Tag Archive: CHỦ


‘Việt Nam không chấp nhận sự can dự xâm hại chủ quyền’

 

Trong thế giới mở, sự can dự lợi ích của các quốc gia là điều không thể ngăn cấm. Nhưng nếu đó là sự can dự xâm hại chủ quyền thì không được phép chấp nhận.
Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh trao đổi với VnExpress.

– Đối thoại Shangri La lần thứ 12 vào cuối tháng 5 đầu tháng 6 tới diễn ra trong bối cảnh an ninh khu vực nhất là Biển Đông có nhiều căng thẳng. Việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được mời với tư cách là diễn giả chính mang thông điệp gì thưa ông?

– Lời mời dành cho Thủ tướng Việt Nam được Giám đốc Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS) của Vương quốc Anh đưa ra, đồng thời Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long có lời mời chính thức. Như vậy, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ là khách mời chính thức của IISS và là Quốc khách của Singapore.

Từ khi Việt Nam chính thức công bố Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dự đối thoại Shangri La và có bài phát biểu quan trọng mở đầu hội nghị, các hãng tin quốc tế đều đưa tin này với độ nóng cao. Họ đang chờ đợi Thủ tướng Việt Nam sẽ nói gì trong hội nghị này.

Trong bối cảnh tình hình an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương có nhiều vấn đề phức tạp, cả thuận lợi và thách thức, thì việc Thủ tướng Việt Nam được mời phát biểu đầu tiên chứng tỏ Ban tổ chức, nước chủ nhà cũng như cộng đồng quốc tế đánh giá cao vai trò của Việt Nam, đặc biệt trong đóng góp vào hòa bình, an ninh ổn định và hợp tác trong khu vực. Đồng thời, sự tham gia của Thủ tướng cho thấy Việt Nam rất quyết tâm mở rộng quan hệ quốc tế đa dạng, không chỉ song phương mà còn đa phương; quyết tâm hội nhập, trở thành đối tác tin cậy của tất cả các nước.

– Đối thoại Shangri La sắp diễn ra tại Singapore sẽ bàn đến sự can dự của Mỹ vào vấn đề an ninh khu vực cũng như vai trò của Trung Quốc đối với an ninh toàn cầu. Là một quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng, quan điểm của Việt Nam trước những vấn đề này như thế nào, thưa Thứ trưởng?

– Trong một thế giới mở, sự can dự lợi ích các quốc gia là điều không thể ngăn cấm. Họ có quyền bảo về chủ quyền và can dự lợi ích đồng thời tìm lợi ích trong quan hệ với các quốc gia khác. Sự can dự ấy nếu là can dự hòa bình, hợp tác và phát triển thì đó là tích cực. Điều này có lợi cho các nước nhỏ, các nước đang phát triển bởi nó tạo điều kiện hội nhập mạnh mẽ hơn giữa các nước trong khu vực, nhất là các nước đang phát triển như Việt Nam. Chúng ta kỳ vọng những can dự này sẽ đem lại sức sống mới, năng động mới cho cả khu vực.

Nhưng nếu việc can dự mang mục đích lợi ích đơn phương, cục bộ, cao hơn là mang tính bạo lực, xâm hại chủ quyền lợi ích quốc gia khác sẽ không được chấp nhận.

Tôi muốn nói thêm là sự can dự nếu quá thiên về quốc phòng, an ninh sẽ gây nguy cơ tiềm tàng va chạm trong khu vực. Hãy hình dung tình trạng này như có nhiều thùng thuốc súng để gần nhau quá sẽ có ngày bắt lửa. Sự hiện diện quân sự ấy có thể đem lại lo lắng dẫn đến cuộc chạy đua vũ trang mới trong khu vực mà gần đây đã có dấu hiệu của cuộc chạy đua này.

– Việt Nam từng trở thành bài toán mặc cả trong thỏa hiệp lợi ích của các nước lớn. Trong bối cảnh phức tạp hiện nay thì Việt Nam cần làm gì để tránh bị các nước thỏa hiệp trên lưng mình?

– Việc các nước thỏa hiệp mặc cả hy sinh lợi ích của Việt Nam chỉ xảy ra khi ta mất độc lập tự chủ, ngả về bên này hoặc bên kia. Việt Nam đã tuyên bố rõ đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, không tham gia liên minh quân sự, không đi với bên này để chống bên kia.

Thế giới xác định có 3 cách để bảo đảm hòa bình, tự chủ: Một là trở thành nước lớn để hạn chế đối phương hại đến hòa bình lợi ích nước mình. Hai là kiểu “đu dây”, lúc ngả theo bên này, lúc ngả bên kia, sẵn sàng hy sinh lợi ích chiến lược và uy tín quốc gia trong từng thời điểm để đạt mục tiêu trước mắt. Cách thứ ba, khó nhưng bền vững nhất là giữ được độc lập tự chủ, làm bạn với tất cả các nước. Trước hết là độc lập về chính trị, rồi đến độc lập về kinh tế, văn hóa, độc lập về quốc phòng an ninh.

Với Việt Nam, tính chất địa chính trị không cho phép chúng ta chọn “chỗ vắng” được mà buộc phải chọn “chốn đông người”. Vì vậy, trong khi giữ độc lập tự chủ thì mình phải đẩy mạnh mở cửa, trở thành bạn, thành đối tác với tất cả các nước. Đây là vấn đề có tính sống còn cho giữ gìn ổn định, hòa bình, phát triển, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và chế độ chính trị của đất nước ta.

– Quy tắc ứng xử trên Biển Đông chưa ra đời, Việt Nam đề xuất cơ chế hợp tác gì để có thể tránh các vụ va chạm, xung đột trên biển giữa các quốc gia trong khu vực?

– Những va chạm đáng tiếc trên Biển Đông hiện nay khiến ta rất quan ngại. Thậm chí đó là nguy cơ cho an toàn tính mạng của người dân. Điều này trước hết làm xáo trộn môi trường hòa bình của người lao động trên biển. Lợi ích của các nước có chủ quyền bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tôi quan ngại trước hành vi bạo lực nếu nó xuất hiện trên Biển Đông, nhất là khi nó trở thành có tính hệ thống.

Để đẩy lùi nguy cơ này, ta kiên quyết theo đuổi biện pháp hòa bình. Điển hình là Thỏa thuận về nguyên tắc xử lý các vấn đề trên Biển Đông mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký với Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào vào năm 2011. Thỏa thuận này không chỉ giải quyết vấn đề giữa Việt Nam – Trung Quốc mà còn đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định trong khu vực.

Thứ hai, ta đấu tranh mạnh mẽ với các hành vi bạo lực, với người sử dụng vũ lực, gây ra xung đột. Chúng ta cần công khai minh bạch, yêu cầu không tái diễn.

– Nhưng trong những tình huống thực tế, khi phải đối mặt với hành động bạo lực của lực lượng quân sự tấn công người dân như vụ tàu cá ở Quảng Ngãi bị tàu hải quân Trung Quốc bắn vừa qua thì lực lượng trên biển của ta phải hành động gì để đối phó?

– Chúng ta có cách để hạn chế họ dùng vũ lực và không để xảy ra xung đột. Trước hết là đấu tranh ngoại giao trực diện trên các diễn đàn song phương và đa phương. Trên thực địa, ta có nhiều biện pháp linh hoạt, hiệu quả như sử dụng lực lượng chấp pháp kết hợp với tàu đánh cá để bao vây, đẩy đuổi.

Về một số hành động vũ lực đối với tàu cá của ngư dân Việt Nam vừa qua, tôi hy vọng rằng đây mới chỉ là hành động cục bộ chứ chưa phải là chủ trương, tuy nhiên vẫn cần đấu tranh kiên quyết ngay từ những dấu hiệu ban đầu này, không để những hiện tượng tương tự tái diễn.

Lực lượng thực thi luật pháp trên biển của Việt Nam luôn đề cao tính nhân đạo trong xử lý các vấn đề trên biển với lao động bình thường. Xử lý nghiêm minh nhưng nhân đạo, đặc biệt không dùng vũ lực, bạo lực đe dọa ức hiếp người dân Trên bình diện đa phương, ta cũng cần nêu vấn đề công khai minh bạch, để cộng đồng quốc tế hiểu rõ chính sách của Việt Nam và hiểu rõ các vấn đề mà ta đang gặp phải.

– Cách đây một năm, ông từng nói Biển Đông sẽ có những diễn biến bất thường và khó lường. Vậy tại thời điểm này, ông đánh giá tình hình như thế nào?

– “Nhiệt độ” trên Biển Đông đã đến điểm mà các nước phải có tính toán rất kỹ nếu đi thêm bất kỳ bước nào nữa. Ví dụ như vừa qua nói rằng một số nước lớn phát triển chiến lược biển, có nhiều động thái đơn phương, không theo đúng luật pháp quốc tế, tuy mang nặng tính biểu tượng, mặc dù vậy đã gây ra nhiều quan ngại. Nhưng nếu họ đi từ tuyên bố đến hành xử trên thực tế thì vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn rất nhiều. Ta cần đấu tranh với từng thái độ, từng hành động để mọi tuyên bố đi ngược lại với luật pháp quốc tế, đi ngược với cam kết giữa các bên, phương hại đến hòa bình, ổn định trong khu vực không xảy ra trên thực tế.

NGUYỄN HƯNG (VNEXPRESS)

Đối với xã hội vẫn còn thiên về nông nghiệp như nước ta hiện nay thì việc hội nhập văn hóa với thế giới vẫn là điều rất cần phải bàn luận cho thấu đáo và kỹ càng.

Người xưa nói “sai một li, đi một dặm”. Muốn hội nhập “bàn cờ lớn” thế giới, chúng ta quyết không thể nóng vội, để tránh những bước đi sai lầm. Nhất là trong vấn đề “cải cách” những giá trị văn hóa truyền thống.

Tết “ta” có tự bao giờ?

Mặc dù Tết “ta” (hay Tết Âm lịch) có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng việc tính lịch của người Trung Quốc cũng rất khoa học. Nếu dương lịch của phương Tây tính theo chu kỳ của mặt trời, thì âm lịch của Trung Quốc lại tính theo chu kỳ của mặt trăng.

Lịch Thái sơ của người Trung Quốc được sử dụng từ khoảng năm 104 trước Công nguyên quy định tháng Chạp là tháng cuối năm, tháng Giêng là tháng đầu năm. Từ việc xác định này, người dân Trung Quốc đón năm mới vào khoảng thời gian từ đầu tháng Giêng. Thực tế, so với dương lịch, việc xác định năm mới từ tháng Giêng hợp qui luật thiên nhiên hơn, vì lúc này cỏ cây mới nảy mầm, mới khai hoa, mở đầu một chu kỳ sinh trưởng mới.

Nguyên nghĩa của từ “Tết” chính là “tiết”. Văn hóa Đông Á – thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước – do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã “phân chia” thời gian trong một năm thành 24 tiết khác nhau (và ứng với mỗi tiết này có một thời khắc “giao thời”). Trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên đán sau này được biết đến là Tết Nguyên đán.

Tết Nguyên đán là lễ tết đầu tiên của một năm. Tết được bắt đầu từ lúc giao thừa cùng với lễ trừ tịch. Theo chữ Hán, “Nguyên” có nghĩa là bắt đầu, “Đán” là buổi sớm mai. Tết Nguyên đán tức là Tết bắt đầu của năm, mở đầu cho mọi công ăn việc làm với tất cả mọi cảnh vật đều mới mẻ đón xuân sang.

Thứ hai, quy luật của văn hóa là phép bù, trừ. Nghĩa là đối với văn hóa, cái gì thiếu thì phải bổ sung cho đủ, nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn. Cái gì thừa thì phải cắt bỏ, cũng là vì những lý do tương tự.

Tết Âm lịch của người Trung Quốc cũng được người Việt chấp nhận như một dạng thức văn hóa để thích nghi và sinh tồn. Dù nó được du nhập ban đầu bằng con đường “đô hộ”. Về vấn đề này, Gs Nguyễn Anh Trí, Viện trưởng Viện Huyết học – Truyền máu TƯ đã nêu quan điểm rằng:

“Ai cũng biết, Tết Âm lịch đã có hàng ngàn năm nay nên đã trở thành “cổ truyền”. Nhưng cũng cần lưu ý lịch âm có nguồn gốc là lịch Trung Quốc. Trung Quốc là nước láng giềng chúng ta, có một nền văn hóa đồ sộ. Mặt khác, hàng ngàn năm trước đây Việt Nam “hội nhập” với Trung Quốc là chủ yếu. Việc dùng lịch Trung Quốc, ăn Tết như Trung Quốc nằm trong bối cảnh này”.

Điều này hoàn toàn phù hợp với định nghĩa về văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt, cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra, nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, NXB CTQG, HN, 2000, tr 431).

 

Bắn pháo hoa chào đón năm mới bên hồ Gươm

 

Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng, Tết “ta” không phải nguyên xi là Tết Trung Quốc 100%. Vậy Tết Âm lịch Việt Nam khác Tết Âm lịch Trung Quốc ở điểm gì?

Đó là tục nấu bánh chưng, bánh tét có từ thời Hùng Vương. Đó là truyền thống: “Mồng Một tết cha, mồng Hai Tết mẹ, mồng Ba tết thầy”. Riêng đối với Tết ở Huế, cố đô của Việt Nam chúng ta sẽ thấy nhiều điểm khác nữa. Đó là bánh tét làng Chuồn, hoa giấy Thanh Tiên (ảnh hưởng Chămpa) và chợ Gia Lạc ba ngày Tết. Những nét văn hóa Tết không thể tìm thấy ở bất cứ vùng miền nào ở Trung Quốc.

Có thể thay đổi Tết “ta”?

Gần đây, dư luận cả nước bàn luận rôm rả quan điểm của Gs Võ Tòng Xuân, về việc dân ta nên đổi cách ăn Tết “tây”, thay cho Tết “ta”. Quan điểm của GS Võ Tòng Xuân là “chúng ta nên cương quyết đổi mới, không ăn tết hai, ba, thậm chí bốn tuần theo âm lịch nữa mà chỉ nên ăn tết bốn ngày theo dương lịch là đủ”.

Theo Gs Võ Tòng Xuân, nếu ăn Tết “ta” theo ngày dương lịch, Việt Nam sẽ có những điều lợi sau đây:

1- Vừa giữ được các tập quán Tết cổ truyền, vừa ít bỏ lỡ cơ hội nắm bắt đối tác kinh doanh, giao thương với nước ngoài.

2- Ít mất thời gian của nông dân (đại bộ phận người dân) dành chăm sóc lúa đông-xuân, vụ lúa tiềm năng cao nhất trong năm.

3- Học sinh và sinh viên có thời khóa biểu học tập và thi học kỳ một cách hợp lý.

4- Giảm tối thiểu tình trạng dân chúng nhậu nhẹt, bài bạc dưới nhiều hình thức, rất tốn kém tiền của và thời gian học tập, tổn hại sức khỏe và tính mạng trong giao thông.

5- Chấm dứt lãng phí nhiều ngày làm việc mà mình nghỉ, trong khi quốc tế làm việc.

Quan điểm của Gs Võ Tòng Xuân là rất tâm huyết nhưng nó lại chưa phù hợp với tâm thế xã hội Việt Nam hiện nay.

Bởi không những Tết Âm lịch gói gọn trong ba ngày mà còn kéo dài đến mồng 10 tháng Giêng. Dân gian gọi là “Ba ngày tết, bảy ngày xuân”. Cái Tết Âm lịch dân tộc là cái tết của sự đoàn viên. Chính tâm lý “trọng tình” đã hun đúc nên một cái Tết kéo dài nhưng rất hợp lý.

Trong những cái khổ của con người, như Phật giáo đã chỉ ra là do “ái biệt ly khổ”. Nghĩa là thương nhớ, muốn gặp mặt, muốn đoàn tụ mà phải xa nhau nên khổ. Thử hỏi ai làm việc cực nhọc quanh năm suốt tháng, xa quê, xa gia đình, xa bạn bè, xa người yêu… lại không có tâm lý thích được có một khoảng thời gian dài để gặp lại người thân, kể lể tâm sự những tháng ngày đã qua?

Quan điểm của Gs Võ Tòng Xuân là rất tâm huyết nhưng nó lại chưa phù hợp với tâm thế xã hội Việt Nam hiện nay.

Tết “ta” sẽ còn ý nghĩa gì nữa khi vì không có thời gian (chứ không phải không có tiền bạc) mà thiếu đi việc tảo mộ, thiếu đi một cành mai vàng, một nụ tầm xuân, hay thiếu đi món bánh chưng, bánh tét, món ăn đặc trưng trong ngày Tết đã có từ thời Văn Lang – Âu Lạc?

Việc “bỏ lỡ cơ hội làm ăn” và “lãng phí thời gian làm việc” như Gs Võ Tòng Xuân đã nêu, là một điều không ai mong muốn. Nhưng chúng ta vẫn làm ăn trong dịp Tết chứ không phải bỏ bê, trì trệ. Đó là những địa điểm du lịch – dịch vụ luôn có cơ hội “hốt tiền” vào ngày Tết Âm lịch.

Bởi lượng khách du lịch trong và ngoài nước cũng luôn tăng mạnh trong những ngày Tết cổ truyền của Việt Nam. Đó chính là quy luật bù trừ về kinh tế. Khi nhiều ngành kinh tế khác “đóng băng” thì ngành du lịch- dịch vụ lại phất lên vào dịp Tết, thu hút được khá nhiều khách du lịch nước ngoài.

Tết “tây” kéo dài, được không?

Một vấn đề đáng bàn nữa là trong bài viết của mình Gs Nguyễn Anh Trí, Viện trưởng Viện Huyết học – Truyền máu TƯ đã nêu quan điểm rằng nên “kéo dài ngày nghỉ Tết Dương lịch và rút ngắn ngày nghỉ Tết Âm lịch”.

Phải thừa nhận hiện nay, một bộ phận không nhỏ cư dân thành thị nước ta ăn Tết “tây” theo kiểu “phú quý sinh lễ nghĩa” nhưng đa phần 90 triệu dân Việt Nam (sống ở nông thôn và rất nhiều người theo Phật giáo) vẫn hướng về cái Tết Âm lịch của dân tộc.

Thứ hai, Tháng Giêng (January) của phương Tây được đặt tên theo vị thần Janus, người được phác họa có hai đầu, một trông về phía trước, một trông về phía sau, biểu tượng cho sự chuyển giao giữa cái cũ và cái mới. Ngày nay, biểu tượng bắt đầu của năm mới ở phương Tây là một đứa trẻ sơ sinh và hình ảnh một ông già khép lại năm cũ.

Tuy nhiên, khi chúng ta vẫn sử dụng lịch âm- dương kết hợp (trên là ngày dương, dưới ngày âm) thì làm sao có thể cùng đón “buổi sáng sớm đầu tiên của tiết Xuân” (Nguyên đán) của cư dân phương Đông với ngày 1/1, ngày Năm mới (New Year’s Day) của cư dân phương Tây, vì cả hai đều chỉ chung cho một vụ mùa mới trong nông nghiệp?

Thứ ba, nếu Tết “tây” kéo dài thì tiền bạc, của cải, thời gian đâu để ăn Tết Âm lịch, dù chỉ có một- ba ngày.

Như vậy, đối với xã hội vẫn còn thiên về nông nghiệp như nước ta hiện nay thì việc hội nhập văn hóa với thế giới vẫn là điều rất cần phải bàn luận cho thấu đáo và kỹ càng. Trước tiên, có lẽ phải đợi đến mốc 2020, khi nước ta sẽ cơ bản là một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, khi người dân đủ tiền bạc để chu toàn về thời gian để đón được cả hai cái Tết “tây” và Tết “ta”.

Nguyễn Văn Toàn

Lợi ích địa chính trị, chứ không phải vì thành công trong xây dựng nền dân chủ .

обама пресс-конференция обама сша
Gần đây một số báo chí , các hãng truyền thông ở hải ngoại có những bài viết ca ngợi “mùa xuân Myanma” họ gọi đó là bước chuyển mình “ngoạn mục” về dân chủ ? và đặt câu hỏi liệu bao giờ có “Mùa xuân Việt nam” ? Để nhận diện cho rõ về vấn đề này chúng ta phân tích có phải thực sự myanma đã đạt được những “thành tựu dân chủ” như các hãng truyền thông tung hô khi mà họ có cách nhìn phiến diện đối với Việt Nam về vấn đề dân chủ .
Chuyến công du nước ngoài đầu tiên sau khi tái đắc cử của Tổng thống Barack Obama là đến các quốc gia Đông Nam Á, mặc dù các nước này hoàn toàn nằm xa trung tâm chính trị thế giới. phân tích mục tiêu chính sách Mỹ trong khu vực. Myanmar sẽ trở thành một đấu trường mới của Trung Quốc và Hoa Kỳ. Chúng ta có thể xâu chuỗi các sự kiện xảy ra để có một nhìn nhận khách quan sau khi Hoa Kỳ nối lại quan hệ với Myanmar.
Năm 1988 Hoa Kỳ áp đặt trừng phạt nghiêm trọng đối với Myanmar, nơi mà quân đội nắm quyền. Tuy nhiên, trong cuộc đấu tranh với chính quyền quân sự, Mỹ đã đánh mất vị trí và ảnh hưởng của họ ở đất nước này. Trung Quốc bắt đầu giữ thế chủ động, tích cực phát triển quan hệ chính trị và kinh tế với Myanmar. Hoa Kỳ, phương Tây nói chung đã bỏ lỡ cơ hội, khiến Trung Quốc nắm được con đường thông qua Myanmar tới Ấn Độ Dương, đặc biệt đã được nhấn mạnh trong vấn đề kịp thời giao nhận đường ống trung chuyển khí đốt, chạy theo biên giới Trung Quốc-Myanmar đến cảng ở Ấn Độ Dương và Trung Quốc. Đường ống này rất cần thiết để bơm năng lượng nhập khẩu, nhất là trong trường hợp bất khả kháng Mỹ chặn đường các tàu chở dầu của Trung Quốc ở eo biển Malacca.Vì vậy, để giữ thể diện, hiện nay Hoa Kỳ đang cố gắng giành chiến thắng thích hợp ở đất nước này. Tất nhiên, quân bài chính là phe đối lập Myanmar. Quân bài đó đang được sử dụng. Aung San Suu Kyi là nhân vật nổi bật nhất của phe đối lập, phương Tây sẽ làm bất cứ điều gì để thúc đẩy bà ta thành nhà lãnh đạo quốc gia tiềm năng. Chưa thể nói rằng phe đối lập đã giành được quyền lực, nhưng trong tương lai, tất nhiên, nó sẽ con chủ bài của Mỹ. Họ sẽ cố gắng để đưa bà ta lên nắm quyền. Vì vậy. Các công ty Mỹ được phép đầu tư vào những lĩnh vực then chốt của nền kinh tế Myanmar, bao gồm cả công nghiệp dầu khí. Đồng thời họ có cơ hội cung cấp cả dịch vụ tài chính. Đây đều là các khu vực mà Trung Quốc hiện đã chiếm ưu thế. Trung Quốc nhanh chân củng cố vị trí ngay sau khi Hoa Kỳ áp đặt biện pháp trừng phạt cứng rắn đối với Myanmar, kể từ khi thế lực quân đội ở nước này lên nắm quyền năm 1988. Ông Obama giải thích việc nới lỏng hạn chế do những cải cách tự do và tiến bộ hướng tới dân chủ đang xuất hiện ở Myanmar. Tuy nhiên, Mỹ tha thứ cho chế độ độc tài không phải bởi nguyên nhân này .Ở đây, lợi ích địa chính trị của Mỹ trong khu vực đóng vai trò trên hết. Những yếu tố này đi liền với cuộc đối đầu với Trung Quốc, nỗ lực kiềm chế tiềm lực ngày càng tăng, đặc biệt là về quân sự. Nhìn chung, bên cạnh Trung Quốc, Mỹ nỗ lực xây dựng mối quan hệ tương đồng với các nước khác trong khu vực, để nếu cần thiết dựa vào sự yểm hộ của họ hoặc ít nhất là thái độ trung thành. Xuất phát từ tính toán như vậy, Mỹ xây dựng quan hệ với Việt Nam và Ấn Độ. Các động thái của Mỹ cũng cần được đánh giá từ quan điểm lợi ích địa chính trị, chứ không phải sự ưu đãi vì thành công trong xây dựng nền dân chủ ở myanma.
Washington rõ ràng đang ve vãn phe đối lập và cả chính phủ Myanmar. Trước đây, tấm gương Thủ tướng Thein Sein và chính quyền quân sự là hoàn toàn không thể chấp nhận được đối với Hoa Kỳ. Trước khi bà Aung San Sun Kyi xuất hiện, Washington đã dỡ bỏ lệnh trừng phạt đối với Thein Sein, rõ ràng là có tính toán để nâng cao hình ảnh của bà. Việc hủy bỏ các biện pháp trừng phạt cũng được đưa ra đối với chủ tịch hạ viện của quốc hội, ông Shwe Mann. Ông nhân vật thứ ba trong chính quyền quân sự trước đây.
Mỹ bắt đầu ván bài mới vì quyền lợi của mình tại Myanmar .Phản ứng của Trung Quốc là tăng cường các mối quan hệ của mình với Myanmar.khẳng định ý định của Trung Quốc tăng cường hợp tác với Myanmar trong mọi lĩnh vực, bao gồm cả quân sự.
Chuyến thăm đầu tiên của tân lãnh đạo bất kỳ quốc gia nào sau khi lên nắm quyền thường mang ý nghĩa biểu trưng, khẳng định sự quan tâm đặc biệt đến quốc gia hoặc khu vực cụ thể. Ông Barack Obama không phải là một nhà lãnh đạo mới, tuy nhiên yếu tố biểu tượng trong chuyến công du nước ngoài đầu tiên của ông đến các nước Đông Nam Á sau khi tái đắc cử Tổng thống chắc chắc hiện hữu. Theo giới quan sát, nó thể hiện nguyện vọng của Tổng thống Mỹ tăng cường tập trung chú ý về hướng châu Á.
Chính tại châu Á đang tăng cường sức mạnh duy nhất có khả năng thách thức các mục tiêu chiến lược của Mỹ như hỗ trợ dân chủ và ổn định trên toàn thế giới ,cả ba quốc gia mà Tổng thống Obama đến thăm – Thái Lan, Myanmar và Cam-pu-chia đều đóng vai trò quan trọng đối với Mỹ. Tất cả 3 nước đều có rắc rối với Bắc Kinh và việc Mỹ cải thiện quan hệ với các nước này có thể giúp tạo ra lực lượng đối trọng với Trung Quốc vốn đang ngày càng gia tăng ảnh hưởng của mình.
Chuyến đi đến các nước Đông Nam Á bắt đầu từ ngày 18 tháng 11 bằng chuyến thăm Thái Lan – đồng minh truyền thống của Mỹ trong khu vực. Mối quan hệ của Washington với Bangkok luôn gần gũi, nhưng thời gian gần đây, Thái Lan lại tích cực phát triển quan hệ với Bắc Kinh. Trong chuyến thăm Trung Quốc vào tháng 4 năm 2012, Thủ tướng Thái Lan Yingluck Shinawatra đã công bố việc thành lập “quan hệ đối tác song phương toàn diện” giữa hai nước. Thủ tướng Ôn Gia Bảo xem Thái Lan là “người bạn và đối tác đáng tin cậy”. Kim ngạch thương mại song phương 2 nước cũng tăng trưởng, đạt gần 65 tỷ đôla Mỹ trong năm 2011. Nhiệm vụ đặt ra là đẩy mức thương mại lên 100 tỷ đôla Mỹ vào năm 2015. Bên cạnh đó, dân Trung Quốc cũng chiếm vị trí đầu tiên trong tổng số khách du lịch đến thăm Thái Lan (năm 2011 – 1,7 triệu). Điều thú vị là chính sách hạn chế sự hỗ trợ từ Mỹ và củng cố quan hệ với Trung Quốc được khởi xướng bởi anh trai bà Yingluck Shinawatra – cựu Thủ tướng Thaksin Shinawatra. Ông Thaksin Shinawatra bị lật đổ vào năm 2006 trong một cuộc đảo chính quân sự. Vì vậy, Washington dường như quyết định đã đến lúc phải tăng cường mối quan hệ với Bangkok.
Chuyến thăm Myanmar và Cam-pu-chia quả thật mang tính lịch sử vì trước đây các nhà lãnh đạo Mỹ chưa bao giờ đến thăm các quốc gia này. Tại Myanmar, trong nhiều thập kỷ qua chế độ quân sự chống phương Tây cầm quyền, chủ trương phát triển quan hệ chặt chẽ với Trung Quốc. Trong khi các quốc gia phương Tây áp đặt biện pháp trừng phạt Myanmar do vi phạm nhân quyền, Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại quan trọng nhất của quốc gia khép kín này, cung ứng các khoản vay tín dụng, các công ty của Trung Quốc xây dựng cơ sở hạ tầng (đập, đường giao thông, bến cảng, cầu), khai thác mỏ, … Tuy nhiên, trong năm 2011, chính phủ quân sự cầm quyền đã phải đứng trước cuộc cải cách hạn chế, chính quyền đã được chuyển giao cho người dân. Bầu cử được tiến hành, trong đó có sự tham gia của các ứng viên không chính thức. Ở giai đoạn sau, nhà lãnh đạo nổi tiếng của phe đối lập bà Aung San Suu Kyi còn được bầu vào Quốc hội. Có những tín hiệu cho thấy chính quyền Myanmar đang chịu gánh nặng khi phải đơn phương phụ thuộc vào Bắc Kinh và nước này đồng ý thiết lập mối quan hệ với phương Tây. Còn một điều không hài lòng ở đây là sự hỗ trợ của Trung Quốc đối với 1 số dân tộc thiểu số có thái độ cực đoan sống ở gần biên giới
Rõ ràng, Washington đưa ra những phản ứng nghiêm túc trước các tín hiệu từ Myanmar. Trong bài phát biểu tại trường Đại học Yangon ngay trước chuyến thăm, Tổng thống Barack Obama đã công bố việc giảm bớt các biện pháp trừng phạt kinh tế, đồng thời nhắc lại lời hứa trong lễ tuyên thệ nhậm chức năm 2009 rằng Mỹ sẵn sàng chìa tay với các chính phủ từng dùng thế mạnh của sự sợ hãi để kiểm soát người dân, nếu họ sẵn sàng “buông lỏng quả đấm” của mình.
Chuyến thăm Campuchia của Tổng thống Obama chính thức gắn liền với Hội nghị thượng đỉnh ASEAN. Tổng thống Mỹ đã tránh né các vấn đề quan hệ song phương và chỉ tiến hành một cuộc gặp lễ tân với Thủ tướng Campuchia Hun Sen, vốn bị Mỹ cáo buộc độc tài và truy kích phe đối lập. Các vấn đề lớn đã được Tổng thống Mỹ thảo luận với các nhà lãnh đạo ASEAN tại Hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN lần thứ 4, cũng như trong tiến trình đàm phán riêng với Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo và Thủ tướng Nhật Bản Yoshihiko Noda.
Đương nhiên, Mỹ không muốn quan hệ với Bắc Kinh xấu đi. Trung Quốc và Mỹ có sự phụ thuộc lẫn nhau về mặt kinh tế, kim ngạch thương mại giữa 2 nước đang đạt mức khổng lồ, Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Trung Quốc chắc chắn sẽ có những vấn đề cần thảo luận. Nhưng cùng một lúc, Washington rõ ràng đang cố gắng mở rộng quan hệ với các nước láng giềng Trung Quốc, bao gồm các nước ASEAN để tạo thế đối trọng với sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực. Chính thái độ cứng rắn của Bắc Kinh trong các tranh chấp lãnh thổ, cũng như trong các tranh chấp khác với các nước láng giềng là lý do chính khiến các nước này mong muốn Mỹ tăng cường sự có mặt của mình tại đây.Hơn nữa, Washington đang củng cố vị trí của mình ở Myanmar và các nước khác ởHơn nữa, Washington đang củng cố vị trí của mình ở Myanmar và các nước khác ở Đông Nam Á trong khuôn khổ chiến lược chung mang tên “sự trở lại châu Á của Hoa Kỳ”. Những “công trạng” cũ của Bắc Kinh trước chính quyền quân sự khó mà có thể cứu vãn được tình thế hiện nay, chính quyền Myanmar buộc phải hành động trong những điều kiện hoàn toàn mới.
 Đối với việt Nam thì chính sách của Hoa kỳ chúng ta có thể hiểu thông qua phát biểu sau của ông Andrew Billo từng làm việc ở Việt Nam bốn năm cho Tổ chức Di dân Quốc tế (2004-2008), ông hiện là trợ lý giám đốc về các chương trình chính sách của Asia Society đặt trụ sở ở New York trả lời phỏng vấn trên BBC việt ngữ về quan hệ Việt- Mỹ “Quan hệ Việt – Mỹ, vốn đã vững chắc, đang phát triển mạnh hơn nữa không chỉ nhờ hợp tác đầu tư và thương mại, mà còn là kết quả của các tranh chấp trên vùng biển Nam Trung Hoa (mà Việt Nam gọi là Biển Đông).Quan hệ với Việt Nam quá quan trọng khiến Mỹ không thể có hành động có ý nghĩa để ngăn vi phạm nhân quyền. Tuy nhiên, các tổ chức phi chính phủ và hệ thống Liên Hiệp Quốc, thông qua các dự án nhằm giúp chính phủ Việt Nam giải quyết lo ngại nhân quyền hiệu quả hơn, có thể có tác động quan trọng. Dẫu sao hợp tác vẫn hiệu quả hơn là tạo áp lực từ bên ngoài. Barack Obama, và Ngoại trưởng Hillary Clinton, đang thừa hưởng di sản hợp tác của đảng Dân chủ với Việt Nam, phát triển từ sau chuyến thăm lịch sử của Tổng thống Clinton năm 2000. Nếu John Kerry, một cựu binh Việt Nam, tiếp quản chức ngoại trưởng, đó sẽ có thể là cú hích hợp tác nhờ sự tôn trọng ông dành cho Việt Nam và nỗ lực của ông nhằm dỡ bỏ lệnh cấm vận năm 1994″.
Houston 25-11-2012

Lấy phiếu tín nhiệm cả Chủ tịch nước và Thủ tướng

 

 

– Theo Nghị quyết về quy trình lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm vừa được QH thông qua sáng nay, từ năm 2013, các nhân sự cấp cao của Chính phủ và QH sẽ được lấy phiếu tín nhiệm hàng năm. Người có quá nửa ĐB đánh giá “tín nhiệm thấp” có thể xin từ chức hoặc QH bỏ phiếu tín nhiệm.

5 trường hợp bỏ phiếu tín nhiệm

Theo Nghị quyết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH) sẽ trình QH bỏ phiếu tín nhiệm khi xảy ra một trong các trường hợp sau: khi UBTVQH đề nghị bỏ phiếu tín nhiệm; khi có kiến nghị của ít nhất 20% tổng số đại biểu; khi có kiến nghị của Hội đồng Dân tộc, ủy ban của QH.

Đại biểu QH ấn nút thông qua nghị quyết về quy trình lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm sáng 21/11. Ảnh: Minh Thăng

 

Việc bỏ phiếu tín nhiệm cũng sẽ được tiến hành khi người được lấy phiếu tín nhiệm có trên 2/3 tổng số đại biểu QH đánh giá “tín nhiệm thấp”. Hoặc, người được lấy phiếu tín nhiệm có 2 năm liên tiếp có quá nửa tổng số đại biểu đánh giá “tín nhiệm thấp”.

Như vậy, so với luật hiện hành, Nghị quyết này chỉ bổ sung thêm hai điều kiện về “bỏ phiếu” tín nhiệm căn cứ vào kết quả lấy phiếu tín nhiệm hàng năm. Còn lại, vẫn là những quy định cũ đã có trong luật nhưng chưa từng được thực thi.

QH cũng chỉ lấy phiếu tín nhiệm với các chức danh lãnh đạo chủ chốt. Không lấy phiếu tín nhiệm tại Hội đồng Dân tộc, ủy ban của QH, ban của HĐND như dự kiến ban đầu.

Theo báo cáo giải trình của UBTVQH, qua thảo luận tại hội trường, nhiều đại biểu đề nghị thu gọn phạm vi những người được lấy phiếu tín nhiệm, không làm dàn trải.

Kết quả thăm dò bằng phiếu gửi đại biểu cũng cho thấy đa số tán thành chỉ lấy phiếu tín nhiệm với các chức danh chủ chốt. Tương tự, HĐND lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ các chức vụ do HĐND bầu như: chủ tịch, phó chủ tịch, ủy viên thường trực HĐND, trưởng các ban của HĐND; chủ tịch, phó chủ tịch và các ủy viên của UBND.

Bỏ phiếu kín

Việc lấy phiếu tín nhiệm sẽ bắt đầu thực hiện ngay tại kỳ họp QH đầu năm 2013.

Với các nhiệm kỳ sau, việc lấy phiếu tín nhiệm sẽ bắt đầu vào kỳ họp đầu tiên trong năm kể từ năm thứ hai của nhiệm kỳ.

Trước đó, mặc dù có một số ý kiến đề nghị chỉ nên lấy phiếu tín nhiệm hai lần trong một nhiệm kỳ hoặc vào kỳ họp cuối mỗi năm, song theo UBTVQH, việc lấy phiếu tín nhiệm hàng năm sẽ giúp người giữ chức vụ thấy mức độ tín nhiệm của mình để phấn đấu hoàn thành tốt nhiệm vụ.

Đồng thời, cũng để các cơ quan có thẩm quyền kịp thời xem xét, điều chỉnh việc sắp xếp, bố trí cán bộ, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả bộ máy nhà nước. Quy định về thời điểm lấy phiếu tín nhiệm bắt đầu từ năm thứ hai của nhiệm kỳ là để bảo đảm thời gian cần thiết cho việc thể hiện năng lực lãnh đạo, quản lý.

Quy trình được tiến hành như sau: Người được lấy phiếu tín nhiệm sẽ có báo cáo công tác bằng văn bản gửi UBTVQH chậm nhất 30 ngày, trước ngày khai mạc kỳ họp QH. UBTVQH gửi thông báo về việc lấy phiếu tại kỳ họp và báo cáo công tác của người được lấy phiếu đến đại biểu chậm nhất là 20 ngày, trước ngày khai mạc kỳ họp. QH quyết định ngày lấy phiếu tín nhiệm trong chương trình kỳ họp. Hình thức là bỏ phiếu kín.

Người được lấy phiếu tín nhiệm có trách nhiệm tự nhận xét, báo cáo trung thực kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn được giao, việc rèn luyện tư tưởng chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống và giải trình đầy đủ các nội dung mà người tham gia lấy phiếu yêu cầu. Đại biểu có quyền yêu cầu người được lấy phiếu giải trình thêm về những vấn đề đại biểu quan tâm, cần được làm rõ; thu thập thêm thông tin từ những nguồn đã được kiểm chứng khác.

Người có quá nửa tổng số đại biểu đánh giá mức “tín nhiệm thấp” có thể xin từ chức hoặc QH bỏ phiếu tín nhiệm.

Người bị bỏ phiếu có quyền trình bày

Quy trình bỏ phiếu tín nhiệm được tiến hành như sau.

UBTVQH trình QH về việc bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ doQH bầu hoặc phê chuẩn tại kỳ họp QH, trong đó báo cáo rõ căn cứ đề nghị thực hiện bỏ phiếu tín nhiệm.

QH thảo luận. Trước đó, người bị bỏ phiếu tín nhiệm có quyền trình bày ý kiến của mình trước QH. Trong trường hợp cần thiết, đại biểu thảo luận tại các đoàn. Chủ tịch QH có thể họp với các trưởng đoàn đại biểu để trao đổi các vấn đề liên quan.

Sau đó, UBTVQH báo cáo trước QH kết quả thảo luận.

QH bỏ phiếu tín nhiệm bằng cách bỏ phiếu kín. Trên phiếu thể hiện tên, chức vụ của người bị bỏ phiếu tín nhiệm, hai mức độ “tín nhiệm” và “không tín nhiệm”.

Đối với người có quá nửa đại biểu không tín nhiệm thì cơ quan hoặc người có thẩm quyền giới thiệu để QH bầu hoặc phê chuẩn việc bổ nhiệm có trách nhiệm trình QH xem xét, quyết định việc miễn nhiệm hoặc phê chuẩn việc miễn nhiệm đối với người đó.

 

 

Các đối tượng QH thực hiện lấy phiếu tín nhiệm: Chủ tịch nước, Phó Chủ tịch nước; Chủ tịch QH, các phó chủ tịch QH, Chủ tịch Hội đồng dân tộc, chủ nhiệm các ủy ban của QH, các thành viên khác của UBTVQ;Thủ tướng, các Phó Thủ tướng, các thành viên khác của Chính phủ; Chánh án TANDTC, Viện trưởng VKSNDTC, Tổng Kiểm toán Nhà nước.

 

 

Lê Nhung

 

Bản chất bỏ phiếu là bất tín nhiệm

Nguyên Chủ nhiệm VPQH Vũ Mão nói, phối hợp QH – cơ quan Đảng về nhân sự còn lúng túng. Nhân bàn bỏ phiếu tín nhiệm, QH nên chủ động hơn.

Nên bỏ phiếu tín nhiệm 49 nhân sự cấp cao

Thảo luận ở tổ, nhiều ĐBQH nói chỉ nên khoanh vùng ở 49 nhân sự cấp cao. Phải bỏ phiếu luôn, không nên “vòng vo” thêm quy trình lấy phiếu.

Phải thay được người không còn uy tín

Cán bộ nếu lấy phiếu mà đạt tín nhiệm thấp có quyền xin từ chức. Người tín nhiệm thấp phải tìm giải pháp tốt nhất cho bản thân trong danh dự.

Sẽ lấy phiếu tín nhiệm trong Đảng

Cùng với quy trình bỏ phiếu tín nhiệm ở QH, sắp tới còn có NQ về lấy phiếu tín nhiệm trong Đảng – Phó Chủ tịch QH Uông Chu Lưu nói.

Tín nhiệm thấp, cách chức luôn?

Thẩm tra dự thảo Nghị quyết về lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm, UB Pháp luật đề xuất nếu ai đó tín nhiệm thấp nên cách chức luôn.

Lấy phiếu tín nhiệm: Cơ hội cho văn hóa từ chức

Xây dựng văn hóa từ chức trong hoạt động chính trị là kỳ vọng của các ủy viên Thường vụ QH khi thảo luận đề án lấy phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do QH, HĐND bầu hoặc phê chuẩn.

Bỏ phiếu tín nhiệm khi dư luận ‘trào sôi’

Trọng tâm buổi thảo luận tổ về đề án đổi mới hoạt động QH chiều nay (28/5) là đề xuất bỏ phiếu tín nhiệm các chức danh do QH bầu hoặc phê chuẩn.

Bỏ phiếu tín nhiệm: Cần được ‘bật đèn xanh’

GS.TS Nguyễn Minh Thuyết cho rằng, Đảng đổi mới phương thức lãnh đạo đối với Quốc hội, “bật đèn xanh” sẽ đảm bảo cơ chế bỏ phiếu tín nhiệm đi vào thực tiễn một cách thực chất.

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/97741/lay-phieu-tin-nhiem-ca-chu-tich-nuoc-va-thu-tuong.html

DÂN: ĐỪNG KHÓC HỘ TÔI

Chào anh “dân chủ”
Chào các chị “tự do”
Chào các em đang ngày đêm tranh đấu “nhân quyền”

Tôi là Dân
Là “dân đen” mà các anh bình thường vẫn gọi
Là “dân hèn” mà các chị vẫn gọi thân thương

Mấy nay bận rộn đủ đường
Giờ nét về bản mới lên tường hàn huyên
Số là cái bệnh kinh niên
Tôi thường sổ mũi, liên miên hắt xì
Hỏi thăm bác sỹ: chuyện gì ?
Thì ra anh chị thầm thì nhắc tên
Anh rằng: “Dân nó kêu rên”
Chị rằng: “Dân nó cái mền cũng không
Sông kia nước chảy thành dòng
Dân kia nước mắt lưng tròng chảy ra”

Ủ ÔI !
Anh ở đâu, khi tôi tất bật ngoài đồng
Chị ở đâu, khi tôi vất vả gánh gồng trên vai

Tối biết:
Anh ôm bàn phím canh hai
Chị ngồi láp tóp khoan thai “khóc thầm”

Tôi cũng biết:
Anh “thương” tôi, phím Vờ (V) hết đậm
Chị “khóc” tôi, thấm đẫm cả màn hình

Nhưng sao sự thật rất kinh
Mồ hôi tôi chảy thật tình chẳng vơi
Không thêm một phút thảnh thơi
Không thấy cơm nấu hàng ngày đầy thêm

Nay xin:
Xin anh đừng có yếu mềm
Xin chị đôi mắt biết kiềm nước nôi
Từ nay anh chị hãy thôi
Đừng khóc hộ nữa, Dân tôi hắt xì.

Phờ Rom Dân Vít Lớp

[https://www.facebook.com/hoighetphandong]
Tựa đề mới do kenminhthien.net đặt

Từ trước đến giờ đã có rất nhiều bài hướng dẫn về Hiệu ứng chữ Vàng (Gold Text) và hiệu ứng này dường như không con mới mẻ đối với mỗi người khi học Photoshop. Nhưng mới gần đây, với chủ đề cũ, một bài hướng dẫn dậy làm hiệu ứng chữ mạ Vàng được post lên thực sự ấn tượng. Và sau đây tôi sẽ dịch bài hướng dẫn này để các bạn dễ hiểu hơn.

Đây là kết quả cuối cùng sau khi hoàn thành bài tutorialĐây là kết quả cuối cùng sau khi hoàn thành bài tutorial

Đầu tiên các bạn download bộ nguyên liệu cho bài tutorial này bao gồm Font chữ, Texture và 1 file PSD tham khảo.

Download Gold Text Stock

Bước 1

Tạo một file mới kích thước tùy thích, ở đây tôi để 1600x900px và fill nó bằng màu đen. Mở file Texturetrong nguyên liệu ra và đặt nó vào background ta vừa tạo và giảm Opacity xuống 30%. Và bây giờ, mởLayer Style (Layer > Layer Style > Blending Option) điều chỉnh thông số cho Color Overlay.

Perfect Gold Text Effect - Hiệu ứng chữ mạ vàng

Tạo 1 layer mới (Ctrl + Shift + N), chọn công cụ Rectangular Marquee, điều chỉnh Feather cao khoảng 200-300px lựa chọn toàn bộ background. Ấn tổ hợp phím Ctrl (CMD) + Shift + I và dùng brush vẽ vào vùng này màu đen. Sau đó nhân đôi layer (Layer > Duplicate Layer) ta vừa tô. Cách này giúp ta tổ điểm vùng trung tâm.

Perfect Gold Text Effect - Hiệu ứng chữ mạ vàng

Bước 3

Ta bắt đầu tạo text, lựa chọn akaDora font kèm trong nguyên liệu, ghi một dòng chữ màu đen tại chính giữa, và điều chỉnh Fill Opacity xuống 0%. Chúng ta nên sử dụng kích thước chữ lớn sẽ tốt hơn cho việc sử dụng Bevel and Emboss. Tại đây mình sử dụng font size 280px

Perfect Gold Text Effect - Hiệu ứng chữ mạ vàng

Bước 4

Và bây giờ là phần thú vị nhất, bật Layer Styles panel và điều chỉnh thông số như trong hình dưới đây:

Perfect Gold Text Effect - Hiệu ứng chữ mạ vàng

Bước 5

Phần đầu tiên của hiệu ứng – tạm gọi là hiệu ứng kính – đã hoàn thành. Để tiếp tục phần còn lại, nhân đôi text layer và và xóa Layer Styles cũ cho layer vừa được nhân đôi (chuột phải vào layer sau đó chọnClear Layer Style). Và bây giờ, áp dụng Layer Styles như sau:

Perfect Gold Text Effect - Hiệu ứng chữ mạ vàng

Để thêm 1 vài chi tiết ta nhấn phím D, tạo 1 layer mới và fill nó màu đen, tới Filter > Render > Difference Clouds. Điều chỉnh blending mode thành Overlay.

Và đây là kết quả cuối cùng:

Perfect Gold Text Effect - Hiệu ứng chữ mạ vàng

Kết quả khác áp dụng với text: Vietdesigner

Perfect Gold Text Effect - Hiệu ứng chữ mạ vàng

Kết luận: Mình thấy rằng bài hướng dẫn này cũng khá nhanh và dễ, các bạn có thể download file PSD do mình làm để tham khảo hoặc có gì không hiểu cứ comment mình sẽ giải đáp. Cuối cùng mong các bạn sẽ thích bài hướng dẫn này.

Bài tutorial tham khảo từ Webtiago

Đây là bài viết của thành viên Nguyễn Trung Hiếu đăng trên diễn đàn Designer Việt Nam, bạn có thể vàolink topic gốc để nhận được support từ bạn ấy với bài tutorial này

Nguyễn Thanh Phượng (Chủ tịch Viet Capital): ‘Nữ doanh nhân phải cố gắng gấp bội nam giới’

 

Chị Nguyễn Thanh Phượng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Viet Capital chia sẻ: “Tôi đã quen với áp lực vì hoàn cảnh xuất thân của mình”.

Hẹn chị để phỏng vấn vào những ngày này quả thật không dễ. Bên cạnh những bộn bề lo toan cho công việc kinh doanh, chị ngại đăng đàn phát biểu vì liên quan đến chị đang có quá nhiều tin đồn. Thuyết phục mãi, cuối cùng chị cũng đồng ý lên tiếng để giải tỏa các câu chuyện đồn thổi, đeo bám dai dẳng bấy lâu nay.

– Bản thân có nhiều lợi thế, sao chị không chọn theo đường chính trị mà chấp nhận dấn thân vào nghiệp kinh doanh tài chính khô khan và nhiều thách thức, áp lực?

– Từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường, tôi đã bắt đầu quan tâm đến những câu chuyện kinh doanh, cũng như ngưỡng mộ nhiều tấm gương doanh nhân tự thân lập nghiệp. Ý niệm kinh doanh và các mục tiêu ngày càng định hình rõ nét hơn khi tôi thi đậu vào Khoa Tài chính – Ngân hàng, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội. Sự lựa chọn này hoàn toàn theo sở thích cá nhân. Từ những kiến thức nền tảng lĩnh hội trong nước, sau này, tôi có điều kiện học tiếp chương trình MBA chuyên ngành Quản trị tài chính tại Thụy Sĩ.

Ra trường dù thời gian đầu đi làm thuê, hay sau này lập công ty riêng cùng với những anh em khác, tôi vẫn giữ quyết tâm xây dựng một thương hiệu dịch vụ tài chính mang bản sắc Việt Nam. Thương hiệu Bản Việt (Viet Capital) manh nha ý tưởng từ những ngày tháng tôi còn miệt mài ở Geneva. “Bản” là bản làng, bản sắc riêng của Việt Nam mà cũng mang ý nghĩa là vốn (tư bản), còn “Việt” đương nhiên là từ quê hương Việt Nam.

Chủ tịch Ngân hàng Bản Việt hiện đang nắm 4,9% cổ phần, là cổ đông cá nhân lớn nhất của nhà băng này.

– Chị thành đạt khá sớm nên dư luận cho rằng, chị lồng ghép những lợi thế riêng của mình vào công việc kinh doanh?

– Tôi chưa bao giờ nghĩ là mình đã thành đạt trong sự nghiệp. Cảm nhận cá nhân tôi là khi xuất thân từ gia đình chính khách lớn thường không được nhìn nhận như một người bình thường, mặc dù thực tế chỉ là một khoảng thời gian cụ thể, gắn với những nhiệm kỳ chính trị nhất định, đâu phải là mãi mãi. Sự quan tâm của số đông luôn gắn với những quan điểm và dư luận có phần khắt khe, thậm chí là cầu toàn. Điều này không chỉ tạo ra áp lực lớn mà đôi khi còn phủ nhận tất cả những nỗ lực phấn đấu của một cá nhân.

Từ lúc bắt đầu đi học, tôi đã quen với áp lực vì hoàn cảnh xuất thân của mình. Được điểm tốt thì có tiếng xì xào là vì “con ông lớn” nên được nâng đỡ. Cũng có lúc bị điểm xấu thì bị nói sau lưng là vì “con quan” nên mới ỷ lại, chẳng lo học hành. Tôi không phủ nhận mình có những lợi thế nhất định, nhưng chắc chắn những ai làm kinh doanh ở xứ sở này sẽ hiểu là có phải con nhà quan chức là dễ dàng hơn hay không.

Tôi phải khẳng định là tôi cũng gặp nhiều khó khăn lắm, thậm chí là có những bất lợi hơn và tôi cũng phải hết sức kiên nhẫn để có thể theo đuổi sự nghiệp này. Một người hay được dư luận chú ý thì phải cố gắng giữ mình để tránh điều tiếng không hay cho cá nhân và cả gia đình. Thời gian qua, đã có những lúc tôi mệt mỏi cùng cực khi phải chịu quá nhiều những điều tiếng, thị phi từ những việc mà mình không hề liên quan gì cả.

– Chị nói gì trước nhiều tin đồn nói rằng, chị có liên quan đến Dự án Ecopark và thâu tóm Sacombank?

Dự án Ecopark ở Văn Giang (Hưng Yên) là do một chủ đầu tư phía Bắc thực hiện. Đó là Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajico), đăng ký kinh doanh tại Hưng Yên từ năm 2003. Tuy nhiên, câu chuyện được dàn dựng bịa đặt hoàn toàn bởi một vài blog phản động, tự gán ghép sự liên quan của tôi khi thấy tôi có đại diện cho Viet Capital cùng Công ty Bất động sản Refico tham gia thành lập Công ty cổ phần Bất động sản Việt Hưng năm 2009 tại TP. HCM để tham gia một dự án cũng tại TP. HCM. Sự trùng hợp chỉ là cái đuôi công ty cùng có tên “Việt Hưng” thôi, nhưng hàng loạt diễn đàn không chính thống trên mạng đã cố tình biến tôi thành một tội đồ với những gì diễn ra tại dự án ở Văn Giang.

Sự lan truyền câu chuyện sai sự thật này nhanh đến mức khó tin, chỉ trong một thời gian ngắn, mọi người bắt đầu đồn thổi và nói như thật về nó, mặc dù tôi đã khẳng định là cá nhân tôi và Bản Việt không liên quan, không quen biết, không tham gia đầu tư cũng như không tài trợ tín dụng gì liên quan đến dự án Ecopark này… Thực tế là chính Vihajico, chủ đầu tư của dự án, đã từng gửi thông cáo báo chí để khẳng định là hai công ty Việt Hưng này hoàn toàn khác nhau và cá nhân tôi hoàn toàn không liên quan gì với dự án ầm ĩ đó cả. Tuy nhiên, rất tiếc thông tin này rất ít được báo chí đăng tải.

– Vậy thông tin về việc chị đứng sau vụ thâu tóm Sacombank thì sao?

Như mọi người đều biết, bản thân Sacombank là một ngân hàng lớn, vốn lớn, cổ đông lớn, hệ thống lớn… Bởi vậy, khi nói đến việc chi phối hay thâu tóm Sacombank, người ta nghĩ rằng phải là nhóm có thế lực tài chính lớn và có sự ảnh hưởng lớn trong xã hội mới làm được. Từ quan điểm đó, cộng với việc họ biết tôi là người đang hoạt động trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, có nhiều mối quan hệ quen biết, họ dựng lên việc tôi đứng đằng sau điều khiến vụ thâu tóm này.

Nhưng tôi xin khẳng định rằng, cá nhân tôi và Ngân hàng Bản Việt không tham gia vào thương vụ này, cũng không sở hữu bất kỳ một cổ phiếu Sacombank dưới bất kỳ hình thức nào, trực tiếp hay gián tiếp, ngay cả chuyện hỗ trợ về mặt quan hệ cũng không. Tôi cho rằng, việc này không khó để xác minh. Bản thân anh Lê Hùng Dũng, Chủ tịch HĐQT của Eximbank, với tư cách là “người trong cuộc” của thương vụ này, đã không dưới một lần khẳng định rằng, tôi và Bản Việt hoàn toàn không liên quan trong toàn bộ câu chuyện này dưới bất cứ hình thức nào…

Tôi nghĩ rồi một thời gian ngắn nữa thôi, mọi người cũng sẽ biết rõ nhiều sự việc liên quan đến Sacombank… Nhưng nói thật, cái quan niệm cứ thấy phi vụ nào “hoành tráng” là mọi người cho rằng, phải có tên tuổi “hoành tráng” tham gia hoặc “chống lưng” đằng sau thì mới thực hiện được đã vô tình tạo ra biết bao điều tiếng không có thực cho rất nhiều người. Điều này đang dần trở thành định kiến và trường hợp của tôi không là ngoại lệ. Nhưng tôi tin rằng, rồi thời gian sẽ “giải oan” cho tôi và sự thật sẽ nói lên tất cả…

– Chị có thể công khai về sở hữu tại Ngân hàng Bản Việt?

Tôi hiện đang là cổ đông cá nhân nắm tỷ lệ cổ phần lớn nhất tại Ngân hàng với 4,9%. Thông tin về sở hữu và hoạt động đều được báo cáo định kỳ theo quy định với Ngân hàng Nhà nước. Tôi được ĐHCĐ bầu vào HĐQT, được phân công làm Chủ tịch và được Ngân hàng Nhà nước phê chuẩn từ cuối năm 2011. Hiện tại, Ngân hàng Bản Việt (Viet Capital Bank – VCCB) là ngân hàng đại chúng đa sở hữu với gần 2.000 cổ đông.

– Trên cương vị Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Bản Việt, chị hoạch định chiến lược phát triển và mục tiêu của ngân hàng vài năm tới như thế nào?

VCCB mới ở giai đoạn đầu của quá trình tái cơ cấu toàn diện. Do Công ty Chứng khoán và Công ty Quản lý quỹ Bản Việt ra đời trước nên hiện nay, VCCB cũng nhận được nhiều sự hỗ trợ từ hai đơn vị này, đặc biệt là khả năng tiếp cận một số khách hàng là định chế tài chính, doanh nghiệp mà hai đơn vị này đã thiết lập quan hệ từ trước. HĐQT VCCB xác định, trước mắt Ngân hàng tận dụng lợi thế này như một sự ưu tiên cho các nghiệp vụ bán buôn đối với những khách hàng quy mô vừa và nhỏ; và khi củng cố được nguồn lực đủ mạnh, chúng tôi sẽ dần mở rộng mạng lưới, đa dạng hóa sản phẩm bán lẻ.

Do xuất phát điểm của ngân hàng khá thấp và đang củng cố từng bước mọi mặt, cùng với thực trạng vận hành và phát triển của hệ thống ngân hàng hiện nay, quan điểm đều hành của chúng tôi là an toàn rồi mới đến hiệu quả, chiến lược phát triển không đặt ra quá dài hơi, mà phải linh hoạt theo nguồn lực phù hợp của ngân hàng trong từng giai đoạn và chu kỳ biến động của kinh tế vĩ mô.

– Cảm giác của chị khi đón nhận những tin đồn và gia đình chị chia sẻ áp lực như thế nào?

– Tôi nghĩ dù tôi có theo đuổi nghiệp gì đi nữa, ngay cả không phải là kinh doanh, thì cũng phải chịu áp lực bởi sự khắt khe và giám sát của xã hội mà thôi. Thử hình dung xem, nếu tôi theo nghiệp chính trị chẳng hạn, có ai nghĩ tôi sẽ ít bị quan tâm hơn không? Vì vậy, chọn con đường kinh doanh lập nghiệp là tôi đã sẵn sàng chấp nhận những điều này rồi.

Trước áp lực tin đồn thất thiệt, một người bình thường đã có thể điêu đứng và mệt mỏi, các tin đồn gắn với gia đình chính khách thường áp lực tăng lên gấp nhiều lần. Tôi không làm gì sai trái với pháp luật hay với chính lương tâm của mình, có lẽ đấy là điều cơ bản giúp tôi luôn vững vàng trước mọi tin đồn không hay. Và cũng có lẽ, do tôi đã có một cuộc sống với nhiều loại áp lực khá lâu rồi nên cũng quen dần. Về phía gia đình, từ gia đình lớn đến gia đình nhỏ, từ trước đến giờ luôn tràn ngập sự tin tưởng và yêu thương.

– Nhân Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, chị có thể chia sẻ đôi điều về nghiệp kinh doanh và cuộc sống?

– Chặng đường hoạt động kinh doanh của tôi chưa dài và những gì tôi tạo dựng được cùng với những anh em trong gia đình Bản Việt còn quá khiêm tốn để có thể chia sẻ với cộng đồng. Tôi chỉ có thể nói ngắn gọn rằng, qua trải nghiệm từ bản thân thì làm một nữ doanh nhân luôn phải cố gắng gấp bội nhiều hơn nam giới. Bên cạnh sự nghiệp, phụ nữ còn có những thiên chức của mình, phải là người tổ chức cuộc sống cho gia đình, phụ nữ luôn là người con gần gũi với cha mẹ mình hơn… Trong công việc và cuộc sống, ý thức thượng tôn pháp luật phải luôn được duy trì. Tôi nghĩ sự minh bạch và kiên trì mới hy vọng gây dựng được sự nghiệp vững bền.

Theo Đầu tư chứng khoán

Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam giai đoạn 1975 – 1991

 

Kể từ tháng 4-1975, Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tiếp quản toàn bộ quần đảo Trường Sa và các đảo khác trên Biển Đông.

Sau đó, nước Việt Nam thống nhất với tên gọi Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN), với tư cách kế thừa quyền sở hữu các đảo và quần đảo từ các chính quyền trước theo luật pháp quốc tế và sự liên tục của lịch sử, có trách nhiệm tiếp tục khẳng định và duy trì việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Cùng với các bản Hiến pháp các năm 1980, 1992, Luật Biên giới quốc gia năm 2003, Tuyên bố của Chính phủ CHXHCN Việt Nam ngày 12-11-1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, Tuyên bố của Chính phủ CHXHCN Việt Nam ngày 12-11-1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam trước sau như một đều khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam, có các vùng biển riêng sẽ được quy định cụ thể trong các văn bản tiếp theo. Trong các năm 1979, 1981 và 1988, Bộ Ngoại giao nước CNXHCN Việt Nam công bố các Sách Trắng về chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các tài liệu này đã chứng minh hết sức rõ ràng chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa về tất cả các khía cạnh lịch sử, pháp lý và thực tiễn.

Xuất phát từ nhu cầu quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ngày 09-12-1982 Hội đồng Bộ trưởng nước CHXHCN Việt Nam ra Nghị định tổ chức quần đảo Hoàng Sa thành huyện đảo Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng và tổ chức quần đảo Trường Sa thành huyện đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Đồng Nai. Ngày 28-12-1982, trong kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa VII nước CHXHCN Việt Nam đã ra Nghị quyết tách huyện đảo Trường Sa ra khỏi tỉnh Đồng Nai để sáp nhập vào tỉnh Phú Khánh (nay là tỉnh Khánh Hòa). Nghị quyết ngày 06-11-1996 kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX nước CHXHCN Việt Nam tách huyện đảo Hoàng Sa ra khỏi tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng cũ, để sáp nhập vào thành phố Đà Nẵng trực thuộc trung ương. Các chính quyền tại hai huyện đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ đó đến nay vẫn liên tục thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ của mình.

Trong suốt thời gian thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ khi thống nhất đất nước đến nay, bên cạnh việc ban hành các văn bản hành chính để quản lý nhà nước về lãnh thổ trên hai quần đảo này, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đã có nhiều hành động cụ thể, kịp thời nhằm khẳng định chủ quyền và kiến quyết đấu tranh với các thông tin xuyên tạc, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 30-12-1978, người phát ngôn Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam đã ra Tuyên bố bác bỏ luận điệu nêu trong Tuyên bố trước đó của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc về vấn đề quần đảo Trường Sa, tiếp tục khẳng định chủ quyền lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhắc lại lập trường của Việt Nam chủ trương giải quyết mọi tranh chấp hoặc bất đồng bằng giải pháp thương lượng hòa bình. Ngày 17-2-1979, Trung Quốc đem quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía bắc, càng khiến cho quan hệ giữa hai nước thêm căng thẳng và tình hình trên Biển Đông càng gia tăng sự phức tạp. Mặc dù ngay sau đó, quân Trung Quốc đã gặp phải sự kháng cự quyết liệt của quân và dân Việt Nam buộc họ phải lui quân và chịu nhiều tổn thất, thế nhưng hậu quả lâu dài do cuộc chiến tranh và sự cắt đứt quan hệ ngoại giao giữa hai nước khiến cho các cuộc trao đổi thương lượng hòa bình về vấn đề biên giới và hải đảo bị gián đoạn trong một thời gian khá dài.

Trong thời gian đó, Trung Quốc liên tục đưa ra các tuyên bố và tài liệu xuyên tạc về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa). Ngày 30-7-1979, Trung Quốc cho công bố tài liệu mà phía Trung Quốc cho là để chứng minh Việt Nam đã “thừa nhận” chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngay sau đó, Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam đã ra Tuyên bố ngày 7-8-1979 bác bỏ sự xuyên tạc trắng trợn của Trung Quốc đối với văn bản ngày 14-9-1958 của Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tinh thần và ý nghĩa của văn bản này chỉ trong khuôn khổ công nhận giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc chứ không hề nói tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên thực tế đang thuộc quyền quản lý tạm thời của chính quyền Việt Nam Cộng hòa phía Nam vĩ tuyến 17 theo Hiệp dịnh Genève năm 1954. Chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam một cách bất hợp pháp bằng vũ lực, Trung Quốc đã xâm phạm vào sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và trái với tinh thần của Hiến chương Liên Hợp Quốc kêu gọi giải quyết tất cả các tranh chấp bằng thương lượng hoà bình. Sau khi phát động một cuộc chiến xâm lược Việt Nam trên quy mô lớn, phía Trung Quốc lại nêu ra vấn đề quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tạo ra tình trạng càng ngày càng căng thẳng dọc theo biên giới phía bắc Việt Nam và từ chối việc thảo luận những giải pháp cấp thiết để bảo đảm hoà bình và ổn định trong khu vực biên giới giữa hai nước.

Ngày 28-9-1979, Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam công bố Sách Trắng đưa ra thêm nhiều tài liệu tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 30-1-1980, Bộ Ngoại giao Trung Quốc công bố văn kiện đòi hỏi chủ quyền ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Tây Sa và Nam Sa) Ngày 5 tháng 2 năm 1980, Bộ Ngoại giao Việt Nam ra tuyên bố vạch trần thủ đoạn xuyên tạc của Trung Quốc trong văn kiện ngày 30 tháng 1 năm 1980 của họ về chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng 6 năm 1980, tại Hội nghị Khí tượng Khu vực Châu Á II họp tại Genève, đại biểu Việt Nam tuyên bố trạm khí tượng của Trung Quốc tại Sanhudao (đảo Hoàng Sa của Việt Nam) là bất hợp pháp. Kết quả là trạm Hoàng Sa của Việt Nam được giữ nguyên trạng trong danh sách các trạm thuộc hệ thống quốc tế như cũ. Ngày 13 tháng 6 năm 1980, Việt Nam yêu cầu OMM (Tổ chức Khí tượng Thế giới) đăng ký trạm khí tượng Trường Sa vào mạng lưới OMM. Tháng 12 năm 1981, Tổng cục Bưu điện Việt Nam điện cho Chủ tịch Ủy ban đăng ký tần số tại Genève phản đối việc Trung Quốc được phát một số tần số trên vùng trời Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Tháng 12 năm 1981, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Sách Trắng: “Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam”. Tháng 6 năm 1982, Tân Hoa Xã loan tin một hải cảng lớn được xây dựng tại đảo Hoàng Sa. Tháng 10, tại Hội nghị Toàn quyền của UIT (Hiệp hội Quốc tế Vô tuyến Viễn thông), Việt Nam tuyên bố không chấp nhận việc thay đổi phát sóng đã được phân chia năm 1978 tại Genève. Ngày 12 tháng 11 năm 1982 Việt Nam công bố đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải? Tháng 1-1983 Hội nghị Hành chính Thế giới về thông tin vô tuyến đồng ý sẽ xem xét đề nghị của Việt Nam về việc phát sóng trên vùng trời Hoàng Sa và Trường Sa tại hội nghị sắp tới. Cũng tháng 01 năm 1983 tại Hội nghị Hàng không Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương họp ở Singapore. Trung Quốc muốn mở rộng vùng thông báo bay (FIR) Quảng Châu lấn vào FIR Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, nhưng Hội nghị quyết định duy trì nguyên trạng. Tại Hội nghị Tổ chức Thông tin Vũ trụ Quốc Tế (INTU SAT) lần thứ 13 họp tại Bangkok, đại biểu Việt Nam đã phản đối việc Trung Quốc sử dụng những bản đồ ghi Hoàng Sa, Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, Nam Sa) là của Trung Quốc. Việt Nam phản đối việc ngày 1 tháng 6 năm 1984 Quốc hội Trung Quốc tuyên bố việc thiết lập khu hành chính Hải Nam bao gồm cả hai quần đảo Tây Sa, Nam Sa. Đầu năm 1985, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam ra thăm quần đảo Trường Sa. Tháng 5 năm 1987, Đô đốc Giáp Văn Cương, Tư lệnh Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam ra thăm quần đảo Trường Sa.

Từ 16 tháng 5 đến tháng 10 năm 1987, Hải quân Trung Quốc liên tục diễn tập quân sự tại vùng nam Biển Đông và tây Thái Bình Dương. Ngày 10 tháng 11 năm 1987, Hải quân Trung Quốc đổ bộ lên bãi đá Louisa. Tháng 1 năm 1988, một lực lượng lớn tàu chiến, có nhiều tàu khu trục và tàu tên lửa của Trung Quốc, đi từ đảo Hải Nam xuống quần đảo Trường Sa, khiêu khích và cản trở hoạt động của các tàu vận tải Việt Nam trong khu vực bãi đá Chữ Thập và bãi đá Châu Viên. Quân lính Trung Quốc cắm cờ trên hai bãi đá trên, đồng thời cho tàu chiến thường xuyên ngăn cản, khiêu khích các tàu vận tải Việt Nam đang tiến hành những hoạt động tiếp tế bình thường giữa các đảo do Hải quân Việt Nam bảo vệ. Ngày 14 tháng 3 năm 1988, Trung Quốc sử dụng một biên đội tàu chiến đấu gồm sáu chiếc, trong đó có ba tàu hộ vệ số 502, 509 và 531 trang bị tên lửa và pháo cỡ 100mm, vô cớ tấn công bắn chìm ba tàu vận tải Việt Nam đang làm nhiệm vụ tiếp tế ở các bãi đá Len Đao, Cô Lin, Gạc Ma thuộc cụm đảo Sinh Tồn, quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Cuộc tấn công vào các tàu vận tải của Việt Nam từ các tàu chiến trang bị vũ khí hạng nặng của Trung Quốc đã làm cho 64 cán bộ, chiến sỹ Hải quân Việt Nam cùng 3 tàu vận tải đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng biển của Tổ quốc. Các chiến sỹ Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam đã anh dũng xiết chặt hàng ngũ, giữ vững lá cờ Tổ quốc biểu tượng chủ quyền của Việt Nam trên đảo cho đến giây phút cuối cùng. Từ đó đến ngày 6-4-1988, Trung Quốc đã chiếm đóng trái phép bằng vũ lực các đảo: Đá Chữ Thập, Đá Châu Viên, Đá Ga Ven, Đá Tư Nghĩa, Đá Gạc Ma, Đá Subi thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Trong năm 1988, Chính phủ CHXHCN Việt Nam đã thông báo cho Liên Hợp Quốc, gửi nhiều công hàm phản đối Trung Quốc và đặc biệt là các công hàm ngày 16, 17, 23 tháng 3 năm 1988 đề nghị hai bên thương lượng giải quyết vấn đề tranh chấp. Trung Quốc tiếp tục chiếm giữ trái phép các bãi đá đã chiếm được và khước từ thương lượng. Ngày 14 tháng 4 năm 1988, Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam phản đối việc Quốc hội Trung Quốc sáp nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào tỉnh Hải Nam (ngày 13 tháng 4 năm 1988). Tháng 4-1988, Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam công bố Sách Trắng khẳng định chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam theo luật pháp quốc tế. Ngày 14-8-1989, Chính phủ Việt Nam quyết định thành lập Cụm Kinh tế Khoa học Dịch vụ trên vùng bãi ngầm Tư Chính, Huyền Trân, Quế Đường, Phúc Tần, Phúc Nguyên thuộc thềm lục địa Việt Nam. Ngày 2-10-1989, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam tuyên bố bác bỏ luận điệu trong bản tuyên bố của Trung Quốc ngày 28-4-1989. Ngày 18-3-1990, nhiều tàu Trung Quốc đến đánh cá ở Trường Sa. Ngày 16-4-1990, Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi bản ghi nhớ cho Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, phản đối việc Trung Quốc cho nhiều tàu quân sự, tàu khảo sát, tàu đánh cá đến hoạt động trong vùng biển Việt Nam tại quần đảo Trường Sa. Ngày 28-4-1990, Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi công hàm cho Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, phản đối việc Trung Quốc đã cho quân lính xâm chiếm bãi Én Đất trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Ngày 10-11-1991, các nhà lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc ký Thông báo chung về bình thường hoá quan hệ giữa hai nước. Thông báo chung của hai nước khẳng định việc bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc phù hợp với lợi ích cơ bản và lâu dài của nhân dân hai nước và cùng có lợi cho hoà bình, ổn định và sự phát triển của khu vực. Hai bên tuyên bố Việt Nam và Trung Quốc sẽ phát triển quan hệ hữu nghị và láng giềng thân thiện, trên cơ sở 5 nguyên tắc: tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi và cùng tồn tại hoà bình. Hai bên đồng ý thông qua thương lượng giải quyết hoà bình vấn đề lãnh thổ, biên giới vv… tồn tại giữa hai nước.

Theo ĐẠI ĐOÀN KẾT

http://reds.vn/index.php/lich-su/hoang-sa-truong-sa/2424-chu-quyen-hoang-sa-truong-sa-1975-1991

Thư gửi Toàn quyền Đông Dương về chủ quyền Hoàng Sa

Ngài Thân Trọng Huề, nguyên là thượng thư Bộ Binh, qua đời năm 1925, trong một bức thư đề ngày 3 tháng 3 năm ấy, đã viết “những hòn đảo này luôn luôn thuộc chủ quyền của nước An-Nam, việc này không có gì để bàn cãi cả”.

Số 151K-A Huế, ngày 22 tháng 01 năm 1929

Khâm sứ Trung Kỳ

Kính gửi Ngài Toàn Quyền Đông Dương,

HÀ NỘI

Tôi xin trân trọng báo tin Ngài biết tôi đã nhận thư số 103-A Ex đề ngày 12 tháng Giêng năm 1929 liên quan tời chủ quyền của Quần đảo Hoàng Sa.

Vấn đề này là một đề tài đã được nghiên cứu kỹ lưỡng năm 1925 sau chuyến đi khảo sát của ông giám đốc Viện Hải dương học và Ngư nghiệp Nha Trang.

Không có cái gì mới được phát hiện từ ngày ấy giúp giải quyết dứt điểm vấn đề chủ quyền còn tranh cãi, do đó tôi chỉ có thể trình bày lại với Ngài quá trình những sự kiện đã được khẳng định sau chuyến khảo sát nói trên.

Cái mê cung các hòn đảo nhỏ san hô và bãi cát tại đó đã làm cho các người di biển lo ngại. Quần đảo Hoàng Sa hoang vu và khô cằn được coi là đang còn “vô chủ” cho tới đầu thế kỷ trước.

Trong quyển sách viết về “”Địa lý Nam Kỳ” dịch ra tiếng Anh và đăng trong “Báo của Hội châu Á xứ Bengale” năm 1838, Đức Ông Jean – Louis TABERD, giám mục xứ Isauropolis, giám mục tông tòa xứ Nam Kỳ, Cao Miên và Champa đã viết về việc Vua Gia Long đã từng đem quân ra chiếm đóng Quần đảo Hoàng Sa năm 1816 và đã làm lễ thượng kỳ lá cờ Nam Kỳ một cách long trọng tại đó.

Tuy nhiên vẫn còn có sự nghi ngờ về tính xác thực của sự kiện chính Vua Gia Long đã đích thân ra chỉ huy sự chiếm đóng Quần đảo thế nhưng sự việc này là có thực và đã được khẳng định trong các biên niên kỷ của Chính phủ An-Nam như là “Đại Nam Nhất Thống Chí” quyển 6, và “Nam Việt Địa Dư” quyển 2, về địa lý nước An-Nam xuất bản vào năm thứ 14 triều Vua Minh Mạng và sau cùng trong “Đại Nam Nhất Thống Chí” quyển 6 về “địa lý” dưới triều Vua Duy Tân.

Những tài liệu nói trên được lưu giữ tại các thư viện của Chính phủ An- Nam đã cung cấp thêm cho chúng tôi nhiều chi tiết sau đây:

Trong những triều đại trước đây, một đội quân gồm 70 lính tuyển mộ trong dân chúng làng Vĩnh An đã được phái ra đóng đồn tại Quần đảo Hoàng Sa, lấy tên là “Đội Hoàng Sa”. Một đội khác mang tên “Độị Bắc Hải” được thành lập sau đó và được đặt dưới quyền chỉ huy của “Đội Hoàng Sa”

Vua Gia Long tổ chức lại những đội quân đóng tại Hoàng Sa nhưng sau đó lại cho rút về. Hình như về sau không tổ chức lại nữa.

Dưới triều Vua Minh Mạng có nhiều đoàn của Chính phủ được gửi ra nghiên cứu và khai thác tại Quần đảo. Một đoàn đã phát hiện một ngôi chùa cổ trong đó có ghi một hàng chữ.

Năm 1838, nhà Vua lại phái ra Quần đảo một đội thợ xây cùng các nguyên vật liệu để xây dựng một ngôi chùa và một tấm bia nhằm đánh dấu kỷ niệm sự có mặt của họ đã đến dây. Trong khi khảo sát địa điểm để xây dựng, họ đã phát hiện khoảng 2000 cân đồ vật khác nhau như đồng cán mỏng, sắt, gang v.v…, dấu tích chứng tỏ có sự hiện diện của những chủ nhân nào đó trên đảo trước đây.

Hiện tại lúc này, hình như nước An-Nam không còn liên lạc gì với Quần đảo Hoàng Sa. Nhiều ngư dân và các chủ ghe thuyền vùng ven biển hầu như không hề biết gì về các hòn đảo này và không ai tổ chức ra ngoài đó nữa.

Nhà nước được chúng ta bảo hộ đã khẳng định từ lâu đời chủ quyền của họ đối với Quần đảo Hoàng Sa, và ngài Thân Trọng Huề, nguyên là thượng thư Bộ Binh, qua đời năm 1925, trong một bức thư đề ngày 3 tháng 3 năm ấy, đã viết” những hòn đảo này luôn luôn thuộc chủ quyền của nước An-Nam, việc này không có gì để bàn cãi cả”.

(…)

Đã ký: Le FOLE

Sao y bản chính. Có con dấu tròn ghi: Phủ Toàn quyền Đông Dương – Cục Chính trị.

Người dịch: Thân Trọng Ninh (Huế)

Theo KIẾN THỨC

 

Nguồn: REDS.vn

9 CÁI NGU MÀ CÁC NHÀ DÂN CHỦ CUỘI (RẬN CHỦ) KHÔNG THỂ THIẾU

1. Bác Hồ một đời hi sinh cho Dân Tộc, Bác được cả dân tộc kính ngưỡng, nhưng các nhà dân chủ cuội lại dày công xuyên tạc bội nhọ Bác, thậm chí còn sử dụng ngôn từ và biếm họa rất bênh hoạn. Đây là cái ngu kinh điển nhất.

2. Bom mìn thuốc nổ mà Mỹ tống vào một mình cái thành cổ Quảng Trị thôi đã bằng 6 lần đương lượng nổ của quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima, rồi thì ném bom Hà Nội, rải dioxin, băn giết người VN, thế nhưng các nhà dân chủ cuội luôn gân cổ lên mà rằng :”Mỹ không hề xâm lược Việt Nam”. Đây là cái ngu kinh tởm nhất.

3. Việt Nam Cộng Hòa là tay sai của Mỹ, do Mỹ dựng lên, đã khước từ nguyện vọng thống nhất của nhân dân, đã lê máy chém đi khắp miền Nam, đã đàn áp giết hại bao nhiêu đồng bào, nhưng các nhà dân chủ cuội luôn cho rằng đó là 1 nhà nước “đầy ắp dân chủ, căng tràn tự do”. Đây là cái ngu đáng phỉ nhổ nhất.

4. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam, đã đặt nền móng đầu tiên cho thể chế dân chủ, lần đầu tiên ở Việt Nam, nam nữ được bình quyền, mọi công dân đều bình quyền, được hưởng các quyền tự do.

ĐCSVN đã lãnh đạo nhân dân, đuổi Pháp, đánh Mỹ, ngăn Ponpot, đạp tan âm mưu bành trướng của Trung Quốc, cùng nhân dân xây dựng đất nước. Dẫu họ có sai lầm, dẫu còn nhiều bất cập nhưng không thể không ghi nhân công lao của họ được.

Vậy mà các nhà dân chủ cuội phủ nhận sạch trơn. Đây là cái ngu tệ hại nhất.

5. Bất cập thậm chí là bất công ở Việt Nam là có, và không hề ít. Nhưng thay vì phản ánh những sự thật đó thì các nhà dân chủ cuội lại chọn cách bịa đặt và xuyên tạc. Còn nhớ năm nào đó, bộ đội ta đi giúp dân tránh lũ, các vị ấy xây dựng nên 1 clip gọi là “đảo chính ở Việt Nam”. Đây là cái ngu đáng kinh ngạc nhất.

6. Muốn được lòng dân, thì phải đủ tài lẫn đức, nhưng các nhà dân chủ cuội không cần điều đó, chỉ cần có ai đó chửi đảng, chửi nhà nước một câu thì suy tôn ngay thành anh hùng, thành nữ hào kiệt, thành người con của sông núi, thành nhân sỹ bất kể đó là thành phần bênh hoạn như Lý Tống hay giang hồ như Bùi Hằng. Đây là cái ngu phi phàm nhất.

7. “Ỉa chảy hay táo bón đều là tại Đảng và Nhà Nước” đó là lý lẽ của các nhà dân chủ cuội, bất kể là việc con trâu nó có sừng hay việc con voi nó có vòi thì họ đều quy cho trách nhiệm thuộc về đảng và nhà nước. Đây là cái ngu bệnh hoạn nhất.

8. Miệng nói dân chủ, nhưng thực tế chẳng hiểu dân chủ là gì, hỏi dân chủ là gì thì câu tra lời dâu có 1 vài câu hay dài dằng dặc thì chung quy cũng là “giống như Mỹ ấy”. Chẳng khác gì hỏi fan cuồng Kpop rằng nghệ thuật là gì thì nhận được câu trả lời “giống Kpop ấy”. Đây là cái ngu đáng cười vào mặt nhất.

9. Biểu tình phản đối VN gia nhập WTO, dâng thỉnh nguyện thư kiến nghị Hoa Kỳ cấm vận VN, kích động chiến tranh Việt – Trung và nhiều trò phản quốc tương tự. Đây là cái ngu đáng nguyền rủa nhất.

———

Vì sao ngu đến vậy ? Đơn giản thôi, vì họ không phải là những nhà dân chủ thực sự họ là những nhà dân chủ cuội (nhà dân chủ thực sự phải như Bác Hô, phải như Bác Võ Văn Kiệt hay như đại biểu Dương Trung Quốc ấy).

Mục đích của họ không phải là dân chủ, mục đích của họ là chống cộng, nên cái gì có thể chống cộng họ đều làm, bất chấp.