. Đặng Phong trong cuốn Tư duy kinh tế Việt Nam 1975-1989 kể: Ở TP. Hồ Chí Minh có một nhóm chuyên viên kinh tế được nhắc đến với cái tên “Nhóm Thứ Sáu”. Thành phần chủ yếu là những người từng làm việc trong chế độ cũ. Họ được Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh thời đó là ông Võ Trần Chí trọng dụng.

Với những nghiên cứu thầm lặng, Nhóm trí thức này đã đóng góp tích cực vào quá trình đổi mới của thành phố. Họ để lại dấu ấn trong những đột phá về cải cách giá – lương – tiền, cải tổ ngành ngân hàng, đề xuất lập khu chế xuất Tân Thuận…

Thực ra lâu nay, cái tên “Nhóm Thứ Sáu” được nhắc đến rải rác trên một số trang báo, nhưng chưa từng có một tuyến bài nào kể lại đầy đủ hoạt động và đóng góp của nhóm. Tuần Việt Nam vừa có may mắn tiếp xúc với một số câu chuyện thực tế của họ. Chúng tôi trân trọng chia sẻ cùng độc giả.

Hơn hai chục năm trong chiều dài lịch sử không là bao nhiêu, nhưng đối với những người ray rứt với tình hình đất nước đang từng ngày chuyển biến thì quả thật là đáng kể.

Những nhân sĩ, trí thức trong Nhóm Thứ Sáu với điểm xuất phát tuy khác nhau nhưng do cùng hoàn cảnh và tâm tư, đã hội tụ thân thiết như các thành viên trong một gia đình. Mỗi tuần họp mặt ít nhất một lần, anh em cùng nhau lạm bàn chuyện thế sự mà không hề có tham vọng riêng tư. Đây là một nhóm lãng tử tìm đến nhau một cách tình cờ, tập hợp vốn hiểu biết rồi cùng nhau bàn luận, trước hết là để chung vui, còn ai muốn sử dụng những điều ấy như thế nào thì tuỳ hoàn cảnh và công việc.

Bao trùm lên trên cái thực thể của Nhóm là rất nhiều cái Không. Không giấy phép thành lập, không chủ quản, không tổ chức, không nội quy điều lệ, không trụ sở, không ai lãnh đạo, không ai hưởng lương, không vụ lợi, không kỷ luật lẫn khen thưởng, không ràng buộc cũng như không hơn thua với ai và còn nhiều cái không nữa.

Có lẽ nhiều cái không ấy đã làm nên cái có: đó là có anh em, có chuyện để bàn bạc, có tấm lòng và có dịp sinh hoạt với nhau đến nay đã 24 năm liên tục.

Tên gọi của nhóm này thật ra chỉ mới có vài năm gần đây và việc định danh “Nhóm chuyên viên kinh tế Thứ Sáu” cũng rất đơn giản là vì anh em gặp nhau định kỳ vào chiều thứ Sáu hàng tuần.

Nếu ai hỏi Nhóm Thứ Sáu có bao nhiêu người thì cũng khó trả lời chính xác. Trong những năm qua số này có nhiều biến động nhưng “cựu trào” thì còn không quá 10 người. Hiện nay có thường xuyên từ 15 đến 20 anh em gặp gỡ nhau hàng tuần, có thể coi như là những nhân vật nòng cốt.

Thời kỳ cuối thập niên 70 đầu thập niên 80, tình hình kinh tế xã hội ở miền Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng cực kỳ khó khăn.Sau hai đợt cải tạo, tiềm lực kinh tế của thành phố gần như kiệt quệ. Nhiều năm sau ngày giải phóng, nền kinh tế vận hành theo quán tính như một chiếc xe ngày càng cạn nhiên liệu, tạo điều kiện cho hoạt động kinh tế ngầm phát triển với hàng loạt sản phẩm tiêu dùng thuộc loại kém chất lượng vì thành phần nguyên liệu, phụ liệu không đủ, được đưa ra thị trường nhằm giải quyết nhu cầu không thể thiếu của người dân.

Nền kinh tế kế hoạch tập trung và cơ chế bao cấp áp đặt ở miền Nam làm cả hai miền đất nước nghèo như nhau. Đó là thời kỳ mà lần đầu tiên ở Sài Gòn biết thế nào là ăn độn. Trí thức Sài Gòn phần lớn dính dáng vào quân đội và chính quyền cũ nên phải đi học tập cải tạo, một số trở về mang tâm trạng hoang mang chán nản, một số không ít bỏ ra nước ngoài tạo nên tình trạng chảy máu chất xám đến mức báo động. Thêm vào đó, vụ Nạn kiều và những chuyến vượt biên bán công khai càng làm cho tâm lý xã hội thêm nặng nề.

Trong tình hình kinh tế xã hội gay gắt ấy, mô hình công ty xuất nhập khẩu trực dụng được lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh cho ra đời mà Quận 5 đã đi tiên phong với Công ty Cholimex.

Mục đích của công ty này là huy động những đồng vốn tản mát trong dân dưới hình thức cổ phần, tận dụng các mối quan hệ của những nhà kinh doanh người Hoa với bên ngoài để xuất khẩu các loại hàng nông hải sản rồi nhập vật tư nguyên liệu về cung ứng cho các cơ sở sản xuất tại Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh và cho cả các doanh nghiệp nhà nước.

Lúc bấy giờ, ông Phan Chánh Dưỡng sau khi giã từ ngành giáo dục được Quận uỷ đưa về làm Trưởng phòng kế hoạch tại Cholimex. Là một nhà giáo gần như chưa bao giờ tiếp cận với hoạt động kinh doanh ở cấp độ công ty, ông Dưỡng thấy rằng cần phải thu hút chất xám từ những người có kiến thức chuyên môn để bổ sung vào những hạn chế của mình.

Thế là ông Trần Bá Tước, một chuyên viên ngân hàng sau khi đi học tập về đã đến với Cholimex vào năm 1982 với tư cách là một phiên dịch. Tiếng lành đồn xa, nhận ra Cholimex là nơi có thể đóng góp hiểu biết của mình, nhiều trí thức cũ đã gặp ông Phan Chánh Dưỡng và trở thành những người trợ lý đắc lực.

Một trong những người này là ông Phan Thành Chánh, chuyên viên ngân hàng và ông Đỗ Hải Minh, chuyên viên hành chính nhiều kinh nghiệm trước đây làm việc ở Bộ phát triển sắc tộc trong chế độ cũ, sau khi đi học tập về đang tìm một chỗ làm việc để nhẹ gánh mặc cảm.

Ông Nguyễn Thông Minh, một chuyên gia mà cũng là một giáo sư đại học dạy vật lý có phương pháp sư phạm rất tốt (nhất là về môn điện tử) lại là một chuyên viên điện toán giỏi, sau khi “đầu quân” đã soạn chương trình vi tính về quản lý lương bổng cho Cholimex, một công việc cực kỳ mới mẻ lúc bấy giờ. Sau đó ông lại đứng ra thành lập Trung tâm Điện toán Cholimex, cơ sở vi tính đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh.

Từ đó Cholimex thành một nơi đất lành chim đậu, tập hợp rộng rãi các anh em trí thức đang làm việc tại Ban Khoa học Kỹ thuật thành phố, Công ty Đại Dương, Công ty dịch vụ Kỹ thuật như các anh Lê Mạnh Hùng, Võ Hùng, Võc Văn Huệ. Rồi đến Mai Kim Đỉnh, Trương Quang Sáng, Lê Hoà, Nguyễn Chính Đoan, Lê Văn Bỉnh, Trần Văn Tư, Đỗ Trung Đường, Lê Đình Khanh, Lâm Tuấn Anh, Võ Gia Minh, Trần Quí Hỷ, Đỗ Nguyên Dũng, Phan Tường Vân, Lâm Võ Hoàng, Huỳnh Bửu Sơn, Hồ Xích Tú, Nguyễn Ngọc Hồ… cùng một số người khác.

Thời kỳ đầu, họ đã đi thực tế ở nhiều nơi như Duyên Hải, Đồng Nai và các tỉnh miền Tây, nghiên cứu nhiều dự án với hy vọng khái thác tiềm năng cho nhu cầu phát triển kinh tế của thành phố. Thế nhưng đó lại là câu chuyện đội đá vá trời trong tình hình cơ chế xơ cứng đang còn ngự trị. Khi nhìn lại anh em thấy những công việc đã làm chẳng qua cũng là công dã tràng. Nhưng dù sao đây cũng là  nhân tố ban đầu của sự tập hợp một số trí thức cũ có tấm lòng và mong được đóng góp cho sự phát triển kinh tế thành phố nói riêng và đất nước nói chung.

Bước đầu hình thành Nhóm, ngoài hạt nhân là ông Phan Chánh Dưỡng còn có sự ủng hộ của ông Võ Trần Chí khi ấy đang làm Bí thư Quận 5- một người cầu thị, trân trọng trí thức, trong giao tiếp không bao giờ nói chuyện đao to búa lớn.

Ông Chí cũng nhận ra rằng không dễ dàng khai thác kiến thức của những người trí thức. Muốn anh em đóng góp thì phải tạo cho họ có được cảm giác tự do, không một mảy may gò bó. Cũng trong tư cách một người anh, ông chấp nhận ngay cả việc anh em có thể nói sai, cho rằng đó chẳng qua vì anh em chưa hiểu thấu đáo, lần lần rồi cũng sẽ hiểu ra. Chính sự bao dung đó đã thuyết phục được anh em.

Thời gian này, Nhóm Thứ Sáu sinh hoạt định kỳ ba lần một tuần tại Cholimex vào thứ Hai, thứ Tư và thứ Sáu, gặp gỡ nhau để bàn bạc, tranh luận. Đó vừa là cơ hội để kết thân vừa giải toả được mặt cảm nên ai cũng thấy rất vui, dần dần trở thành nhu cầu mà tuần nào không gặp nhau là cảm thấy như thiếu điều gì đó, một thứ thiếu vắng không có tên gọi.

Giai đoạn 1986-1990: Những công trình nghiên cứu

Sau mấy năm sinh hoạt tại cơ ngơi của Mạnh Thường Quân Cholimex, cùng nhau mổ xẻ một số vấn đề gay gắt trong đời sống kinh tế xã hội, cho đến một lúc họ bỗng giật mình nói với nhau: Cả Nhóm ngồi lại nhiều năm nói chuyện trên trời dưới đất nhưng nếu ai đó không hiểu thì lôi thôi, không chừng lại bị “hỏi thăm”.

Suy nghĩ này được ông Phan Chánh Dưỡng đề đạt lên ông Võ Trần Chí khi đó đang làm Bí thư Thành uỷ: nếu thấy tin cậy được thì đề nghị cấp cho một giấy chứng nhận hợp thức hoá sự tập hợp trí thức cũ. Rất may, do quá trình hiểu biết anh em nhiều năm, ông Võ Trần Chí đồng ý và giao nhiệm vụ này cho ông Năm Ẩn, lúc đó là Trưởng ban Kinh tế Thành uỷ.

Thế là một danh sách 24 người được gửi lên cho lãnh đạo, anh Năm Ẩn ký giấy xác nhận danh sách “Nhóm nghiên cứu chuyên đề kinh tế của Thành uỷ”. Đây không phải là giấy khai sinh mà chỉ là tấm lá chắn nhưng cũng đã đánh dấu thời điểm “hợp pháp” từ tháng 10 năm 1986.

Bắt đầu từ đấy, nhóm trí thức cũ sinh hoạt định kỳ hàng tuần, vẫn tại Cholimex và hoàn toàn có tính tự nguyện. Cũng từ đó các lãnh đạo thành phố như các ông Võ Trần Chí (Hai Chí), Nguyễn Vĩnh Nghiệp (Sáu Tường), Năm Ẩn, Tư Triết, Phạm Chánh Trực (Năm Nghị) thỉnh thoảng xuống tham dự hội họp với họ.

Cái tư cách pháp nhân lưng chừng ấy cũng đã khiến nhóm nhân sĩ này nghĩ đến một cách sinh hoạt có tính chủ đề hơn. Vì vậy đây chính là thời kỳ hình thành nhiều công trình nghiên cứu có tính bài bản của nhóm. Có thể kể ra đây một số công trình nghiên cứu được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, qua đó tâm huyết của anh em đã có cơ hội góp phần vào việc hình thành chính sách của nhà nước sau này.

  1. Nghiên cứu về Giá – Lương – Tiền:

Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên được thực hiện rất bài bản. Có mô tả hiện trạng, có phản biện, có cơ sở lý luận và chuẩn bị bảo vệ ý kiến của mình.

Bài toán giá – lương – tiền được mổ xẻ thấu đáo mà đáp số của nó theo quan điểm của nhóm có cự ly rất xa với nhận định của các nhà lập chính sách ở Trung ương vào lúc ấy. Sau nhiều tuần cọ xát quan điểm, anh em hoàn thành bản nghiên cứu về giá – lương – tiềm thì vào cuối năm 1986 ông Phạm Chánh Trực viết thư giới thiệu công trình này với ông Võ Văn Kiệt lúc ấy đang làm Chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước và đề nghị ông trực tiếp nghe anh em trình bày.

Các ông Phan Chánh Dưỡng, Huỳnh Bửu Sơn, Trần Bá Tước ra Hà Nội báo cáo đề tài này với các chuyên viên cấp cao của Chính phủ, buổi làm việc do ông Sáu Dân chủ trì, Đề tài nghiên cứu này có tính thuyết phục, được các chuyên viên như ông Trần Đức Nguyên, Vũ Quốc Tuấn, Lê Đăng Doanh đánh giá cao. Trước khi trở về thành phố Hồ Chí Minh, các anh Dưỡng, Sơn, Tước còn được ông Nguyễn Cơ Thạch (lúc ấy là Bộ trưởng Ngoại giao) mời trình bày đề tài này và cũng được ông đánh giá cao.

  1. Nghiên cứu đề tài Cải tổ Ngân hàng:

Sau chuyến thuyết khách ở Hà Nội, Nhóm Thứ Sáu nắm bắt thêm thực tế và phát hiện ra rất nhiều nghịch lý trong điều hành vĩ mô. Một trong những vấn đề đó là hoạt động thiếu hiệu quả của hệ thống ngân hàng của thời kế hoạch hoá tập trung. Đề tài này do hai ông Huỳnh Bửu Sơn và Lâm Võ Hoàng là những người có kinh nghiệm thực tiễn nhiều năm trong lĩnh vực ngân hàng chủ trì.

Nghiên cứu của họ đi sâu vào cơ thể dị dạng của hai bộ phận Ngân hàng và Tài chính dính chặt vào nhau, sự bất hợp lý trong điều hành chính sách tiền tệ và đề xuất một cơ chế hoạt động cho Ngân hàng theo hướng kinh tế thị trường. Đề tài nghiên cứu này cũng được Chính phủ quan tâm, những suy nghĩ và đề xuất của các thành viên trong Nhóm dường như có sự lan toả cho nên vào năm 1988, khi Chính phủ chẩn bị Pháp lệnh Ngân hàng, hai ông Lâm Võ Hoàng và Huỳnh Bửu Sơn đã được mời tham gia vào việc soạn thảo.

  1. Nghiên cứu phát triển Ngoại thương:

Đây là đề tài nghiên cứu khá gay gắt bởi vào thời điểm ấy thành phố Hồ Chí Minh chủ trương cho các công ty xuất nhập khẩu tự cân đối tài chính. Đề tài này làm rõ chủ trương vừa nói là sai lầm vì đó chính là một trong nguyên nhân đẩy giá cả tăng lên.

Do được quyền tự cân đối nên các công ty xuất nhập khẩu mua nông sản với bất cứ giá nào bất chấp giá thị trường để xuất khẩu, rồi dùng ngoại tệ bán được để nhập khẩu bán lại cho trong nước với giá cao để kiếm lời mà Nhà nước không can thiệp vào. Do tự cân đối mà giá cả nông sản tăng keo theo hàng công nghệ phẩm lên giá, góp phần làm tăng áp lực lạm phát.

  1. Đề tài Kinh tế vùng:

Đề tài này được giao cho ông Nguyễn Ngọc Hồ chủ trì và được bản thảo lâu nhất, kéo dài khoảng nửa năm. Công trình này được ông Lê Văn Triết lúc bấy giờ là Thứ trưởng Thương mại đánh giá cao và sau đó góp phần vào việc hình thành chính sách.

  1. Công ty tư vấn Đầu tư và Khu chế xuất:

Vào năm 1987, dưới tác động của chính sách mở của, Nhóm tập trung thảo luận về khả năng thu hút đầu tư nước ngoài và thống nhất thành lập Công ty tư vấn đầu tư (IMC). Đây là một chuyển biến quan trọng trong sinh hoạt của Nhóm, chuyển từ bàn bạc sang thực hiện. Ông Phan Chánh Dưỡng được giao làm Phó Giám đốc Công ty, nhưng sau đó do số cán bộ từ thành phố điều xuống áp dụng cách làm việc theo kiểu cũ nên vai tròg hạn chế, không phát huy được công năng của công ty. Vì vậy ông Dưỡng và một số anh em trong Nhóm từng bước rút lui khỏi công ty.

Năm 1989, ông Dưỡng đề nghị thành lập Hiệp hội Xuất nhập khẩu đầu tư (Infotra) và đề tài được anh em tập trung nghiên cứu là Khu chế xuất. Đây cũng là thời gian ông Dưỡng rút khỏi vị trí Giám đốc Cholimex và chú tâm vào việc biến công trình nghiên cứu trở thành hiện thực.

Có thể nói đây là công nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao vì sau đó nội dung này được áp dunhgj vào việc hình thành Khu chế xuất Tân Thuận dưới hình thức Công ty liên doanh trong đó anh Phan Chánh Dưỡng đại diện cho đối tác trong nước làm Phó Tổng Giám đốc. Và để thực hiện ý tưởng phát triển thành phố Hồ Chí Minh ra biển Đông, Công ty Phát triển Công nghiệp Tân Thuận sau đó được thành lập làm pháp nhân nghiên cứu và thực hiện các chương trình như đại lộ “Bắc Nhà Bè – Nam Bình Chánh” nay là đại lộ Nguyễn Văn Linh, khu đô thị mới Nam thành phố Hồ Chí Minh, Khu công nghiệp Hiệp Phước…

  • Mời theo dõi tiếp kỳ 2.
    [Tác giả: ĐÔNG HẢI]
    [link: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-04-06-duong-hoa-nhap-cua-nhung-nhan-si-che-do-cu]

– Những người cầm lá phiếu bỏ phiếu tín nhiệm vì lợi ích cá nhân hay vì cái ghế mình đang ngồi thì chế độ sẽ suy vong – Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định. 

Ngày 26/11, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng tổ đại biểu Quốc hội số 1 đã có buổi tiếp xúc cử tri quận 1, TP.HCM.

Đừng để dân mất lòng tin 

Tháng 6 năm sau, Quốc hội sẽ tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm đối với các nhân sự cấp cao của Chính phủ và Quốc hội. Hầu hết các ý kiến của cử tri đều bày tỏ vui mừng trước thông tin Quốc hội thực hiện lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội hoặc HĐND bầu hoặc phê chuẩn.

Tuy nhiên, họ cho rằng, trong 3 mức độ để đánh giá cán bộ là “tín nhiệm”, “tín nhiệm cao” và “tín nhiệm thấp” thì những người bỏ phiếu thường có tư tưởng “dĩ hòa vi quý” sẽ bỏ phiếu ở mức độ “tín nhiệm” vì không ảnh hưởng đến ai. Cử tri yêu cầu người bỏ phiếu tín nhiệm cần tập trung và thể hiện rõ quan điểm của mình, không bị chi phối bởi người khác và không thiên vị cho bất cứ ai.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Không ai có quyền đoán cấm báo chí chống tham nhũng. Ảnh: Tá Lâm

Cử tri Phạm Thị Nga (phường Bến Thành) cho rằng, việc bỏ phiếu tín nhiệm rất được lòng tin của người dân. Tuy nhiên, bà băn khoăn, trong thực tế bỏ phiếu tín nhiệm còn thể hiện sự vận động, có thể xảy ra mua chuộc, tiêu cực, mua lá phiếu tín nhiệm.

Trả lời cử tri, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho biết, việc lấy phiếu tín nhiệm hàng năm đối với các nhân sự cấp cao là một việc làm cụ thể trong tổng thể những giải pháp chống tham nhũng. “Việc này nếu làm tốt, đúng đắn, hiệu quả thì chắc chắn sẽ xoay chuyển tình thế”, ông Trương Tấn Sang nói.

Chủ tịch nước nhấn mạnh, mỗi người cầm lá phiếu phải có trách nhiệm đầy đủ, khách quan, công tâm, vì sự nghiệp của đất nước chứ không phải vì lợi ích cá nhân hay vì cái ghế của mình đang ngồi.

“Nếu vì cái ghế mình đang ngồi thì chế độ sẽ suy vong. Muốn chế độ vững bền thì người cầm lá phiếu phải đầy trọng trách”, ông khẳng định.

Theo Chủ tịch nước, chất lượng lá phiếu phụ thuộc vào người đại biểu Quốc hội.

“Cử tri là những người bầu ra đại biểu Quốc hội nên cử tri cũng phải có trách nhiệm đòi hỏi đại biểu làm đúng ý chí của mình. Còn nếu không thực hiện ý chí đó là không còn tư cách đại biểu nữa. Tôi hy vọng rằng, các vị đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND trên cả nước đừng để mất lòng tin của dân khi họ đã bỏ phiếu cho mình”, ông nói.

Không ai có quyền cấm báo chí chống tham nhũng 

Ngoài bỏ phiếu tín nhiệm, vấn đề chống tham nhũng một lần nữa được cử tri quận 1 bức xúc gay gắt. Họ cho rằng, Quốc hội đã nhất trí thành lập Ban chỉ đạo TƯ về phòng chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị, do Tổng bí thư đứng đầu, liệu có làm an lòng dân không, bởi vì từ trước đến nay “nói hoài, nói mãi” mà vẫn không đẩy lùi được.

Cử tri Nguyễn Thị Hiệp (phường Bến Thành) nhắc lại lời Chủ tịch nước khi trả lời cử tri quận 1 trong một lần tiếp xúc trước đây rằng, vấn nạn tham nhũng chỉ là “con sâu làm rầu nồi canh”. “Nhưng hôm nay, vấn nạn này đã phổ biến, không còn là con sâu làm rầu nồi canh nữa mà là nồi canh sâu. Chủ tịch nước có biện pháp gì để giải quyết vấn đề này?”, cử tri Hiệp nói.

Hay như cử tri Trần Văn Lân cho rằng, “nhóm lợi ích” cũng là biểu hiện của tham nhũng. Tuy nhiên, cách xác định “nhóm lợi ích” này chưa được cụ thể hóa. “Tôi đề nghị, khoa học hóa nhóm lợi ích để bắt bệnh”, ông Lân nói.

Còn cử tri Phạm Thị Nga (phường Bến Thành) đề nghị, nên rộng mở quyền cho báo chí viết bài về chống tham nhũng. “Nếu phát hiện thấy tham nhũng, tiêu cực thì Đảng và Nhà nước phải tiếp thu và có biện pháp xử lý ngay”, bà Nga nói.

Trả lời cử tri, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho biết, kênh thông tin báo chí rất quan trọng trong việc phát hiện những vụ tham nhũng, lãng phí. “Gần đây, tôi nghe anh em than vãn là kênh này không được coi trọng lắm và cũng nghe nói, đồn thổi ông A, ông B, ông C ra lệnh cấm đoán. Không ai có quyền. Nếu cấm là phải nhân danh cái gì và phải căn cứ đạo luật nào đã quy định thì mới được quyền”, Chủ tịch nước khẳng định.

Còn những trường hợp đấu tranh, tố cáo tham nhũng bị trù úm, trù dập, ức hiếp, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho rằng, trong trường hợp đó phải đấu tranh lại. “Người ta có thể trù úm một người, một nhóm người chứ không thể trù úm cả dân tộc này”, Chủ tịch nước nhắc lại.

Tá Lâm

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/98526/-bo-phieu-vi-cai-ghe–che-do-se-suy-vong-.html

Che Guevara

Che, tên thật là Ernesto Guevara de la Serna, sinh ngày 14 tháng 6 năm 1928 tại Rosario, một trong những thành phố quan trọng nhất Ác-hen-ti-na, là con cả trong năm người con của một gia đình trung lưu người Ai Len gốc Tây Ban Nha.

Cha của ông, Ernesto Guevara Lynch, là một kỹ sư; mẹ ông, bà Celia de la Serna, là một phụ nữ có tư tưởng cấp tiến. Năm lên hai tuổi, Che bị viêm phổi và sau đó phát triển thành bệnh suyễn, căn bệnh này đã theo ông trong suốt cuộc đời.

 

Năm lên 9 tuổi, lần đầu tiên Che quan tâm đến chính trị khi ông theo dõi cuộc nội chiến Tây Ban Nha và đánh dấu các bước tiến triển quân sự trên bản đồ.

 

Năm 1943

Ernesto học xong trung học phổ thông ở Cordaba và bắt đầu làm bạn với anh em nhà Granado và anh em nhà Ferrer.

 

Năm 1948, Ernesto đăng ký học khoa Y thuộc Đại học Buenos Aires.

 

Năm 1950

Ngày 1 tháng 1. Ernesto đi hơn 4.500km băng qua phía bắc Achentina bằng xe đạp gắn động cơ. Ông sống ở khu người mắc bệnh phong Chanar một thời gian và làm việc trong đội xây dựng xa lộ quốc gia và đội thương thuyền của Achentina.

 

Tháng 1 năm 1952, Che cùng người bạn thân, Alberto Granado, một nhà hóa sinh, thực hiện cuộc hành trình xuyên châu Mỹ La Tinh trên chiếc mô tô Norton 500 phân khối. Trong chuyến đi này, Che đã qua nhiều nước Nam Mỹ, học rất nhiều điều từ cuộc sống và chứng kiến nhiều cảnh đời trái ngược nhau: sự giàu có thừa mứa của những tên tư sản người bản xứ và các ông chủ người Mỹ; đối nghịch lại là tình cảnh khốn khổ bị chà đạp của những người nông dân nghèo khó và thổ dân da đỏ.

 

Ngày 31 tháng 8 năm 1952, Che trở về Buenos Aires để hoàn thành việc học.

 

Sau khi tốt nghiệp đại học năm 1953, Che quyết định thực hiện một cuộc viễn du đi châu Mỹ La tinh lần hai. Trong chuyến đi này, Che đã chứng kiến sự cấu kết giữa chính quyền Panama với Mỹ và sự thống trị của công ty United Fruit ở Costa Rica cũng như sự bất lực của chính quyền dân chủ Jacobo Arbenz không được vũ trang ở Guatemala khi đối phó với cuộc đảo chính do Mỹ giật dây.

 

Ngày 23 tháng 12. Ông gặp Hilda Gadea, một người Peru lưu vong.

Ngày 26 tháng 12. Gadea giới thiệu ông với những người Cuba lưu vong trong phong trào 26 tháng 7 . Trong số đó có Nico Lopez, người mà sau đó đã đặt cho ông biệt danh “CHE”. Ông làm việc tại một bệnh viện.

 

Năm 1955, Che đến Mexico và ông đã gặp anh em Castro tại đây. Fidel Castro mời ông tham gia cuộc chiến lật đổ chính quyền độc tài Batista, ông đồng ý.

Ngày 18 tháng 8. Ernesto kết hôn với Hilda Gadea, lúc đó đang mang thai. Ông kiếm sống bằng nghề chụp ảnh dạo, và có một thời gian ngắn ông làm phóng viên ở Liên Châu Mỹ Vận Hội cho tờ báo Agencia Latina.

 

Ngày 25 tháng 10 năm 1955, Che cùng 81 người lên con tàu Granma rời Mexico thực hiện cuộc đổ bộ vào Cuba.

 

Suốt hơn 3 năm chiến đấu, Che đã chứng tỏ tài năng quân sự kiệt xuất của mình. Ông nhanh chóng chiếm được lòng tin của Fidel Castro. Che là người đầu tiên được phong tư lệnh và đạt ngôi sao vàng trên mũ vào tháng 12 năm 1957, trước cả Raul Castro và Camilo Cienfuegos. Ngày 27 tháng 12, Che quyết định tiến vào thành phố Santa Clara, thủ phủ của tỉnh Las Villas và giành thắng lợi vang dội. Đây là một trong những trận đánh quan trọng nhất của quân du kích.

 

Tháng 1 năm 1959, cách mạng Cuba thành công và những người lính tiến vào thành phố La Habana được chào đón như những anh hùng.

 

Sau cách mạng, Che đã kinh qua những chức vụ quan trọng của chính quyền non trẻ, ban đầu là Thống đốc Ngân hàng quốc gia và sau đó là Bộ trưởng Bộ Công nghiệp. Che cũng thường xuyên thực hiện các chuyến công du tìm kiếm sự ủng hộ cách mạng Cuba  từ Liên Xô, các quốc gia châu Á, châu Phi và Đông Âu. Với tư cách là đại diện chính thức của nhà nước Cuba, Che tham gia nhiều cuộc họp  tại Liên Hiệp Quốc cũng như các hội nghị của nhiều diễn đàn khác nhau để nói lên tiếng nói không chỉ của người dân Cuba mà còn của tất cả các dân tộc bị áp bức trên thế giới.

 

Ngày 21 tháng 1 năm 1959. Hilda Gadea cùng con gái là Hildita Guevara đến Cuba. Họ đồng ý ly hôn.

 

Ngày 2 tháng 6 năm 1959. Ông kết hôn với Aleida March.

 

Tháng 4 năm 1965, Che bí mật rời Cuba đi Công-gô. Trước đó, Che đã viết cho Castro một lá thư từ biệt nổi tiếng.

 

Từ 1965 đến 1967, Che thực hiện sứ mạng quốc tế của mình ở Công-gô và Bô-li-vi-a, Ông tổ chức các đội quân du kích chống lại chính quyền tay sai của Mỹ ở các quốc gia này.

 

Ngày 8 tháng 10 năm 1967, Che cùng hai đồng đội của mình bị quân đội Bô-li-vi-a dưới sự huấn luyện của CIA bắt giữ tại làng La Higuera.

 

13 giờ 10 phút ngày 9 tháng 10 năm 1967, Che bị hành quyết tại một ngôi trường dưới sự giám sát của nhân viên CIA, Felix Rodriguez. Nơi chôn thi thể của ông được giữ kín trong suốt 30 năm sau đó.

 

Năm 1997, di hài Che được tìm thấy tại đường băng gần làng Vallegrande và được đưa về Cuba vào ngày 17 tháng 10 năm 1997.

Lâm Nghi & conan1412v

Lý tưởng của Ernesto ‘Che’ Guevara

Chủ nghĩa tự do toàn cầu kiểu mới đang phô trương sự đắc thắng trong kỷ nguyên của chúng ta và giữ vị trí độc tôn trong các bài diễn thuyết và hệ tư tưởng…

Bài viết của Michael Lowy – giám đốc nghiên cứu xã hội học của Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia, Paris.

Để đương đầu với tính ngoan cố cố hữu của sự thống trị toàn cầu của hệ thống tư bản chủ nghĩa, hơn bao giờ hết, chúng ta cần các phương thức tư duy và hành động mới mang tính phổ quát, toàn cầu. Chúng ta cần những ý tưởng, những kiểu mẫu, theo một hình thức triệt để nhất, để chống lại sự tôn thờ nền kinh tế thị trường và tiền bạc, những thứ đang trở thành cương lĩnh cho thời đại ngày nay. Cũng giống như trường hợp của không nhiều những nhà lãnh đạo cánh tả của thế kỷ 20, di sản của Ernesto ‘Che’ Guevara – một nhà cách mạng kiên định mang tinh thần quốc tế – tiếp tục được đặt trong thử thách.

Sự quan tâm dành cho Che Guevara không có gì làm chúng ta phải ngạc nhiên. Số lượng các đầu sách được xuất bản, những cuộc hội thảo, những bài báo, phim ảnh, thảo luận về Che không thể được giải thích đơn giản như là một sự tưởng nhớ về anh nhân dịp kỷ niệm lần thứ 30 ngày mất của vị anh hùng. Năm 1983, ai lại còn quan tâm đến Stalin tại thời điểm 30 năm sau cái chết của ông?

Xem hình

Năm tháng trôi qua, bao nhiêu trào lưu đã thay đổi, chủ nghĩa hiện đại đã được thay bằng chủ nghĩa hậu hiện đại, các chế độ độc tài đã được thay bằng “những nền dân chủ nghiêm khắc”, nền chính trị theo thuyết tự do kiểu mới đã thế chân học thuyết kinh tế Keynes và bức tường Berlin nhường chỗ cho bức tường tiền bạc. Nhưng thông điệp của Che vẫn tỏa sáng như ánh đèn trong bóng đêm lạnh lẽo của những năm cuối thế kỷ này.

Trong tác phẩm “Những luận điểm về khái niệm lịch sử”, nhà Marxist người Đức gốc Do Thái Walter Benjamin, người đã tự sát năm 1940 để tránh rơi vào tay của Gestapo, đã viết rằng, đối với những con người bị áp bức, ký ức về các vị tổ tiên bị đối sử tàn tệ và bị đánh bại là nguồn cổ vũ vô tận cho các hành động cách mạng. Ernesto Guevara, cùng với Jose Marti, Emiliano Zapata, Agusto Sandino, Farabundo Marti và Camilo Torres, là một trong những người tử vì đạo như thế: hy sinh trong tư thế đứng thẳng, súng trong tay, một hạt giống của tương lai tươi mới đã được gieo trên mảnh đất Mỹ La tinh; một ngôi sao trên bầu trời hy vọng của nhân dân, một đốm lửa than đang cháy âm ỉ dưới đống tro tàn của nỗi tuyệt vọng.

Trong mỗi tiến trình cách mạng xảy ra ở châu Mỹ La tinh gần đây – từ Nicaragua đến El Savaldor, từ Guatemala đến Mexico – chúng ta có thể nhận thấy, đôi khi hiện hữu, đôi khi không, sự ảnh hưởng của chủ nghĩa Guevara (Guevarismo). Di sản của Che vẫn sống trong tâm trí chung của chiến sĩ, trong các cuộc tranh luận về phương pháp, chiến lược và bản chất cuộc chiến của họ. Thông điệp của anh là một hạt giống mà 30 năm cuối cùng đã bắt rễ trong nền văn hóa chính trị của cánh tả châu Mỹ La tinh, nó đâm cành nảy lộc và kết quả. Hoặc như những sợi chỉ đỏ, từ Patagonia đến Rio Grande, dệt thành một dải lụa của những ước mơ, của chủ nghĩa không tưởng và của những hành động cách mạng.

Tư tưởng của Che đã lỗi thời? Có phải sẽ thực tế hơn để không cần một cuộc cách mạng  vẫn có thể tiến hành thay đổi hoàn toàn các quốc gia châu Mỹ La tinh, nơi mà các tập đoàn đầu sỏ đang can thiệp vào quyền lực chính trị, độc chiếm tài nguyên, nguồn lực và vũ khí quốc gia, đang bóc lột và áp bức nhân dân? Những lời đề nghị như thế đã được một số nhà lý luận cánh tả “thực tế” Mỹ La tinh, bắt đầu là nhà báo tài năng người Mexico và nhà văn Jorge Castaneda, đưa ra trong tác phẩm của mình “La utopia desarmada”, 1993 (tạm dịch: Xã hội không tưởng không vũ trang). Tuy nhiên, một thời gian ngắn sau khi quyển sách được xuất bản, một cuộc nổi dậy diễn ra ở Chiapas, Mexico, dưới sự lãnh đạo của những nhà không tưởng vũ trang thuộc quân giải phóng quốc gia Zapatista EZLN (Zapatista National Liberation Army), một tổ chức mà hầu hết những nhà lãnh đạo của nó theo chủ nghĩa Guevara. Sự thật là, không giống như những du kích quân truyền thống, những người lính Zapatista không muốn chiếm chính quyền mà thay vào đó, họ muốn cải cách nền chính trị xã hội Mexico bằng cách thúc đẩy hoạt động tự tổ chức của xã hội dân sự ở đất nước mình. Tuy nhiên, nếu không vì cuộc nổi dậy ngày 1 tháng 1 năm 1994, những người lính Zapatista sẽ không thể trở thành biểu tượng đầy quyền lực cho những nạn nhân của nền chính trị tự do kiểu mới như ngày hôm nay, không chỉ ở châu Mỹ Latin mà còn trên toàn thế giới.

Thật kỳ lạ, trong những bài viết gần đây trên Newsweek, chính Jorge Castaneda đã bắt đầu tự hỏi liệu ở châu Mỹ La tinh có thể có một sự tái phân phối tài sản và quyền lực, và có thể thay đổi cấu trúc xã hội cũ thông qua các biện pháp dân chủ? Nếu như vào những năm cuối thế kỷ, Castaneda thừa nhận sự nhụt chí khi tiến hành nhiệm vụ này thì chúng ta có thể thấy rằng “Xét cho cùng, Guevara đã hiểu điều đó từ lâu”.

Che không chỉ là một chiến binh anh hùng. Anh còn là một nhà tư tưởng cách mạng, một người tiên phong trong các dự án đạo đức và chính trị, những cái mà anh đã chiến đấu và hy sinh vì nó. Triết lý, cái đã tạo nên sự kết dính, màu sắc và sức nóng cho sự đột phá ý thức hệ của anh, là chủ nghĩa nhân văn cách mạng sâu sắc và độc đáo. Đối với Che, một người cộng sản thật sự, một nhà cách mạng thật sự là người luôn xem những vấn đề lớn hơn của nhân loại như chính vấn đề của bản thân mình; là người luôn “cảm thấy bất an khi bất cứ lúc nào có bất cứ ai bị giết ở bất cứ nơi đâu trên thế giới”. Chủ nghĩa quốc tế của Che, cùng với lối sống, niềm tin vững chắc, nghĩa vụ vô điều kiện, và thế giới tinh thần là sự diễn tả chính xác nhất, trong sáng nhất, cụ thể nhất chủ nghĩa nhân đạo cách mạng này.

Che thường trích dẫn câu nói của Marti bằng những lời ngắn gọn: “nhân phẩm chân chính”. Marti nói “Tất cả những con người chân chính phải cảm thấy ray rứt khi một người khác bị lăng mạ”. Động lực cho những hành động của anh chính là sự đấu tranh vươn tới loại nhân phẩm này, từ trận chiến ở Santa Clara đến canh bạc liều lĩnh trên núi rừng Bolivia. Có lẽ thái độ này anh có được chính từ Don Quixote, quyển tiểu thuyết anh đã đọc ở Sierra Maestra và được anh dạy trong lớp học gồm những tân binh nông dân. Đó cũng là người anh hùng mà anh đã nhắc đến một cách mai mỉa trong lá thư từ biệt cuối cùng gửi cho cha mẹ. Điều này không hề xa rời chủ nghĩa Marx. Chẳng phải Marx đã từng nói “Người vô sản cần nhân phẩm hơn cần bánh mì” đó sao?

Chủ nghĩa nhân đạo của Che, không còn nghi ngờ gì nữa, hoàn toàn mang tính Marxist nhưng là một dạng không chính thống, nó khác biệt với những giáo điều được tìm thấy trong những sách gối đầu giường ở Liên Xô hoặc những cách giải thích theo chủ nghĩa cấu trúc và phản nhân văn – khuynh hướng nổi lên ở châu Âu và Mỹ La tinh vào giữa thập niên 60. Nếu như Che đặc biệt quan tâm đến tác phẩm Bút ký triết học và kinh tế năm 1844 của Marx thời trẻ thì đó là bởi vì tác phẩm này đã nêu lên rất cụ thể: “con người là một thực thể riêng biệt nhưng vấn đề giải phóng con người ấy lại thuộc về thực thể xã hội”, nó nhấn mạnh sự phù hợp giữa cuộc đấu tranh trong ý thức của con người chống lại sự biệt lập: “Nếu không có loại ý thức này bao trùm thực thể xã hội của con người thì chủ nghĩa cộng sản không thể tồn tại”. Với tính nhạy cảm tuyệt vời, Che cũng phát hiện ra quan điểm nhân đạo trong “Tư bản luận”: “Điều quan trọng bậc nhất của thành tựu vĩ đại của trí thông minh nhân loại này là chúng ta thường lãng quên bản chất nhân đạo (theo nghĩa chính xác nhất của từ này) sâu sắc mà thành tựu ấy mang lại. Ở một mức độ nào đó, cơ chế của các quan hệ sản xuất – và hậu quả rõ ràng nhất của nó, đấu tranh giai cấp – đã che giấu sự thật rằng chính con người làm ra lịch sử”.

Kẻ thù không đội trời chung của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa đế quốc, Ernesto Guevara đã mơ về một thế giới tự do và công bằng, nơi mà con người thôi không săn đuổi con người nữa. Con người của xã hội mới mà Che gọi là “Con người mới” hoặc “Con người của thế kỷ 21”, sau khi vượt qua giới hạn của mọi sự cô lập, sẽ liên kết với nhau trong sự đoàn kết thật sự của tình hữu nghị đại đồng bền vững. Thế giới mới này phải là thế giới xã hội chủ nghĩa. Nhận xét nổi tiếng của Che trong “Thư gửi hội nghị ba châu lục” rất chính xác: “Không thể có một sự lựa chọn nào khác, hoặc là một cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa, hoặc là một trò hề nhân danh cách mạng”.

Tuy Che chưa bao giờ đưa ra một học thuyết hoàn chỉnh về vai trò của nền dân chủ trong thời kỳ quá độ xã hội chủ nghĩa, có thể đó là khiếm khuyết lớn nhất trong những tác phẩm của anh, nhưng anh rõ ràng phản đối những quan niệm về chế độ độc tài, chính nó đã phá hủy ghê gớm niềm tin vào chủ nghĩa xã hội của thế kỷ này. Đối với những người quan niệm rằng con người cần “được giáo dục” từ trên xuống, học thuyết sai lầm đó đã bị Marx phủ nhận trong tác phẩm “Luận cương về Phơ-bách”, nghĩa là, “rồi ai sẽ dạy thầy giáo?” Che trả lời trong bài nói chuyện năm 1960: “Bước đầu tiên để giáo dục nhân dân là giới thiệu họ đến với cách mạng. Đừng bao giờ nghĩ rằng bạn có thể giành được quyền cho họ bằng một nền giáo dục riêng rẽ, trong khi họ phải sống trong một chính quyền chuyên chế bạo ngược. Đầu tiên và trước hết, hãy dạy họ tự mình giành lấy quyền của mình và, khi họ đã có đại diện trong bộ máy nhà nước, họ sẽ học bất cứ những gì mà họ được dạy và còn nhiều hơn thế nữa: không cần những nỗ lực lớn lao, họ sẽ sớm trở thành những người thầy, vượt lên trên tất cả”. Nói cách khác, chỉ có giáo dục học mới có thể giúp con người tự học lấy thông qua thực tiễn cách mạng, hoặc, như Marx đã nói trong “Hệ tư tưởng Đức”: “trong các hoạt động cách mạng, sự thay đổi cá nhân phải đi đôi với sự thay đổi của những điều kiện”.

Mặc dù quan điểm của Che về chủ nghĩa xã hội và chế độ dân chủ vẫn trong tình trạng thay đổi liên tục tại thời điểm anh hy sinh, lập trường phê phán những người kế tục Stalin và “chủ nghĩa xã hội thực tồn” (actually-existing socialism) thể hiện rõ ràng trong những bài viết và diễn văn của anh. Trong diễn văn nổi tiếng được anh phát biểu tại Algeria, anh đã kêu gọi những quốc gia tự coi mình là theo chủ nghĩa xã hội “hãy chấm dứt sự đồng lõa ngầm với các quốc gia bóc lột phương Tây” vốn luôn duy trì mối quan hệ thương mại bất bình đẳng với nhân dân các nước đang tiến hành chiến tranh chống chủ nghĩa đế quốc. Đối với Che, “Chủ nghĩa xã hội không thể tồn tại mà không có sự thay đổi trong nhận thức dẫn đến tình hữu nghị hướng đến tinh thần nhân đạo đối với nhân dân các nước đang là nạn nhân của sự áp bức đế quốc chủ nghĩa, cả trên bình diện cá nhân ở các quốc gia đã, đang và sẽ xây dựng chủ nghĩa xã hội, lẫn trên bình diện thế giới”.

Trong tác phẩm “Xã hội chủ nghĩa và Con người ở Cuba” (3/1965), Che đã nghiên cứu cẩn thận mô hình xã hội chủ nghĩa phổ biến ở các quốc gia Đông Âu và, luôn đứng trên lập trường nhân văn cách mạng, anh đã phản đối quan niệm cho rằng cần đánh bại chủ nghĩa tư bản bằng vũ khí của chính nó. “Nếu theo đuổi mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội mang tính ảo tưởng Don Quixote bằng cách viện đến những vũ khí đã mòn vẹt thừa hưởng từ chủ nghĩa tư bản – hàng hóa là tế bào của nền kinh tế, lợi nhuận, lợi ích vật chất cá nhân là động cơ phấn đấu, v.v. – thì chúng ta sẽ nhanh chóng đi đến thất bại… Để xây dựng chủ nghĩa cộng sản trong khi củng cố nền tảng vật chất của xã hội, chúng ta phải tạo ra một con người mới”.

Một trong những nguy cơ to lớn tồn tại trong mô hình Xô viết là sự dung dưỡng tình trạng bất bình đẳng xã hội ngày càng tăng và sự nổi lên một tầng lớp đặc quyền đặc lợi những nhà kỹ trị và quan chức nhà nước. Dưới một hệ thống khen thưởng như thế, “những nhà quản lý đang ngày càng kiếm được nhiều tiền hơn”. Chỉ nhìn lướt qua kế hoạch gần đây của Cộng hòa dân chủ Đức cũng đủ để phát hiện ra một sự tương quan giữa vai trò của người quản lý – hay chính xác hơn, giữa khoản tiền lương kiếm được – với nỗ lực của anh ta”.

Jose Carlos Mariategui đã nói rằng chủ nghĩa xã hội ở châu Mỹ không thể là một bản sao hay sự bắt chước mà phải là một sáng tạo anh hùng. Đây chính xác là những gì Che đang cố gắng đạt được trong khi anh khước từ mọi mô hình nhập khẩu từ các nước “xã hội chủ nghĩa thực tế”. Thay vào đó, anh luôn tìm kiếm những con đường mới đi lên chủ nghĩa xã hội, những con đường cấp tiến hơn, công bằng hơn, đậm tình hữu nghị hơn, nhân văn hơn và kiên định hơn với nguyên lý cộng sản chủ nghĩa.

Ngày 8 tháng 10 năm 1967 sẽ sống mãi trong khúc ca quân hành thiên niên kỷ của nhân dân bị áp bức đang đấu tranh cho công cuộc tự giải phóng. Viên đạn có thể giết chết người chiến sĩ chiến đấu vì tự do nhưng không thể giết chết lý tưởng của con người vĩ đại ấy. Lý tưởng ấy sẽ còn sống mãi miễn là nó bắt rễ trong tư tưởng của những thế hệ kế tục sự nghiệp đấu tranh này. Đó là điều mà những kẻ đã sát hại Rosa Luxemburge, Leon Trosky, Emiliano Zapata và Che Guevara, đã phát hiện ra và nó khiến chúng vỡ mộng.

Sau sự sụp đổ của cái gọi là “chủ nghĩa xã hội thực tồn”, các tín điều của chủ nghĩa tự do kiểu mới và nỗi ám ảnh về sự sùng bái tiền bạc đang củng cố địa vị tối cao của mình, trái ngược ảm đạm với xã hội mà Che đã mơ về và đã chiến đấu vì nó. Nhưng đối với những người phản đối quan niệm của chủ nghĩa Hegel giả tạo về sự “kết thúc của lịch sử” với niềm tin nguyên thủy vào bản chất cố hữu của sự bóc lột tư bản chủ nghĩa, cũng như đối với những người phê phán những tội ác tày trời sản sinh từ hệ thống này và sự loại trừ nhân dân các quốc gia phương Nam ra khỏi chính thể toàn cầu của Trật tự thế giới mới đế quốc chủ nghĩa, quan điểm nhân văn cách mạng của Che vẫn mãi là cánh cửa mở ra một tươi lai tươi sáng mới.

LÂM NGHI (CHE-VIETNAM.COM)

Choáng với kiểu “chê tiền” của ăn mày

 – Khi ăn xin trở thành nghề có thu nhập khá thì những kẻ ăn mày lại được dịp “làm cao”… Việc “ăn mày đòi xôi gấc” tưởng lạ mà lại trở nên rất đỗi bình thường.

“Cho 2 nghìn thì không đủ mua mớ rau!”

Trong khi ngồi đợi xe ở trạm trung chuyển xe bus Long Biên, tôi được dịp chứng kiến cảnh một bà lão ăn xin chê tiền của khách.

“Cô tính thế nào chứ 2 nghìn bây giờ chả đủ mua mớ rau, lần sau đã mất công cho thì cho “tử tế” nha!”

Câu nói của bà lão ăn xin khiến nhiều người phải sốc. Cô sinh viên vừa cho bà tiền cố giải thích: “Bà thông cảm cho, cháu chỉ còn mấy đồng đi xe bus, nếu có hơn cháu đã cho bà rồi”.

Chứng kiến cảnh trên, mọi người xung quanh xì xào bàn tán. Họ đều bất ngờ về lời nói của bà lão ăn xin. Nhiều người đã thốt lên rằng: “Đúng là ăn mày mà còn đòi xôi gấc”.

Một cụ già bán kẹo cao su (một kiểu ăn xin) ở trạm trung chuyển xe bus Long Biên.

Anh Hoàng Tuấn Anh (Cổ Nhuế – Từ Liêm) chia sẻ: “Lần trước đi chùa thấy có người ăn mày đến xin tiền, tôi giở ví ra lấy tiền cho. Ai ngờ không có tiền lẻ nên tôi đành cáo lỗi. Tôi đang định cất tiền vào ví thì anh ta bảo không sao, cứ đưa tiền chẵn rồi anh ta sẽ trả lại. Đúng là ăn xin VIP!”
Nếu như trước kia, những người ăn xin nhận được tiền, quà của khách qua đường biếu, họ rối rít cảm ơn, dù ít nhiều nhưng đó là cái tình người ta dành cho mình. Vậy mà giờ đây, khách cho ít hay không có tiền cho thì ăn mày quay ra khinh rẻ, chửi mắng. 

Chị Hương (Cầu Giấy – Hà Nội) chia sẻ câu chuyện có thật mà như đùa: “Nói thật, có lần gặp hai chị em nhà này đi ăn xin, thương tâm quá tôi liền rút ví ra đưa cho chúng 3 nghìn lẻ. Ngay lập tức, nó gọi tôi lại, giơ tờ 5 nghìn đồng lên trước mặt tôi bảo: cho chị thêm 2 nghìn cho đủ mua mớ rau nhé. Đúng là ăn xin bây giờ, cho ít tiền là khinh luôn. Mà có phải ai cũng có nhiều tiền để cho đâu”.

 

 

Trước kia, ăn xin vốn là nghề thấp hèn, bị xã hội rẻ rúng. Những người ăn xin thường là bị tật nguyền hay mất sức lao động, trẻ em mồ côi, người già cô đơn… Họ không thể dùng sức lao động để nuôi thân và gia đình nên phải ngửa tay kiếm sống. Những người ăn mày được nhiều người cảm thông, chia sẻ. Cứ gặp kẻ ăn mày là mọi người đều động lòng thương cảm và biếu chút tiền, gạo mong giúp họ qua khỏi khó khăn. Đây đã trở thành nét đẹp truyền thống của dân tộc, biểu hiện trong cách cư xử có tình của người dân. Tuy nhiên, nghề ăn xin hiện nay đã phần nào biến tướng, trở thành nghề có thu nhập cao, cũng không ít người trở nên giàu có nhờ nghề này.

Làm phúc xúc phải tội!

Tại các bến xe khách Mỹ Đình, Giáp Bát, Lương Yên… dân ăn mày đổ về “hoạt động” khá nhiều. Với bộ dạng rách rưới, nghèo khổ, tật nguyền, những người ăn mày này đã lấy được lòng thương của không ít người khách tốt bụng, có lòng hảo tâm. Tuy nhiên, nhiều người đã phải ngã ngửa khi biết lòng tốt của mình bị lừa gạt, chì chiết.

Anh Nguyễn Văn Thành (Nghĩa Hưng – Nam Định) kể: “Hôm trước, đang ngồi chờ xe ở bến xe Mỹ Đình thì có hai người, một già một trẻ lại gần, giơ cái nón rách ra trước mặt tôi xin tiền. Họ tự giới thiệu là bố con. Người đàn ông lớn tuổi nhếch nhác, khổ sở nói rằng, vợ anh ta mới chết để lại bốn đứa con nhỏ, một mình anh ta không nuôi nổi nên đành phải vác nón đi ăn xin. Thằng bé đi cùng là con đầu của anh, mới 12 tuổi đã phải theo bố đi ăn xin. Thấy vậy, sẵn có 50 nghìn trong tay, tôi biếu luôn bố con anh ta. Mấy người ngồi cạnh đấy không ai bảo ai, đều lấy ra chút tiền biếu bố con họ”.

Sẽ không có gì đáng nói nếu mọi chuyện chỉ dừng lại ở đó. Anh Thành kể tiếp: “Trong số những người biếu tiền, có một người đưa cho anh ta 2 nghìn đồng. Thấy vậy, anh ta liền tỏ thái độ nói: “Không nhìn thấy người ta cho bao nhiêu đây à mà vứt có 2 nghìn vào đây”. Nói xong anh ta nhặt tờ bạc vứt trả lại người vừa cho.

Bố con anh ăn xin đi rồi mọi người vẫn chưa hết bàng hoàng. Không ngờ anh ta lại có thái độ như thế. Có người bực mình thốt lên: “Đã đi xin rồi, không cảm ơn người ta một câu lại còn chê ít, biết thế không cho”. Bà hàng nước bên cạnh ra vẻ bí mật nói: “Nói nhỏ với các chú nhé, lần sau gặp cái bọn này thì tránh xa ra, toàn bọn lừa đảo cả thôi! Các chú không ở đây nên không biết, ngày nào mà chúng nó không lượn đi lượn lại, thấy khách nào qua cũng xin tiền”.

Đưa con đi ăn xin. Ảnh minh họa

 

Khó khăn lắm chúng tôi mới tiến cận được với em Đỗ Văn Thuận, 14 tuổi, quê ở Thái Bình. Em là một trong những người ăn xin thường vạ vật quanh bến xe Mỹ Đình. Để được “phỏng vấn” một vài câu, chúng tôi phải đưa cho em 50 nghìn đồng làm “lệ phí”.

Em cho biết, gia đình ở quê rất nghèo, quanh năm làm không đủ ăn nên em phải theo mẹ lên thành phố hành nghề ăn xin. Bình thường em đi cùng mẹ nhưng hôm nay mẹ bị ốm nên em chỉ đi một mình.

Thuận chia sẻ: “Bình thường một ngày em kiếm được 100, 200 nghìn, hôm nào “hên” thì được 250 nghìn hoặc hơn thế”. Em cho biết thêm, nếu ai cho tiền mà thể hiện thái độ không vui vẻ thì em trả lại tiền, hoặc cho ít thì em cũng không thèm lấy, tiền rách thì em vứt đi luôn. Mặc dù mới 14 tuổi nhưng Thuận tỏ ra khá già đời, em tự đắc nói: “Ăn xin cũng có cái giá của ăn xin chứ!”

Giá trị đảo lộn

Hiện nay, có nhiều kẻ xấu giả mạo ăn xin, ăn mày để kiếm tiền bằng cách lợi dụng lòng thương của người khác. Bên cạnh đó còn có những người nghèo khổ, có hoàn cảnh khó khăn thực sự, liệu họ có đánh bị đánh đồng với những kẻ xấu kia hay không?

 

 

Vẫn còn những người trân trọng từng chút ít của cải người khác cho mình như cụ bà ăn xin 78 tuổi ở bến xe Mỹ Đình. Cụ bà tên Duyên, quê ở Hà Nam, bà bị các con bỏ rơi, không nơi nương tựa nên phải đi xin ăn từng bữa. Bà nói: “Tôi gần đất xa trời rồi, sống cũng không được bao nhiêu nữa, lấy nhiều tiền của người ta làm gì. Ai cho bao nhiêu thì tôi quý bấy nhiêu, ít cũng được, nhiều cũng được miễn là tấm lòng thôi”.

Cụ ông Trần Văn Bộ, một người dân sống tại Từ Liêm – Hà Nội nói: “Trước khi cho đi một món quà, hãy xem xem đối phương có đáng nhận nó hay không. Tốt nhất là phải cân nhắc xem nên dành nó cho ai, làm việc tốt vô ích thì cũng như làm việc xấu thôi”.

Bạch Nga
 

BẠN NGHĨ GÌ VỀ HIỆN TƯỢNG NÀY?