Tag Archive: chiến


Hải chiến Trường Sa 1988: Lá cờ màu máu mãi thắm tươi

 

25 năm trước, ngày 14-3-1988, hải quân Trung Quốc đưa tàu đến gây sự ở 3 đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Trong cuộc chiến không cân sức ấy, những người lính hải quân Việt Nam đã xả thân giữ đảo, để máu mình tô thắm cờ Tổ quốc.

Quyết tử vì Gạc Ma

Dù đảo Gạc Ma đã bị Trung Quốc xâm chiếm trái phép nhưng trong cuộc hải chiến 14-3-1988, hình ảnh những cột cờ sống và “vòng tròn bất tử” vẫn khắc sâu trong tâm trí bao người…

Anh hùng Nguyễn Văn Lanh, người vào sáng 14-3-1988 đã cùng thiếu úy Trần Văn Phương và các chiến sĩ hải quân (hải quân) được cử từ tàu vận tải hải quân-604 lên đảo Gạc Ma bảo vệ cờ Tổ quốc, nhớ lại: “hải quân Trung Quốc (Trung Quốc) hạ xuồng từ tàu lớn mang theo nhiều lính trang bị vũ khí hạng nặng đổ bộ lên Gạc Ma. Chúng cho rằng công binh đang xây dựng đảo của ta ít, chỉ trang bị thô sơ, có người thậm chí không vũ khí trong tay, sẽ dễ dàng bị khuất phục. Nhưng chúng đã nhầm!”.

Còn cờ, còn đảo

Trong trận hải chiến ngày 14-3-1988, trong 3 đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao, cuộc đối đầu khốc liệt nhất diễn ra tại Gạc Ma. Theo đại tá Nguyễn Hữu Doanh, người chuyên lo kế hoạch cung ứng, tiếp tế nhu yếu phẩm và lên kế hoạch xây dựng nhà chủ quyền kiên cố trên các đảo ở Trường Sa những năm 1980, sở dĩ hải quân Trung Quốc tấn công Gạc Ma dữ dội nhất vì đảo này nằm ở vị trí đắc địa trong khu vực quần đảo Trường Sa và biển Đông.

Khi lính Trung Quốc đổ bộ lên Gạc Ma, đại úy Vũ Phi Trừ, thuyền trưởng tàu hải quân-604, giao nhiệm vụ cho thiếu úy Trần Văn Phương lên đảo cắm chốt, bảo vệ cờ Tổ quốc để xác định chủ quyền. Thấy lính Trung Quốc tiến vào đảo với số lượng lớn và sẵn sàng bắn vào ta, đại úy Trừ ra lệnh: “Ai bơi giỏi, lập tức vào hỗ trợ thiếu úy Phương”. “Tôi cùng 10 chiến sĩ nhảy xuống biển bơi vào đảo hỗ trợ anh Phương giữ cờ. Lúc ấy, trên đảo có khoảng 40 công binh của ta bị địch chĩa súng nã đạn không thương tiếc” – ông Nguyễn Văn Lanh hồi tưởng.

Ông Lanh không thể nào quên hình ảnh thiếu úy Phương hôm đó. Khi bị lính Trung Quốc bắn trọng thương, anh vẫn cố ngoi lên mặt nước, tay luôn giữ chặt lá cờ, tự biến mình thành cột cờ sống. “Khi bơi đến nơi, tôi đề nghị thiếu úy Phương về tàu cứu chữa nhưng anh ấy nói như ra lệnh: “Thà hy sinh chứ không thể để mất đảo. Hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng hải quân”. Sau khi dặn tôi và đồng đội tiếp tục giữ cờ Tổ quốc bằng mọi giá, anh Phương hy sinh” – ông Lanh nghẹn ngào.

Thấy người trước ngã xuống, người sau vẫn tiếp tục lao tới tự biến mình thành cột cờ sống trên biển, lính Trung Quốc lao đến giằng lấy. “Chúng dùng lưỡi lê và báng súng đâm và uy hiếp chúng tôi. Trong tay không vũ khí nhưng tôi vẫn chiến đấu không chút run sợ. Hai tên lính Trung Quốc lao vào, một tên đâm xuyên lưỡi lê qua vai tôi. Lúc đó, nhiều đồng đội bơi tới yểm trợ tôi tiếp tục giữ cờ” – ông Lanh xúc động.

Lòng quả cảm, ý chí sắt đá

Ông Nguyễn Văn Lanh cho biết những người lính hải quân Việt Nam trong gần 1 giờ quần thảo với lính Trung Quốc đã đứng kề vai nhau thành một “vòng tròn bất tử” để bảo vệ cờ, ngăn chặn chúng tiến sâu vào đảo. Chứng kiến ý chí chiến đấu quyết tử giữ đảo của hải quân ta, lính Trung Quốc đành rút về tàu. Chúng nã pháo điên cuồng vào tàu hải quân-604 neo đậu bên ngoài và những người lính trên đảo Gạc Ma. Trung tá Trần Đức Thông, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 146, thuyền trưởng Vũ Phi Trừ và hầu hết cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh hoặc chìm theo tàu hải quân-604 mất tích. Nhiều người bị thương nặng, trôi lênh đênh trên biển…

Anh hùng – đại tá Vũ Huy Lễ, người thuyền trưởng của tàu hải quân-505 nhận trách nhiệm đóng giữ đảo Cô Lin năm xưa, xúc động: “Tôi nhìn sang vùng biển Gạc Ma, thấy nhiều đồng đội vừa ngã xuống. Không thể để anh em nằm lại giữa biển khơi, chúng tôi đưa xuồng sang cứu. Tuy nhiên, hải quân Trung Quốc dùng súng AK bắn phá, không để chúng tôi cứu thương. Mặc, chúng tôi vẫn bình tĩnh, tiếp tục bơi xuồng sang. Suốt buổi sáng hôm ấy, chúng tôi đã vớt được 44 thương binh và tử sĩ”.

Đại tá Trần Minh Cảnh giờ đã bước sang tuổi 78 nhưng vẫn nhớ như in những giờ phút nóng bỏng 25 năm trước. Vị Chủ nhiệm Chính trị Vùng 4 hải quân vào thời điểm đó, người được anh em hải quân xem là “ra Trường Sa như đi xe buýt”, trầm mặc hồi tưởng những hình ảnh bi hùng của đồng đội năm xưa. “Đó là cuộc chiến không cân sức khi Trung Quốc với nhiều tàu chiến lớn, vũ khí hạng nặng; còn ta chủ yếu giữ đảo bằng lòng quả cảm và ý chí sắt đá bảo vệ chủ quyền” – ông tự hào.

Giữ vững Cô Lin, Len Đao

Sự kiện ngày 14-3-1988 được biết đến trong lịch sử hải quân Nhân dân Việt Nam với tên gọi CQ88 hay “Chủ quyền 88”. Khi đó, Tư lệnh hải quân là Đô đốc Giáp Văn Cương cùng Bộ Tham mưu đã trực tiếp chỉ huy Vùng 4 và các đơn vị có mặt ở Trường Sa chiến đấu, quyết giữ đảo. Một sở chỉ huy tiền phương được thành lập và đóng ở Quân cảng Cam Ranh – Khánh Hòa.

Đại tá Lê Xuân Bạ, nguyên chính ủy Lữ đoàn 146, Bí thư Huyện ủy Trường Sa, lúc đó là trung tá, Phó Chủ nhiệm Chính trị Vùng 4 hải quân – thuộc Sở Chỉ huy tiền phương, cho biết: Ngày 11-3-1988, tàu hải quân-604 của thuyền trưởng Vũ Phi Trừ được lệnh đến đóng giữ Gạc Ma, tàu hải quân-505 của thuyền trưởng Vũ Huy Lễ đóng giữ Cô Lin và tàu hải quân-605 nhận lệnh đến Len Đao. Phối hợp với các tàu này còn có 2 phân đội công binh thuộc Trung đoàn 83, 2 tổ chiến đấu thuộc Lữ đoàn 146 do trung tá – lữ đoàn phó Trần Đức Thông chỉ huy.

Sau trận hải chiến ngày 14-3-1988, dù chúng ta gặp tổn thất lớn về người với 64 chiến sĩ hy sinh nhưng hải quân Trung Quốc không dám mở rộng phạm vi xâm lấn; các đảo Cô Lin, Len Đao được giữ vững.

Theo NGƯỜI LAO ĐỘNG

 

TT – Quân và dân VN ngày 17-2-1979 buộc phải cầm súng một lần nữa, chiến đấu kiên cường trước một đội quân đông hơn nhiều lần, trên một phòng tuyến biên giới dài gần 600km.

TS Nguyễn Mạnh Hà – Ảnh: V.Dũng

TS NGUYỄN MẠNH HÀ, viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, nguyên đại tá, chính ủy sư đoàn 308 anh hùng, nhiều năm là viện phó Viện Lịch sử quân sự (Bộ Quốc phòng). Những ngày tháng 2 này, ông chia sẻ với Tuổi Trẻ về cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc từ ngày 17-2 đến 5-3-1979.

* Thưa ông, cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc xảy ra đến nay đã được 34 năm. Ông nói về sự kiện này như thế nào?

– Cuộc chiến tranh biên giới không chỉ bắt đầu từ ngày 17-2-1979, không chỉ bắt đầu sau câu chuyện “nạn kiều” 1978, cũng không chỉ bắt đầu từ những rạn nứt trong quan hệ Việt – Trung sau chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ năm 1975, một chiến thắng mà một số nhà sử học trên thế giới đã cho rằng Trung Quốc không mong muốn. Cũng không phải hoàn toàn như vậy mà nó có gốc rễ sâu xa từ những tính toán trong lợi ích chiến lược của cả Liên Xô và Trung Quốc trên phạm vi toàn cầu chứ không chỉ với một nước nhỏ như VN.

Sai sót lớn là chúng ta đã nhận ra quá muộn bản chất của chế độ Pol Pot. Năm 1977, đồng chí Lê Trọng Tấn được Quân ủy Trung ương cử vào biên giới Tây Nam nghiên cứu tình hình xung đột biên giới với Campuchia trở về, khi trở ra Hà Nội đã bức xúc khẳng định: “Đây không còn là xung đột nữa. Đây là một cuộc chiến tranh biên giới thật sự”. Lúc đó, chúng ta mới tìm hiểu đằng sau Pol Pot là ai. Là rất nhiều cố vấn nước ngoài từng giúp chúng ta trong cuộc kháng chiến trước đó.

Khi chúng ta tổ chức phản kích, tiến vào giải phóng Phnom Penh ngày 7-1-1979, giúp dân tộc Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, hồi sinh thì đúng 40 ngày sau, Trung Quốc phát động chiến tranh biên giới, với chiêu bài “dạy cho VN một bài học”. Quân chủ lực VN lúc đó đã tăng cường cho chiến trường Campuchia, Trung Quốc hi vọng VN sẽ gục ngã vì bất ngờ.

Lịch sử dân tộc ta có tới 17 cuộc chiến tranh chống xâm lược thì chúng ta đã chiến thắng 14, còn ba cuộc kháng chiến dai dẳng, hàng chục, thậm chí hàng trăm năm chúng ta bị nước ngoài đô hộ nhưng rồi dân tộc ta vẫn chiến thắng.Có thể trong lịch sử hiện đại, khái niệm biên giới quốc gia không còn được tính bằng các cột mốc nữa mà bằng “biên giới mềm”, “sức mạnh mềm”, bằng sự xuất hiện của hàng hóa, hình ảnh, văn hóa của quốc gia nào đó trên đất nước mình, nhưng tôi vẫn tin là chúng ta sẽ bảo vệ được nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của mình, một khi cả dân tộc kết thành một khối, dưới sự lãnh đạo của Đảng dày dạn kinh nghiệm cả trong chiến tranh và trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc

TS NGUYỄN MẠNH HÀ

Ông Trương Tấn Sang – khi là ủy viên Bộ Chính trị, thường trực Ban Bí thư – đến thắp hương tri ân các anh hùng liệt sĩ tại Pò Hèn (Quảng Ninh) ngày 26-5-2010 – Ảnh tư liệu

Quân và dân VN bị buộc phải cầm súng một lần nữa, đã chiến đấu kiên cường trước một đội quân đông hơn nhiều lần, trên một phòng tuyến biên giới dài gần 600km, và đã đánh bật được quân Trung Quốc về bên kia biên giới sau khi làm tổn thất đáng kể sinh lực đối phương.

* Liệu việc bình thường hóa quan hệ sau chiến tranh có làm chúng ta chịu những thiệt thòi nhất định như những điều kiện đi kèm thường thấy trong các hiệp định mà nước lớn thường áp đặt cho nước nhỏ?

– Cuộc chiến tranh biên giới chính thức kéo dài chỉ 17 ngày, từ 17-2 đến 5-3-1979. Nhưng những cuộc xung đột còn kéo dài đến tận năm 1988. Trong suốt chín năm, một phần đáng kể nhân tài vật lực của chúng ta đã phải dồn cho biên giới phía Bắc, trong khi Mỹ cấm vận, viện trợ của Liên Xô cắt giảm so với trước và Trung Quốc thì từ bạn thành thù. Có thể nói VN đã hao tốn nhiều sức lực vì cuộc chiến biên giới đó. Nếu căng thẳng tiếp tục kéo dài, VN càng ngày càng bất lợi. Chính vì vậy, năm 1988, khi VN chủ động rút quân chủ lực lùi xa biên giới 40km, tình hình biên giới lắng dịu ngay, và đến năm 1991 thì VN và Trung Quốc chính thức bình thường hóa quan hệ sau cuộc gặp giữa lãnh đạo hai nước ở Thành Đô, Trung Quốc.

Một người dân đến thắp hương tri ân các liệt sĩ tại đài tưởng niệm Pò Hèn (Quảng Ninh) tháng 2-2013 – Ảnh: Lê Đức Dục

Là một người nghiên cứu lịch sử, nhưng cũng là một người lính, tôi xin nói thẳng là dù bất cứ hoàn cảnh nào thì hòa bình vẫn là quý giá nhất. Chiến tranh biên giới kết thúc thật sự, chúng ta mới có thể tiếp tục sự nghiệp đổi mới, có những chính sách lâu dài và bền vững để phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống nhân dân, để có một vị thế mới trong bản đồ ngoại giao thế giới như hôm nay.

Nhưng như vậy không có nghĩa là trang sử về chiến tranh biên giới đã khép lại. Lịch sử bản chất là sòng phẳng, khách quan, cái gì đã xảy ra rồi cũng có lúc sẽ được đặt lại trên bàn cân lịch sử để luận định. Chúng ta nhìn lại chiến tranh biên giới, trước hết là để học bài học cho chính mình: cái gì lẽ ra đã có thể tránh được, cái gì cần nhớ để nhắc lại cho thế hệ sau.

Chúng ta cần có những sự vinh danh và tri ân các liệt sĩ đã ngã xuống để bảo vệ Tổ quốc trong cuộc chiến tranh ngắn ngủi mà đằng đẵng đó. Chúng ta cũng cần rút kinh nghiệm xương máu từ thực tế lịch sử của dân tộc mình khi hoạch định đường lối đối ngoại trong một thế giới hiện đại đang thay đổi từng ngày, lợi ích các bên đan xen nhau cực kỳ phức tạp. Cần hiểu rõ bạn – thù và phải đặt quyền lợi của dân tộc lên trước hết và trên hết thì mới có chính sách đúng được.

TTO

THU HÀ THỰC HIỆN

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979

Đúng vào ngày này 34 năm trước (17.2.1979), Trung Quốc bất ngờ tung hơn 60 vạn quân nổ súng xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía bắc, nhưng đã phải rút quân sau hơn một tháng gặp sự kháng cự mãnh liệt của quân và dân ta, chịu nhiều tổn thất nặng nề.

Tuy vậy cuộc chiến tranh xâm lược này cũng mở màn cho cuộc xung đột vũ trang tại biên giới giữa VN và Trung Quốc (TQ) kéo dài suốt 10 năm sau đó. Theo thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược – Bộ Công an, với độ lùi về thời gian, việc nhìn nhận lại cuộc chiến tranh này là hoàn toàn cần thiết.

 

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Thiếu tướng Lê Văn Cương

 

Kể từ sau khi VN và TQ bình thường hóa quan hệ (1991), hai bên dường như đều không muốn nhắc lại cuộc chiến này. Từ hơn 30 năm qua, cuộc chiến chống quân xâm lược Trung Quốc gần như không được nhắc tới. Theo ông tại sao cuộc chiến lại bị rơi vào lãng quên như vậy?

Để trả lời câu hỏi này có lẽ cần cả một hội thảo khoa học. Tôi chỉ xin lưu ý như sau, vào những năm kỷ niệm chẵn 10, 15… hay gần đây nhất là 30 năm sau cuộc chiến tranh chống TQ xâm lược (2009), báo chí, truyền hình của VN gần như không đưa tin gì về sự kiện này. Đây là một sự thiếu sót lớn trên góc độ Nhà nước. Hơn thế nữa, đó là một sự xúc phạm đến linh hồn của những đồng bào, chiến sĩ đã bỏ mình để bảo vệ Tổ quốc trong cuộc chiến tháng 2.1979 và gần mười năm sau đó. Họ nằm dưới mộ có yên không? Gia đình vợ con bạn bè và những người thân thích của họ sẽ nghĩ gì về chuyện này?  Đã có ý kiến cho rằng nhắc đến những chuyện này cũng có nghĩa là kích động chủ nghĩa dân tộc. Tôi có thể khẳng định rằng nói như vậy là ngụy biện.

Trong khi chúng ta im lặng thì những dịp đó chúng tôi đã thống kê hệ thống phát thanh, truyền hình báo chí của TQ tung ra trung bình từ 600-800 tin, bài với những cái tít gần như có nội dung giống nhau về cái mà họ gọi là “cuộc chiến tranh đánh trả tự vệ trước VN”. Có thông tin cho rằng hiện tại có tới trên 90% người dân TQ vẫn quan niệm rằng năm 1979 Quân đội VN đã vượt biên giới sang tấn công TQ và bắt buộc TQ phải tự vệ đánh trả. Từ hàng chục năm nay, hệ thống tuyên truyền của TQ đã nhồi nhét vào đầu người dân TQ rằng cuộc chiến 1979 chỉ là cuộc phản công trước sự xâm lược của VN.

Theo tôi nghĩ, trong tuyên truyền đối nội và đối ngoại, cả ở kênh nhà nước, nhân dân và trên truyền thông, chúng ta phải làm rõ và góp phần làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ bản chất của cuộc chiến tranh Việt – Trung 1979. Đồng thời góp phần làm cho hơn 1,3 tỉ người TQ biết được sự thật rằng vào ngày đó hơn 60 vạn quân TQ đã vượt biên giới xâm lược VN. Việc chúng ta im lặng hàng chục năm qua, theo tôi là  không đúng. Việc nói ra cũng không liên quan gì chuyện kích động chủ nghĩa dân tộc. Hãy thử so sánh chuyện đó với việc TQ tung ra hàng nghìn bài báo xuyên tạc lịch sử từ hàng chục năm qua.

 

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Bộ đội Việt Nam đánh trả quân Trung Quốc xâm lược tại Lạng Sơn năm 1979

 

Với độ lùi về thời gian, theo ông chúng ta có thể rút ra những điều gì từ cuộc chiến tranh này? Những điều đó có ý nghĩa thế nào trong bối cảnh hiện tại ?

Theo tôi, khoảng thời gian 34 năm đã là khá đủ cho chúng ta nhận thức lại những vấn đề xung quanh cuộc chiến 1979. Thế nhưng đến giờ phút này tôi có cảm giác không phải lúc nào chúng ta cũng có được sự nhận thức thống nhất, nhất quán từ trên xuống dưới.

Vấn đề thứ nhất, phải xác định rõ về mặt khoa học, cuộc chiến 1979 là cuộc chiến tranh chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc. Đây là vấn đề phải nhận thức rõ từ cấp cao nhất. Sự nhận thức ấy cũng phải được thống nhất trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Đây là chuyện không được phép mơ hồ.

Không chỉ nhận thức mà Nhà nước có trách nhiệm đưa câu chuyện này vào sách giáo khoa. Thực tế cho thấy phần lớn học sinh tiểu học, trung học và thậm chí đa số trong 1,4 triệu sinh viên hầu như không biết gì về cuộc chiến tranh này. Nếu để tình trạng này kéo dài, trách nhiệm thuộc về Nhà nước. Chắc chắn chúng ta sẽ không tránh được sự phê phán của thế hệ sau này. Hàng vạn người con ưu tú của chúng ta đã bỏ mình để bảo vệ từng tấc đất biên giới phía bắc của Tổ quốc, tại sao không có một dòng nào nhắc đến họ? Bây giờ đã quá muộn. Nhưng không thể để muộn hơn được. Theo quan điểm của tôi, Nhà nước phải yêu cầu đưa phần này vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Chúng ta không thể mơ hồ được, không thể  lờ đi vấn đề lịch sử này được.

 

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Bệnh viện huyện Trùng Khánh, Cao Bằng bị quân Trung Quốc tàn phá tháng 2.1979 – Ảnh: Tư liệu

 

Tôi đã nhiều lần trao đổi với các học giả nước ngoài và họ đã thắc mắc khá nhiều chuyện tại sao sự kiện chiến tranh chống quân TQ xâm lược năm 1979 lại không được nhắc đến trong các giáo trình lịch sử của VN. Tôi đã phải chống chế với lý do rằng người VN muốn quên đi quá khứ và hướng đến tương lai. Nhiều học giả Hàn Quốc, Nhật Bản đã phản bác tôi vì “Lịch sử là lịch sử. Quá khứ là quá khứ. Tương lai là tương lai”. Họ nói rằng: “Chúng tôi biết người VN rất nhân hậu, muốn hòa hiếu với các dân tộc khác. Nhưng điều này không thể thay thế cho trang sử chống ngoại xâm này được”.

Thứ hai,  trong thế giới hiện đại toàn cầu hóa, các quốc gia đều phụ thuộc lẫn nhau. Không có quốc gia nào hoàn toàn độc lập tuyệt đối. Ngay cả Mỹ nhiều lúc cũng phải nhân nhượng các quốc gia khác. Chúng ta không có quan niệm về độc lập chủ quyền tuyệt đối trong thời đại toàn cầu hóa. Nhưng trong bối cảnh này, phải nhận thức rõ cái gì là trường tồn? Theo tôi có 3 thứ là chủ quyền quốc gia, ý thức dân tộc và lợi ích quốc gia. Ở đây chúng ta phân biệt chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, chủ nghĩa dân tộc nước lớn với lòng yêu nước chân chính, ý thức tự tôn tự hào dân tộc. Hai cái đó khác nhau. Người VN có truyền thống yêu nước, có tinh thần chống ngoại xâm bất khuất, đó là điều cần được phát huy trong 92 triệu người VN trong và ngoài nước.

Chủ quyền quốc gia, ý thức dân tộc và lợi ích quốc gia là những cái “dĩ bất biến”, những cái còn lại là “ứng vạn biến”. Những chuyện “16 chữ”, “bốn tốt” trong quan hệ với TQ là “ứng vạn biến”. Bài học từ cuộc chiến chống xâm lược năm 1979 cho thấy nếu không nhận thức được điều này thì rất nguy hiểm.

Thứ ba, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, tiêu chí để phân biệt người yêu nước hiện nay là anh có bảo vệ lợi ích quốc gia hay không. Trên thế giới này không có bạn bè vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia mới là vĩnh viễn. Năm nay chúng ta chuẩn bị tổng kết Nghị quyết T.Ư 8 (7.2003) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Tôi thấy có một quan điểm bây giờ vẫn đúng, đó là: “Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh”. Đồng thời, cũng phải có cách nhìn biện chứng về đối tượng và đối tác: trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong một số đối tác, có thể có mặt khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của ta, cần phải đấu tranh.

 

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Tù binh Trung Quốc bị bắt tại Cao Bằng

 

Nhìn lại từ câu chuyện của 34 năm trước đến những căng thẳng hiện tại trong vấn đề biển Đông, theo ông có thể hy vọng gì ở tương lai trong quan hệ giữa VN và TQ ?

Tạo ra lòng tin, sự hữu nghị chân thật giữa hai nước là con đường tất yếu nhưng đòi hỏi thời gian lâu dài và từ cả hai phía. Đây không phải là điều có thể hy vọng có được trong vài ba năm tới đây. Lịch sử mách bảo chúng ta muốn giữ được hòa bình, ổn định, giữ được độc lập tự chủ thì điều quan trọng nhất là giữ được lòng dân. Trên dưới một lòng, có được sự đoàn kết dân tộc thì chắc chắn không có kẻ xâm lược nào dám dại dột động đến chúng ta cả. Lịch sử VN đã cho thấy những lần mất nước đều bắt đầu từ việc chính quyền mất dân. Năm 179 trước CN An Dương Vương để mất nước là do mất dân. Một ông vua đứng đầu quốc gia mà tin vào kẻ thù thì chuyện mất nước là không thể tránh khỏi. Năm 1406, nhà Hồ mất nước cũng vì đã mất dân. Đến mức độ nhà Minh truy bắt cha con Hồ Quý Ly thì chính những người trong nước đã chỉ điểm cho quân Minh. Năm 1788 Lê Chiêu Thống sang cầu viện Mãn Thanh đưa 20 vạn quân sang giày xéo quê cha đất tổ cũng là ông vua đã mất dân. Đó là bài học muôn đời để bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Ng.Phong
(thực hiện)
nguồn: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130217/nhin-lai-chien-tranh-bien-gioi-1979.aspx

Đây là 1 bài viết dài của mình về tổ chức khủng bố Việt Tân, chủ yếu từ các thông tin ngay tại Mỹ, ngay từ những bọn chống Cộng kiêm chống Việt Tân. Bài này nằm trong 1 dự án về tổ chức khủng bố VT mà mình đang hợp tác làm cùng Lê Dũng và 1 số bạn khác. Mấy ngày nay lướt web thấy có mấy đứa cò mồi của VT gào “nếu VT chống TQ thì tôi sẽ theo VT”. Báo chí và radio, TV Việt ngữ bên đây thì … nghe VT sủa điếc cả tai. Bực ko chịu nổi, VT chưa bao giờ chống TQ, chúng nó chỉ kêu gào bằng mồm và xúi con nít ăn cứt gà, xúi giục, kích động, khích tướng, rủ rê, dụ dỗ, lợi dụng người khác chứ bản thân chúng nó ko có chống gì TQ, chúng nó chỉ chống VN thôi. Thập niên 1980, trong lúc VN đang chống TQ công khai, thì chính bọn Việt Tân này đã vào VN khủng bố chứ ai vào đây. Bài này tính để dành post sau này, nhưng bực quá thôi post vào đây luôn cho các bạn tham khảo, đây cũng là thời điểm thích hợp để mọi người biết đc mặt thật, chân tướng, bản chất của tổ chức khủng bố này. Để ý thức đc bất cứ cái gì dính vào VT thì nên hết sức thận trọng.

——————————————————-

2- Tổ chức khủng bố Việt Tân

Sau khi cuộc chiến chống Mỹ của Việt Nam kết thúc, một số phần tử ngụy quân và ngụy quyền chạy theo sang Mỹ. Một bộ phận trong số này chẳng những không ăn năn hối cải, không cải tà quy chính, mà còn ngày càng lầm đường lạc lối, dấn thân vào tội ác, do thù hận, do ngu dốt không thức thời, vì lợi ích cá nhân, vì những đồng đô la nhơ nhuốc, chúng đã điên cuồng chống phá Việt Nam. Chúng lập rất nhiều tổ chức, đảng phái, hội đoàn, “cộng đồng” khác nhau để chống lại đất nước. Một trong những tổ chức khủng bố ấn tượng nhất, gây nhiều tội ác nhất, chính là tổ chức khủng bố Việt Tân.

Tổ chức khủng bố “Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng”, gọi ngắn gọn là “Việt Tân”, với lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng, là một tổ chức khủng bố xuyên quốc gia do cựu phó đề đốc ngụy Sài Gòn Hoàng Cơ Minh thành lập và huấn luyện, dưới sự tài trợ của chính phủ Hoa Kỳ trong thời Chiến tranh lạnh và trong thời gian Việt-Mỹ chưa bang giao. Sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ, Việt Tân vẫn được chính phủ Mỹ, chủ yếu những thành phần chính trị gia phản động, diều hâu, vẫn còn mang tư tưởng thực dân đế quốc, chống Việt Nam, chống XHCN, hoặc những chính trị gia cơ hội (muốn tranh thủ Việt Tân để lợi dụng chúng vận động kiếm phiếu trong cộng đồng người Việt hải ngoại) trong chính phủ Mỹ tài trợ qua nhiều quỹ khác nhau. Tổ chức khủng bố này hoạt động với chiêu bài “quang phục Việt Nam”, “phục quốc”, “đem lại tự do, dân chủ, nhân quyền, phú cường cho Việt Nam”. Chúng không dám thừa nhận bản chất khủng bố của mình, mà thường tự xưng, tự phong mình là những “nhà hoạt động nhân quyền”, “nhà dân chủ”, “người bất đồng chính kiến”, “người có quan điểm khác biệt”, “chiến sĩ tự do” (freedom fighter) v.v.

3- Những hoạt động của Việt Tân

Trong những năm 1980, dưới tên gọi “Mặt trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam” hoặc còn được gọi là “Mặt trận Hoàng Cơ Minh”, tổ chức khủng bố Việt Tân đã nhiều lần đem các loại súng đạn, chất nổ, lựu đạn, mìn, tiền giả, ma túy vào Việt Nam để phá hoại xã hội, khủng bố người dân và khủng bố chính quyền.

Trong thập niên 1990, sau khi Mỹ chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam, đồng thời manh nha có ý tưởng “chống khủng bố” và sử dụng chiêu bài này để bành trướng quốc tế, xác định “kẻ thù chính của nước Mỹ chính là chủ nghĩa khủng bố”, thì Mặt trận Hoàng Cơ Minh cũng lập tức đổi tên thành “Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng” (Việt Tân) và tuyên bố cái gọi là “cương lĩnh mới” của chúng, hứa hẹn từ nay sẽ không còn đấu tranh bạo lực giết người nữa mà chuyển sang đấu tranh “bất bạo động”, bằng tuyên truyền chính trị, phù hợp với sự chuyển đổi sách lược từ chiến tranh bạo động sang Diễn Biến Hòa Bình của Hoa Kỳ và phương Tây. Tức quan thầy thay đổi sách lược thì đệ tử cũng thay đổi sách lược. Quan thầy tuyên bố “tôi đây chống khủng bố” và kêu gọi “chống khủng bố” thì đệ tử cũng vội vã thanh minh “tôi đây không phải là khủng bố”. Và cũng để quan thầy khỏi mang tiếng “tài trợ khủng bố”, nuôi dưỡng khủng bố.

Cũng trong những năm 1990, mặc dù bề ngoài đã tuyên bố thay đổi chiến lược từ bạo động sang “bất bạo động”. Nhưng thỉnh thoảng Việt Tân vẫn sai người vào VN đặt chất nổ, rải và dán truyền đơn, xách động, dụ dỗ, mua chuộc những thành phần bất mãn, những phần tử lưu manh, giang hồ, xã hội đen, tội phạm ở VN để hoạt động cho chúng. Hầu hết người của Việt Tân trong thời gian này khi bị bắt giữ ở VN đều tìm thấy vũ khí nguy hiểm trên mình chúng, như súng lục, lựu đạn, dao găm, lưỡi lê v.v.

Kể từ năm 2000, cuộc chiến “chống khủng bố” do Hoa Kỳ đứng đầu đã rất ác liệt. Mối quan hệ đối tác kinh tế Việt-Mỹ ngày càng tốt đẹp, thuận lợi. Thế giới văn minh hơn, yêu hòa bình hơn. Dân trí Việt-Mỹ ngày được nâng cao, tình thế đã khác xưa, thời thế thay đổi, nên Việt Tân ngày càng chuyển qua hình thức phá hoại chính trị, diễn biến hòa bình là chính, ít còn dùng bạo lực giết người cướp của như trước đây. Tuy nhiên, thỉnh thoảng chúng vẫn sai người về VN thực hiện các nhiệm vụ khủng bố để lấy tiếng. Nhằm thực hiện ý đồ vừa có thể khủng bố Việt Nam trong thời đại mới, vừa có thể tránh tiếng khủng bố, chúng đã tiến hành 2 bước:

1. Sai người về nước khủng bố. Trong thời gian điều tra, giam giữ phạm nhân thì Việt Tân ỡm ờ, không tuyên bố gì chính thức, và trả lời phỏng vấn kiểu nước đôi, ba phải, “văn chương huề vốn”, chung chung.
2. Sau khi tên khủng bố đã bị bắt, đã khai báo, đã tự viết bản nhận tội và ký tên và báo chí VN cho biết đây là thành viên của tổ chức khủng bố Việt Tân thì chúng mới tuyên bố chính thức và “minh định lập trường” rằng đây “không phải là người của chúng tôi”.

Hành động nước đôi, hai mặt này của Việt Tân xảo quyệt, hiểm độc ở chỗ nó vừa lấy tiếng được cho tổ chức này, rằng “chúng tôi vẫn có thực lực”, “chúng tôi có khả năng lật đổ chế độ VN”, “chúng tôi hoàn toàn có thể làm ra những việc lớn lao”, “chúng tôi có giá trị mặc cả”, “chúng tôi có đủ tư cách, đủ tiêu chuẩn để nhận tài trợ từ các quỹ của chính phủ Hoa Kỳ”, “chúng tôi có đủ tư cách để thu hút sự chú ý của chính phủ Mỹ và các chính phủ phương Tây khác”. Đồng thời cũng hé lộ, úp mở rằng ta đây có dây mơ rễ má với chính phủ Mỹ đấy nhé, nhằm ra oai với đồng bào hải ngoại. (Chứ 1 mình Việt Tân thì không dám làm những chuyện điên rồ như vậy nếu không có xếp Mỹ chống lưng) Mà cũng vừa tránh được tiếng khủng bố vì “chúng tôi đã tuyên bố chính thức rằng mình không phải khủng bố, và tên khủng bố này không liên quan với chúng tôi đấy nhé”. Như vậy, Việt Tân vừa lấy được tiếng, tăng cường “số má”, cường hóa “thương hiệu” của mình, và vừa tránh được tiếng khủng bố, tránh cho chủ Mỹ cái tiếng “nuôi khủng bố”, “tài trợ khủng bố”.

Một chiêu làm mãi cũng nhàm và bị chủ Mỹ chê là “one trick pony” (ngựa con chỉ biết diễn mỗi một trò), nên thỉnh thoảng Việt Tân cũng “mix it up” (thay đổi những cách đối phó khác nhau) bằng cách là trong nhiều trường hợp khác, thay vì làm bộ làm tịch tuyên bố “không phải người của chúng tôi” thì Việt Tân nói huỵch toẹt ra là “đây đúng là người của chúng tôi, nhưng họ không có khủng bố, công an CSVN đã vu oan giáo họa cho họ và viết giả các bài viết thú tội, giả mạo chữ ký của họ”, khi báo CAND đưa lên hình ảnh chữ viết, chữ ký, và những phạm nhân tự thú bằng chính lời nói của chúng trước máy ghi âm, máy quay, thì Việt Tân lại sửa giọng “quản giáo CSVN đánh đập tra tấn các tù nhân lương tâm của chúng tôi, hăm dọa họ, đe dọa gia đình họ, bắt ép họ phải nói, phải viết theo ý CSVN, theo kịch bản của CSVN v.v.” Mặc dù trong các video clips ai cũng thấy rõ những tên hèn nhát “chưa khảo đã khai” này tự thú rất ngoan ngoãn, trôi chảy, và không hề có dấu hiệu thương tích sứt mẻ hay bị đánh đập gì, hay bị sức ép tâm lý gì.

Nói chung, trong thập niên 1980, Việt Tân không hề che giấu bản chất khủng bố cố hữu của mình. Trong thập niên 1990 thì Việt Tân bề ngoài tuyên bố “bất bạo động” bằng mồm, nhưng bên trong thì vẫn có những đợt chống phá khủng bố thô bạo. Trong thập niên 2000 thì chúng hạ nhiệt khủng bố, tăng cường phá hoại bằng Diễn biến hòa bình. Tuy nhiên thỉnh thoảng làm vài cú để chứng tỏ với quan thầy rằng “chúng em vẫn còn xài được” và xù lông ra uy với đồng bào hải ngoại và các phe phái khác, các tổ chức khủng bố khác rằng “bọn tao vẫn còn số má lắm”. Nếu xưa kia đường lối của Mỹ đối với các nước XHCN và Việt Tân đối với VN thuần túy là bạo lực đẫm máu thì ngày nay đường lối và chủ trương của chúng là “Diễn biến hòa bình kết hợp bạo loạn lật đổ”, tức chúng dùng biện pháp hòa bình, ôn hòa, bất bạo động kết hợp với bạo động lật đổ. Mà biện pháp bất bạo động, cách mạng màu, cách mạng da cam, cách mạng nhung, cách mạng đường phố, dụ dỗ và kích động những người chống đối đổ xô ra đường để làm náo loạn đường phố, kinh động xã hội, rối loạn trật tự an ninh, là nhiệm vụ chủ yếu. Biện pháp bạo động, khủng bố ngày nay chỉ còn là những biện pháp phụ, có tính chất hỗ trợ.

Những nhân vật chóp bu lãnh đạo Việt Tân của thời khủng bố lộ liễu, trắng trợn vào thập niên 1980 (như Đỗ Hoàng Điềm, Hoàng Cơ Định em ruột Hoàng Cơ Minh, Lý Thái Hùng v.v…) cũng chính là những tên lãnh đạo tổ chức này trong thời khủng bố nhát gừng và diễn biến hòa bình hiện nay.

Địa bàn hoạt động của Việt Tân bao gồm khắp nơi trên đất Mỹ. Chúng luôn tìm cách khủng bố ở Việt Nam và cơ quan ngoại giao VN tại một số nước láng giềng, nhưng thường bị bắt trước khi thủ ác. An ninh VN đã và đang cài rất nhiều người trong hàng ngũ của chúng, mỗi khi chúng về nước là bị chặn bắt ngay từ phi trường, hoặc theo dõi ngay từ đầu tới cuối.

Tại Hoa Kỳ, bọn Việt Tân luôn thò cánh tay lông lá vào các cộng đồng người Việt, các thành phố có nhiều đồng hương, nhúng tay vào hầu hết các đảng phái, tổ chức, hội đoàn, báo chí, truyền thông, nhà xuất bản, trung tâm thương mại, cơ sở kinh doanh v.v. Trong nước thì chúng luôn tìm cách dùng điện thoại, Internet, e-mail, và cả Paltalk để móc nối, bắt liên lạc, để lấy tiếng với quan thầy. Ngoài nước thì chúng cũng không ngừng bành trướng thế lực, mở rộng địa bàn, cài cắm đồng bọn vào các tổ chức khác, tạo ra các tổ chức ngoại vi, các tổ chức đối lập cuội, mua chuộc, dụ dỗ, hăm dọa những người thuộc tổ chức khác. Chúng như một tổ chức băng đảng lưu manh quy mô lớn, không ngừng tìm cách mở rộng thế lực, bành trướng địa bàn, thôn tính các phe nhóm khác để độc quyền bá chủ, độc quyền chống Cộng, độc quyền làm trùm, độc quyền hưởng phân (fund) Mỹ. Hành động bành trướng, lũng đoạn, phá rối, quấy phá các phe đảng khác và có mưu đồ muốn xóa sổ họ của Việt Tân cũng đã bị các phe phái chống cộng khác chống trả quyết liệt, và phản pháo, lên án, vạch trần âm mưu thủ đoạn của chúng các đài báo chống cộng khác tại hải ngoại.

4- Những tội ác khủng bố, lừa đảo của Việt Tân đối với Việt kiều hải ngoại

Mặc dù luôn rêu rao và khoe chiêu bài “đấu tranh vì tự do ngôn luận tại Việt Nam” nhưng Việt Tân có một “thành tích” đáng sợ về khoản giết người bịt miệng, khủng bố Việt kiều hải ngoại, nhất là trong thời gian cuối thập niên 80, khi Việt Tân còn mang tên “Mặt trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam” hay “Mặt trận Hoàng Cơ Minh” và thời gian sau khi Hoàng Cơ Minh bị quân dân Việt – Lào bắn chết trong chiến dịch khủng bố mang tên “Đông Tiến”. Để tiếp tục lừa tiền đồng hương và không muốn làm hụt hẫng không khí chống Việt Nam tại Mỹ, những tên chóp bu, đầu mục, đầu sỏ, cầm đầu băng đảng khủng bố Việt Tân đã bưng bít thông tin, giấu diếm ém nhẹm đi tin tức Hoàng giáo chủ đã “băng hà”. Hoàng Cơ Định trâng tráo cầm micro tuyên bố chắc như đinh đóng cột rằng “Chiến hữu Hoàng Cơ Minh, và cũng là anh trai tôi, vẫn còn sống và đang hoạt động chống Cộng sản quyết liệt trong các rừng già tại biên giới Việt – Lào”, Đỗ Hoàng Điềm thì phụ họa tuyên bố chắc nịch trên đài phát thanh rằng “Chủ tịch Hoàng Cơ Minh không hề tuẫn tiết gì cả, đó chỉ là thông tin tuyên truyền dối trá của VC, không thể nào tin được”. Trong khi hình xác chết của Hoàng Cơ Minh đăng rõ ràng trên mặt báo. Rất tiếc xưa nay báo chí VN không được phép lưu hành tại hải ngoại, hầu hết những siêu thị, nhà sách nào phát hành báo chí trong nước đều bị những kẻ luôn mồm “đấu tranh cho tự do báo chí”, “đấu tranh cho tự do thông tin” kéo bè kéo đảng đến biểu tình, ăn vạ, bắt phải dẹp bỏ, có lúc chúng cho lâu la tự tay đem đốt hoặc giục những tờ báo trong nước vào thùng rác. Do bị bưng bít thông tin, rất nhiều người không biết trùm khủng bố Hoàng Cơ Minh đã đền tội, vẫn quyên tiền cho Việt Tân để chống phá trong nước.

Để lừa đảo, gạt tiền quyên góp từ đồng hương. Không những Việt Tân giấu diếm, bưng bít thông tin về cái chết của Hoàng Cơ Minh, mà chúng còn giả mạo những lá thơ “do Hoàng Cơ Minh gởi về”. Đôi khi chúng còn viết trên các tờ báo của chúng, chúng tuyên bố trên các đài phát thanh của chúng rằng “Chủ tịch Hoàng Cơ Minh có điện thoại về”… Những người nào nêu nghi vấn hoặc tố cáo, vạch trần trò lừa gạt bịp bợm của chúng đều bị chúng thuê xã hội đen đánh đập, dằn mặt, thủ tiêu. Như trường hợp chúng thuê người bắn chết ký giả Lê Triết, khủng bố vợ con của ông này. Ám sát hụt giáo sư Cao Thế Dung. Vợ ký giả Lê Triết và ông Cao Thế Dung từng kiện Việt Tân ra tòa vì tội mưu sát, nhưng cũng như bao vụ khác, những tên cầm đầu Việt Tân đều được trắng án và tha bổng một cách vô lý, kỳ lạ, mờ ám, và có dấu hiệu tiêu cực. Cho thấy ai là kẻ thật sự đứng sau lưng Việt Tân. Có rất nhiều cựu thành viên Việt Tân, bao gồm cả những tên từng là lãnh đạo cấp cao, đã viết sách, viết báo tố cáo bản chất tội lỗi, tàn bạo, hung ác, man rợ của Việt Tân, và những chuyện nội bộ nhơ nhớp, dơ dáy, bẩn thỉu mà Việt Tân bưng bít, trong đó chủ yếu là những chuyện lừa gạt, gian lận tiền bạc, kết bè kết cánh, ăn chia không đồng đều, khủng bố thanh toán người khác v.v. có không ít những chuyện chúng chém giết thanh toán, loại bỏ, trừ khử lẫn nhau vì đồng tiền và quyền lực. Có những người đã thoát ly Việt Tân từ lâu nhưng vẫn thường xuyên bị quấy rối, dằn mặt, hăm dọa tính mạng, khi thì bị gọi điện thoại phá (prank call), lúc thì bị chọi trứng, cà chua, gạch đá vào cửa sổ xe, cửa nhà, cửa sổ nhà v.v. Chúng thường thuê các nhóm xã hội đen, trộm cướp, và nhất là các băng đảng (gang) vốn đầy rẫy ở các trường trung học Mỹ, những tên thiếu niên này cần tiền, có tiền thì việc gì chúng cũng làm và không cần biết người bỏ tiền cho chúng là ai. Vì vậy thuê bọn bất hợp pháp, bọn gangster, bọn vô gia cư (homeless) này thì thường rất dễ chạy tội. Chúng thường thuê bọn gang “hit-n-run” và “drive by shooting” (chạy ngang bắn rồi chạy luôn), thường chúng bắn vào nhà, vào cửa, vào cửa gara, vào xe, vào bánh xe v.v. để khủng bố tinh thần, khủng bố tâm lý những người bất đồng chính kiến. Nghiêm trọng hơn là chúng dò biết trước và đậu xe chờ đến khi chủ nhà vừa mở cửa ra ngoài là bị bắn gục ngay trước cửa nhà.

Tất cả những cơ sở kinh doanh, thương mại, của Việt Tân cũng như của người khác, bất kỳ lĩnh vực gì, từ siêu thị cho tới nhà sách, tiệm video, văn phòng dịch vụ, địa ốc, bảo hiểm v.v. miễn sao người Việt là chúng kéo đến đặt thùng tiền “yểm trợ kháng chiến” hoặc “yểm trợ quốc nội” hoặc “yểm trợ phục quốc”. Chỉ có người Mỹ là chúng không dám đụng tới. Chúng chẳng khác gì bọn giang hồ chuyên kéo lâu la tới đòi tiền bảo kê, dĩ nhiên chẳng ai dám chống lại. Gọi cảnh sát địa phương thì cũng vô dụng, vì chúng sẽ giải thích là “chúng tôi chỉ đặt thùng tiền quyên góp mà thôi” và sau đó chủ thương mại sẽ phải dọn đi nơi khác vì không chịu nổi đòn trả thù tàn bạo và dai dẳng của chúng. Có khi chỉ là những trò biểu tình nhân danh “tự do ngôn luận”, “tự do biểu tình” của chúng để phá chuyện làm ăn của người ta, chiếm chỗ đậu xe của khách hàng, đưa kẻ bị hại đến tình trạng nhẹ thì lỗ lã, nặng thì phá sản, chúng sẽ tận dụng các báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình Việt ngữ của chúng để “đập” và “dìm hàng” đối tượng tơi tả, bịa đặt, xuyên tạc, vu khống, ngậm máu phun người, thậm chí chụp mũ họ là Việt Cộng, bịa đặt chuyện đời tư dơ bẩn v.v. để người ta thân bại danh liệt, phải bỏ sang tiểu bang khác. Nghiêm trọng hơn là chúng trả thù trực diện, cho người dán những tấm hình có biểu tượng đe dọa tính mạng vào cửa nhà, hay chỉ là đem vài con dao, vài khẩu súng đặt trước cửa nhà người ta để “nhắn nhủ”, “đánh tiếng”, hăm dọa, khủng bố tâm lý và tinh thần của nạn nhân. Có nhiều người đã phải dọn đi, vì không chịu nổi đòn thù, trò dày vò tinh thần, tra tấn tâm lý nạn nhân của chúng.

5- Hệ thống kinh tài và các tổ chức ngoại vi của Việt Tân

Có thể nói tổ chức khủng bố Việt Tân là tổ chức giàu có nhất trong tất cả các tổ chức khủng bố, đảng phái chống Cộng tại hải ngoại. Nhờ chúng tận dụng thời điểm cuối thập niên 1980 khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chúng tuyên truyền lên rằng CSVN sắp sụp đổ tới nơi, và “chúng tôi” sẽ về nước lập chính quyền mới, hứa hẹn phong cho ông A bà X chức này tước nọ, chúng tranh thủ tuyệt đối sự ủng hộ của những kẻ chống Cộng và những chính trị gia sa lông, cơ hội ở hải ngoại, quyên tiền quyết liệt. Những đồng tiền đó chúng dùng để mở hệ thống Phở Hòa với hàng ngàn chi nhánh có trên khắp California và nước Mỹ. Dĩ nhiên, mỗi tiệm phở đều có thùng “quyên góp kháng chiến”. Điều này làm chúng bị bà con hải ngoại chế giễu và gọi là “đảng Phở Bò” hay “Mặt trận Phở Bò” hoặc “kháng chiến Tái Nạm Béo”.

Tiền quyên góp, lừa gạt được của đồng hương cùng với tiền tài trợ từ các quỹ N.E.D., quỹ S.I.D.A., quỹ “nhân quyền”, quỹ “dân chủ”, quỹ xuất cảng đa đảng đa nguyên của Hoa Kỳ, chúng dùng để mở hệ thống Phở Hòa, mua / thuê các tàu cá, ăn bám vào thị trường hải sản Hoa Kỳ, rất nhiều nhóm đánh cá, đánh cá thuê ở Mỹ, nhất là vùng New Orleans là do Việt Tân làm chủ. Những số tiền kiếm được, không phải đồng tiền nào chúng cũng dùng cho việc chống phá VN, mà chúng còn dùng để mua xe, mua nhà, mua đất, đầu tư bất động sản, đầu tư kinh doanh, chúng có bonds, cổ phần, cổ phiếu (stock) trong nhiều cơ sở kinh doanh cổ phần hóa ở Mỹ. Chúng có hàng ngàn tài khoản chính, tài khoản phụ trong nhiều ngân hàng lớn. Những tên đầu sỏ đều đi xe Mỹ đời mới nhất, chúng thay xe như thay áo. Tên nào tên nấy sở hữu hàng chục tiệm làm móng tay, viện thẩm mỹ, siêu thị, nhà hàng, khách sạn v.v. Chúng vừa là một tổ chức khủng bố nguy hiểm, vừa là một tập đoàn tài phiệt tư bản Mafia giàu mạnh, là một tổ chức tội ác, tội phạm trá hình, mang tính chất xã hội đen quy mô lớn.

Chính phủ trung ương Mỹ và CIA thì nuôi chúng để cắn VN, tài trợ cho chúng xuất cảng “dân chủ Mỹ” và “chuyển lửa về quê hương”. Cảnh sát địa phương hoặc nhân viên công lực cấp tiểu bang, cấp thành phố thì không làm gì được chúng vì không có bằng chứng gì có thể chứng minh rõ ràng là chúng vi phạm luật pháp. Ông Hoàng Duy Hùng, chủ tịch cộng đồng thành phố Houston, TX, một người từng ngồi tù tại VN vì hoạt động lật đổ nhà nước và sau đó được đặc xá vì tỏ ra ăn năn hối cải, ông ta là một người chống Việt Tân nhưng cũng phải nhìn nhận “So với Hội Tam Hoàng của Tàu và Mafia của Ý thì Việt Tân cũng không thua kém bao nhiêu”.

Ngoài ra, Việt Tân còn thành lập rất nhiều tổ chức ngoại vi, các cơ quan truyền thông, báo chí, trong đó có những cái loa rất ấn tượng tại hải ngoại như Asia, SBTN v.v. Chúng còn dùng những thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh để tấn công các chương trình ca nhạc khác của đồng hương. Ví dụ khi trung tâm Thúy Nga sản xuất video ca nhạc với chủ đề Mẹ năm 1999, chúng viện cớ video có những cảnh lính Mỹ từ trực thăng xả súng vào dân lành chạy loạn do đạo diễn dựng lại từ phim tài liệu, video có nhạc cảnh Ca Dao Mẹ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn do Don Hồ trình diễn, nhạc phim có cảnh bông lúa màu đỏ do kỹ thuật video, và cuối phim MC Nguyễn Ngọc Ngạn có nói về “đàn chim xa xứ bay về tố ấm”, có vẻ trùng lặp với chủ trương Đại đoàn kết dân tộc của chính phủ Việt Nam, nên Asia đã mượn cớ đó cho tay sai tấn công, chửi bới chương trình ca nhạc Paris By Night. Chúng thuê người gọi vào các đài radio để mắng chửi Thúy Nga không tiếc lời. Chúng dàn dựng, kêu gọi, kích động những cuộc biểu tình một thời gian dài sau đó trong các chương trình Paris By Night sau này. Về sau Thúy Nga phải làm một số chương trình theo quỹ đạo chính trị của chúng để xoa dịu lũ côn đồ, rồi sau đó chúng mới để yên.

Trung tâm Asia đầu tiên do nhạc sĩ Anh Bằng sáng lập, sau khi Trúc Hồ, 1 thành viên Việt Tân mua lại trung tâm này thì nó đã biến chất, biến dạng thành một cái loa chống cộng rẻ tiền, chuyên tung hô, ca tụng ngụy quyền, ngụy quân, bóp méo lịch sử, bịa đặt thông tin, phỏng vấn cuội, tự phỏng vấn lẫn nhau, và đào bới hận thù, hòng dựng lại thây ma. Nếu Asia là một trung tâm ca nhạc thiên về tâm lý chiến, thì đài SBTN do Trúc Hồ và Việt Dzũng đứng tên làm chủ (Nguyệt Ánh cũng có cổ phần) lại là một đài truyền hình lá cải ở California, chuyên đưa tin giật gân để câu khách, câu quảng cáo, và phục vụ cho mục tiêu chống VN của Việt Tân.

SBTN từng đưa những “tin tức” làm nhiều người vừa buồn cười vừa phải lắc đầu vì mức độ hoang tưởng của chúng như: Đảo chánh ở Hà Nội, phe cộng sản miền Bắc và cộng sản miền Nam dàn trận đánh nhau, phe Nông Đức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng dàn trận đánh nhau, Võ Văn Kiệt bị đầu độc chết, CSVN họp bí mật với Trung Cộng xin được như Tây Tạng, quân đội tiếp quản Sài Gòn năm 1975 là quân đội… Trung Cộng v.v. và còn nhiều thông tin lá cải khác. Nhiều bà con Việt kiều nói vui rằng bọn SBTN này muốn cạnh tranh với Vân Sơn về khoản hài hước chắc. Ngoài ra Việt Tân còn thành lập và nuôi nhóm “Thanh Niên Cờ Vàng”, “Đoàn Thanh Niên Phan Bội Châu”, và “Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Đường”, chúng lập ra vô số các trang web trên mạng, nhiều trang web chúng cho thiết kế toàn màu đen ra vẻ thần bí, rồi tự xưng “chúng tôi là tuổi trẻ Việt Nam ở ngay trong nước, trụ sở ở ngay Hà Nội” v.v. Ngoài các tổ chức ngoại vi, Việt Tân còn tổ chức nhiều trại hè, nhiều trung tâm hướng đạo, để nhồi sọ thiếu niên Mỹ gốc Việt, khiến họ mất gốc, vong bản, biến chất thành những con thiêu thân chống phá đất nước, căm thù dân tộc. Chúng bắt các em phải chào cờ ba que, cờ Mỹ, hát quốc ca Mỹ và cái gọi là “quốc ca VNCH” (bài hát mà cha anh bọn chúng ăn cắp của nhạc sĩ cộng sản Lưu Hữu Phước rồi tự ý thay tựa đề, chỉnh sửa lời hát) tẩy não, nhồi nhét vào đầu các em những thông tin bịa đặt về lịch sử nước nhà, gieo rắc những tư tưởng độc hại, thù hận vào đầu các em, chúng dạy các em cái gọi là “lịch sử” do chúng tự tưởng tượng ra. Việt Tân cũng mở những lớp võ thuật rồi nhồi sọ võ sinh rằng “học võ để sau này về quang phục quê hương”. Tổ chức “Đảng Dân tộc” của Nguyễn Hữu Chánh cũng học theo “chiêu” này.

Thời kỳ Mỹ chưa phát động cuộc chiến “chống khủng bố” thì chúng đánh thẳng vào trong nước. Thời kỳ Mỹ đã phát động thì chúng móc nối với lũ Việt gian trong nước. Chúng luôn rình rập, tìm cách bắt liên lạc, móc nối, dụ dỗ, mua chuộc, kích động những thành phần bất mãn trong nước để biến họ thành những kẻ phản quốc, và trả lương cho những tên này qua hình thức “tài trợ”, “giúp đỡ tài chánh”, “yểm trợ quốc nội”, “bảo trợ” v.v. Chúng trích ra số tiền Mỹ tài trợ cho chúng rồi tài trợ cho đám “quốc nội”. Nhiều tên khi bị bắt đã khai báo huỵch toẹt trước máy quay rằng chúng bị Việt Tân móc nối, dụ dỗ, mê hoặc, có liên hệ với Việt Tân ra làm sao, được Việt Tân tài trợ ra nước ngoài huấn luyện ra sao v.v. như đám “Chị Hai”, “Chị Ba”, “Chị Tư” Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định, “thầy bói kiêm nhà nghiên cứu Chấn” Trần Huy Duy Thức, Lê Thăng Long v.v., những video công khai tự thú, nhận tội, và xin xỏ khoan hồng của bọn mạo xưng “dân chủ” này đều được cư dân mạng tải lên trang web Youtube.

6- Tại sao tổ chức khủng bố này vẫn nhởn nhơ trên đất Mỹ?

Đơn giản là vì chúng không có khủng bố nước Mỹ và cũng chưa phải là một tổ chức khủng bố quốc tế như Al Qaeda. Chúng chỉ có khủng bố Việt Nam, một nước XHCN, có ý thức hệ và những lợi ích đối lập với Hoa Kỳ, nghịch với chính sách toàn cầu, chiến lược bành trướng toàn cầu, bá chủ thiên hạ của họ. Xưa nay Mỹ vẫn áp dụng một chính sách nước đôi, hai mặt, mà chính những nhà chính trị Hoa Kỳ vẫn hay gọi là “tiêu chuẩn kép” (double standard) về vấn đề chống khủng bố. Nghĩa là nếu có khủng bố nước Mỹ hoặc là khủng bố quốc tế từng khủng bố các đồng minh của Mỹ, hoạt động khủng bố trên các địa bàn của đồng minh Mỹ, có sự ảnh hưởng của quân đội Mỹ khắp thế giới, thì Mỹ mới liệt vào danh sách khủng bố. Còn những tổ chức khủng bố do các nước khác, đặc biệt là các nước không phải đồng minh của Mỹ, không cùng lợi ích chính trị, quân sự với Mỹ, khác ý thức hệ với Mỹ v.v. đưa vào danh sách khủng bố thì Mỹ sẽ không liệt vào danh sách khủng bố của họ, không coi đó là khủng bố, thậm chí còn bênh vực, biện minh, bao biện, bảo vệ, nuôi nấng, bảo trợ cho tổ chức đó. Như tổ chức Việt Tân mà chính phủ VN đã liệt vào danh sách khủng bố. Như tổ chức Tresnia mà Nga đã liệt vào danh sách khủng bố. Như một vài nhóm Pháp Luân Công và tổ chức vũ lực bạo động ở Tân Cương của Trung Quốc. Hay như các nhóm vũ trang đối lập ở Libya đã từng bắn giết, thảm sát người dân, làm sập nhà dân chúng v.v. và đã bị chính phủ Libya liệt vào danh sách khủng bố, nhưng Mỹ và phương Tây đã hỗ trợ, viện trợ, đỡ đầu cho họ. Trước đây, khi 2 công dân Đức du lịch Libya đã bị giết chết, chính phủ Libya điều tra xác định là Al Qaeda làm và đã phát lệnh truy nã toàn cầu gởi tới Interpol, tầm nã Bin Laden và các tay cầm đầu Al Qaeda nhưng lại bị Mỹ và Anh ngăn lại.

Ngoài ra, Mỹ còn viện trợ, tài trợ, giúp đỡ các chính phủ và quân đội đồng minh khủng bố người dân, như trường hợp họ tài trợ cho Israel khủng bố, thảm sát dân Palestine nhiều năm nay. Trong quá khứ, Mỹ từng ngầm hỗ trợ và bênh vực, biện hộ cho chế độ khủng bố, diệt chủng Khmer Đỏ. Từng dựng lên và nuôi dưỡng ngụy quyền Ngô Đình Diệm và dung túng cho chúng khủng bố trắng, lê máy chém khắp miền Nam Việt Nam. Ngay cả trùm khủng bố Bin Laden mới bị Mỹ vắt chanh bỏ vỏ gần đây và chính phủ độc tài Taliban cũng từng được Mỹ tài trợ để chống lại Liên Xô, trước khi được Mỹ bảo kê, Taliban và Al Qaeda chưa là gì cả, nhưng sau khi được Mỹ cung ứng tiền bạc, vũ khí, họ mạnh lên và trở thành một lực lượng đáng kể, có thể nói chính Mỹ đã dựng lên khủng bố, tài trợ cho khủng bố, để rồi phải đem quân đi diệt khủng bố, và dùng đó làm chiêu bài để công nhiên điều quân viễn chinh đi ra đi vô các nước như chốn không người, bành trướng thế lực ra khắp hoàn cầu. Tổng thống Mỹ Nixon đã từng “thân ái” ngồi chung với các lãnh tụ Taliban và Al Qaeda và nói “Những người đàn ông này tượng trưng cho các giá trị đạo đức của cha anh chúng ta”, “These gentlemen are the moral equivalents of America’s founding fathers” (Reagan nói vào năm 1985). Căn cứ trên lịch sử và bản chất của chính sách ngoại giao thực dụng Hoa Kỳ, thì có thể dễ hiểu vì sao Việt Tân là một tổ chức khủng bố Việt Nam, cùng với các tổ chức khủng bố khác vẫn có thể sống nhăn trên xứ Mỹ.

7- Tình hình Việt Tân hiện nay

Sau khi vụ bưng bít bị phanh phui. Cái chết của trùm khủng bố Hoàng Cơ Minh không còn có thể che giấu lấp liếm được nữa. Trong thập niên 1990, các tay trùm Việt Tân đành phải họp báo thú nhận tất cả, nước mắt cá sấu, giọt vắn giọt dài trước các ống kính video rằng chủ tịch Hoàng Cơ Minh đã bị CSVN giết rồi, đã “tuẫn quốc”, đã “vị quốc vong thân”, đã “hy sinh vô cùng oanh liệt” v.v. Việc này đã gây chấn động trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại, mọi người rốt cuộc đều biết hóa ra Việt Tân lâu nay giấu nhẹm cái chết của Hoàng Cơ Minh, bưng bít thông tin, che giấu sự thật, lừa đảo, gạt tiền đồng bào ra sao. Những vụ làm ăn nhập nhèm, nhơ nhớp, mờ ám, dùng tiền “kháng chiến” để mở tiệm phở bò, để cho gái, để ăn chơi sa đọa, để mua tàu ra biển đánh cá, để mua nhà, mua đất, mua xe, mua tiệm làm móng tay, mua siêu thị, mua các cơ sở kinh doanh thương mại v.v. đều được chính những người trong cuộc tiết lộ ra, nhiều người do bất mãn, do không được ăn chia đầy đủ, bị mất phần, hoặc chính những người do Tổng Cục 2 của an ninh Việt Nam cài vào biết được và nhà nước VN, báo chí VN tiết lộ ra, tất cả những yếu tố đó kết hợp lại gây lên một làn sóng căm phẫn dữ dội trong cộng đồng hải ngoại, tất cả các phe phái hải ngoại, từ những Việt kiều yêu nước, thân Cộng cho tới Việt kiều chống Cộng, đều quay sang chống Việt Tân, mạt sát, miệt thị Việt Tân không tiếc lời. Việt Tân được rất nhiều tiền, trở thành những triệu phú Mỹ gốc Việt, trở thành những ông trùm mà người Mỹ gọi là “Vietnamese Mafia”, nhưng mất đi lòng tin và sự ủng hộ của giới chống Cộng, bị giới này ghen tỵ, ganh ghét, ghen ăn tức ở, căm ghét, thù hận. Ngoài thì bị chửi, bị “ném đá” túi bụi, trong thì chia rẽ, xào xáo, nội bộ đấu đá lẫn nhau. Theo một số hồi ký, tự truyện của người trong cuộc kể lại thì lúc đó trong trụ sở không ngày nào không cãi nhau, dùng những từ ngữ hạ cấp nhất để lăng mạ, “tổng sỉ vả” lẫn nhau. Có những vụ liên quan như vụ năm 1999 khi 1 tay Việt Tân và 1 tay Việt Quốc hợp tác với nhau quyên tiền tổ chức lễ tưởng niệm ngày “Quốc Hận”, tay Việt Tân đông bầy đàn hơn nên liền sai đàn em bê nguyên cái thùng tiền về nhà, sau khi tổ chức xong tay này vì trước đó đánh bạc ở Las Vegas và cá độ football (bóng bầu dục, bóng đá Mỹ) cháy túi nên ăn cắp hết số tiền còn lại sang Hawaii, đã không chia lãi lại cho tên kia mà còn lấy sạch số vốn của hắn. Tay Việt Quốc và đồng bọn, cùng bọn Đại Việt (Đảng Dân Tộc của trùm lừa đảo Nguyễn Hữu Chánh cũng ăn theo chửi hùa vào Việt Tân) uất ức quá liền la lối, ăn vạ thì Việt Tân tỉnh bơ bảo đó là chuyện riêng giữa quý vị, ông kia hành xử với tư cách cá nhân, không liên quan gì tới Việt Tân bọn tôi.

Sau nhiều thảm họa dư luận đó, Việt Tân đành phải bỏ sào huyệt ở chốn phồn hoa đô hội nhiều người Việt sinh sống tại Cali mà dọn tới hang ổ mới là thành phố Seattle, tiểu bang Washington, tiểu bang nằm ở vùng cực Bắc Hoa Kỳ quanh năm đầy mưa và tuyết, và là thành phố có rất ít người Việt, và có tỷ lệ tự sát cao nhất nước Mỹ và 1 trong những thành phố có tỷ lệ tự sát cao nhất thế giới.

8- Cuộc chiến giành phân (fund) Mỹ

Nhằm mục đích xâm nhập, lũng đoạn, xâm lược bành trướng “sức mạnh mềm” vào các quốc gia khác. Mỹ đã mở rất nhiều quỹ, thành lập nhiều tổ chức tại Hoa Kỳ và các “tổ chức quốc tế” để phục vụ cho sách lược Diễn biến hòa bình của họ, bành trướng lan tỏa chính trị, thế lực ra khắp thế giới. Những tổ chức này có những quỹ tài trợ, hỗ trợ khác nhau, hướng tới những tổ chức bản xứ, những tổ chức lưu vong, để dùng chúng xuất cảng “dân chủ” kiểu Mỹ, đa đảng đa nguyên, các giá trị kiểu Mỹ, các chuẩn mực kiểu Mỹ, hệ thống chính trị kiểu Mỹ vào nước của chúng, tạo điều kiện để Mỹ thò cánh tay lông lá vào nước sở tại, xây dựng, nuôi dưỡng, hỗ trợ các lực lượng đối lập, hứa phong cho chúng chức này tước nọ sau khi Mỹ “giải phóng” nước họ xong. Đây là thủ đoạn chia rẽ, chia đất nước, dân tộc khác ra làm nhiều phe, ủng hộ thế lực thân mình, nếu cần thì dựng lên các chính phủ của mình, lật đổ các chế độ đối lập với lợi ích Hoa Kỳ. Và xây dựng, ủng hộ, yểm trợ các lực lượng, các tổ chức, các chính phủ chấp nhận thần phục Mỹ và có lợi cho kinh tế, chính trị, quân sự Hoa Kỳ, có lợi cho chính sách bá quyền và chiến lược quốc tế của chính phủ Mỹ. Đây là một biểu hiện của chủ nghĩa đế quốc, bành trướng quốc tế, tư bản bá quyền.

Nhờ đó, Việt Tân cũng nhận “tiền tài trợ” định kỳ từ nhiều quỹ khác nhau. Quỹ từ chính phủ, quỹ của các tổ chức trực thuộc chính phủ, quỹ từ các tổ chức tư bản phi chính phủ do các tập đoàn tài phiệt tư bản Mỹ, tư bản phương Tây, tư bản quốc tế làm chủ, và các tổ chức trá hình phi chính phủ trực thuộc CIA và chính phủ Mỹ, hoạt động dưới danh nghĩa “phi chính phủ”, “từ thiện”. Để có đủ điều kiện, đủ tư cách, đủ tiêu chuẩn, tiêu chí để nhận fund thì các tổ chức phản quốc ở hải ngoại phải chứng minh cho quan thầy thấy “bản lĩnh” và “khả năng” của mình. Rằng mình có thể làm được cái gì, mình có thực lực gì không, để xứng đáng nhận được những số tiền tài trợ, đài thọ định kỳ đó.

Chính vì vậy, tổ chức khủng bố Việt Tân và tập đoàn lừa đảo Đảng Dân tộc của Nguyễn Hữu Chánh không ngừng gởi người vào VN để lấy tiếng. Thậm chí đối với một bọn nghiên về lừa đảo kinh tế hơn là khủng bố chính trị quân sự như “Đảng Dân tộc” của “chú phỉnh” Nguyễn Hữu Chánh thì chúng không cần thành công, chúng chỉ cần dụ được ai là chúng “thí” về VN cho bị công an bắt để lấy tiếng cho tổ chức. Cũng với “chiêu thức” cũ, đó là vừa ỡm ờ, nói xa nói gần cho cả thiên hạ hiểu mình là thủ phạm để lấy tiếng, nhưng khi tuyên bố chính thức thì chối phăng đi mỗi khi công an VN có được bằng chứng và đồng bọn chúng nhận tội. Như khi Nguyễn Hữu Chánh sai Võ Văn Đức về nước khủng bố, sau khi Đức ở tù, tưởng đại ca sẽ can thiệp cho đàn em thoát được, không ngờ chú Chánh trở mặt không nhận thằng em, khiến cho Đức uất ức vô cùng, những hình ảnh Đức trên mặt báo trong thời gian đó cho thấy 1 người đang rất phẫn uất, tức tưởi vì bị chơi xấu, vì bị đàn anh bỏ rơi, bị đem quăng ra giữa chợ, chịu tội thế cho đàn anh v.v. Trong khi cả hải ngoại đều biết Võ Văn Đức là đàn em loại “ruột” của Nguyễn Hữu Chánh. Sau khi mãn hạn tù, trở sang Mỹ thì Võ Văn Đức lập tức rời xa Đảng Dân tộc nhưng không dám có ý nghĩ trả thù hay đụng chạm gì tới đại ca, vì biết đại ca có hàng trăm lâu la đàn em, và trong người bao giờ cũng có súng. Cũng như Đảng Dân tộc, Việt Tân cũng gởi người đem chất nổ vào VN để lấy tiếng, ngoài ra chúng còn mở rộng địa bàn hoạt động ra ngoài phạm vi trong nước VN, ra các tòa đại sứ, tòa lãnh sự, và các cơ quan ngoại giao của VN ở các nước láng giềng, nhất là ở các nước an ninh khá lỏng lẻo như Thái Lan, Indonesia, Philipines v.v. Thậm chí, sau vụ nổ pháo hoa ở Mỹ Đình trong sự kiện 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, cả Việt Tân và Đảng Dân tộc đều nói xa nói gần để người ta tưởng người ra tay là thuộc tổ chức của mình. Chỉ sau khi báo chí Việt Nam và công an VN ra thông báo chính thức rằng đây chỉ là một tai nạn nghề nghiệp thì chúng mới ngừng bốc phét.

Nói chung, các tổ chức phản quốc và sẵn sàng bán nước ở hải ngoại đều tìm cách khuếch trương thanh thế, tiếng tăm, “số má” của mình ra cao nhất để giành lòng chủ Mỹ, mong được chính phủ Mỹ ân sủng, cưng chìu, và ban ơn mưa móc. Tất cả đều vì những số tiền “tài trợ” hàng năm của các quỹ “dân chủ”, “nhân quyền”, “vě tự do” của Mỹ vŕ phương Tây. Và xưa cho tới nay, Việt Tân đều giành vị trí đầu bảng, thứ hai là Đảng Dân tộc của Nguyễn Hữu Chánh, vì vậy không lạ khi 2 tổ chức này bị các tổ chức “rận chủ”, thế lực Vichoco, các hội đoàn chống cộng khác, các “cộng đồng” khác, các “nhân sĩ” khác chửi bới te tua. Và bản thân 2 tổ chức đó cũng thường chửi nhau tay đôi trên báo chí, truyền thanh và truyền hình. Chẳng qua là vì ghen ăn tức ở lẫn nhau. Kẻ thắng người thua trong cuộc chiến giành “phân” Mỹ. Cùng là chống Cộng nhưng người được ưu ái, được nuôi béo, kẻ thì trơ mõm hoặc chỉ nhận được ít “xu lẻ” theo kiểu bố thí ăn mày. Kẻ giàu người nghèo. Kẻ thì làm chủ tiệm làm móng tay, kẻ thì phải làm thợ giũa móng tay, rửa bát cắt cỏ, xin welfare, medicaid, foodstamp, ăn xin trợ cấp Mỹ và ăn bám xã hội Mỹ nhưng nó vẫn không cho (nhất là từ khi Bush lên thay Clinton, an sinh xã hội Mỹ bị bóp nghẹt, thắt chặt). Làm các chiến sĩ “dâng chủ” phải nai lưng ra làm culi, khuân vác, làm assembly cho các đại gia trùm tư bản, đi cày như trâu, bị bóc lột, bị kỳ thị, phân biệt chủng tộc mà vẫn mở mồm ra chửi XHCN, chửi chủ nghĩa Marx Lenin. Những kẻ đó đương nhiên cũng sẽ chửi Việt Tân và Đảng Dân tộc vì 1 lẽ duy nhất: Tại sao “tụi tao” cũng chống cộng mà “cực bỏ mẹ”, làm việc như trâu bò vẫn “trơ mõm chó” trong khi “chúng mày” lại giàu sang và ăn chơi đàng điếm thế? Tại sao tụi tao cày overtime (thêm giờ), cày cả những ngày nghỉ cuối tuần, cày cả những ngày nghỉ lễ, cày hai ba “jobs” vẫn không đủ trả bills, trong khi chúng mày suốt ngày đi du lịch, đi Las Vegas, đi đánh bài, cá độ football thế? Chung quy cũng chỉ là ganh ghét, ghen ăn tức ở lẫn nhau. Đó là nguyên nhân vì sao cùng là chống cộng, phản quốc, phản động như nhau mà tay này ghét tay kia, nhóm này ghét nhóm kia, tổ chức này chửi tổ chức kia, và đặc biệt là Việt Tân bị chửi nặng nhất, bị chửi nhiều nhất xưa nay. Bọn chống Cộng hải ngoại, nhất là tại Mỹ, chửi Việt Tân còn nhiều hơn cả chửi cộng sản.

9- Tương lai của Việt Tân

Khủng bố và phản quốc thì sẽ không thể có kết quả tốt. Việt Tân đã làm quá nhiều chuyện ác nhân thất đức, bị thất nhân tâm ở ngay cả địa bàn của chúng. Chúng bị bà con Việt kiều, trong đó bao gồm những kẻ chống Cộng tẩy chay, xa lánh, phỉ nhổ. Những kẻ từng trong nội bộ của chúng cũng quay sang viết hồi ký, viết sách, viết tự truyện, viết báo chửi chúng, vạch mặt chúng. Mà ngày nay chúng cũng không còn dễ dàng thuê sát thủ giết người diệt khẩu, lạm sát bừa bãi như những năm 1980, những năm công nghệ thông tin còn lạc hậu, chưa có điện thoại di động có thể chụp hình, quay phim, chưa có Internet v.v. Trước sức mạnh của công luận, chúng đã phải rời bỏ hang ổ cũ và lê thân tới nơi ít đồng hương, khí hậu lạnh lẽo ở bang Washington, và 1 thành phố u buồn như Seattle. Hầu như chúng vác mặt đi gặp ai cũng bị chửi. Chúng còn bị những phe phái chống cộng khác gọi chúng là VC nằm vùng, nghi ngờ hay chụp mũ chúng là do CSVN tạo ra. Chúng cũng dùng các phương tiện truyền thông cáo buộc, kết tội, quy chụp, phản pháo lại bọn kia là CS nằm vùng. Xét cho cùng, cái trò chụp mũ VC nằm vùng lẫn nhau, quăng nón cối tứ tung là một trò đã rất xưa như trái đất, đã có từ thời chống Pháp và chống Mỹ trong vùng địch. Đối với chúng, chỉ có tiền và lợi, và nếu mày có mâu thuẫn quyền lợi với tao thì đích thị mày là 1 “thằng Việt Cộng nằm vùng”.

Về quan hệ với chủ Mỹ, kể từ khi quan hệ kinh tế, làm ăn, kinh doanh giữa Việt – Mỹ càng thắt chặt thì Mỹ lại tỏ ra lạnh nhạt hơn với con chó săn của mình. Khi chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết chính thức sang thăm Mỹ, trước đó 3 ngày Bush đã gọi 3 tên Hoàng Cơ Định, Đỗ Hoàng Điềm và một tên nữa đến Nhà Trắng và răn đe, chỉ thị rằng “không được quậy”, “không được lộn xộn”. Và Việt Tân thời gian sau đó đúng là rất “ngoan”, án binh bất động không gây ra vụ gì cả.

Tới lúc Mỹ không cần xài nữa thì Mỹ cũng sẽ vắt chanh bỏ vỏ như với Al Qaeda mà thôi? Cùng là khủng bố như nhau có lẽ chúng sẽ rất sợ bị làm thịt như Bin Laden. Nhưng đó là 2 trường hợp khác, Bin Laden và Al Qaeda dám cắn ngược lại Mỹ và họ có thực lực nhất định, còn Việt Tân ư, Mỹ mà buông ra một cái thì Việt Tân chỉ còn lại những nhà triệu phú đô la rủng rỉnh nhưng không quyền không lực, không còn chút thực lực, sức mạnh nào. Việt Tân cũng là một con chó săn trung thành thật sự chứ không là loại dám lợi dụng Mỹ tức thời như bọn Taliban, Al Qaeda, và dám cắn lại Mỹ. Việt Tân thì lệ thuộc chính phủ Mỹ 100% và không bao giờ dám có ý nghĩ phạm thượng với quan thầy chứ đừng nói là dám cắn ngược lại ông chủ. Vì vậy Mỹ cùng lắm sẽ bỏ rơi chúng, “quăng con giữa chợ”, chứ sẽ không vắt chanh bỏ vỏ, giết chúng như đã giết Bin Laden.

Tác giả: thieulongtexas (được sự cho phép của tác giả, tôi đăng bài viết này để chúng ta hiểu rõ bản chất lưu manh, côn đồ & phản động của Việt Tân. Kẻ xách động những cuộc biểu tình, tuần hành gây rối vừa qua. Cảm ơn Thiếu Longtexas & sự quan tâm của quý vị. Trân trọng! – Tựa do Lê Vũ đặt)

Kịch bản để mở đầu một cuộc chiến.

Photo: EPA
Câu nói “Cái mới chẳng qua là điều  xưa đã bị quên lãng” đã trở nên thông dụng 200 năm nay và nhiều lần khẳng định sự tồn tại của mình.
Chẳng hạn như thí dụ mới đây. Thượng viện Mỹ công bố gói tài liệu tiếp theo về thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Bình luận về các tài liệu này trên tạp chí New York Times vào tuần qua, nhà báo Mỹ Elizabeth Bumiller đã rút ra kết luận: “Những tài liệu này chứng tỏ, Nhà Trắng và Lầu Năm góc lừa dối các thượng nghị sĩ về sự kiện Vịnh Bắc Bộ năm 1964″.
Không ít người còn coi đây là một tin giật gân. Liệu có đúng như vậy?
Sự lơ đãng, với hình thức tồi tệ nhất là cố tình quên lãng, vốn là một trong những bản chất tính cách không những của con người, mà cả nhiều quốc gia. Nhưng ông Lê Đức Thọ, người được trao giải thưởng Nobel Hòa bình đã công bằng nhận xét “ai quên đi sai lầm của mình sẽ không tránh khỏi sự lặp lại”. Người đại diện của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tại các cuộc thương lượng với Henry Kisinger, trước lễ ký kết Thỏa thuận Paris 1973 về đình chiến ở Việt Nam, đã trả lời như vậy khi nhân vật đối thoại người Mỹ đề nghị hai nước quên đi mọi chuyện cũ và bắt đầu mối quan hệ từ trang giấy trắng.
Tìm cách quên lãng quá khứ là những ai cảm thấy đó điều bất lợi cho mình , Mới đây, trên một kênh truyền hình chiếu bộ phim về chiến tranh Việt Nam , có một cảnh làm  đó là cuộc tranh luận giữa hai người Mỹ, một già một trẻ, về nguyên nhân sự thất bại của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Nhân vật đứng tuổi giải thích đó là bởi sự công minh trong tính chất đấu tranh của người Việt Nam, bởi chiến lược và chiến thuật quân sự tài tình của họ. Còn nhân vật trẻ tuổi giải thích đấy là nhờ vào hoạt động chống chiến tranh của những người theo chủ nghĩa hòa bình và trào lưu hippy tại chính nước Mỹ. Có thể thấy, không hề thừa khi chúng ta nhắc nhở cho các thế hệ trẻ về những điều bị quên lãng. Cả về nguyên nhân sự thất bại của Mỹ ở Việt Nam, cũng như lý do khởi đầu sự xâm lược của Mỹ.  Cụ thể, về sự kiện Vịnh Bắc Bộ mà Mỹ đã sử dụng như lý lẽ để khai màn cuộc chiến tranh trên không chống nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Ngày 05/08/1964, phát biểu trên đài truyền hình Mỹ, Tổng thống Johnson thông báo, tại vịnh Bắc Bộ ngày 02/08 tầu ngư lôi của Bắc Việt Nam đã tấn công tầu khu trục Mỹ, và đến ngày 04/08 thì đã hai tầu Mỹ là Maddox và Turner Joy bị phía Việt Nam tấn công. Vì những nguyên nhân này mà không quân Mỹ vừa tổ chức cuộc ném bom đầu tiên xuống lãnh thổ Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Chỉ sau đó vài giờ, dự thảo nghị quyết chuẩn y hoạt động chiến tranh qui mô tại Việt Nam đã được đưa vào Hạ nghị viện. Văn bản được gọi là “Nghị quyết vịnh Bắc Bộ” đã thông qua ngày 07/08 và trở thành cơ sở khởi đầu sự tham gia toàn diện của Mỹ trong các hoạt động chiến sự chống nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, không cần tới sự tuyên chiến chính thức.
Nhà sử học Makxim Siunenberg chuyên viên về nghiên cứu các mối quan hệ Việt Nam và Mỹ những năm 1950-1970  nói: “Ngay từ đầu, sự trung thực của cái gọi là sự kiện vịnh Bắc Bộ đã gây nên nhiều hoài nghi chính tại Mỹ cũng như từ các hạ nghị sĩ. Vào đầu năm 1968, các tạp chí Esquire và Times đã đăng những tài liệu  vạch trần toàn bộ sự dối trá trong nội dung giả thiết chính thức của Mỹ về sự kiện này”.
Cả hai ngày 2 và ngày 4 tháng 8, không một tầu khu trục nào của Mỹ đã bị trúng ngư lôi. Sau đó, như Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Robert McNamara thông báo vào tháng 2/1968, các tầu khu trục Mỹ đã có mặt  tại vịnh Bắc Bộ với mục đích “khiêu khích hoạt động của các thiết bị radar Bắc Việt Nam, nhằm ghi lại tần số các radar này”.
Và nếu ngày 02/08/1964, đúng là tầu hải quân Bắc Việt Nam có mặt ở khu vực Maddox, nhưng tại hải phận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thì ngày 04/08 hòa toàn không có một tầu nào tại đây.
“Toàn bộ là những hành động đáng ngờ”, – thuyền trưởng John Gerric, người nắm quyền điều kiển linh hoạt cả hai tầu khu trục, đã thông báo như vậy với ban chỉ huy Hải quân Mỹ ngày 05/08. Người này tỏ ra nghi ngờ sự đúng đắn các chỉ số của thiết bị định vị âm thanh trên khu trục hạm. “Tôi tin rằng, đây chỉ là những thông số ghi lại tiếng ầm của động cơ hai tầu khu trục”, – ông tuyên bố như vậy.
Bản thân thuyền trưởng Gerbert Ogayer của tầu Meddox đã cho biết, tầu của ông không hề bị tấn công. Ông thú nhận đã nhầm tiếng ồn của động cơ tầu mình với tiếng ồn của tầu phóng ngư lôi. Thuyền trưởng Bartnhart của Turner Joy cũng  phủ nhận là khu trục hạm bị tấn công.
Trung úy Connell, sĩ quan pháo trên tầu Maddox thì nói như sau: “Chúng tôi đã nã pháo loạn xạ. Không có một mục tiêu nào trên màn hình radar. Các máy bay được điều động từ hàng không mẫu hạm cũng không phát hiện thấy đối phương”.
Tháng 3/1968, Ủy ban đối ngoại Thượng nghị viện Mỹ đã điều tra đầy đủ sự kiện vịnh Bắc Bộ và kết luận, sự kiện này được “sáng tác từ đầu đến cuối”.  Những bằng chứng mới khẳng định điều này nằm trong các tài liệu thời chiến tranh Việt Nam, vừa được Ủy ban quan hệ quốc tế Thượng nghị viện Mỹ giải mật .
Hoa Kỳ cần tới sự kiện vịnh Bắc Bộ như một casus belli – lý do để tuyên chiến. Trong lịch sử thế giới đây không phải là trường hợp đầu tiên.

Bộ ảnh hiếm về chiến tranh VN trên tạp chí LIFE

Tạp chí LIFE đã công bố những bộ ảnh màu với tên gọi “Chúng tôi chìm sâu hơn vào cuộc chiến khốc liệt” của phóng viên ảnh Larry Burrows trong ấn phẩm của mình vào tháng 1/1963.

Những bức ảnh đầy chân thực này được tạp chí LIFE coi là một tác phẩm ảnh phóng sự quan trọng, đột phá tới mức nó được đưa lên trang bìa của tạp chí này.

Đặc biệt, những biên tập viên tạp chí này cho rằng bức ảnh bài thực sự mang tính gợi mở hiếm có và giúp nhiếp ảnh gia Burrows phát huy đầy đủ đặc trưng mạnh mẽ của thể loại chân dung.

Theo Soha

Để thực hiện nhiệm vụ mà Bộ Quốc phóng giao phó, ngày 7/11/1987, Tư lệnh Quân chủng Không quân ra lệnh cho Sư đoàn 372 cơ động một phi đội Su-22 (Trung đoàn 923) vào sân bay Phan Rang để huấn luyện làm quen với khu vực chiến đấu. Đồng thời, hiệp đồng với Vùng 4 Hải quân sẵn sàng chiến đấu, đánh địch trên biển.

GIẢI MẬT QUÁ TRÌNH ĐIỀU ĐỘNG SU-22 BẢO VỆ TRƯỜNG SA

Tiêm kích – bom Su-22

Từ cuối những năm 1980 tới nay, những chiếc Su-22M/M4 luôn giữ vai trò là chiến đấu cơ chủ lực bảo vệ Quần đảo Trường Sa.

Cuối những năm 1980, tình hình chủ quyền biển đảo trở nên căng thẳng. Trước tình hình này, ngày 6/11/1987, Bộ Quốc phòng ra lệnh bảo vệ quần đảo Trường Sa, quy định nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu bảo vệ quần đảo cho Tư lệnh Quân chủng Hải quân, Không quân, Phòng không và Binh chủng Thông tin Liên lạc. Trong đó, Hải quân và Không quân được coi là lực lượng nòng cốt làm nhiệm vụ bảo vệ chi viện cho đơn vị trên đảo.

Lần đầu ra Trường Sa

Để thực hiện nhiệm vụ mà Bộ Quốc phóng giao phó, ngày 7/11/1987, Tư lệnh Quân chủng Không quân ra lệnh cho Sư đoàn 372 cơ động một phi đội Su-22 (Trung đoàn 923) vào sân bay Phan Rang để huấn luyện làm quen với khu vực chiến đấu. Đồng thời, hiệp đồng với Vùng 4 Hải quân sẵn sàng chiến đấu, đánh địch trên biển.

Trường Sĩ quan Chỉ huy – Kỹ thuật Không quân được lệnh phối hợp với Sư đoàn 372 tổ chức chuyển sân, triển khai sở chỉ huy tiền phương, bảo đảm phương tiện chỉ huy, dẫn đường trong huấn luyện và chiến đấu.

Ngày 14/11/1987, phi đội Su-22 đã bay từ Thọ Xuân vào Phan Rang. Từ ngày 21/11, sư đoàn 372 tổ chức trực ban chiến đấu và huấn luyện bay biển cho phi công lái Su-22 tại sân bay Phan Rang.

Ngoài đơn vị Su-22, một bộ phận máy bay vận tải chiến thuật An-26 cũng được cơ động vào Nam để trinh sát chụp ảnh, chở quân tiếp viện, thả dù hàng…

Sau thời gian dài huấn luyện, đầu năm 1988, máy bay Su-22UM do Phi đội trưởng Vũ Xuân Cương điều khiển đã thực hiện thành công chuyến bay từ Phan Rang ra Trường Sa. Đây là lần đầu tiên, máy bay chiến đấu của Không quân Nhân dân Việt Nam bay ra tuần tiễu Trường Sa.

Sẵn sàng đánh chìm tàu địch

Ngày 24/4/1988, Quân chủng Không quân điều thêm 3 chiếc Su-22M từ Thọ Xuân vào Phan Rang. Cuối tháng 6/1988, Quân chủng Không quân điều tiếp 10 chiếc Su-22M vào Phan Rang.

Sư đoàn 372 tổ chức sở chỉ huy tiền phương tại Phan Rang, hiệp đồng với Vùng 4 Hải quân và Binh đoàn 17.

Ngày 10/6/1988, Tư lệnh Không quân phê duyệt lại kế hoạch triển khai nhiệm vụ bảo vệ và chi viện quần đảo Trường Sa.

Theo đó, kế hoạch đề ra là sử dụng các lực lượng hiện có gồm các loại máy bay tiêm kích (MiG-21bis), tiêm kích – bom (Su-22M), vận tải (An-26), trực thăng (Mi-8, Ka-25/28) thực hiện 4 nhiệm vụ: bay trinh sát, vận chuyển đường không, đánh các mục tiêu trên biển và trên đảo, tiêm kích bảo vệ đội hình chiến đấu Không quân – Hải quân, hiệp đồng chặt chẽ với Quân chủng Hải quân và Phòng không bảo vệ Trường Sa.

Ngày 24 và 28/6/1988, các kíp trực dẫn đường Sư đoàn 372 và Trung đoàn 923 đã phối hợp chặt chẽ thực hiện dẫn thành công 2 đôi Su-22M lần lượt bay ra đảo Trường Sa và An Bang. Đây là chuyến bay đầu tiên của Su-22M do các phi công Trung đoàn 923 độc lập thực hiện.

Từ 24-29/10/1988, Tư lệnh Quân chủng sử dụng một phần lực lượng không quân phía Nam tham gia đợt diễn tập chi viện quần đảo Trường Sa (mang tên CV-88) trong tác chiến phòng thủ.

Địa điểm diễn tập là căn cứ Phan Rang, Cam Ranh và vùng biển hai tỉnh Phú Khánh – Thuận Hải. Lực lượng tham gia có: phi đội Su-22M (Trung đoàn 923), 2 trực thăng Mi-8 (Trung đoàn 917), 2 vận tải cơ An-26 (Trung đoàn 918)…

Trong cuộc diễn tập CV-88: phi đội Su-22M luyện tập phương án tấn công tiêu diệt và ngăn chặn đội hình tàu hải quân đối phương trên biển, chi viện yểm hộ cho tàu hải quân ta phản công chiếm lại đảo; tiêm kích MiG-21 hộ tống bảo vệ đội hình tàu hải quân và phi đội Su-22M; máy bay An-26 làm nhiệm vụ trinh sát, chụp ảnh, chuyển quân và Mi-8 tìm kiếm cứu nạn…

Su-22M ra Bắc, Su-22M4 ra biển

Bước sang năm 1989, lực lượng chiến đấu cơ bảo vệ Trường Sa tiếp tục được tăng cường thêm lực lượng.

Ngày 3/3/1989, Trung đoàn tiêm kích – bom 937 (Sư đoàn 372) tiếp nhận 4 chiếc Su-22M4 đầu tiên tại Đà Nẵng và tổ chức chuyển sân về Phan Rang. Su-22M4 là biến thể được sản xuất cuối cùng của dòng máy bay Su-22 với những cải tiến đáng kể trong hệ thống điện tử.

Từ ngày 17/4/1989, trung đoàn 937 tổ chức bay huấn luyện phi công. Cuối tháng 8/1989, 7 chiếc Su-22M4 được cơ động chuyển sân ra Thọ Xuân thực hiện bắn thử vũ khí mới.

Ngày 19/10/1989, tiêm kích – bom Su-22M4 do phi công Vũ Kim Điển và Nguyễn Văn Thận (Trung đoàn 937) hoàn thành xuất sắc chuyến bay nhiệm vụ đầu tiên ra Trường Sa. Cuối tháng 10/1989, Su-22M4 thực hiện thành công cuộc bắn đạn thật tại trường bắn Hòn Tý.

Sau khi hoàn thành đầy đủ công tác huấn luyện chiến đấu cho phi công, ngày 20/12/1989, Trung đoàn 937 được Tư lệnh Quân chủng giao nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ quần đảo Trường Sa và vùng kinh tế biển phía Nam thay cho Trung đoàn 923 trở lại Thọ Xuân – bảo vệ miền Bắc.

Từ 1989 tới nay, những chiếc Su-22M4 đảm nhiệm vai trò chính trong nhiệm vụ bay tuần tra, bảo vệ Trường Sa. Dù, hiện nay, các máy bay tiêm kích đa năng Su-27/30 hiện đại hơn của Không quân Nhân dân Việt Nam đủ khả năng thực hiện chuyến bay tuần tiễu Trường Sa. Nhưng trong tương lai gần, “đôi cánh ma thuật” Su-22M4 vẫn đóng vai trò quan trọng trong nhiệm vụ thiêng liêng tổ quốc giao phó.

Phượng Hồng [LG]

ẢNH: Tiêm kích – bom Su-22 có khả năng vươn tới Trường Sa, hỏa lực máy bay tương đối mạnh với vũ khí điều khiển có thể đánh chìm tàu chiến lớn đối phương

Vì sao ‘nhân dân’ không được làm chiến sĩ thi đua?

Có tới… 59 quan chức trong danh sách 60 người được đề nghị phong tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc của Ban thi đua khen thưởng Trung ương năm nay.

Duy nhất người mang hơi hướng “nhân dân”, đó là ông Nguyễn Viết Đức, giáo viên Tổng phụ trách Đội Trường Tiểu học Tân Lợi, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước. Chức vụ nhỏ nhất cũng tầm hiệu trưởng, còn lại toàn cỡ bộ trưởng (Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình), thứ trưởng (Nguyễn Thanh Long, Thứ trưởng Bộ Y tế; Ngô Văn Khánh, Phó Tổng thanh tra Chính phủ), cục trưởng, viện trưởng, giám đốc, phó giám đốc sở, bí thư tỉnh, chủ tịch huyện…

Có thể hiểu, 60 cá nhân trong danh sách được đề nghị phong tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc đợt này đều là những người ưu tú, có thành tích đặc biệt xuất sắc trong công tác chuyên môn, là tấm gương sáng về tài năng và nhân cách, tiêu biểu cho phong trào thi đua của cả nước.

Nhưng vì sao danh sách chỉ toàn những người có chức vụ cao mà vắng bóng những người công nhân đang lăn lộn trên công trường, xây dựng những công trình đưa đất nước lên tầm cao mới? Đâu rồi những người nông dân dãi nắng dầm sương, đối mặt với vô vàn thiên tai để trực tiếp làm ra hạt gạo, nuôi sống cả nước và mang đi xuất khẩu? Đâu rồi những chiến sĩ không tiếc tuổi thanh xuân, ngày đêm chắc tay súng bảo vệ vững chắc biên cương, hải đảo Tổ quốc?…

Vậy thì có không muốn cũng không thể không đặt câu hỏi: chẳng lẽ, chỉ có “quan” mới thi đua, còn công nhân và nông dân thì không? Và một khi người lao động đã đứng ngoài thì thử hỏi làm sao thúc đẩy được phong trào thi đua? Liệu có sự thiếu minh bạch, nể nang nào đó hay không?

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng phát biểu, thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua và thi đua trên tinh thần yêu nước. Khi thi đua đã trở thành phong trào thì tác dụng của nó đến lao động – sản xuất và sự phát triển xã hội là rất lớn. Nhưng khó ở chỗ là làm thế nào để thi đua trở thành phong trào.

Trước đây, trong thời kỳ chiến tranh cứu nước, mọi người đều ra sức thi đua lao động, sản xuất, chiến đấu, bởi họ thấy được tiền đồ tươi sáng của dân tộc khi đánh đuổi xong quân thù. Đó chính là những động lực để mọi người ra sức thi đua. Ngày nay, đất nước đã bước ra khỏi cuộc chiến tranh cứu nước và đi vào xây dựng, phát triển. Quy luật phát triển đòi hỏi cả tầng lớp lao động chân tay và lao động trí óc càng phải ra sức thi đua, cống hiến.

Muốn đẩy mạnh phong trào này, không gì khác là phải tạo ra những động cơ, động lực thi đua tương tự như thời kỳ trước.

Phát động thi đua ở mỗi một cơ quan, đơn vị cụ thể, thì người thủ trưởng, người đứng đầu không những phải gương mẫu, trong sạch mà còn phải làm cho từng người trong cơ quan, đơn vị đó thấy được tiền đồ phát triển của cơ quan cũng như của mỗi cá nhân.

Mỗi cá nhân đều phải được hưởng công bằng về cả chất lượng lẫn số lượng của những thành quả lao động. Khi được quan tâm tới đời sống vật chất, đời sống tinh thần cũng như thấy được tương lai tươi sáng của bản thân, có lẽ mỗi người sẽ tự bảo nhau thi đua chứ có khi không cần chờ phát động.

Liệu có thể kêu gọi được ai đó thi đua khi mà họ biết trước được rằng, dù có thi đua đến mấy thì đời sống vật chất và tinh thần của mình vẫn không được cải thiện, tương lai của mình vẫn bấp bênh; có thi đua đến mấy rồi các danh hiệu cuối cùng cũng về tay lãnh đạo, cấp trên?

TUẤN DŨNG (ĐẤT VIỆT ONLINE)

[nguồn: reds.vn]