Tag Archive: con


Đây là 1 bài viết dài của mình về tổ chức khủng bố Việt Tân, chủ yếu từ các thông tin ngay tại Mỹ, ngay từ những bọn chống Cộng kiêm chống Việt Tân. Bài này nằm trong 1 dự án về tổ chức khủng bố VT mà mình đang hợp tác làm cùng Lê Dũng và 1 số bạn khác. Mấy ngày nay lướt web thấy có mấy đứa cò mồi của VT gào “nếu VT chống TQ thì tôi sẽ theo VT”. Báo chí và radio, TV Việt ngữ bên đây thì … nghe VT sủa điếc cả tai. Bực ko chịu nổi, VT chưa bao giờ chống TQ, chúng nó chỉ kêu gào bằng mồm và xúi con nít ăn cứt gà, xúi giục, kích động, khích tướng, rủ rê, dụ dỗ, lợi dụng người khác chứ bản thân chúng nó ko có chống gì TQ, chúng nó chỉ chống VN thôi. Thập niên 1980, trong lúc VN đang chống TQ công khai, thì chính bọn Việt Tân này đã vào VN khủng bố chứ ai vào đây. Bài này tính để dành post sau này, nhưng bực quá thôi post vào đây luôn cho các bạn tham khảo, đây cũng là thời điểm thích hợp để mọi người biết đc mặt thật, chân tướng, bản chất của tổ chức khủng bố này. Để ý thức đc bất cứ cái gì dính vào VT thì nên hết sức thận trọng.

——————————————————-

2- Tổ chức khủng bố Việt Tân

Sau khi cuộc chiến chống Mỹ của Việt Nam kết thúc, một số phần tử ngụy quân và ngụy quyền chạy theo sang Mỹ. Một bộ phận trong số này chẳng những không ăn năn hối cải, không cải tà quy chính, mà còn ngày càng lầm đường lạc lối, dấn thân vào tội ác, do thù hận, do ngu dốt không thức thời, vì lợi ích cá nhân, vì những đồng đô la nhơ nhuốc, chúng đã điên cuồng chống phá Việt Nam. Chúng lập rất nhiều tổ chức, đảng phái, hội đoàn, “cộng đồng” khác nhau để chống lại đất nước. Một trong những tổ chức khủng bố ấn tượng nhất, gây nhiều tội ác nhất, chính là tổ chức khủng bố Việt Tân.

Tổ chức khủng bố “Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng”, gọi ngắn gọn là “Việt Tân”, với lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng, là một tổ chức khủng bố xuyên quốc gia do cựu phó đề đốc ngụy Sài Gòn Hoàng Cơ Minh thành lập và huấn luyện, dưới sự tài trợ của chính phủ Hoa Kỳ trong thời Chiến tranh lạnh và trong thời gian Việt-Mỹ chưa bang giao. Sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ, Việt Tân vẫn được chính phủ Mỹ, chủ yếu những thành phần chính trị gia phản động, diều hâu, vẫn còn mang tư tưởng thực dân đế quốc, chống Việt Nam, chống XHCN, hoặc những chính trị gia cơ hội (muốn tranh thủ Việt Tân để lợi dụng chúng vận động kiếm phiếu trong cộng đồng người Việt hải ngoại) trong chính phủ Mỹ tài trợ qua nhiều quỹ khác nhau. Tổ chức khủng bố này hoạt động với chiêu bài “quang phục Việt Nam”, “phục quốc”, “đem lại tự do, dân chủ, nhân quyền, phú cường cho Việt Nam”. Chúng không dám thừa nhận bản chất khủng bố của mình, mà thường tự xưng, tự phong mình là những “nhà hoạt động nhân quyền”, “nhà dân chủ”, “người bất đồng chính kiến”, “người có quan điểm khác biệt”, “chiến sĩ tự do” (freedom fighter) v.v.

3- Những hoạt động của Việt Tân

Trong những năm 1980, dưới tên gọi “Mặt trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam” hoặc còn được gọi là “Mặt trận Hoàng Cơ Minh”, tổ chức khủng bố Việt Tân đã nhiều lần đem các loại súng đạn, chất nổ, lựu đạn, mìn, tiền giả, ma túy vào Việt Nam để phá hoại xã hội, khủng bố người dân và khủng bố chính quyền.

Trong thập niên 1990, sau khi Mỹ chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam, đồng thời manh nha có ý tưởng “chống khủng bố” và sử dụng chiêu bài này để bành trướng quốc tế, xác định “kẻ thù chính của nước Mỹ chính là chủ nghĩa khủng bố”, thì Mặt trận Hoàng Cơ Minh cũng lập tức đổi tên thành “Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng” (Việt Tân) và tuyên bố cái gọi là “cương lĩnh mới” của chúng, hứa hẹn từ nay sẽ không còn đấu tranh bạo lực giết người nữa mà chuyển sang đấu tranh “bất bạo động”, bằng tuyên truyền chính trị, phù hợp với sự chuyển đổi sách lược từ chiến tranh bạo động sang Diễn Biến Hòa Bình của Hoa Kỳ và phương Tây. Tức quan thầy thay đổi sách lược thì đệ tử cũng thay đổi sách lược. Quan thầy tuyên bố “tôi đây chống khủng bố” và kêu gọi “chống khủng bố” thì đệ tử cũng vội vã thanh minh “tôi đây không phải là khủng bố”. Và cũng để quan thầy khỏi mang tiếng “tài trợ khủng bố”, nuôi dưỡng khủng bố.

Cũng trong những năm 1990, mặc dù bề ngoài đã tuyên bố thay đổi chiến lược từ bạo động sang “bất bạo động”. Nhưng thỉnh thoảng Việt Tân vẫn sai người vào VN đặt chất nổ, rải và dán truyền đơn, xách động, dụ dỗ, mua chuộc những thành phần bất mãn, những phần tử lưu manh, giang hồ, xã hội đen, tội phạm ở VN để hoạt động cho chúng. Hầu hết người của Việt Tân trong thời gian này khi bị bắt giữ ở VN đều tìm thấy vũ khí nguy hiểm trên mình chúng, như súng lục, lựu đạn, dao găm, lưỡi lê v.v.

Kể từ năm 2000, cuộc chiến “chống khủng bố” do Hoa Kỳ đứng đầu đã rất ác liệt. Mối quan hệ đối tác kinh tế Việt-Mỹ ngày càng tốt đẹp, thuận lợi. Thế giới văn minh hơn, yêu hòa bình hơn. Dân trí Việt-Mỹ ngày được nâng cao, tình thế đã khác xưa, thời thế thay đổi, nên Việt Tân ngày càng chuyển qua hình thức phá hoại chính trị, diễn biến hòa bình là chính, ít còn dùng bạo lực giết người cướp của như trước đây. Tuy nhiên, thỉnh thoảng chúng vẫn sai người về VN thực hiện các nhiệm vụ khủng bố để lấy tiếng. Nhằm thực hiện ý đồ vừa có thể khủng bố Việt Nam trong thời đại mới, vừa có thể tránh tiếng khủng bố, chúng đã tiến hành 2 bước:

1. Sai người về nước khủng bố. Trong thời gian điều tra, giam giữ phạm nhân thì Việt Tân ỡm ờ, không tuyên bố gì chính thức, và trả lời phỏng vấn kiểu nước đôi, ba phải, “văn chương huề vốn”, chung chung.
2. Sau khi tên khủng bố đã bị bắt, đã khai báo, đã tự viết bản nhận tội và ký tên và báo chí VN cho biết đây là thành viên của tổ chức khủng bố Việt Tân thì chúng mới tuyên bố chính thức và “minh định lập trường” rằng đây “không phải là người của chúng tôi”.

Hành động nước đôi, hai mặt này của Việt Tân xảo quyệt, hiểm độc ở chỗ nó vừa lấy tiếng được cho tổ chức này, rằng “chúng tôi vẫn có thực lực”, “chúng tôi có khả năng lật đổ chế độ VN”, “chúng tôi hoàn toàn có thể làm ra những việc lớn lao”, “chúng tôi có giá trị mặc cả”, “chúng tôi có đủ tư cách, đủ tiêu chuẩn để nhận tài trợ từ các quỹ của chính phủ Hoa Kỳ”, “chúng tôi có đủ tư cách để thu hút sự chú ý của chính phủ Mỹ và các chính phủ phương Tây khác”. Đồng thời cũng hé lộ, úp mở rằng ta đây có dây mơ rễ má với chính phủ Mỹ đấy nhé, nhằm ra oai với đồng bào hải ngoại. (Chứ 1 mình Việt Tân thì không dám làm những chuyện điên rồ như vậy nếu không có xếp Mỹ chống lưng) Mà cũng vừa tránh được tiếng khủng bố vì “chúng tôi đã tuyên bố chính thức rằng mình không phải khủng bố, và tên khủng bố này không liên quan với chúng tôi đấy nhé”. Như vậy, Việt Tân vừa lấy được tiếng, tăng cường “số má”, cường hóa “thương hiệu” của mình, và vừa tránh được tiếng khủng bố, tránh cho chủ Mỹ cái tiếng “nuôi khủng bố”, “tài trợ khủng bố”.

Một chiêu làm mãi cũng nhàm và bị chủ Mỹ chê là “one trick pony” (ngựa con chỉ biết diễn mỗi một trò), nên thỉnh thoảng Việt Tân cũng “mix it up” (thay đổi những cách đối phó khác nhau) bằng cách là trong nhiều trường hợp khác, thay vì làm bộ làm tịch tuyên bố “không phải người của chúng tôi” thì Việt Tân nói huỵch toẹt ra là “đây đúng là người của chúng tôi, nhưng họ không có khủng bố, công an CSVN đã vu oan giáo họa cho họ và viết giả các bài viết thú tội, giả mạo chữ ký của họ”, khi báo CAND đưa lên hình ảnh chữ viết, chữ ký, và những phạm nhân tự thú bằng chính lời nói của chúng trước máy ghi âm, máy quay, thì Việt Tân lại sửa giọng “quản giáo CSVN đánh đập tra tấn các tù nhân lương tâm của chúng tôi, hăm dọa họ, đe dọa gia đình họ, bắt ép họ phải nói, phải viết theo ý CSVN, theo kịch bản của CSVN v.v.” Mặc dù trong các video clips ai cũng thấy rõ những tên hèn nhát “chưa khảo đã khai” này tự thú rất ngoan ngoãn, trôi chảy, và không hề có dấu hiệu thương tích sứt mẻ hay bị đánh đập gì, hay bị sức ép tâm lý gì.

Nói chung, trong thập niên 1980, Việt Tân không hề che giấu bản chất khủng bố cố hữu của mình. Trong thập niên 1990 thì Việt Tân bề ngoài tuyên bố “bất bạo động” bằng mồm, nhưng bên trong thì vẫn có những đợt chống phá khủng bố thô bạo. Trong thập niên 2000 thì chúng hạ nhiệt khủng bố, tăng cường phá hoại bằng Diễn biến hòa bình. Tuy nhiên thỉnh thoảng làm vài cú để chứng tỏ với quan thầy rằng “chúng em vẫn còn xài được” và xù lông ra uy với đồng bào hải ngoại và các phe phái khác, các tổ chức khủng bố khác rằng “bọn tao vẫn còn số má lắm”. Nếu xưa kia đường lối của Mỹ đối với các nước XHCN và Việt Tân đối với VN thuần túy là bạo lực đẫm máu thì ngày nay đường lối và chủ trương của chúng là “Diễn biến hòa bình kết hợp bạo loạn lật đổ”, tức chúng dùng biện pháp hòa bình, ôn hòa, bất bạo động kết hợp với bạo động lật đổ. Mà biện pháp bất bạo động, cách mạng màu, cách mạng da cam, cách mạng nhung, cách mạng đường phố, dụ dỗ và kích động những người chống đối đổ xô ra đường để làm náo loạn đường phố, kinh động xã hội, rối loạn trật tự an ninh, là nhiệm vụ chủ yếu. Biện pháp bạo động, khủng bố ngày nay chỉ còn là những biện pháp phụ, có tính chất hỗ trợ.

Những nhân vật chóp bu lãnh đạo Việt Tân của thời khủng bố lộ liễu, trắng trợn vào thập niên 1980 (như Đỗ Hoàng Điềm, Hoàng Cơ Định em ruột Hoàng Cơ Minh, Lý Thái Hùng v.v…) cũng chính là những tên lãnh đạo tổ chức này trong thời khủng bố nhát gừng và diễn biến hòa bình hiện nay.

Địa bàn hoạt động của Việt Tân bao gồm khắp nơi trên đất Mỹ. Chúng luôn tìm cách khủng bố ở Việt Nam và cơ quan ngoại giao VN tại một số nước láng giềng, nhưng thường bị bắt trước khi thủ ác. An ninh VN đã và đang cài rất nhiều người trong hàng ngũ của chúng, mỗi khi chúng về nước là bị chặn bắt ngay từ phi trường, hoặc theo dõi ngay từ đầu tới cuối.

Tại Hoa Kỳ, bọn Việt Tân luôn thò cánh tay lông lá vào các cộng đồng người Việt, các thành phố có nhiều đồng hương, nhúng tay vào hầu hết các đảng phái, tổ chức, hội đoàn, báo chí, truyền thông, nhà xuất bản, trung tâm thương mại, cơ sở kinh doanh v.v. Trong nước thì chúng luôn tìm cách dùng điện thoại, Internet, e-mail, và cả Paltalk để móc nối, bắt liên lạc, để lấy tiếng với quan thầy. Ngoài nước thì chúng cũng không ngừng bành trướng thế lực, mở rộng địa bàn, cài cắm đồng bọn vào các tổ chức khác, tạo ra các tổ chức ngoại vi, các tổ chức đối lập cuội, mua chuộc, dụ dỗ, hăm dọa những người thuộc tổ chức khác. Chúng như một tổ chức băng đảng lưu manh quy mô lớn, không ngừng tìm cách mở rộng thế lực, bành trướng địa bàn, thôn tính các phe nhóm khác để độc quyền bá chủ, độc quyền chống Cộng, độc quyền làm trùm, độc quyền hưởng phân (fund) Mỹ. Hành động bành trướng, lũng đoạn, phá rối, quấy phá các phe đảng khác và có mưu đồ muốn xóa sổ họ của Việt Tân cũng đã bị các phe phái chống cộng khác chống trả quyết liệt, và phản pháo, lên án, vạch trần âm mưu thủ đoạn của chúng các đài báo chống cộng khác tại hải ngoại.

4- Những tội ác khủng bố, lừa đảo của Việt Tân đối với Việt kiều hải ngoại

Mặc dù luôn rêu rao và khoe chiêu bài “đấu tranh vì tự do ngôn luận tại Việt Nam” nhưng Việt Tân có một “thành tích” đáng sợ về khoản giết người bịt miệng, khủng bố Việt kiều hải ngoại, nhất là trong thời gian cuối thập niên 80, khi Việt Tân còn mang tên “Mặt trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam” hay “Mặt trận Hoàng Cơ Minh” và thời gian sau khi Hoàng Cơ Minh bị quân dân Việt – Lào bắn chết trong chiến dịch khủng bố mang tên “Đông Tiến”. Để tiếp tục lừa tiền đồng hương và không muốn làm hụt hẫng không khí chống Việt Nam tại Mỹ, những tên chóp bu, đầu mục, đầu sỏ, cầm đầu băng đảng khủng bố Việt Tân đã bưng bít thông tin, giấu diếm ém nhẹm đi tin tức Hoàng giáo chủ đã “băng hà”. Hoàng Cơ Định trâng tráo cầm micro tuyên bố chắc như đinh đóng cột rằng “Chiến hữu Hoàng Cơ Minh, và cũng là anh trai tôi, vẫn còn sống và đang hoạt động chống Cộng sản quyết liệt trong các rừng già tại biên giới Việt – Lào”, Đỗ Hoàng Điềm thì phụ họa tuyên bố chắc nịch trên đài phát thanh rằng “Chủ tịch Hoàng Cơ Minh không hề tuẫn tiết gì cả, đó chỉ là thông tin tuyên truyền dối trá của VC, không thể nào tin được”. Trong khi hình xác chết của Hoàng Cơ Minh đăng rõ ràng trên mặt báo. Rất tiếc xưa nay báo chí VN không được phép lưu hành tại hải ngoại, hầu hết những siêu thị, nhà sách nào phát hành báo chí trong nước đều bị những kẻ luôn mồm “đấu tranh cho tự do báo chí”, “đấu tranh cho tự do thông tin” kéo bè kéo đảng đến biểu tình, ăn vạ, bắt phải dẹp bỏ, có lúc chúng cho lâu la tự tay đem đốt hoặc giục những tờ báo trong nước vào thùng rác. Do bị bưng bít thông tin, rất nhiều người không biết trùm khủng bố Hoàng Cơ Minh đã đền tội, vẫn quyên tiền cho Việt Tân để chống phá trong nước.

Để lừa đảo, gạt tiền quyên góp từ đồng hương. Không những Việt Tân giấu diếm, bưng bít thông tin về cái chết của Hoàng Cơ Minh, mà chúng còn giả mạo những lá thơ “do Hoàng Cơ Minh gởi về”. Đôi khi chúng còn viết trên các tờ báo của chúng, chúng tuyên bố trên các đài phát thanh của chúng rằng “Chủ tịch Hoàng Cơ Minh có điện thoại về”… Những người nào nêu nghi vấn hoặc tố cáo, vạch trần trò lừa gạt bịp bợm của chúng đều bị chúng thuê xã hội đen đánh đập, dằn mặt, thủ tiêu. Như trường hợp chúng thuê người bắn chết ký giả Lê Triết, khủng bố vợ con của ông này. Ám sát hụt giáo sư Cao Thế Dung. Vợ ký giả Lê Triết và ông Cao Thế Dung từng kiện Việt Tân ra tòa vì tội mưu sát, nhưng cũng như bao vụ khác, những tên cầm đầu Việt Tân đều được trắng án và tha bổng một cách vô lý, kỳ lạ, mờ ám, và có dấu hiệu tiêu cực. Cho thấy ai là kẻ thật sự đứng sau lưng Việt Tân. Có rất nhiều cựu thành viên Việt Tân, bao gồm cả những tên từng là lãnh đạo cấp cao, đã viết sách, viết báo tố cáo bản chất tội lỗi, tàn bạo, hung ác, man rợ của Việt Tân, và những chuyện nội bộ nhơ nhớp, dơ dáy, bẩn thỉu mà Việt Tân bưng bít, trong đó chủ yếu là những chuyện lừa gạt, gian lận tiền bạc, kết bè kết cánh, ăn chia không đồng đều, khủng bố thanh toán người khác v.v. có không ít những chuyện chúng chém giết thanh toán, loại bỏ, trừ khử lẫn nhau vì đồng tiền và quyền lực. Có những người đã thoát ly Việt Tân từ lâu nhưng vẫn thường xuyên bị quấy rối, dằn mặt, hăm dọa tính mạng, khi thì bị gọi điện thoại phá (prank call), lúc thì bị chọi trứng, cà chua, gạch đá vào cửa sổ xe, cửa nhà, cửa sổ nhà v.v. Chúng thường thuê các nhóm xã hội đen, trộm cướp, và nhất là các băng đảng (gang) vốn đầy rẫy ở các trường trung học Mỹ, những tên thiếu niên này cần tiền, có tiền thì việc gì chúng cũng làm và không cần biết người bỏ tiền cho chúng là ai. Vì vậy thuê bọn bất hợp pháp, bọn gangster, bọn vô gia cư (homeless) này thì thường rất dễ chạy tội. Chúng thường thuê bọn gang “hit-n-run” và “drive by shooting” (chạy ngang bắn rồi chạy luôn), thường chúng bắn vào nhà, vào cửa, vào cửa gara, vào xe, vào bánh xe v.v. để khủng bố tinh thần, khủng bố tâm lý những người bất đồng chính kiến. Nghiêm trọng hơn là chúng dò biết trước và đậu xe chờ đến khi chủ nhà vừa mở cửa ra ngoài là bị bắn gục ngay trước cửa nhà.

Tất cả những cơ sở kinh doanh, thương mại, của Việt Tân cũng như của người khác, bất kỳ lĩnh vực gì, từ siêu thị cho tới nhà sách, tiệm video, văn phòng dịch vụ, địa ốc, bảo hiểm v.v. miễn sao người Việt là chúng kéo đến đặt thùng tiền “yểm trợ kháng chiến” hoặc “yểm trợ quốc nội” hoặc “yểm trợ phục quốc”. Chỉ có người Mỹ là chúng không dám đụng tới. Chúng chẳng khác gì bọn giang hồ chuyên kéo lâu la tới đòi tiền bảo kê, dĩ nhiên chẳng ai dám chống lại. Gọi cảnh sát địa phương thì cũng vô dụng, vì chúng sẽ giải thích là “chúng tôi chỉ đặt thùng tiền quyên góp mà thôi” và sau đó chủ thương mại sẽ phải dọn đi nơi khác vì không chịu nổi đòn trả thù tàn bạo và dai dẳng của chúng. Có khi chỉ là những trò biểu tình nhân danh “tự do ngôn luận”, “tự do biểu tình” của chúng để phá chuyện làm ăn của người ta, chiếm chỗ đậu xe của khách hàng, đưa kẻ bị hại đến tình trạng nhẹ thì lỗ lã, nặng thì phá sản, chúng sẽ tận dụng các báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình Việt ngữ của chúng để “đập” và “dìm hàng” đối tượng tơi tả, bịa đặt, xuyên tạc, vu khống, ngậm máu phun người, thậm chí chụp mũ họ là Việt Cộng, bịa đặt chuyện đời tư dơ bẩn v.v. để người ta thân bại danh liệt, phải bỏ sang tiểu bang khác. Nghiêm trọng hơn là chúng trả thù trực diện, cho người dán những tấm hình có biểu tượng đe dọa tính mạng vào cửa nhà, hay chỉ là đem vài con dao, vài khẩu súng đặt trước cửa nhà người ta để “nhắn nhủ”, “đánh tiếng”, hăm dọa, khủng bố tâm lý và tinh thần của nạn nhân. Có nhiều người đã phải dọn đi, vì không chịu nổi đòn thù, trò dày vò tinh thần, tra tấn tâm lý nạn nhân của chúng.

5- Hệ thống kinh tài và các tổ chức ngoại vi của Việt Tân

Có thể nói tổ chức khủng bố Việt Tân là tổ chức giàu có nhất trong tất cả các tổ chức khủng bố, đảng phái chống Cộng tại hải ngoại. Nhờ chúng tận dụng thời điểm cuối thập niên 1980 khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chúng tuyên truyền lên rằng CSVN sắp sụp đổ tới nơi, và “chúng tôi” sẽ về nước lập chính quyền mới, hứa hẹn phong cho ông A bà X chức này tước nọ, chúng tranh thủ tuyệt đối sự ủng hộ của những kẻ chống Cộng và những chính trị gia sa lông, cơ hội ở hải ngoại, quyên tiền quyết liệt. Những đồng tiền đó chúng dùng để mở hệ thống Phở Hòa với hàng ngàn chi nhánh có trên khắp California và nước Mỹ. Dĩ nhiên, mỗi tiệm phở đều có thùng “quyên góp kháng chiến”. Điều này làm chúng bị bà con hải ngoại chế giễu và gọi là “đảng Phở Bò” hay “Mặt trận Phở Bò” hoặc “kháng chiến Tái Nạm Béo”.

Tiền quyên góp, lừa gạt được của đồng hương cùng với tiền tài trợ từ các quỹ N.E.D., quỹ S.I.D.A., quỹ “nhân quyền”, quỹ “dân chủ”, quỹ xuất cảng đa đảng đa nguyên của Hoa Kỳ, chúng dùng để mở hệ thống Phở Hòa, mua / thuê các tàu cá, ăn bám vào thị trường hải sản Hoa Kỳ, rất nhiều nhóm đánh cá, đánh cá thuê ở Mỹ, nhất là vùng New Orleans là do Việt Tân làm chủ. Những số tiền kiếm được, không phải đồng tiền nào chúng cũng dùng cho việc chống phá VN, mà chúng còn dùng để mua xe, mua nhà, mua đất, đầu tư bất động sản, đầu tư kinh doanh, chúng có bonds, cổ phần, cổ phiếu (stock) trong nhiều cơ sở kinh doanh cổ phần hóa ở Mỹ. Chúng có hàng ngàn tài khoản chính, tài khoản phụ trong nhiều ngân hàng lớn. Những tên đầu sỏ đều đi xe Mỹ đời mới nhất, chúng thay xe như thay áo. Tên nào tên nấy sở hữu hàng chục tiệm làm móng tay, viện thẩm mỹ, siêu thị, nhà hàng, khách sạn v.v. Chúng vừa là một tổ chức khủng bố nguy hiểm, vừa là một tập đoàn tài phiệt tư bản Mafia giàu mạnh, là một tổ chức tội ác, tội phạm trá hình, mang tính chất xã hội đen quy mô lớn.

Chính phủ trung ương Mỹ và CIA thì nuôi chúng để cắn VN, tài trợ cho chúng xuất cảng “dân chủ Mỹ” và “chuyển lửa về quê hương”. Cảnh sát địa phương hoặc nhân viên công lực cấp tiểu bang, cấp thành phố thì không làm gì được chúng vì không có bằng chứng gì có thể chứng minh rõ ràng là chúng vi phạm luật pháp. Ông Hoàng Duy Hùng, chủ tịch cộng đồng thành phố Houston, TX, một người từng ngồi tù tại VN vì hoạt động lật đổ nhà nước và sau đó được đặc xá vì tỏ ra ăn năn hối cải, ông ta là một người chống Việt Tân nhưng cũng phải nhìn nhận “So với Hội Tam Hoàng của Tàu và Mafia của Ý thì Việt Tân cũng không thua kém bao nhiêu”.

Ngoài ra, Việt Tân còn thành lập rất nhiều tổ chức ngoại vi, các cơ quan truyền thông, báo chí, trong đó có những cái loa rất ấn tượng tại hải ngoại như Asia, SBTN v.v. Chúng còn dùng những thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh để tấn công các chương trình ca nhạc khác của đồng hương. Ví dụ khi trung tâm Thúy Nga sản xuất video ca nhạc với chủ đề Mẹ năm 1999, chúng viện cớ video có những cảnh lính Mỹ từ trực thăng xả súng vào dân lành chạy loạn do đạo diễn dựng lại từ phim tài liệu, video có nhạc cảnh Ca Dao Mẹ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn do Don Hồ trình diễn, nhạc phim có cảnh bông lúa màu đỏ do kỹ thuật video, và cuối phim MC Nguyễn Ngọc Ngạn có nói về “đàn chim xa xứ bay về tố ấm”, có vẻ trùng lặp với chủ trương Đại đoàn kết dân tộc của chính phủ Việt Nam, nên Asia đã mượn cớ đó cho tay sai tấn công, chửi bới chương trình ca nhạc Paris By Night. Chúng thuê người gọi vào các đài radio để mắng chửi Thúy Nga không tiếc lời. Chúng dàn dựng, kêu gọi, kích động những cuộc biểu tình một thời gian dài sau đó trong các chương trình Paris By Night sau này. Về sau Thúy Nga phải làm một số chương trình theo quỹ đạo chính trị của chúng để xoa dịu lũ côn đồ, rồi sau đó chúng mới để yên.

Trung tâm Asia đầu tiên do nhạc sĩ Anh Bằng sáng lập, sau khi Trúc Hồ, 1 thành viên Việt Tân mua lại trung tâm này thì nó đã biến chất, biến dạng thành một cái loa chống cộng rẻ tiền, chuyên tung hô, ca tụng ngụy quyền, ngụy quân, bóp méo lịch sử, bịa đặt thông tin, phỏng vấn cuội, tự phỏng vấn lẫn nhau, và đào bới hận thù, hòng dựng lại thây ma. Nếu Asia là một trung tâm ca nhạc thiên về tâm lý chiến, thì đài SBTN do Trúc Hồ và Việt Dzũng đứng tên làm chủ (Nguyệt Ánh cũng có cổ phần) lại là một đài truyền hình lá cải ở California, chuyên đưa tin giật gân để câu khách, câu quảng cáo, và phục vụ cho mục tiêu chống VN của Việt Tân.

SBTN từng đưa những “tin tức” làm nhiều người vừa buồn cười vừa phải lắc đầu vì mức độ hoang tưởng của chúng như: Đảo chánh ở Hà Nội, phe cộng sản miền Bắc và cộng sản miền Nam dàn trận đánh nhau, phe Nông Đức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng dàn trận đánh nhau, Võ Văn Kiệt bị đầu độc chết, CSVN họp bí mật với Trung Cộng xin được như Tây Tạng, quân đội tiếp quản Sài Gòn năm 1975 là quân đội… Trung Cộng v.v. và còn nhiều thông tin lá cải khác. Nhiều bà con Việt kiều nói vui rằng bọn SBTN này muốn cạnh tranh với Vân Sơn về khoản hài hước chắc. Ngoài ra Việt Tân còn thành lập và nuôi nhóm “Thanh Niên Cờ Vàng”, “Đoàn Thanh Niên Phan Bội Châu”, và “Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Đường”, chúng lập ra vô số các trang web trên mạng, nhiều trang web chúng cho thiết kế toàn màu đen ra vẻ thần bí, rồi tự xưng “chúng tôi là tuổi trẻ Việt Nam ở ngay trong nước, trụ sở ở ngay Hà Nội” v.v. Ngoài các tổ chức ngoại vi, Việt Tân còn tổ chức nhiều trại hè, nhiều trung tâm hướng đạo, để nhồi sọ thiếu niên Mỹ gốc Việt, khiến họ mất gốc, vong bản, biến chất thành những con thiêu thân chống phá đất nước, căm thù dân tộc. Chúng bắt các em phải chào cờ ba que, cờ Mỹ, hát quốc ca Mỹ và cái gọi là “quốc ca VNCH” (bài hát mà cha anh bọn chúng ăn cắp của nhạc sĩ cộng sản Lưu Hữu Phước rồi tự ý thay tựa đề, chỉnh sửa lời hát) tẩy não, nhồi nhét vào đầu các em những thông tin bịa đặt về lịch sử nước nhà, gieo rắc những tư tưởng độc hại, thù hận vào đầu các em, chúng dạy các em cái gọi là “lịch sử” do chúng tự tưởng tượng ra. Việt Tân cũng mở những lớp võ thuật rồi nhồi sọ võ sinh rằng “học võ để sau này về quang phục quê hương”. Tổ chức “Đảng Dân tộc” của Nguyễn Hữu Chánh cũng học theo “chiêu” này.

Thời kỳ Mỹ chưa phát động cuộc chiến “chống khủng bố” thì chúng đánh thẳng vào trong nước. Thời kỳ Mỹ đã phát động thì chúng móc nối với lũ Việt gian trong nước. Chúng luôn rình rập, tìm cách bắt liên lạc, móc nối, dụ dỗ, mua chuộc, kích động những thành phần bất mãn trong nước để biến họ thành những kẻ phản quốc, và trả lương cho những tên này qua hình thức “tài trợ”, “giúp đỡ tài chánh”, “yểm trợ quốc nội”, “bảo trợ” v.v. Chúng trích ra số tiền Mỹ tài trợ cho chúng rồi tài trợ cho đám “quốc nội”. Nhiều tên khi bị bắt đã khai báo huỵch toẹt trước máy quay rằng chúng bị Việt Tân móc nối, dụ dỗ, mê hoặc, có liên hệ với Việt Tân ra làm sao, được Việt Tân tài trợ ra nước ngoài huấn luyện ra sao v.v. như đám “Chị Hai”, “Chị Ba”, “Chị Tư” Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định, “thầy bói kiêm nhà nghiên cứu Chấn” Trần Huy Duy Thức, Lê Thăng Long v.v., những video công khai tự thú, nhận tội, và xin xỏ khoan hồng của bọn mạo xưng “dân chủ” này đều được cư dân mạng tải lên trang web Youtube.

6- Tại sao tổ chức khủng bố này vẫn nhởn nhơ trên đất Mỹ?

Đơn giản là vì chúng không có khủng bố nước Mỹ và cũng chưa phải là một tổ chức khủng bố quốc tế như Al Qaeda. Chúng chỉ có khủng bố Việt Nam, một nước XHCN, có ý thức hệ và những lợi ích đối lập với Hoa Kỳ, nghịch với chính sách toàn cầu, chiến lược bành trướng toàn cầu, bá chủ thiên hạ của họ. Xưa nay Mỹ vẫn áp dụng một chính sách nước đôi, hai mặt, mà chính những nhà chính trị Hoa Kỳ vẫn hay gọi là “tiêu chuẩn kép” (double standard) về vấn đề chống khủng bố. Nghĩa là nếu có khủng bố nước Mỹ hoặc là khủng bố quốc tế từng khủng bố các đồng minh của Mỹ, hoạt động khủng bố trên các địa bàn của đồng minh Mỹ, có sự ảnh hưởng của quân đội Mỹ khắp thế giới, thì Mỹ mới liệt vào danh sách khủng bố. Còn những tổ chức khủng bố do các nước khác, đặc biệt là các nước không phải đồng minh của Mỹ, không cùng lợi ích chính trị, quân sự với Mỹ, khác ý thức hệ với Mỹ v.v. đưa vào danh sách khủng bố thì Mỹ sẽ không liệt vào danh sách khủng bố của họ, không coi đó là khủng bố, thậm chí còn bênh vực, biện minh, bao biện, bảo vệ, nuôi nấng, bảo trợ cho tổ chức đó. Như tổ chức Việt Tân mà chính phủ VN đã liệt vào danh sách khủng bố. Như tổ chức Tresnia mà Nga đã liệt vào danh sách khủng bố. Như một vài nhóm Pháp Luân Công và tổ chức vũ lực bạo động ở Tân Cương của Trung Quốc. Hay như các nhóm vũ trang đối lập ở Libya đã từng bắn giết, thảm sát người dân, làm sập nhà dân chúng v.v. và đã bị chính phủ Libya liệt vào danh sách khủng bố, nhưng Mỹ và phương Tây đã hỗ trợ, viện trợ, đỡ đầu cho họ. Trước đây, khi 2 công dân Đức du lịch Libya đã bị giết chết, chính phủ Libya điều tra xác định là Al Qaeda làm và đã phát lệnh truy nã toàn cầu gởi tới Interpol, tầm nã Bin Laden và các tay cầm đầu Al Qaeda nhưng lại bị Mỹ và Anh ngăn lại.

Ngoài ra, Mỹ còn viện trợ, tài trợ, giúp đỡ các chính phủ và quân đội đồng minh khủng bố người dân, như trường hợp họ tài trợ cho Israel khủng bố, thảm sát dân Palestine nhiều năm nay. Trong quá khứ, Mỹ từng ngầm hỗ trợ và bênh vực, biện hộ cho chế độ khủng bố, diệt chủng Khmer Đỏ. Từng dựng lên và nuôi dưỡng ngụy quyền Ngô Đình Diệm và dung túng cho chúng khủng bố trắng, lê máy chém khắp miền Nam Việt Nam. Ngay cả trùm khủng bố Bin Laden mới bị Mỹ vắt chanh bỏ vỏ gần đây và chính phủ độc tài Taliban cũng từng được Mỹ tài trợ để chống lại Liên Xô, trước khi được Mỹ bảo kê, Taliban và Al Qaeda chưa là gì cả, nhưng sau khi được Mỹ cung ứng tiền bạc, vũ khí, họ mạnh lên và trở thành một lực lượng đáng kể, có thể nói chính Mỹ đã dựng lên khủng bố, tài trợ cho khủng bố, để rồi phải đem quân đi diệt khủng bố, và dùng đó làm chiêu bài để công nhiên điều quân viễn chinh đi ra đi vô các nước như chốn không người, bành trướng thế lực ra khắp hoàn cầu. Tổng thống Mỹ Nixon đã từng “thân ái” ngồi chung với các lãnh tụ Taliban và Al Qaeda và nói “Những người đàn ông này tượng trưng cho các giá trị đạo đức của cha anh chúng ta”, “These gentlemen are the moral equivalents of America’s founding fathers” (Reagan nói vào năm 1985). Căn cứ trên lịch sử và bản chất của chính sách ngoại giao thực dụng Hoa Kỳ, thì có thể dễ hiểu vì sao Việt Tân là một tổ chức khủng bố Việt Nam, cùng với các tổ chức khủng bố khác vẫn có thể sống nhăn trên xứ Mỹ.

7- Tình hình Việt Tân hiện nay

Sau khi vụ bưng bít bị phanh phui. Cái chết của trùm khủng bố Hoàng Cơ Minh không còn có thể che giấu lấp liếm được nữa. Trong thập niên 1990, các tay trùm Việt Tân đành phải họp báo thú nhận tất cả, nước mắt cá sấu, giọt vắn giọt dài trước các ống kính video rằng chủ tịch Hoàng Cơ Minh đã bị CSVN giết rồi, đã “tuẫn quốc”, đã “vị quốc vong thân”, đã “hy sinh vô cùng oanh liệt” v.v. Việc này đã gây chấn động trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại, mọi người rốt cuộc đều biết hóa ra Việt Tân lâu nay giấu nhẹm cái chết của Hoàng Cơ Minh, bưng bít thông tin, che giấu sự thật, lừa đảo, gạt tiền đồng bào ra sao. Những vụ làm ăn nhập nhèm, nhơ nhớp, mờ ám, dùng tiền “kháng chiến” để mở tiệm phở bò, để cho gái, để ăn chơi sa đọa, để mua tàu ra biển đánh cá, để mua nhà, mua đất, mua xe, mua tiệm làm móng tay, mua siêu thị, mua các cơ sở kinh doanh thương mại v.v. đều được chính những người trong cuộc tiết lộ ra, nhiều người do bất mãn, do không được ăn chia đầy đủ, bị mất phần, hoặc chính những người do Tổng Cục 2 của an ninh Việt Nam cài vào biết được và nhà nước VN, báo chí VN tiết lộ ra, tất cả những yếu tố đó kết hợp lại gây lên một làn sóng căm phẫn dữ dội trong cộng đồng hải ngoại, tất cả các phe phái hải ngoại, từ những Việt kiều yêu nước, thân Cộng cho tới Việt kiều chống Cộng, đều quay sang chống Việt Tân, mạt sát, miệt thị Việt Tân không tiếc lời. Việt Tân được rất nhiều tiền, trở thành những triệu phú Mỹ gốc Việt, trở thành những ông trùm mà người Mỹ gọi là “Vietnamese Mafia”, nhưng mất đi lòng tin và sự ủng hộ của giới chống Cộng, bị giới này ghen tỵ, ganh ghét, ghen ăn tức ở, căm ghét, thù hận. Ngoài thì bị chửi, bị “ném đá” túi bụi, trong thì chia rẽ, xào xáo, nội bộ đấu đá lẫn nhau. Theo một số hồi ký, tự truyện của người trong cuộc kể lại thì lúc đó trong trụ sở không ngày nào không cãi nhau, dùng những từ ngữ hạ cấp nhất để lăng mạ, “tổng sỉ vả” lẫn nhau. Có những vụ liên quan như vụ năm 1999 khi 1 tay Việt Tân và 1 tay Việt Quốc hợp tác với nhau quyên tiền tổ chức lễ tưởng niệm ngày “Quốc Hận”, tay Việt Tân đông bầy đàn hơn nên liền sai đàn em bê nguyên cái thùng tiền về nhà, sau khi tổ chức xong tay này vì trước đó đánh bạc ở Las Vegas và cá độ football (bóng bầu dục, bóng đá Mỹ) cháy túi nên ăn cắp hết số tiền còn lại sang Hawaii, đã không chia lãi lại cho tên kia mà còn lấy sạch số vốn của hắn. Tay Việt Quốc và đồng bọn, cùng bọn Đại Việt (Đảng Dân Tộc của trùm lừa đảo Nguyễn Hữu Chánh cũng ăn theo chửi hùa vào Việt Tân) uất ức quá liền la lối, ăn vạ thì Việt Tân tỉnh bơ bảo đó là chuyện riêng giữa quý vị, ông kia hành xử với tư cách cá nhân, không liên quan gì tới Việt Tân bọn tôi.

Sau nhiều thảm họa dư luận đó, Việt Tân đành phải bỏ sào huyệt ở chốn phồn hoa đô hội nhiều người Việt sinh sống tại Cali mà dọn tới hang ổ mới là thành phố Seattle, tiểu bang Washington, tiểu bang nằm ở vùng cực Bắc Hoa Kỳ quanh năm đầy mưa và tuyết, và là thành phố có rất ít người Việt, và có tỷ lệ tự sát cao nhất nước Mỹ và 1 trong những thành phố có tỷ lệ tự sát cao nhất thế giới.

8- Cuộc chiến giành phân (fund) Mỹ

Nhằm mục đích xâm nhập, lũng đoạn, xâm lược bành trướng “sức mạnh mềm” vào các quốc gia khác. Mỹ đã mở rất nhiều quỹ, thành lập nhiều tổ chức tại Hoa Kỳ và các “tổ chức quốc tế” để phục vụ cho sách lược Diễn biến hòa bình của họ, bành trướng lan tỏa chính trị, thế lực ra khắp thế giới. Những tổ chức này có những quỹ tài trợ, hỗ trợ khác nhau, hướng tới những tổ chức bản xứ, những tổ chức lưu vong, để dùng chúng xuất cảng “dân chủ” kiểu Mỹ, đa đảng đa nguyên, các giá trị kiểu Mỹ, các chuẩn mực kiểu Mỹ, hệ thống chính trị kiểu Mỹ vào nước của chúng, tạo điều kiện để Mỹ thò cánh tay lông lá vào nước sở tại, xây dựng, nuôi dưỡng, hỗ trợ các lực lượng đối lập, hứa phong cho chúng chức này tước nọ sau khi Mỹ “giải phóng” nước họ xong. Đây là thủ đoạn chia rẽ, chia đất nước, dân tộc khác ra làm nhiều phe, ủng hộ thế lực thân mình, nếu cần thì dựng lên các chính phủ của mình, lật đổ các chế độ đối lập với lợi ích Hoa Kỳ. Và xây dựng, ủng hộ, yểm trợ các lực lượng, các tổ chức, các chính phủ chấp nhận thần phục Mỹ và có lợi cho kinh tế, chính trị, quân sự Hoa Kỳ, có lợi cho chính sách bá quyền và chiến lược quốc tế của chính phủ Mỹ. Đây là một biểu hiện của chủ nghĩa đế quốc, bành trướng quốc tế, tư bản bá quyền.

Nhờ đó, Việt Tân cũng nhận “tiền tài trợ” định kỳ từ nhiều quỹ khác nhau. Quỹ từ chính phủ, quỹ của các tổ chức trực thuộc chính phủ, quỹ từ các tổ chức tư bản phi chính phủ do các tập đoàn tài phiệt tư bản Mỹ, tư bản phương Tây, tư bản quốc tế làm chủ, và các tổ chức trá hình phi chính phủ trực thuộc CIA và chính phủ Mỹ, hoạt động dưới danh nghĩa “phi chính phủ”, “từ thiện”. Để có đủ điều kiện, đủ tư cách, đủ tiêu chuẩn, tiêu chí để nhận fund thì các tổ chức phản quốc ở hải ngoại phải chứng minh cho quan thầy thấy “bản lĩnh” và “khả năng” của mình. Rằng mình có thể làm được cái gì, mình có thực lực gì không, để xứng đáng nhận được những số tiền tài trợ, đài thọ định kỳ đó.

Chính vì vậy, tổ chức khủng bố Việt Tân và tập đoàn lừa đảo Đảng Dân tộc của Nguyễn Hữu Chánh không ngừng gởi người vào VN để lấy tiếng. Thậm chí đối với một bọn nghiên về lừa đảo kinh tế hơn là khủng bố chính trị quân sự như “Đảng Dân tộc” của “chú phỉnh” Nguyễn Hữu Chánh thì chúng không cần thành công, chúng chỉ cần dụ được ai là chúng “thí” về VN cho bị công an bắt để lấy tiếng cho tổ chức. Cũng với “chiêu thức” cũ, đó là vừa ỡm ờ, nói xa nói gần cho cả thiên hạ hiểu mình là thủ phạm để lấy tiếng, nhưng khi tuyên bố chính thức thì chối phăng đi mỗi khi công an VN có được bằng chứng và đồng bọn chúng nhận tội. Như khi Nguyễn Hữu Chánh sai Võ Văn Đức về nước khủng bố, sau khi Đức ở tù, tưởng đại ca sẽ can thiệp cho đàn em thoát được, không ngờ chú Chánh trở mặt không nhận thằng em, khiến cho Đức uất ức vô cùng, những hình ảnh Đức trên mặt báo trong thời gian đó cho thấy 1 người đang rất phẫn uất, tức tưởi vì bị chơi xấu, vì bị đàn anh bỏ rơi, bị đem quăng ra giữa chợ, chịu tội thế cho đàn anh v.v. Trong khi cả hải ngoại đều biết Võ Văn Đức là đàn em loại “ruột” của Nguyễn Hữu Chánh. Sau khi mãn hạn tù, trở sang Mỹ thì Võ Văn Đức lập tức rời xa Đảng Dân tộc nhưng không dám có ý nghĩ trả thù hay đụng chạm gì tới đại ca, vì biết đại ca có hàng trăm lâu la đàn em, và trong người bao giờ cũng có súng. Cũng như Đảng Dân tộc, Việt Tân cũng gởi người đem chất nổ vào VN để lấy tiếng, ngoài ra chúng còn mở rộng địa bàn hoạt động ra ngoài phạm vi trong nước VN, ra các tòa đại sứ, tòa lãnh sự, và các cơ quan ngoại giao của VN ở các nước láng giềng, nhất là ở các nước an ninh khá lỏng lẻo như Thái Lan, Indonesia, Philipines v.v. Thậm chí, sau vụ nổ pháo hoa ở Mỹ Đình trong sự kiện 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, cả Việt Tân và Đảng Dân tộc đều nói xa nói gần để người ta tưởng người ra tay là thuộc tổ chức của mình. Chỉ sau khi báo chí Việt Nam và công an VN ra thông báo chính thức rằng đây chỉ là một tai nạn nghề nghiệp thì chúng mới ngừng bốc phét.

Nói chung, các tổ chức phản quốc và sẵn sàng bán nước ở hải ngoại đều tìm cách khuếch trương thanh thế, tiếng tăm, “số má” của mình ra cao nhất để giành lòng chủ Mỹ, mong được chính phủ Mỹ ân sủng, cưng chìu, và ban ơn mưa móc. Tất cả đều vì những số tiền “tài trợ” hàng năm của các quỹ “dân chủ”, “nhân quyền”, “vě tự do” của Mỹ vŕ phương Tây. Và xưa cho tới nay, Việt Tân đều giành vị trí đầu bảng, thứ hai là Đảng Dân tộc của Nguyễn Hữu Chánh, vì vậy không lạ khi 2 tổ chức này bị các tổ chức “rận chủ”, thế lực Vichoco, các hội đoàn chống cộng khác, các “cộng đồng” khác, các “nhân sĩ” khác chửi bới te tua. Và bản thân 2 tổ chức đó cũng thường chửi nhau tay đôi trên báo chí, truyền thanh và truyền hình. Chẳng qua là vì ghen ăn tức ở lẫn nhau. Kẻ thắng người thua trong cuộc chiến giành “phân” Mỹ. Cùng là chống Cộng nhưng người được ưu ái, được nuôi béo, kẻ thì trơ mõm hoặc chỉ nhận được ít “xu lẻ” theo kiểu bố thí ăn mày. Kẻ giàu người nghèo. Kẻ thì làm chủ tiệm làm móng tay, kẻ thì phải làm thợ giũa móng tay, rửa bát cắt cỏ, xin welfare, medicaid, foodstamp, ăn xin trợ cấp Mỹ và ăn bám xã hội Mỹ nhưng nó vẫn không cho (nhất là từ khi Bush lên thay Clinton, an sinh xã hội Mỹ bị bóp nghẹt, thắt chặt). Làm các chiến sĩ “dâng chủ” phải nai lưng ra làm culi, khuân vác, làm assembly cho các đại gia trùm tư bản, đi cày như trâu, bị bóc lột, bị kỳ thị, phân biệt chủng tộc mà vẫn mở mồm ra chửi XHCN, chửi chủ nghĩa Marx Lenin. Những kẻ đó đương nhiên cũng sẽ chửi Việt Tân và Đảng Dân tộc vì 1 lẽ duy nhất: Tại sao “tụi tao” cũng chống cộng mà “cực bỏ mẹ”, làm việc như trâu bò vẫn “trơ mõm chó” trong khi “chúng mày” lại giàu sang và ăn chơi đàng điếm thế? Tại sao tụi tao cày overtime (thêm giờ), cày cả những ngày nghỉ cuối tuần, cày cả những ngày nghỉ lễ, cày hai ba “jobs” vẫn không đủ trả bills, trong khi chúng mày suốt ngày đi du lịch, đi Las Vegas, đi đánh bài, cá độ football thế? Chung quy cũng chỉ là ganh ghét, ghen ăn tức ở lẫn nhau. Đó là nguyên nhân vì sao cùng là chống cộng, phản quốc, phản động như nhau mà tay này ghét tay kia, nhóm này ghét nhóm kia, tổ chức này chửi tổ chức kia, và đặc biệt là Việt Tân bị chửi nặng nhất, bị chửi nhiều nhất xưa nay. Bọn chống Cộng hải ngoại, nhất là tại Mỹ, chửi Việt Tân còn nhiều hơn cả chửi cộng sản.

9- Tương lai của Việt Tân

Khủng bố và phản quốc thì sẽ không thể có kết quả tốt. Việt Tân đã làm quá nhiều chuyện ác nhân thất đức, bị thất nhân tâm ở ngay cả địa bàn của chúng. Chúng bị bà con Việt kiều, trong đó bao gồm những kẻ chống Cộng tẩy chay, xa lánh, phỉ nhổ. Những kẻ từng trong nội bộ của chúng cũng quay sang viết hồi ký, viết sách, viết tự truyện, viết báo chửi chúng, vạch mặt chúng. Mà ngày nay chúng cũng không còn dễ dàng thuê sát thủ giết người diệt khẩu, lạm sát bừa bãi như những năm 1980, những năm công nghệ thông tin còn lạc hậu, chưa có điện thoại di động có thể chụp hình, quay phim, chưa có Internet v.v. Trước sức mạnh của công luận, chúng đã phải rời bỏ hang ổ cũ và lê thân tới nơi ít đồng hương, khí hậu lạnh lẽo ở bang Washington, và 1 thành phố u buồn như Seattle. Hầu như chúng vác mặt đi gặp ai cũng bị chửi. Chúng còn bị những phe phái chống cộng khác gọi chúng là VC nằm vùng, nghi ngờ hay chụp mũ chúng là do CSVN tạo ra. Chúng cũng dùng các phương tiện truyền thông cáo buộc, kết tội, quy chụp, phản pháo lại bọn kia là CS nằm vùng. Xét cho cùng, cái trò chụp mũ VC nằm vùng lẫn nhau, quăng nón cối tứ tung là một trò đã rất xưa như trái đất, đã có từ thời chống Pháp và chống Mỹ trong vùng địch. Đối với chúng, chỉ có tiền và lợi, và nếu mày có mâu thuẫn quyền lợi với tao thì đích thị mày là 1 “thằng Việt Cộng nằm vùng”.

Về quan hệ với chủ Mỹ, kể từ khi quan hệ kinh tế, làm ăn, kinh doanh giữa Việt – Mỹ càng thắt chặt thì Mỹ lại tỏ ra lạnh nhạt hơn với con chó săn của mình. Khi chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết chính thức sang thăm Mỹ, trước đó 3 ngày Bush đã gọi 3 tên Hoàng Cơ Định, Đỗ Hoàng Điềm và một tên nữa đến Nhà Trắng và răn đe, chỉ thị rằng “không được quậy”, “không được lộn xộn”. Và Việt Tân thời gian sau đó đúng là rất “ngoan”, án binh bất động không gây ra vụ gì cả.

Tới lúc Mỹ không cần xài nữa thì Mỹ cũng sẽ vắt chanh bỏ vỏ như với Al Qaeda mà thôi? Cùng là khủng bố như nhau có lẽ chúng sẽ rất sợ bị làm thịt như Bin Laden. Nhưng đó là 2 trường hợp khác, Bin Laden và Al Qaeda dám cắn ngược lại Mỹ và họ có thực lực nhất định, còn Việt Tân ư, Mỹ mà buông ra một cái thì Việt Tân chỉ còn lại những nhà triệu phú đô la rủng rỉnh nhưng không quyền không lực, không còn chút thực lực, sức mạnh nào. Việt Tân cũng là một con chó săn trung thành thật sự chứ không là loại dám lợi dụng Mỹ tức thời như bọn Taliban, Al Qaeda, và dám cắn lại Mỹ. Việt Tân thì lệ thuộc chính phủ Mỹ 100% và không bao giờ dám có ý nghĩ phạm thượng với quan thầy chứ đừng nói là dám cắn ngược lại ông chủ. Vì vậy Mỹ cùng lắm sẽ bỏ rơi chúng, “quăng con giữa chợ”, chứ sẽ không vắt chanh bỏ vỏ, giết chúng như đã giết Bin Laden.

Tác giả: thieulongtexas (được sự cho phép của tác giả, tôi đăng bài viết này để chúng ta hiểu rõ bản chất lưu manh, côn đồ & phản động của Việt Tân. Kẻ xách động những cuộc biểu tình, tuần hành gây rối vừa qua. Cảm ơn Thiếu Longtexas & sự quan tâm của quý vị. Trân trọng! – Tựa do Lê Vũ đặt)

Advertisements

Anh còn bảo “Vì cô đã dễ dãi với một thằng, nên cô cũng dễ dãi được với ti tỉ thằng khác”. Không biết cái thứ logic vớ vẩn đó, anh lấy ở đâu ra? Tôi “mất”, nhưng tôi không quan hệ vô tội vạ.

“Gửi người đàn ông tôi đã từng yêu thương nhất!

Em sẽ không xưng là em mà xưng là tôi với anh trong thư này. Bởi vì khi xác định viết lá thư cuối cùng này cho anh, tôi đã suy nghĩ rất kỹ. Có thể nói, chưa khi nào tôi bình tâm, thanh thản và tự tin như lúc này.

Nói thực, suốt gần 1 tuần nay, cứ hình dung khuôn mặt bất ngờ và đầy thất vọng của anh, ánh mắt khinh thường của anh, thái độ không muốn chạm vào người tôi của anh, tôi đã hiểu ra tất cả.

Tất cả chỉ vì tôi đã thú nhận đến thật thà, dại dột mà anh có thái độ lạnh lùng, ích kỷ và khó hiểu đó. Anh đã hỏi “Nếu chúng mình ‘yêu thật sự’, anh sẽ là người đàn ông đầu tiên của em chứ?”. Câu trả lời của tôi là “Em xin lỗi nhưng anh không phải người đầu tiên của em!”.

Và thế là, anh tránh mặt tôi, anh nhắn tin nói cần phải suy nghĩ lại về mối quan hệ này. Bạn bè thân nói sao tôi dại thế. Sao không nói với anh vẫn còn trinh dù thực tế đã mất rồi và sau đó âm thầm đến bệnh viện mà vá lại tấm màng kia.

Ảnh minh họa.

Tôi biết nếu làm như vậy, anh sẽ vui mừng, sẽ yêu tôi nhiều hơn. Nhưng tôi không bao giờ muốn nói dối cũng như tiếc nuối về những gì đã nói, đã làm. Và cả lí do quan trọng hơn, bản thân tôi không thấy tôi mất cái ngàn vàng là lỗi lầm gì to lớn để phải che giấu.

Đúng vậy, tôi không còn trong trắng nhưng anh và tất cả mọi người không có quyền khinh tôi dù viện bất cứ lý do nào.

Người tôi đã dâng hiến là người yêu đầu tiên của tôi. Khi ấy, tôi yêu hết mình, yêu không toan tính thiệt hơn cho bản thân. Người đó hỏi tôi: “Có yêu không? Yêu thì việc gì phải tiếc!”. Và cuối cùng tôi đã chẳng tiếc thật.

Anh không chấp nhận được chuyện đó, anh nói rằng “Không ngờ còn trẻ mà cô đã sa đọa như thế!”. Tôi không cho rằng làm chuyện ấy trước hôn nhân là sa đọa. Chẳng phải anh cũng đang rủ tôi quan hệ trước hôn nhân đó sao? Tức là anh đang rủ tôi sa đọa cùng anh đấy!

Tôi chỉ nghĩ đơn giản là yêu thì phải hết mình. Tôi không đắn đo nhiều khi trao thân cho người mà tôi tin tưởng là một nửa cuộc đời mình. Và sau này, khi tình cảm thay đổi, tôi và người đó không đến được với nhau, tôi cũng chẳng hối hận. Tại sao tôi phải hối hận vì đã yêu hết lòng cơ chứ?

Tôi đã nghĩ khi biết chuyện, anh sẽ chẳng giận tôi đâu. Bởi vì anh hiểu tôi, anh trân trọng tình yêu của chúng ta nên anh sẽ không coi cái màng trinh đó như là vương miện. Có nó, tôi là nữ hoàng của anh. Không có nó, tôi trở thành “đồ rẻ tiền”.

Anh còn bảo tôi là “Vì cô dễ dãi với một thằng, nên cô cũng dễ dãi được với ti tỉ thằng khác!”. Không biết cái thứ logic vớ vẩn đó, anh lấy ở đâu ra? Tôi “mất”, nhưng tôi không quan hệ vô tội vạ, không phải cứ có đàn ông rủ rê là tôi nhảy ngay lên giường với họ.

Tôi không phải là người con gái dễ dãi. Tôi chỉ thân mật với người đàn ông mà tôi có tình cảm, người tôi yêu thương. Còn những kẻ khác, đến nắm tay tôi cũng chẳng cho nữa là quan hệ thể xác.

Tôi không đáng bị anh sỉ nhục rằng “Mất trinh rồi, biết khoái cảm rồi, sẽ tìm đến đàn ông để thỏa mãn”. Tôi cũng có ham muốn, có thất tình lục dục như ai. Nhưng tôi biết kiềm chế, biết sống sao cho đúng là một con người chứ không phải một con vật chỉ biết tìm giống đực khi lên cơn thèm khát.

Tôi vẫn còn nhớ nụ cười khẩy của anh khi ấy. Anh thì thào “Thảo nào cô không cho tôi quan hệ, hóa ra là để che giấu chuyện đã mất…”.

Anh nhầm! Chẳng qua, tôi cảm thấy quan hệ giữa tôi và anh chưa đến mức tiến tới bước ấy. Chúng ta mới yêu nhau được vài tháng. Cho dù tôi yêu anh rất nhiều nhưng chúng ta vẫn chưa tìm hiểu nhau kĩ, tôi chưa tin tưởng anh đến mức để đi đến cái giường.

Tôi muốn cuộc yêu giữa chúng ta sẽ là sự thăng hoa về cảm xúc, sự kết hợp của hai tâm hồn đồng điệu. Tôi không muốn chúng ta quan hệ chỉ vì bị thứ nhục dục tầm thường kia xô đẩy.

Sao anh có thể cho rằng tôi chưa tiến đến “bước cuối” với anh chỉ vì không muốn bị phát hiện bản thân không còn trinh trắng. Nếu tôi thủ đoạn như vậy, tôi chỉ cần bỏ dăm ba triệu đi “vá” rồi lừa dối anh. Thế chẳng đơn giản hơn nhiều ấy chứ!

Tất cả chỉ vì tôi không trong trắng mà anh khinh thường tôi. Nhưng này, liệu anh có còn zin không mà bắt tôi phải nguyên vẹn? Nếu anh không còn trong trắng thì anh dựa vào cái gì mà bắt tôi phải còn trắng trong chứ? Dựa vào anh là đàn ông, còn tôi là phụ nữ sao?

Tôi coi thường suy nghĩ ngu ngốc đó. Tại sao phụ nữ cứ phải giữ chữ “trinh”, còn đàn ông thì được lăng nhăng thoải mái. Tôi nói cho anh biết, cái thời trinh tiết là tất cả đối với phụ nữ qua lâu rồi. Nếu anh chỉ nhìn vào cái màng trinh mà không nhìn được vào tâm hồn tôi, anh chẳng xứng đáng được ở bên tôi đâu.

Mà kể cả nếu anh còn trong trắng, anh cũng chẳng có quyền khinh tôi. Nếu anh cay cú chỉ vì “tôi còn trinh mà cô không trinh”, thì anh là 1 thằng đàn ông quá trẻ con, quá so đo thiệt hơn. Người đàn ông như thế cũng chẳng xứng để bước vào cuộc đời tôi.

Anh bảo “Đàn ông ai cũng vậy thôi, cũng muốn mình là người độc chiếm, muốn mình là người đầu tiên và người cuối cùng của người phụ nữ mình yêu thương”. Ừ thì cũng buồn đấy. Nhưng nếu yêu thật sự, người ta sẽ chỉ buồn giây lát và bỏ qua tất cả. Đáng gì vài giọt máu trong lần đầu yêu nhau. Những thứ đó sao có thể sánh bằng tình cảm con người, bằng tương lai hạnh phúc.

Sẽ chẳng có ai dằn vặt người yêu, hành hạ người yêu chỉ vì cô ấy không còn tấm màng sinh học ấy. Thế mà, anh lại còn xách mé tôi “Đã sai còn không chịu xin lỗi” (?!).

Anh có đang nằm mơ không đấy? Tôi sẽ chẳng xin lỗi, van nài anh vì tôi đã mất “cái ngàn vàng”. Nếu làm như vậy, chẳng khác nào tôi đánh mất đi bản chất thật của mình – một người con gái yêu không toan tính và không bao giờ hối tiếc vì điều đó.

Giờ tôi hiểu rằng, anh chỉ yêu cái màng của tôi chứ đâu yêu con người tôi. Mà tôi thì đâu còn cái tấm màng đó để anh yêu nữa.

Tôi nhất định sẽ không cầu xin tình yêu của anh đâu. Giờ tôi hiểu rằng, anh chỉ yêu cái màng của tôi chứ đâu yêu con người tôi. Mà tôi thì đâu còn tấm màng ấy để anh yêu nữa. Vậy thì chúng ta còn gì mà nói nữa, chúng ta nên dừng ở đây là được rồi.

Màng trinh của tôi có thể mất, nhưng danh dự thì không anh ạ. Tiếp tục ở bên anh, tôi sẽ là đứa con gái nhục nhã, hèn mọn, quanh năm bị anh sỉ vả và phải van lơn tình yêu rẻ mạt của anh. Không bao giờ tôi làm thế vì không ai có quyền khinh rẻ tôi, kể cả anh!

Cảm ơn anh vì đã vô tình hỏi đến cái màng của tôi. Cũng may vì nhờ đó mà tôi biết bộ mặt ích kỉ, gia trưởng, giả dối của anh. Và nói thẳng, tôi cũng không còn coi trọng anh một mi-li-mét nào.

Anh không xứng đáng để làm chú rể của tôi trong ngày cưới. Anh không xứng đáng trở thành người bố của các con tôi sau này. Nhất là anh không xứng đáng là người đàn ông để tôi tin tưởng, yêu thương, chia sẻ nỗi đau cũng như cuộc sống tuyệt vời này.

Vĩnh biệt anh!”.

Theo TTVN

Lời mẹ dặn con gái trước khi lấy chồng

Mẹ bảo, lúc giận đừng có cãi nhau, có thể không nói gì, không giặt quần áo của chồng, nhưng không được cãi nhau với chồng.

Mẹ bảo, cãi nhau với đàn ông thì đừng có chạy ra ngoài mà oang oang khắp nơi, anh ta tiến về phía con một bước thì con hãy bước về phía anh ta hai bước.

Mẹ bảo, ngôi nhà chính là chỗ đóng quân của người phụ nữ, cho dù có xảy ra chuyện gì thì cũng đừng có bỏ đi. Bởi vì, đường trở về rất khó khăn.

Mẹ bảo, hai người trong nhà đừng có lúc nào cũng chỉ nghĩ đến sĩ diện, hai người sống với nhau, sĩ diện quan trọng lắm sao? Nếu thế thì ra ngoài sống thế nào được?

Mẹ bảo, bất kể một người đàn ông giàu có, nhiều tiền như thế nào thì anh ta vẫn hi vọng có thể nhìn thấy con sạch sẽ thơm tho ở trong một ngôi nhà sạch sẽ tươm tất và đợi anh ta.

Mẹ bảo, đàn ông tốt rất nhiều, anh ta sẽ không bao giờ đi ôm người phụ nữ khác. Nhưng trong cái xã hội như thế này, có rất nhiều phụ nữ xấu sẽ giang tay ra ôm lấy người đàn ông của con.

Mẹ bảo, phụ nữ nhất định phải ra ngoài làm việc, cho dù là kiếm được nhiều hay ít, làm việc chính là sự thể hiện giá trị cuộc sống của bản thân. Nếu con cứ ở nhà mãi, anh ta sẽ có cơ hội nói trước mặt con rằng: “Tôi đang nuôi cô đấy”.

Mẹ bảo, con đi làm bên ngoài, dù có bận lắm là bận thì vẫn phải làm việc nhà, nếu không thì dùng tiền của mình mà tìm một người giúp việc theo giờ. Việc trong nhà nhất định phải lo liệu tốt, con cái cũng phải nuôi dạy cho tốt.

Mẹ bảo, anh ta vì con mà làm những việc mà con không bao giờ ngờ tới, con có thể cảm động, có thể khen ngợi, nhưng nhất quyết không được châm chọc kiểu “hôm nay mặt trời mọc đằng tây rồi hay sao”, vì nếu như vậy, sau này anh ta sẽ không bao giờ làm bất cứ việc gì vì con nữa.

Mẹ bảo, chẳng có ai là một nửa của ai cả, ý nghĩ của con mà không nói ra thì ai mà biết được? Cần cảm nhận cái gì, ghét việc gì, con phải nói ra thì người ta mới hiểu được.

Mẹ bảo, bố mẹ anh ta cũng là bố mẹ con, cho dù bố mẹ anh ta đối xử với con không được tốt cho lắm, thì con cũng phải đối tốt với họ. Bởi họ là bố mẹ của anh ta.

Mẹ bảo, một khi đã quyết định sống cùng người đó rồi, thì đừng có oán thán cuộc sống khó khổ, nếu như con đã chọn anh ta, thì đừng có oán trách anh ta.

Mẹ bảo, nhiều tiền như thế thì có tác dụng gì, anh ta đâu? Anh ta đang ở đâu?

Mẹ bảo, cả đời này chúng ta có thể tiêu hết bao nhiêu tiền? Đừng mua những đồ xa xỉ mà làm gì, sống hạnh phúc là tốt rồi.

Mẹ bảo, đừng có dọa con cái là “mẹ không cần con”, lúc cáu giận đừng có đuổi con cái ra khỏi nhà, chẳng may không thấy nó thật, con sẽ rất đau khổ.

Mẹ bảo, đừng đánh con cái, lại càng không nên lôi ra ngoài mà đánh.

Mẹ bảo, tình yêu mà cứ đánh đấm đâm giết nhau đúng là mãnh liệt thật, cũng rất lãng mạn. Nhưng không thực tế. Cứ bình thường thôi là được.

Mẹ bảo, cái gì thì cũng đều là duyên phận cả.

Mẹ bảo, cuộc sống luôn thay đổi, phải biết trân trọng từng ngày.

(Trích Lời mẹ dặn con gái trước khi lấy chồng – Nguồn internet)

Trong cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại có những nhân vật “hành nghề chính trị” mà khi nhắc đến thì mọi người đều lắc đầu ngán ngẩm với những nhận xét đầy khinh bỉ . Đó là những kẻ cơ hội , trục lợi, trơ trẽn với những việc làm trong quá khứ và hiện tại của họ . Ở đây tôi muốn nói đến một nhân vật thuộc hạng có “máu mặt” đó là Võ văn Ái với hỗn danh là “ma đầu”, hiện đang là chủ tịch cơ sở Quê mẹ và “Ủy ban bảo vệ quyền làm người VN” do chính Ái tự phong làm chủ tịch và điều hành. Qua việc theo dõi các thông tin trên báo chí thì tôi được biết vào tháng 3 đầu năm nay, 2012, dưới sự cầm đầu của Võ Văn Ái “Ủy ban bảo vệ quyền làm người VN” đã đến Genève vận động can thiệp cho những người mà họ gọi là “những tù nhân chính trị và tù nhân vì lương thức Việt Nam”? Võ văn Ái gặp gỡ “Tổ Hành Động Chống Bắt bớ Trái phép của LHQ”(WGAD). Theo thủ tục WGAD đã chuyển đạt tin tức cùng hồ sở do Võ văn Ái cung cấp đến chính quyền Việt Nam ngày 15.3.2012. Việt Nam hồi đáp ngày 13.7.2012 bác bỏ mọi luận điểm của hồ sơ, rồi tuyên bố các người bị giam tù do họ vi phạm pháp luật Việt Nam. 29-8-2012 WGAD đã gởi bản Fax đến “Ủy ban bảo vệ quyền làm người VN” với nội dung tuyên bố rằng,”Việt Nam vi phạm các điều 9, 19, và 21 của Công ước quốc tế khi giam giữ trái phép ông Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, và Lê Thăng”. Võ văn Ái vui mừng coi đây là một thành tích mà các “bề trên” ủng hộ, ngày 8-11-2012 vội vàng xuất xưởng với cái gọi là “Thông cáo báo chí” trên nguyệt san Quê mẹ.
Trong nội dung “Thông cáo báo chí” Võ Văn Ái lớn giọng “Phải trả tự do cho những người này và phải chấp nhận đền bù cho họ …”? Ông ta có cái quyền gì mà ra lệnh cho một nhà nước hợp pháp đang lãnh đạo 90 triệu dân ? chỉ có kẻ đầu óc hoang đường mới có những phát ngôn ngông cuồng như vậy.Theo sự tìm hiểu của bản thân tôi về việc thực hiện quyền con người và sự thúc đẩy nó đạt đỉnh thăng hoa nhất đó là trách nhiệm và quyền hạn của mỗi quốc gia , mỗi dân tộc. Việt Nam cũng như các quốc gia khác có trách nhiệm xây dựng hệ thống pháp luật trong nước cho phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế mà đặc biệt là hiến chương liên hợp quốc. Nhưng do hoàn cảnh khác biệt về lịch sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá trị truyền thống văn hóa… nên cách thực hiện quyền con người ở mỗi quốc gia có thể khác nhau. Hợp tác đối thoại giữa các quốc gia nhằm mục đích thúc đẩy việc thực hiện và bảo vệ quyền con người là một yêu cầu thực tế, cần thiết khách quan chứ không phải là sự quy chụp võ đoán bất chấp thực tế.Thật khó mà kể hết những hoạt động của Võ Văn Ái chống phá đất nước và dân tộc Việt Nam mà đặc biệt là với bà con phật tử và Giáo hội Phật giáo Việt Nam . Võ Văn Ái là tên đầu cơ trục lợi chính trị một cách ma mãnh nhất, ông ta đã không từ một thủ đoạn nào với mục đích duy nhất là đánh bóng tên tuổi và kiếm chác tiền bạc từ các tổ chức ngoại bang chống Việt Nam và của bà con trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Một điều lẽ tất nhiên là khi nhận tiền của ngoại bang là phải chấp nhận những điều kiện, những hoạt động phục vụ cho đường lối chính sách của tổ chức đó thì đồng nghĩa với thân phận làm tay sai, điều này thì Võ văn Ái không thể phủ nhận được . Vậy thì những điều mà Võ Văn Ái lên tiếng tranh đấu cho tự do, dân chủ, quyền làm người của dân tộc Việt Nam như ông ta đã cao giọng nhằm phục vụ cho đường lối sách lược nào? cho thế lực ngoại bang hay cho dân tộc Việt Nam? Đúng là con người gian manh , một tên “ma đầu” về chính trị tự khoác lên người tấm áo choàng “bảo vệ quyền làm người” nhưng mục tiêu của ông Ái là làm tay sai để được trả tiền. Những việc làm của Võ văn Ái đã để lại những hậu quả tai hại là Phật giáo Việt Nam bị chia rẽ, rối ren . Đồng thời với hoạt động báo chí, Ái còn lập tổ chức “Ủy ban bảo vệ quyền làm người VN” như đã nói, do chính Ái làm chủ tịch và điều hành. Chúng ta thấy Võ văn Ái hay “mở sô” phỏng vấn trên các “mõ làng” như VOA, RFA, RFI… để Ái tự quảng cáo, đánh bóng, phô trương, phóng đại thành tích chống Cộng và tranh đấu cho quyền làm người Việt Nam hay tự do tôn giáo bằng bất kỳ thủ đoạn nào .Võ Văn Ái chuyên nghề câu kết với một số đối tượng cơ hội chính trị trong nước và các phần tử chống cộng cực đoan (CCCĐ) lợi dụng tôn giáo để kích động gây rối xã hội Việt Nam. Đối với Võ Văn Ái, thì tất cả người dân trong nước đều là những “nạn nhân” của chế độ cộng sản cầm quyền ,không có “nạn nhân” cũng phải cố tạo, cố nặn ra để được lên tiếng đánh bóng cái mác “bảo vệ quyền làm người” với chức danh chủ tịch tự phong của mình .
Lật lý lịch của Võ Văn Ái, có quốc tịch Pháp, dân tộc Kinh, quê Thừa Thiên – Huế, là Phật tử. Ái là bác sĩ, viết văn, làm thơ, làm báo với các bút danh: Nguyễn Thái, Thi Vũ, Trần Phổ Minh…, và làm con rối chính trị . Là Phật tử, đúng ra ông ta phải có những việc làm ích đời đẹp đạo vậy mà tất cả những việc làm của Võ văn Ái chỉ có duy nhất một niềm đam mê như con thiêu thân là chống lại dân tộc Việt Nam và kiếm tiền. Chỉ đáng tiếc là một số người trong nước không hiểu được dã tâm của những người như Ái họ đã tự nguyện làm vật tế thần, nhằm phục vụ cho mưu đồ đen tối .1978- khi Bernard Kouchner, Chủ tịch tổ chức “Thầy thuốc không biên giới Pháp” dùng con tàu mang tên “Đảo ánh sáng” đi vớt người vượt biển, thì Võ Văn Ái đã tích cực tham gia cổ vũ cho tổ chức này. Ông ta dùng địa chỉ nhà mình làm nơi quyên tiền ủng hộ, và đã thu được hơn 200 triệu frăng (tiền Pháp). Tuy nhiên, số tiền thực tế đến tay “người vượt biển” lại không bao nhiêu, mà chủ yếu Võ Văn Ái tiêu xài cá nhân dưới danh nghĩa chi phí để đi nơi này, nơi kia, tuyên truyền vận động. Nắm được thông tin cụ thể, báo chí Pháp liên tiếp đăng nhiều bài tố cáo khiến kế hoạch “quyên góp” của Võ Văn Ái phải ngưng lại nửa chừng khi bị sở thuế sờ gáy.
Năm 1983 trong khoảng thời gian này đời sống nhân dân trong nước gặp nhiều khó khăn vì bị cấm vận cầm đầu là Hoa Kỳ thì ở hải ngoại mọc lên một số tổ chức chống phá nhà nước Việt Nam, lợi dụng cơ hội đó tổ chức của Hoàng Cơ Minh tiền thân của băng đảng khủng bố Việt Tân với các chiến dịch lừa bịp, hù dọa bà con trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại quyên góp cho “kháng chiến quân” về “giải phóng quê hương” kiếm được rất nhiều tiền. Nắm bắt cơ hội “ngàn vàng” này Võ Văn Ái đẻ ra cái gọi là “Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam “Theo tài liệu chính trên www.ned.org thì ông Ái nhận được sự tài trợ của NED, một tổ chức của Mỹ thành lập năm 1983 vào thời Tổng thống Reagan. Về hình thức, những hoạt động của NED không khác với những hoạt động của CIA nhưng được ngụy trang dưới danh nghĩa là tranh đấu của dân chủ. Khi được một thế lực nước ngoài đỡ đầu tài chính, thì ông ta lại càng tích cực gia tăng các hoạt động chống phá Việt Nam một cách điên cuồng . Võ văn Ái đứng ra thành lập “Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam” tại Pháp như đã nói ở trên , rồi tự phong cho mình chức chủ tịch. Đồng thời lôi kéo một số người có tư tưởng hận thù chống cộng vào cuộc để khuếch trương và cho ra mắt tập san Quê Mẹ làm phương tiện chống phá Việt Nam mà nội dung không ngoài việc tuyên truyền, xuyên tạc các chủ trương, chính sách của Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực tôn giáo.
Ban đầu tập san có nội dung như văn nghệ, văn hóa, chính trị, thơ văn… do chính Ái viết dưới nhiều bút danh khác nhau và vài tác giả khác cộng tác. Quê Mẹ lúc ấy không gây được ảnh hưởng nhiều trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Chỉ đến khi nhận được sự tài trợ của National Endowment for Democracy (NED), một tổ chức thuộc hạ viện Hoa Kỳ, từ đó Quê Mẹ bắt đầu “bẻ lái đổi hướng” sang mục tiêu chính là chính trị theo ý đồ của tổ chức tài trợ. Từ lập trường mang hơi hướng tinh thần hóa giải của Phật giáo Quê Mẹ chuyển sang lập trường chống Cộng một cách triệt để và cực đoan. Nội dung trọng tâm của tạp chí Quê mẹ là những tin tức liên quan đến “nhân quyền”, vi phạm “tự do tôn giáo” ở VN, sau khi được Võ văn Ái bóp méo xuyên tạc méo hoặc thổi phồng các tin tức này nhằm khuấy động dư luận quốc tế .
Sau đó Võ Văn Ái cho ra đời cái được gọi là “Phòng Thông tin Phật giáo hải ngoại” do Ái tự phong làm giám đốc. Đồng thời rủ rê một số tăng ni để hợp thức hóa thành lập “Văn phòng 2 Viện Hóa đạo” trực thuộc GHPGVNTN(giáo hội phật giáo Việt Nam thống nhất) hải ngoại . Cái “Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế” chỉ là một nhãn hiệu bịp bợm để lòe thiên hạ có như vậy mới vận động quyên góp tiền bạc của bà con phật tử. Sự thật thì đó chỉ là hang ổ cho ra lò những sản phẩm gọi là “Thông cáo báo chí” “kiến nghị” “điều trần” do Ái nghĩ ra chứa đựng nhiều thông tin bịa đặt đến mức thô thiển để chống Việt Nam chứ không dính dáng gì đến Phật giáo cả . Vì lập ra “Phòng Thông tin Phật giáo quốc tế” nên Võ Văn Ái cần có sự hậu thuẫn, ủng hộ của một số tu sĩ Phật giáo sống tại Việt Nam, đứng đầu là ông Quảng Độ. Giữa năm 2003, Võ Văn Ái sai tay chân của mình về Việt Nam, gặp ông Thích Quảng Độ, rồi đề nghị ông ta nhận lời làm người lãnh đạo GHPGVNTN . Và điều không ngoài dự đoán của nhiều người đối với ông thầy tu nhưng rất khoái chức tước, quyền lực, tháng 10/2003 ông Quảng Độ trao quyền quyết định cho Võ Văn Ái đứng ra tổ chức một đại hội bất thường của “GHPGVNTN hải ngoại” tại Mỹ. Mục đích đại hội này nhằm đưa ông Quảng Độ lên ghế “Tăng thống”. Đổi lại, ông Quảng Độ cho Võ Văn Ái toàn quyền sắp xếp nhân sự của Viện Tăng thống và Viện Hóa đạo tại hải ngoại, đồng thời còn có quyền là “người phát ngôn của giáo hội” được ban hành “thông điệp” từ trong nước đến các GHPGVNTN ở nước ngoài . Cho nên Ái mô tả, thêm bớt, vẽ vời thế nào thì các “đệ tử” cứ theo đó mà làm. Ngược lại hầu hết các thông tin, thông điệp, giáo chỉ từ trong nước đến được với các GHPGVNTN ở hải ngoại cũng là qua Ái. Cho nên Ái đã mặc tình thao túng cả GHPGVNTN. Do vậy, Thượng Phối Sư Thông Trần từng nhận xét rằng: “Võ Văn Ái không khéo sẽ biến Thích Quảng Độ thành… nài ngựa!” là vậy. Bộ mặt thật của Võ Văn Ái là chỉ vì bạc tiền danh vọng mà trở thành tay sai đắc lực của ngoại bang nhằm thực hiện diễn biến hòa bình để rồi gây ra hận thù chia rẽ Phật giáo Việt Nam , Và tất nhiên cái vỏ bọc đấu tranh cho nhân quyền, tự do tôn giáo chỉ là phương tiện để Võ Văn Ái kiếm Fund(tiền tài trợ) của các tổ chức ngoại bang chống Việt Nam và moi tiền bà con người Việt ở hải ngoại .Trước đây dư luận trong cộng đồng khi đề cập đến vấn đề tài chánh thì bao giờ Võ Văn Ái cũng tìm đủ mọi cách tránh né , phủ nhận là ông ta không bao giờ ăn tiền của ai: “Tôi làm những chuyện không công, chẳng có lương bổng gì hết, do vậy mà chư tôn đức tăng ni, phật tử cho bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu mà không đòi hỏi, để lo cho cơ sở Quê Mẹ” ?. Ngày 26-9-2012 Võ văn Ái thể hiện là kẻ ôm chân ngoại bang một cách trơ trẽn nhất đó là viết thơ cho tổng thống Pháp Francois Hhollande yêu cầu Tổng Thống nhân danh nước Pháp lên tiếng can thiệp cho các bloggers vi phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam như Điếu Cày, Phan Thanh Hải, Tạ Phong Tần và ký giả Hoàng Khương ?. Võ văn Ái đã lếu láo vu khống một cách trắng trợn rằng nhà nước Việt Nam đối xử với người dân trong nước “họ bị tù đày trên lãnh thổ họ như trong một nhà tù…” ? Xin hỏi ông Ái rằng hàng năm có trên nửa triệu người Việt từ hải ngoại về thăm cái mà ông gọi là “nhà tù” thì nhận xét của họ như thế nào ? kiều hối bà con gởi về “nhà tù” là 12 tỷ đô la trong năm qua thì ông có lý giải gì cho thỏa đáng với những lời vu khống vô căn cứ của ông ? Vẫn chưa hết ông Ái còn cao giọng : “Nhân danh Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam, xin được nói lên mối âu lo trước muôn nghìn hành động đàn áp của nhà cầm quyền Việt Nam tiếp tục đàn áp Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trong âm thầm nhưng thường trực.” ?. Khi đọc những cái gọi là “thông cáo” “kiến nghị”.. mà Võ Văn Ái nhào nặn thì những người Việt có tấm lòng với quê hương đất nước không khỏi phải phì cười về sự lố bịnh đến nham nhở của ông ta .Theo như tôi được biết Việt Nam hiện nay tôn giáo phát triển hơn bao giờ hết , đồng bào ở hải ngoại về thăm quê hương hàng năm đều nhận thấy sự đổi khác đang diễn ra từng ngày, nhà thờ, chùa chiềng được xây dựng mới khang trang lộng lẫy, vào các ngày lễ lớn nhà thờ, chùa chiềng, miếu mạo tấp nập vui như trẩy hội niềm vui hiên trên nét mặt của mọi người .Nhà nước Việt Nam hiểu rằng tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo là tôn trọng niềm tin, nghi thức thờ phượng, những sinh hoạt tôn giáo phù hợp với giáo lý với truyền thống văn hóa dân tộc là góp phần nâng cao đạo đức, nhân cách của con người chứ không chấp nhận những hành vi lợi dụng, hoặc đội lốt tôn giáo để làm những điều trái pháp luật, phản văn hóa đi ngược lại điều răn dạy của chúa, phật, thánh , thần và những yêu cầu chính đáng của đồng bào theo các tôn giáo.
Nói tóm lại những kẻ như Võ Văn Ái chỉ vì mục đích phô trương bản thân, trục lợi chính trị can tâm làm tay sai cho các thế lực thù địch chống Việt Nam để moi rút tiền bạc cho bản thân mình , những khẩu hiệu “dân chủ, nhân quyền” chỉ là tấm áo khoác để lừa bịp. Nhân bài viết này tôi cũng muốn nhắn gởi cho những ai ở trong nước cũng như bà con trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại hãy cảnh giác với những kẻ “ma đầu” như Võ văn Ái đừng để cho bọn chúng lợi dụng trở thành công cụ chống phá đất nước, đi ngược lại lợi ích của dân tộc mình.
Ngày 6-12-2012

Điều bất ngờ về con cái của ông Nguyễn Phú Trọng và Trương Tấn Sang

Góc nhìn đa chiều

Trong cuộc sống có câu “những con số biết nói”.Thật vậy, có khi chỉ thông qua một con số mà người đời biết được nhiều điều hay, dở. Tương tự, thông qua một cử chỉ, việc làm người ta hiểu được đâu là phải, trái.

Cho đến thời điểm hiện tại, có lẽ trừ Ban Tổ chức Trung ương Đảng,Văn phòng Chủ tịch nước, Quốc hội và những người thân trong gia đình biết tường tận con cái của TBT Nguyễn Phú Trọng và CT nước Trương Tấn Sang quí danh là gì, bao nhiêu tuổi, đang làm gì ở đâu? Còn thì không mấy ai biết và trả lời chính xác được câu hỏi đặt ra ở trên.

Ai cũng biết ông Nguyễn Phú Trọng trước khi trở thành TBT từng là Bí thư Thành ủy Hà Nội, Chủ tịch Quốc hội; còn ông Trương Tấn Sang trước khi được Quốc hội bầu là CT nước từng là Bí thư Thành phố Hồ Chí Minh, Trưởng ban Kinh tế Trung ương, Thường trực Ban Bí thư.

Ở những vị thế kinh qua như vậy, nếu ông Trọng, ông Sang ra tay tạo dựng cho con cái vào các chức danh Phó giám đốc rồi Giám đốc các ban, ngành (ở địa phương) để rồi tạo đà thăng tiến dần…hay Phó vụ trưởng, Vụ trưởng, Tổng Giám đốc một doanh nghiệp, thậm chí Thứ trưởng (các Bộ ngành ở Trung ương) chỉ là chuyện nhỏ như con thỏ. Thực tế thì có khá nhiều VIP đã, đang làm như vậy rồi!

Nhưng TBT Nguyễn Phú Trọng, CT nước Trương Tấn Sang đã không làm thế. Nếu con cái hai ông có những chức danh như đã điểm thì cả địa phương biết, cả ngành cả nước biết, thậm chí cả thế giới cũng tỏ.

Người viết bài này được biết con cái của TBT Nguyễn Phú Trọng, CT Trương Tấn Sang hiện đang là những công chức, doanh nghiệp bình thường. Cũng như chức danh rất khiêm tốn ấy, lại cũng nghe nói, con cái của hai ông sống rất từ tốn chứ không ngồi đâu, với ai cũng huếnh hoáng lên “bố tớ là ông nọ ông kia”, thậm chí làm nhiều điều tai tiếng như con cái của nhiều vị ủy viên Trung ương hay Bộ trưởng nọ Bộ trưởng kia…

Riêng về góc độ con cái, như vậy thật đáng khen và nể phục, chắc chắn họ là những người được học hành, giáo dục nề nếp, biết ứng xử với xã hội như thế nào…

Khác hẳn với TBT Nguyễn Phú Trọng và CT nước Trương Tấn Sang, một số vị lãnh đạo khác có mấy người con, họ tên đầy đủ, hiện đang làm gì, ở đâu thì ai cũng biết cả rồi…

…Có thể nói rằng TBT Nguyễn Phú Trọng, CT nước Trương Tấn Sang đang là những nhà lãnh đạo có tư chất và nhân cách riêng thuộc diện “xưa nay hiếm” ở Việt Nam. Đúng như tên riêng – Các ông SANG TRỌNG đúng nghĩa!
Như thế, chắc chắn tại Hội nghị Trung ương VI diễn ra tới đây,175 Ủy viên BCH Trung ương sẽ lấy đó là một trong những căn cứ sinh động, quan trọng để thể hiện chính kiến thông qua lá phiếu của mình trước vận mệnh của đất nước và của Đảng.

Trích đăng bài viết của NGƯỜI QUAN SÁT (BLOGSPOT)

Lấy bài viết từ REDS.VN

Thế giới vũ trụ bao la tuyệt đẹp, nhưng trong con mắt của nhà thiết kế với trí tượng tượng cao nó được tạo ra với những thảm họa biến thành một tác phẩm tuyệt đẹp. Download bộ hình nền thảm họa vũ trụ này và trang trí ngay cho desktop của mình để tạo nên một không gian mới với cái nhình hoàn toàn khác. Link downloadcuối bài viết này!

wallpaper vu trụ bao la 1

wallpaper vu trụ bao la 2

 

wallpaper vu trụ bao la 3

 

wallpaper vu trụ bao la 4

 

wallpaper vu trụ bao la 5

 

wallpaper vu trụ bao la 6

 

wallpaper vu trụ bao la 7

 

wallpaper vu trụ bao la 8

Bạn có thể download bộ hình nền full HD này về tại đây.

Người dân, binh lính Trung Quốc là những con cừu bị lừa dối

“Tháng 6 vừa rồi, Quốc hội Việt Nam thông qua luật Biển. Trên hành tinh này, thử hỏi Trung Quốc xem có quốc gia ven biển nào không có luật Biển không? Trung Quốc không có luật Biển thì họ có bảy đạo luật khác để chi phối, bảo vệ chủ quyền trên biển: Luật Hàng hải, luật Đường cơ sở, luật Hải dương… Giờ Việt Nam làm luật Biển cũng giống như nhà có vườn, người ta phải rào chứ” – Thiếu tướng Lê Văn Cương nói.

Hệ thống nói dối lớn nhất hành tinh

– Trong thời gian căng thẳng vừa qua, báo chí Trung Quốc đã đưa những thông tin rất sai lệch về Việt Nam. Dường như họ đang cố dùng bộ máy truyền thông do nhà nước kiểm soát để kích động dân chúng của họ?

– Thiếu tướng Lê Văn Cương: Một số nhà báo, học giả Trung Quốc viết trên tờ Hoàn Cầu – một ấn phẩm của nhật báo Nhân Dân – kêu gọi phát động chiến tranh, chỉ có đánh Việt Nam mới giải quyết được vấn đề biển Đông, rằng trên thế giới này duy nhất Việt Nam là nước đi xâm lược, là hung hăng nhất, hiếu chiến nhất. Họ vẽ ra một hình ảnh đất nước Việt Nam như một tội đồ, để lừa dối nhân dân họ, lừa dối quân đội họ và lừa dối cả thế giới.

Trong gần ba triệu quân nhân, sĩ quan, binh lính Trung Quốc, tôi tin tưởng tuyệt đại đa số không muốn gây hấn. Họ cũng muốn giao hảo. Ngay cả 1,3 tỉ người dân Trung Quốc cũng là người tốt, nhân hậu lắm, họ muốn bang giao, còn chuyện gây chiến họ không được gì cả. Họ là những con bài bị thí, bị lừa dối. Ngay cả hơn 20 ủy viên bộ Chính trị, mấy trăm ủy viên Trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc không phải ai cũng muốn gây chiến, chỉ là số nhỏ thôi.

Trong cuộc chiến 1979 với Việt Nam cũng vậy, truyền thông Trung Quốc có hàng ngàn bài báo xuyên tạc, nhồi nhét vào đầu người Trung Quốc rằng đó là chiến công oanh liệt của quân giải phóng Trung Quốc phản công quân Việt Nam xâm lược. Đến giờ phút này, số người hiểu thực chất bản chất cuộc chiến chỉ có 1%.

Hôm 17.8 vừa rồi, khi nói chuyện với các nguyên thủ các quốc gia châu Phi tại Bắc Kinh, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào có nói rằng: Chúng ta kiên quyết phản đối nước giàu lấn lướt nước nghèo, kiên quyết phản đối nước lớn đàn áp nước nhỏ. Nói hay như thế nhưng làm thì ngược lại.

– Cũng đã từng có nhiều người nói về việc hệ thống truyền thông Trung Quốc đưa thông tin sai lệch, “làm hỏng dân”…

– Chuyện lừa dối của họ là truyền thống, từ thời Đông Chu liệt quốc đến giờ. Họ biến con người thành những con cừu, chỉ thực hiện mệnh lệnh của cấp trên. Đến giờ phút này, truyền thông Trung Quốc là hệ thống nói dối lớn nhất hành tinh, chỉ phục vụ ý đồ chính trị của giới chóp bu. Về khoản này, Mỹ thua Trung Quốc.

Hồi năm 1979, Trung Quốc xâm lược ban ngày ban mặt chứ có phải buổi tối đâu. Nhưng cứ đến kỷ niệm năm chẵn, báo chí Trung Quốc tung ra trung bình khoảng 700 – 800 bài báo kéo tít gần như nhau: Chiến công oanh liệt của quân giải phóng Trung Quốc phản công quân Việt Nam xâm lược; cuộc phản công chiến lược thắng lợi…

Sẵn sàng dùng thủ đoạn tàn bạo

– Chúng ta vẫn thường nhắc đến chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc. Ông đánh giá như thế nào về độ phổ biến của chủ nghĩa bành trướng trên thế giới?

– Về mặt khoa học, phàm các dân tộc lớn, nước lớn, đều có nhân tố bành trướng chứ không phải chỉ có Trung Quốc. Mỹ, Nga, Đức, Nhật, Ấn Độ đều như vậy. Đó là đặc điểm có tính phổ biến, như là người giàu, lớn, khỏe thì hay xem thường kẻ nghèo hèn. Một con người cũng thế, một cộng đồng cũng thế mà một dân tộc cũng thế.

Cho nên diễn biến hòa bình không phải chỉ có Mỹ. Tất nhiên gốc tích của diễn biến hòa bình thời hiện đại là từ Mỹ nhưng những thủ đoạn tác động vào các nước khác để đảm bảo có một chính quyền ở đó theo ý mình thì Trung Quốc là cha đẻ, là bậc thầy của thế giới. Cách đây 2.600 năm, chính ông Quản Trọng, người nước Tề thời Xuân Thu, là người đẻ ra diễn biến hòa bình với các thủ đoạn chia rẽ nội bộ, lũng đoạn kinh tế, khoét sâu mâu thuẫn, đưa thông tin vu khống để vua bạc đãi người trung thực, xung quanh nhà vua chỉ còn những loại nịnh thần, ngu dốt thôi. Từ đó đất nước họ suy yếu, ông ta thâu tóm năm nước xung quanh chỉ trong vài năm. Người Mỹ chỉ học mót người Trung Quốc về khoản này.

– Vậy chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc có gì khác biệt dẫn đến việc họ bị thế giới ghét bỏ như ông vừa đề cập?

– Trung Quốc có hai điểm đặc biệt. Một là máu bành trướng của họ dữ dội, quyết liệt hơn các nước khác.

Hai là về mặt thủ đoạn, họ sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn bất kể tính chất. Người Mỹ, Nhật, EU không bao giờ làm cái trò cho người sang xui nông dân Việt Nam trộn bùn vào chè, đưa về Trung Quốc quay lên truyền hình, chụp ảnh cho cả thế giới xem; họ cũng không bao giờ mua móng trâu, mua rễ quế, mua đỉa, tuồn hàng chất lượng kém, có chất độc sang Việt Nam. Cho nên cả thế giới chăm chăm cảnh giác Trung Quốc. Họ là một cường quốc không có đồng minh.

– Khi nào Trung Quốc dùng vũ lực?

– Nghiên cứu các cuộc xung đột vũ trang của Trung Quốc từ năm 1949 đến nay, ông đánh giá thế nào về những yếu tố dẫn các nhà lãnh đạo Trung Quốc đến việc giải quyết các vấn đề quan hệ quốc tế bằng vũ lực?

Nó là hợp lưu cộng hưởng của hai dòng: Dòng bành trướng và dòng phục vụ cho lợi ích trước mắt. Cuộc chiến tranh năm 1969 với Liên Xô chính là vật tế thần để họ chứng tỏ với Mỹ rằng tôi không liên kết với Liên Xô. Đến tháng 2.1979, họ biến Việt Nam thành vật tế thần, một lần nữa chứng minh cho Mỹ thấy họ không đồng minh gì với Việt Nam cả. Trước khi đánh Việt Nam, Đặng Tiểu Bình còn đến Washington, đội mũ cao bồi, nói với Tổng thống Mỹ Carter rằng: “Chúng tôi là NATO phương Đông”. Việt Nam thành vật tế thần để Trung Quốc mua bán với Mỹ.

Suốt từ năm 1979 đến năm 1991, Trung Quốc câu kết với Mỹ và phản động quốc tế bóp nghẹt Việt Nam, bao vây cấm vận Việt Nam. Lịch sử Việt Nam lùi mất 30 năm. Đó là một thời kỳ đen tối của lịch sử Việt Nam, khi tất cả mọi lối ra thế giới đều bị Trung Quốc và Mỹ bịt hết.

Bành trướng là chiến lược lâu dài của họ nhưng khi cần sử dụng vũ lực để giải quyết lợi ích trước mắt và phù hợp với chiến lược đó, họ sẵn sàng.

– Chuyện nước lớn, với tư tưởng bành trướng, thỏa thuận với nhau trên lưng nước nhỏ, đã từng xảy ra nhiều trên thế giới. Trong quan hệ giữa Việt Nam, Trung Quốc và các nước khác thì sao, thưa ông?

– Tôi cho là Việt Nam từng năm lần bị bán đứng.

Lần thứ nhất tại Hội nghị Genève năm 1954. Trung Quốc đã có sự mặc cả với Mỹ, Pháp chứ đúng ra ranh giới hai miền không phải vĩ tuyến 17 mà có thể là 13, nếu không thì là 15. Nhưng để lấy lòng Mỹ và phương Tây, Trung Quốc đã nhân nhượng Mỹ và Pháp kéo lên vĩ tuyến 17. Sau này chính Pháp nói với ta điều ấy.

Lần thứ hai khi Việt Nam gần thắng Mỹ năm 1972, Henry Kissinger đã ký tắt với ông Lê Đức Thọ, hai bên báo cáo cấp cao để chuẩn bị ký Hiệp định Paris. Nhưng sau đó Mao Trạch Đông mời Tổng thống Mỹ Nixon sang ký Thông cáo chung Thượng Hải. Ngày 1.3.1972, Kissinger về Tokyo họp báo, nói một câu nổi tiếng: Bây giờ chúng tôi chỉ còn nhìn về Mạc Tư Khoa để nghiền nát Hà Nội! Sau khi ký xong, những việc tày trời trước đây các tổng thống Mỹ khác không làm được thì Nixon làm được, đó là phong tỏa cảng Hải Phòng, con đường biển duy nhất Việt Nam ra thế giới, cho máy bay đánh sát biên giới Trung Quốc, rồi sau đó là 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không. Thiệt hại về người và tài sản trong cuộc không chiến của Mỹ ở miền Bắc từ 1.3.1972 đến khi ký Hiệp định Paris bằng cả sáu năm trước cộng lại. Ở miền Nam, ta cũng phải đổ xương máu nữa. Nên thông cáo Thượng Hải thực chất đã được viết bằng máu của người Việt Nam.

Lần thứ ba, họ đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974. Không có sự đồng ý của Mỹ thì Trung Quốc không bao giờ dám đánh.

Lần thứ tư, chính Trung Quốc là kẻ chủ mưu gây nên vụ thảm sát hơn hai triệu người Campuchia. Trung Quốc cung cấp từ A đến Z, lương thực thực phẩm, vũ khí, đạn dược, thuốc men cho Khmer Đỏ. Chiến tranh biên giới Tây Nam 1976 – 1978 là Trung Quốc mượn Khmer Đỏ để đánh Việt Nam. Sau đấy, khi ta giải phóng Campuchia, Trung Quốc là kẻ lu loa trên thế giới rằng Việt Nam có âm mưu lập “Liên bang Đông Dương”. Kẻ gây ra họa diệt chủng lại vu cáo cho những người cứu người Campuchia khỏi họa diệt chủng.

Lần thứ năm là chiến tranh biên giới năm 1979. Năm lần họ buôn bán trên lưng mình.

HỮU LONG (PHÁP LUẬT TPHCM)

Dưới con mắt của các nhà quan sát quốc tế hiện nay thì Vatican là đầu não của chủ nghĩa đế quốc tinh thần (Spiritual Imperialism) giống như con bạch tuộc có nhiều vòi. Mỗi giáo hội Công Giáo tại mỗi quốc gia là một cái vòi của nó.

Ký giả Paul Hofman của New York Times, tờ nhật báo lớn nhất thế giới, đã định cư tại Rome từ năm 1938 và làm việc tại đây liên tục trong 35 năm liền với tư cách ký giả chuyên nghiệp kiêm điệp viên quốc tế. Ông trở thành “bạn thân” của hầu hết các giới chức cao cấp tại Vatican qua các triều đại giáo hoàng từ Pio XII (38-39) cho đến đương kim giáo hoàng John Paul II. Giới ký giả quốc tế gọi ông là “The Vatican Watcher” hoặc “The Vatican Insider” có nghĩa là điệp viên nằm vùng tại Vatican . Ông viết nhiều tác phẩm giá trị về Vatican như “Rome: The Sweet Temptuous Life”, “O Vatican, A Slight Wicked View of The Holy See” và tác phẩm độc đáo mang tựa đề La Tinh “Octopus Dei” có nghĩa là “Con Bạch Tuộc của Đức Chúa Trời”.

Qua các tác phẩm của ông, người đọc được biết rất nhiều chuyện thuộc loại thâm cung bí sử của Vatican . Ở đây chúng tôi xin tổng hợp các tác phẩm trên của ông và chỉ thuật lại mấy nét điển hình về quốc gia đô thị (State City ) có một không hai này của thế giới.

– Về phương diện thần quyền, Vatican là thủ đô của một đế quốc tinh thần bao gồm gần một tỷ thần dân là các tín đồ Công Giáo La Mã rải rác khắp năm châu. Giáo hoàng là hoàng đế, các hồng y là hoàng tử, 4000 giám mục là các cán bộ cao cấp, 400.000 cán bộ hạ tầng cơ sở được mệnh danh là “linh mục”, tương đương với cấp “manager” trong các đại công ty. Ngoài ra, Vatican còn có một đội ngũ gồm 1 triệu nữ tu, phần đông hành nghề dạy học, y tá và sản xuất các mặt hàng tiểu công nghệ.

– Về phương diện thế quyền, Vatican là một tiểu quốc, giáo hoàng là quốc trưởng với 450 cư dân, tuy nhiên chỉ có 280 cư dân mang quốc tịch Vatican mà thôi. Vatican là lãnh thổ quốc gia nhỏ nhất thế giới, diện tích vỏn vẹn 44 hectares (bằng 1/6 Monaco) nhưng có quốc kỳ, quốc ca riêng biệt và có liên hệ ngoại giao trên cấp bậc đại sứ với hầu hết các quốc gia trên thế giới. Tổng số các nhân viên phục vụ thường xuyên cho Vatican gồm có 4500 người sống rải rác chung quanh Rome (quét đường, cắt cỏ, xây cất sửa chữa lầu đài dinh thự…). Vatican cung cấp lợi tức cho 3 triệu dân Rome qua ngành du lịch của khách hành hương, ngành sản xuất các ảnh tượng và các dụng cụ làm lễ của tu sĩ. Nếu vì lý do nào đó Vatican bị sụp đổ, hậu quả trước mắt là 3 triệu dân Rome sẽ bị thất nghiệp!

Vatican là sở hữu chủ của một tài sản khổng lồ lên tới nhiều ngàn tỷ đô la. Tại Ý, Vatican là địa chủ lớn nhất. Cho nên Vatican khó có thể chui lọt qua cổng Thiên Đàng vì Chúa đã phán “Kẻ giàu vào nước Thiên Đàng còn khó hơn lạc đà chui qua lỗ kim”. Vatican City có 50 cung điện gồm 1000 phòng có máy lạnh, 977 cầu thang, 12.000 cửa sổ, 5 nhà thờ lớn và 11 viện bảo tàng, một tiệm thuốc tây, một ty bưu điện, 2 phi trường, 350 mét đường xe lửa và một đài phát thanh cổ nhất thế giới.

Mỗi hồng y được cấp một xe limousine màu xanh đậm, mỗi tháng được lãnh pay-check 1500 đô la và được chính phủ Ý miễn các thứ thuế.

Giáo hoàng có phi cơ phản lực riêng để đi xa. Muốn đi gần, ngài chỉ cần nhấc phone là không lực Ý phái trực thăng tới liền.

Văn phòng làm việc của giáo hoàng ngày nay là lâu đài Apostolic (Lâu Đài Tông Đồ) được xây cách đây một ngàn năm. Trong những thế kỷ đầu sau Công nguyên, Kitô Giáo không có giáo hoàng và chính thánh Phêrô cũng chẳng được làm giáo hòang ngày nào. Ngài có vợ có con và rất nghèo, không có nỗi một chỉ vàng làm nhẫn cho tín đồ hôn tay. Tính ngài vốn bình dân vì ngài cả đời chỉ chuyên đánh cá trên hồ Galilee nên không muốn mọi người cúi chào mình. Sách Tông Đồ Công Vụ thuật chuyện: Một hôm Phêrô đến nhà Cornelius, chủ nhà quì mọp xuống tỏ vẻ kính trọng. Phêrô nâng chủ nhà dậy và nói: “Hãy đứng dậy, tôi chỉ là người thường thôi” (Stand up, I myself am a man – Act 10: 25-26).

Công trường Thánh Phêrô là một công trường quốc tế. Đây là nơi hành hương mà hàng tỷ người mong ước được đến đó một lần trong đời chỉ để quì gối xuống sân đá đón nhận phép lành tòa thánh của giáo hoàng giơ tay lên ban xuống từ khung cửa sổ tòa lâu đài Apostolic! Đây là những show được trình diễn quanh năm. Không có một tôn giáo nào trên thế giới có thể có được những show độc đáo và thường xuyên như vậy. Ký giả Paul Hofman cho biết những show này đều được dàn dựng để trình diễn (tailor-made show for video) nhằm mục đích làm nổi bật vai trò của “Người Khổng Lồ Ngồi Sau Cửa Sổ!”. Cũng từ cái cửa sổ này, giáo hoàng giống như con rùa lâu lâu lại thò đầu ra để công bố tín điều hoặc ban huấn thị cho toàn thể Hội Thánh. Từ hơn ngàn năm qua, các giáo hoàng đều tự cho mình là kẻ duy nhất trên hoàn cầu có thẩm quyền xác định hay phủ nhận mọi giá trị tinh thần tối hậu (Pope is the only one on earth to proclaim ultimate moral values).

Nhưng tất cả đều chỉ là những màn kịch. Người thực sự cai trị giáo hội không phải là giáo hoàng mà là CURIA tức “Văn phòng Điều khiển Giáo hội” gồm toàn những chuyên viên thuộc mọi lãnh vực. Những người điều khiển CURIA lại là những người dấu mặt (faceless) thuộc siêu quyền lực.

Các thành viên của CURIA đều là đàn ông. Vatican không chấp nhận cho đàn bà làm linh mục hoăc cho giữ một chức vụ nào trong Tòa Thánh. Lý do rất chính đáng là Chúa ngày xưa cũng chỉ chọn các thánh Tông đồ đều là đàn ông cả. Thật vậy, chẳng có một việc nào quan trọng của Chúa và của Hội Thánh có thể tin cậy mà giao cho cái đám đàn bà vô tích sự được !.

(Nhân tiện đang đề cập đến truyền thống kỳ thị phụ nữ của đạo Công giáo, tôi nhớ đến một số tín điều về Thiên Chúa Ba Ngôi nên xin phép quí độc giả bàn thêm ở đây mấy điều quan trọng là thậm chí ở trên trời, Ba Ngôi Thiên Chúa của đạo Ki tô (Christian God = Trinity God) cũng đều là đàn ông cả : Chúa Cha mũi lõ mắt xanh râu xồm, vừa tàn bạo vừa lắm điều và thường hay dùng ngón tay chỉ chỏ. Chúa Con Ngôi Hai nửa người nửa thần linh, mặt mũi đẹp giai trung bình nhưng nhờ khá to con khoẻ mạnh khéo nói nên được quý bà quý cô ngày xưa đi theo khá đông. Ngôi Hai Thiên Chúa cao 1 mét 82, nặng 79 kí lô. Các chi tiết này được ghi nhận trên giấy trắng mực đen theo kết quả giảo nghiệm của phái đoàn quốc tế điều tra về Tấm Vải Liệm ở Turin tháng 10 – 1978 . Còn về phần Đức Chúa Thánh Thần là Ông Xã của Đức Mẹ Maria thì cũng chính là Đức Chúa Jesus vì Ba Ngôi cũng là Một Đức Chúa Trời mà chớ!.Ai dám bảo Chúa Jesus không phải là chính Đức Chúa Thánh Thần (Ông Xã của Đức Mẹ) thì kẻ ấy là rối đạo vì nó không tin Chúa Jesus là Thiên Chúa thật. Nó đáng bị đưa lên dàn hỏa mà đền tội ở đời này và còn bị sa hỏa ngục đời đời chẳng cùng.

Kẻ nào không tin Đức Chúa Thánh Thần là con cháu vua David thì tức là kẻ đó đã phủ nhận Chúa Jesus là Đấng Cứu Thế vì Chúa Cứu Thế phải là người thuộc dòng dõi vua David. Kinh Thánh không kể về gia phả của Đức Mẹ mà chỉ kể về gia phả của Thánh Giuse thuộc dòng dõi vua David, nhờ có chút hạt giống truyền đời của David với bà Bethsabe (mối tình tội lỗi) nên Chúa Giêsu mới được coi là Chúa Cứu Thế đúng như Cựu Ước đã tiên tri. Như vậy Thánh Giuse là cha ruột của Chúa Giêsu và Đức Mẹ không thể là bạn thanh sạch của Người. Kinh Thánh không có chỗ nào xác định ông Joachim và bà Anna , tức cha mẹ của Mẹ Maria và là ông bà ngoại của Jesus, thuộc dòng dõi vua David cả. Ai biết xin chỉ dùm, tôi xin hậu tạ và cám ơn.

Trở lại với ông ký giả Hofman, theo thống kê thì Vatican có khoảng 900 triệu tín đồ, nhưng trên thực tế số tín đồ Công Giáo La Mã hiện nay thực ra chỉ còn vài trăm triệu thôi. Giáo dân tại các nước giàu có như Mỹ, Anh, Pháp, Đức và các nước có trình độ văn hóa cao đều rất ghét Vatican và khinh bỉ giáo hoàng ra mặt. Chỉ những nước như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha (Philippines và Việt Nam – Ch. Ng.) trình độ giáo dân hãy còn thấp kém nên vẫn kính sợ giáo hoàng như xưa! Ngày nay, giáo hoàng đi đâu cũng sợ bị phản đối và ám sát nên phải chui vào xe bọc sắt với những tấm kiếng chắn đạn. Thực ra, chính giáo hoàng cũng không còn tin tưởng vào sự che chở quan phòng của Thiên Chúa nữa! Xe chắn đạn của giáo hoàng được gọi là “The Pope Mobile” hiệu Mercedes, kiểu station-wagon, mang bảng số viết tắt là SCV (Stato Citta del Vaticano). Người Pháp chế diễu đọc là “Si Christ Voyait-çà” (Ước gì Chúa Kitô nhìn thấy nó).

Vatican có một bệnh viện cổ nhất thế giới mang tên Gemelli Clinic được xây từ thời Phục Hưng. Năm 1981, Giáo Hoàng John Paul II bị thương trong một vụ ám sát hụt và được đưa vào điều trị tại bệnh viện này. Vì các trang bị quá cũ và không hợp vệ sinh, khiến giáo hoàng suýt được về với Chúa vì bị nhiễm trùng.

Phụ tá công việc cho giáo hoàng là Hội Đồng Hồng Y (The Sacred College) tương đương với thượng nghị viện. Các giám mục muốn trở thành hồng y phải có uy tín tương đương với các người được lãnh giải Nobel. Giám mục nào muốn vận động để được phong lên hồng y phải có khả năng vận động tương đương với các thượng nghị sĩ Hoa Kỳ. Các hồng y da trắng nắm hết các chức vụ quan trọng, các hồng y da đen có nhiệm vụ đi tới đi lui ở công trường Thánh Phêrô để du khách quay phim chụp ảnh.

Theo lý thuyết thần học Công giáo, các giáo hoàng là Đại diện của Chúa Kitô tại thế gian (Vicar of Christ) nên chức vụ giáo hoàng là do Thiên Chúa chọn lựa. Trong thực tế, các giáo hoàng cũng chịu chung số phận như các vua chúa thế gian: “càng cao danh vọng, càng nhiều gian nan!”.

Vatican không phải đã được thành lập từ thuở ban đầu của đạo Kitô. Nó bắt đầu trở thành thủ phủ của giáo hội Công Giáo từ năm 378, tức là 53 năm sau khi Constantine lập ra đạo Công Giáo (năm 325) với giáo hoàng đầu tiên là Demasus. Trước năm 378 không có Giáo Hoàng mà chỉ có chức giám mục (bishop) là cao nhất trong Giáo Hội Ki Tô nguyên thủy (The Early Christianity). Hội Nghiên Cứu Thánh Kinh Ralph Woodrow California ghi nhận về điều này như sau : Chức Giáo Hoàng tiếng La tinh goi là Pontifex Maximus có nghĩa là Đấng Tối Cao của Hội Thánh (Head of Church) . Sau khi lập đạo Công giáo nguời ta bầu Hoàng Đế Constantine lên làm Giáo Hoàng nhưng Ngài không nhận. Các hoàng đế kế tiếp cũng chẳng có ai chịu nhận chức này. Cho nên khắp nơi của Giáo hội chỉ có chức Giám mục là cao nhất. Trong ba thế kỷ đầu Công nguyên ở La Mã cũng chỉ có giám mục mà thôi (Bishop of Rome ) . Dần dần Giám mục ở Rome dùng mọi thủ đoạn thâu tóm quyền lực chính trị và tăng thêm uy thế. Cuối cùng, vào năm 378, Giám mục ở Rome là Demasus là người đầu tiên được bầu giữ chức Pontifex Maximus đứng đầu Hội Thánh Toàn Cầu từ đó. (Babylon Mystery Religion p. 72)

Vatican cũng chẳng phải là giáo đô thường trực của Giáo hội. Năm 1309, vua Pháp Philip IV tấn công Rome và bắt cóc giáo hoàng đem về giam tại Avignon thuộc tỉnh Provence miền Nam nước Pháp. Trong 68 năm, từ 1309 đến 1377, Avignon trở thành thủ đô chính thức của giáo hội Công Giáo. Các giáo hoàng được bổ nhiệm hay bị truất phế đều do vua Pháp quyết định chứ không do Hội Đồng Hồng Y bầu ra dưới sự soi sáng của Đức Chúa Thánh Thần .

Ngoài các sách của giới ký giả chuyên săn tin tòa thánh, còn có nhiều nhà nghiên cứu sưu tầm sử liệu công phu giúp chúng ta tìm hiểu về các Giáo Hoàng La Mã một cách đầy đủ, không sót một ai. Một trong những sách thuộc loại này thiết tưởng không gì hơn là tác phẩm Giáo Hoàng Bách Khoa Tự Điển (The Pope Encyclopedia của Matthew Bunson, Crown Trade Paperbacks NY-1995). Tác giả đã dầy công sưu tầm tài liệu trực tiếp trong các kệ tủ niên giám của Vatican để hoàn thành tác phẩm này. Theo lịch sử giáo hội Công Giáo La Mã, tổng cộng cả thảy có 263 giáo hoàng (tính đến năm 2001).

Trên phương diện giáo lý Công Giáo, giáo hoàng là vị đại diện của Chúa Kitô và những quyết định của Ngài về các vấn đề tín lý và giáo lý là những điều rất quan trọng cho phần hồn của gần một tỷ tín đồ trên thế giới nên Thiên Chúa không thể để cho Ngài có thể sai lầm. Công đồng Vatican I năm 1870 (Vatican Council of 1870) đã đưa điều này lên thành tín điều được gọi là “Tín điều giáo hoàng bất khả ngộ”* (The dogma of Papal infallibility). Theo nhận định của Hội Nghiên Cứu Thánh Kinh Ralph Woodrow California thì nếu đứng trên phương diện lịch sử khách quan, chúng ta sẽ nhận thấy có nhiều giáo hoàng bất xứng vì họ đã sống hoàn toàn vô đạo đức, thậm chí có nhiều giáo hoàng đã ám hại nhau để cướp ngôi. Hiệp Hội này viết rất xác đáng như sau : “Những sự bất đồng gay gắt giữa các giáo hoàng chắc chắn đã phản bác ý tưởng cho rằng giáo hoàng không thể sai lầm!” (Such sharp disagreement between popes certainly argues against the idea of papal infallibility – Babylon Mystery Religion, p.93).

Cũng theo nhận định của Hiệp Hội này, Vatican là “cái lò chuyên sản xuất các thánh lớn nhất thế giới”. Thuở xa xưa người Babylon đã sản xuất tới 5000 thánh mà cũng không cứu được đế quốc Babylon khỏi bị hủy diệt hoàn toàn (Babylon Mystery Religion p. 24.). Điều khôi hài là ngày nay Vatican suy tôn nhiều vị thánh đã được phong từ xa xưa làm thánh quan thầy (patron) cho nhiều phát minh hiện đại như : St.Cominic quan thầy ngành không gian, St. Matthew quan thầy các chủ nhà băng, St. Fiace quan thầy những người lái taxi, St. John Bosco quan thầy các nhà xuất bản (như Giao Điểm chẳng hạn) , St. Dorothy quan thầy các tiệm bán hoa và áo đám cưới, St. Gemma Galgani quan thầy các chủ tiệm thuốc pharmacy v.. v.. (p.25)

Trở lại với “Giáo Hoàng Bách Khoa Tự điển”, (The Pope Encyclopedia) chúng ta điểm qua tiểu sử của một số giáo hoàng tiêu biểu:

– Baby Pope: John XII. Lên ngôi giáo hoàng năm 18 tuổi, cai trị Hội Thánh Công Giáo 9 năm (955-964).

– Giáo Hoàng Mặt Heo (Bucca Porci): Năm 909, một tu sĩ được bầu lên làm giáo hoàng lấy hiệu là Sergius IV. Trước khi làm giáo hoàng, y tằng tịu với cô gái 15 tuổi tên là Mezozia, sinh ra đứa con trai tên Alberic. Sau khi làm giáo hoàng, y gian díu với rất nhiều đàn bà con gái khác nên được mọi người tặng cho cái danh hiệu là “Giáo Hoàng Mặt Heo” (Bucca Porci). Giáo Hoàng Sergius IV dùng quyền lực của mình đã đưa Alberic lên làm hoàng đế cai trị La Mã. Alberic về sau cũng hoang dâm như cha và có rất nhiều con hoang. Năm 955, bạo chúa Alberic đã ép Vatican phải chấp nhận cho một đứa con hoang của y mới 18 tuổi lên ngôi giáo hoàng. Đó chính là Giáo Hoàng John XII nói trên. Như vậy, trong lịch sử giáo hội La Mã đã có hai ông cháu đều làm giáo hoàng! Cả hai giáo hoàng này đều nổi tiếng về tính dâm dục. Năm 962, dân La Mã nổi lên chống Giáo Hoàng John XII. Giáo hoàng bèn kêu cứu vua nước Đức là Otto the Great mang quân sang Ý đàn áp dân chúng. Cuộc đàn áp hết sức dã man đã tiêu diệt mọi sức chống cự của quần chúng. John XII chẳng những vẫn duy trì được ngôi giáo hoàng mà còn được Otto the Great phong làm hoàng đế La Mã nữa. Tháng 2 năm 964, Otto the Great truất phế John XII để đưa người thân tín của y lên làm giáo hoàng lấy hiệu là Leo VIII. John XII sợ bị giết đã rời bỏ Vatican trốn đi biệt tích.

– Hai Giáo Hoàng XXIII: Trong lịch sử giáo hội Công Giáo có hai giáo hoàng cùng lấy hiệu là John XXIII:

* Người thứ nhất là Baldassare Cossa sinh tại Naples năm 1378. Năm 1410, Cossa được phong chức giáo hoàng. Ít lâu sau người ta phát giác Baldassare Cossa có nhiều vợ và đã đầu độc giáo hoàng tiền nhiệm là Alexander để cướp ngôi. Do đó, hội đồng hồng y họp tại Constance năm 1414 đã xác định John XXIII (tức Cossa) là giáo hoàng giả (antipope) và truất phế y. Cuối cùng John XIII giả bị giáng chức xuống làm giám mục ở Tusculum, chết tại Florence năm 1419.

* Người thứ hai lấy hiệu John XIII là hồng y Roncalli, lên ngôi giáo hoàng năm 1953, qua đời năm 1963. Đó chính là vị giáo hoàng đã khai sinh Công Đồng Vatican II. Chúng ta sẽ tìm hiểu thêm một số chuyện về Ngài trong chương sau.

– Giáo hoàng kiêm bạo chúa La Mã: Alexander VI (1492-1503 ) tên thật là Rodrigo Borgia, đã không do hội đồng hồng y bầu lên mà do cậu ruột là Giáo Hoàng Callistus III truyền ngôi cho. Lúc lên làm giáo hoàng, Rodrigo đã có vợ là nữ quí tộc Vannozza và có 4 con với bà này. Các con của y đều đã trưởng thành. Giáo Hoàng Alexander VI phong cho đứa con trai thứ hai chính thức của y và 5 đứa con hoang chức vụ hồng y. Sau khi ở ngôi giáo hoàng được 5 năm, tức vào năm 1497, y muốn truyền ngôi giáo hoàng cho đứa con trai lớn tên là Juan. Phe chống đối đã bí mật giết chết Juan và ném xác xuống sông Tiber . Giáo Hoàng Alexander VI nghi cho phe quí tộc đã ám hại con mình nên đã khởi động một cuộc khủng bố đẫm máu chống giới quí tộc La Mã.

Trong 11 năm làm giáo hoàng kiêm bạo chúa La Mã, Alexander VI đã gây quá nhiều thù oán nên đã bị đầu độc chết ngày 18.8.1503. Tuy nhiên, giáo hoàng này đã hoàn thành một công trình kiến trúc để đời, đó chính là Đền Thánh Phêrô tại Vatican ngày nay. Trước khi chết vào năm 1503, Alexander VI đã coi thế giới như của riêng mình nên chia ra làm hai : Một nửa thế giới phương Tây giao cho Tây Ban Nha độc quyền đi chinh phục. Một nửa thế giới về phương Đông, trong đó có Việt Nam, do Bồ Đào Nha nắm độc quyền khai thác. Đầu thế kỷ 16 Phanxico Xavie là người Tây Ban Nha và đầu thế kỷ 17 cố đạo Đắc Lộ là người Pháp muốn giảng đạo tại Á châu đều phải xin phép Hoàng gia Bồ Đào Nha.

– Giáo hoàng bị Napoléon cách chức: Năm 1808, Napoléon mang đại quân đánh chiếm Rome và Vatican, bắt Giáo Hoàng Pio VIII giải về Paris tống giam. Sau khi Napoléon bị bại trận tại Waterloo, Giáo Hoàng Pio VIII được phóng thích nhưng chỉ được giữ chức hồng y. Cuối cùng y bị đầu độc chết năm 1830.

– Các giáo hòang của chủ nghĩa thực dân và bạo lực:

* Leo XIII là một học giả uyên thâm cai trị giáo hội 25 năm (1878-1903). Trong thời đại của Ngài, chủ nghĩa thực dân Âu Châu đạt tới đỉnh cao của công cuộc xâm chiếm thuộc địa rộng khắp thế giới. Leo XIII đã khôn khéo lợi dụng sự kiện các nước thực dân, hầu hết đều là những nước Công giáo ở Âu Châu, để dựa vào đó phát triển thêm rất nhiều địa phận Công giáo ở Á Châu, nhất là tại Ấn Độ và Phi Châu. Riêng tại Mỹ Châu , Vatican có thêm 28 giáo phận mới.

Leo XIII là người đầu tiên lên án chủ nghĩa Cộng Sản khi chủ nghĩa này mới nhú lên ở Âu Châu. Ngài cũng là người đầu tiên xây dựng các Phong Trào Thanh Niên Công Giáo Vũ Trang tạo thành bạo lực phản công để chống lại các lực lượng chống Công Giáo. Điển hình là các Lực Lượng Thanh Niên Công Giáo Đức đã thành công trong việc đấu tranh chống lại Phong Trào Bài Công Giáo do Thủ Tướng Bismark chủ trương vào cuối thế kỷ 19. Kết quả Thủ Tướng Bismark đã bị buộc phải từ chức ngày 18.3.1890. Tuy nhiên, ác giả ác báo, GH Leo XIII đã bị bí mật đầu độc chết sau đó !.

Noi gương Leo XIII là Pio X (1903-1914). Ngài cương quyết chống lại mọi đề nghị canh tân giáo hội và chủ trương chống lại mọi kẻ thù của giáo hội bằng bạo lực. Pio X thành lập tổ chức mệnh danh là “Công Giáo Hành Động” (Catholic Action) và võ trang cho những tổ chức này thành những lực lượng quân sự. Một ngày trước khi Đệ Nhất Thế Chiến bùng nổ, tức 20.8.1914. Pio X bị đầu độc chết. Ngài được Pio XII phong thánh ngày 29.5.1954.

– Đương kim Giáo Hoàng Jean Paul II và cái chết mờ ám của Giáo Hoàng Jean Paul I tiền nhiệm.

Ngoài cuốn tự điển Bách Khoa về Giáo Hoàng, hiện nay có rất nhiều sách best-sellers nói về Vatican và giáo hoàng. Trong số đó phải kể đến tác phẩm IN GOD’S NAME (Nhân Danh Chúa) của David Yallop, Bantam Books, NY xuất bản năm 1984.

John Paul I được bầu làm giáo hoàng vào tháng 8 năm 1978 lúc Ngài 65 tuổi. Ngài là vị giáo hoàng đần tiên lấy danh hiệu bằng hai tên thánh John Paul. Ngài luôn luôn tươi cười vui vẻ nên được giới ký giả quốc tế tặng danh hiệu là Đức Giáo Hoàng Di Lặc Công Giáo (Smiling Buddha Pope). Ngài bị đầu độc chết sau khi uống một ly cà phê vào lúc 11 giờ tối 28.9.1978. Người mưu sát Ngài là Hồng Y Jean Villot, quản nhiệm địa phận Lyon (Pháp), lúc đó làm Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh (tương đương thủ tướng). Hồng Y Jean Villot là hội viên Tam Điểm (Free Masonry) bí danh Jeanni, được kết nạp tại Zurich ngày 6.8.1976, đứng đầu “Đại Tổ Vatican ” (The Great Vatican Lodge). Trước khi gia nhập Tam Điểm, Hồng Y Jean Villot đã nắm trọn guồng máy hành chánh của triều đình Vatican từ năm 1962. Dưới quyền Jean Villot có 121 cán bộ nằm vùng nắm giữ nhiều chức vụ quan trọng trong các cơ quan của Tòa Thánh. Tháng 3.1979, Jean Villot qua đời. Đương kim Giáo Hoàng Jean Paul II bổ nhiệm đàn em thân tín của Jean Villot, một trong số 121 cán bộ Tam Điểm, là Hồng Y Casaroli đảm nhiệm chức vụ Quốc Vụ Khanh từ tháng 3.1979. Tất nhiên, GH Jean Paul II biết hết mọi chuyện bí mật của Jean Villot và phải là người trong nhóm bí mật của siêu quyền lực dấu mặt mới có thể được cất nhắc lên ngôi vị giáo hoàng như hiện nay.

– Nữ Giáo Hoàng Joan. Tiểu sử của nữ giáo hoàng này đã trở thành một huyền thoại rất nổi tiếng tại các nước Âu Châu trong hơn ngàn năm qua. Bà là một phụ nữ lanh lợi tài hoa, ham mê hoạt động và có tham vọng khuynh đảo thế giới. Từ lúc còn nhỏ, bà cải trang thành con trai và xin vào tu tại dòng tu nam giới. Sau bà trở thành một tu sĩ rất nổi danh về sự thông thái và tài hùng biện. Năm 855, bà được hội đồng hồng y bầu lên ngôi giáo hoàng. Sau khi cai trị hội thánh được hai năm bảy tháng, giáo hoàng hạ sinh một đứa con trong đám rước kiệu từ đền Thánh Phêrô đến Lateran. Do đó giáo hoàng bị phát giác là đàn bà giả trai. Ngay lập tức nữ giáo hoàng bị dân chúng nổi giận lột hết quần áo và bị đưa tới công trường Colosseum để dân chúng ném đá đến chết. Tại kho văn khố của Vatican hiện còn lưu trữ nhiều bài diễn văn nổi tiếng của Nữ Giáo Hoàng Joan. Bà là người đầu tiên tuyên bố “Giáo Hoàng là người thừa kế của Thánh Phêrô” (The Pope is the successor of St. Peter). Tiểu sử của bà được thuật lại đầy đủ trong các sách của các sử gia Petrarch và Boccacio. Tự Điển Bách Khoa Công Giáo (The Catholic Encyclopedia) xác nhận: “Trong các thế kỷ 14 và 15, nữ giáo hoàng được coi là một nhân vật lịch sử, sự hiện diện của bà là điều không thể ai có thể nghi ngờ” (In the fourteenth and fifteenth centuries, this popes was already counted as a historical personage, whose existence no one doubted).

– Các giáo hoàng dâm loạn. Tác phẩm Babylon Mystery Religion của Hội Nghiên Cứu Thánh Kinh Ralph Woodrow (California) xuất bản năm 1966, tái bản năm 1990, nơi các trang 88-90 có liệt kê nhiều tên giáo hoàng dâm loạn đến mức không thể tưởng tượng được!

* Trong thế kỷ 15, tại Công Đồng Constance (Council of Constance ), giáo hội Công Giáo có tới 3 giáo hoàng cùng một lúc. Các giáo hoàng này chửi rủa nhau và gọi nhau là quỉ hoặc là kẻ chống Chúa Kitô (antichrist), kẻ thù của Chúa và loài người… Đặc biệt họ đã tố cáo nhau về các tội dâm loạn, ngoại tình, loạn luân, đồng tính luyến ái (sodomy).

Giáo Hoàng John XXIII (1410-1415) bị hàng chục giám mục và rất nhiều nhân chứng tố cáo đã xâm phạm tiết hạnh ba trăm nữ tu và có một cung viện tại Bologne chứa trên hai trăm cô gái. Ngoài ra, John XXIII còn bị Công Đồng kết án về 54 tội đại hình khác!

Hồ sơ lưu trữ tại Vatican còn ghi nhận John XXIII thông dâm với em dâu, phá trinh nhiều cô gái, dụ dỗ nhiều phụ nữ có chồng và phạm đủ loại tội dâm dục. Công Đồng gọi y là “con quỉ hóa thân” (The Devil Incarnate – Sacrorum Consilioritum Vol.27, p. 663).

– Pio II (1458-1464) và Paul II (1464-1471) là hai giáo hoàng kế tiếp nhau đều có cung viện (harems) chứa rất nhiều cung nữ.

– Giáo Hoàng Innocent VIII (1484-1492) thông dâm với nhiều phụ nữ và có 16 đứa con. Nhiều con của y được tổ chức đám cưới linh đình ngay tại Vatican (The Catholic Encyclopedia Vol.8, p.19).

– Giáo Hoàng Alexander VI (1492-1503) có vợ 5 con lúc còn làm hồng y. Sau khi lên ngôi giáo hoàng, y loạn luân với hai em gái và với con gái ruột tên Lucretta. Y có một đứa con với con gái ruột của mình! (History of the Reformation D’Aubigne P.11). Ngày 31.10.1501, Alexander VI tổ chức dạ hội với 50 cô gái thoát y. Giáo hoàng treo giải thưởng cho người đàn ông nào làm tình lâu nhất.

– Giáo Hoàng Paul III (1534-1549) lúc còn là hồng y đã có ba con trai, một con gái. Lúc lên ngôi giáo hoàng, y làm lễ rửa tội cho hai đứa cháu nội và ngoại. Giáo hoàng hay tin dị đoan và thường hỏi ý kiến các thầy bói.

– Giáo Hoàng X (1513-1521) đi tu năm 7 tuổi, được phong chức hồng y năm 13 tuổi và lên làm giáo hoàng lúc 38 tuổi. Y sống cuộc đời của một giáo hoàng hết sức xa hoa, thường xuyên tổ chức dạ vũ với những mục giải trí đắt giá và trụy lạc.

– Trong thời gian này, tu sĩ Martin Luther đến Rome để hành hương với ý tưởng rằng Rome là thành phố thánh thiện (a holy city). Không ngờ tu sĩ Luther đã được chứng kiến một bữa tiệc tại triều đình Vatican có 12 cô gái vũ thoát y. Tu sĩ Luther trở về Đức phát động phong trào chống đối Vatican và lập ra đạo Thệ Phản (Protestanism). Martin Luther tuyên bố: “Không ai có thể tưởng tượng nổi ở Rome đầy dẫy những hành động tội lỗi xấu xa. Người ta phải đến đó để nghe để thấy mới tin. Thật đúng như người ta vẫn thường nói: Nếu có một địa ngục thì Rome đã được xây dựng trên cái địa ngục đó!” (No one can imagine what sins and infamous actions are committed in Rome . They must be seen and heard to be believed. Thus they are in the habit of saying: If there is a hell, Rome is built over it!)

Dưới con mắt của các nhà quan sát quốc tế hiện nay thì Vatican là đầu não của chủ nghĩa đế quốc tinh thần (Spiritual Imperialism) giống như con bạch tuộc có nhiều vòi. Mỗi giáo hội Công Giáo tại mỗi quốc gia là một cái vòi của nó. Trong một thời gian không xa, cái đầu con bạch tuộc Vatican sẽ bị đập nát. Lúc đó, các cái vòi của nó trên khắp thế giới sẽ từ từ tiêu vong mà không cần phải diệt. Tuy nhiên tổ chức giáo hội Công Giáo còn để lại đằng sau một khối đông đảo tín đồ mê muội của nó. Vấn đề chính yếu không phải là dùng bạo lực tiêu diệt các tổ chức giáo hội địa phương mà là giáo dục tập thể quần chúng tín đồ, với lòng nhân ái bao dung thông cảm, để họ nhận biết sự thật về giáo hội đã lừa mị họ bấy lâu. Khi mọi nguời đều nhận thức được sự thật thì tà đạo Công giáo sẽ tự nhiên biến mất như cục nước đá đem phơi nắng giữa buổi trưa hè! Sự Thật là linh dược giải cứu tất cả chúng ta.

CHARLIE NGUYỄN (SACHHIEM.NET)

Download Uniblue DriverScanner 2013 full crack, tìm driver cho máy tính, tự động cập nhật driver, tư động tìm driver

Uniblue DriverScanner 2013 là phần mềm tự động quét các driver của hệ thống trên máy tính của bạn và kiểm tra xem nó đã lỗi thời hay chưa (so sánh nó với phiên bản mới nhất của nhà sản xuất).
Uniblue DriverScanner sẽ quét hết các driver của PC của bạn và kiểm tra chúng đối với thư viện toàn diện về các driver mới nhất, để cung cấp cho bạn một danh sách đầy đủ của tất cả những driver cần được cập nhật. Với các phiên bản driver mới hơn, có thể hỗ trợ máy chạy nhanh hơn, ổn định và ít lỗi hơn
Uniblue DriverScanner cũng sao lưu tất cả driver thành một thiết bị bên ngoài, có nghĩa là lần sau khi bạn cài đặt lại hệ thống của bạn, bạn có thể tải lên tất cả driver mới nhất. mà không cần phải chạy lại bản cập nhật

 

Các tính năng chính:

  • Cập nhật các trình điều khiển mới nhất
  • Tải về trình điều khiển một nhanh chóng và đáng tin cậy từ địa điểm trung tâmGiữ điểm khôi phục lại cho mỗi lần cập nhật trình điều khiển để an toàn tối đa
  • Cài đặt mỗi trình điều khiển mới một cách nhanh chóng và dễ dàng
  • Thưởng thức một giao diện thanh lịch nhưng đơn giản để sử dụngCập nhật trình điều khiển cho hệ thống 32 hoặc 64-bit chạy Windows XP, Windows Vista hoặc Windows 7

Download và cài đặt:


– File cài đặt được đính kèm bên dưới
– Key: DS-FGDVT-FUQNK-AMEFW-2U9ZL-N76S5-TNYLV

 

Tải file cài đặt tại đây.

DK1 23 tuổi: Còn nhà giàn là còn biển

TT – Ngày 5-7-2012 là ngày kỷ niệm 23 năm thành lập cụm nhà giàn DK1. “Sinh nhật” nhưng mọi sinh hoạt của các cán bộ, chiến sĩ tại nhà giàn cũng như ban chỉ huy vẫn diễn ra bình thường.

Đoàn đại biểu TP.HCM đến thăm cán bộ, chiến sĩ trên nhà giàn DK1/15 vào tháng 4-2012 – Ảnh: MINH ĐỨC

“Vì là năm lẻ mà” – thiếu tá Nghiêm Xuân Thái, chính trị viên phó tiểu đoàn DK1, cười nói khi tiếp đoàn đại diện báo Tuổi Trẻ đến thăm hỏi, chúc mừng.

Món quà lần này báo Tuổi Trẻ đại diện bạn đọc ở đất liền mang đến DK1 là những chiếc tủ đông. Trong đợt thăm nhà giàn gần nhất vào tháng 5-2012, các chiến sĩ nhà giàn đã thổ lộ mong muốn có được chiếc tủ đông để trữ thức ăn tươi, sau khi những tấm pin mặt trời đã cung cấp đủ điện cho các sinh hoạt thường ngày.

“Trước khi có chương trình Thắp sáng nhà giàn của Tuổi Trẻ, chúng tôi thật là trăm bề khổ” – trung tá Dương Thế Đường, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn DK1, nhắc. Những câu chuyện cũ ùa về: những ngày không đủ điện, không ánh sáng, không phương tiện giải trí, để duy trì liên lạc có khi tàu phải chở máy phát điện đi từ nhà giàn này sang nhà giàn kia, lại có khi tàu đi rồi phải quay lại vì máy phát thiếu tay quay…

Chuyện như từ ngày xưa nhưng thật ra chỉ mới đây thôi, trước tháng 5-2009, trước sinh nhật lần thứ 20 của nhà giàn, trước khi Tuổi Trẻ phát động chương trình Chung tay thắp sáng nhà giàn DK1.

15 nhà giàn DK1, những căn nhà treo trên cọc thép đang lần lượt được sửa chữa, nâng cấp để tiếp tục trụ vững với nhiệm vụ làm cột mốc chủ quyền của Việt Nam giữa biển Đông. 23 năm, đã có chín cán bộ, chiến sĩ hi sinh khi bảo vệ nhà giàn và hàng trăm cán bộ, chiến sĩ khác vẫn đang ngày đêm bám trụ giữa nắng gió, mưa bão và những căng thẳng chính trị.

“Hôm rồi đổi quân, có nhiều anh em xung phong ở lại không về” – trung tá Đường kể trong câu chuyện. Hết chuyện cũ đến chuyện mới, không thể không nhắc về những bất ổn trên biển Đông những ngày gần đây, các sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn DK1 khẳng định: “Các chiến sĩ của chúng tôi trên nhà giàn coi như treo trên biển, chân không đạp đất nhưng đầu đội trời Việt Nam. Dù có việc gì xảy ra, chúng tôi không có chọn lựa nào khác ngoài việc bảo vệ nhà giàn, bảo vệ biển Việt Nam. Còn người là còn nhà giàn, còn nhà giàn là còn biển”.

Những khẳng định mạnh mẽ dường như đối lập với những thiếu thốn mà các chiến sĩ đã và vẫn đang phải kiên trì chịu đựng, khắc phục. Thiếu nước, thiếu điện, thiếu tiện nghi, thiếu tình cảm. Chỉ có sự hi sinh là dư thừa. Và vì vậy, càng biết rằng món quà nhỏ mà chúng tôi mang đến hôm nay thật nhỏ bé, càng biết rằng đất liền còn quá nhiều việc phải làm để góp phần gìn giữ biển Đông.

P.VŨ [Tuổi trẻ]