Tag Archive: CỦA


Nhiều người phê phán về bài phát biểu mềm mỏng của tướng Thanh nhưng không hề để ý tới agenda của hội nghị Shangri-la (và điều này sẽ tác động lớn đến thái độ thế giới nhìn vào VN và TQ).

Trong agenda ở trong ảnh, 2 bài phát biểu đầu tiên là của Nhật sau đó đến Mỹ. Chúng ta đều đã biết là 2 nước này phát biểu cứng rắn ra sao. Sau đó đến bài của tướng Thanh vào buổi chiều và bài của tướng TQ đến tận sang ngày hôm sau. 

 

Tiếp tục đọc

PHÁN VỀ PHÁN LUẬN CỦA OSIN HUY ĐỨC

Add một bạn, vớ ngay phải bài phán luận về luân chuyển cán bộ của Osin.Gần một nửa lổn nhổn trích ngang giáo trình hành chính công của Mẽo, gần một nửa nữa là tư liệu cũ mèm, vài dòng còn lại là phán luận.Beo chỉ tuyên giáo mấy dòng phán luận.Những chữ in nghiêng là của Osin Huy Đức

*** Tiếp tục đọc

Vừa mắt nhắm mắt mở bước vào ngày đầu tuần thì nhân được một “đơn đặt hàng” của độc giả có cái nickname khá rắc rối tan12ckt1980“Đề nghị bạn Thanh Tùng nghiên cứu và có bài viết phản bác lại cái này cho anh em nhé: Sự cùng quẫn của tờ báo Đảng- Blogger JB Nguyễn Hữu Vinh.”. Nhấn vào link thì gặp “bà buôn cải”, ngỡ đâu rằng anh chàng Ba sàm sau khi trang nhà mất thiêng nên lưu lạc sang đây đánh quả nhưng hóa ra không phải vậy. Đây là một anh chàng Nguyễn Hữu Vinh khác, xinh giai hơn và có cái “tai tồ” (title) JB gắn đằng trước tên chứ không phải “BS” như anh chàng kia. Thú thật trước giờ tôi chỉ thấy giới trẻ trên mạng hay vung vít 2 chữ “BJ” chứ “JB” thì tôi chẳng hiểu là gì cả, bạn nào biết thì giải thích giùm nhé! Đọc thêm một chút thì ngộ ra rằng JB này là một giáo dân đang đăng đàn hồ hởi chê bai, “vạch mặt” tờ báo Nhân dân. Tôi tự hỏi, báo Nhân dân là cơ quan ngôn luận của ĐCSVN, một trong những tờ báo lớn nhất Việt Nam với đội ngũ nhà báo dày dạn, bản lĩnh thì sao lại để hình ảnh của mình bị bôi xấu trên báo nước ngoài (dù rằng là loại báo “đâm bị thóc chọc bị gạo”) mà không phản ứng gì? sao bạn tan12ckt1980 không liên hệ với báo Nhân dân để nhắc nhở họ bảo vệ uy tín của mình mà lại “đặt hàng” tôi? Tuy nhiên đọc xong bài viết thì tôi cũng hiểu phần nào lý do: thứ nhất, bài viết đúng là thể hiện tư duy của một “con cừu” nên các nhà báo có lẽ chẳng thèm phản biện mà xem đó như câu chuyện hài làm quà mỗi dịp trà dư tửu hậu; thứ hai, “bà buôn cải” đăng bài bôi xấu báo khác nhưng thòng cái câu “Bài viết thể hiện quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả” để phủi trách nhiệm. Báo chí mà lẩn như lươn thế thì cần quái gì thằng biên tập nữa?

Thôi thì bạn đọc đã có lời, bài viết cũng đã mất công đọc, lại thêm món “lý luận của cừu” dường như vẫn còn thiếu trên blog này nên tôi sẽ cùng các bạn tìm hiểu xem “mùi vị” của nó thế nào.

Con chiên Vinh “văng miểng”

Chắc hẳn các bạn cũng như tôi đã từng nghe đến nhàm chán cái câu “Đại hội / kế hoạch / hội thảo / chiến dịch,.. đã thành công tốt đẹp”mà mấy cậu thư ký các cơ quan nhà nước “nhét vào mồm” các sếp?! Căn bệnh khoa trương thành tích của bộ máy hành chính có “công lao” không nhỏ từ các vị “quân sư quạt máy” này. Nhưng nếu các bạn mà xem qua bài viết của con chiên JB Nguyễn Hữu Vinh thì hẳn sẽ cười đến té ghế vì so với đẳng cấp “chém gió” của anh ấy, đám “quân sư” kia chỉ dám đứng đằng xa mà nhìn. Trong bản gốc tại blog của mình, anh ta viết về bản góp ý sửa đổi hiến pháp của hội đồng giám mục Việt Nam như sau:
“Như tiếng sấm giữa trời quang, bản văn của Hội Đồng Giám mục Việt Nam nhận định và góp ý vào bản Hiến pháp gửi tới Quốc hội đã làm rung chuyển nhiều thành phần trong xã hội. Không chỉ với người Công giáo Việt Nam, mà ngay cả với những công dân quan tâm đến tình hình đất nước, lo lắng cho tiền đồ dân tộc cảm thấy hân hoan, phấn khởi. Với bản văn mạch lạc, sáng suốt và đúng trọng tâm những gì đất nước này, dân tộc này đang cần để vượt qua bế tắc, tiến bước trên con đường phát triển. Trước đó, bản Kiến nghị của 72 nhân sĩ trí thức đã gây một tiếng vang lớn báo hiệu dân tộc Việt Nam đã có những dấu hiệu chuyển mình. Cơn chuyển mình vật vã, đau đớn để vượt qua sự sợ hãi vốn tạo thành thói quen của cả xã hội, thành phản xạ của mỗi công dân Việt Nam.”
Ôi, đẳng cấp cỡ này ngỡ đâu chỉ còn có ở đám rận vàng bên “mẫu quốc”, ngày đêm tung hô cho cái gọi là “quân lực VNCH vô địch” để tự ám thị mình dù đã chạy cách xa nửa vòng trái đất khỏi quê hương và gần 40 năm kể từ tháng 4 hào hùng năm 1975 ấy. Các bạn đọc của tôi, các bạn có thấy mình bị “rung chuyển” không vậy? Riêng tôi thì có, chỉ có điều là “rung rốn vì cười”!!! Có lẽ chúng ta nên tạm gọi anh chàng này là Vinh “văng miểng” để phân biệt với anh Vinh “sàm” kia.

Thế rồi, JB cho rằng uy lực của “tiếng sấm giữa trời quang” ấy đã khiến cho “nhà cầm quyền Hà Nội lúng túng và hoảng hốt”, dẫn đến những việc sử dụng “đòn bẩn”, “dựng chuyện và bịa đặt”, hệ thống truyền thông của Đảng và nhà nước, cụ thể là báo Nhân dân phải “cùng quẫn”. Ôi, nghe như thể vận mệnh chế độ đang đứng bên bờ vực của sự tồn vong vậy! Hãy xem những lý lẽ của con chiên này ra sao mà lại hùng hổ nổ nguyên băng hoành tráng đến thế.

Thực hư “những đòn bẩn”

“Đòn bẩn” thứ nhất, theo JB là “kéo dài thời gian góp ý đến cuối tháng 9/2013 thay vì kết thúc trong tháng Ba” vì “sau khi chi ‘hàng đống tiền dân’ từ ngân sách, nhà nước sẽ thu được một số lượng chữ ký áp đảo và coi như “đó là nguyện vọng nhân dân”. Trước giờ tôi chỉ biết rằng để có lợi thế thì người ta phải tổ chức trưng cầu ý kiến trong thời gian thật ngắn nhằm hạn chế những ý kiến chống đối (đêm dài lắm mộng!) chứ chẳng ai lại tự dưng kéo dài thời gian cho đối thủ nằm nghĩ ngợi thêm chiêu trò hay lôi kéo thêm nhiều người khác cả. “Chi ngân sách” thì cũng đã chi hầu hết trong 3 tháng đầu rồi, 6 tháng tiếp theo chỉ nằm chờ xem có thêm ý kiến nào khác thì bổ sung vào chứ liên quan gì đến việc “nhà nước sẽ thu một số lượng chữ ký áp đảo”? Người thông minh thì phải lợi dụng thời gian kéo dài này mà tuyên truyền ý tưởng của mình đến đông đảo người dân hơn nữa để lôi kéo thêm đồng minh về phía mình chứ sao lại than thở vì điều đó? Phải chăng khả năng càn quấy của JB và các đồng đạo chỉ đến vậy, để lâu sợ người ta phát hiện ra bản chất của mình hoặc“phong trào” sẽ “mất lửa”? Thật đúng là tư duy của cừu khác hẳn người thường!

“Đòn bẩn” thứ hai mà JB “tố” là “hệ thống tuyên truyền, truyền thông nhà nước còn ‘lôi đám nhân sĩ, trí thức’ ra ‘đánh hội đồng’ trước công luận nhưng lại không dám đưa ra cho người dân xem họ, những trí thức, nhân sỹ, đã thực sự nói gì?”. Câu này tự thân nó đã mâu thuẫn với nhau, chẳng khác nào bảo đưa 1 bị cáo ra trước tòa nhưng viện kiểm sát lại không cho người tham gia phiên tòa biết bị cáo đó bị truy tố vì tội gì. Tôi thậm chí đôi khi cũng bực với cái hệ thống tuyên truyền của nước mình, họ phản bác lại những luận điệu sai trái của đám “nhân sĩ trí thức” này nhưng chẳng “dám” nêu thẳng tên tuổi của họ ra mà chỉ “đánh” vào cái lý luận ngu ngơ của họ. Rõ là nhân đạo không phải lối! Đám “nhân sĩ trí thức” đó là những ai, nói những gì thì nhan nhản trên mạng, thậm chí họ là đối tượng được ưu ái trong blog Đôi mắt, chỉ khác cái là ở đây họ được gọi đúng với bản chất của họ, “rận sỹ chấy thức”.

Sau khi cho rằng chính quyền đã ra 2 “đòn bẩn”, con chiên này tiếp tục “tự sướng” về cộng đồng Ki tô giáo của anh ta: “Họ cũng thừa biết xưa nay, giáo dân Công giáo luôn đồng lòng, nhất trí với Hội đồng Giám mục một cách hầu như là tuyệt đối trong những vấn đề cơ bản đối với vận mệnh giáo hội và đất nước, vì con người. Do vậy, tiếng nói của Hội đồng luôn được sự ủng hộ to lớn. Chính vì thế, đánh vào khối này còn khó hơn ‘đục khối bê-tông’, càng đánh trực diện vào nó, càng khơi động tinh thần đoàn kết, hiệp thông. Điều đó đã được thử thách suốt mấy chục năm nay dưới chế độ Cộng sản nói riêng và suốt mấy trăm năm, qua nhiều thời kỳ lịch sử khốc liệt với giáo hội Công giáo. Do vậy, họ dùng nhiều chiêu trò khác tinh vi hơn nhưng cũng được cho là ‘bẩn thỉu’ hơn.”.
Đúng, trước giờ “giáo dân Công giáo luôn đồng lòng, nhất trí với Hội đồng Giám mục một cách hầu như là tuyệt đối”, đó là điều ai cũng biết. Thậm chí dùng từ “đồng lòng, nhất trí” là chưa thể hiện rõ mối quan hệ chặt chẽ giữa giáo dân và hội đồng giám mục, mà phải nói là “phục tùng, tuân thủ, cung cúc nghe lời”. Đàn cừu thì làm sao có chuyện “đồng lòng, nhất trí” với chủ chăn được?! Và người ta cũng biết rằng cái “Hội đồng giám mục” ấy lại phải “phục tùng, tuân thủ, cung cúc nghe lời” các thế lực khác ngoài lãnh thổ Việt Nam, cụ thể là tòa thánh Vatican. Nhưng đó là một câu chuyện khác mà tôi sẽ kể sau này nếu có dịp. Câu hỏi vui cho mọi người suy nghĩ là: tại sao những người đã tự nguyện làm cừu cho người khác chăn mà lại tích cực “đấu tranh” cho “nhân quyền” vậy?

Tự tin với cái “khối bê tông” của mình, JB cho rằng chính quyền và hệ thống truyền thông của họ phải sử dụng những chiêu “bẩn thỉu hơn” nhằm “đục thủng khối bê tông” ấy. Những “chiêu bẩn” đó là: dùng người của Phật Giáo, Ki tô giáo để tuyên truyền cho chính sách của Đảng và Nhà nước; đội lốt các trang web Phật giáo để chống Ki tô giáo.

Con chiên này nói rằng: “Nếu như có một Hòa Thượng Thích Quảng Độ không được nhà nước ưa thích, thì lập tức có một vị Hòa thượng Thích Thanh Tứ lên diễn đàn Quốc hội ‘mạt sát’ được truyền hình cho cả nước xem. Nếu nhà nước không thích Bát Nhã, lập tức có các “ông sư, phật tử” nơi khác được điều đến thi tài trấn áp buộc họ phải rời nơi cứ trú. Nếu nhà nước muốn các phật tử vâng lời đảng, giữ nguyên nội dung điều 4 của Hiến pháp 1992, duy trì sự cai trị của Đảng CSVN và kiên quyết xóa bỏ quyền tư hữu đất đai của người dân, lập tức có các nhà sư như Thượng Tọa Thích Đức Thiện và Thích Thanh Dũng lên truyền hình tuyên truyền hộ về công lao của Đảng và rằng “xác định quyền tư hữu đất đai là trái với tinh thần từ bi của Đức Phật và bác ái của Chúa Giêsu”.
Trong tay của Đảng, dường như có thể có đủ mọi quân bài và mọi thành phần nhằm thực hiện đầy đủ “sự lãnh đạo sáng suốt và tuyệt đối”.

Thật là buồn cười khi JB cho rằng việc nhà nước sử dụng những người trong tôn giáo để nói chuyện về những vấn đề liên quan đến giáo phái của mình là việc “bẩn thỉu”. Có lẽ đầu óc cừu nên nghĩ vậy. Là một con người thì phải biết đó là cách giải quyết hợp tình hợp lý nhất. Mọi người, dù là giáo dân Ki tô giáo, Hồi giáo, Phật giáo,.. nếu đang sống trên đất nước này, là người Việt Nam thì trước hết họ là những công dân của đất nước. Là công dân thì họ phải tôn trọng và tuân thủ pháp luật (có lẽ trừ những giáo dân như JB là tự cho mình cái quyền làm trái điều hiển nhiên đó). Vậy thì khi nhà nước cần triển khai chính sách, thực thi một công vụ nào đó có liên quan đến một tôn giáo, các vị chức sắc tôn giáo đứng ra làm cầu nối giữa chính quyền và giáo dân là cực kỳ hợp lý và hiệu quả. Có lẽ những giáo dân như JB cho rằng nhà nước phải dùng xe tăng và lưỡi lê như Ngô Đình Diệm xưa kia đàn áp Phật giáo thì mới là “chiêu sạch”?!

Tư duy con cừu

Mang theo cái tư duy ngược đời đó, Vinh “văng miểng” chụp mũ tất cả những người Ki tô giáo có những bài viết, phát biểu không theo ý mình trên báo đài là “giả mạo”, “dàn dựng”,… Chưa cần biết cáo buộc đó là đúng hay sai nhưng nếu là một người hiểu biết, nhất là người “nhân danh dân chủ” thì phải hiểu một điều cơ bản rằng: Ai nói, ai viết không quan trọng mà điều quan trọng là những gì người ta nói, người ta viết đấy là đúng hay sai. Giả sử bây giờ giáo hoàng Francis có nói với tôi rằng “JB Vinh thực sự là một con cừu” thì tôi vẫn bảo đó là sai vì anh ta rõ ràng là không có sừng, không có lông xù, không đi bằng 4 chân dù rằng có thể anh ta có tư duy của một con cừu (bài viết này gọi “con cừu”, “con chiên” là tôn trọng sở nguyện của JB). Nhưng xem ra đối với những người vẫn tin rằng “mặt trời quay quanh trái đất” thì điều đó là đòi hỏi quá sức. Bởi lẽ đó, anh ta sẵn sàng cho tất cả những điều người khác nói mà không hợp ý anh ta và chủ chăn của anh ta là “ngây ngô” nên“không phải mất thời giờ để bàn về chuyện liệu những người như tác giả bài viết này có trình độ về lý luận hoặc hiểu biết ra sao”. Một trong những điều “ngây ngô”như anh ta quan niệm là: Đơn cử, tác giả của bài báo được tờ báo Nhân Dân của Đảng trân trọng, viết những câu như: “Tôi không biết chủ nghĩa Mác – Lê-nin là chủ nghĩa vô thần”. Con chiên này cho rằng bất cứ ai không biết “chủ nghĩa Mác – Lê-nin là chủ nghĩa vô thần” thì đều là “ngây ngô”! Vậy tôi sẽ phân tích để xem kẻ nào mới thực sự là “ngây ngô”.

Cái điều “cộng sản vô thần” mà các giáo dân như JB mang ra hù dọa lẫn nhau thực chất là một trong những chiêu trò tâm lý chiến của Mỹ ngụy và Ki tô giáo nhồi nhét cho con chiên từ hàng chục năm trước để tạo ra sự đối lập giữa cộng sản và tôn giáo nhằm tách họ ra khỏi sự nghiệp giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam. Một người có suy nghĩ bình thường chí ít cũng phải đi tìm hiểu xem câu đó nghĩa là gì, đúng hay sai, từ đâu ra,.. chứ không nhắm mắt nghe theo mù quáng nhưng đàn cừu thì chỉ cần biết cứ chủ chăn nói ra thì là chân lý rồi. Một trong những lý lẽ mà những kẻ như JB hay rêu rao là Marx dạy rằng “tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân” để từ đó suy diễn ra “tôn giáo là tệ nạn cần dẹp bỏ như thuốc phiện”. Đây là câu được cắt xén (nghề của “chàng” mà!) từ Lời nói đầu cuốn “Góp phần phê phán triết học pháp quyền Hegel”. Nguyên văn Marx viết trong sách như sau:
“Sự nghèo nàn của tôn giáo vừa là biểu hiện của sự nghèo nàn hiện thực, vừa là sự phản kháng chống sự nghèo nàn hiện thực ấy. Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”.

Người có khả năng đọc hiểu sẽ dễ dàng hiểu rằng ở đây Marx muốn nhấn mạnh đến chức năng xã hội và tính 2 mặt của tôn giáo: là “thuốc giảm đau” trước những vấn đề bức bối của cuộc sống nghèo nàn và bị áp bức nhưng cũng là “chất gây nghiện” cho những người lạm dụng, khiến họ quên đi thực tại và cam chịu thay vì đấu tranh cho quyền lợi của mình. Như vậy, chính những kẻ lợi dụng tôn giáo để bịt mắt nhân dân nhằm phục vụ cho lợi ích của riêng mình mới chính là kẻ thù của tôn giáo đích thực, nhân quyền đích thực. Chủ nghĩa cộng sản (CNXH khoa học) như mọi ngành khoa học tiến bộ khác thì đều là “vô thần”, tức không tin hoặc không lấy yếu tố thần thánh siêu nhiên làm căn cứ cho nghiên cứu của mình, chứ không có nghĩa là “kẻ thù” của tôn giáo. Trong một đất nước thì có người theo đạo này, đạo kia và người không theo tôn giáo nào cả (lương dân). Vậy theo cái lý lẽ của con chiên JB thì những lương dân ấy, tức người “vô thần”, cũng là kẻ thù của tôn giáo à? Do đó, chỉ có những kẻ lợi dụng tôn giáo, sợ ánh sáng khoa học làm mọi người nhận ra bản chất của mình nên mới cuống quýt chụp mũ cho khoa học (CNXHKH, thuyết tiến hóa của Darwin,…) là kẻ thù của mình với ảo tưởng kêu gọi những cuộc thánh chiến vào thành trì của khoa học. Nhưng khổ nỗi, “thời oanh liệt” nay còn đâu!

CNCS của Marx là một ngành khoa học nghiên cứu về bản chất, sự vận động của kinh tế – chính trị và xã hội loài người, từ đó đưa ra đường lối, phương thức quản lý, xây dựng xã hội. Điều này là hiển nhiên đối với con người hiểu biết, dù đồng tình hay không với những quan điểm của Marx. Vậy mà con cừu (cứ cho là có hiểu biết) JB lại quan niệm rằng “trẻ con cũng không khỏi phải ‘bật cười’ về” nhận thức “chủ nghĩa Mác-lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ tư tưởng quản lý xã hội và đảng cầm quyền chỉ lấy tư tưởng quản lý xã hội chứ không “đóng khung” tư tưởng của người dân”. Thử hỏi “chế độ cộng sản vô thần” này có bắt các con chiên phải từ bỏ chủ chăn của mình để trở về làm con người “vô thần” không hay chỉ thấy các giáo dân (theo lệnh của chủ chăn) sử dụng hôn nhân để ép buộc người ngoại đạo gia nhập đạo mình, sử dụng tình cảm huyết thống để ngăn cản những người không theo ý chủ chăn? Vậy ai là kẻ thực sự “đóng khung tư tưởng” người dân?

Ai là giáo gian?

Trong bài viết của mình, Vinh “văng miểng” cáo buộc một số người là giả mạo giáo dân, do hệ thống truyền thông của nhà nước “dàn dựng” bằng những lời lẽ chung chung như “bị giáo dân ‘bóc mẽ’, sự bịa đặt bị phê phán là ‘trắng trợn nhớp nháp’ này đã bị ‘vạch trần’ trước muôn dân và dư luận quốc tế”, “gán ghép sượng sùng đã bị lật tẩy nhanh chóng sau đó”. Nếu chỉ tư duy một cách logic thì cũng hiểu rằng những giáo dân mà muốn lách ra khỏi những giáo lý và áp đặt của chủ chăn để thể hiện chính kiến của mình (khác với mong muốn của chủ chăn và những con chiên như JB) thì cũng phải chịu rất nhiều áp lực từ gia đình, công hội, đồng đạo (ngày xưa còn phải đối mặt với giàn thiêu nữa) nên họ phải bí mật là điểu đương nhiên. Nhưng khi có những người can đảm vượt qua những rào cản đó thì JB lại cho rằng họ là những kẻ “mạo danh” hoặc “đầu óc không bình thường”. Đó là 2 trường hợp gần đây nhất mà chúng ta sẽ xem xét ngay sau đây.

Trường hợp 1 – ông Nguyễn Quốc Hiếu: Vinh “văng miểng” viết rằng “Đài truyền hình dùng cách dựng ra một “Linh mục ở Bắc Ninh”. Màn kịch này nhanh chóng bị giáo dân ‘bóc mẽ’, sự bịa đặt bị phê phán là ‘trắng trợn nhớp nháp’ này đã bị ‘vạch trần’ trước muôn dân và dư luận quốc tế”.
Sự thực là thế nào?
Chương trình thời sự tối ngày 26 tháng 3 năm 2013 của đài truyền hình Trung ương VTV1 có đoạn phóng sự “Chức sắc tôn giáo góp ý sửa đổi Hiến Pháp 1992”, trong đó phỏng vấn ông Nguyễn Quốc Hiếu, với dòng chữ chú thích “Linh mục Nguyễn Quốc Hiếu, Chủ tịch Ủy ban đoàn kết Công giáo tỉnh Bắc Ninh”. Hai ngày sau, tòa giám mục Bắc Ninh ra thông báo xác nhận “Giáo phận Bắc Ninh Không Có Linh mục Nguyễn Quốc Hiếu”. Vậy là các con chiên dạng như JB vặn loa hết cỡ để lu loa với thiên hạ rằng “VTV dàn dựng linh mục ở Bắc Ninh”. Thiếu điều bắn pháo hoa ăn mừng vì “chiến tích” này! Nhưng bản chất sự việc có đúng như họ nói vậy không? Bất cứ ai ngoại đạo mà không có hứng thú tìm hiểu về ngóc ngách Ki tô giáo thì cũng chẳng để ý đến cha cố, cha xứ, linh mục, cha đạo, phó tế, giám mục,.. khác nhau thế nào. Do đó, việc ông Nguyễn Quốc Hiếu được chú thích là “linh mục” thì cũng có thể hiểu là do sự hiểu biết có hạn của nhân viên nhà đài về cơ cấu giáo hội, nhất là khi ông này có cái chức danh khá kêu “Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết công giáo tỉnh Bắc Ninh“. Chức danh này của ông Hiếu là thật và ông Hiếu cũng là một người theo Ki tô giáo nên không thể nói nhà đài “dựng” ông ấy lên.

Vậy “Ủy ban đoàn kết công giáo” là gì mà tại sao một người có chức danh như vậy lại bị con chiên JB và chủ chăn của mình “tẩy chay”? Ủy ban Đoàn kết Công giáo Việt Nam là một tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, có mục đích “đoàn kết rộng rãi mọi người Công giáo, cùng toàn dân xây dựng bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ hoà bình, được xác quyết theo tinh thần Thư chung 1980 của Hội đồng Giám mục Việt Nam “Sống Phúc âm giữa lòng dân tộc để phục vụ hạnh phúc của đồng bào” và nhiều Thư chung sau đó”, trong đó có những phong trào thi đua “Kính Chúa – yêu nước” và “sống tốt đời, đẹp đạo…“. Tiền thân của tổ chức này là Ủy ban Liên lạc những người Công giáo Việt Nam yêu Tổ quốc, Yêu hòa bình, gọi tắt là Ủy ban Liên lạc Công giáo toàn quốc, là tập hợp những người Công giáo “dám” chống lại sắc chỉ “không cộng tác với cộng sản” của Giáo hoàng Pio XII (1949) để cùng nhân dân Việt Nam kháng chiến chống Pháp (trong khi phần còn lại theo Pháp chống lại Việt Minh!). Trong kháng chiến chống Mỹ, tại miền Nam cũng có một tổ chức tương tự là Hội Những người Công giáo kính Chúa yêu nước, sát cánh cùng Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, chống lại ngụy quyền Việt Nam cộng hòa (một chính phủ mà chóp bu cũng toàn là con chiên của giáo hội La Mã). Ủy ban Đoàn kết tôn giáo Việt Nam hiện nay là tổ chức được hình thành dựa trên sự hợp nhất của 2 tổ chức công giáo yêu nước trên (1983).
Như vậy có thể hiểu được vì sao mà thành phần “chỉ yêu nước Chúa” như JB lại hằn học với những giáo dân chân chính “kính Chúa – yêu nước Việt”, rêu rao rằng Ủy ban Đoàn kết Công giáo là “cánh tay nối dài của Cộng sản” mà không thèm quan tâm đến việc quê cha đất tổ mình đã có từ ngàn đời trước khi “cánh tay nối dài của giáo hội La Mã” vươn đến đây. Miệng họ leo lẻo “cộng sản vô thần” nhưng cũng chính họ chụp mũ những người công giáo chân chính là “tay sai cộng sản”. Thật tình tôi không hiểu vì sao cái “chế độ cộng sản tàn bạo, vô thần” này lại cứ để cho những kẻ có truyền thống chống tổ quốc, hại nhân dân như vậy được yên ổn “hành nghề chống chế độ” như vậy? Thật là “tàn bạo” quá đi!

Trường hợp 2 – Ông Nguyễn Trọng Nghĩa: tác giả của bài viết Góp Ý Của Giáo Dân về Bản “Nhận Định Và Góp Ý Dự Thảo Sửa Đổi Hiến Pháp 1992 (Sửa Đổi Năm 2013) Của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam – Các Giám Mục Công Giáo Việt Nam”đăng trên sachhiem.net và được báo Nhân dân đăng lại với cái tên Nhiều điều chưa sáng trong một bản góp ý.
Sau khi đọc bài viết này của ông Nghĩa, con chiên “văng miểng” cho rằng “buộc phải nghi ngờ về sức khỏe tâm thần của ông” vì “trong đất nước Việt Nam này, hẳn không ai không biết (ngoại trừ những người cộng sản vô thần) rằng chưa có một giáo dân nào dám hỗn xược xưng “tôi” trước một linh mục chứ chưa nói đến với Giám mục hoặc Hội đồng Giám mục Việt Nam. Điều đó không chỉ là quy định, mà là sự tôn kính tối thiểu cần có đã thấm vào máu của mỗi giáo dân” (sic) và “ở Giáo hội Công giáo không có quan niệm hỗn mang kiểu “đồng chí cha, đồng chí con, đồng chí vợ, đồng chí chồng”. Bức thư phần đầu xưng “Tôi”, phần sau xưng “Con” như một sự ‘hoang tưởng’ của một người có đầu óc không bình thường”.
Đọc qua những dòng trên, quả thật tôi cũng “buộc phải nghi ngờ về sức khỏe tâm thần của” ông chiên JB, bởi lẽ anh ta đã “hoang tưởng” đến mức cho rằng “trong đất nước Việt Nam này, ngoại trừ những người cộng sản vô thần” thì ai cũng phải biết về lề lối xưng hô, tôn ti trật tự của giáo hội. Không biết Phật giáo, Cao Đài, Hồi giáo, Hòa Hảo,… có “huấn luyện” giáo dân của họ về điều đó hay không nhưng tôi thấy lương dân như tôi cũng không phải là ai cũng biết điều mà anh ta cho rằng “không ai không biết” ấy. Đương nhiên là trong giáo hội công giáo sẽ không có cái danh xưng“đồng chí cha, đồng chí con, đồng chí vợ, đồng chí chồng” mà chỉ có “cừu cha, cừu con, cừu vợ, cừu chồng” nên JB tỏ ra rất phấn khích khi đọc được chữ “tôi” trong bài viết của ông Nguyễn Trọng Nghĩa. Nếu chịu khó suy nghĩ và chịu khó hiểu thì chúng ta thấy rằng bài viết này chia làm 2 phần: phần trình bày ý kiến của ông Nghĩa về bản góp ý của Hội đồng giám mục gửi cho Sách hiếm nên xưng “tôi” và một phần gửi gắm tới các vị chức sắc giáo hội để giải thích cho hành vi “phạm thượng” này trong trường hợp họ đọc được bài viết nên xưng “con” (mục “Tại Sao Phải Góp Ý Bản Góp Ý Của Các Vị Giám Mục”).
Để củng cố giả thiết của mình, anh Vinh “văng miểng” mời thêm vài “diễn viên quần chúng” ra làm bình phong: “Người dân địa phương cho biết ông có hiện tượng đầu óc bị ‘man mát’, hay không bình thường về thần kinh, sức khỏe tâm thần. Gặp gỡ linh mục Chánh xứ, ông nội của ông Nghĩa đã than phiền về sự mâu thuẫn giữa ông Nghĩa với ông nội và cha mẹ ruột, người ông nội cũng cho hay đã không gặp gỡ và tỏ ra lo lắng cho ông Nghĩa về mặt nhân cách và đạo đức.”
rồi reo lên sung sướng:
“Thế có vẻ là đã quá rõ. Một người không còn giữ các lề luật Giáo hội, không tham gia, không còn liên hệ với giáo hội đã chục năm nay, bỗng nhiên được Báo Nhân Dân gọi là “Công dân theo Thiên Chúa giáo”?”

Thật là “cười rung cả rún” với con chiên “văng miểng” này. Tác giả bài viết tự xưng là“giáo dân giáo xứ Cao Lãnh”, báo Nhân dân đăng là “Công dân theo Thiên chúa giáo” thì có gì là sai mà con chiên JB cứ làm như thể tờ báo này tự ý gắn cái mác đó cho tác giả vậy. Giả sử cáo buộc của JB rằng ông Nghĩa đã “không còn giữ các lề luật Giáo hội, không tham gia, không còn liên hệ với giáo hội đã chục năm nay” là đúng thì không lẽ tờ báo này phải có trách nhiệm về Cao Lãnh để điều tra xem tác giả có phải là một giáo dân hay không thì mới được đăng bài? Không lẽ danh xưng “giáo dân” là một cái gì đó ghê gớm đến mức phải được xác minh trước khi ý kiến của họ được đưa ra cộng đồng? Ôi thế thì còn gì là “tự do ngôn luận” nữa!!!
Chưa hết, đến cả việc cho rằng ông Nghĩa “đã không còn liên hệ, không tuân phục những nguyên tắc, quy định” “nghĩa là anh đã tự đứng ra ngoài hàng ngũ công giáo” thì xem ra con chiên này đã tự ý tạo ra giáo luật cho riêng mình. Theo giáo luật của Giáo hội Ki-tô giáo La Mã hiện nay thì một giáo dân chỉ bị vạ tuyệt thông khi:

  1. Người bội giáo, lạc giáo hay ly giáo, sẽ bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết.
  2. Ai ném bỏ Bánh Thánh, lấy hoặc giữ với mục đích phạm thánh, bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.
  3. Người nào hành hung Đức Thánh Cha sẽ mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.
  4. Ai thi hành việc phá thai, và việc phá thai có kết quả, sẽ mắc vạ tuyệt thông tiền kết.
  5. Tư tế hành động ngược lại các quy định ở điều 977, sẽ bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.
  6. Linh mục giải tội nào vi phạm trực tiếp ấn bí tích, phải bị mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.
  7. Giám mục nào không có ủy nhiệm thư giáo hoàng mà phong chức giám mục cho người khác, cũng như người nào được thụ phong do giám mục ấy sẽ mắc vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh.

Vậy thì, với những gì mà JB kể lể, rõ ràng ông Nguyễn Trọng Nghĩa vẫn chưa từng bị rút phép thông công bởi giáo hội, hay nói cách khác là ông vẫn đang trong tình trạng“hiệp thông” với giáo hội. Còn tại sao ông Nghĩa không liên hệ với giáo hội hoặc mâu thuẫn với gia đình (nếu là thật) thì hoàn toàn dễ hiểu bởi những gì ông ấy đã làm, đã thể hiện (với khát khao không là một con chiên mù quáng) là trái với chủ trương“đóng khung tư tưởng cừu” của giáo hội. Mà trái với ý của những người nhân danh Chúa thì đương nhiên phải là những kẻ “đầu óc bị ‘man mát’, hay không bình thường về thần kinh, sức khỏe tâm thần” chứ còn gì!!! Nếu “bình thường” như các con chiên khác thì ông Nghĩa đã không có những câu hỏi “phạm thượng”, “móc họng” các bề trên thế này: Khi Đức Tin Bị Thử Thách Ta Phải Làm Gì? Vì không“bình thường” như các con chiên khác nên ông Nghĩa không thể an phận đờ đẫn vểnh tai mà nghe những giáo huấn thế này:

Trích tuyên ngôn chính thức của đạo Tin Lành tại Việt Nam.
1) “ Mọi giao ước mà các thế hệ trước của dân tộc Việt Nam đã lập với (quỉ – tqd) Sa-tan, từ nay đã bị hủy bỏ hoàn toàn. Amen”.
2) “Nhân danh Đức Chúa Giê-xu Christ, chúng tôi công bố: nước Việt Nam và mọi người Việt Nam, vốn là tài sản của Đức Chúa Trời, nay đã được dâng trả lại cho Ngài, tùy ý Ngài sử dụng cho vinh hiển của Ngài”.
3) “…với tư cách làm chức thầy tế lễ của Đức Chúa Trời, một dân thánh biệt riêng cho Ngài, ngay bây giờ hiệp làm một như một người, đại diện cho thân thể của Đấng Christ tại Việt Nam, đại diện cho dân tộc Việt Nam ở trước mặt Đức Chúa Trời”.

Sách hiếm, Giao điểm là tay sai của Cộng sản?

Mũi nhọn cuối cùng của con chiên “văng miểng” chĩa vào hệ thống truyền thông của Nhà nước và báo Nhân dân là cáo buộc 2 trang web Sách hiếm và Giao điểm là công cụ của Nhà nước để “mang danh Phật Giáo để đâm lưng Công giáo”. Cơ sở của cáo buộc này là “một ‘văn bản yêu cầu’ Tổng cục Hải Quan Việt Nam ‘hỗ trợ’ một Việt Kiều đưa 420 quyển tạp chí ‘Giao Điểm’ được in trong nước đưa ra nước ngoài để ‘phục vụ tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta'”.Đây là một chuyện đã xảy ra cách đây 5 năm và đã được các bên liên quan làm rõ tại đây: Phỏng Vấn Ông Bùi Hồng Quang Về Một Văn Thư của Cục An Ninh. Không biết có phải JB nghĩ rằng chuyện đã quá lâu, không ai biết nên “khai quật” lên để “nhát ma” thiên hạ?
Vì chuyện đã quá lâu và đã có giải thích của người trong cuộc nên tôi chỉ điểm sơ qua thế này:
– Giả sử những chứng từ kia là “đồ thật” thì việc hỗ trợ đó cũng là rất bình thường nếu không muốn nói là cần hoan nghênh. Cụm từ “phục vụ tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước ta” có thể hiểu rằng: 1) việc hỗ trợ Việt kiều in ấn / phát hành / truyền bá văn hóa trong nước ra nước ngoài nói riêng, các ngành nghề khác nói chung là chủ trương, là chính sách của Đảng và nhà nước, để từ đó kêu gọi Việt kiều yên tâm về nước đầu tư; 2) Vì đây là những ấn phẩm “thuần túy tôn giáo” nên có tác dụng tuyên truyền đường lối, chính sách về “tự do tôn giáo” của Đảng và nhà nước. Và thực tế nội dung của các ấn phẩm này (tạp chí Giao điểm số 65) chẳng có gì liên quan đến việc tuyên truyền cho CNCS cả.
– Tạp chí Giao điểm được thành lập từ 1990, trước cả khi Mỹ bỏ cấm vận đối với Việt Nam. Nếu quả thực đó là “tay sai của CSVN” thì chúng ta rất nên tự hào khi đã có một tạp chí thuần tôn giáo hình thành và phát triển “sâu gốc bền rễ” trong cộng đồng người Việt tại Mỹ. Đó là cái tát thích đáng vào những cái mồm leo lẻo rằng Việt Nam ngăn cấm tự do tôn giáo.

Con chiên Nguyễn Hữu Vinh với cái tư duy cừu của mình không thể hiểu được điều đó nên gân cổ lên rằng: “Người ta mệnh danh Phật giáo để ‘điên cuồng xuyên tạc’ và ‘chống phá Công giáo’. Việc ‘đánh phá Công giáo’ ở những trang này có thể coi là sự bất chấp sự thật, bất chấp lý lẽ, bất chấp luân thường đạo lý, miễn đúng như định hướng mà Đảng CSVN đã đưa ra. Người ta có vẻ không cần quan tâm đến những gì Đức Phật đã dạy, những nguồn gốc sự đau khổ của con người Việt Nam, miễn là làm ‘vừa lòng ông chủ’ và cơn ‘hận thù mù quáng’ của họ”.

Thứ nhất, với những gì tôi đọc trên trang Sách hiếm thì tất cả các bài viết mà JB cho là “chống phá Công giáo” đều có ký tên rõ ràng của người viết chứ không hề nhân danh Đức Phật hay Phật giáo hay thậm chí là Phật tử.

Thứ hai, theo tôi đọc thì những tác giả như GS Trần Chung Ngọc, GS Nguyễn Mạnh Quang,… trích dẫn ngay từ kinh thánh ra và có chú thích rõ ràng chứ chẳng hề “điên cuồng xuyên tạc” như con chiên JB vu cáo. Tôi cũng thấy có nhiều con chiên và chủ chăn khác vào đấu lý với các tác giả này và đều được “dắt tay chỉ dẫn” từng chỗ, từng chỗ trong thánh kinh.

Thứ ba, nếu muốn “chống phá Công giáo” thì Nhà nước Việt Nam đâu cần phải“mệnh danh Phật giáo” làm gì vì những bê bối của Ki-tô La Mã được liệt kê đầy rẫytrên các phương tiện truyền thông nước ngoài đó thôi: nào là 7 núi tội ác, nào là ấu dâm, nào là tham ô – bài bạc,… Trong khi đó, truyền thông của cái chế độ đang bị tố là“chống phá công giáo” lại chẳng hề mặn mà gì với việc phơi bày bản chất của các vị buôn thần bán thánh này, thậm chí còn ca ngợi và cổ vũ cho những người Công giáo chân chính sống tốt đời đẹp đạo. Thế mới lạ chứ!

Thứ tư, Nhà nước Việt Nam chẳng có lý do gì để chống Công giáo nếu tôn giáo này hoặc những người lợi dụng nó không làm những điều gây tổn thương đến lợi ích quốc gia vì có một thực tế là khi kinh tế – khoa học kỹ thuật càng phát triển thì người dân càng có xu hướng tự giải thoát mình khỏi thân phận con cừu cho người khác chăn. Theo số liệu từ World Christian Database thì số người theo Kitô giáo tại châu Âu (cái nôi của đạo này) đã giảm từ 38,5% dân số năm 1970 xuống còn 23,7% dân số năm  2012.

Thứ năm, con chiên JB cũng như những kẻ lợi dụng tôn giáo làm chính trị luôn lải nhải cái luận điệu ngu dốt “cộng sản vô thần, đàn áp tôn giáo” nhưng khi có vấn đề với các tôn giáo khác hoặc với chính những người trong tôn giáo của mình (Ủy ban đoàn kết tôn giáo) thì lại cáo buộc họ là “tay sai cộng sản”! Tại sao cộng sản lại chỉ “chống công giáo” mà không chống các tôn giáo khác?

Thứ sáu, JB cho rằng Sách hiếm, Giao điểm (đứng sau là Đảng CSVN) có “hận thù mù quáng” với Ki-tô giáo nhưng chẳng hề nói ra được đó là hận thù vì cái gì, như thế nào. Đây là một sự chụp mũ vô căn cứ vì khi đọc các trang web này, người đọc sẽ thấy các bài viết đều có chú thích rõ ràng nguồn gốc của thông tin (hầu hết là trích dẫn từ kinh thánh!) và mục đích của người viết dường như là để “giải độc tín ngưỡng”cho những người bị lợi dụng hoặc thiếu hiểu biết. Cũng may là con chiên JB đang sống dưới “ách cai trị của độc tài cộng sản” chứ sống ở “thế giới tự do Hoa Kỳ” thì chắc cũng sẽ chung cảnh ngộ với con chiên Thomas Nguyễn (Nguyễn Văn Thạch), người bị tòa án Mỹ tuyên phạt hơn 150 ngàn đô la Mỹ vì tội vu không Giao điểm là cộng sản.

Nói tóm lại, đọc qua bài viết của con chiên JB Vinh “văng miểng”, tôi chỉ thấy ở đó có sự cùng quẫn về lý lẽ, hiểu biết, tâm thức của một kẻ mắt không nhìn quá ngọn roi, tai không nghe quá được những mệnh lệnh chăn dắt của chủ chăn nhưng lại ôm mộng tưởng chống lại cả thế giới bên ngoài cái chuồng của mình.

[link gốc bài viết tại doimat]

Trung Quốc đừng dại thử lòng yêu nước của dân tộc Việt

(ĐVO) – Lòng yêu nước của dân tộc Việt, về góc độ xã hội, lịch sử được gọi là Truyền thống, về góc độ khoa học được gọi là Gen di truyền. Cho nên, thế giới có đổi thay, vương triều có đổi thay nhưng truyền thống đó hay gen di truyền đó không bao giờ thay đổi.

Không rõ tinh thần yêu nước của dân tộc Trung Hoa như thế nào, bởi vì từ xưa Trung Quốc chỉ đi xâm lược, mở rộng lãnh thổ, nhưng khi bị các quốc gia khác tới xâm lược như Nguyên Mông, Anh, Nhật Bản thì họ đều thúc thủ và ý chí của họ thể hiện trong “Vạn lý trường thành”, trong cuộc biểu tình chống Nhật Bản mới đây…thì có lẽ chỉ họ mới hiểu, đánh giá được thực chất, sức mạnh kết nối lòng yêu nước của dân tộc họ.

Dân tộc Việt, lòng yêu nước được biểu hiện theo cách khác, đơn giản là “Sông núi nước Nam, vua Nam ở” nó đã “rành rành định sẵn” rồi. Kẻ nào, dù hung hãn đến đâu, xâm phạm là phải và bị đánh đuổi, đơn giản thế thôi. Về ý chí thì “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm 20 năm hoặc lâu hơn…”, “dù có đốt cháy dãy Trường Sơn cũng phải giành độc lập”…

   Chủ quyền của Tổ quốc luôn thiêng liêng trong mỗi người Việt Nam
Chủ quyền của Tổ quốc luôn thiêng liêng trong mỗi người Việt Nam

Duy nhất một lần dưới triều Nguyễn, nhưng lịch sử thời đó vẫn còn vang vọng những cái tên hào hùng lẫm liệt của Nguyễn Tri Phương, Hoàng Diệu, còn đó lời bất hủ của Nguyễn Trung Trực…và hơn 90 năm sau, năm 1954, dân tộc Việt đã vùng lên bằng trận Điện Biên Phủ chấn động địa cầu.

Mỹ thua Việt Nam có nhiều nguyên nhân, nhưng nguyên nhân đầu tiên là Mỹ không hiểu dân tộc Việt. Chỉ đến năm 1972 khi Nixon bắt tay Mao Trạch Đông ở Thượng Hải thì người Mỹ mới tin rằng Việt Nam dân chủ cộng hòa và Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam đánh Mỹ là vì lý do thống nhất đất nước chứ không phải đánh Mỹ bởi tác động của Trung Quốc hay Liên Xô.

Máu xương của thế hệ ông, cha, anh đổ xuống để có hôm nay, cho con cháu một Việt Nam liền một dải, không như bán đảo Triều Tiên hiện giờ là quý báu biết chừng nào và đương nhiên chỉ ai là con cháu Lạc Hồng mới cảm nhận được.

Lòng yêu nước của dân tộc Việt, về góc độ xã hội, lịch sử được gọi là Truyền thống, về góc độ khoa học được gọi là Gen di truyền. Cho nên, thế giới có đổi thay, vương triều có đổi thay nhưng truyền thống đó hay gen di truyền đó không bao giờ thay đổi.

Động thái hung hăng, ngang ngược, đe dọa gây hấn trên Biển Đông của Trung Quốc đòi độc chiếm 80%, xâm phạm đến chủ quyền thiêng liêng của dân tộc Việt đang ngày càng được người Việt Nam trong và ngoài nước ý thức rất rõ ràng.

Sự việc đường “lưỡi bò” trên bản đồ; đèn lồng in chữ “Tam Sa”; sách vở in sai, có cờ Trung Quốc; siêu thị Big C bán nho…được sự “quan tâm” sát sao của dân cả nước là dấu hiệu của lòng tự tôn dân tộc, lòng yêu nước đang phát tiết mà không cần hô hào phát động.

Hành động rất nguy hiểm của Trung Quốc mới đây trên Biển Đông, dùng súng bắn cháy ca bin tàu đánh cá của ngư dân Việt trong vùng biển chủ quyền Việt Nam là hành động ngang ngược, độc ác, vô nhân đạo và chúng không hiểu được sức mạnh lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam.

 Ca bin tàu bị Hải giám TQ bắn cháy nhưng quyết không để cháy cờ Tổ quốc
Ca bin tàu bị Hải giám TQ bắn cháy nhưng quyết không để cháy cờ Tổ quốc

Hạm đội 7 của Hoa Kỳ ngày xưa (là niềm mơ ước của hạm đội Nam Hải-Trung Quốc ngày nay) khi Hải quân Việt Nam là con số “không” mà còn không dọa được Việt Nam thì vài chục con tàu giả dạng Hải giám, đằng sau có vài con tàu chiến tập trận, đã tỏ ra hung hăng, xua đuổi phi pháp tàu đánh cá của ngư dân Việt Nam là có thể dễ dàng tác quái trên Biển Đông của Việt Nam ư? Họ đã lầm vì dân tộc Việt luôn yêu chuộng hòa bình, muốn là bạn với láng giềng một cách thân thiện, hữu nghị nhưng lòng yêu nước, bảo vệ từng tấc đất, tấc biển của Việt Nam thì ngàn đời không thay đổi. Họ chỉ tổ tốn dầu và hao máy mà thôi. Hành động ngang ngược, ác độc, vô nhân đạo của Trung Quốc đã kích hoạt lòng yêu nước của dân tộc Việt.

Lịch sử vốn không bao giờ lặp lại, nhưng khi đã lặp đi lặp lại nhiều lần thì chứng tỏ điều đó đã trở thành quy luật khách quan, mà khi đã là quy luật thì đừng dại dột làm trái với nó.

Chỉ có kẻ điên mới mong có sóng thần để thử độ vững của đê chắn sóng.

  • Lê Ngọc Thống

(TNO) Từ đầu năm 1988, Trung Quốc đã sử dụng một lực lượng lớn hải quân gồm nhiều tàu chiến chiếm đóng một loạt đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam

Cao trào của hành động xâm lược này diễn ra vào ngày 14.3.1988 khi biên đội gồm 6 tàu chiến, trong đó có 3 tàu hộ vệ có trang bị tên lửa và pháo 100 mm, của Trung Quốc đã bắn chìm và cháy 3 tàu vận tải của Việt Nam tại bãi đá ngầm Gạc Ma trong cụm đảo Sinh Tồn của Việt Nam.

Đảo Gạc Ma đã bị quân Trung Quốc đánh chiếm vào ngày 14.3.1988 – Ảnh: D.Đ.Minh

Trong vụ thảm sát này, 64 binh sĩ Việt Nam đã anh dũng hy sinh. Sau đó Trung Quốc còn ngăn chặn không cho tàu mang cờ chữ thập đỏ ra cứu những người bị thương, bị nạn.

Điều phải lưu ý là đây là lần đầu tiên người Trung Quốc (lục địa) đặt chân đến Trường Sa. Trước đó, với tư cách quan phương, Trung Quốc chưa bao giờ có mặt ở vùng biển này.


Tàu HQ505 đã lao lên bãi ngầm ở đảo Cô Lin cắm cờ khẳng định chủ quyền Tổ quốc vào ngày 14.3.1988 – Ảnh: tư liệu

Đã một phần tư thế kỷ trôi qua, từ sự kiện 14.3.1988, có những điều cần phải nói rõ như sau:

Đầu tiên, ngay sau ngày 14.3.1988, thông qua hệ thống tuyên truyền khổng lồ của mình, Trung Quốc đã ngang nhiên bịa đặt trắng trợn với dư luận trong nước và quốc tế rằng: Các tàu Trung Quốc đang thả neo để yểm trợ cho tàu chở đoàn các nhà khoa học Liên Hiệp Quốc (LHQ) đi khảo sát khoa học tại Trường Sa thì bị các tàu chiến của Việt Nam tấn công. Vì thế hải quân Trung Quốc bắt buộc phải đánh trả tự vệ!

Sau đó thông qua người phát ngôn của Tổng thư ký, LHQ đã nói rõ: không hề có tàu của LHQ tổ chức khảo sát khoa học ở Trường Sa vào 3.1988!

Rõ là “cháy nhà ra mặt chuột” và chính quyền Trung Quốc đã “lấy thúng úp voi”, đã “lấy thịt đè người” lại còn muốn lấy tay che mặt trời!

Đã không có tàu khảo sát khoa học của LHQ thì chắc chắn không có việc tàu chiến Việt Nam tấn công tàu Trung Quốc. Điều mà nhiều người đều biết đó là chuyện “ngậm máu phun người” là sở trường của các nhà cầm quyền Trung Quốc.

Trước đó, năm 1962 Trung Quốc phát động chiến tranh biên giới với Ấn Độ và chiếm của Ấn Độ hàng nghìn km2 nhưng lại vu cáo Ấn Độ xâm lược Trung Quốc. Năm 1979, Trung Quốc tiếp tục đem 60 vạn quân xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Bắc. Sự việc rõ ràng như vậy nhưng cũng được họ tuyên truyền là “phản kích tự vệ quân Việt Nam xâm lược”!


Lễ tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh ngày 14.3.1988 tại Cam Ranh (Khánh Hòa) – Ảnh: tư liệu

Thứ hai, có một câu hỏi cần đặt ra là, tại sao Trung Quốc lại tiến hành đánh chiếm các đảo của Việt Nam tại Trường Sa vào tháng 3.1988?

Cuối 1987 đầu 1988 là thời kỳ Việt Nam rơi xuống điểm thấp nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội. Tình hình trong nước chồng chất khó khăn: kinh tế đình đốn, đời sống của đại đa số người dân cực kỳ vất vả.

Cũng trong thời điểm đó, Liên Xô cũng bắt đầu lâm vào khủng hoảng chính trị – xã hội. Bắc Kinh cúi mình trước Washington, tự nhận là “NATO phương Đông” để nhận được nguồn tài chính và công nghệ, kỹ thuật từ Mỹ và phương Tây để phục vụ cho mục tiêu hiện đại hóa. Trong bối cảnh ấy, Trung Quốc cũng đã câu kết với Mỹ và hầu hết các nước trong khu vực (trừ Lào và Campuchia) siết chặt vòng bao vây, cấm vận đối với Việt Nam.

Lợi dụng tình thế khó khăn đó của Việt Nam, Trung Quốc đánh chiếm một số đảo của Việt Nam tại Trường Sa phục vụ cho ý đồ lâu dài.

Trung Quốc cũng là bậc thầy trong việc lợi dụng thời điểm. Mặc dù đã đưa lực lượng ra Trường Sa và có những hoạt động đe dọa từ đầu năm 1988, nhưng thời điểm được Trung Quốc lựa chọn nổ súng rơi đúng vào 14.3.1988 cũng là thời điểm lễ tang Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng được tổ chức tại Hà Nội! Một khi họ đã có dã tâm thì chuyện “tang gia bối rối” lại trở thành điều có thể lợi dụng được!


Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là tài sản lớn nhất, quý giá và quan trọng nhất của cả dân tộc – Ảnh: Chiến sĩ canh gác trên đảo Len Đao (quần đảo Trường Sa) – Ảnh: D.Đ.Minh

Câu chuyện xảy ra ngày 14.3.1988 tại Trường Sa đến nay vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự. Sự hy sinh của những người lính Việt Nam 25 năm trước là một lời nhắc nhở tới 90 triệu người đồng bào hôm nay, trước hết là những người có trọng trách với dân tộc, không bao giờ được quên 3 điều:

Một là, lòng tin phải được đặt đúng chỗ. Đối với Trung Quốc, điều quan trọng không phải là lời nói mà là hành động. Các đấng quân vương Trung Hoa từ xưa đến nay và từ nay về sau đều là những bậc thầy về nghệ thuật “nói một đàng làm một nẻo”. Tin vào những điều mà giới lãnh đạo cấp cao ở Bắc Kinh nói không khác gì chuyện “gửi trứng cho ác”!

Hai là, cần phải hiểu về con đường mà Trung Quốc lựa chọn. Những toan tính và hành động của Trung Quốc liệu có phải là một quốc gia cộng sản đồng chí như họ từng miêu tả hay thực tế là chính sách dân tộc nước lớn vị kỷ?

Việc vô cớ đem quân đánh chiếm các đảo của một quốc gia láng giềng, bất kể quốc gia đó phát triển theo đường lối nào cũng là đi ngược lại những nguyên tắc sơ đẳng trong quan hệ quốc tế và phản bội đối với chủ nghĩa Marx – Lênin mà Trung Quốc từng sử dụng như một chiêu bài.

Láng giềng là vĩnh viễn và không bao giờ thay đổi, trừ phi có một trận siêu động đất đẩy hai quốc gia ra xa nhau!

Việt Nam cần và mong muốn có một mối quan hệ hữu nghị, ổn định, lâu dài với Trung Quốc. Tuy nhiên quan hệ ấy cần được đặt trong sự tôn trọng lẫn nhau về nhiều mặt, đặc biệt là vấn đề “bất biến” là chủ quyền quốc gia, lợi ích dân tộc. Không tỉnh táo nhận thức được điều này, lệ thuộc vào những yếu tố “ứng vạn biến” như “mười sáu chữ”, “bốn tốt” có thể dẫn đến những bước đi sai lầm mang lại hậu quả lớn cho quốc gia, dân tộc!

Chúng ta đã có được bài học đắt giá khi rơi vào cảnh bị cô lập trên trường quốc tế từ 1979-1990. Bài học ấy cùng với sự kiện 14.3.1988 mách bảo chúng ta rằng bị cô lập không đồng nghĩa với có độc lập, mà ngược lại, bị cô lập sẽ dẫn đến thảm họa, thậm chí mất cả độc lập và chủ quyền quốc gia.

Các nhà sử học Việt Nam chân chính và những người Việt có lương tâm trong sáng sẽ còn mất nhiều thời gian và công sức nghiên cứu, mổ xẻ, soi xét sự kiện 14.3.1988 một cách khách quan để rút ra bài học bổ ích cho những người Việt hiện nay và các thế hệ mai sau.

Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc không thuộc sở hữu riêng của riêng ai. Nó là tài sản lớn nhất, quý giá và quan trọng nhất của cả dân tộc.

Liêm Thạch
Nguồn : http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130314/tai-sao-trung-quoc-danh-chiem-cac-dao-cua-viet-nam-vao-thang-3-1988.aspx

Hành trình xương máu của những viên kim cương

Để có được một viên kim cương hoàn hảo, vô số người đã phải đổi bằng xương máu để tìm, khai thác và chọn lọc, mài giũa.

 

Một người buôn lậu kim cương từ Zimbabwe bày các viên kim cương để bán ở Manica, gần biên giới Zimbabwe.

Cảnh chụp từ trên cao một mỏ khai thác kim cương lậu ở miền nam Venezuela.

Những người khai thác mỏ xếp thành hàng dài trong khi mở một mỏ ở Chudja, Congo.

Các công nhân rửa sạch chất bẩn và đá ở một con sông tại Sierra Leone.

Một công nhân khai thác mỏ dừng tay để hút thuốc khi làm việc gần thị trấn Ikabaru ở miền nam Venezuela.

Một xe tải nhả quặng tại mỏ khai thác kim cương dưới lòng đất ở Cullinan, Pretoria.

Một chuyên gia về kim cương của Israel đang tìm hiểu về viên kim cương ở gần Tel Aviv.

Một nhân viên của công ty khai thác kim cương Shefa Yamim tìm kiếm viên đá quý trong số các viên đá thu được tại nhà máy ở Acre, bắc Israel.

Quang cảnh tại nhà máy cắt kim cương ở thủ đô Gaborone, Botswana.

Các công nhân làm việc tại nhà máy cắt kim cương ở Surat, Ấn Độ.

Các chuyên gia kim cương Israel kiểm tra kim cương tại Sàn giao dịch kim cương Israel ở Ramat Gan gần Tel Aviv.

Một công nhân tìm hiểu về viên kim cương 5,46 carat trước khi cấp chứng nhận tại Học viện nghiên cứu đá quý Antwerp.

Một nhân viên của hãng Christie đặt một vòng cổ kim cương 39 carat vào khu triển lãm ở New York.

Người mẫu đeo một chiếc vòng cổ nạm kim cương của hãng Cartier ước tính trị giá 412.777-515.923 USD tại London.

Có thể nói, bây giờ độ phổ biến của Facebook cũng như nút Like ngày càng lan rộng, và sau đây là infographic thể hiện điều này

Hình ảnh trên diễn đàn Việt Designer

Nguồn: GenK

Read more: 

Nancy Rica Schiff – một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp đã dành rất nhiều thời gian của mình để ghi lại hình ảnh của những ngành nghề mới lạ và độc đáo. Schiff đã từng xuất bản một cuốn sách ảnh về chân dung những người có công việc kì lạ vào năm 2002.

Đa số mọi người sẽ nghĩ rằng những người làm công việc kỳ lạ chắc hẳn sẽ có tính cách lập dị. Tuy nhiên, Schiff cho biết, điều này không đúng. Nhiếp ảnh gia mô tả nhân vật của mình là những người nhạy cảm, tinh tế và làm việc một cách vui vẻ.

Nhiều người trong số các “đối tượng” của Schiff đã liên lạc với nhiếp ảnh gia và kể lại về tác động mà những hình ảnh tạo nên với cuộc sống của họ. Họ chia sẻ rằng trước đây, bạn bè và hàng xóm biết nơi họ làm việc, nhưng không thực sự biết họ làm gì ở đó. Giờ đây, công việc của họ không những được biết đến nhiều hơn mà còn nhận được nhiều sự cảm thông và khích lệ.

Dưới đây là những nghề nghiệp “quái dị” đã được xuất bản trong cuốn sách:

 

1

Chuyên gia… kiểm tra mùi cơ thể.

2

Người nuôi đỉa.

3

Người sản xuất gà cao su.

4

Người thử nghiệm… thức ăn cho chó.

5

Nhân viên trị liệu… ruột già.

6

Người thiết kế… underwear cho nam giới.

7

Trợ lý cho… nghệ sỹ phi dao.

8

Trị liệu âm nhạc cho những người đang hấp hối.

9

Người làm sạch… xương khủng long.

10

Nhân viên… chữa vết nứt trên các vách đá.

11

Và cả người… thử nghiệm băng vệ sinh.

[sưu tầm]

Đang có một cuộc thay đổi lớn diễn ra trên… những bàn thờ gia tiên của người Việt. Cuộc thay đổi đó phản chiếu một cách tinh tế những cuộc bể dâu đang diễn ra trong đời sống xã hội và đời sống tinh thần của con người.

Thử tìm về ý nghĩa của cái bàn thờ và quan niệm về những đồ thờ trong tâm linh tín ngưỡng Việt Nam ngõ hầu tìm thấy ngọn nguồn câu chuyện.Bàn thờ và đồ thờ

Trong Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới(1) hai tác giả Jean Chevalier và Alain Gheerbrant định nghĩa: bàn thờ (autel): “Một vũ trụ vi mô và một tác nhân của cái thiêng. Tất cả mọi động tác khấn vái, tụng kinh, tất cả mọi đường nét kiến trúc đều quy tụ về đây. Bàn thờ tái tạo trong quy mô thu nhỏ quần thể của thánh đường và của vũ trụ. Đây là chỗ mà cái thiêng tích tụ với mật độ cao nhất. Trên bàn thờ hay bên bàn thờ, người ta làm lễ dâng, lễ cúng, chính cái đó làm nó trở thành thiêng liêng. Cũng vì lẽ ấy nó được cất cao (altum: cao, cao thượng, kỳ vĩ có gốc Latinh là autel – bàn thờ) so với tất cả mọi vật xung quanh. Nó cũng tập hợp trong mình hệ biểu tượng của trung tâm thế giới: nó là tiêu điểm của đường xoắn ốc biểu trưng sự tinh thần hoá từng bước của vũ trụ. Bàn thờ tượng trưng cho địa điểm và khoảnh khắc, nơi một sinh thể trở thành linh thiêng, nơi thực hiện một thao tác thiêng liêng” (trang 58).

Ý nghĩa của cái bàn thờ trong đạo thờ gia tiên của người Việt, cũng mang những đặc điểm biểu tượng cơ bản của một “autel” được thể hiện trong định nghĩa trên. Đối tượng được phụng thờ là ông bà tổ tiên, người đã khuất trong gia đình. Những nghi thức lễ dâng, lễ cúng thể hiện lòng thành đối với những tiền nhân, người thân thuộc đang ở cõi âm.

Nhà văn Toan Ánh giải thích về Quan niệm thờ phụng tổ tiên(2) rằng: “Qua việc thờ phụng tổ tiên, tại Việt Nam, người khuất và người còn sống luôn luôn như có một sự liên lạc mật thiết. Sự thờ cúng chính là môi trường gặp gỡ của thế giới hữu hình và vũ trụ thần linh.

Đối với người Việt Nam, chết chưa phải là chết hẳn, thể xác tuy chết nhưng linh hồn vẫn còn và vẫn hằng lui tới với gia đình. Thể xác tiêu tan nhưng linh hồn bất diệt (…) Tục cũng cho rằng, vong hồn những người đã khuất thường luôn ngự trên bàn thờ để gần gụi con cháu, theo dõi con cháu trong công việc hàng ngày và giúp đỡ con cháu trong những trường hợp cần thiết”.

Ở phần Cầu cúng lễ bái, Toan Ánh nói về quan niệm đồ cúng được đặt trên bàn thờ, ngoài nhang đèn (thật), người ta thể hiện quan niệm về sự thành kính qua việc chọn đồ thờ cúng là hoa quả tươi, mới: “Mỗi khi có mùa hoa quả mới, trước khi mua ăn, con cháu bao giờ cũng nghĩ đến việc mua thắp hương cúng vái các cụ, cũng như một năm hai vụ cơm mới, con cháu cũng đều có sửa lễ cúng vái tổ tiên.

Nếu trong vườn nhà có một cây ăn quả, những quả chín đầu tiên phải được hái thắp hương các cụ” (trang 24, 25, sách đã dẫn).

Điều này cũng trùng khớp với cách diễn giải của tác giả An Nam phong tục sách, cụ Mai Viên Đoàn Triển: “Đồ thờ thì có đèn nến, bình hương, bình hoa, mâm bồng, mâm vuông, mâm tròn, hộp trầu, đài rượu làm bằng đồng hay bằng gỗ sơn”. Và: “Ngày tết phải cúng cáo, ngày giỗ phải cúng cáo, có hoa quả đầu mùa, gạo mới hay việc hiếu, hỷ đều phải cúng cáo. Nhà giàu có thì dùng lễ tam sinh (lợn, trâu, dê) hoặc nhất sinh (một con lợn); lễ nhỏ, làm cỗ bàn, oản quả. Thông thường nhà dùng lễ lớn thì lo cỗ nhất sinh, lễ nhỏ thì sắm một thủ lợn hoặc một con gà, một miếng thịt, nhà nghèo sửa mâm cơm, canh, rau đậu, một con cá, một quả trứng.

Lễ không cứ lớn, nhỏ, chỉ cần rất mực thành tâm”(3).

Trong cuốn Việt Nam phong tục, thì ngoài liệt kê về việc bày biện trên bàn thờ, cụ Phan Kế Bính còn nhấn mạnh tầm quan trọng của những vật dụng để thờ cúng. Trong quan niệm dân gian người Việt, đó là những thứ được “thiêng hoá”, “thánh hoá” dù khó khăn đến mấy cũng không được đem cầm, bán. Cụ Phan viết: “Đồ thờ phụng, càng nhà giàu thì càng trang hoàng nhiều đồ quý, nhà nghèo đến đâu cũng có được một vài cây đèn nến sơn son và một cái bình hương. Ta coi đồ thờ tự là đồ rất kính trọng, không ai dám đem cầm bán bao giờ. Nếu nhà nào dám cầm bán thì ai cũng chê cười”(4)

Chất liệu của biểu tượng thay đổi

Như vậy, qua những dữ liệu trên, cho thấy, trong tín ngưỡng thờ tổ tiên của người Việt, chất liệu, nguồn gốc của đồ thờ cũng đóng vai trò rất quan trọng, không chỉ trong việc đạt đến tính cứu cánh của biểu tượng, sự thành công, hoàn hảo của thực hành nghi thức, mà còn là trung tâm để đánh giá sự thành tâm. Và dường như hương hoa quả, khói nhang, trầm, ánh lửa của ngọn đèn dầu, bấc đã góp phần rất quan trọng làm nên sự hiệu quả của không gian thờ cúng, tạo hiệu ứng về mặt cảm xúc, cảm giác, trực quan cho người thực hành nghi lễ thờ, cúng.

Lửa làm ấm cúng không gian, thanh tẩy, tái sinh là biểu tượng của trời, thần linh. Ngọn lửa đèn, bấc cháy có ngọn bốc lên phía trên, tượng trưng cho sự hướng thượng, nên đó vẫn được xem là nguồn năng lượng thần linh. Khói hương của những nén nhang quyện trong không gian tạo ra hiệu ứng huyền ảo, làm thanh thoát tâm hồn người sống; cũng như thể hiện quan niệm về một “kênh” kết nối trời đất, âm dương, chuyển tiếp tâm tình, lời khấn nguyện của người trần đến với người thiêng, thần thánh được phụng thờ. Hương hoa, tinh dầu của quả xanh là thành quả của bàn tay làm ra, dâng lên tổ tiên tượng trưng lòng thành con cháu, hậu duệ. Vì vậy, qua chất liệu, nguồn gốc những biểu tượng thờ cúng, khảo sát từ phía người thực hành thờ cúng, đã có sự trù định chức năng cộng hưởng tâm lý. Suy cho cùng, thông qua những đồ thờ, là nhang (hương), hoa quả tươi, người dương làm một cuộc chuyển hoá năng lượng để làm một cuộc gặp gỡ xuyên không gian và thời gian, để đối thoại, tâm tình với người âm.

Vậy, bạn có giật mình hay không nếu một hôm, đang lúc lau dọn bàn thờ chuẩn bị đón tết, chợt phát hiện ra, bấy lâu tổ tiên từ lâu sống chung với những đồ thờ đã bị biến đổi về chất liệu: từ thiên nhiên, tự nhiên sang nhựa, điện, từ đồ thật sang… “đồ giả”?

“Chỉ cần rất mực thành tâm”. Nhiều người lấy cái vế sau một câu nói của cụ Mai Viên Đoàn Triển để thoát khỏi những bận tâm. Người khác lại giải thích cho sự “biến đổi chất liệu” trên bằng việc viện dẫn những cái khó cần thích ứng trong đời sống. Có ít nhất ba nguyên do sau:

Một giai đoạn, do chịu hậu quả của sự áp đặt ý thức hệ trong quản lý văn hoá, khiến nhiều người xem thờ cúng, kể cả thờ cúng tổ tiên là gần với tệ dị đoan, duy tâm, hữu thần.

Không gian nhà cửa, nhất là nhà cửa trong bối cảnh đô thị hoá chật chội hơn, sự chuyển đổi từ kiến trúc hài hoà cởi mở với thiên nhiên sang kiến trúc nhà ống diễn ra phổ biến, điều này bất lợi cho việc chăm chút về nhang đèn hoa trái trên những bàn thờ, mọi thứ được quy về tiện dụng. Đồ nhựa, điện đáp ứng được điều đó. Khói nhang bị coi là ngột ngạt, ô nhiễm, lửa đèn bị coi là tiềm tàng khả năng cháy nổ hoả hoạn, hoa quả bị coi lãng phí…

Đời sống công nghiệp, đô thị hoá, nhịp điệu nhanh, vội, nhiều áp lực dẫn đến việc chọn lựa những phương thức thờ cúng mang tính tượng trưng, thiên về trang trí hơn đi sâu vào tín niệm, ý nghĩa truyền thống của biểu tượng, tiết kiệm được thời gian.

Một đĩa quả nhựa được sơn phết màu như thật, lư hương nhựa xi giả đồng, với ba cây nhang điện luôn ở trạng thái “cháy” đỏ, hai cây đèn (hay điện mô phỏng cây nến trái ớt), một đĩa bấc có bộ phận quạt gió cài đặt bên trong làm cho ánh điện đạt đến hiệu ứng “cháy bốc” như đồ thờ thật. Việc còn lại là bật và tắt công tắc khi cần. Những đồ thờ này có thể sử dụng quanh năm, mọi lúc, thích ứng quá tốt với không gian kiến trúc, môi trường sống mới và tinh thần sống mới chú trọng tính công năng, tiện ích.

Mấy ông bà già ở làng quê Việt Nam hôm nay có con cháu đi làm ăn xa, thành đạt, gửi tiền về xây nhà cửa, từ đường… sẽ mở mày mở mặt với xóm giềng hơn nếu lũ nhỏ mỗi lần về thăm quê, biết ý, mua thêm vài “phụ kiện hiện đại” để trưng bày thêm trên bàn thờ. Đồ thờ cúng bằng nhựa, bằng điện không chỉ chiếm lĩnh không gian nơi những bàn thờ gia tiên ở thành phố mà còn đang làm một cuộc đổ bộ mạnh mẽ trên những bàn thờ gia tiên nơi làng quê Việt Nam, nơi đang chịu tác động mạnh mẽ đến mức không kịp phản vệ từ làn sóng đô thị diễn ra nhanh chóng.

Khi tự vấn về lòng thành

Lòng thành chắc không vì vậy mà mất đi đâu cả. Đạo hiếu nơi người Việt, tin rằng vẫn sâu đậm trong tâm thức, được giáo dục cho các đời sau. Nhưng có một thực tế là người ta đang chọn lựa cách thể hiện lòng thành theo khuynh hướng tiện ích. Nhìn từ hệ quy chiếu truyền thống thì việc đó ít nhiều làm mất đi không khí tính “thiêng” mà việc thờ cúng tạo ra. Nhưng biết sao được, cần có cái nhìn cởi mở, thức thời để phù hợp với bối cảnh sống. Chắc tổ tiên chúng ta thì không bao giờ bày tỏ thái độ hay trách cứ cháu con về những chuyện lặt vặt như thế. Song, đôi khi chúng ta không tránh khỏi những cái giật mình thảng thốt khi nghĩ rằng một ngày nào đó, chúng ta cũng sẽ đến thời kỳ bật điện ngồi ngó đồ nhựa. Còn bây giờ thì vẫn phải sống theo thời, rồi biết cách tự trấn an rằng: ý nghĩa cuối cùng của đời sống tâm linh, không còn nằm ở vật chất, mà ở những phút quán tưởng và… tự vấn.

“Chức năng cộng hưởng của biểu tượng càng mạnh khi biểu tượng càng kết hợp tốt hơn với khí hậu tinh thần của một người, một xã hội, một thời đại, một hoàn cảnh” – Jean Chevalier(5) viết.

————————————

Chú thích:

(1) Từ điển biểu tượng văn hoá thế giới của Jean Chevalier và Alain Gheerbrant (Phạm Vĩnh Cư chủ biên, Nguyễn Xuân Giao, Lưu Huy Khánh, Nguyên Ngọc, Vũ Đình Phòng, Nguyễn Văn Vỹ dịch, NXB Đà Nẵng và Trường Viết văn Nguyễn Du, 2002).

(2) Bộ sách Nếp cũ, cuốn Tín ngưỡng Việt Nam (quyển thượng), NXB Trẻ, 2005.

(3) Thờ gia tiên, An Nam phong tục sách, Mai Viên Đoàn Triển, NXB Hà Nội, 2008.

(4) Việt Nam phong tục, Phan Kế Bính, NXB Văn hoá thông tin, 2005.

(5) Sách đã dẫn.

NGUYỄN VĨNH NGUYÊN (SÀI GÒN TIẾP THỊ) 

Cuộc cách mạng trên bàn thờ gia tiên của người Việt

Vạch rõ âm mưu phá hoại của một số nghệ sĩ hải ngoại

Sinh ra và lớn lên tại Việt Nam, đến khi có cơ hội ra nước ngoài định cư thì không ít người gọi là “yêu nước” lại dùng lời khiếm nhã, chê xấu Việt Nam thế này – thế nọ. Thậm chí có người còn bạo động để lật đổ chính quyền. Hành động nhố nhăng như vậy mà lúc nào cũng bảo là vì tổ quốc, vì dân tộc. Những người như thế này đã làm được gì, cống hiến được gì cho đất nước Việt Nam chưa hay chỉ toàn làm hại đất nước?
Các trang Blog phản động ngày nào cũng ráo riết đi gom nhặt những mẫu tin tiêu cực, để xuyên tạc nói xấu nhằm hạ uy tín lãnh đạo và nhân cơ hội đó kêu gọi người dân Việt Nam đứng lên lật đổ. Nếu như không tiếp cận với nguồn thông tin chính thống, thì họ rất dễ dàng lọt vào kế sách của những người “yêu nước”. Người trung thực, vì chính nghĩa khi quan sát, nhận xét và phân tích vấn đề phải dựa trên sự thật. Có nghĩa là nếu có khen thì phải có chê. Còn đằng này những người xưng là “yêu nước” toàn là chỉ trích lãnh đạo, nhìn vào những tiêu cực và quy trách nhiệm cho những người đứng đầu đất nước. Cái khuyết điểm thì moi móc, xuyên tạc còn cái tích cực thì không đả động gì tới. Thậm chí có nhiều người còn bịa đặt nhiều câu chuyện nhằm hạ uy tín lãnh đạo. Với lời nói  như vậy thì những người “yêu nước” liệu có đáng tin cậy hay không?

Người Việt Nam có tài, đó là điều không một ai trên thế giới chối cãi. Thế nhưng, tài năng cũng được chia thành nhiều loại. Có người có tài lãnh đạo, có người có tài ngoại giao – chiến lược, có người có tài làm kinh tế – giáo dục… và cũng có nhiều người có cái tài chẳng bao giờ được vinh danh, đó là: tài lanh, tài phiệt, tài nói láo – xuyên tạc. Và nếu như được đọ sức thì những người tự xưng là “yêu nước” sẽ chiến thắng hoàn toàn những người Trung Quốc lếu láo – những người mà được mệnh danh là bậc thầy biến thủ phạm thành nạn nhân, đổi trắng thay đen…!

Chương trình của trung tâm băng nhạc Asia (Mỹ) “nói xấu bôi nhọ chính phủ nhà nước Việt Nam”!

Nói như vậy là bởi vì, trong khi Trung Quốc gây hấn, cho tàu hải giám xâm phạm lãnh hải… hòng để Việt Nam dùng vũ lực và nhân cơ hội đó dồn Việt Nam vào chỗ hiểm. Nhận thấy sự mưu mẹo của Trung Quốc, lãnh đạo Việt Nam không chọn lối dùng vũ lực đáp trả mà chọn phương pháp đàm phán và ngoại giao để từng bước xiết chặt Trung Quốc. Vậy mà, những người “yêu nước” lại tung tin rằng lãnh đạo bán nước, nói xấu hết điều này đến điều nọ. Thử hỏi, nếu bán nước thì liệu Trung Quốc có ngồi yên để quốc tế chỉ trích không? Nếu như bán cho Trung Quốc rồi thì Trung Quốc sẽ cầm tờ giấy “mua-bán” ra tòa án quốc tế rồi chứ dại gì mà đi gây chiến để chiếm đảo của Việt Nam?!

Tuấn Vũ và Giao Linh góp mặt trong liveshow của Quang Lê tại TP HCM tháng 4/2011. Ảnh: Lý Võ Phú Hưng.

Chưa kể đến là những thành phần tự xưng là “chính nghĩa”, là thông minh, lúc nào cũng “yêu nước”  nhưng dùng lời ca, tiếng hát để nói xấu quê nhà. Những ca sĩ hải ngoại lúc nào cũng bảo nhớ quê, thương quê nhưng rất nhiều trong số đó như Thanh Tuyền, Tuấn Vũ, Quang Minh – Hồng Đào, Mạnh Đình, Ngọc Huyền… lại “khôn nhà dại chợ”. Lúc nào cũng tung hô rằng sẽ cống hiến tài sức để Việt Nam nở mặt và ra sức kêu gọi về Việt Nam làm từ thiện vậy mà ẩn đằng sau đó là sự tráo trở – tham gia vào các chương trình của trung tâm băng nhạc Asia (Mỹ)  “nói xấu bôi nhọ chính phủ nhà nước Việt Nam”!.

Vợ chồng diễn viên Quang Minh, Hồng Đào trong lần về Việt Nam đóng phim.

Những người nghệ sỹ luôn soi gương trước khi bước lên sân khấu diễn, vậy thử hỏi có bao giờ họ tự soi gương, nhìn kỹ mình xem, xem bản thân xưng là “yêu nước” nhưng đã làm gì cho đất nước Việt Nam chưa? Hay chỉ toàn là làm hại đất nước, cỗng rắn đi cắn người nhà! Mang trong người dòng máu Việt, sanh ra, trưởng thành ở đất Việt vậy mà khi định cư nước khác lại mang tư tưởng và hành động phản bội đất nước nuôi mình lớn khôn. Như vậy thì có gọi là khôn ngoan được không? Chắc là không thể rồi! Nên nhớ rằng, một khi ý thức dân tộc không còn thì đã không còn là dân Việt nữa rồi. Bởi, nếu là người con đất Việt thì chẳng bao giờ đi phá hoại đất nước mình cả…!

Hải Dương

(Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả)

[nguồn: cộng đồng mạng yêu nước]