Tag Archive: co


Hải chiến Trường Sa 1988: Lá cờ màu máu mãi thắm tươi

 

25 năm trước, ngày 14-3-1988, hải quân Trung Quốc đưa tàu đến gây sự ở 3 đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Trong cuộc chiến không cân sức ấy, những người lính hải quân Việt Nam đã xả thân giữ đảo, để máu mình tô thắm cờ Tổ quốc.

Quyết tử vì Gạc Ma

Dù đảo Gạc Ma đã bị Trung Quốc xâm chiếm trái phép nhưng trong cuộc hải chiến 14-3-1988, hình ảnh những cột cờ sống và “vòng tròn bất tử” vẫn khắc sâu trong tâm trí bao người…

Anh hùng Nguyễn Văn Lanh, người vào sáng 14-3-1988 đã cùng thiếu úy Trần Văn Phương và các chiến sĩ hải quân (hải quân) được cử từ tàu vận tải hải quân-604 lên đảo Gạc Ma bảo vệ cờ Tổ quốc, nhớ lại: “hải quân Trung Quốc (Trung Quốc) hạ xuồng từ tàu lớn mang theo nhiều lính trang bị vũ khí hạng nặng đổ bộ lên Gạc Ma. Chúng cho rằng công binh đang xây dựng đảo của ta ít, chỉ trang bị thô sơ, có người thậm chí không vũ khí trong tay, sẽ dễ dàng bị khuất phục. Nhưng chúng đã nhầm!”.

Còn cờ, còn đảo

Trong trận hải chiến ngày 14-3-1988, trong 3 đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao, cuộc đối đầu khốc liệt nhất diễn ra tại Gạc Ma. Theo đại tá Nguyễn Hữu Doanh, người chuyên lo kế hoạch cung ứng, tiếp tế nhu yếu phẩm và lên kế hoạch xây dựng nhà chủ quyền kiên cố trên các đảo ở Trường Sa những năm 1980, sở dĩ hải quân Trung Quốc tấn công Gạc Ma dữ dội nhất vì đảo này nằm ở vị trí đắc địa trong khu vực quần đảo Trường Sa và biển Đông.

Khi lính Trung Quốc đổ bộ lên Gạc Ma, đại úy Vũ Phi Trừ, thuyền trưởng tàu hải quân-604, giao nhiệm vụ cho thiếu úy Trần Văn Phương lên đảo cắm chốt, bảo vệ cờ Tổ quốc để xác định chủ quyền. Thấy lính Trung Quốc tiến vào đảo với số lượng lớn và sẵn sàng bắn vào ta, đại úy Trừ ra lệnh: “Ai bơi giỏi, lập tức vào hỗ trợ thiếu úy Phương”. “Tôi cùng 10 chiến sĩ nhảy xuống biển bơi vào đảo hỗ trợ anh Phương giữ cờ. Lúc ấy, trên đảo có khoảng 40 công binh của ta bị địch chĩa súng nã đạn không thương tiếc” – ông Nguyễn Văn Lanh hồi tưởng.

Ông Lanh không thể nào quên hình ảnh thiếu úy Phương hôm đó. Khi bị lính Trung Quốc bắn trọng thương, anh vẫn cố ngoi lên mặt nước, tay luôn giữ chặt lá cờ, tự biến mình thành cột cờ sống. “Khi bơi đến nơi, tôi đề nghị thiếu úy Phương về tàu cứu chữa nhưng anh ấy nói như ra lệnh: “Thà hy sinh chứ không thể để mất đảo. Hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng hải quân”. Sau khi dặn tôi và đồng đội tiếp tục giữ cờ Tổ quốc bằng mọi giá, anh Phương hy sinh” – ông Lanh nghẹn ngào.

Thấy người trước ngã xuống, người sau vẫn tiếp tục lao tới tự biến mình thành cột cờ sống trên biển, lính Trung Quốc lao đến giằng lấy. “Chúng dùng lưỡi lê và báng súng đâm và uy hiếp chúng tôi. Trong tay không vũ khí nhưng tôi vẫn chiến đấu không chút run sợ. Hai tên lính Trung Quốc lao vào, một tên đâm xuyên lưỡi lê qua vai tôi. Lúc đó, nhiều đồng đội bơi tới yểm trợ tôi tiếp tục giữ cờ” – ông Lanh xúc động.

Lòng quả cảm, ý chí sắt đá

Ông Nguyễn Văn Lanh cho biết những người lính hải quân Việt Nam trong gần 1 giờ quần thảo với lính Trung Quốc đã đứng kề vai nhau thành một “vòng tròn bất tử” để bảo vệ cờ, ngăn chặn chúng tiến sâu vào đảo. Chứng kiến ý chí chiến đấu quyết tử giữ đảo của hải quân ta, lính Trung Quốc đành rút về tàu. Chúng nã pháo điên cuồng vào tàu hải quân-604 neo đậu bên ngoài và những người lính trên đảo Gạc Ma. Trung tá Trần Đức Thông, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 146, thuyền trưởng Vũ Phi Trừ và hầu hết cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh hoặc chìm theo tàu hải quân-604 mất tích. Nhiều người bị thương nặng, trôi lênh đênh trên biển…

Anh hùng – đại tá Vũ Huy Lễ, người thuyền trưởng của tàu hải quân-505 nhận trách nhiệm đóng giữ đảo Cô Lin năm xưa, xúc động: “Tôi nhìn sang vùng biển Gạc Ma, thấy nhiều đồng đội vừa ngã xuống. Không thể để anh em nằm lại giữa biển khơi, chúng tôi đưa xuồng sang cứu. Tuy nhiên, hải quân Trung Quốc dùng súng AK bắn phá, không để chúng tôi cứu thương. Mặc, chúng tôi vẫn bình tĩnh, tiếp tục bơi xuồng sang. Suốt buổi sáng hôm ấy, chúng tôi đã vớt được 44 thương binh và tử sĩ”.

Đại tá Trần Minh Cảnh giờ đã bước sang tuổi 78 nhưng vẫn nhớ như in những giờ phút nóng bỏng 25 năm trước. Vị Chủ nhiệm Chính trị Vùng 4 hải quân vào thời điểm đó, người được anh em hải quân xem là “ra Trường Sa như đi xe buýt”, trầm mặc hồi tưởng những hình ảnh bi hùng của đồng đội năm xưa. “Đó là cuộc chiến không cân sức khi Trung Quốc với nhiều tàu chiến lớn, vũ khí hạng nặng; còn ta chủ yếu giữ đảo bằng lòng quả cảm và ý chí sắt đá bảo vệ chủ quyền” – ông tự hào.

Giữ vững Cô Lin, Len Đao

Sự kiện ngày 14-3-1988 được biết đến trong lịch sử hải quân Nhân dân Việt Nam với tên gọi CQ88 hay “Chủ quyền 88”. Khi đó, Tư lệnh hải quân là Đô đốc Giáp Văn Cương cùng Bộ Tham mưu đã trực tiếp chỉ huy Vùng 4 và các đơn vị có mặt ở Trường Sa chiến đấu, quyết giữ đảo. Một sở chỉ huy tiền phương được thành lập và đóng ở Quân cảng Cam Ranh – Khánh Hòa.

Đại tá Lê Xuân Bạ, nguyên chính ủy Lữ đoàn 146, Bí thư Huyện ủy Trường Sa, lúc đó là trung tá, Phó Chủ nhiệm Chính trị Vùng 4 hải quân – thuộc Sở Chỉ huy tiền phương, cho biết: Ngày 11-3-1988, tàu hải quân-604 của thuyền trưởng Vũ Phi Trừ được lệnh đến đóng giữ Gạc Ma, tàu hải quân-505 của thuyền trưởng Vũ Huy Lễ đóng giữ Cô Lin và tàu hải quân-605 nhận lệnh đến Len Đao. Phối hợp với các tàu này còn có 2 phân đội công binh thuộc Trung đoàn 83, 2 tổ chiến đấu thuộc Lữ đoàn 146 do trung tá – lữ đoàn phó Trần Đức Thông chỉ huy.

Sau trận hải chiến ngày 14-3-1988, dù chúng ta gặp tổn thất lớn về người với 64 chiến sĩ hy sinh nhưng hải quân Trung Quốc không dám mở rộng phạm vi xâm lấn; các đảo Cô Lin, Len Đao được giữ vững.

Theo NGƯỜI LAO ĐỘNG

 

Nancy Rica Schiff – một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp đã dành rất nhiều thời gian của mình để ghi lại hình ảnh của những ngành nghề mới lạ và độc đáo. Schiff đã từng xuất bản một cuốn sách ảnh về chân dung những người có công việc kì lạ vào năm 2002.

Đa số mọi người sẽ nghĩ rằng những người làm công việc kỳ lạ chắc hẳn sẽ có tính cách lập dị. Tuy nhiên, Schiff cho biết, điều này không đúng. Nhiếp ảnh gia mô tả nhân vật của mình là những người nhạy cảm, tinh tế và làm việc một cách vui vẻ.

Nhiều người trong số các “đối tượng” của Schiff đã liên lạc với nhiếp ảnh gia và kể lại về tác động mà những hình ảnh tạo nên với cuộc sống của họ. Họ chia sẻ rằng trước đây, bạn bè và hàng xóm biết nơi họ làm việc, nhưng không thực sự biết họ làm gì ở đó. Giờ đây, công việc của họ không những được biết đến nhiều hơn mà còn nhận được nhiều sự cảm thông và khích lệ.

Dưới đây là những nghề nghiệp “quái dị” đã được xuất bản trong cuốn sách:

 

1

Chuyên gia… kiểm tra mùi cơ thể.

2

Người nuôi đỉa.

3

Người sản xuất gà cao su.

4

Người thử nghiệm… thức ăn cho chó.

5

Nhân viên trị liệu… ruột già.

6

Người thiết kế… underwear cho nam giới.

7

Trợ lý cho… nghệ sỹ phi dao.

8

Trị liệu âm nhạc cho những người đang hấp hối.

9

Người làm sạch… xương khủng long.

10

Nhân viên… chữa vết nứt trên các vách đá.

11

Và cả người… thử nghiệm băng vệ sinh.

[sưu tầm]

Đặc trưng cơ bản của tâm lý học Phật giáo

Mục đích chủ yếu của Tâm lý học Phật giáo là nhằm giải đáp rốt ráo nguyên nhân khổ đau mà nhân loại phải tiếp nhận, và, vấn đề là làm thế nào để giải thoát sự thống khổ đó. Triết học và Tâm lý học của Phật giáo đều có một thứ “Thủ hướng trị liệu” (Therapy oriented).

Mục đích chủ yếu của Tâm lý học Phật giáo là nhằm giải đáp rốt ráo nguyên nhân khổ đau mà nhân loại phải tiếp nhận, và, vấn đề là làm thế nào để giải thoát sự thống khổ đó. Triết học và Tâm lý học của Phật giáo đều có một thứ “Thủ hướng trị liệu” (Therapy oriented).

Một cách rõ ràng, Phật giáo đã kết hợp hành vi tâm lý và luân lý để luận cập. Luân lý học Phật giáo đã không chỉ giới ở quan niệm luân lý và phân tích lý luận, mà xa hơn, còn chỉ dạy những phương thức sinh hoạt và chuẩn tắc cho mọi hành vi. Luân lý học của Phật giáo đã dạy con người không làm những điều ác, bồi dưỡng thiện tâm và thanh tịnh tâm ý. Chỉ cần hành vi phù hợp với chuẩn mực, thước đo quy phạm của văn hóa xã hội thì đó là tâm lý lành mạnh.

LUÂN LÝ HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN TÍNH

Đức Phật dạy rằng, sự hài hòa của thế giới nhân loại được đặt trên nền tảng tâm lý. Vì vậy hành vi xã hội phải được nối kết với tâm lý học của Phật giáo để phân tích. Nếu vấn đề cá nhân đã được giải quyết thì sự khẩn trương và xung đột của xã hội sẽ giảm thiểu. Tạo ra những cảm tính như tham lam, kiêu mạn, sân hận v.v… đều có thể ảnh hưởng đến sự quan hệ của nhân tế. Đức Phật dạy : “Bảo hộ chính mình là bảo hộ người khác; bảo hộ người khác cũng chính là bảo hộ tự thân.” Đức Phật lại nhấn mạnh, bồi dưỡng tố chất tâm lý đã được nhìn nhận là có giá trị văn hóa xã hội, như tự tiết chế, tâm lý an bình thanh tịnh, tự răn buộc v.v..

Tóm lại, luân lý xã hội gồm có hai mặt tích cực và tiêu cực : Đứng trên mặt tiêu cực để nói thì sự tiết chế trên phương tiện nhân cách và thực tiễn luân lý chuẩn tắc sẽ có thể làm giảm thiểu sự xung đột của xã hội; đứng trên mặt tích cực để luận cập thì, bồi dưỡng, phát triển nhân cách lành mạnh, có thể kiến lập được một xã hội lương thiện. Đức Phật ví dụ nhân tính như một mỏ vàng, có những lúc bề ngoài tuy bị vô minh làm mê hoặc, nhưng sự huấn luyện của nội tại khả dĩ chuyển hoá và biến nó thành lương thiện.

LÝ LUẬN CỦA TRI THỨC

Ý nghĩa của tri thức, nếu nói trên một nghĩa rộng thì gồm có hai loại, đó là lý tính và kinh nghiệm. Kinh nghiệm có thể được chia thành kinh nghiệm cảm quan (sense experience) và kinh nghiệm trực quan (intutive experience). Thông thường thì con người biết sử dụng cả kinh nghiệm lý tính lẫn cảm quan; nhưng, chỉ có những người phát huy kỹ xảo trực quan mới có thể đạt đến phương pháp sử dụng tri thức một cách đầy đủ. Loại sử dụng phương pháp tri thức đầy đủ nầy, đã chẳng phải là một loa/i thần bí; trong Phật giáo, những ai có sự huấn luyện đặc biệt đều có thể đạt đến mục đích nầy.

Những kẻ ở cõi thế tục đều ràng buộc kinh nghiệm trên khái niệm của một loại kinh nghiệm nào đó, nhưng, Phật giáo thì vượt qua phạm vi cục hạn nầy. Lý do là vì khi chúng ta truy tầm tri thức thường bị chấp trước (craving), và vô minh (ignorance) dụ phát, còn Phật giáo khi phân tích về khái niệm đã không dừng lại ở ngôn ngữ hoặc trên tầng thức của luận lý học mà tiến thêm một bước, Phật giáo có thể tiềm nhận vào cảnh giới tâm lý chân thật. Đối với phương diện nầy, Phật giáo có thể tầm cầu được một loại mô thức mới của nhận thức luận (a new model of epistemology).

LÝ LUẬN THỰC TẠI (THE THEORY OF REALITY)

Khi thảo luận đến vấn đề con người và vũ trụ. Phật giáo cho rằng hành động của con người là do ý chí tự do của chúng ta đối với sự phải trái và không bị quyết định bởi bất cứ hình thức nào khác; Khi Đức Phật biện luận với sáu nhà tư tưởng nổi tiếng đương thời, Ngài đã nắm lấy chủ trương nầy.

CƠ SỞ TRỊ LIỆU CỦA TÂM LÝ HỌC PHẬT GIÁO

Mục đích chủ yếu của Tâm lý học Phật giáo là nhằm giải đáp rốt ráo nguyên nhân khổ đau mà nhân loại phải tiếp nhận, và, vấn đề là làm thế nào để giải thoát sự thống khổ đó. Triết học và Tâm lý học của Phật giáo đều có một thứ “Thủ hướng trị liệu” (Therapy oriented). Triết học Phật giáo cung cấp một loại giải trừ khốn hoặc của tri tánh; còn tâm lý học Phật giáo thì cung cấp phương pháp trị liệu về sự nhiễu loạn của tình cảm.

Erich Fromm bảo rằng Sigmund Freud không thể trị liệu tật bệnh tâm lý mà Sigmund Freud chỉ muốn giải trừ sự lo âu, nóng nảy không hợp lý và tánh cưỡng bức của nhân loại mà thôi. Phương thức trị liệu của những nhà tâm lý học hiện nay đó là mô thức điều chỉnh vấn đề và bệnh lý xã hội một cách rộng rãi hơn. Trên thực tế, những quốc gia có nền công nghiệp hóa và đã đang phát triển cao độ thì những tâm trạng như hoang vắng trống rỗng, lãnh cảm, sự thiếu sót về mặt hướng đạo nhân sinh trong lòng nhân loại, đều là khái niệm và mục tiêu của tâm lý trị liệu ngày nay. Phật giáo thuyết minh rằng tâm cảnh khó khăn, xung đột, bất mãn, nóng nảy, lo lắng, tham lam, ghét hận, mê chấp v.v… của nhân sinh đều có thể cho là phù hợp với thông bệnh của con người hiện đại; nhưng, Phật giáo còn có khả năng chỉ dạy cho mọi người hướng đến con đường lớn huy hoàng đại giải thoát, tối cực phúc lạc, đó là cảnh giới Niết Bàn.

LÃNH VỰC CHỦ YẾU CỦA TÂM LÝ HỌC PHẬT GIÁO

Những lãnh vực nghiên cứu của Tâm lý học Tây phương đều có chủ đề trung tâm của nó, như tâm lý học Hoàn Hình Phái (Gestlat Psychology) chủ yếu là nghiên cứu về tri giác (Perception); Phân tích tâm lý của Sigmund Freud thì nhắm vào sự nghiên cứu động cơ và nhân cách. Và tâm lý học Hành vi phái (Behaviourism) thì chủ yếu nghiên cứu về lý luận học tập (learning) v.v…

Nhưng, vấn đề quan thiết nhất của tâm lý học Phật giáo đó là căn nguyên khổ đau của nhân loại và con đường giải thoát; vì thế, động cơ thúc đẩy (motivation) và cảm xúc (emotion) chính là giáo nghĩa chủ yếu; Tri nhận (cognition) là điều kiện tiên quyết phải được nghiên cứu thêm; ngoài ra, như tính tình, nhân cách (personality) kể cả sự kết cấu trị liệu của tâm lý học Phật giáo; giảo nghiệm trên phương diện tâm lý học, như phân tích tâm lý của Sigmund Freud, tâm lý học nhân tính của Carl Rogers và A. Maslow có thể thấy một cách thấu triệt về cách trị liệu của chủ nghĩa tồn tại và cách trị liệu của chủ nghĩa hành vi đều là lãnh vực chủ yếu của sự nghiên cứu tâm lý học Phật giáo.

NGUỒN TƯ LIỆU TÂM LÝ HỌC PHẬT GIÁO

Dùng văn Pàli để tập thành kinh điển Phật giáo nguyên thủy (đều có dịch sang Anh Văn) làm gốc, kinh điển được chia thành 3 loại : Một là lời dạy của đức Phật được gọi là Kinh tạng (Sutta Pitaka), hai là những điều mục huấn luyện, răn chế của Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni gọi là Luật tạng (Vinaya Pitaka) và ba là Luận tạng (abhidhamma pitaka), trong đó gồm có phân tích tâm lý của tri thức. Nhưng, Kinh tạng lại có thể được chia thành 5 loại :

Trường Bộ 
(The Digha Nikaya or Dialogues of the Buddha) :
Đối thoại trường thiên của đức Phật, bao gồm 34 kinh điển trường thiên, trong đó có thể trùng kiến sự tích bình sanh của đức Phật và thật sử về chánh trị, xã hội và tôn giáo Ấn Độ đương thời. Trong đó Sigalovada Sutra đã đưa ra những chỉ dẫn về quan điểm luân lý học Phật giáo thực dụng.

Trung Bộ A Hàm Kinh 
(The Majjhina Nikaya of Middle Langth Saying)
Bao gồm 152 kinh. Giá trị của nó ở chỗ là có thể làm cho chúng ta biết được tình hình tiến hóa ở thời kỳ bắt đầu của Phật giáo và những giáo pháp của đức Phật cũng như tình huống khái quát của những đệ tử thân cận và những sinh hoạt của xã hội Ấn Độ đương thời. Kinh Trung A Hàm cũng chứa đựng một số tài liệu về Luật tạng.

Tạp Bộ A Hàm Kinh
(The Samyutta Nikaya of Kindred Sayings)
Gồm 2889 kinh do 56 chương tiết hợp thành, trong ấy có rất nhiều chỗ lập lại, trùng phúc.

Tăng Chi Bộ A Hàm Kinh 
(The Anguttara Nikaya of Gradual Sayings)
Thâu tập 2308 kinh, chia thành 11 chương tiết và có thêm phần thảo luận. Đặc điểm chủ yếu là sự đơn giản, thanh khiết và gồm rất nhiều câu thức tỉnh nhân sinh.

Tiểu Bộ A Hàm Kinh 
(The Khuddaka Nikaya of Division of Small Works)
Là một loại đoản thiên danh ngôn sử dụng tán văn hoặc hình thức thi ca viết nên, thường được dùng để kỳ đảo, vịnh thi, ca xướng v.v… Đứng trên quan điểm văn học, Phật giáo sử và Triết học để nhận xét thì Tiểu Bộ A Hàm Kinh là một bộ kinh rất có giá trị.

Ngoài những sự kiện nầy, những tác phẩm nổi tiếng của Đại Thừa kinh điển đã dùng Phạn văn, Hán văn, Nhựt văn và Tạng văn để viết thành, cũng có thể tìm được những tư liệu liên quan như Kinh Dược Sư (Bhaisajya – Guru – Sutra of the Lapis Lazuli Radiance Tathagata). Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, kinh Duy Ma Cật v.v… Truyền thống của Đại Thừa Phật giáo đặc biệt nhấn mạnh đến sự thành Phật hoặc những hành hoạt của các bậc Bồ Tát. Còn Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thì được miêu tả trong kinh điển Pàli, như là một bậc có khả năng trị liệu vĩ đại, phương thức trị liệu của Ngài gồm có hai loại : Trị liệu trên giáo nghĩa và tâm lý hoặc thần tích.

Đem kinh Phật và một số nguyên lý của tâm lý học Tây phương hiện đại, nhất là một số học lý của các loại học phái y liệu để so sánh tìm hiểu trên tinh thần nghiên cứu thì mới có thể nhận thức một cách sâu sắc về Tâm lý học Phật giáo.

VẤN ĐỀ THUỘC TRÊN PHƯƠNG PHÁP LUẬN

Trên phương diện hiện tượng tâm lý, đức Phật chủ trương do kinh nghiệm mà chứng thực lý luận. Nhưng kinh nghiệm đã không chỉ là kinh nghiệm cảm quan mà còn là công phu của trực quan (intuition) và nội tỉnh. Bởi lẽ đức Phật nhận thức rằng truyền thống nhân tập, hoặc sử dụng luận lý học và lý tánh đều có sự giới hạn của nó và, chỉ có kinh nghiệm mới được sự bảo hiểm tốt nhất. Kinh nghiệm của đức Phật ngoài việc căn cứ vào ngũ quan còn tái dụng Nội Tỉnh Pháp (Introspection) như là một giá trị cao độ để đạt được kỹ thuật tri thức và phát huy thấu thị (quán sát một cách thấu triệt). Trực quan pháp là một loại kỹ thuật “Phân tích tự ngã” (Self-analysis). Ở Tây Phương người ta sử dụng trực quan pháp để nghiên cứu hiện tương tâm lý và đã được cho là kỹ thuật không đáng được tin cậy, bởi vì kinh nghiệm của riêng mình không thể làm cho người khác giác sát được. Nhưng, Phật giáo cho rằng do công phu thiền định cao độ mà có thể đạt đến năng lực vượt qua cảm quan, và chính vì thế mà nó là phương thức khảo nghiệm khách quan. Nếu có thể đạt đến kỹ thuật thiền định một cách nhất định thì không bị vô minh làm trở ngại và do vậy mà tâm lý có khả năng đạt đến giai đoạn của sự an bình và thanh tịnh.

KHÁI NIỆM VỀ TÂM (MIND)

Đức Phật phủ định bất cứ thực thể nào có tánh vĩnh cửu tức Tâm hoặc Ý Thức (Mind or Consciousness). Phật dạy : cái được gọi là tâm là một loại phức tạp thể của nhân thể (a psycho-physical complex of nama-rupa), nama là chỉ cho 4 loại quần thể phi vật chất tức là cảm giác, ấn tượng của cảm giác (tưởng tượng, quan niệm, khái niệm), ý chí hoạt động (conative activity) và ý thức; rupa là nói về 4 nguyên tố lớn, tức là khuếch đại (extention), ngưng tụ lực (cohesion), nhiệt (heat) và hình trạng vật chất (materialshape) có được từ những nguyên tố nầy. Vì vậy, có thể nói, nó là một phúc hạp thể được tổ thành bởi những thành phần tâm lý và vật chất và có tính chất tâm thể (hoặc thể tâm) nương tựa lẫn nhau. Muốn liễu giải một cách rốt ráo về hiện tượng tâm lý thì cần phải xuyên qua luật nhân quả, bởi vì chúng cùng làm nhân và quả cho nhau.

Nhân duyên giả hợp là sự biểu thị của điều kiện hỗ vi của tâm lý và vật chất. Giáo nghĩa vô ngã (egolessness) cũng còn chỉ dạy rằng cả nội lẫn ngoại đều không có cái gọi là thực thể tồn tại. Vì thế, hai giáo nghĩa nhân duyên giả hợp và vô ngã là tâm lý học Phật giáo giải thích về tâm (có thể dùng phương pháp tổng hợp và phương pháp phân tích để phân biệt giải thích hai loại hiện tượng nầy). Căn cứ theo tâm lý học Phật giáo, chúng ta có thể bảo rằng Tâm là một thể loại liên tục động thái (dynamic continuum), có thể khuếch đại đến khởi nguyên và khó mà tính đếm được, vả lại, nó còn có thể phát triển bên ngoài của sự kết liễu của thọ mạng.

Loại thuyết pháp nầy hiện vẫn chưa được sự thừa nhận của tâm lý học Tây Phương. Nhưng, “Tính chất di truyền nguyên thủy của người” (Archaic heritage of mind) của Sigmund Freud và quan niệm về “Tập thể vô ý thức” (Collective Unconsciousness) của Carl Jung đều muốn thăm dò vào một lãnh vực sâu xa khác, trong tương lai, rất có thể sự khám phá mới sẽ hội tụ cùng chủ trương tâm lý học của Phật giáo.

Theo Phật giáo và Tâm lý học hiện đại

Mời bạn xem video bên dưới. Công nghệ tiên tiến làm nên những cảnh quay tuyệt đẹp.

Phá cáp, Trung Quốc có ý đồ gì?

Sau khi cho lưu hành “hộ chiếu lưỡi bò”, một nhóm tàu đánh cá Trung Quốc đã vây quanh và gây đứt cáp tàu Bình Minh 02 khi tàu này đang làm nhiệm vụ trong vùng biển gần đảo Cồn Cỏ của Việt Na

(ĐVO) Đây không phải là lần đầu tiên phía Trung Quốc ngang ngược, trắng trợn lộng hành và gây hấn với các tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam.

Năm 2011, tàu Bình Minh 02 và Viking II bị gây đứt cáp ngay trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam. Sự việc này tiếp tục tái diễn trong năm nay.

 

Để giúp độc giả hiểu rõ hơn về tính chất sự việc, Đất Việt đã có cuộc phỏng vấn với nhà nghiên cứu Dương Danh Huy (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông) về vấn đề này.

PV – Thưa ông, tàu Bình Minh 02 bị gây đứt cáp ở vị trí như thế nào?

Ông Dương Danh Huy – Trong khu vực tàu Bình Minh 02 bị gây đứt cáp, tức là ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, chưa có ranh giới đường đặc quyền kinh tế (EEZ) giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nhưng so với đường trung tuyến giữa Việt Nam và đảo Hải Nam, không tính quần đảo Hoàng Sa, điểm này cách 20 hải lý về phía Việt Nam. Điểm này nằm cách xa Hoàng Sa, và cũng cách xa vạch đầu tiên của đường chữ U về phía Bắc.

– Theo ông, mục đích đằng sau sự việc này là gì? Hành động gây đứt cáp này có vi phạm luật pháp quốc tế không?

Hiên nay Việt Nam và Trung Quốc đang đàm phán phân định và hợp tác cho vùng biển này. Khả năng là Trung Quốc không muốn phân định, vì một ranh giới hợp lý ở vùng này sẽ là một thách thức cho đường chữ U, và như thế thì họ sẽ muốn đẩy đàm phán về hướng cùng khai thác. Có thể đây là cách của Trung Quốc để gây áp lực lên Việt Nam trong đàm phán.

Nhưng nếu thực tế là tàu cá Trung Quốc đang lộng hành trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam thì không cần mục đích trên cũng có thể có sự việc này.

Ngày 5/6/2011 thì tàu cá Trung Quốc gây đứt cáp tàu Viking II ở vùng Nam Côn Sơn. Có vẻ như tàu cá Trung Quốc đang lộng hành từ cửa Vịnh Bắc Bộ đến Nam Côn Sơn. Dĩ nhiên là điều đó có gây tổn hại cho ngư dân Việt Nam.

Việc gây thiệt hại kinh tế cho Việt Nam và cản trở hoạt động kinh tế của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế là vi phạm UNCLOS 1982. Ngoài ra, Tổ chức Hàng hải Quốc tế của Liên Hợp Quốc, mà Việt Nam và Trung Quốc là thành viên cũng có “Công ước phòng ngừa đâm, va trên biển” (COLREGs) với mục đích tránh va chạm trên biển. Nhiều khả năng, các tàu cá Trung Quốc đã cố ý gây va chạm và vi phạm Công ước đó.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lương Thanh Nghị cho biết, ngày 3/12/2012, đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp đại diện Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội trao công hàm kiên quyết phản đối những việc làm nói trên của Trung Quốc, yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, chấm dứt ngay những việc làm sai trái đó và không để tái diễn những hành động tương tự.Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gửi công hàm một ngày trước đó để phản đối Trung Quốc về những hành động sai trái gần đây, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam.

Theo TTXVN

– Thông thường, Trung Quốc gây hấn với Việt Nam từ khoảng tháng 5 tới tháng 8 hàng năm, bắt đầu bằng lệnh cấm đánh bắt cá. Năm nay việc gây đứt cáp diễn ra vào cuối năm, nhất là sau khi Hội nghị thượng đỉnh ASEAN mới kết thúc. Có điều lạ gì ở đây không?

 

– Lệnh cấm đánh cá mùa hè, bản thân nó là một cách của Trung Quốc để gây hấn, nhưng sự thật là Trung Quốc gây hấn với ngư dân Việt Nam quanh năm. Tương tự việc Trung Quốc cản trở và phá hoại các hoạt động dầu khí của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế của chúng ta cũng không hề đợi đến mùa hè. Hiện nay, Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN vừa kết thúc. Có thể Trung Quốc tính toán rằng những lời phản đối sẽ bị cân bằng phần nào bởi những ngôn từ ngoại giao của sự kiện.

–  Đây là lần thứ 2 tàu Bình Minh 02 bị gây đứt cáp, liệu sự việc này có trở thành “thông lệ”? Việt Nam cần làm gì?

– Việt Nam phải bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế của mình. Bộ Ngoại Giao Việt Nam cần có một trang mạng về chuỗi các sự kiện tàu Trung Quốc gây hấn với tàu Việt Nam, có đầy đủ thông tin cho thế giới và người Trung Quốc. Việt Nam cần phải phản đối Trung Quốc và đòi bồi thường thiệt hại và cũng phải đưa vấn đề ra các diễn đàn quốc tế.

>> GS Carl Thayer: ‘VN nên có dấu riêng đặc trị ‘hộ chiếu lưỡi bò’
>> Việt Nam từ chối hộ chiếu ‘lưỡi bò’
>> Hộ chiếu ‘lưỡi bò’: Làm phiền láng giềng
>> Đài Loan phản đối hộ chiếu ‘lưỡi bò’ của Trung Quốc
>> Trao công hàm phản đối TQ in hình lưỡi bò trên hộ chiếu
>> Biên phòng Việt Nam đóng dấu ‘hủy’ vào ‘hộ chiếu lưỡi bò’

>> Tủ sách biển Đông: Biển xanh màu lá
>> Tủ sách biển Đông: Những yêu sách đối kháng của Việt Nam và Trung Quốc ở khu vực bãi ngầm Tư Chính và Thanh Long trong biển Đông
>> Tủ sách biển Đông: Chủ quyền quốc gia Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa
>> Tủ sách biển Đông: Bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam
>> Tủ sách biển Đông: Xung đột trên Biển Đông: không còn là nguy cơ tiềm ẩn
>> Tủ sách biển Đông: Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
>> Tủ sách biển Đông: Bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam
>> Tủ sách biển Đông: Hoàng Sa – Trường Sa, Lẽ phải thuộc về chúng ta
>> Tủ sách biển Đông: Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông
>> Tủ sách biển Đông: Hoàng Sa – Trường Sa, luận cứ & sự kiện
>> Tủ sách biển Đông: Biển Đông và hải đảo Việt Nam
>> Tủ sách biển Đông: Tôi kể em nghe chuyện Trường Sa

Đài Trang thực hiện

Nguy cơ xâm lăng văn hoá Hàn Quốc vào Việt Nam

– “Về mặt trình độ nghệ thuật, chúng ta có thể làm được như Hàn Quốc”, cục trưởng cục NT biểu diễn khẳng định trong cuộc phỏng vấn.

Từ trường hợp Thái Lan – Lào

Trong cuộc gặp gỡ với Cục trưởng Cục nghệ thuật biểu diễn Lào – một người đàn ông rất thành thạo tiếng Việt, ông Vương Duy Biên, Cục trưởng Cục nghệ thuật biểu diễn Việt Nam đã chia sẻ những mối lo lắng trước nguy cơ văn hóa bị xâm thực tại Việt Nam cũng như ở Lào hiện nay.

Nếu như Việt Nam đang đối mặt với sự xâm lăng của làn sóng Hallyu trên các phương diện giải trí, nghe nhìn; thì với Lào, là cơn sóng băng đĩa từ nước Thái Lan láng giềng đang tràn ngập.

Kao JiraYu – một ngôi sao thần tượng của Thái Lan hiện nay

Ông Xayxavat Singnamvong đã chia sẻ với giọng nói đầy lo lắng: “Băng đĩa, bài hát, phim ảnh từ Thái Lan đổ sang Lào. Người Lào không hiểu được sự nguy hiểm này, chỉ sửa một chút rồi mang đi bán. Lẽ ra người Thái phải bảo vệ bản quyền của họ, nhưng họ không làm thế, cốt để có thị trường. Họ lôi cuốn chúng tôi làm theo văn hóa của họ. Điều này rất nguy hiểm, chúng tôi không biết làm thế nào.

Vì có đường biên giới dài tiếp giáp (gần 2.000km – PV), nên phong tục tập quán, lời ăn tiếng nói, phía chúng tôi và Thái Lan cũng gần giống nhau. Họ lại được trang bị kĩ thuật và công nghệ mới, nên các phương tiện, hình thức nghe nhìn rất phát triển. Không chỉ ở băng đĩa, họ còn có TV phát liên tục. Có 5-6 kênh Thái Lan trên truyền hình của chúng tôi. 

Văn hóa của họ không chỉ xuất hiện ở quanh biên giới mà giờ đây vào ngay phòng ngủ của chúng tôi rồi. Chúng tôi cũng không biết làm thế nào, mong học hỏi từ các bạn.”

Nhìn từ phía Việt Nam, ông Vương Duy Biên cho biết: “Đường biên giới giữa Lào và Thái Lan rất dài, có ảnh hưởng mạnh đến văn hóa dân tộc, vì vậy việc giữ gìn bản sắc và quản lý biểu diễn rất quan trọng.

Cả Lào và VN đều là những nước nhỏ, chúng ta đều có nguy cơ bị xâm lăng văn hóa, vì vậy phải nương tựa vào nhau. Hiện nay tuy còn có những khó khăn trong công tác quản lý nghệ thuật biểu diễn, nhưng Việt Nam vẫn sẽ giúp đỡ các bạn, dựa trên nguyện vọng của các bạn và những điều chúng tôi có thể đáp ứng. 

Không chỉ về phương diện chuyên môn: xiếc tạp kĩ, múa rối, cải lương, ca múa nhạc… chúng ta còn phải giúp đỡ và hợp tác lẫn nhau trên phương diện quản lý. Sắp tới chúng tôi hoàn thành nghị định về tổ chức biểu diễn, trình Quốc hội thông qua; sau đó sẵn sàng cung cấp để các bạn tham khảo để điều chỉnh phù hợp cho các bạn ”.

Ông cũng nhìn nhận: “Việt Nam là 1 quốc gia mới hội nhập thế giới, nên chúng tôi cũng mới xây một loạt điều luật mới để điều hành đất nước. Để điều hành tốt 1 quốc gia phải từ 600-700 bộ luật. Hiện nay chúng tôi mới chỉ có rất ít, phải cần nhiều thời gian để xây dựng thêm.”

VN học gì từ chính sự xâm lăng văn hóa của Hàn?

Trả lời phỏng vấn của phóng viên VietNamNet về việc Cục đã nhận ra khả năng bị xâm thực văn hóa của nước ta trong bối cảnh hiện tại, ông Vương Duy Biên cho hay: “Đây là tình trạng chung của những nước nhỏ như chúng ta trong bối cảnh hội nhập với thế giới. Việc bảo tồn và giữ được bản sắc văn hóa trở nên rất quan trọng. Giữ được bản sắc văn hóa là giữ được tự cường của dân tộc.

Nhóm Super Junior biểu diễn tại Hà Nội vào tháng 3/2012 – Ảnh: Nguyễn Hoàng

Từ những hoạt động biểu diễn thời gian gần đây, có thể thấy giới trẻ đang thần tượng các ngôi sao giải trí Hàn Quốc cũng như các ngôi sao nước ngoài quá nhiều. Tôi thấy nên cân nhắc thời lượng chiếu phim, ca nhạc của nước ngoài trên truyền hình, đưa thêm phim Việt Nam, các loại hình nghệ thuật của Việt Nam. Giới trẻ trước hết phải trân trọng văn hóa của nước mình, tự hào với truyền thống của nước mình. Hội nhập giao lưu, tiếp nhận, học hỏi văn hóa của nước ngoài là cần thiết; nhưng không có nghĩa là lấy giá trị đó lấp lên văn hóa của mình“.

Làm sao để truyền thống có thể gặp gỡ được giới trẻ là một điều không dễ. Trả lời câu hỏi này, ông chia sẻ: “Tôi cho rằng ý thức và hành động của ta phải hết sức đồng bộ. Trước hết hoạt động biểu diễn phải lành mạnh, trang phục biểu diễn không nhố nhăng, phản cảm. Tác phẩm ca nhạc như thế nào để có nét truyền thống; phim ảnh, nghệ thuật cũng phải làm sao để giới thiệu được đến với lớp trẻ, để chúng yêu thích. Nghệ thuật truyền thống không phải cái nào cũng dễ hấp dẫn, nhưng phải tìm cách làm thế nào để cho lớp trẻ thấy rằng “À, nó cũng hay”.

Đó là trách nhiệm của những người làm nghệ thuật. Họ phải chứng minh cho lớp trẻ thấy là nghệ thuật truyền thống hay, hấp dẫn… Ở đây có 2 mặt: 1 mặt giữ cái nguyên gốc, mặt khác phải đưa nó tiếp cận xã hội, phát triển cùng xã hội. Rối nước, cải lương hay tuồng cách đây 100 năm có thể khác, nhưng để nó sống được và đồng cảm được với xã hội thì phải có những kênh mới tiếp cận với xã hội, tiếp cận giới trẻ. Những nhà nghệ thuật, những đơn vị nghệ thuật phải làm được điều đó”.

 Nhóm hâm mộ trong buổi biểu diễn – Ảnh: Nguyễn Hoàng

“Chúng ta có thể học gì từ chính sự xâm lăng văn hóa Hàn Quốc vào Việt Nam?”, ông Vương Duy Biên cho biết: “Thực ra điều kiện kinh tế của Hàn Quốc hơn ta rất nhiều. Họ có các tập đoàn lớn đứng sau tài trợ cho các hoạt động văn hóa và biểu diễn. Họ đầu tư xuất khẩu văn hóa”. Tuy nhiên ông khẳng định: “Về mặt trình độ nghệ thuật chúng ta có thể làm được như họ“.

Hàn Quốc – Nhật Bản và bài học đắt giá mang tên “lập quốc”

Lùi lại 1 tháng trước, trong một buổi luận đàm mang tên “Văn hóa lập quốc” vào cuối tháng 3 tại Hà Nội, ông Oriza Hirata- một nhà văn hóa, tư tưởng của Nhật Bản đã chia sẻ hết sức chân thành với Việt Nam về cái gọi là “vết xe đổ” của Nhật Bản sau thời kì buộc phải tập trung tái thiết kinh tế bởi các thảm họa thiên tai như động đất, sóng thần … và bỏ quên văn hóa. Ông thừa nhận, Hàn Quốc đã quan sát, rút kinh nghiệm và tránh được sai lầm này từ Nhật Bản.

Ông đưa ra ví dụ về hiệu quả du lịch và sự bền vững trong cộng đồng của 2 thành phố Nhật: Furano và Ashibetsu trong thập niên 90. Từng được đầu tư 10 tỷ yên với định hướng phát triển du lịch và xây dựng các công trình khổng lồ như tượng Phật lớn, khu resort…; nhưng khi bong bóng nền kinh tế vỡ, sự thiếu vắng bản sắc của Ashibetsu cũng chính là nguyên nhân khiến thành phố này không thể thu hút được khách du lịch. Trong khi đó, chỉ từ vài ruộng hoa lavender còn sót lại sau khi từng bị các nhà máy xâm lấn trong những năm 80, thành phố Furano cách đó 24km lại trở thành điểm du lịch sáng giá.

Thành phố Furano nay đã trở thành điểm du lịch nổi tiếng của Nhật Bản

Trong sự chia sẻ ý tưởng với Việt Nam, Oriza đã viện dẫn tư tưởng của những nhà viết kịch trước đó của Nhật Bản, những người đã cho rằng phải giữ vững văn hóa từ làng xã. Mỗi một ngôi làng đều trở thành trung tâm của thế giới thì là một điều tuyệt vời. Người dân không phải hướng về các thủ đô, các thành phố lớn nữa, mà họ có thể có những quảng trường, trung tâm văn hóa của riêng mình.

Cây viết Quốc Đạt đã biên lược lại những ý quan trọng trong buổi tọa đàm của ông Oriza Hirata như sau: “ Các hoạt động văn hóa chỉ phát sinh cái lợi sau 100-200 năm nữa và nó cần được đầu tư vào các hoạt động trong cả chiều sâu và bề rộng.

Các nhà hoạch định phải đối mặt với 2 hướng là phát triển văn hóa truyền thống trong nước như mặt nền cơ bản và bên cạnh đó là phát triển các văn hóa tiên phong để giao lưu với thế giới. Việc cân đối tỉ lệ giữa 2 hướng này là một vấn đề mà mỗi quốc gia luôn phải đối mặt và tìm ra trong các hoàn cảnh cụ thể.

Thành phố Osaka (Nhật Bản)

Nước Nhật chính là một ví dụ điển hình khi chỉ tập trung vào phát triển kinh tế để trở thành một cường quốc kinh tế đứng thứ 3 thế giới, nhưng các hoạt động văn hóa chỉ bằng 1/5 so với Pháp hay các nước châu Âu khác. Hàn Quốc là láng giềng nước Nhật, phát triển sau Nhật 20 năm và họ đã tìm mọi cách để tránh khỏi vết xe đổ này khi tập trung nguồn lực đầu tư vào văn hóa chứ không tập trung duy nhất vào phát triển kinh tế. Việt Nam đang phát triển trong tương lai và cũng đừng nên đi vào vết xe đổ của Nhật“.

 

Và lại một lần nữa, câu chuyện phát triển văn hóa của người Hàn Quốc được quay trở lại, lần này được kể bằng chính quan sát của người trong cuộc. 

“…Cách đây khoảng 20 năm, Hàn Quốc hết sức lo âu trước hình ảnh giới trẻ cuồng theo hip hop của phương Tây. Nam thanh nữ tú đua nhau nhuộm tóc vàng, ăn mặc, đeo trang sức lạ lẫm. Vô số cuộc hội thảo được tổ chức, với những câu hỏi được đặt ra: Phải chăng giới trẻ đang muốn chối bỏ truyền thống? Phải chăng giới trẻ đang muốn rập khuôn theo phương Tây? Liệu lòng yêu nước có bị mai một trong giới trẻ?…

Và rồi mọi người cũng nhận ra rằng giới trẻ chọn thần tượng là những ngôi sao phương Tây, một phần là bởi nội lực của làng giải trí Hàn Quốc còn yếu, không đủ sức hấp dẫn giới trẻ. Từ đó, đã có những chính sách đưa ra khuyến khích thay đổi.

Tôi lấy ví dụ như chuyện âm nhạc Hàn Quốc bây giờ, với những người thuộc thế hệ của tôi hoặc lớn hơn thật sự nghe không quen. Đơn giản vì người ta đã thuê cả các nhạc sĩ phương Tây qua dạy cho giới sáng tác nhạc của Hàn, hoặc khuyến khích giới sáng tác đi học từ nước ngoài nhằm tìm ra một hướng đi mới.

Họ nghiên cứu làm thế nào để âm nhạc vừa không mất đi tính dân tộc, nhưng cũng phải mang tính toàn cầu. Lời nhạc cũng thay đổi như thế. Tôi biết có nhiều nhạc sĩ Hàn Quốc đã thuê người nước ngoài để tư vấn cho các tác phẩm của mình sao cho thanh niên Hàn cũng mê và thanh niên nước ngoài cũng thích! Và không chỉ âm nhạc, các nhà làm phim, người dạy múa, ca sĩ, các công ty liên quan đến biểu diễn… đã nỗ lực rất lớn để thay đổi. Rõ ràng Hallyu không phải ngẫu nhiên mà có, mà đó là kết quả của một sự nỗ lực thay đổi của từ chính phủ cho đến tất cả các thành phần tham gia làng giải trí…”.

Trích bài viết của GS.TS Bae Sang Soo – trưởng khoa tiếng Việt ĐH Ngoại ngữ Busan, Hàn Quốc – trên báo Tuổi trẻ ngày 22/4/2012. 

Hồ Hương Giang

[http://vietnamnet.vn/vn/van-hoa/69592/nguy-co-xam-lang-van-hoa-han-quoc-vao-viet-nam.html]

TRẢI NGHIỆM CỜ VÀNG

Ở cái tuổi cận kề miệng hố  bố cảm nhận rằng đến lúc cần phải truyền cho con tất cả kinh nghiệm thăng trầm cuộc đời mình để con hiểu hơn về sự nghiệp của bố,  cái sự nghiệp mà khi cuộc đời bố đã tiến  sát gần  đến cái  quan tài mà  nó vẫn còn lởm chởm chông gai và ngổn ngang xà bần : Sự nghiệp cờ vàng.

Lá cờ vàng  của chúng ta xưa nay vẫn luôn luôn là biểu tượng để  tập hợp những nạn nhân cộng sản, những người không chấp nhận CS và chống cộng bằng mọi giá. Cũng không ít người là thành phần bị CS bợp tai đá đít tống khứ sang đây tức quá không biết làm gì bèn quơ lấy lá cờ vàng chửi bới trả đũa. Cũng có những thành phần homeless, chẳng có thâm thù gì, ăn no rửng mỡ, phất lá cờ vàng chống cộng làm vui, đi biểu tình cho nó tiêu mỡ lại được tiếng là đấu tranh, là có lập trường.

Bố đã nhân danh lá cờ này bao năm qua để chống cộng,  để thỏa lòng thù hận, để tồn tại trên cái xứ người này, và để còn được vuốt ve sờ mó mân mê  cái hư danh quá khứ.

Sở dĩ cho đến hôm nay vẫn còn rất nhiều kẻ phất lên lá cờ vàng ba sọc đỏ và hô hào chính nghĩa quốc gia chống lại cộng sản vì lá cờ đó  vẫn còn ép phê trong việc gây dựng phong trào, tập hợp bầy đàn. Bởi vì nó vẫn còn giá trị để móc túi những kẻ hoang tưởng u mê,   bởi vì vẫn còn đó những thành phần cực đoan dốt nát lịch sử, không biết cội nguồn cuộc chiến phi nghĩa và còn mơ mộng với ảo tưởng còn cơ hội lật đổ cộng sản. Những thành phần này thiếu đầu óc  nhưng thừa lòng thù hận. Không có bọn này thì lá cờ đã được ngủ yên.

Từ lâu bố đã nhận ra rằng một bộ phận trong cộng đồng người Việt hải ngoại, thành phần hưởng lợi từ cuộc chiến,  xem tư tưởng chống cộng như một sự khẳng định mình, như một món trang sức cho cái nhãn hiệu tị nạn.  Tư tưởng chống cộng phải được xem như một lập trường kiên định hàng đầu, bấu víu vào nó để  tự đánh lừa  mình, để có cảm giác rằng ta đây  đang ở một chiến tuyến khác ngang cơ với cộng sản, quên đi nỗi ô nhục thất trận, quên đi nỗi uất nghẹn bị Mỹ chơi xỏ bỏ rơi không thương tiếc.  Họ rất yếu kém  trong tư duy chính trị, rất nhút nhát và chỉ to mồm dựa vào hội chứng bầy đàn.  Họ chửi rất hăng,  quần tụ được nhiều nhưng cũng chỉ là một bầy đàn ô hợp. Họ hô hào và ứng xử theo đám đông một cách máy móc không suy xét, họ bị cuốn theo đám đông và rất dễ trở thành quá khích, cũng chính vì họ quá cay cú CS,  chỉ chờ có cơ hội để trút bớt lòng hận thù cho được nhẹ nhõm. Cái nỗi niềm  cay cú mà gần bốn chục  năm rồi  nó vẫn chưa có liều thuốc nào có thể tiêu hóa nổi.

Thất bại ô nhục năm 1975 mất hết danh vọng tiền bạc và bị CS nó bắt cuốc đất  trong các trại cải tạo làm họ căm thù CS vô cùng. Qua được bên Mỹ họ dần hoàn hồn, mặt bắt đầu  có máu, lá gan bắt đầu hồi sinh trở lại và nhận ra rằng Mỹ có môi trường tự do để họ trút giận, xả xú bắp lòng hận thù.Thế là họ tập họp nhau lại như ngưu tầm ngưu mã tầm mã để tố cộng và biểu tình. Cội rễ mọi hành động của họ đều xuất phát từ mối thù CS năm xưa đã tước đoạt của họ tất cả những quyền lợi, những ân  ân sủng do đế quốc ban cho.

Những năm đầu tị nạn họ vẫn còn hăng tiết vịt, hăng tiết vịt cộng với cái ngu dốt làm cho họ hoang tưởng trầm trọng. Một số quá khích  được các chiến hữu bốc lên mây khoái chí manh động mộng thành người hùng, hoang tưởng là Mỹ nó ủng hộ vì Mỹ cũng là kẻ chiến bại dưới tay CSVN, định  vác lá cờ vàng về VN kiếm ăn như những tên Mai văn Hạnh  Hoàng Cơ Minh …đã phải trả giá thê thảm. Chưa hết , Võ Văn Đức háo danh định chơi nổi âm mưu đánh bom đại sứ quán VN tại Thái. Không những Mỹ nó không bênh mà còn “ khuyến mãi  “ cho 6 cuốn lịch rồi tống cổ sang Thái xử tiếp. Tòa Thái cũng nhiệt tình đóng góp ủng hộ thêm 12 cuốn lịch nữa để có thêm thời gian gậm nhấm mộng cờ vàng.

Họ ngu  đến độ phải mất mấy chục năm họ mới nhận ra được rằng dù Mỹ thua trong cuộc chiến, CSVN  không còn là kẻ thù của  Mỹ nữa mà còn  là bạn, là đối tác hợp tác phát triển. Cả thế giới  đang bang giao và làm ăn với VN một cách hòa bình không có khe cửa hẹp nào để lá cờ vàng chui  vào  để hy vọng có được một chút  chú ý  của quốc tế.

Thế là những con người ấu trĩ này chỉ còn cách cố bấu víu lấy nhau, bấu víu lá cờ vàng để động viên an ủi  nhau, để làm cái phao, cái điểm tựa cuối cùng chống lại cộng sản, chỉ vì lý do duy nhất họ quá cay cú căm thù cộng sản.  Tuy nhiên hành động của họ càng ngày càng thêm  lố bịch nhố nhăng dẫn đến việc làm mất niềm tin trong giới trẻ,  làm ô uế lá cờ vàng. Chính vì vậy mới có chuyên  một họa sĩ trẻ con cháu cờ vàng vô tư cho lá cờ vàng trôi tuột  vào  tận cái chậu  rửa chân trong một tác phẩm hội họa làm họ cứ như lọan cả lên.

Thế hệ cờ vàng thứ nhất hầu hết đều ăn bám xã hội Mỹ cho nên rất rảnh rỗi để đàn đúm nhau mà đề tài chống cộng vẫn luôn là đề tài hấp dẫn họ.  Nói là chống cộng cho oai chứ thất ra họ biết chẳng thể nào chống được mà chửi cộng mới là đề tài chính. Mấy chục năm qua là thời gian bùng nổ những từ ngữ chửi rất phong phú trong thế giới cờ vàng. Chống cộng không thể không nói đến biểu tình. Nhưng biểu tình với đối tượng nào đây ? Không thấy CS đâu cả họ phải tìm ai đó chụp lên đầu cái nón cối để có cớ mà biểu  tình hâm nóng tinh thần cờ vàng.

Những hình ảnh các con thấy bề ngoài của các  cuộc biểu tình chỉ là bề nổi, hình ảnh dễ thấy nhất là thi nhau hò hét tưởng chừng như ăn tươi nuốt sống đối thủ nhưng chỉ là những vở diễn thôi con ạ. Mặt trái của những cuộc biểu tình mới là động cơ khiến họ tụ tập nhau đó  là lý do thích đàn đúm ham vui. Những dịp này người ta được dịp gặp nhau nói năng thả cửa vì  toàn là đồng hương tha hồ trao đổi tâm sự mọi thứ trên đời bằng tiếng Việt, xả stress những ngày xung quanh toàn mắt xanh mũi lõ chỉ biết nói chuyện bằng tay. Đây là dịp để họ khoe con khoe cháu, hỏi  thăm nhau về thuốc men bệnh tật hỏi han nhau con chó đã động đực chưa. Liền sau đó họ hô đả đảo theo tiếng hô bầy đàn mà chẳng biết đả đảo cái gì.

CS nó có nhiều cái quá giỏi nhưng bố chẳng thể khen chúng được mà ngược lại phải tìm cách để chê, phải bới móc ra cho đuợc cái yếu kém cái khuyết tật của nó để sỉ vả nguyền rủa nó cho nó sướng cái lỗ tai cho nó oai  cái lỗ mồm, cứ gặp  nhau là vạch lá tìm sâu để tố khổ nó để hài tội nó để gật gù với nhau mà  hả hê cái bụng. Thế nhưng mỗi bước đi lên,  mỗi thành công của CS lại là mỗi cú bạt tai  đau điếng mà bố từng phải  hứng chịu.  Mỗi sáng thức dậy, xem tin tức về VN bố lại phải điểm tâm  thêm vài ba cú bạt tai, tráng miệng bằng vài cú đá đít, vài cú hồi mã thương, vài cú bạt rờ que, vài cú đấm  đau nhói tâm can.

Con hãy nhìn xem, những cuộc biểu tình ô hợp chỉ toàn dân ăn không ngồi rồi không việc làm, thiếu kiến thức, nhưng thừa mứa thời gian, toàn là dân già háp khú đế ăn bám xã hội,  lê chân không vững, nhưng cái mồm còn ngoác ra to khỏe vô cùng, và vẫn còn tác dụng khủng bố lợi hại. Mọi thứ đã xuống cấp nhưng cái mồm thì không. Vẫn còn phun được nước thối vẫn chửi vung xích chó, vẫn chụp mũ vẫn lươn lẹo điêu ngoa vẫn lừa bịp xảo trá. Mấy chục năm qua họ đã phát triển trình độ chửi nhau thượng thừa, sáng tác ra đủ ngôn từ hình tượng nhất.

Họ lấy biểu tình làm vui, làm  nơi đàn đúm tán gẫu truyền lửa cho nhau chống cộng. Họ hè nhau nói xấu xuyên tạc CSVN,  cùng nhau gật gù tán đồng nhưng trong bụng họ biết rõ là đang tự lừa dối mình. Họ không dám nói điều gì tốt về CS, họ sợ chính những người cùng hội cùng thuyền với mình tẩy chay và khủng bố. Về VN họ thấy quá nhiều đổi thay diệu kỳ, cuộc sống đang đi lên mạnh mẽ từng ngày,  nhưng họ chẳng dám nói thật với nhau một lời ngợi khen đất nước, sợ bị cho rằng tuyên truyền cho CS.

Cứ như thế gần bốn chục năm rồi vẫn cái trò  bưng tai bịt mắt nhau không có gì thay đổi. Vũ khí của họ chống cộng mấy chục năm cũng vẫn  chẳng có gì ngoài  cái mồm và cái que cờ vàng hết đát.

Để vực dậy tinh thần cho nhau.lâu lâu  họ hè nhau  lủ khủ quần áo rằn ri,  mũ nồi giày bốt,  vài cây súng nhựa trẻ con,  khoác vào chỉ để qua đi lại, đi tới đi lui, đi vòng vòng  ở một góc phố gọi là diễu hành. Khi súng thật có trong tay thì họ  bỏ chạy  vứt bố cả súng, quẳng cả ba lô giày dép, qua đây họ chơi súng nhựa đồ si đa  đeo vào để chụp hình quay phim để mà lấy khí thế chống cộng. Họ tự biên tự diễn những tiểu phẩm hài nhố nhăng trên đường phố một cách vô tư, cũng diễn văn, cũng dậm chân chào nhau, cũng quốc ca quốc kỳ .  Như thế họ ôn lại những năm tháng họ cho là hào hùng và cố quên đi nỗi ám ảnh những tháng ngày phải tuột quần vứt dép  chạy như một bầy vịt.

Tuy họ mặc vào bộ quần áo lính si đa đeo cây súng nhựa nhưng có vẻ như họ rất hãnh diện. Hình như cây súng nhựa cũng phần nào củng cố làm ấm cho lá gan của họ, và cũng không ít  kẻ nghĩ rằng bên kia đại dương, bọn CSVN đang nhìn họ với cặp mắt kiêng nể  dè chừng,  và họ tin rằng cuộc biểu dương đi tới đi lui  là bức thông điệp gửi CSVN  nhắc nhở cho bọn CSVN biết rằng cái quân đội cộng hòa vẫn còn đây , tuy không uýnh lại tụi  mày nhưng vẫn còn dư sức đi tới đi lui khiêu khích chọc quê chúng mày cho bõ ghét. Thế rồi họ ru ngủ nhau tâng bốc nhau, xưng tụng nhau rồi cùng nhau hội họp phán  đoán xem …. ngày cộng sản nó quy tiên  như thế nào.

Cao điểm của sự nhố nhăng là họ hí hửng mừng rỡ tung hô một thằng con nít tự xưng là tướng Hải Quân Hoa kỳ gốc cờ vàng. Một tướng lãnh Hoa Kỳ oai như thế đứng trước họ mà vẫn lễ phép xưng hô con cháu với họ thì không phồng mũi sướng đê mê sao được. Hơn nữa tướng này lại là con cháu giòng dõi cờ vàng nữa  thì quả là niềm hãnh diện lớn lao. Cứ thế cả bầy cờ vàng già đầu bị thằng con nít nó làm xiếc, nó quay mòng mòng  như dế, nó cho vào tròng dễ như móc đồ trong túi.  Thế mà họ vẫn  phồng mũi tự hào, họ xun xoe chào đón nâng bi  nó, họ đê mê hoan hỉ với những lời hứa của thằng bịp,  lòng họ lại dâng trào niềm kiêu hãnh hão huyền và dâng trào niềm tin phục quốc. Cái lòng cay cú  hận thù làm họ u mê như thế đấy. Còn có gì để nói hay không.

Họ luôn luôn thủ sẵn những cái nón cối lợi hại để sẵn sàng chụp lên đầu kẻ nào họ không ưa, Bóng ma CS còn lởn vởn ám ảnh họ đến nỗi họ nhìn đâu cũng thấy CS.  Thế là họ thi nhau chụp nón cối cho nhau xem như hành động “ tiên hạ thủ vi cường “ thà bắn lầm còn hơn bỏ sót .

Nhưng họ lại cực kỳ sợ hãi ảnh hưởng của cộng sản. Họ sợ vu vơ, tự kỷ ám thị, thậm chí đến cái ngày sinh của lãnh tụ CS VN họ cũng sợ nốt, họ chống đối một show diễn ca nhạc cũng chỉ vì nó được trình  diễn vào ngày  19/5, ngày ông Hồ chí Minh ra đời. Họ hăm dọa nhà hàng tổ chức tiệc sinh nhật của một nhà báo chỉ vì nó được tổ chức đúng vào ngày 19.5.

Cái mà họ sợ nhất là những cơ quan truyền thông quốc tế và hải ngoại đưa tin ca tụng thành công của CS. Họ cũng lo sợ ngày nào đó truyền thông CS tràn sang Mỹ sẽ bẻ gãy luận điệu bịp bợm của họ và nguy hại hơn là hình ảnh của Việt Nam hiện đại  hấp dẫn chinh phục được tầng lớp trẻ trưởng thành tại Mỹ. Vì vậy họ vô cùng hốt hoảng khi nghị quyết 36 của CSVN ra đời. Họ cường điệu lên về mối nguy hại của nghị quyết 36, họ báo động cho nhau giống y  như những con thú hoang kêu chí chóe hoảng lọan khi ngửi thấy hơi loài sư tử, và họ bắt đầu thấy bóng ma cộng sản lấp ló nhiều hơn.

Bóng ma CS nó hiện diện trong các cuộc trình diễn văn nghệ có các nghệ sĩ trong nước, nó lù lù ẩn hiện trong tấm thảm đỏ trải chân, nó nhe răng khiêu khích trong cái sợi dây thắt lưng quần của nghệ sĩ. Nó nhảy xổ vào các tờ báo hải ngoại, nó chui tọt vào cả các cơ quan dân cử và rồi nó an tọa trong cái chậu rửa chân để làm nhục lá cờ vàng.

Họ rất nhút nhát và thiếu tự tin. Họ gập mình trước người da trắng nhưng lại hùng hổ thô bạo với đồng bào. Họ chửi rủa thậm tệ những người họ không ưa ngay trên đường phố bằng những lời lẽ của bọn dân chơi cầu ba cẳng, họ nhổ nước bọt thối vào những người họ ghét, họ vạch quần chĩa vòi đái trước cửa tòa soạn báo mà họ đang biểu tính chống đối, họ trét cứt vào cửa hiệu người ta, họ ứng xử như những tên côn đồ hung hãn . Những hành động ấy họ gọi là “chống cộng”.

Nhưng khi biểu tình bao giờ cũng phải có những lá cờ Mỹ  chống lưng để chứng minh lòng trung thành và ước vọng được quy phục.

Những ngày họ mới qua đây, lá cờ vàng đã là phương tiện kiếm ăn vô cùng béo bở cho nhiều tay hoạt đầu,  cơ hội chính trị. Đến nay tuy khó khăn hơn nhưng nó vẫn còn kiếm chác được, vì vậy cho nên những màn hoạt kê cờ vàng vẫn tồn tại.   Thời thế đã  đổi thay, cộng sản đổi thay, thế giới đổi  thay, duy có cộng đồng cờ vàng là  y như cũ, có khác chăng là thành viên của nó càng ngày ít đi, càng già đi, thân xác héo úa,  và càng ngày càng trơ trẽn  lố bịch. Bố theo lá cờ này quá lâu nên da cũng đã vàng úa héo hắt theo lá cờ,  mặt thì hằn lên những sọc thời gian mà công cuộc chống cộng vẫn còn mịt mù xa vời vợi.

Đến lúc này bố cảm thấy cần phải nói cho con biết tường tận về lá cờ của chúng ta để con chọn cách ứng xử có lợi cho mình tùy tình thế. Dù phất lên lá cờ vàng nhưng hầu hết dân cờ vàng đều mù tịt về lịch sử ra đời của nó

Lá  cờ vàng ba sọc đỏ này thoát thai từ giải pháp Bảo Đại do liên minh Vatican – Pháp cho ra đời vào năm 1948. Giải Pháp Bảo Đại là do chủ trương của Vatican được công khai hóa bởi lời tuyên bố vào ngày 28/12/1945 của viên Khám Sứ đại diện của Tòa Thánh Vaican tại Hà Nội là Tổng Giám Mục Antoni Draper. (Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 Tập A: 1939-1946)  Kiểu dáng lá cờ cũng được 1 linh mục sáng tác làm biểu tượng quyền lực của Vatican rồi ngụy tạo thành biểu tượng của chính nghĩa quốc gia và những người quốc gia chống cộng.

Người ký văn bản “Pháp Qui Tạm Thời” cho thi hành treo Quốc Kỳ vàng ba sọc đỏ và bài Quốc Ca của Lưu Hữu Phước vào ngày 1/6/1948 ( nhằm  ngày 24/4 năm Mậu Tý) là một tay Việt gian chính gốc : Thủ Tướng dân Tây có vợ đầm  Nguyễn Văn Xuân ,  Người đề nghị lấy lá cờ vàng ba sọc đỏ thay cho lá  cờ quẻ Ly là André Trần Văn Đôn,  là tà lọt , tức là “Aide de camp” của ông Xuân.

Những chính phủ do ngoại bang đẻ ra từ  Bảo Đại đến Ngô Đình Diệm, và các chính quyền tại vị đến 30/4/1975 đều do ngoại bang nuôi dưỡng,  trang bị và sai khiến.

Việc Vatican chế ra cái cờ này nhằm tạo bức bình phong che đậy cho cái chính quyền quốc gia mà chúng tạo ra, giấu đi cái bản chất nô lệ cho vatican và Pháp,

Phất lá cờ này, chính quyền bù nhìn làm tay sai cho ngoại bang tự tin hơn,  bấu víu lấy nó, họ  trút đi được phần nào mặc cảm việt gian. Và bọn xâm lược ẩn mình tốt hơn để dễ bề sai khiến bầy tôi cờ vàng. Như vậy lá cờ vàng che đậy được cho cả quân xâm lược và chính quyền Việt gian. Thật là cao tay, thật là vẹn cả đôi đường. Lá cờ vàng có nhiệm vụ lịch sử của nó là như thế.

Quốc ca của chúng ta nguyên là bài Sinh Viên Hành Khúc do Lưu Hữu Phước sáng tác năm 1942,  năm 1943 nó được cả 3 kỳ biết đến với cái tên Tiếng Gọi Thanh Niên. Ta chôm bài hát này chế biến lại rồi đặt tên “ tiếng gọi công dân” để làm bài quốc ca mà ta hát như  con vẹt cho đến tận hôm nay. Về tuổi tác, bài Tiếng gọi Thanh Niên được 6 tuổi thì lá cờ vàng của chúng ta mới chào đời.  Thông thường, quốc kỳ của các quốc gia trên thế giới xuất hiện trước bài quốc ca. Lá cờ của chúng ta lại ra đời sau bài hát mà  ta gọi là quốc ca đến 6 năm, đây là sự vá víu vụng về nghịch thường. 

Lá cờ Pháp ra đời trong cuộc cách mạng 1789 thì 3 năm sau, năm 1892 quốc ca pháp mới có mặt.

Cũng như Pháp, lá cờ Mỹ xuất hiện trong cuộc chiến tranh Cách Mạng 1776-1783 nhưng mãi tới  khi  tiến hành cuộc chiến  Anh – Mỹ  1812, bản quốc ca Hoa Kỳ mới ra đời do một sĩ quan Hải Quân Mỹ sáng tác và sau đó được Quốc Hội Mỹ chấp thuận

Bài Kimigayo quốc ca nhật ra đời năm 1893 (Minh Trị 26) Quốc kỳ Nhật hình tròn đỏ trên nền  màu trắng ra đời năm 1854.

Việc quốc kỳ ra đời sau quốc ca đến 6 năm có lẽ đây là lá cờ độc nhất vô nhị không đụng hàng.  Bài hát ta gọi là quốc ca cũng chôm chĩa của Việt Cộng nốt vì đây là bài của Lưu Hữu Phước . Lưu Hữu Phước viết bài này để kêu gọi lòng yêu nước, kêu gọi thanh niên đứng lên chống thực dân Pháp,  tác giả lại  là một tay việt cộng có hạng. Thế mà ta lại chôm  bài này để kích động đồng bào chống việt cộng thì rõ ràng chúng ta đã khập khiễng ngay từ gốc rồi,  lại thêm một nghịch thường nữa. Đến bài quốc ca mà cả một “quốc gia” không ai làm được phải chôm chĩa của Việt Cộng thì còn nói gì đến chống cộng. Việc bị Việt Cộng nó uýnh te tua tơi tả, thầy trò bỏ mặc nhau chạy vắt giò lên cổ là chuyện tất yếu. Thế mà bây giờ lại còn mưu đại sự phất lá cờ vàng để mưu đồ đánh đuổi cộng sản để phục quốc cờ vàng , không gọi là tâm thần óc đậu thì gọi là cái gì đây.?

Cái gọi là quốc kỳ và quốc ca có lịch sử chắp vá khiên cưỡng như vậy, ra đời trong hoàn cảnh như vậy,  thế mà đã có một thời từng là biểu tượng quốc gia, và cho đến hôm nay, ở ngay nước Mỹ này vẫn có kẻ phất nó lên như lá cờ  chính nghĩa. Không gọi là dốt nát cuống tín ngu muội thì gọi là cái gì đây?

Lá cờ đỏ sao vàng của cộng sản nó ra đời trước lá cờ của chúng ta đến 8 năm  và lần đầu tiên nó  xuất hiện lại  chính ở miền Nam của chúng ta ngày 23/11/1940 trong cuộc Nam Kỳ khởi nghĩa chống thực dân Pháp. Tháng 5/1941 lãnh tụ Hồ Chí Minh ký văn bản quy định quốc kỳ Việt Nam là nền đỏ sao vàng năm cánh.

Bài hát  “Tiến quân ca” được nhạc sỹ Văn Cao (1923-1995) sáng tác vào cuối năm 1944. Ngay sau khi ra đời, bài hát đã được các chiến sỹ cách mạng tiếp nhận và trở thành bài hát chính thức của Mặt trận Việt Minh.

Như thế lá cờ đỏ sao vàng ra đời trước lá cờ vàng,  nó ra đời trong kháng chiến, theo yêu cầu của cuộc kháng chiến chống thực dân. Bài Tiến quân ca Việt Minh sử dụng như lời hiệu triệu kháng chiến sau này trở thành  quốc ca Viêt Nam cho đến nay. Quốc kỳ và quốc ca do CSVN sử dụng có một quá trình hình thành và tồn tại rất logic, rất minh bạch và chính nghĩa. Lá cờ này đã phất lên suốt hai cụộc kháng chiến  giành độc lập và ngày nay nó phất phới bay ngạo nghễ ở trụ sở LHQ cùng gần  hai  trăm lá cờ khác trên thế giới. Trong khi đó cộng đồng cờ vàng  lúc này thì  cứ chống nhau chí chóe  loay hoay cố vớt lấy “quốc kỳ “ của mình  lên từ cái chậu rửa chân.

Những điều này bố biết rất rõ nhưng luôn phải tránh né không dám thừa nhận, vì   nó là vấn đề tế nhị nhạy cảm, nhất là thực tế lịch sử ảnh hưởng đến tiền đồ lá cờ vàng, ảnh hưởng đến niềm tin của người tị nạn,  ảnh hưởng đến tinh thần chống cộng của những người quốc gia và điều  quan trọng nhất là ảnh hưởng đến  thanh danh và sĩ diện của cộng đồng cờ vàng. Nếu con nói điều này ra dù nó là sự thật lịch sử đi nữa, cái nón cối sẽ lập tức bay lên đầu con ngay.

Chúng ta dựa vào chính nghĩa chống cộng, chống lại sự xâm lược của CS miền Bắc, nghĩa là ta cho rằng Việt cộng xâm lược chính đất nước của họ – Đó là  một nghịch lý không thể ngụy biện .  Điều nghịch thường lớn nhất là lấy một lá cờ do ngoại bang tạo ra để chống lại lá cờ xuất thân từ phong trào yêu nước kháng chiến chống thực dân thì dù có che đậy giỏi đến đâu chăng nữa, chắc chắn phải có ngày lá cờ này lòi mặt nạ hiện nguyên hình bản chất và sứ mạng nó đã được thực dân giao phó. Dù ta có ngụy biện đến đâu, có bôi nhọ CS đến đâu, và cho dù CS có xấu xa đến đâu chăng nữa, ta không thể phất lá cờ vàng như là lá cờ chính nghĩa để hiệu triệu đồng bào đứng về phía mình. Nhưng cộng đồng cờ vàng đâu  nhận ra được điều này , vì lòng thù hận đã  làm họ trở nên quá u mê, vì họ không còn cái gì khác  để vịn vào, và vì cái sĩ diện rằng chấp nhận CS là quy phục nó.

Nói thế để con hiểu, cha đẻ của lá cờ vàng ba sọc đỏ chính là   vatican và thực dân Pháp , nó đã mang bản chất phi nghĩa ngay từ cội nguồn của nó. Làm sao có được lòng yêu nước thương dân phía sau một lá cờ như thế? Tuy nhiên, khi nào lá cờ vàng vẫn được người ta xem là biểu tượng của người quốc gia chống cộng, thì nó vẫn còn giá trị  kiếm cháo kiếm cơm của bọn cơ hội  cờ vàng . Dù rằng về khía cạnh lịch sử nó chỉ là món đổ chơi đã lỗi thời của vatican mà thôi.

Tóm lại, lá cờ vàng là chỗ dựa bám víu cuối cùng của những người chống cộng hải ngoại. Không có nó xem như không còn phong trào chống cộng và họ chẳng còn việc gì để làm.  Biểu tình cố vớt lá cờ lên từ cái chậu rửa chân, và có thể phải vớt nó lên từ cái chỗ dơ dáy nào khác nữa, cũng chỉ là cố vớt vát cái sĩ diện  của họ, và vớt lấy cái nồi cơm của kẻ đầu cơ lá cờ vàng.

Bọn trẻ bây giờ chơi khăm mấy ông già đau quá, lấy nghệ thuật làm bia che chắn để công khai hãm hiếp lá cờ vàng mà chẳng ai làm gì được nó cả.  Nếu  công nhận nghệ thuật hay im lặng thì ngậm đắng nuốt cay, tiêu vong sự nghiệp cờ vàng,  Nếu phản kháng thì bị chê là dốt không biết thưởng thức nghệ thuật. Nhưng họ buộc phải chọn một đường và họ  đành phải chấp  nhận dốt để biểu tình  vớt lấy lá cờ, cứu  lấy  sĩ diện. Nhưng cứ cái kiểu chống cộng cờ vàng như bao năm nay thì dù có vớt nó lên khỏi cái chậu này nó cũng sẽ lại  rơi vào cái bồn  khác, họ sẽ phải mãi chạy theo lá cờ vàng để vớt nó lên bởi vì họ  đã lỡ to mồm chống cộng mấy chục năm rồi không tuột xuống được nữa.

Những người muốn nhúng lá cờ vàng vào cái chậu rửa chân dường như muốn lôi  những cái đầu ngu ngốc u mê dìm luôn vào trong cái chậu. Cho nên những tên này mới phản ứng dữ dội, lôi kéo những kẻ có đầu óc vàng khè vào cuộc. Không phải vì lá cờ bị bôi nhọ mà vì những cái đầu này bị chạm nọc. Bởi vì như đã nói,  làm gì có danh dự của một lá cờ do ngoại bang tạo ra làm biểu tượng phục vụ cho ý đồ  xâm lược. Họ buôc phải biểu tình để phản ứng vì nếu không thì ai biết được mai đây chẳng biết cái đầu của họ sẽ còn bị dìm xuống đâu và chắc chắn cái mùi của nó phải nặng hơn cái chậu rửa chân.

Chống cộng mà không có lá cờ vàng thì cũng như là đi buôn mà không có vốn, đi câu mà không có mồi, đi săn mà không có súng. Diễu hành mà không có lá cờ vàng thì  cứ như là đi tập thể dục nhịp điệu thì làm sao gây được tiếng vang,  Phải cứu lá cờ vàng bằng mọi giá là như thế.

CỜ VÀNG CHỐNG CỘNG: NÓI NHƯ RỒNG LEO, LÀM NHƯ MÈO MỬA
Không ngạc nhiên gì báo chí của bọn cờ vàng CCCĐ ở hải chỉ là một phương tiện tuyên truyền chống Việt Nam Mà, đã tuyên truyền thì theo quan điểm của trùm phát xít đức quốc xã Goebbels là phải dùng những xảo thuật như ngụy biện, nhồi sọ, và nói láo. Nói láo càng trơ trẽn càng tốt.

Nói trắng thành đen (và ngược lại), càng khó tin càng tốt. Đó là “triết lí” nên tảng cho tuyên truyền của báo chí chống cộng ở hải ngoại .
Nói láo đã trở thành một đặc tính ăn sâu vào xương cốt trong giới báo chí cờ vàng CCCĐ . Trung thành với quan điểm “Đổi trắng thành đen ” của họ, bọn bồi bút cờ vàng không hề tỏ ra ngượng ngùng khi bịa chuyện. Chúng ta đã thấy trường hợp Chẳng hạn như chúng không thấy xấu hổ khi nói một cách “vô tư” rằng : Việt Nam bán đất , bán biển cho trung Quốc. Bọn cờ vàng CCCĐ không thấy mình ngu xuẩn khi nói rằng để Trung Quốc đánh chiếm Việt Nam xong chúng sẽ đánh Trung Quốc sau ?? . Thật là một lũ người điên loạn về đầu óc mới nghĩ ra những điều quái đản như vậy .
Thông thường nói láo thường mất khôn nên ngay cả giới được gọi là “trí thức” cờ vàng cũng tỏ ra rất đần độn trong lập luận.. Bọn trí thức CCCĐ này tổ chức các cuộc được gọi là “Hội thảo” nổ vang trời nào là ” Hội thảo khẩn cấp về tình hình Việt Nam” – “Hội thảo về Trường sa- hoàng sa”- ” Hội thảo về lật đổ chế độ công sản Việt Nam” .” Tuyên cáo về việc trung quốc trang chấp biển đông “..vv và vv.. . Văn từ và chữ nghĩa của các ông ” Trí ngủ” này cho thấy các vị là các người rất nghèo nàn về ý tưởng và chữ nghĩa. Mà khi đã nghèo nàn ý tưởng và chữ nghĩa thì đó là hệ quả của sự ngu dốt và bất tài.
Khi người nghe những câu “nói như rồng leo ” của bọn cờ vàng CCCĐ Thật tình ta không hiểu nổi là những lập luận đó lại được phun ra từ những người được gọi là “cờ vàng yêu nước” ? những ý tưởng cực kỳ hoang tưởng , cực kì ngu xuẩn và vô giáo dục đến như thế, chứ nói gì đến những câu vô cùng thô tục của đám người thất học trong đám cờ vàng CCCĐ . Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, có thể không nên ngạc nhiên, và đó cũng là một điều hay. Cái hay là nó cho mọi người thấy tính lưu manh và hành xử côn đồ của cờ vàng chống cộng không chỉ trong các cuộc biểu tình chống phá đất nước Việt Nam mà còn ngay cả trong cái gọi là ” Hội thảo” các ” tuyên cáo” các danh xưng ” hội đoàn “. Một lần nữa chứng minh rằng cờ vàng CCCĐ là một gã lưu manh đần độn .
Chúng ta nhận thấy rằng, “quy trình chế tác” ra các loại thông tin của cờ vàng CCCĐ và một số cá nhân hoặc nhóm người được gọi là các “nhà dân chủ” ở trong nước , thực hiện một cách xảo quyệt, mang tính chất dẫn dụ đối tượng đọc tới mục tiêu mà chúng luôn muốn nhắm tới là đòi thay đổi thể chế VN theo hướng đa nguyên, đa đảng , thay đổi đường lốichính trị, kinh tế, văn hóa… Chúng chuẩn bị “chế tác” công phu và bài bản như vậy, loại thông tin này đã từng khiến không ít những trí thức trong nước ( thực chất đó là những kẻ cơ hội) “xám hối” về lòng yêu nước mà tiếp tay cho kẻ thù của đất nước, của dân tộc phá hoại sự đồng tâm nhất trí, trên dưới một lòng vì sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.
Cờ vàng CCCĐ lấy tư cách gì mà đòi dân chủ cho Việt Nam ?
Những ngày gần đây, bọn cờ vàng CCCĐ ra sức xuyên tạc quan điểm, chủ trương, chính sách Nhà nước Việt Nam , phủ nhận những thành tựu mà nhân dân VN đã đạt được , lợi dụng các vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “tự do báo chí”, những tiêu cực trong xã hội để chống phá, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ. Ngợi ca, kích thích chủ nghĩa tự do, thực dụng. Những quan điểm “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” cùng với những luận điệu bóp méo sự thật “Việt Nam vi phạm dân chủ”, “mất dân chủ”, vu khống Đảng Cộng sản Việt Nam là “trở lực” cho việc thực hiện dân chủ… Bọn cờ vàng CCCĐ kết hợp với các phần tử được chúng gọi là “phản tỉnh” trong nước liên tiếp tung ra các chiêu bài trong cái gọi là ” chiến dịch diễn biến hoà bình” lại rộ lên như nấm độc sau cơn mưa với những sắc thái mới.

Để tránh né sự thật là VN đang hoà nhập với trào lưu tiến bộ thế giới , những thành tựu vô cùng to lớn đạt được trong công cuộc đổi mới, “dàn đồng ca” của bọn cờ vàng CCCĐ lại “chuyển gam” tập trung tấu lên bản nhạc chung quanh cái gọi là “những vấn nạn trong nước” với những suy diễn, qui chụp võ đoán khi cho rằng: “người dân bất mãn với chính phủ”; rằng nhà cầm quyền cộng sản VN đang đàn áp thẳng tay bắt giữ các nhà vận động nhân quyền , bloggers , những người biểu tình… vv..Xuyên tạc vu cáo vốn là bản chất của cố hữu của đám cờ vàng CCCĐ , song điều cần vạch mặt cái “nghệ thuật” phớt lờ những ý kiến đánh giá của các tổ chức quốc tế, các nhà nghiên cứu đang bàn luận về chính những điều họ nêu ra một cách ấu trĩ và ngu muội.
Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá nhà nước Việt Nam bọn cờ vàng CCCĐ thường nhằm vào những phần tử được coi là trí thức trong nước tìm cách lôi kéo , tài trợ , tâng bốc . Đến lượt mình, số trí thức này, tùy theo trình độ mà “chế tác” cho ra lò các loại thông tin vu khống- phóng đại khác, phát tán ra toàn xã hội. Nói tóm lại, những kẻ tự xưng hay được các nhóm chống Việt Nam phong cho cái nhãn hiệu “nhà dân chủ” ở trong nước và hải ngoại chỉ toàn là một phường chạy theo đuôi những thế lực ngoại bang để phản dân hại nước. Họ mang ảo tưởng làm đối lập, nhưng chẳng ai ủng hộ chúng.
Bọn cờ vàng CCCĐ có hiểu rằng – lịch sử nhân loại và ở cấp độ đặc trưng cơ bản, phân biệt giữa con người với phần còn lại của thế giới, nhu cầu về tự do được xem là một thuộc tính của loài người, là một quyền tự nhiên của con người. Không có tự do thì không có khám phá, không có phát minh sáng chế, không có phát triển …vv… Nhưng ở bình diện cá nhân trong cộng đồng thì nhu cầu về tự do không thể không bị hạn chế vì những lợi ích nhiều mặt của quốc gia, dân tộc, trước hết là ở sự ổn định xã hội – mà thiếu nó thì mọi phát minh, sáng tạo đều trở nên vô nghĩa. Cuộc sống còn chỉ ra rằng, quyền tự do của người này nếu không có những hạn chế nhất định thì có thể xâm hại đến quyền, lợi ích của người khác, trước hết đó là nhân phẩm, danh dự của họ.Vì không hiểu rõ căn nguyên của tự do- dân chủ bọn cờ vàng CCCĐ đã hành động như một lũ vô tri .
Trong khi nhiều người VN ở hải ngoại có trái tim tâm huyết với đất nước đang góp sức mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước theo dõi những chuyển biến tình hình chính trị xã hội thế giới và Việt Nam, thì bọn cờ vàng CCCĐ tổ chức hoạt động hành lang gây áp lực để quốc tế lên tiếng ủng hộ những kẻ gây rối an ninh chính trị gây bất ổn trong nước, những kẻ đó đang bị pháp luật VN trừng trị . Nhưng kết quả như thế nào thì chúng tự khắc biết .
Cờ vàng CCCĐ có hiểu được rằng : mọi hành vi, cho dù xuất phát từ những động cơ rất trong sáng, nhưng vô hình trung tạo ra sự phân tâm hoặc bất ổn xã hội, gây trở ngại cho việc củng cố tiềm lực, triển khai chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa đều có thể làm cho sức mạnh dân tộc bị suy yếu, chỉ có lợi cho những người muốn thấy một nước Việt Nam yếu và chia rẽ. Đó là chưa kể một số kẻ mưu toan “đục nước béo cò”, lợi dụng nhiệt huyết của các tầng lớp nhân dân để phục vụ cho những tính toán riêng của họ”.
Vậy là, bọn cờ vàng CCCĐ những kẻ chuyên nghề lu loa, kích động, xuyên tạc , bôi nhọ đã và đang sử dụng mọi “ngón nghề” để phá hoại chính sách đối ngoại và đối nội của Việt Nam, nhưng kết cục chúng đang luẩn quẩn đi vào “ngõ cụt” , hành động của chúng không thể chấp nhận được . Có bao giờ cờ vàng CCCĐ tổ chức một cuộc gọi là “Hội thảo-tổng kết thành quả 37 năm chống cộng sản và tay sai” như các vị gào thét chưa ? kết quả là gì ? một con số không to tướng phải không ? . Thật đúng như câu châm ngôn dành cho cờ vàng CCCĐ là : “Nói như rồng leo , làm như mèo mửa” quả không oan chút nào .
CỜ VÀNG CỰC ĐOAN – THEO VOI HÍT BÃ MÍA

(Treonline) – Trần Hưng Đạo trong Hịch Tướng sĩ “Sông Đằng một dải dài ghê, Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông. Những phường bất nghĩa tiêu vong, Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh!”

Việt Nam từ thuở các Vua Hùng dựng nước đến nay đã viết nên bao trang sử vẻ vang dựng nước và giữ nước. Thiên anh hùng ca về giữ nước thật oai hùng, nhưng cũng thấm đẫm bao nhiêu máu và nước mắt. Dân tộc Việt Nam chúng ta hiểu điều đó, và bởi vậy không khi nào chúng ta muốn chiến tranh. Dân tộc chúng ta khát khaohoà bình, và có lẽ không có dân tộc nào muốn có hoà bình lại phải trải qua mất mát, hy sinh to lớn đến như thế! Nhưng chính giữ nước trong hoàn cảnh lịch sử ngàn năm ấy dạy chúng ta biết khoan dung, biết khép quá khứ, hướng tới tương lai, đồng thời cũng cho chúng ta bài học biết cầm vũ khí đánh giặc và thắng giặc, giữ gìn độc lập, tự do cho dân tộc.

Thời nào mà chẳng có “phường bất nghĩa”, “lũ bất trung”, phường “cõng rắn cắn gà nhà” “theo voi hít bã mía”. thời nào chẳng có kẻ “trung thần” ! Và lịch sử đã chứng minh, ai sẽ được “lưu danh” và kẻ nào sẽ bị “tiêu vong” điều đó đã rõ trong sử sách. Cờ vàng chống cộng cực đoan cũng đã đi vào lịch sử của dân tộc việt bằng con đường lưu danh một cách ô nhục nhất , nó đã trượt dài trên con đường ôm chân ngoại bang , “rước voi về dày mả tổ”, cờ vàng cực đoan là “đỉnh cao” nhất trong mọi thời đại của dân tộc Việt về sự phản phúc.
Sau mấy chục năm vác cờ, “chuyển lửa” về tổ quốc cờ vàng CCCĐ nhận thấy những phương pháp đó không mang lại mảy may kết quả nào, chỉ chuốc lấy sự phản ứng của dư luận nhân dân trong nước và người Việt ở hải ngoại . Dựa hơi BU (Mỹ), được sự chỉ bảo tận tình của các tổ chức không có thiện cảm đối với đất nước VN phương hướng chống phá đất nước cũng “uyển chuyển” cho phù hợp với trào lưu quốc tế, cờ vàng cũng “đầu tư” suy nghĩ tìm cách phát huy tối đa dã tâm bán nước đã ăn sâu vào não bộ nô lệ của cờ vàng.

 

 

Tư duy của cờ vàng CCCĐ
Cờ vàng CCCĐ sống được cho đến ngày hôm nay là nhờ luồng “sinh khí” lúc nào cũng được “hâm nóng” và “saochế” các sự kiện xảy ra ở trong nước, thiếu cái chiêu này thì chắc chắn cờ vàng sẽ lăn đùng ra chết giống như kẻ bị trúng gió độc vậy. Cũng bám vào những sự kiện và vấn đề thời sự trong nước, tập trung đào bới, cắt xén, chế biến làm sao cho “bốc mùi” chống cộng.
Thời gian qua, trên nhiều trang mạng và đài phát thanh của hải ngoại đã xuất hiện những bài viết, những cuộc phỏng vấn, “bình loạn” công kích, xuyên tạc, bóp méo, bôi đen… sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc VN, cờ vàng CCCĐ dựng chuyện bêu xấu nhằm làm mất uy tín của những người đang nắm giữ vận mệnh quốc gia, phủ nhận những thành tựu mà toàn dân tộc VN vươn lên từ hoang tàn của cuộc chiến tàn khốc nhất trong lịch sử dân tộc.
Trong cuộc chiến trước năm 1975 đòn “mã hồi thương” về chiến tranh chính trị đã làm cho cờ vàng ngấm đòn , bắt chước những người cộng sản cờ vàng cũng “tập trung” xoi mói vào cái gọi là “tử huyệt” của cộng sản . Rất dễ dàng nhận thấy chiêu thức mà cờ vành đưa ra là việc tuyên truyền, kích động của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị vẫn nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của chính phủ VN đối với công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc . Lợi dụng các vấn đề liên quan đến Biển Đông và chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam để bôi nhọ, hạ uy tín, kích động, chia rẽ mối quan hệ giữa nhà nước với dân, công kích chính sách đối ngoại của VN, đặc biệt những vấn đề liên quan đến quan hệ Việt Nam – Trung Quốc…
Cờ vàng CCCĐ có hiểu được rằng dân tộc Việt trải qua biết bao nhiêu cuộc chiến bảo vệ cương thổ quốc gia mà vũ khí bách chiến , bách thắng là gì không ? Xin thưa cho các vị được rõ đó là sự đoàn kết , điều thật dản dị mà các nền đệ nhất , đệ nhị cộng hoà không một chút hơi hướng gì trong những người lãnh đạo quốc gia của cờ vàng có được. Cờ vàng CCCĐ có hiểu được lịch sử cha ông không ? chắc sẽ không hiểu rõ được tại sao quân dân đời Trần có thể ba lần đánh tan những đạo quân xâm lược hung bạo, muốn lấy thịt đè người, nếu không hiểu được cội nguồn của thắng lợi kỳ diệu là tinh thần dân tộc được khởi động và dâng cao để do đó mà “vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức”.
Cờ vàng dùng thủ đoạn xuyên tạc sự thật, bóp méo, bôi đen nhằm mục đích lôi kéo, kích động những phần tử cực đoan, bất mãn, những người nhẹ dạ, cả tin… nghi ngờ vào đường lối, chủ trương, chính sách của Nhà nước VN , chiêu này cũng chẳng mới mẻ gì. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian này, sự tuyên truyền của họ diễn ra theo hệ thống từ trước, tạo nên một “chiến dịch” kích động, lôi kéo với mức độ ngày càng rầm rộ hơn.
Nếu
nhìn suốt những bước thăng trầm của lịch sử đất nước ta luôn nằm trong vị thế địa lý – chính trị “trứng chọi đá” thì khối đại đoàn kết dân tộc là sự đúc kết giữ nước của ông cha ta. Kể từ thời Khúc Hạo (năm 907-917) với cương lĩnh dựng nước “Chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui” . Trải qua các chặng đường giữ nước “từ Đinh, Lê, Lý,Trần gây nền độc lập; cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương”, thời nào cũng có những kẻ phản dân tộc, tìm mọi cách gây rối đến nền anh ninh xã tắc, họ không tiếp thu những tinh hoa về lòng yêu nước mà ngược lại là sự vọng ngoại ôm chân ngoại bang , bản chất cờ vàng là như vậy.
Ở trong nước, một số kẻ cơ hội chính trị lợi dụng biến động quốc tế cũng mưu toan lợi dụng vấn đề tranh chấp Biển Đông để dùng kế “Nhất tiễn song điêu” – vừa chia rẽ, phá hoại quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, vừa thực hiện chiến lược xóa bỏ chế độ chính trị, xóa bỏ Nhà nước CHXHCN Việt Nam do Đảng CS lãnh đạo.
Có những tên giặc lộng ngôn kêu gọi phải “đồng hành quân sự với Hoa Kỳ”, xem đây là “mệnh lệnh của thời đại”. “Táo tợn” hơn, họ còn đưa ra “ý tưởng” Đánh đổi Chế độ xã hội XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo lấy sự cam kết của của một số cường quốc phương Tây, làm đối trọng với Trung Quốc ??. Hỡi ơi ! những kẻ dốt nát về chính trị , hoang tưởng về đầu óc mới nghĩ như vậy ,thử hỏi cờ vàng vậy tại sao Hoa Kỳ phải bỏ Việt Nam để lại di chứng cuộc chiến cho đến tận ngày hôm nay ? Cờ vàng CCCĐ sau 37 năm vẫn hận BU, thế vì lẽ gì mà đã quên béng mất điều đó vậy?
Hội nghị Diên Hồng
Ta hãy nghe cờ vàng lập luận như sau: Việt Nam là một quốc gia nhỏ yếu, để có đủ khả năng chống lại sự xâm lược của Bắc Kinh, phải liên minh với một số nước lớn có tiềm lực về chính trị, quân sự, kinh tế đủ mạnh bằng cách có được “một cam kết chặt chẽ, trung thành với nhiều đồng minh song hoặc đa phương, vốn là cường quốc phát triển, văn minh và có tiềm lực như Mỹ, Nhật Bản, Đức, Anh và nhiều nước khác làm đối trọng”. Muốn vậy Việt Nam phải “chớp thời cơ, thực hiện cải cách chính trị, thay đổi thể chế, chuyển đổi tư tưởng… thì mới hy vọng tranh thủ được sự hậu thuẫn vững mạnh của phần còn lại của thế giới… nhằm thoát khỏi sự độc tài, sự hung hãn, lấy thịt đè người của láng giềng Trung Quốc”…?? .
Nghe đến đây thì chúng ta cũng hiểu được bản chất vong bản, ỉ lại và trốn tránh trách nhiệm mà nó hằn sâu vàotâm thức của các anh cờ vàng CCCĐ này, từ hai nền cộng hoà nó đã làm thối rữa lòng tự trọng và nhân cách của họ, có đời nào mà BU lại vì Việt Nam nã đạn vào Trung Quốc không ? Có bao giờ vì VN mà BU bỏ tất tật quyền lợi kinh tế sống còn của một cường quốc mà càng ngày càng gắn kết sống còn với nhau không ?? Xin thưa với các vị là không bao giờ. Về lịch sử cờ vàng cố tình lờ đi một điều rằng: sau mỗi chiến thắng quân xâm lược phương bắc thì cũng ngay lập tức các vị vua đất Việt phải nghĩ ngay đến việc cầu hoà , cống nạp , xin sắc phong không ? Vì sao vậy ? Cờ vàng có hiểu không ? Đó là kế sách cương nhu mà tổ tiên sử dụng nhuần nhuyễn để tránh cảnh binh đao kéo dài làm hoang tàn đất nước, để hồi phục sức dân.
Cờ vàng có biết mới ngày hôm qua (21/5/2012) Trung Quốc cảnh báo Philippin lôi kéo Mỹ vào việc tranh chấp về bãi đá cạn (Hoàng Nham) – scarborough. Tình hình nóng hổi từng ngày ở khu vực này . Hãy nghe BU nói với đồng minh này: Mỹ chỉ cung cấp cho Philippin một số vũ khí thôi, chứ không can thiệp nếu có đụng độ xảy ra. Nghe rõ chưa các “ngài” cờ vàng. Trong khi đó Manila là đồng minh đó nghe .Nghe cờ vàng nói “đồng hành” với BU sao mà dễ thế, các nhà lãnh đạo VN đâu đến nỗi không tiên liệu được chuyện gì xảy ra nếu liên kết với BU chống lại Trung Quốc, chỉ có đầu óc nô lệ của cờ vàng là chọn con đường huỷ diệt dân tộc đó .
Giữ chủ quyền quốc gia mà nhờ người khác hy sinh giùm cho mình khi có ngoại xâm thật là điều ngược đời, các vị cờ vàng CCCĐ hãy nghe chuyện trong cuộc khánh chiến chống Mỹ cứu nước , trong hoàn cảnh khó khăn nhất người “anh em” phương bắc đã đề nghị Chủ Tịch Hồ Chí Minh là hãy để cho họ đưa quân vào tham chiến cùng với bộ đội VN, nghe có sướng không ? nếu là người lãnh đạo của cờ vàng chắc một điều là các vị sẽ rú lên vì vui mừng, “hồ hởi” chào đón đội quân đó vì có kẻ chết thay cho mình, Ok- là giải pháp tối thượng phải không ?.
Cờ vàng chống cộng hãy nghe Chủ tịch Hồ chí Minh nói về vấn đề này “chúng ta có thể nợ cái gì rồi cũng có thể trả được chứ nợ máu thì không bao giờ trả được “, sự sáng suốt đó cho ta thấm thía được rằng nếu để cho “ông kẹ” tham lam ấy vào nhà thì làm sao mời ổng về khi mà dân tộc ta đang nợ cả tiền lẫn máu ? Cờ vàng có biết rằng chính các vị cũng đang là con nợ khủng khiếp đối với nhân dân Mỹ không ? Tiền và máu của 58 ngàn binh sĩ để xây dựng và bảo vệ cái VNCH của các vị đấy. Bây giờ các vị chỉ có cái mạng trành, ăn bám và phá rối đất nước mà cờ vàng đang là con nợ khủng khiếp, hay là hát bài “cùi không sợ lở”. Tầm chiến lược của các nhà lãnh đạo VNCH chỉ là nhằm vào cái túi của BU có bao nhiêu tiền rồi lên kế sách móc túi, thế thôi, chấm hết.
Cái cớ để cờ vàng CCCĐ bám vào “khai thác” nhiều nhất để thực hiện mưu đồ đen tối ”đục nước béo cò” đó là vấn đề Biển Đông và việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Chúng ta hãy nghe dàn hợp xướng của những kẻ khoác tấm áo “yêu nước” nói gì ? Họ rêu rao rằng, Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quân đội nhân dân Việt Nam “nhu nhược” trước các hành động gây hấn trên Biển Đông của Trung Quốc và kêu rú ầm lên “Tổ quốc lâm nguy”, kêu gọi, kích động người dân “Dậy mà đi”, xuống đường biểu tình quy mô lớn… Thậm chí một số cái loa của tổ chức phản động khủng bố Việt Tân còn coi đây là thời cơ “ngàn năm có một” để xuống đường đấu tranh lật đổ chế độ !!.
�”i! nghe đến đây sao mà cảm động về lòng “yêu nước” khí thế “hừng hực” của cờ vàng đến thế, Họ còn lớn tiếng kêu gọi nhà cầm quyền VN mở “hội nghị diên hồng”! điều này chỉ lừa gạt được một số người mà nhận thức về chính trị còn non kém, chưa nhìn rõ tâm địa ôm chân ngoại bang, “theo voi hít bã mía”, “rước voi về dày mả tổ” là bản chất của cờ vàng CCCĐ. các vị cờ vàng CCCĐ hãy nhìn vào lịch sử của của dân tộc VN trong thời gian gần nhất mà đảng CSVN lãnh đạo toàn dân đã làm nên lịch sử chói ngời chủ nghĩa anh hùng của dân tộc Việt. Và kết quả là gì ? các vị đương nhiên tự trả lời. Có muốn giở trò lấp liếm cũng không được .
Có dân tộc nào vừa thoát khỏi tay phát xít Nhật lại lọt vào tay thực dân Pháp để phải làm cuộc trường kỳ kháng chiến 9 năm mới có hoà bình trên một nửa nước như Việt Nam không?! Tưởng rằng, chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy địa cầu góp phần chấm dứt chủ nghĩa thực dân cũ sẽ đến ngày Tổng tuyển cử Bắc Nam thống nhất, Việt Nam hoà bình, độc lập tự do, nhưng chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ lại làm cho nhân dân Việt Nam phải trải qua một cuộc chiến tranh dài nhất, ác liệt nhất thế kỷ XX. nên tính huỷ diệt bởi vũ khí hiện đại của hai phe đã đẩy chiến tranh tàn khốc không kém chiến tranh thế giới lần thứ hai. Vậy thì Đảng , chính phủ , quân đội VN trong quá khứ có hèn nhát như các vị cờ vàng không ? Có tháo chạy bỏ mặc dân chúng hoảng loạn trên bom dưới đạn không ? Chính phủ cầm quyền ở Việt Nam có được lòng dân không ? nếu không có tại sao có kết quả chói lọi đó ? Cờ vàng CCCĐ có hiểu rằng lòng dân là động lực tiên quyết để làm nên sự thần kỳ đó.
Cờ vàng CCCĐ có biết trong lịch sử thời đoạn lịch sử thời vua Lê, chúa Trịnh báo hiệu sự khủng hoảng trầm trọng của chế độ phong kiến. Việt Nam Sử lược chép về thời Lê Chiêu Thống như sau : “Người bấy giờ bàn riêng với nhau rằng: “Nước Nam ta từ khi có đế vương đến giờ, không thấy vua nào hèn hạ đến thế. Tiếng là làm vua mà phải theo niên hiệu vua Tàu, việc gì cũng phải bẩm đến quan Tổng đốc, thế thì có khác gì là đã nội thuộc rồi không?”.
Đã vậy thì những “thần dân” của vua đã biết cách hưởng ứng lời kêu gọi của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đứng lên đánh giặc cứu nước là điều dễ hiểu. Sử chép: Ngày 29 tháng 11 năm Mậu Thân (26 tháng 12 năm 1788), dừng chân ở Nghệ An hơn 10 ngày để tuyển quân và củng cố lực lượng, nâng quân số lên tới 10 vạn ! Thử hỏi không có sức dân ấy, không có lòng dân theo về, thì làm sao có được chiến thắng thần tốc ấy!
Xung quanh vấn đề giải quyết tranh chấp trên Biển Đông và cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, cờ vàng CCCĐ phải hiểu được rằng lập trường, quan điểm và chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã rõ ràng, thế nhưng Họ lại xem đây là cơ hội để kiếm chác, hòng “đục nước, béo cò”, theo đuổi những toan tính chính trị. Cờ vàng CCCĐ trắng trợn vu cáo: “Cộng sản Việt Nam” chủ trương giải quyết tranh chấp Biển Đông “trên bàn đàm phán” là “một vụ dàn dựng của cả Bắc Kinh lẫn Hà Nội trong việc giúp cho Trung Quốc từng bước thôn tính Việt Nam”; rằng “Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam chỉ lên tiếng phản đối đơn giản, lấy lệ”, “không dám đối đầu với Bắc Kinh để bảo vệ đất nước”, “thông đồng với kẻ cướp” v.v…Thật nực cười vào cái suy nghĩ quái gỡ này, các vị cờ vàng CCCĐ hãy nghe tiếp tiền nhân đã nói :
Nếu “trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ, mà không biết căm” thì làm sao người người đủ dũng khí khắc trên cánh tay hai chữ “Sát Thát”? Trên cánh tay khắc hai chữ đó vì trong đầu đã hằn sâu một sự thật lịch sử: “Bởi giặc Nguyên cùng ta, là kẻ thù không đội trời chung”. Nếu “cứ điềm nhiên không nghĩ đến việc báo thù… khác nào như quay ngọn giáo mà đi theokẻ địch, giơ tay không mà chịu thua quân giặc”.
Thiên tài quân sự của vị Quốc công Tiết chế thống lĩnh toàn quân có ý nghĩa cực kỳ lớn lao, song thiên tài ấy chỉ có thể phát huy khi dưới trướng của Ngài là những “tướng sĩ một lòng phụ tử”. Nói về họ, những danh tướng như Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão… thì đã quá rõ, lịch sử còn đặc biệt nhắc lại lời Hưng Đạo nói về các gia thần dũng mãnh và trung thành của mình như Yết Kiêu, Dã Tượng : “chim hồng hộc muốn bay cao .
Cờ vàng CCCĐ có biết được vai trò của Đảng CSVN trong hai cuộc chiến tranh dành độc lập cho dân tộc không ? Họ đã làm rất tốt công việc của họ trong vai trò lãnh đạo , chưa có một đảng phái nào khác trong lịch sử VN làm tốt hơn , ngày nay và có thể vài chục năm nữa cũng không có một đảng nào khác làm tốt hơn họ , có đúng vậy không các “ngài” cờ vàng ? , cái đảng “phở bò” khủng bố Việt Tân chỉ có một việc cỏn con là tập hợp sự ủng hộ của một nhúm người cực đoan ở Bolsa mà bao năm nay làm không xong vậy mà đòi lớn tiếng thay thế Đảng CSVN ư ? thật là một lũ ngông cuồng và dốt nát .
Cơ sở của mọi cam kết với bất cứ quốc gia nào, dù là nước lớn hay nước nhỏ, dù đó là chế độ chính trị là gì… rút cuộc đều vì lợi ích của mỗi nước và của các bên. Nói cách khác, bất cứ cam kết quốc tế nào chỉ có thể dựa trên sự thống nhất về lợi ích của cả hai phía. Không được quên đã có không ít những cuộc “mặc cả, mua bán, đổi chác” giữa các nước lớn “trên lưng” các nước nhỏ. Điều này đã được lịch sử thế giới xác nhận. Và Việt Nam là một trong những nạn nhân đó.
Giả thử làm theo ý của cờ vàng là thay đổi thể chế chính trị để được sự ”ủng hộ”, nếu có sự đánh đổi đó thì điều gì sẽ diễn ra và ai là người được hưởng lợi? Cờ vàng sẽ được lợi có phải vậy không ? lúc đó vì quyền lợi giữa các bên sẽ biến cả dân tộc này thành những chiến binh tiên phong chết kẹt giữa hai làn đạn, tổ quốc trở thành bãi chiến trường thử nghiệm vũ khí tàn khốc.
Xưa nay chưa bao giờ có một tinh thần yêu nước nào, chủ nghĩa yêu nước nào lại không mang dấu ấn quan điểm chính trị, cũng như chưa bao giờ có ai thừa nhận mình là người bán nước. Cờ vàng CCCĐ với đầu óc của những kẻ thiểu năng trí tuệ làm sao hiểu được nghệ thuật dựng nước và giữ nước mà Đảng CSVN cùng toàn dân Việt tiếp thu được những tinh hoa của cha ông để lại.
Ta chiến thắng trước tiên bởi ta chính nghĩa. Một dân tộc mà theo đạo lý nhân sinh phải được sống trong hoà bình, độc lập và tự do! Một nước ” vốn xưng nền văn hiến đã lâu, núi sông bờ cõi đã chia”, biên giới, lãnh thổ “rành rành định phận tại sách Trời” đứng lên quyết giữ vững độc lập tự do của mình là điều chính nghĩa không thể chối cãi. Một dân tộc có truyền thống lâu đời với ý chí sắt đá ” thà làm quỷ nước Nam chứ không làm vương đất Bắc”; ” thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lê.”; ”Không có gì quý hơn độc lập tự do”! Dân tộc ấy không có sức mạnh nào khuất phục được.
Với những nguyên nhân khách quan và chủ quan như đã nói, nhân dân Việt Nam không tránh được các cuộc chiến tranh xâm lược, nhưng đã biết chiến đấu ngoan cường viết lên trang sử giữ nước vẻ vang của dân tộc. Từ phá Tống, bình Nguyên, kháng Minh, đạp Thanh đến đánh Pháp, đuổi Nhật, chống Mỹ để giải phóng dân tộc, những chiến công hiển hách đó kết lại thành truyền thống bất diệt của dân tộc Việt Nam. �”n lại truyền thống đó không chỉ nhắc nhở những ai còn mơ màng về bài học lịch sử ngàn năm nước Việt, mà còn để thế hệ Việt Nam hôm nay hiểu rõ kinh nghiệm xương máu của cha ông trong đấu tranh giữ nước.
Houston 5-22-2012
Amari Tx
CỜ VÀNG: KẺ CHỊU TANG VÀ THỜ CÚNG QUÂN XÂM LƯỢC
(Treonline) – Cộng đồng người Việt ở hải ngoại mà đặc biệt là tại Hoa Kỳvẫn còn một thiểu số băng, nhóm chống cộng cực đoan mang ảo vọng “phục quốc”.

 

 

Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam là cuộc chiến man rợ nhất mà nước Mỹ đã gây ra, nó đã làm nước Mỹ bị phân hoá nhất trong lịch sử của họ. Nước Mỹ thời đó đã từng dùng bom đạn với mục đích xoá sạch 4000 năm văn hiến của Việt Nam, Hàng triệu người đã chết vì bom đạn hàng trăm ngàn người khác đã trở nên tàn phế, tàn tật đau đớn vô cùng vì di chứng của chất độc da cam mà quân đội Mỹ đã rải xuống lãnh thổ Việt Nam.

Ngày nay hai nước Việt – Mỹ muốn hợp tác hướng về tương lai, song những mất mát và nỗi đau từ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ vẫn còn đó trong từng gia đình, dòng họ và trên cơ thể nhiều người không dễ nguôi ngoai! Thật đáng xấu hổ khi vẫn còn một thiểu số người Việt thuộc các tổ chức phản động lưu vong ở hải ngoại cố tình quên đi vấn đề này với dã tâm muốn xuyên tạc lịch sử, đề cao tội ác của quân xâm lược!

Lịch sử 4000 dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã có những thời kỳ các thế lực thù địch chống phá Việt Nam bao giờ cũng kết hợp đánh cả bên trong lẫn bên ngoài, thực hiện nội công, ngoại kích, như Kiều Công Tiễn liên kết với quân Nam Hán (năm 938). Trần Thiêm Bình liên kết với quân Minh (năm 1406). Lê Chiêu Thống dẫn đường cho quân Thanh xâm lược (năm 1789)… Trong lịch sử ViệtNam, ngay cả những kẻ thù bán nước tệ hại nhất cũng chưa bao giờ làm chuyện dựng tượng đài để ”Thờ cúng” quân xâm lược kẻ đã gây ra biết bao nhiêu đau thương tang tóc cho dân tộc ViệtNam. Vì như thế thì không còn một chút liêm sỉ làm người, nếu làm như thế mãi mãi sử sách còn lưu nước sông nào gột rửa sạch.

Ấy vậy mà trong lịch sử của dân tộc Việt lại có những hạng người đạt đến sự tột đỉnh của hành vi bán nước làm tay sai, mà đỉnh điểm là “Thờ – cúng”, “nhang khói” cho quân xâm lược. Những Hành vi quái đản đó được thực hiện bởi những người vô học hay điên khùng thì ta chẳng nói làm gì, cái đáng nói là từ những thành phần trí thức, những người từng giữ cương vị điều hành trong xã hội miền Nam trước đây, hoặc những thành phần văn nghệ sĩ .v.v…, họ đã có những hành động, lời nói còn đáng tởm lợm hơn cả những hạng người vô học nhất trên đất Mỹ.

Những thành phần CCCĐ này họ giả danh là người yêu nước, giả danh người lương thiện để chống lại những người đứng về phía quê hương , những ai có những hành động đi ngược lại những tiêu chí họ đặt ra thì lập tức họ nhào vô chửi bới với những bài đã học thuộc lòng, đó là bản chất hoang dã của những con thú đội lốt người. Nhìn vào chúng ta nhận diện họ rất dễ, trên thân xác hạng người này nó bốc mùi phản quốc, bốc mùi nô lệ, bốc mùi côn đồ lưu manh mạt hạng. Đối với đồng hương thì chúng hung hăng, côn đồ, đối với người bản xứ thì bộc lộ tính ươn hèn cam chịu. Trong cộng đồng người ViệtNam sống tạm dung trên đất Mỹ này có những điều mà đến bây giờ người ta chưa thể lý giải một cách đầy đủ, làm thoả mãn cho những ai muốn tìm hiểu về hạng người này.

Cộng đồng người Việt ở hải ngoại mà đặc biệt là tại Hoa Kỳ ngoài những người an phận, chỉ muốn có việc làm ổn định, muốn có một cuộc sống bình yên, những người có đầu óc tiến bộ muốn đóng góp xây dựng quê hương, hoà hợp hoà giải dân tộc, thì vẫn còn một thiểu số băng, nhóm chống cộng cực đoan mang ảo vọng “phục quốc”. Nếu trước đây họ đã lãnh lương Mỹ để ôm súng sẵn sàng chết thay cho kẻ xâm lược chống lại sự nghiệp thống nhất đất nước một cách mù quáng, thì giờ đây lại muốn dựa vào ngoại bang để gây mất ổn định chính trị trong nước một cách điên cuồng nhất, ngu xuẩn nhất. Sau 37 năm, những ảo vọng trên tàn lụi, nhóm cực đoan ngày càng cô độc, lạc lõng giữa cộng đồng người Việt bởi những tư tưởng, hành vi chống phá đất nước mù quáng, điên dại.

 

Tội ác của quân đội Mỹ trong chiến tranh Việt Nam
 
Những thành phần cặn bã này trong suy nghĩ luôn mong cho đất nước ViệtNamluôn chìm trong đói nghèo, bất ổn về an ninh hòng dựa vào những điểm yếu đó trục lợi về chính trị. Bọn chúng mong muốn kẻ thù truyền kiếp của dân tộc phát động chiến tranhlợi dụng trong tình thế hỗn mang đó chúng sẽ giành phần lợi thế.Với bản chất nịnh bợ ngoại bang mong muốn làm tay sai “chuyên nghiệp” cho những kẻ đã giày xéo gây bao đau thương thảm khốc cho quê hương mình, lũ người háo danh, lừa đảo, dị hợm về nhân cách đã bức ép, doạ dẫm, khủng bố bà con trong cộng đồng để trục lợi tiền bạc qua chiêu bài “chống cộng”.

Chúng bày trò lừa gạt, ép buộc một số bà con đóng góp để xây dựng lên những thứ gọi là “tượng đài chiến sỹ Việt Mỹ” (TĐCSVM) tại một số thành phố tại Hoa Kỳ có đông bà con Việt sinh sống như thành phố Westminster – bang Califonia; thành phố Houston – bang Texas; thành phố West Valley tiểu bang Utah .v.v… Theo nhận xét của ông nhà báo Nguyễn phương Hùng chủ trang mạng KBCHN: “… Mà cái tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ này cũng kỳ lắm, từ ngày khánh thành xảy ra không biết là bao nhiêu chuyện cười ra nước mắt. Nói trắng ra là nơi diễn ra những trận võ đài kiểu Hoa Sơn Luận Kiếm cuả Kim Dung với những bang phái ‘võ lâm cao thủ’ người Việt Quốc Gia …” đủ cho ta thấy sự lố bịch của việc làm này.

Các băng nhóm thiểu số chống cộng cực đoan này đang ra sức nịnh bợ BU (Mỹ), tô vẽ, tôn vinh các “TĐCSVM”, đây là một biểu tượng của cuộc chiến tranh tàn khốc, dã man, phi nghĩa mà chính phủ Mỹ gây ra tại Việt Nam, hàng trăm tỷ đôla và hao tổn bao nhiêu xương máu của hơn 58,000 người Mỹ. Hậu quả của nó để lại di chứng nặng nề trong xã hội Mỹ. Các cơ quan truyền thông Mỹ và phương Tây lên án kịch liệt, phỉ báng những tội ác mà quân đội xâm lược Mỹ đã gây tang tóc trên đất nước Việt Nam mà vụ Mỹ Lai 40 năm trước là một minh chứng không thể bác bỏ.

Bọn CCCĐ lại lấp liếm làm ngơ trước sự mất mát đau thương của chính người cùng dòng máu Việt, chúng rất thành thạo, nhuần nhuyễn trong việc nịnh bợ những kẻ từng là kẻ thù của dân tộc, chúng muốn biến mình thành công cụ, tay sai ngoại bang, đó là nghề của chúng.

Thật nhục nhã khi họ dựng tượng đài để vinh danh tội ác man rợ một số tên cặn bã đầu óc đã phát biểu những cảm nghĩ mà những người có lương tri phải lợm giọng, chúng ta hãy nghe một vài nhân vật này “phun” cảm nghĩ. Tên nhà thơ Alibaba Nguyễn Chí Thiện mửa ra những lời: “Người chiến binh ViệtNamcộng hoà bị rất nhiều sách báo của thế giới, nhất là ở Mỹ kết tội là lính đánh thuê. Việc dựng tượng đài này là để thế hệ con cháu biết chúng ta không phải là tay sai của Mỹ…” ?? Trong cuộc biểu tình ngày 18-4-2010 chống báo Người Việt một ông trong đám biểu tình đã nức nở, ai oán trước hồn ma của kẻ xâm lược rằng: “Kính thưa linh hồn của 58.000 ông lính Mỹ đã tử trận ở ViệtNam. Xin các ông mau mau hiển linh đem dùm tòa soạn báo Người Việt về nơi địa ngục”…??

Nhà báo Phan Công Tôn viết trên tờ người Việt: “Xây dựng tượng đài để ăn quả nhớ người trồng cây” ?

Việt Dzũng tên “găng tơ” trong làng giải trí của người Việt, Nam Lộc tên “thợ nổ” chuyên nghiệp của trường phái kích động và cũng là một trong những kẻ chủ xướng các “đại nhạc hội” gây quỹ dựng tượng đài đã nói: “Những binh lính Mỹ đã đổ xương máu trong trận chiến vì miền Nam, họ xứng đáng được tôn vinh như những anh hùng”???

Còn đám xướng ca rối loạn tâm thần xổ ra những câu mà có lẽ khi ta nghe họ nói thì cũng đành im lặng chào thua. Ca sĩ Như Mai (nghẹn ngào): “Tôi luôn nhớ ơn những người lính Mỹ đã có công với đất nước chúng ta…” ?? Ca sĩ Thanh Thúy (nức nở): “… Tôi rất hãnh diện vì nét oai hùng của tượng đài tri ơn những người lính Mỹ này…”?? Ca sĩ Khánh Ly (ai oán): “Tôi chắc oan hồn của những người lính Việt Mỹ muốn theo chúng ta qua bên này, xứ sở tự do và không cộng sản …”??

Ngày lễ Giáng Sinh 25/12/2011, ban điên dại cộng đồng Nguyễn Xuân Nghiã đã làm lễ tạ ơn vong linh tử sĩ 2 người lính Hoa Kỳ và VNCH bằng 2 con heo và 2 chai rượu Remy Martin. Lễ Giáng Sinh mà có áo xanh áo đỏ, cắc cắc bùm bùm lùng tùng xèng xèng, í a, í ô, chiết tửu tiến tửu, nhất bái, nhị bái, tam bái thì bố ông lính Mỹ có sống lại cũng không hiểu, tổ chức lễ tạ ơn ông Phan kỳ Nhơn quỳ mọp người rên rỉ trước tượng đài nói ”… Hồn Thiêng Sông Núi, các Bậc Tiền Nhân, Anh Hùng Liệt Sĩ, Chiến Sĩ Trận Vong đã hy sinh vì tổ quốc, trong đó có 58 ngàn binh sĩHoaKyvà đồng minh đã hy sinh để bảo vệ lý tưởng tự do trên quê hương ViệtNam…”

Vẫn chưa đủ độ ép phê với các hồn ma ông ta gào tiếp: “… kính dâng với tất cả lòng thành kính, tri ơn và nguyện cầu: Hồn Thiêng Sông Núi, Tiền Nhân có công dựng nước và giữ nước, anh linh các đấng anh hùng liệt nữ vị quốc vong thân, các chiến sĩ chết hiên ngang trên các chiến trường để bảo vệ giang sơn, anh linh những người chết tức tưởi trong các trại tù cộng sản và đặc biệt anh linh 58 ngàn chiến sĩ Hoa Kỳ và đồng minh đã hy sinh để bảo vệ lý tưởng tự do… Xin qúy vị hãy về đây chứng giám và độ trì cho dân tộc ViệtNamthoát khỏi ách thống trị cộng sản” ??.

 

Chứng tích tội ác quân đội Mỹ gây ra tại Mỹ Sơn.
 
Chắc nhiều người nghĩ cái đám người này không phải người ViệtNam? Không đúng rồi, họ vẫn nói tiếng Việt, trong huyết quản của họ vẫn mang dòng máu Việt nhưng họ vẫn ngày đêm chửi bới quê hương của họ, họ ước mong suốt đời được ôm chân ngoại bang, suốt đời thèm muốn làm tay sai, nghề nghiệp sinh sống là làm lính đánh thuê, nhưng tất cả những mong muốn đó cũng đã vuột khỏi bàn tay của những hạng người này.

Chính vì vậy khi tháo chạy toán loạn qua bên này sự biến chứng về tâm lý nô lệ đã đẩy họ vào con đường cụt nên dẫn đến những rối loạn và có những hành vi quái gỡ như vậy. Bởi vì lòng thù hận chỉ làm hoen rỉ sự khôn ngoan và ý thức của họ, não trạng thù hận làm hỏng hoàn toàn nhân cách của nhóm người vong bản này. Trong đầu óc họ không hề có hai tiếng tổ quốc, họ đã vứt bỏ tất cả sau cái ngày được BU cứu vớt sống tạm dung trên đất nước Mỹ, họ vinh danh một tổ quốc không hề hiện hữu tồn tại trên hành tinh này đó là “VNCH”, một điều kỳ quặc nhất trong những điều kỳ quặc, đến người nuôi dưỡng chúng BU (Mỹ) cũng lắc đầu ngao ngán.

Nếu nhóm người Việt lưu vong phản động cực đoan có cố gắng dựng thêm bao nhiêu “TĐCSVM” đi nữa, cũng sẽ không làm vơi được “nỗi đau của nước Mỹ”. Những ngày tưởng niệm vụ thảm sát Mỹ Lai sẽ còn mãi mãi trong lòng dân Việt, nước Mỹ với cuộc chiến tranh Việt Nam mãi không bao giờ xoá mờ, báo chí trên thế giới và ngay trong lòng nước Mỹ sẽ còn nói về sự kiện này. Những “TĐCSVM” nó chỉ là dấu nhấn tô đậm thêm tội ác quân xâm lược Mỹ tại ViệtNam, nhắc lại để mọi người không quên, nó phản lại ý nghĩ nịnh bợ quân xâm lược của đám CCCĐ người Việt ở hải ngoại.

Houston 6-23-2012

Amari-TX

[Nguồn: http://treonline.com/co-vang-ke-chiu-tang-va-tho-cung-quan-xam-luoc.htm]