Tag Archive: chết


Mọi người chú ý khi vào uống cafe dọc tuyến Đồng Nai – Vũng Tàu

 

CAFE CHẾT MÁY

Thời gian gần đây, trên đường đoạn từ Đồng Nai về Vũng Tàu có rất nhiều quán “Cafe Chết Máy”. Hiện tượng như sau: Khi khách hàng tấp vào một quán nước ven đường nào đó, sau khi uống nước xong, ra lấy xe thì đề máy không nổ nữa, mặc dù trước đó xe hoàn toàn bình thường. Và mới chiều qua, ngày 28/04, tôi cũng là nạn nhận của mô hình cafe chết người này…

Chuyện xảy ra khoảng 4h chiều, ngày 28/4, đang cùng bà xã đi trên đoạn từ Đồng Nai về Tp. HCM, đến đoạn thuộc xã Long Phước thì trời chuyển mưa to. Thấy vậy tôi cho xe ghé vào một quán nước bên đường để uống nước và trú mưa. Gọi một trái dừa ra và nằm trên chiếc võng, tôi quay mặt vô còn vợ thì ngồi quay ra đường. Không lâu sau thì trời cũng bớt giông, tôi lên xe và đề máy nhưng đề mãi vẫn không nổ. Tôi vẫn tiếp tục đề thử lại nhiều lần vì trước giờ xe tôi chưa bao giờ có hiện tượng lạ như vậy. Đang loay hoay có một thanh niên đứng gần đó bước lại hỏi:

– Hết xăng à, đề không nổ à?

Tôi: Ờ…

– Để xem nào.

Nói đế đây, anh thanh niên lạ mặt này tiến sát hơn tới chiếc xe của tôi và nắm hai tay vào tay cầm định đề giúp. Lúc này thì trực giác mách bảo tôi có chuyện không ổn. Những kinh nghiệm về body language cho tôi biết kẻ lạ mặt này không phải người tốt. Tôi lập tức phản ứng:

– Thôi được rồi, không cần anh giúp đâu.

Vừa nói, tôi vừa hất tay hắn ra không cho chạm vào xe tôi, bạn cũng lưu ý, đây là quyết định hết sức quan trọng, bạn đừng bao giờ dại dột cho người lạ mặt nào cầm vào tay lái xe mình, có thể họ sẽ chạy mất trong vòng 1 giây. Thấy thái độ hơi khó chịu của tôi, hắn diễn tiếp:

– Không cần giúp thì thôi, làm gì ghê vậy.

Bà xã tôi cũng hết sức bất ngờ trước phản ứng của tôi.

Lúc này, tôi có dịp quan sát hắn kỹ hơn, cách ăn mặc của hắn đúng là rất giống một tên cướp, lại chạy một chiếc ecxiter, và đi cùng một thanh niên khác đứng gần đấy như sẵn sàng hỗ trợ.

Tôi quay sang hỏi bà xã: “Nãy giờ em có thấy có người nào đi lại gần chiếc xe mình không?”

Chắc do mất bình tĩnh, bã xã tôi chẳng nghĩ ra được gì cả.

Nói xong, tôi quyết định dắt bộ. Ngay cạnh quán nước là một tiệm sửa xe, chỉ cần vài bước là tới. Nhưng tôi dắt đi luôn mà không ghé tiệm này.

Bà xã tôi lại một phen bất ngờ:

– Ơ, sao anh không dắt vô tiệm này sửa?

Tôi giải thích:

– Xe chết máy một cách bất thường, sau đó thì xuất hiện hai thanh niên lạ mặt, dấu hiệu rất khả nghi, lại nhiệt tình giúp đỡ người lạ sửa xe, rồi ngay cạnh quán lại có sẵn một cái tiệm sửa xe nữa chứ. Em nghĩ, đây có phải là một kịch bản không?

Bà xã tôi nghe xong nhưng chắc là chưa hiểu lắm nhưng cũng ậm ừ nghe theo. Thường những lúc thế này bx luôn tôn trọng những quyết định của tôi.

Thế là tôi quyết định dắt xe đi tiếp, vừa đi tôi vừ suy nghĩ. Chợt tôi thấy chính hai người thanh niên kia chạy hai chiếc xe ngang qua mình. Tôi nghĩ chúng lại đón đầu và bày sẵn một kịch bản khác đây. Chưa biết giải quyết thế nào nhưng tôi cứ đi và nghĩ tiếp. Đi được một đoạn thì thấy trời bắt đầu chuyên mưa trở lại. Bà xã tôi mới ghé vô một tiệm tạp hóa ven đường để mua áo mưa. Còn tôi thì dừng xe lại và đi một vòng, rồi hai vòng quanh chiếc xe mình. Vừa đi tôi vừa quan sát thật kỹ chiếc xe xem có dấu hiệu gì lạ không. Đến vòng thứ ba thì mọi chuyện đã phơi bày các bạn ạ.

Nhìn kỹ vào phía sau chiếc Atila, tôi thấy có một góc nhỏ gần bình xăng, có vài sợi dây điện lòi ra. Cuối người xuống chút nữa, tôi thấy rất rõ, có hai cái chốt điện nhưng mà một trong hai cái bị rơi hẳn ra. Nhìn kỹ hơn thì đó chính là cục đề. Oh My God!!!

Đây chính là nguyên nhân, và hai tên kia chính là thủ phạm. Đến đây thì tôi cũng chẳng thèm gắn lại, đợi bà xã mua áo mưa ra tôi biểu diễn:

– Bà xã xem nè – tèng téng teng…

Vừa nói tôi vừa lấy tay cắm cái chốt còn lại vô cục đề. Rồi tôi đề máy.

Bùm bùm bùm… Xe nổ máy ngon lành, chưa bao giờ tôi nghe tiếng máy xe tôi nó thân thương như vậy.

Bà xã tôi hết sức vui mừng rồi hí hửng kể lại một câu chuyện khác, một bí mật khác.

– Hồi nãy, em vô mua áo mưa, sẵn tiện em hỏi chị chủ quán xem có tiệm sửa xe nào gần đây không. CHị chủ quán hỏi xe em hư thế nào? Em nói là bị sao mà đề không được nữa. Chị ấy bảo, có phải em mới ghé uống nước ở quán nước gần đây không? Em nói dạ đúng rồi. Vậy là em bị bọn lừa đảo phá xe rồi. Ở đây chúng hoạt động khá nhiều, nhất là ở các quán nước. Lúc trước cũng có vài quán bị công án bắt rồi nhưng chưa hết. Kịch bản của chúng là:

“Làm hư xe khách, sau đó giả vờ giúp đỡ, rồi có thể lấy xe khách chạy mất, hoặc hên lắm thì chúng sẽ kêu dắt vô tiệm kế bên sửa (cũng là tiệm của hắn). Thế chúng sẽ chém đẹp mỗi xe vài trăm đến vài triệu chứ chẳng chơi. Chúng giả vờ thay cái cục đề khác, mà cục lô nữa chứ, rồi lấy cục jean của khách để bán lại để kiếm tiền tiếp”

Đến đây thì mọi chuyện đã sáng tỏ, hai vợ chồng lên xe về mà cứ suy nghĩ mãi về chuyện này, cũng thầm cảm ơn ông trời còn thương người hiền, và cũng cảm ơn cái trực giác của mình vẫn luôn làm việc chính xác. Và đến lúc này, bà xã tôi mới nhớ ra, lúc vào quán nước, bà xã có thấy một thanh niên lạ mặt chạy xe vô rồi dựng kế bên và che mất một phần tầm nhìn chiếc xe của tôi rồi giả vờ sửa xe của mình. Đây cũng là lúc chúng hành sự.

Cũng trên đường về, tôi tự hứa sẽ kể lại câu chuyện này, nhằm giúp cho những ai không may trở thành nạn nhân của chúng biết đường mà tránh. Cũng hy vọng cơ quan công an sớm dẹp sạch các quán CAFE CHẾT MÁY kiểu này!

Các bạn đọc được câu chuyện này hãy bấm chia sẻ để bạn bè mình biết tránh sập bẫy bọn lừa đảo này nhất là những dịp lễ sắp tới các bạn nhé!

HUỲNH MINH THUẬN – 29/04/2013

Advertisements

CNTB đang làm gì nếu không phải là giãy chết?

Chủ nghĩa tư bản là một thứ không đứng yên, nó phát triển và tiến với tinh thần cách mạng về phía trước, nhưng nó cũng tất yếu sụp đổ và luôn gắn liền với những khủng hoảng quy mô khác nhau và có thể hết sức khốc liệt.

 

 

Nhà sử học Marxist đương đại nổi tiếng, ông Eric Hobsbawm, vừa qua đời ở tuổi 95. Dưới đây là bài phỏng vấn ông do tuần báo Stern thực hiện trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới bắt đầu từ mùa Hè 2007, kéo theo các khủng hoảng ngân hàng, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng nợ công ở châu Âu mà hậu quả cho đến nay còn chưa lường hết.

– Thưa ông Hobsbawm, ông đã chứng kiến sự ra đi của nhiều hệ thống: Cộng hòa Weimar tiêu vong, chủ nghĩa phát xít tan vỡ, Cộng hòa Dân chủ Đức lụi tàn, chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, và bây giờ…

– Nghe ông liệt kê ra thế, tôi thấy mình sắp thành một hiện vật bảo tàng mất rồi. Lúc tôi còn bé, vua nước Anh đồng thời là hoàng đế Ấn Độ, phần lớn thế giới là các nền quân chủ, vương quốc và thuộc địa. Hầu hết đều đã đi tiêu.

– Và bây giờ biết đâu ông còn được chứng kiến điều này nữa: sự cáo chung của chủ nghĩa tư bản.

– Ồ, tôi không tin là mình còn sống đến cái ngày đáng mừng đó. Nhưng là một sử gia, tôi biết rằng không có giải pháp nào là vĩnh cửu. Chủ nghĩa tư bản cũng thế, nó có sống dai đến đâu, có hiển hiện trong đầu óc người ta như một cái gì không thể thay đổi tới mức nào, rồi nó cũng sẽ biến mất, sớm hay muộn mà thôi.

– Tất nhiên ông phải có quan điểm như vậy.

– Vì sao?

– Ông là một nhà marxist kì cựu, lại sống tại London, chỉ cách mộ Karl Marx một đoạn ngắn.

– Xin chớ giễu cợt. Tôi trở thành người marxist từ những kinh nghiệm đích thân trải qua trong những năm 30, trong cơn Đại Suy thoái.

– Và bây giờ chúng ta lại đang đứng ở một điểm ngoặt của lịch sử?

– Vâng, tôi nghĩ thế. Ngày 15 tháng Chín năm 2008, ngày mà nhà băng Lehman phá sản, sẽ thay đổi tiến trình của lịch sử hơn nhiều so với ngày 11 tháng Chín năm 2001, khi tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới sụp đổ.

– Ông thử đoán tương lai xem sao.

– Sử gia chúng tôi không phải là những nhà tiên tri. Tôi chỉ có thể nói rằng: Ngày Phán xử Cuối cùng thì chắc chúng ta chưa phải đối mặt, nhưng một số phần của thế giới có thể tiêu vong.

– Vì sao lại thế?

– Trước hết: Tôi, người đã trải qua cơn Đại Suy thoái, vẫn chịu không thể hiểu nổi vì sao cuối những năm 70 rồi sang thập niên 80 và 90 thế kỉ trước, các nhà tư tưởng của nền kinh tế thị trường thả phanh lại có thể trở lại khuynh loát, mặc dù thế hệ tiền bối của họ từng góp phần gây ra một tai họa khủng khiếp: nghèo đói, khốn cùng, thất nghiệp, và rốt cục cả cuộc chiến tranh thế giới nữa.

– Ông thử giải thích xem.

– Trí nhớ của con người ta ngắn tới mức không thể tin nổi. Sử gia chúng tôi ghi lại những tội ác và sự điên rồ của nhân loại, chúng tôi nhắc cho người ta nhớ những điều nhiều người không muốn nhớ. Nhưng gần như chẳng có gì từ lịch sử được rút thành bài học. Hậu quả thế nào thì bây giờ đã thấy. Trong 30, 40 năm gần đây, người ta đã khước từ một cách hệ thống việc đánh giá chủ nghĩa tư bản theo tinh thần duy lý.

– Nhưng chúng ta đang có bao nhiêu chuyên gia và các nhà kinh tế học suốt ngày chỉ làm mỗi việc ấy.

– Không, họ trước hết là những nhà thần học của tôn giáo thị trường với một đức tin ấu trĩ rằng thị trường sẽ tự động điều chỉnh được mọi thứ. Họ nhắm chặt mắt trước hiện thực, đó là điều khiến họ trở thành nguy hiểm cho nhân loại. Trong những năm qua họ còn không thèm nhận ra những báo hiệu của khủng hoảng. Họ mù quáng. Họ bất chấp.

– Có những người ở Mỹ cực kì hưng phấn nói về sự cáo chung của lịch sử. Sự lạc quan đó không có cơ sở nào hay sao?

– Không. 40% dân số thế giới sống bằng mức thu nhập 1 Dollar mỗi ngày. Đó không thể là cơ sở cho một trật tự xã hội ổn định. Lịch sử cáo chung cái nỗi gì. Khủng hoảng bên lề ngày càng lan rộng và ngày càng khốc liệt. Còn ở chỗ chúng ta trong trung tâm thì khủng hoảng thỉnh thoảng xuất hiện dưới dạng chứng khoán lao dốc rồi sau đó lại được điều chỉnh. Cuộc chơi lại tiếp diễn.

– Cuộc chơi nay đã chấm dứt.

– Đúng là phải nói như vậy. Cuộc khủng hoảng hiện tại có một chất lượng hoàn toàn mới. Điều duy nhất để các nhà chính trị có thể lấy làm định hướng là giai đoạn từ năm 1929 đến 1933.

– Tờ New York Times cho rằng cuộc khủng hoảng hiện nay thậm chí có thể khốc liệt hơn thời Đại Suy thoái, mà Đại Suy thoái khi ấy phải nhờ cuộc Đại chiến Thế giới mới giải quyết được.

– Chính sách Kinh tế Mới (New Deal) bây giờ được ca tụng của Roosevelt không thực sự chấm dứt được khủng hoảng, nó chỉ ngăn được bạo loạn chính trị và xã hội xảy ra ở Hoa Kỳ. Không ai chế ngự được cuộc khủng hoảng những năm 30. Và tuy lịch sử không lặp lại nhưng hôm nay tình thế cũng khốc liệt như thuở đó, không, hôm nay còn tệ hơn: Không một chính phủ nào biết mình phải làm gì.

– Ông nói sao? Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama bơm hàng ngàn tỉ Dollar vào kinh tế, Thủ tướng Angela Merkel và chính phủ Đức đưa ra những chương trình kích cầu trị giá hàng tỉ. Tại Hội nghị Thượng đỉnh G20, tất cả đều đồng thanh tuyên bố: Chúng ta sẽ sát cánh! Chúng ta biết rõ phải làm gì.

– Ông có cảm tưởng rằng họ thật sự biết phải làm gì à? Họ có đường lối nào, có phân tích nào hậu thuẫn không? Không! Họ hốt hoảng như các nữ y tá chạy vội đến giường bệnh của chủ nghĩa tư bản và làm như thể họ đang hành động gì đó.

– Họ không biết phải đi về đâu hay sao?

– Đúng như vậy, và thế nên vấn đề mới đáng sợ: họ tuyệt không biết phải làm gì. Như người mù đi giữa mê cung, họ dùng những chiếc gậy khác nhau gõ thử vào tường, đầy tuyệt vọng, và hi vọng một lúc nào đó sẽ tìm thấy lối ra. Nhưng công cụ của họ không có tác dụng.

– Cựu Thủ tướng Pháp Laurent Fabius lo ngại sẽ xảy ra “bạo động xã hội“, và ứng viên Tổng thống Đức của Đảng Dân chủ Xã hội, bà Gesine Schwan, cho rằng những bạo động đó có thể là một mối nguy cho nền dân chủ.

– Tất cả đều có thể xảy ra. Lạm phát. Giảm phát. Siêu lạm phát. Nếu không còn gì là an toàn nữa, nếu bị ném khỏi cuộc sống, nếu những dự tính cuộc đời của người ta bị hủy diệt tàn bạo thì con người sẽ phản ứng như thế nào? Kinh nghiệm lịch sử của tôi cho biết rằng chúng ta – tôi không thể loại trừ khả năng này – đang tiến đến một bi kịch. Máu sẽ đổ, mà còn hơn thế, máu sẽ đổ rất nhiều, nỗi thống khổ tăng lên, số người tị nạn cũng tăng lên. Và một điều nữa tôi cũng không muốn loại trừ, đó là chiến tranh, một cuộc chiến tranh rồi sẽ biến thành đại chiến thế giới – giữa Trung Quốc và Mỹ.

– Nghe quá phi lí!

– Không hề. Tôi thừa nhận là hiện thời kịch bản đó có vẻ rất khó xảy ra. Trung Quốc và Hoa Kỳ hiện đang bổ sung cho nhau, thậm chí còn chống đỡ lẫn nhau, gần như hai mặt của một thể thống nhất. Nhưng cuộc cạnh tranh đối đầu của hai thế lực này ở khu vực châu Á và Thái Bình Dương ngày càng quyết liệt. Không có nền tảng nào cho tình hữu nghị dài lâu giữa hai cường quốc đó.

– Xin ông đừng quá bi quan như thế!

– Có rất ít lí do để lạc quan nhìn về tương lai! Ở thế kỉ 19, người ta tin tưởng rằng mọi sự sẽ tiến lên, sẽ tốt đẹp hơn, con người sẽ văn minh hơn, có học thức hơn. Người ta học đọc, học viết. Người ta tin rằng sẽ tiến bộ lên, không chỉ về vật chất mà cả về đạo đức. Người ta đã lạc quan.

– Nhưng sau đó thì Đại chiến Thế giới xảy ra năm 1914.

– Và tất cả những thứ đó kết thúc. Một thời đại khủng khiếp, một thời đại cực đoan bắt đầu: chưa bao giờ số người bị giết trong chiến tranh hay bị giết theo chỉ thị và do nhà nước cho phép nhiều như trong thế kỉ 20. Tra tấn từng được xóa bỏ ở phương Tây – một tiến bộ vượt bực trong lịch sử nhân loại – lại được phục hồi! Và đầu thế kỉ 21 này Hoa Kỳ còn biến nó thành một phương tiện thẩm vấn! Sự mông muội đang tiến mạnh. Những giá trị được thừa nhận của nền văn minh bỗng nhiên bị chối bỏ.

– Nghe ông nói thì con người thật ngu xuẩn.

– Về vật chất thì với rất nhiều người, thế giới ngày nay đã được cải thiện. Người ta cao lớn hơn, thọ hơn, khỏe hơn. Nhưng về tinh thần, chính trị và đạo đức thì người ta không tiến kịp, hiện tại có lẽ còn đang thụt lùi. Vậy đâu là những giá trị của cuộc sống? Vì sao chúng ta sống trên đời? Sống để làm gì?

– Và câu trả lời của ông?

– Chà, tôi chỉ có thể hỏi rằng vì sao người ta cứ bám chặt vào một hệ thống thường xuyên sản sinh ra những tai họa khủng khiếp nhất như vậy? Một hệ thống bóc lột và phá hủy môi trường, cưa chính cái cành cây mà mình đang ngồi? Và bây giờ cành cây gãy răng rắc khắp nơi. Có lẽ nhân loại rồi sẽ ân hận vì không nghe theo Rosa Luxemburg: hoặc chủ nghĩa xã hội, hoặc trở về thời mông muội.

– Tôi xin ông, chính các bạn hữu chính trị của ông, những người thừa kế gia sản của Lenin, đã tàn phá dự án đối lập với chủ nghĩa tư bản, đã hủy hoại ý tưởng về một thiên đường mơ ước.

– Vâng, đúng như vậy. Và hậu quả đã hiện rõ. Vì bây giờ, khi chúng ta thật sự cần thì lại không có một dự án đối sách cho nhân loại. Thật tai họa.

– Có lẽ vì bản tính của con người là tham lam. Đơn giản chỉ có thế.

– Không. Không. Karl Marx chưa bao giờ lập luận chống lại các nhà tư bản tham lam. Ông ấy chỉ chống lại một hệ thống tất yếu đẻ ra lòng tham. Con người có thể thay đổi, tôi tin tưởng sâu sắc như vậy. Nhưng trong chế độ tư bản, ai cũng buộc phải chạy theo lợi thế cho bản thân, không làm thế là chết.

– Vậy ông cho rằng giới nhà băng không hề làm gì quá đáng?

– Họ tuyệt đối tuân theo quy luật nội tại của hệ thống. Lợi nhuận. Lời lãi. Tăng trưởng kinh tế tối đa. Các lí thuyết sùng bái thị trường tự do rất hay ho, chừng nào chúng ta bỏ qua thực tế. Người ta kiến tạo một hệ thống, đặt tên cho nó là tự do, và trên lí thuyết thì nó vận hành rất tốt: mọi người, mọi nhà, mọi doanh nghiệp đều tìm mọi cách kiếm lợi thế, cái lợi thế có thể hoạch tính bằng lí trí, và thị trường đứng trên mọi phán quyết của con người sẽ điều chỉnh mọi chuyện theo hướng lành mạnh. Thật là một hệ tư tưởng sơ khai. Khối tri thức của những người từng hiểu và mổ xẻ chủ nghĩa tư bản thì bị khinh thường và bỏ xó: Những người như Marx và Schumpeter biết rõ rằng chủ nghĩa tư bản là một thứ không đứng yên, nó phát triển và tiến với tinh thần cách mạng về phía trước, nhưng nó cũng tất yếu sụp đổ và luôn gắn liền với những khủng hoảng quy mô khác nhau và có thể hết sức khốc liệt.

– Nhưng Marx của ông nói rằng “mọi cuộc cách mạng cho đến nay chỉ chứng minh được một điều, rằng nhiều thứ có thể thay đổi, chỉ con người là không“.

– Đúng thế, nhưng Phương châm Hi vọng vẫn là một điều vĩ đại. Tuy theo Max Weber thì mô hình xã hội lí tưởng nằm ngoài khả năng của chúng ta, nhưng nếu không tin vào chính trị thì cũng không thể đạt được điều gì đáng kể trong chính trị. Con người vừa có bản tính Thiện, vừa có bản tính Ác – mà hành xử của con người thì chắc có thể thay đổi được! Để thế giới này vẫn còn là quê hương, hay rồi sẽ trở thành quê hương cho tất cả mọi người, mục tiêu ấy đẹp đấy chứ.

Theo PRO&CONTRA / STERN

[nguồn: REDS.vn]

Thế kỷ XXI – Karl Marx đã chết?

 

Cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI, lịch sử nhân loại đã diễn ra với nhiều biến cố bất ngờ, từ sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu đến sự thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Nhân đó, đã có nhiều công trình, bài viết tuyên bố về cái chết của triết học Marx , chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa cộng sản dựa trên các học thuyết của Marx . Song, thực tiễn lịch sử đã cho thấy, với bản chất cách mạng và khoa học, triết học Marx , chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa cộng sản dựa trên các học thuyết của K. Marx không những không chết, mà còn trường tồn với nhân loại ở thê kỷ XXI. Rằng, những di sản lý luận của K. Marxđã trở thành tài sản chung của cả nhân loại và sẽ mãi mãi là như vậy.

Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu, sự thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã từng là đề tài của những cuốn sách, bài báo mà trong đó, các tác giả của chúng đều có một cái đích chung là “chứng minh” về cái chết của chủ nghĩa Marx , về cái chết của chủ nghĩa cộng sản dựa trên các học thuyết của K. Marx. Nổi bật trong số các cuốn sách loại đó phải nói đến cuốn Sự cáo chung của lịch sử và con người cuối cùng của Francis Fukuyama xuất bản tại New york năm 1992.

Theo sự so sánh của Jacques Derida – nhà triết học người Pháp, một trong những nhà triết học phương Tây nổi tiếng thế giới ở thế kỷ XX, trong cuốn Những bóng ma của Marx (Spectres de Marx), thì lúc đó, ở phương Tây, “người ta mua cuốn sách này như một bà nội trợ xô vào mua đường và dầu, khi có những tin đồn đầu tiên về chiến tranh”. Bên cạnh nhiều đánh giá khác của Jacques Derida về cuốn sách trên của Francis Fukuyama, thì những đánh giá sau đây của ông quả thật rất đáng lưu ý: “Nếu một luận thuyết kiểu như luận thuyết của Fukuyama đóng một cách có hiệu quả vai trò gây mơ hồ và vai trò phủ nhận sầu thảm gấp đôi mà người ta chờ đợi ở nó, thì nó đã làm một trò lừa gạt một cách khôn khéo đối với một số người này và thô bạo đối với một số người khác”. Hoặc: “Phải thừa nhận là quyển sách này mang sắc thái tinh vi hơn, đôi khi để lửng, thậm chí đến mức mập mờ…”. Nói cách khác, người ta không thể không nghi ngờ về tính khách quan và tính khoa học của cuốn sách trên của Fukuyama. Không ai có thể phủ nhận một sự thật là Liên Xô và khối Đông Âu xã hội chủ nghĩa đã sụp đổ chủ nghĩa xã hội đã bị một tổn thất hết sức nặng nề. Nhưng từ sự sụp đổ đó mà rút ra kết luận rằng, học thuyết của K. Marxđã chết, triết họK. Marxđã chết, chủ nghĩa cộng sản đã chết thì thật là một sự vui mừng quá sớm, là một sai lầm, nếu không muốn nói là do những động cơ không trong sáng, hay nặng hơn, là do sự thù ghét cay độc đối với K. Marx và các học thuyết của ông. Hãy khoan nói đến ở đây những nguyên nhân gây ra sự sụp đổ đó của Liên Xô và các nước Đông Âu với tính cách một mô hình, một kiểu chủ nghĩa xã hội đã được người đời sau thiết kế theo sự hiểu biết, sự giả định, một sự mong muốn chủ quan của mình nhưng lại mệnh danh, hoặc tưởng rằng, đã làm theo đúng chỉ dẫn của K. Marx, là xuất phát từ K. Marx, là trung thành tuyệt đối với C Marx , bởi những nguyên nhân gây nên sự sụp đổ ấy thì có rất nhiều và cần phải được mổ xẻ trong một dịp khác.

Trong dịp Kỷ niệm 190 năm Ngày sinh K. Marx(05/05/1818 – 05/05/2008), chúng ta hãy chỉ đề cập một cách hết sức vắn tắt đến các học thuyết cơ bản của K. Marx, chẳng hạn như quan niệm duy vật về lịch sử hay học thuyết về giá trị thặng dư, chứ chưa nói đến rất nhiều những tư tưởng vượt thời đại khác của ông đã hợp thành chủ nghĩa mang tên ông, để có một cái nhìn thật sự khách quan, thật sự khoa học, thật sự tôn trọng K. Marx.

Trước hết, chúng ta hãy nhớ lại một luận điểm nổi tiếng mà người tiền bối vĩ đại của K. Marx đã đưa ra trong lĩnh vực triết học, người đã được K. Marx cải tạo theo lối duy vật, đã kế thừa và vượt qua. Đó chính là luận điểm được Hê-ghen trình bày trong Những bài giảng về lịch sử triết học của ông. Hê ghen viết: “Triết học hiện đại là kết quả của tất cả những nguyên lý có từ trước đó, như vậy, không có một hệ thống nào bị lật đổ, không phải nguyên lý của triết học đó bị lật đổ mà chỉ có sự giả định rằng, nguyên lý đó là định nghĩa tuyệt đối cuối cùng bị lật đổ mà thôi”.

Câu nói đó của Hê ghen hoàn toàn có thể vận dụng vào trường hợp của K. Marx. Điều đó có nghĩa là, một học thuyết, một hệ thống triết học hay một học thuyết xã hội nào đó, nếu là kết quả của sự tổng kết khoa học về lịch sử, là sự đúc rút từ các nguyên lý khoa học có từ trước đó mà không bị tuyệt đối hoá đến mức giáo điều, không bị làm cho khô cứng đi thì không bao giờ nó mất hết các giá trị, không bao giờ bị sụp đổ hoàn toàn. Điều đó cũng rất dễ hiểu. Không có một lý thuyết nào là tuyệt đối đúng cho mọi thời đại, trong mọi điều kiện lịch sử, bởi chân lý là một quá trình, chân lý nằm trong quá trình và việc đạt đến chân lý cũng là một quá trình. Các tư tưởng, các học thuyết của K. Marx về triết học, về xã hội, về kinh tế, về con người, về khoa học và kỹ thuật, v.v. vốn là kết quả của một sự nghiên cứu, phê phán, tiếp thu, vượt bỏ những thiên tài trước ông, tính từ thời Cổ đại cho đến tận L.Phoiơbắc, của sự khái quát lý luận và tổng kết thực tiễn cực kỳ sôi động thế giới lúc bấy giờ, và trên hết là sự sáng tạo tuyệt vời của một bộ óc thiên tài, của một trong những vĩ nhân vĩ đại nhất, có ảnh hưởng to lớn nhất trong mọi thời đại của nhân loại, như một cuộc thăm dò dư luận phương Tây cuối thế kỷ XX đã cho thấy. Những tiền đề xuất phát để K. Marxrút ra các kết luận lý luận “không phải là những tiền đề tuỳ tiện, không phải là giáo điều, đó là những tiền đề hiện thực mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng thôi… Những tiền đề ấy là có thể kiểm nghiệm được bằng con đường kinh nghiệm thuần tuý. Do vậy, những tư tưởng và những học thuyết của K. Marxhoàn toàn và tuyệt nhiên không phải là những “ảo tưởng chủ quan”, không phải là “duy ý chí” như những người phê phán K. Marx đã cố tình gán ghép.

Chúng ta đều biết rằng, do không thỏa mãn với các cách giải thích khác nhau của những người đi trước mình về lịch sử xã hội loài người, nên K. Marx đã kiên trì đi tìm và đã tìm ra “những điều bí ẩn của lịch sử”, “chủ thể của lịch sử và chìa khóa của lịch sử đích thực”. Với K. Marx, cái thúc đẩy sự vận động của lịch sử không phải là sức mạnh siêu tự nhiên, cũng không phải là những tư tưởng hay ý chí của con người, của các vĩ nhân, mà chính là sản xuất vật chất, là những lợi ích vật chất, còn chính quần chúng nhân dân mới là những người sáng tạo chân chính ra lịch sử của mình.

Quan điểm mang tính chất nền tảng đó có quan hệ chặt chẽ với quan niệm về sự phát triển của lực lượng sản xuất và vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với sự phát triển của mọi hình thái xã hội từ trước cho đến nay. Với C Marx , không những các hình thái kinh tế – xã hội khác nhau là một quá trình lịch sử – tự nhiên, mà sự thay thế các hình thái đó cũng là một quá trình lịch sử – tự nhiên. Điều đó có nghĩa rằng, khi đã là một quá trình lịch sử – tự nhiên thì con người hoàn toàn có thể khám phá được, có thể nhận thức được, có thể nắm được và vận dụng được các quy luật vận động của nó. Và, K. Marxđã chứng minh điều đó một cách tài tình, vừa khoa học, vừa hết sức thuyết phục trong nhiều công trình, đặc biệt là trong bộ Tư bản – một công trình của suốt cả cuộc đời C Marx , rằng hình thái kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa, sớm hay muộn, tất yếu sẽ bị thay thế bằng một phương thức sản xuất tiên tiến hơn, phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa, bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội sẽ đến một lúc không còn có thể chứa đựng trong các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa nữa. Đó là quy luật tất yếu của lịch sử.

Tuy nhiên, khi khẳng định như vậy, K. Marxkhông hề xác định thời điểm cụ thể về sự thay thế đó hay về thời điểm diệt vong của chủ nghĩa tư bản. Đáng tiếc là những người lãnh đạo và các nhà lý luận đi sau K. Marx, do quá say sưa với thắng lợi và sự lớn mạnh một thời của chủ nghĩa xã hội trên quy mô thế giới, dường như muốn thúc đẩy nhanh “cái chết” đó của chủ nghĩa tư bản nên đã không đủ tỉnh táo để thấy rằng chính K. Marx, ngay trong Lời tựa viết cho lần xuất bản đầu tiên tập I bộ Tư bản, đã nhận ra rằng, xã hội tư bản “hoàn toàn không phải là một khối kết tinh vững chắc, mà là một cơ thể có khả năng biến đổi và luôn luôn ở trong quá trình biến đổi”. Rõ ràng, một xã hội, cũng như một cơ thể sống, khi còn có khả năng biến đổi và đang trong quá trình biến đổi thì có nghĩa là cơ thể đó còn có khả năng thích nghi, nó chưa thể chết ngay. Về điều này, K. Marx cũng đã từng nói rằng, “không một hình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả những lực lượng sản xuất mà hình thái xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát triển, vẫn chưa phát triển, và những quan hệ sản xuất mới, cao hơn, cũng không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ. Cho nên, nhân loại bao giờ cũng chỉ đặt ra cho mình những nhiệm vụ mà nó có thể giải quyết được vì khi xét kỹ hơn, bao giờ người ta cũng thấy rằng bản thân nhiệm vụ ấy chỉ nảy sinh khi những điều kiện vật chất để giải quyết nhiệm vụ đó đã có rồi, hay ít ra cũng đang ở trong quá trình hình thành”.

Lịch sử nhân loại thế kỷ XX và hiện nay đã hoàn toàn xác nhận những chỉ dẫn hết sức tinh tường đó của K. Marx. Hệ thống tư bản chủ nghĩa hiện đại vẫn đang còn sức sống, đang thể hiện sức mạnh thực sự của nó ở những mặt nhất định và đang chi phối khá mạnh nền chính trị và kinh tế thế giới, chứ chưa phải đã đến lúc lịch sử của nó kết thúc. Hệ thống đó vẫn đang có khả năng thích nghi, tự điều chỉnh và tiếp tục phát triển. Không thể không thấy điều đó. Vậy, liệu có thể từ đó mà rút ra kết luận rằng, chủ nghĩa tư bản là vĩnh hằng, là bất tử, là tương lai duy nhất của nhân loại hay không? Không. Hoàn toàn không thể! Mọi sự biện hộ theo kiểu đó đều không có cơ sở. Chủ nghĩa tư bản toàn cầu hoá hiện nay mà K. Marx đã từng dự báo về sự ra đời của nó, với sức mạnh của nó và với cả những mâu thuẫn nội tại mà tự thân nó không thể nào giải quyết được, là bước chuẩn bị cho sự thay thế nó trong tương lai, tức là các điều kiện chuẩn bị cho sự thay thế đó đang trong quá trình hình thành ở ngay trong chính bản thân nó. Lịch sử không bao giờ ngừng lại, không bao giờ ngưng đọng. Biện chứng của lịch sử chính là như vậy và sẽ mãi mãi là như vậy. Những bí mật làm giàu của các nhà tư bản và sự bần cùng của người lao động cũng đã từng là một bí mật của lịch sử đã được chính K. Marx khám phá ra nhờ học thuyết về giá trị thặng dư. Việc phát hiện ra học thuyết này là “công lao lịch sử vĩ đại nhất lao động của Marx . Nó chiếu sáng rực rỡ lên những lĩnh vực kinh tế mà trước kia những nhà xã hội chủ nghĩa cũng mò mẫm trong bóng tôi không kém gì những nhà kinh tế học tư sản. Chủ nghĩa xã hội khoa học bắt đầu từ ngày có giải đáp đó, và nó là điểm trung tâm của chủ nghĩa xã hội khoa học”.

Ngày nay, nhân loại đang từng bước tiến vào kinh tế tri thức, tri thức đang chuyển hoá “thành lực lượng sản xuất trực tiếp như K. Marx đã từng tiên đoán. Sự kiện nhân loại bước vào kinh tế tri thức này lại cũng là lý do để cho một số người, cả ở nước ta lẫn nước ngoài, ngộ nhận rằng, kinh tế tư bản và các nhà tư bản đã thay đổi về bản chất, không còn bóc lột người lao động, không tìm kiếm giá trị thặng dư như khi K. Marx viết bộ Tư bản nữa. Theo họ, sức lao động của con người ngày nay chủ yếu đã được chuyển sang cho các máy móc cực kỳ tinh vi với hiệu suất rất cao. Tỷ lệ giá trị của lao động sống không thể so với giá trị do máy móc làm ra, do đó, theo họ, máy móc hiện đại mới là cái sản xuất ra giá trị thặng dư, nghĩa là nhà tư bản bây giờ chỉ còn bóc lột máy móc chứ không phải bóc lột công nhân!

Thật ra, như K. Marx đã từng nói: “… Những máy móc có một sức mạnh kỳ diệu trong việc giảm bớt lao động của con người và làm cho lao động của con người có kết quả hơn, thì lại đem nạn đói và tình trạng kiệt quệ đến cho con người. Những nguồn của cải mới, từ xưa tới nay chưa ai biết, dường như do một sức mạnh thần kỳ nào đó lại đang biến thành nguồn gốc của sự nghèo khổ. Nhận xét đó của K. Marx vẫn rất đúng trong điều kiện hiện nay. Máy móc, dù có hiện đại đến đâu chăng nữa, cũng vẫn không thể thiếu được sức lao động của con người. Hơn thế nữa, máy móc càng hiện đại, càng tạo ra nhiều sản phẩm hơn, các sản phẩm càng có hàm lượng từ thức nhiều hơn thì lại càng đòi hỏi chất lượng lao động cao hơn, tri thức nhiều hơn, do đó, càng không thể thiếu được công nhân tri thức. Nghĩa là, sản xuất, dù hiện đại đến đâu, cũng không thể thiếu được sức lao động của con người, của người công nhân, của kỹ sư, của nhà khoa học, tức là không thể thiếu được lao động sống. Vậy, nhà tư bản lấy lợi nhuận ở đâu, có chiếm đoạt giá trị thặng dư ở đây không? Chắc chắn không khó để trả lời. Chính K. Marx đã chỉ rõ rằng, sự sản xuất ra giá trị thặng dư là quy luật tuyệt đối của sản xuất tư bản chủ nghĩa, không có lợi nhuận thì không một nhà tư bản nào chịu bỏ vốn để sản xuất, kinh doanh, mà nhuận chỉ là hình thái thứ sinh, phái sinh và được biến đổi của giá trị thặng dư, là hình thái tư sản trong đó đã xoá hết những nguồn gốc của nó”. Dường như có người đã không biết, hoặc đã cố tình quên đi sự luận chứng rất quan trọng và khoa học này của K. Marx về mối quan hệ giữa lợi nhuận và giá trị thặng dư. Rõ ràng là, trong thời đại hiện nay, hình thức bóc lột có thay đổi, đã trở nên khó nhận biết hơn, tinh vi hơn và khác hơn so với thời của K. Marx, nhưng bản chất bóc lột của tư bản thì không khác. Đó chính là nguồn gốc, là nguyên nhân dẫn đến hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo, giữa những nước giàu và những nước nghèo hiện nay trên thế giới, kể cả ở các nước tư bản phát triển nhất, đang ngày một doãng ra với tốc độ ngày càng nhanh hơn.

Từ hai vấn đề quan trọng trên, có thể nói rằng, những học thuyết quan trọng của K. Marxkhông hề lỗi thời, nếu chúng không bị tuyệt đối hoá, nếu như nghiên cứu và vận dụng chúng theo tinh thần biện chứng chứ không phải một cách giáo điều, xơ cứng. Điều này không chỉ chúng ta nói và tin, mà ngay cả nhiều nhà triết học phương Tây nổi tiếng cũng tin như vậy. Và, chắc lòng tin đó của họ không thể coi là xuất phát từ hệ tư tưởng, mà chính là từ những sự trải nghiệm, sự phân tích thực tiễn và sự tổng kết lý luận của chính họ. Jacques Derida, trong Những bóng ma của Marx đã dẫn ra ở trên, khi thừa nhận rằng, “tất cả mọi người trên toàn trái đất này, dù họ muốn, họ biết hay là không, đều là những người kế thừa của Marx và chủ nghĩa Marx với một mức độ nhất định”, đã khẳng định: “Luôn luôn sẽ là một sai lầm, nếu không đọc đi đọc lại và tranh luận những tác phẩm của Marx … Đó sẽ càng ngày càng là một sai lầm, một sự thiếu trách nhiệm về mặt lý luận, triết học và chính trị… Sẽ không có tương lai khi không có trách nhiệm đó. Không có nếu không có K. Marx không có tương lai mà lại không có Marx . Nếu không có ký ức về Marx và không có di sản của Marx “.

Chủ nghĩa Marx không chết, chủ nghĩa cộng sản được xây dựng dựa trên các học thuyết chân chính của K. Marx không chết như một số người từng tuyên bố. K. Marx vẫn sống với nhân loại không chỉ ở thế kỷ XXI, bởi những di sản của K. Marx đã trở thành tài sản chung của cả nhân loại và sẽ mãi mãi là như vậy, bởi như Michel Vadée – nhà triết học, thành viên của Trung tâm nghiên cứu và tư liệu về Hê ghen và Marx thuộc Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp, đã nhận định rằng, “tư tưởng của Marx đã “được biết đến nhiều: nó đã cắm sâu vào thế giới”.

S.T [http://reds.vn/index.php/chinh-tri/cnxh-cntb/2236-the-ky-xxi-karl-marx-da-chet]

* Định nghĩa cái chết

Cười nhiều quá đau bụng chết gọi là Hài Tử.

Già mà chết gọi là Lão Tử.

Trượt trên thảm chùi chân chết gọi là Thảm Tử.

Sét đánh chết gọi là Lôi Chấn Tử.

Chết khi đi tiểu gọi là Tiểu Tử.

Chết vì táo bón gọi là Tắc Tử.

Ngu quá chết gọi là Ngốc Tử.

Trời nắng nóng quá mà chết gọi là Thiên Tử.

Xuất tinh quá độ mà chết gọi là Tinh Tử.

Chết lúc tắm tiên với mấy em gái gọi là Đào Hoa Tiên Tử.

Chết ở Thái Lan gọi là Thái Tử.

Chơi Đột Kích quá độ mà chết gọi là Đột Tử.

Chết vì gái gọi là Nữ Tử.

Chết vì tiền gọi là Tài Tử.

Trúng độc mà chết gọi là Độc Tử.

Trúng độc đắc hụt tức quá đập đầu vô cột cờ chết gọi là Bất Đắc Kỳ Tử.

Đẻ ra bị lão hoá chết gọi là Sinh Lão Bệnh Tử.

Đi thám hiểm chết gọi là Thám Tử.

Ăn tới chết gọi là Thực Tử.

Chết trên ruộng gọi là Đồng Tử.

Chết trong đống cứt gọi là Phân Tử.

Trời lạnh mặc đồ mỏng quá chết gọi là Hàn Mặc Tử.

Chết khi giao phối gọi là Hợp Tử.

Ham sinh con làm quá teo của quý chết gọi là Tham Sinh Quý Tử.

Người hầu chết gọi là Hầu Tử.

Xấu hổ mà chết gọi là Hổ Tử.

Bị cục vàng rớt bể đầu chết gọi là Hoàng Tử.

Ngồi thiền nhầm lên đống kim bị đâm báy đít chết gọi là Kim Thiền Tử.

Định nghĩa sự đẻ:

Đẻ trong chùa gọi là Tự Sinh.

Đẻ trong trường học gọi là Trường Sinh.

Đẻ trong giờ học gọi là Học Sinh.

Đẻ một mình gọi là Cô Sinh.

Đẻ trước cửa gọi là Môn Sinh.

Đẻ trước gọi là Tiên Sinh.

Đẻ qua hậu môn gọi là Hậu Sinh.

Đẻ mướn gọi là Hộ Sinh.

Bảo vệ đỡ đẻ gọi là Vệ Sinh.

Bảo vệ đỡ đẻ trong phòng gọi là Phòng Vệ Sinh.

Bảo vệ đỡ đẻ tại nhà gọi là Nhà Vệ Sinh.

Băng ghi hình bảo vệ đỡ đẻ gọi là Băng Vệ Sinh.

Đẻ khi đang súc miệng gọi là Súc Sinh.

Đẻ trong lỗ chó gọi là Chó Sinh.

Đẻ trong bồn cầu gọi là Cầu Sinh.

Đẻ không ra gọi là Vô Sinh.

Đẻ ra tinh trùng gọi là Trùng Sinh.

Đẻ lúc đang ăn phở tái gọi là Tái Sinh.

Đẻ từng đợt gọi là Hồi Sinh.

Đẻ kiểu cũ gọi là Cổ Sinh.

Đẻ nguyên con gọi là Nguyên Sinh.

Đẻ giữa đường gọi là Trung Sinh.

Đẻ lúc đang mua nước tương gọi là Tương Sinh.

Đẻ cùng một lượt gọi là Cộng Sinh.

Đẻ trong đống cứt gọi là Phân Sinh.

Đẻ sau song sắt nhà tù gọi là Song Sinh.

Ma-sơ đi đẻ gọi là Sơ Sinh.

Vừa cười hi hi vừa đẻ gọi là Hi Sinh.

Tính toán thời gian đẻ cho hợp lý gọi là Toán Lý Hoá Sinh

 

Source: sưu tầm