Tag Archive: CHIẾN


Yêu nước là gì? Yêu nước như thế nào?

 

Đối với em, yêu nước xuất phát từ tình yêu gia đình, dòng tộc, yêu cha mẹ và những năm tháng tuổi thơ sống trong yên bình dưới mái nhà nơi làng quê, yêu xóm giềng, yêu cả những khuôn mặt người quen nơi đồng đất quê nhà. Đi tha phương cả bốn phương trời, kết giao với đủ bạn bè, bằng hữu, tham gia đủ mọi mỗi quan hệ giản đơn cũng như phức tạp để biết rằng sẽ không ai yêu thương ta, hi sinh vì ta vô điều kiện và sẵn sàng như cha mẹ, anh chị em. Gia đình là tình yêu thiêng liêng đầu đời, cũng là cái nôi đầu tiên giúp ta nuôi dưỡng lý tưởng. Nếu một ngày có phải chiến đấu, phải hi sinh cho tổ quốc, cũng sẵn lòng vì tổ quốc phải đâu là khái niệm quá xa vời, tổ quốc chính là nơi có mẹ cha, có gia đình, dòng tộc, những bạn bè, những người quen thân, tổ quốc là một phần máu thịt.

 

Yêu nước là yêu quê hương. Quê em nghèo, chênh vênh trên những mảnh đồi bát úp hướng ra sông Lục Nam. Mỗi tháng 7 nước lên, đồng quê lại mênh mông thành biển nước, con sông nhỏ như dòng kênh vào mùa xuân giờ cuộn cuộn sóng liếm lên tận cổng nhà. Càng khôn lớn, càng đi xa để hiểu nhiều, biết nhiều em càng khao khát được về chạy giữa cánh đồng quê, được nằm vóng mắc trước sân nhà ngửa mặt lên trời nhìn trăng sao vằng vặc. Quê hương thành mảnh đất thiêng liêng, thành nỗi nhớ thiết tha cho mỗi đứa con tha phương. Còn quê hương là còn một chốn để trở về sau hết thảy những rốt ráo bộn bề vinh nhục. Quê hương như mẹ, không bao giờ chối bỏ những đứa con.

 

Yêu nước là yêu dân tộc Việt, dòng máu Việt. Yêu nước là biết đau thương, xót xa và chia sẻ với đồng bào mình. Yêu nước là biết đau lòng vì Miền Trung mỗi mùa lũ lụt lại có mất mát, lại có đói khát thảm thương. Yêu nước là xót xa khi thấy đồng bào mình cơm đói áo lạnh trên những rẻo cao mùa đông khắc nghiệt. Yêu nước là biết buồn cho những phận người ĐBSCL trồng lúa nhiều nhất cả nước mà vẫn đói nghèo, vẫn thất học vì từng bữa chạy ăn. Đối với em, yêu nước là yêu dân tộc.

 

Yêu nước cũng là biết sống có trách nhiệm hơn, cả trong suy nghĩ và trong hành động. Mọi tình yêu cuồng dại và mù quáng đều dẫn đến bi kịch, yêu nước cũng thế. Ai yêu nước thì hãy cố gắng hiểu nhiều hơn về nước mình để biết lợi biết hại, biết giữ cho trái tim nóng mà cái đầu thì nguội bớt những suy nghĩ ngông cuồng. Yêu nước không phải là mù quáng xả thân mình cho những phiêu lưu nguy hiểm và viển vông hay chỉ biết kêu gào yêu nước bằng máu xương của người khác. Trong suy nghĩ của em, yêu nước giản đơn là làm tốt công việc của mình, sống tốt bổn phận của mình và sẵn sàng đáp lời khi tổ quốc thật sự cần. Cuộc sống đã phân công sẵn cho mỗi con người những việc phải làm, những vị trí phải đảm nhận, khi hòa bình, làm tốt trách nhiệm ấy cũng đã là yêu nước, khi tranh đấu, đâu đâu cũng là mặt trận, hãy cố gắng cống hiến thật nhiều dù đang ngoài tuyến lửa hay đang ở hậu phương.

 

Yêu nước là biết trân trọng lịch sử, biết tự hào rằng mảnh mình sống hôm nay đã đổi bằng máu xương của biết bao thế hệ cha anh, bằng mất mát của cả một dân tộc suốt những tháng năm trường kỳ kháng chiến. Yêu nước là khắc cốt ghi tâm rằng một tấc đất non sông, một ngày tháng hòa bình, độc lập và tự chủ mà chúng ta đang hưởng là thành quả, là nỗ lực phi thường của cả một dân tộc, là sự đánh đổi bằng sự hi sinh của cả triệu thanh niên mang dòng máu Lạc Hồng đã nằm lại với chiến trường. Việt Nam là dân tộc yêu chuộng hòa bình, lịch sử dân tộc mình là lịch sử dựng nước và giữ nước, sức mạnh phi thường của dân tộc đến từ lòng yêu nước, tinh thần chính nghĩa và tình đoàn kết đồng bào máu mủ ruột già. Nếu yêu nước, xin hãy giữ bài học lịch sử ấy làm lòng.

 

Yêu nước xin hãy biết gạt bỏ những định kiến cá nhân để đặt lợi ích dân tộc lên trên hết. Hãy nhớ rằng có giữ được nước mới có cơ sở để mà xây dựng được một đất “đàng hoàng hơn” “to đẹp hơn”, công bằng hơn, tốt đẹp hơn như các bạn vẫn thường mong. Yêu nước là biết quan tâm đúng mực đến vận mệnh của dân tộc, là biết trân trọng hòa bình, gìn giữ hòa bình nhưng cũng sẵn sàng đứng lên để bảo vệ hòa bình cho tổ quốc thân yêu.

 

Em đang sống những tháng năm lãng mạn nhất của một đời người: Tuổi đôi mươi. Bao nhiêu những người trẻ như em cũng đang sống với nhiệt huyết, với tham vọng, vơi bao nhiêu dự định còn đang toan tính dở dang. Chúng ta nuôi những giấc mộng khác nhau, sống với lý tưởng khác nhau và quan điểm cũng khác nhau rất nhiều, nhưng chắc chăn lòng yêu nước và quyết tâm bảo vệ tổ quốc trong mỗi chúng ta là điều không hề khác.

 

 

sưu tầm facebook. [https://www.facebook.com/bmmua]

TÂM SỰ VUI BUỒN CỦA SỐ CÁN BỘ CHIẾN SỸ CẢNH SÁT BIỂN
“Chúng tôi yêu cầu tàu cá dừng hành động vi phạm và rời ngay vùng biển Việt Nam!” – Đó là mệnh lệnh các chiến sĩ Cảnh sát biển Vùng 2 thường xuyên dùng đến để xua đuổi hàng trăm tàu nước ngoài xâm phạm chủ quyền lãnh hải.

CÁN BỘ CHIẾN SỸ CẢNH SÁT BIỂN VIÊT NAM TẠI TRƯỜNG SA

Đến Trường Sa thân yêu

Trong phòng khách trên con tàu Cảnh sát biển 6006 treo một tấm huân chương ở vị trí trang trọng. Các cán bộ trên tàu cho biết: Trước đó, chiếc tàu này thuộc lực lượng hải quân và biên chế qua lực lượng Cảnh sát biển. Nhiều năm trụ bám ở Trường Sa, trong đó có DK1, chính vì vậy, con tàu này gắn với biết bao câu chuyện vui buồn của các chiến sĩ trên biển khơi.

Các chiến sĩ cảnh sát biển vùng 2 tuần tra trên biển.
Khi ra Trường Sa, anh em trong đội tàu Cảnh sát biển thường đến thăm các gia đình đang sinh sống trên đảo. Một chiến sĩ tâm sự: “Nhìn vào khuôn mặt những em thơ trong các gia đình, chúng em cảm thấy sự gian nan của mình thật chẳng đáng là bao. Anh em như được tiếp thêm nghị lực để bảo vệ biển khơi”.

Trong những chuyến hải trình này, tàu Cảnh sát biển luôn quét radar để quan sát một vùng biển rộng lớn thuộc chủ quyền của VN. Tháng 4 năm 2011, anh em trên tàu đã phát hiện một số tàu nước ngoài đang đánh bắt cá trên vùng biển thuộc chủ quyền của VN.

Thượng úy Vũ Đức Tuyên nhấn ga, con tàu gầm lên như một con kình ngư, lao nhanh về phía mục tiêu. Khi áp sát tàu ngư dân Trung Quốc, loa trên tàu phát đi thông điệp bằng một số tiếng nước ngoài: “Giải quyết các vấn đề tranh chấp trên biển bằng biện pháp hòa bình, chúng tôi yêu cầu dừng ngay hành động vi phạm và rời ngay khỏi vùng biển VN…”.

Khi bắt và xử lý tàu Trung Quốc, các chiến sĩ thường giáo dục, nhắc nhở, và buộc các ngư dân vi phạm phải rời ngay khỏi vùng biển VN. Biện pháp xử lý vừa lý, vừa tình, thể hiện chính sách nhân đạo của người lính Cụ Hồ.

Theo đại tá Nguyễn Quang Trung – Chỉ huy trưởng Vùng Cảnh sát biển 2, trước tình hình các tàu cá của ngư dân đánh bắt trên vùng biển VN, đặc biệt là vùng biển Hoàng Sa luôn bị các tàu nước ngoài xua đuổi, bắt giữ, tịch thu hải sản, lực lượng Cảnh sát biển phối hợp với các lực lượng chức năng tăng cường hoạt động tuần tra trên biển và tổ chức các điểm trực ở khu vực quần đảo Hoàng Sa, đảo Cồn Cỏ, Lý Sơn, Phú Quý.

Đặc biệt, từ ngày 1.6, Cảnh sát biển vùng 2 đã điều một tàu túc trực thường xuyên 24/24 ở Cồn Cỏ (Quảng Trị). Từ khi có tàu túc trực tại đây, qua theo dõi trên radar, lực lượng Cảnh sát biển không phát hiện tàu nước ngoài xâm phạm vào vùng biển này. Hiện đơn vị cũng triển khai 1 tàu nữa túc trực thường xuyên tại Lý Sơn (Quảng Ngãi) để cơ động trong mọi tình huống, giúp ngư dân yên tâm đánh bắt hải sản.

Tuần trăng mật trên biển

Tại vùng 2 Cảnh sát biển, từ chỉ huy đến các chiến sĩ, phần lớn đều quê tận đất Bắc đến đóng quân nơi dải đất miền Trung xa xôi. Chính vì vậy, mỗi người lính đều có những câu chuyện riêng về mái ấm nơi quê nhà.

Trong một chuyến đi Trường Sa, thiếu úy Hoàng Văn Sáu, nhân viên máy tàu, quê ở Quảng Xương, Thanh Hóa, nhận được tin người mẹ già ở quê lại lên cơn đau tim. Chỉ kịp gọi điện về nhà động viên gia đình đưa mẹ vào viện cấp cứu, thiếu úy Sáu lên tàu nhổ neo ra khơi. Ngày tàu cập bến, được sự cho phép của cấp trên, anh mới tất tả mang món quà của chỉ huy và anh em đơn vị đón xe về quê thăm mẹ.

Nhiều chiến sĩ tâm sự: Khi ra vùng biển Trường Sa rộng mênh mông, mỗi khi nhìn thấy một chiếc tàu của ngư dân Việt Nam đánh cá treo lá cờ đỏ sao vàng, lòng ai cũng phấn chấn. Và ở vùng biển Trường Sa, những người lính biển thường gặp những chiếc tàu cá mang biển số Quảng Ngãi. Họ như những cột mốc chủ quyền trên biển.
Có gia đình thấy con đóng quân biền biệt ở miền Trung, một năm về phép một lần nên lo sắp chuyện tơ duyên cho con. Tết năm 2011, thiếu úy Phan Văn Trung, nhân viên pháo và thiếu úy Trần Văn Quân, nhân viên máy của tàu 4033 về quê ở tận Nghệ An để ăn tết và thực hiện lời hẹn ước với người thương. Khi hai chàng lính biển về quê thì mọi đồ sính lễ của nhà trai đã sắp đủ, bố mẹ cùng con sang nhà gái rước dâu.

Đám cưới xong, tuần trăng mật mới được 3 ngày thì có lệnh đi biển khẩn cấp. Vậy là 2 chàng lính biển phải chia tay người vợ trẻ, khoác ba lô quay trở lại dải đất miền Trung, nơi có con tàu đang chuẩn bị nhổ neo ra khơi làm nhiệm vụ. Những ngày trên biển, 2 chàng lính trẻ vẫn còn lâng lâng men say của hạnh phúc.

Trong hành trang của Thuyền trưởng Tuyên cũng có những tấm ảnh của mái ấm gia đình của anh. Quê ở Quảng Ninh, hàng ngày, chị vừa đi dạy, vừa chăm sóc đứa con trai kháu khỉnh 2 tuổi. Ở dải đất miền Trung xa xôi, thỉnh thoảng anh thăm vợ qua… điện thoại. Là thuyền trưởng, trách nhiệm đứng mũi chịu sào càng lớn, người thuyền trưởng này càng phải gác niềm riêng cho anh em noi theo.

“Kiên quyết dũng cảm – Khắc phục khó khăn – Đoàn kết hợp đồng – Giữ nghiêm kỷ luật” – đó chính là phương châm của những người lính Cảnh sát biển. Phương châm đó giúp các anh vững vàng tay súng trên biển cả, không mắc mưu trước sự khiêu khích của kẻ địch.
Nguồn: Dân Việt

Người dân Trung Quốc đang bị kích động

TT – Tại sao ở Trung Quốc liên quan đến vấn đề biển Đông lại xuất hiện dư luận hiếu chiến đến mức mù quáng, bất chấp lẽ phải và sự thật, bất chấp luật pháp quốc tế? Kết quả của một cuộc thăm dò của Thời báo Hoàn Cầu.

Tàu Trung Quốc tuần tra trên biển Đông – Ảnh: Mạng quân sự Trường Giang

Kết quả của một cuộc thăm dò do Thời báo Hoàn Cầu thực hiện với gần 1.500 người ở Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Thành Đô, Tây An, Thẩm Dương… cho thấy rõ điều này. Gần 80% ủng hộ Trung Quốc “sử dụng vũ lực để đập tan các hành động gây hấn và xâm phạm” trên biển Đông. Chỉ vỏn vẹn 16,6% là nói không.

Thử khảo sát trên các trang Weibo… của cư dân mạng Trung Quốc cũng dễ dàng nhận thấy một dư luận tương tự. Rất nhiều ý kiến đòi chính quyền tuyên chiến trên biển Đông. “Không có chỗ cho đàm phán khi xét đến vấn đề lãnh thổ. Một cuộc chiến có thể đem lại 10 năm hòa bình” – một người viết. Người khác lại thẳng thừng: “Tôi ủng hộ việc bắn phá Philippines”. Nhiều người còn chỉ trích chính quyền Trung Quốc là hèn nhát, không dám bảo vệ đất nước. Đa số khẳng định căng thẳng trên biển Đông là “âm mưu thâm độc” do Mỹ dàn dựng để chống Trung Quốc…

Tâm lý nạn nhân

Tất nhiên, ở Trung Quốc vẫn còn có những người tử tế, biết tôn trọng lẽ phải và sự thật, biết yêu đất nước mình và tôn trọng quyền lợi chính đáng của những nước khác như hội thảo “Chủ quyền quốc gia và quy tắc quốc tế” do Viện Nghiên cứu kinh tế và báo mạng Tân Lãng tổ chức mới đây đã cho thấy. Thế nhưng những tiếng nói như vậy còn ít ỏi và lẻ loi, thậm chí đang có nguy cơ bị xem là “những kẻ phản quốc”. Nguyên văn tuyên bố của thiếu tướng quân đội Trương Châu Trung như sau: “Có hơn 1 triệu kẻ phản quốc ở Trung Quốc. Một số học giả là do Mỹ đào tạo, đọc sách Mỹ, chấp nhận quan niệm Mỹ và họ đang giúp Mỹ chống Trung Quốc”.

Tại sao dư luận Trung Quốc lại mù quáng, bất chấp đạo lý và lẽ phải đến như vậy? Câu trả lời dễ nhận ra là do người dân đã bị “tẩy não” và bị “đầu độc” hằng ngày hằng giờ những điều sai lệch.

Các phương tiện truyền thông Trung Quốc, điển hình nhất là tờ Thời báo Hoàn Cầu, thường xuyên cáo buộc Việt Nam và Philippines là “kích động”, “gây hấn” trên biển Đông và đòi chính quyền Bắc Kinh phải phát động “một cuộc chiến tranh quy mô nhỏ” chống lại các quốc gia Đông Nam Á. Giới tướng lĩnh quân đội Trung Quốc (PLA) liên tục đe dọa sẽ trừng trị các nước láng giềng.

Sách giáo khoa của học sinh tiểu học và trung học đều khẳng định cực nam lãnh thổ Trung Quốc là quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Các bản đồ chính thức của Trung Quốc cũng vẽ lãnh thổ Trung Quốc kéo dài tới tận Trường Sa.

Tất nhiên, sách giáo khoa Trung Quốc đã lờ tịt việc hải quân nước này đánh chiếm bất hợp pháp quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào năm 1974. Giới “học giả” Trung Quốc cứ ra rả một luận điệu dối trá khi nhấn mạnh trước thập niên 1970 không hề có cái gọi là “vấn đề biển Đông” do “biển Đông thuộc quyền quản lý của Trung Quốc”.

Trung Quốc hiện có một số tổ chức lớn chuyên nghiên cứu về biển Đông như Viện Hàng hải Trung Quốc, Viện Nghiên cứu Nam Hải, Học viện Khoa học xã hội, Viện Quan hệ quốc tế đương đại… Các “học giả” và “chuyên gia” của các tổ chức này, thông qua các hội nghị, hội thảo, diễn đàn, đều chung một luận điệu dối trá cho rằng khu vực được quy định bởi “đường chín đoạn” là thuộc chủ quyền lịch sử của Trung Quốc.

Phân tích dư luận của Trung Quốc về vấn đề biển Đông, nghiên cứu của Tổ chức Khủng hoảng quốc tế (ICG) cho rằng nguyên nhân là do chính quyền Bắc Kinh đã “tẩy não” người dân nước mình ngay từ khi họ còn là những đứa trẻ và “đầu độc” họ hằng ngày, nên người dân luôn tin rằng toàn bộ biển Đông là của Trung Quốc. Hằng ngày họ liên tục tiếp nhận những thông tin méo mó, dối trá qua các phương tiện thông tin. Do đó, niềm tin này càng trở nên mạnh mẽ đến mức họ coi các quốc gia khác là kẻ gây hấn, còn Trung Quốc là người vô tội.

Tâm lý của kẻ bị vây hãm

Vẫn theo ICG, trong vấn đề biển Đông, chính quyền Trung Quốc đã kích động một tâm lý dân tộc cực đoan bằng cách mô tả Trung Quốc là “nạn nhân” của các quốc gia xung quanh, là “kẻ yếu thế” trong các tranh chấp trên biển Đông. Chẳng hạn, báo chí Trung Quốc thường đưa tin theo kiểu: “Có hơn 1.000 giàn khoan dầu trên biển Đông và bốn sân bay ở Trường Sa, nhưng không có một cái nào là của Trung Quốc”.

Việc Mỹ tuyên bố trở lại châu Á càng là cơ hội để truyền thông Trung Quốc tô đậm “tâm lý nạn nhân” này, đẩy nó lên thành “tâm lý của kẻ bị vây hãm” bởi “những thế lực chống Trung Quốc” ở bên ngoài, và Trung Quốc đang phải tả xung hữu đột để chống đỡ và cố thoát ra tình trạng bị bủa vây này. Tất nhiên, như ICG vạch rõ, bằng cách này các cơ quan và chính quyền địa phương ở Trung Quốc mới có thể lợi dụng để thực hiện những ý đồ riêng. Họ thường công khai chỉ trích các quốc gia khác để gây sức ép buộc chính quyền Bắc Kinh hỗ trợ thêm nguồn lực. PLA cũng lợi dụng tranh chấp ở biển Đông để mở rộng ngân sách quốc phòng.

Chính do những thứ tâm lý này, các giọng điệu hiếu chiến luôn chiếm ưu thế trước quan điểm ôn hòa trong dư luận Trung Quốc. Cũng chính vì tự thổi ngọn lửa dân tộc cực đoan, chính quyền Bắc Kinh lại luôn bị áp lực phải thể hiện bộ mặt cứng rắn để không bị xem là yếu thế mỗi khi đề cập đến vấn đề biển Đông. Một số học giả nhận định chính Bắc Kinh đã “tự tạo ra một con quái vật mà nó sẽ khó lòng kiểm soát”.

SƠN HÀ – ĐÔNG PHƯƠNG

Xem thêm nhiều bài báo tại Tuổi Trẻ

Xem hồ sơ Trung Quốc mở thầu phi pháp trên biển Đông: “Công ty nước ngoài không tham gia gói thầu Trung Quốc” I Thượng nghị sĩ Mỹ: Các lô dầu khí là của Việt Nam I Trung Quốc tự xóa sạch cam kết I Trung Quốc mời thầu phi pháp: Ngang ngược và tráo trở I Bắc Kinh “diễn trò chính trị” I Hội Luật gia VN phản đối TQ mời thầu sai trái I Trung Quốc đang bành trướng I Vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam I “Khu vực Trung Quốc mời thầu thuộc chủ quyền Việt Nam” | Trao công hàm phản đối Trung Quốc mời thầu phi pháp | Trung Quốc mời thầu tại thềm lục địa VN là phi pháp I Trung Quốc mời thầu 9 lô dầu khí trên biển Việt Nam

Dấu tích về chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam ở Lý Sơn

Bảo tàng Lý Sơn, Quảng Ngãi, đang lưu giữ nhiều hình ảnh, bản đồ từ thế kỷ thứ 16 đến 19, khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa.

 
 Hiện tại bảo tàng Hoàng Sa (Lý Sơn, Quảng Ngãi) còn lưu giữ nhiều tài liệu quý về Hoàng Sa.
 
 Những bài báo và bản đồ chính trị (từ thời Việt Nam Cộng Hòa 1954 – 1975) nêu rõ quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam.
 
 Những dòng chữ được ghi trong Đại Nam Thực Lực Chính Biên (năm 1848) và Quảng Ngãi Tỉnh Chí (năm 1933) ghi chép về quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
 
 Những dấu tích, bản đồ, sắc phong còn được giữ nguyên vẹn tại bảo tàng.
 
 Dụng cụ trã đất nấu ăn của binh phu Hoàng Sa khi đi ra đảo.
 
 Những vật chứng của ngư dân và đội lính có mặt tại Hoàng Sa từ thời nhà Nguyễn.
Bia chủ quyền Việt Nam ở Hoàng San năm 1930.
Bản đồ phía Đông Ấn Độ và những vùng lân cận, xác định quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam, bản đồ xuất bản tại London, Anh năm 1956.
Bản đồ Nam Việt ghi rõ, Hoàng Sa và Vạn lý Trường Sa trong sách Đại Nam Thống Nhất Toàn Đồ do quốc sử quán triều Nguyễn ấn hành thế kỷ 19.
 
 Bản dịch tài liệu châu bản của Tống Lý đại thần ngày 15/12 niên hiệu Bảo Đại thứ 15 (1939) về việc xin truy thưởng Tú hạng long tinh cho cai đội Hoàng Sa người Pháp M.Fontan.
 Bản đồ Việt Nam do người Hà Lan vẽ năm 1594, hiện đang lưu giữ tại Amsterdam (Hà Lan). Khi đó Hoàng Sa, Trường Sa đã là của Việt Nam.
Một góc đảo Đá Lát, quần đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa năm 2009.
Hải đăng Việt Nam trên quần đảo Trường Sa trước năm 1945.
 Cơ sở hành chính trên đảo Hoàng Sa trước năm 1945.
Ông Nguyên Giáo, nhân viên ty khí tượng Hoàng Sa, trước năm 1974 đang đo nhiệt độ, độ ẩm tại lều máy trạm khí tượng Hoàng Sa.
 
 Văn tế trong lễ khao lế thế lính Trường Sa năm Tự Đức thứ 20, Đinh Mão 1867.
 
 Bài vị các tướng quân, binh sĩ hy sinh tại Hoàng Sa.
 Thuyền nhỏ được đội quân Hoàng Sa kiêm Bắc Hải ra Hoàng Sa để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ biển đảo.
Cho đến nay, lớp lớp người dân Lý Sơn vẫn tự hào về quá khứ hào hùng của cha ông. Các em nhỏ luôn được nhắc nhở về Hoàng Sa như một phần máu thịt của đất nước.

THÁI AN

theo infonet

Trước thông tin phía Trung Quốc thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” với phạm vi quản lý bao gồm huyện đảo Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam) và huyện đảo Hoàng Sa (thành phố Đà Nẵng, Việt Nam), lãnh đạo hai tỉnh, thành phố trên đã lên tiếng phản đối quyết định trên của phía Trung Quốc.

Trường Sa, Hoàng Sa là bộ phận không tách rời của lãnh thổ Việt Nam.

Ông Nguyễn Chiến Thắng, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Khánh Hòa khẳng định huyện đảo Trường Sa là một bộ phận không tách rời của lãnh thổ Việt Nam và trực thuộc quyền quản lý hành chính của tỉnh Khánh Hòa.

Ông Thắng nhấn mạnh chính quyền và nhân dân tỉnh Khánh Hòa hết sức bất bình trước việc Trung Quốc quyết định thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” với phạm vi quản lý bao gồm huyện đảo Trường Sa. Quyết định này đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam và không có giá trị về pháp lý.

“Chúng tôi kiên quyết phản đối và yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ quyết định sai trái và phi pháp này, không có thêm hành động làm tổn hại đến quan hệ hai nước, tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước và tình cảm của nhân dân Tỉnh Khánh Hòa.” – Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Khánh Hòa tuyên bố.

Ông Văn Hữu Chiến, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng cũng khẳng định huyện đảo Hoàng Sa là một bộ phận không tách rời của lãnh thổ Việt Nam và trực thuộc quyền quản lý hành chính của thành phố Đà Nẵng.

Ông Chiến cho biết chính quyền và nhân dân thành phố Đà Nẵng hết sức bất bình trước việc Trung Quốc quyết định thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” với phạm vi quản lý bao gồm huyện đảo Hoàng Sa.

Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Năng tuyên bố: “Quyết định này đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam và không có giá trị về pháp lý. Chúng tôi kiên quyết phản đối và yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ quyết định sai trái và phi pháp này, không có thêm hành động làm tổn hại đến quan hệ hai nước, tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước và tình cảm của nhân dân thành phố Đà Nẵng”./.

 Nguồn: Báo Thanh Niên Online

Kỳ 7: Tư liệu phía Việt Nam

09/08/2011 1:09

Các tác phẩm và các văn kiện chứng minh quyền phát hiện và chủ quyền  của VN trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có niên đại chỉ từ thế kỷ XV, các văn kiện trước đó có  lẽ bị tiêu hủy và thất lạc dưới thời Bắc thuộc và các cuộc chiến tranh liên miên.

>> Kỳ 6: Những luận cứ chủ quyền không vững chắc

Tác phẩm cũ nhất có nói về sự tồn tại của các đảo là Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (1630  – 1653) do Đỗ Bá, tự Công Đạo soạn. Tài liệu này bao gồm các bản đồ An Nam từ thế kỷ XV trong đó có tấm vẽ các quần đảo Paracels và Spratlys trong biển Đông dưới tên gọi Bãi Cát Vàng và Trường Sa, thuộc phủ Quảng Ngãi:

“Giữa  biển  có  một  dải  cát  dài,  gọi  là  Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển, từ cửa Đại Chiêm đến cửa Sa Vĩnh. Một lần có gió Tây Nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ở đấy, có gió Đông Bắc thì thương thuyền  chạy  ở  ngoài  cũng  trôi  dạt  ở  đấy,  đều  cùng chết đói cả, hàng hóa thì đều để ở nơi đó”.


Một trong những bản đồ của cuốn sách Phủ biên tạp lục do Lê Quý Đôn biên soạn năm 1776, mô tả tỉ mỉ tình hình địa lý, tài nguyên ở Hoàng Sa và Trường Sa và công việc khai thác của Chúa Nguyễn đối với hai quần đảo này (nguồn: Cục Thông tin đối ngoại – Bộ Thông tin – Truyền thông)

Trong Phủ biên  tạp  lục (1776), Lê Quý Đôn, Hiệp trấn Thuận Hóa viết:

“Phủ  Quảng  Ngãi,  huyện  Bình  Sơn, có  xã  An Vĩnh, ở  gần  biển, ngoài  biển  về  phía Đông Bắc, có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn một trăm ba mươi ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng dài ước hơn ba mươi dặm, bằng  phẳng,  rộng  lớn, nước trong suốt đáy”.

Đại  Nam  thực  lục  tiền  biên,  phần  về  các  chúa Nguyễn  (1600  –  1775),  quyển X ghi nhận địa danh Hoàng Sa và Trường Sa và các hoạt động quản lý của các chính quyền VN:

“Xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi, ở ngoài  biển, có  hơn  một  trăm ba  mươi  bãi cát, cách nhau hoặc một ngày đường hoặc vài  trống  canh, kéo dài  không  biết  mấy  ngàn dặm, tục gọi  là Vạn Lý Hoàng Sa, trên bãi có giếng nước ngọt. Sản vật có hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích… Hồi  đầu  dựng  nước,  đặt  đội  Hoàng  Sa  gồm  70 người,  lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hằng năm đến tháng 3 đi thuyền ra đảo, độ ba ngày đêm thì đến, thu lượm hóa vật, đến tháng 8 trở về nộp. Lại có đội Bắc Hải, mộ dân ở phường Tư Chính, ở Bình Thuận hoặc xã Cảnh Dương sung vào, được lệnh đi thuyền ra các vùng Bắc Hải, Côn Lôn, thu  lượm hóa vật. Đội này cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản”.([1])

 
Bản đồ Việt Nam do Đỗ Bá soạn vẽ vào thế kỷ XVII. Lời chú giải trên bản đồ khu vực phủ Quảng Ngãi ghi rõ “Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng”, “do họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến lấy hóa vật…”  –  Ảnh: biengioilanhtho.gov.vn

Các  tác phẩm chính thức khác do Quốc Sử quán biên soạn và in dưới thời nhà Nguyễn như Đại Nam thực lục chính biên (1848), Khâm định Đại Nam hội diễn sử lệ (1843 – 1851), Đại Nam nhất thống chí (1865  –  1882), Lịch  triều  hiến chương  loại chí (1821), Hoàng Việt địa dư chí (1833), Việt sử cương giám khảo lược (1876) đều chép tương tự về Hoàng Sa và Trường Sa. Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ quyển 165 còn khẳng định sự đánh giá của Bộ Công  tâu  lên Vua  năm  Bính  Thân,  niên  hiệu Minh Mạng  thứ 17  (1836,  tức năm Đạo Quang  thứ 16 đời Thanh): “Xứ  Hoàng  Sa  thuộc  cương  vực  mặt  biển nước ta rất là hiểm yếu”. Đại Nam nhất thống chí, bộ sách địa lý lịch sử chung  thống nhất của Đại Nam, phần Hình thể nói về tỉnh Quảng Ngãi “phía đông có đảo Hoàng Sa liền với biển xanh làm hào che…”. Đó đều là các nguồn chính thức và có giá trị chân thực.

Viện Hán Nôm Hà Nội còn lưu trữ hàng chục châu bản  triều Nguyễn gồm các bản  tấu, phúc tấu của các Bộ Công, Bộ Hộ, các cơ quan khác, các dụ của các vua về các hoạt động thực thi chủ quyền của VN trên quần đảo.

Một số bản đồ VN vẽ các đảo này như bộ phận của lãnh  thổ VN, nhất  là Đại Nam nhất thống toàn đồ (1838). Ngoài ra các sách địa lý lịch sử như Sử  học bị khảo của Đặng Xuân Bảng, Địa dư toát  yếu (niên  hiệu Duy Tân 1907-1916), Quảng Thuận đạo sử tập, Trung kỳ địa dư lược, Quảng Ngãi tỉnh chí đều có những đoạn văn và bản đồ xác nhận Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi. Trong gia phả của các họ Phạm, họ Đặng trên đảo Lý Sơn còn lưu giữ các sắc chỉ của vua Minh Mạng giao cho dòng họ chọn những  thanh niên khỏe mạnh và giỏi bơi lội để gia nhập đội Hoàng Sa… ([2])

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Đại Nam thực lục tiền biên, NXB Sử học, Hà Nội, 1962, t.1, tr.22

[2] “Phát  hiện  tài  liệu  quý  liên  quan  đến  quần  đảo Hoàng  Sa”,  Lao Động số 71 ngày 1.4.2009.

>> Kỳ 8: Đi đến luận cứ chắc chắn

Kỳ 5: Độ chênh của lịch sử trong Sách trắng Trung Quốc

Để hiểu rõ câu chuyện, có thể tham khảo Sách trắng của Bộ Ngoại giao nước CHND Trung Hoa năm 1980 và Sách trắng của Bộ Ngoại giao CHXHCN VN năm 1979, 1981 và 1988. Nhằm chứng minh sự quản lý của Trung Quốc (TQ) trên các đảo tranh chấp này từ hàng nghìn năm, Bộ Ngoại giao TQ chỉ đưa ra được ba sự kiện sau:

>> Kỳ 4: “Bằng chứng khảo cổ” mập mờ và thiếu chính xác của Trung Quốc

– Sự kiện thứ nhất: Từ thời nhà Tống (960 – 1127) Hải quân TQ đã đi tuần tra đến vùng biển quần đảo Tây Sa. Sự khẳng định này dựa trên cơ sở đoạn văn trích từ Vũ Kinh tổng yếu có lời tựa của vua Nhân Tông đời Bắc Tống. Đoạn trích trong văn kiện chính thức của TQ như sau:


Theo Nguyên sử (bộ sử chính thức của nhà Nguyên – TQ), “lãnh thổ TQ” dưới thời Nguyên phía Nam chỉ tới đảo Hải Nam, phía Bắc không quá sa mạc Gobi – Nguồn: gis.chinhphu

“Triều đình Bắc Tống lệnh cho Vương Sư đi phòng giữ đặt dinh lũy thủy quân tuần biển ở Quảng Nam (tức Quảng Đông ngày nay) và “đóng tàu chiến đao ngư”.

Tác phẩm trên còn khẳng định: “Từ Đồn Môn Sơn, dùng gió Đông hướng Tây Nam 7 ngày thì đến Cửu Nhũ Loa Châu. Cửu Nhũ Loa Châu là quần đảo Tây Sa ngày nay. Điều đó chứng tỏ quần đảo Tây Sa đã thuộc phạm vi cai quản của đời Bắc Tống”.

Theo Sách trắng 1981 của VN thì đoạn trích từ Vũ Kinh tổng yếu này là sự kết hợp ba đoạn riêng rẽ khác nhau trong một đoạn sau lời tựa:

“Lệnh cho quân nhà vua đi trấn giữ đặt dinh lũy thủy quân tuần biển ở hai cửa biển phía Đông và phía Tây rộng 280 trượng đến Đồn Môn Sơn 200 lý đóng tàu chiến đao ngư. Từ Đồn Môn Sơn dùng gió Đông đi về hướng Tây Nam bảy ngày thì đến Cửu Nhũ Loa Châu, đi ba ngày nữa đến Bất Lao Sơn (thuộc địa giới nước Hoàn Châu), ([1]) đi 300 hải lý nữa về phía Nam đến lăng Sơn Đông. Phía Tây Nam nơi đó là các nước Đại Thực Phật, Sư Tử, Thiên Trúc không thể tính được hành trình”.

Rõ ràng trong đoạn trích kể trên của Vũ Kinh tổng yếu, có đoạn văn Bắc Tống “lệnh cho quân nhà vua đi trấn giữ đặt dinh lũy thủy quân tuần biển ở Quảng Nam (Quảng Đông ngày nay)”, “đóng tàu chiến đao ngư”, có đoạn mô tả vị trí địa lý của đồn binh nhắc trên, đoạn khác tả lộ trình đi từ cảng Quảng Nam tới tận Ấn Độ Dương. Đó là hành trình khảo sát địa lý, đúng hơn là tuần tra lãnh thổ TQ. Không có gì trong đoạn trích trên cho phép khẳng định rằng Cửu Nhũ Loa Châu chính là quần đảo Tây Sa. Đối với chúng ta, đó không thể là bằng chứng đầy đủ chứng minh rằng ngay từ thời nhà Tống, quần đảo Hoàng Sa đã thuộc quyền quản lý của TQ và “Hải quân TQ đã đi tuần tới các đảo Tây Sa”.

– Sự kiện thứ hai: Việc đo thiên văn trong biển Nam Hải vào đầu đời Nguyên đã khẳng định rằng các đảo là một bộ phận của lãnh thổ TQ.

Sách trắng của Bộ Ngoại giao TQ 1980 viết:

“Năm thứ nhất đời Nguyên tiến hành đo đạc thiên văn 27 nơi trong nước, nhà Nguyên năm thứ 16 (Công nguyên năm 1279) Nguyên Thế Tổ Hốt Tất Liệt đích thân sai Đồng Trí Thái, Sử viện sử Quách Thụ Kinh, nhà thiên văn nổi tiếng đến biển Nam tiến hành đo đạc. Theo Nguyên Sử, điểm thiên văn Nam Hải nằm ở phía Nam Châu Nhai (thuộc đảo Hải Nam) và kết quả đo đạc cho thấy Nam Hải ở vĩ tuyến Bắc 15 độ. Điểm thiên văn Nam Hải chính là ở quần đảo Tây Sa ngày nay. Điều đó nói rõ quần đảo Tây Sa thời Nguyên đã là nằm trong biên thùy TQ”.

Thực ra, Nguyên Sử, bộ sử chính thức của nhà Nguyên, việc đo đạc thiên văn được ghi chép như sau:

“Việc đo bóng mặt trời bốn biển ở hai mươi bảy nơi. Phía Đông đến Cao Ly, phía Tây đến Điền Trì, phía Nam qua Chu Nhai, phía Bắc đến Thiết Lặc”.

Khái niệm “bốn biển”, theo ngôn từ TQ, chỉ rằng các lãnh thổ này nằm ngoài lãnh thổ quốc gia. Trên thực tế, dưới đầu đề “đo đạc bốn biển”, Nguyên Sử chép rõ tên 27 nơi đo đạc thiên văn trong đó có những địa danh hoàn toàn không thuộc cương vực TQ như Cao Ly (Triều Tiên), Thiết Lặc (Siberia). Chính Nguyên Sử cũng nói rõ “lãnh thổ TQ” dưới thời Nguyên phía Nam chỉ tới đảo Hải Nam, phía Bắc không quá sa mạc Gobi.

Các quan trắc thiên văn trên có phần tiến hành trên lãnh thổ TQ, có phần nằm ngoài cương vực TQ. Do đó, nó không thể tạo ra bằng chứng xác đáng cho chủ quyền TQ. Ngay cả khi điểm quan sát thiên văn “Nam Hải” nằm trên các đảo Tây Sa, thì việc quan sát thiên văn đó… cũng không đủ để thể hiện ý chí của “Chính phủ đó thực hiện chủ quyền trên các đảo đá nhỏ này”. Hơn nữa một hành động nghiên cứu khoa học không thể tạo nên một danh nghĩa chủ quyền.

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Bất Lao Sơn: Cù Lao Chàm; Hoàn Châu: Nước Chămpa

>> Kỳ 6: Những luận cứ chủ quyền không vững chắc

Đuổi tàu TQ, bảo vệ tàu thăm dò VK2

Trong bóng tối mù sương, chúng tôi căng mắt quan sát vẫn chưa nhìn rõ cái gì trước mặt mình…. Hôm nay thời tiết xấu tệ, trời mưa bay tầm tã hơi nước bốc lên tạo thành hàng rào làm tầm nhìn bị hạn chế.
Trên máy VTĐ liên tục vang lên tiếng gọi từ tàu VK2 cảnh báo đây là khu vực nguy hiểm và yêu cầu tàu cá TQ ra khỏi khu vực.
– Phía tàu cá TQ phớt lờ mọi cảnh báo của ta, chúng vẫn lì lợm giữ nguyên hướng đi và vận tốc. Khi đi qua sau lái tàu VK2 tàu cá TQ đột ngột quay ngoắt 90 độ băng ngay vào tuyến cáp thăm dò của tàu VK2.
– Trên máy VTĐ của chúng tôi vang lên mệnh lệnh ngắn gọn dứt khoát :”Tàu … tàu… bảo vệ tàu VK2″ các tàu còn lại tổ chức vây bắt tàu cá TQ.

Dàn đội hình.

– 15 phút sau, đằng xa xuất hiện 2 bóng mờ mờ to vật vã. Sau hồi quan sát chúng tôi khẳng định đây là 2 tàu Ngư chính của TQ.

Đây là tàu cá TQ số 62226 đã băng ngang tuyến cáp của VK2. Dạng này là tàu cá vũ trang giả dạng các bác nhé!



Đây là Ngư chính 303 và 311 của TQ


Tàu VK2.


Các bạn thấy mấy cái tàu phía xa không? Đấy là đội hình bảo vệ đấy

Mệnh lệnh liên tục vang trên máy VTĐ các tàu tăng tốc ngăn chặn tàu Ngư chính. Tàu … thả xuồng tiếp cận tàu cá.
Ngay khi được “mệnh lệnh” này 2 tàu Ngư chính của TQ chia ra làm hai hướng tăng tốc lên 16 – 20 hải lý cắt qua mũi tàu chúng tôi.

Tàu cá 62226 hoảng hốt xịt khói chạy ra khỏi đám lùng nhùng. Thấy chúng tôi tăng tốc chúng còn thả lưới phía sau ngăn cản chúng tôi.
Đúng là bọn cáo già. Khi chúng tôi liên lạc qua kênh 16 chúng nói tàu bị mắc chân vịt vào tuyến cáp. Khi bọn mình áp sát nó chạy ầm ầm lên đến 16 hải lý/ giờ.

Sau 4 giờ đấu tranh ngăn cản quyết liệt, khôn khéo tàu TQ phải tháo chạy đi nơi khác.
Đây cũng là một chú Tung của giả dạng tàu cá Malaixia quanh quẩn khu vực để do thám.

Một tuần sau lợi dụng giông gió nổi lên chú lao vào trong khu vực. Anh em lại một phen vất vả. Địnhhúc cho một phát.



Tàu bọn mình ở trên biển lâu ngày rồi tiêu gần hết nước, tải trọng ko còn bao nhiêu lên gặp sóng to nhồi cả tàu lên trên mặt rồi đập xuống mặt biển ầm ầm.

Bọn này là tàu giả dạng rất lì lợm, bọn mình áp vào cách khoảng một lý nó mới rồ ga bỏ chạy.

Công tác canh phòng được thực hiện rất nghiêm ngặt. Trong vòng bán kính 35 hải lý, bất kỳ đối tượng nào khả nghi đều được theo dõi chặt chẽ bằng cả khí tài và mắt thường.
Bọn Tung đành lởn vởn phía ngoài.
Với bản chất cáo già, thâm hiểm chúng thay đổi kiểu tàu và giờ giấc liên tục hòng vượt qua sự kiểm soát của chúng tôi.
Vài ngày sau khi mặt trời mặt trời vừa lên, phía đường chân trời xuất hiện một chấm sáng, đã liên lạc qua kênh quốc tế nhưng ko có trả lời.

Báo động chiến đấu cấp 1. Tàu… tàu… tàu… dưới sự chỉ huy của tàu… bám sát đối tượng, sẵn sàng ép đối tượng ra khỏi khu vực. Các tàu còn lại bảo vẹ tàu Mẹ và tuyến cáp.
Các tàu của ta nhanh chóng tạo thành thế gọng kìm tiến thẳng về đối phương. Thằng này lợi dụng ánh mặt trời làm chói mặt chúng tôi để lẻn vào khu vực đây.


Thằng này cậy tàu to tốc độ cao thay đổi hướng đi và vận tốc liên tục hòng vượt qua sự truy cản của chúng tôi. Với kinh nghiệm nhiều lần đụng độ với “Cẩu tặc” chúng tôi hết ngáng chân lại xoạc thẳng và̉o mình hắn. Thì ra mày cũng nhát gan lắm. Thấy chúng tôi kiên quyết hắn sợ quá phụt khói lặn mất dạng.

Bọn mình kèm thằng này, ko khác gì hậu vệ vây tiền đạo, nó qua mặt được một tàu là có tàu khác chặn đầu ngay.

Âm mưu thủ đoạn của “Ông bạn tốt” là độc chiếm biển Đông do đó họ luôn duy trì sự có mặt của các lực lượng hành pháp và kinh tế trên vùng biển của ta như kiểu “Cứt trâu để lâu hóa bùn”.
Cận hàng của “ông bạn tốt”, đây là tàu trinh sát điện tử, thằng này chuyên thu tin và gây nhiễu phá hoại mạng thông tin.

Bà con ngư dân thấy lực lượng của ta ở khu vực này quá đông, ngư trường được bảo vệ tuyệt vời. Tự nhiên lượng tàu khai thác thủy sản tăng đột biến. Làm anh em chúng tôi một phen bở hơi tai để giải thích và hướng dẫn bà con tránh xa khu vực không làm ảnh hưởng đến quá trình thăm dò.
22h00 ngày … báo cáo chỉ huy phía … ở tọa độ… xuất hiện một nhóm tàu cá TQ. Các tàu… dưới sự chỉ huy của tàu… bám sát ko cho vào khu vực.
22h30 báo cáo chỉ huy ở tọa độ… có một mục tiêu khả nghi tàu Ngư chính. Các tàu chú ý quan sát, báo cáo kịp thời.
– Báo cáo chỉ huy xác định chính xác đây là tàu Ngư chính 310.

– Báo cáo chỉ huy ở tọa độ… phát hiện một mục tiêu chưa xác định được kiểu loại.
Bọn Tung đã thay đổi chiến thuật, chúng tấn công ta trên nhiều hướng với nhiều loại tàu hòng chia cắt lực lượng của ta.
Ông bắt được bài rồi mày có chạy đằng trời.
Biên đội tàu CSB… dưới sự chỉ huy của tàu CSB… theo sát tàu Ngư chính ngăn cản quyết liệt ko cho vào khu vực.

Các tàu… bám sát nhóm tàu cá ko cho thay đổi hướng đi.
Các tàu còn lại bảo vệ tàu Mẹ và theo dõi mục tiêu mới xuất hiện.
Cứ như vậy cho đến 6h sáng hôm sau tưởng được an bình. Ai ngờ chúng lại mò vào trên 4 hướng. Lực lượng của ta lại chia ra thành từng biên đội tàu để chặn chúng. Cho đến 11h sau khi không làm cách nào vào được chúng tạm lui ra.
12h00 báo cáo chỉ huy phát hiện tàu cá TQ đi thẳng vào khu vực. Biên đội tàu… ra ngăn cản.
12h15 báo cáo chỉ huy phát hiện tàu Ngư chính 310 đi thẳng vào khu vực. Biên đội tàu… ép hướng và ép lái tàu Ngư chính.

Biên đội CSB… sẵn sàng ứng cứu và hỗ trợ.

13h00 báo cáo chỉ huy tàu cá TQ cố tình vào khu vực, xin bắn pháo hiệu cảnh cáo. Đồng ý bắn pháo hiệu cảnh cáo.
13h30 báo cáo chỉ huy tàu Ngư chính đã vượt qua chúng tôi.


Biên đội tàu CSB… tăng tốc ngăn cản quyết liệt.

Báo cáo chỉ huy vận tốc lên 25 hải lý/giờ.
Thích đua phải không chú .

Tàu CSB… ép mũi, Tàu CSB… hỗ trợ phía trong.




Báo cáo chỉ huy tàu Ngư chính cách tàu Mẹ… hải lý. Chúng vẫn cố tình đi thẳng vào khu vực.
Các tàu… bảo vệ tàu Mẹ và tuyến cáp dưới sự chỉ huy của tàu CSB…
Các tàu… chuẩn bị phương án BM. tàu… đâm mạn…, tàu… đâm mạn… tàu đâm trực diện.
Các tàu còn lại bám sát sẵn sàng đâm va tiếp.
Lúc này tàu TQ giảm tốc độ và chủ động đi hướng đi an toàn.
Các tàu CSB bám sát khi nào mục tiêu ra khỏi tầm quan sát thì quay về khu vực.

Sau nhiều lần cố tình tìm cách vào khu vực nhưng không thoát được sự truy cản của chúng tàu Ngư chính 310 phải cúp đuôi chạy mất.
Ngày hôm nay là ngày vất vả nhất của chúng tôi, anh em đã đứng liên tục 20 tiếng trên đài chỉ huy.
Cả một quá trình đấu tramh đầy kiên quyết và khôn khéo, chúng tôi xua đuổi nhiều lượt tàu thuyền TQ cố tình xâm phạm vùng biển, thềm lục địa của ta; hướng dẫn bảo đảm an toàn hàng hải cho nhiều lượt phương tiện qua lại khu vực.
Chúng tôi đã bảo vệ thành công việc thăm dò địa chấn trước sự rình rập quấy phá của Tung . Tạo niềm tin cho đối tác nước ngoài trong việc bảo đảm an ninh cho công việc.
Chiến thắng này góp phần củng cố thêm niềm tin của nhân dân cả nước với sự nghiệp giữ gìn biển đảo của Đảng, Quân đội, các lực lượng khác.
Chúng tôi khẳng định rằng đây là chủ quyền của nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam. Chúng tôi muốn làm gì là làm không sợ bất cứ một thế lực nào.
Nguồn: Codon.4150[hoangsa.org]

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – Kỳ 3: Sử liệu Trung Quốc nói gì?

Trước  hết  Trung Quốc (TQ)  yêu  sách  chủ  quyền  trên các quần đảo  trên cơ sở quyền phát hiện và  sự quản lý. Lập luận của TQ bao gồm: 1. Người TQ đã phát hiện ra các đảo này sớm nhất và đã đặt tên cho chúng. 2. Ngư dân TQ đã khai thác các đảo này từ  hàng  nghìn  năm  nay. Điều đó chứng  minh  chủ quyền của TQ. 3. Sự  quy  thuộc  các  đảo  này  vào  TQ được củng cố bằng các phát hiện khảo cổ học. 4. TQ đã  thực  hiện  các  hành  động  cai quản trên các đảo này từ lâu đời. Chúng  ta  sẽ  xem  xét  lập  luận  của  TQ trong hai tiểu giai đoạn sau: thiết lập một danh nghĩa ban đầu và việc củng cố danh nghĩa đó.

>> Kỳ 2: Sức ép và phản ứng

“Từ  thời Hán Vũ  đế  trước  công  lịch  hai  thế  kỷ, nhân dân TQ đã bắt đầu đi lại trên biển Nam. Trải  qua  thực  tiễn  hàng  hải  lâu  dài  nhân  dân TQ  đã  lần  lượt  phát  hiện  các  quần  đảo  Tây  Sa (Paracels)  và Nam  Sa (Spratlys)” – Sách  trắng  của Bộ  Ngoại  giao  TQ  ngày 30.1.1980:  “Chủ  quyền  không  thể  tranh  cãi  của  TQ trên các đảo Tây Sa và Nam Sa” đã khẳng định như vậy. Để chứng minh danh nghĩa  lịch  sử của họ, phía TQ đã dựa trên những cuốn sách chính như sau:

– Nam châu dị vật chí của Dương Phù và Phù Nam truyện của Khang Thái, đều viết vào thời Tam Quốc (220-265); Vũ  kinh  tổng  yếu của Tăng Công  Lượng  (998-1078) và Đinh Độ (990-1053) thời Tống biên soạn; Mong Liang Lu được soạn dưới thời nhà Tống (960 – 1127); Đảo di chí  lược do Vương Đại Uyên soạn dưới thời nhà Nguyên (1206 – 1368); Đông Tây  dương  khảo của Trương Nhiếp  viết dưới thời nhà Minh (1368 – 1644); “Trịnh Hòa hàng hải đồ” trong  Vũ bị chí của Mao Nguyên Nghi biên soạn đầu thế kỷ XVII; Độc sử phương dư kỷ yếu của Cố Tổ Vũ đầu nhà Thanh; Hải  Quốc  văn  kiến  lục  của  Trần  Luân  Quýnh năm 1730; Dương  phòng  tập  yếu của  Nghiêm  Như  Dục viết, Trương Bằng Phi khắc năm 1828; Quỳnh Châu phủ chí giữa thế kỷ XIX; Quảng Đông đồ thuyết (1862-1875); Canh lộ bạ do ngư dân các đời kể lại.

 
Theo bản đồ do triều đình nhà Thanh ấn hành năm 1894 thì đến cuối thế kỷ XIX “lãnh thổ của Trung Quốc chỉ chạy đến đảo Hải Nam là hết” –  trong ảnh: Đại Thanh nhất thống toàn đồ (đảo nhỏ ở phía dưới là Hải Nam, gần đó bên trái là Giao Chỉ (VN), đảo lớn hơn bên phải là Đài Loan) – Ảnh: biengioilanhtho.gov.vn

Các  sách  kể  trên  hoàn  toàn  không  phải  là  các chính  sử  được  viết  bởi  các  cơ  quan  chính  thức  của nhà nước. Phần  lớn chúng  là những ghi chép về các chuyến đi, các chuyên khảo và các sách hàng hải thể hiện những nhận biết địa  lý của người xưa  liên quan không chỉ  tới  lãnh  thổ TQ mà  còn  tới  lãnh thổ của các nước khác.

Ví dụ, Hải Quốc văn kiến lục, đúng  như  tên  sách,  phần  lớn  nói  về  các  miền  mà người TQ gọi  là “man di” nhiều hơn  là TQ.

Sách Tống  sử phần Ngoại  quốc  chép  chuyện Chiêm  Thành: “Năm  Thiên  Hy thứ  hai  (1016)  vua Chiêm Thành là Thi Mặc Bài Ma Diệp sai sứ là La Bi Đế Gia chở đồ cống sang… La Bi Đế Gia nói  rằng người nước  tôi  trên đường sang Quảng Châu, nếu bị thuyền  dạt  ra Thạch Đường thì cả năm cũng không tới nơi được”.  Cứ  theo  đó  mà  suy  thì  từ  Chiêm Thành  đến Quảng Châu có vùng được  gọi là Thạch Đường  nhưng  không  có  nghĩa  Thạch  Đường  thuộc Quảng Châu và vì sách  này  chép  về  các  vùng  nước người  TQ coi  là “man  di”  thì  nó  không  thể được coi là thuộc  TQ.

Sách Dư  địa  chí, quyển  4  phần Cương vực  chép: “Phía ngoại vi của Quỳnh Châu là biển lớn tiếp với các châu Ô, châu Lý, Tô Cách Lương, phía Nam đến Chiêm Thành, phía Tây đến Chân Lạp, Giao Chỉ, phía Đông đến Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường… Người  địa phương đi thuyền đều không biết rõ đâu là vị trí thực của chúng”. Trong tất cả các sách kể trên, liệt kê một đống lẫn lộn các tên Cửu Nhũ Loa Châu,  Thạch Đường, Thiên Lý Vạn Đường, Trường Sa, Thiên Lý Trường Sa và Vạn Lý Trường Sa nhưng  không  có tên Tây Sa và Nam Sa. Bản  thân người TQ cũng  không định  rõ được  vị  trí  của  chúng. Điều đó, không nghi ngờ gì đã dẫn tới những cuộc tranh cãi bất tận giữa các nhà dịch thuật và các học giả về việc thống nhất các tên gọi trên. Mặc dù Hung dan Chiu và Choon Ho Park cho rằng Vạn Lý Thạch Sành chỉ Spratlys, M.S Samuels  lại bảo vệ tên đó dùng để chỉ đá ngầm mà ngày nay có tên gọi là Trung Sa (Macclesfield Bank).

Phù Nam truyện chép: “Trong Trướng Hải có các bãi san hô, dưới bãi là đá tảng san hô mọc trên đó”.

Nam Châu di vật chí ghi lại: “Kỳ đầu Trướng Hải nước nông có nhiều từ thạch,  thuyền  lớn  nằm  ngoài biên cương, đóng đai sắt, đi lại dựa trên la bàn”.

Xuất phát từ những ghi chép đó, người TQ cho rằng Trướng Hải  là biển Nam Trung Hoa bao gồm tất cả các đảo của biển Nam Hải. Tuy nhiên, chúng ta có thể có một vài nhận xét:

– Các đoạn văn trích trên không cho thấy rõ vị trí chính xác của Trướng Hải. Chúng cũng không xác định rõ các thạch sành nói trên chính là Tây Sa và Nam Sa. Các sách trên, đúng như tên gọi, đều là miêu tả các lãnh thổ “man di”, nước ngoài, không phải lãnh thổ TQ.

– Nam Châu dị vật chí được soạn thời Tam Quốc (220-265) lại nói tới việc sử dụng la bàn trong hàng hải, thế nhưng dụng cụ hàng hải này dường như chỉ mới xuất hiện từ thế kỷ thứ X.

– Cụm từ “nằm ngoài biên cương” cho thấy  các đảo đá này không thuộc lãnh thổ TQ. Giả định này còn được khẳng định bởi các  tài  liệu chính thức khác của TQ mô  tả  và phân định  lãnh thổ của “Thiên triều” kết thúc ở điểm cực Nam của đảo Hải Nam như: Quỳnh Châu  phủ chí  (1731), Hoàng Triều di tông tâm lĩnh (1894), Đại Thanh di đồ (1905)… hay các sách, bản đồ cổ khác của người TQ đều xác định rõ điểm mút phía Nam của lãnh thổ TQ nằm ở Nhai Châu, thuộc phủ Quỳnh Châu tỉnh Quảng Đông tại vĩ độ 18o13’ Bắc. Điều đó còn được khẳng định bởi sách Địa lý Giáo khoa thư, Thương Vụ ấn Thư Quán, Thượng Hải (TQ) năm 1906 xuất bản: “Phía Nam bắt đầu là vĩ độ 18o13’ Bắc lấy bờ biển Châu Nhai đảo Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam) làm điểm mút”. Chúng ta không thấy trong các tác phẩm này một ghi chép nào về các quần đảo nằm ngoài điểm cực Nam đó.

TS Nguyễn Hồng Thao

>> Kỳ 4: “Bằng chứng khảo cổ” mập mờ và thiếu chính xác của Trung Quốc