Tag Archive: ĐƯỢC


Trước thông tin phía Trung Quốc thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” với phạm vi quản lý bao gồm huyện đảo Trường Sa (tỉnh Khánh Hòa, Việt Nam) và huyện đảo Hoàng Sa (thành phố Đà Nẵng, Việt Nam), lãnh đạo hai tỉnh, thành phố trên đã lên tiếng phản đối quyết định trên của phía Trung Quốc.

Trường Sa, Hoàng Sa là bộ phận không tách rời của lãnh thổ Việt Nam.

Ông Nguyễn Chiến Thắng, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Khánh Hòa khẳng định huyện đảo Trường Sa là một bộ phận không tách rời của lãnh thổ Việt Nam và trực thuộc quyền quản lý hành chính của tỉnh Khánh Hòa.

Ông Thắng nhấn mạnh chính quyền và nhân dân tỉnh Khánh Hòa hết sức bất bình trước việc Trung Quốc quyết định thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” với phạm vi quản lý bao gồm huyện đảo Trường Sa. Quyết định này đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam và không có giá trị về pháp lý.

“Chúng tôi kiên quyết phản đối và yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ quyết định sai trái và phi pháp này, không có thêm hành động làm tổn hại đến quan hệ hai nước, tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước và tình cảm của nhân dân Tỉnh Khánh Hòa.” – Chủ tịch Ủy ban Nhân dân tỉnh Khánh Hòa tuyên bố.

Ông Văn Hữu Chiến, Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Nẵng cũng khẳng định huyện đảo Hoàng Sa là một bộ phận không tách rời của lãnh thổ Việt Nam và trực thuộc quyền quản lý hành chính của thành phố Đà Nẵng.

Ông Chiến cho biết chính quyền và nhân dân thành phố Đà Nẵng hết sức bất bình trước việc Trung Quốc quyết định thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” với phạm vi quản lý bao gồm huyện đảo Hoàng Sa.

Chủ tịch Ủy ban Nhân dân thành phố Đà Năng tuyên bố: “Quyết định này đã vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam và không có giá trị về pháp lý. Chúng tôi kiên quyết phản đối và yêu cầu Trung Quốc hủy bỏ quyết định sai trái và phi pháp này, không có thêm hành động làm tổn hại đến quan hệ hai nước, tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước và tình cảm của nhân dân thành phố Đà Nẵng”./.

 Nguồn: Báo Thanh Niên Online

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – Kỳ 3: Sử liệu Trung Quốc nói gì?

Trước  hết  Trung Quốc (TQ)  yêu  sách  chủ  quyền  trên các quần đảo  trên cơ sở quyền phát hiện và  sự quản lý. Lập luận của TQ bao gồm: 1. Người TQ đã phát hiện ra các đảo này sớm nhất và đã đặt tên cho chúng. 2. Ngư dân TQ đã khai thác các đảo này từ  hàng  nghìn  năm  nay. Điều đó chứng  minh  chủ quyền của TQ. 3. Sự  quy  thuộc  các  đảo  này  vào  TQ được củng cố bằng các phát hiện khảo cổ học. 4. TQ đã  thực  hiện  các  hành  động  cai quản trên các đảo này từ lâu đời. Chúng  ta  sẽ  xem  xét  lập  luận  của  TQ trong hai tiểu giai đoạn sau: thiết lập một danh nghĩa ban đầu và việc củng cố danh nghĩa đó.

>> Kỳ 2: Sức ép và phản ứng

“Từ  thời Hán Vũ  đế  trước  công  lịch  hai  thế  kỷ, nhân dân TQ đã bắt đầu đi lại trên biển Nam. Trải  qua  thực  tiễn  hàng  hải  lâu  dài  nhân  dân TQ  đã  lần  lượt  phát  hiện  các  quần  đảo  Tây  Sa (Paracels)  và Nam  Sa (Spratlys)” – Sách  trắng  của Bộ  Ngoại  giao  TQ  ngày 30.1.1980:  “Chủ  quyền  không  thể  tranh  cãi  của  TQ trên các đảo Tây Sa và Nam Sa” đã khẳng định như vậy. Để chứng minh danh nghĩa  lịch  sử của họ, phía TQ đã dựa trên những cuốn sách chính như sau:

– Nam châu dị vật chí của Dương Phù và Phù Nam truyện của Khang Thái, đều viết vào thời Tam Quốc (220-265); Vũ  kinh  tổng  yếu của Tăng Công  Lượng  (998-1078) và Đinh Độ (990-1053) thời Tống biên soạn; Mong Liang Lu được soạn dưới thời nhà Tống (960 – 1127); Đảo di chí  lược do Vương Đại Uyên soạn dưới thời nhà Nguyên (1206 – 1368); Đông Tây  dương  khảo của Trương Nhiếp  viết dưới thời nhà Minh (1368 – 1644); “Trịnh Hòa hàng hải đồ” trong  Vũ bị chí của Mao Nguyên Nghi biên soạn đầu thế kỷ XVII; Độc sử phương dư kỷ yếu của Cố Tổ Vũ đầu nhà Thanh; Hải  Quốc  văn  kiến  lục  của  Trần  Luân  Quýnh năm 1730; Dương  phòng  tập  yếu của  Nghiêm  Như  Dục viết, Trương Bằng Phi khắc năm 1828; Quỳnh Châu phủ chí giữa thế kỷ XIX; Quảng Đông đồ thuyết (1862-1875); Canh lộ bạ do ngư dân các đời kể lại.

 
Theo bản đồ do triều đình nhà Thanh ấn hành năm 1894 thì đến cuối thế kỷ XIX “lãnh thổ của Trung Quốc chỉ chạy đến đảo Hải Nam là hết” –  trong ảnh: Đại Thanh nhất thống toàn đồ (đảo nhỏ ở phía dưới là Hải Nam, gần đó bên trái là Giao Chỉ (VN), đảo lớn hơn bên phải là Đài Loan) – Ảnh: biengioilanhtho.gov.vn

Các  sách  kể  trên  hoàn  toàn  không  phải  là  các chính  sử  được  viết  bởi  các  cơ  quan  chính  thức  của nhà nước. Phần  lớn chúng  là những ghi chép về các chuyến đi, các chuyên khảo và các sách hàng hải thể hiện những nhận biết địa  lý của người xưa  liên quan không chỉ  tới  lãnh  thổ TQ mà  còn  tới  lãnh thổ của các nước khác.

Ví dụ, Hải Quốc văn kiến lục, đúng  như  tên  sách,  phần  lớn  nói  về  các  miền  mà người TQ gọi  là “man di” nhiều hơn  là TQ.

Sách Tống  sử phần Ngoại  quốc  chép  chuyện Chiêm  Thành: “Năm  Thiên  Hy thứ  hai  (1016)  vua Chiêm Thành là Thi Mặc Bài Ma Diệp sai sứ là La Bi Đế Gia chở đồ cống sang… La Bi Đế Gia nói  rằng người nước  tôi  trên đường sang Quảng Châu, nếu bị thuyền  dạt  ra Thạch Đường thì cả năm cũng không tới nơi được”.  Cứ  theo  đó  mà  suy  thì  từ  Chiêm Thành  đến Quảng Châu có vùng được  gọi là Thạch Đường  nhưng  không  có  nghĩa  Thạch  Đường  thuộc Quảng Châu và vì sách  này  chép  về  các  vùng  nước người  TQ coi  là “man  di”  thì  nó  không  thể được coi là thuộc  TQ.

Sách Dư  địa  chí, quyển  4  phần Cương vực  chép: “Phía ngoại vi của Quỳnh Châu là biển lớn tiếp với các châu Ô, châu Lý, Tô Cách Lương, phía Nam đến Chiêm Thành, phía Tây đến Chân Lạp, Giao Chỉ, phía Đông đến Thiên Lý Trường Sa, Vạn Lý Thạch Đường… Người  địa phương đi thuyền đều không biết rõ đâu là vị trí thực của chúng”. Trong tất cả các sách kể trên, liệt kê một đống lẫn lộn các tên Cửu Nhũ Loa Châu,  Thạch Đường, Thiên Lý Vạn Đường, Trường Sa, Thiên Lý Trường Sa và Vạn Lý Trường Sa nhưng  không  có tên Tây Sa và Nam Sa. Bản  thân người TQ cũng  không định  rõ được  vị  trí  của  chúng. Điều đó, không nghi ngờ gì đã dẫn tới những cuộc tranh cãi bất tận giữa các nhà dịch thuật và các học giả về việc thống nhất các tên gọi trên. Mặc dù Hung dan Chiu và Choon Ho Park cho rằng Vạn Lý Thạch Sành chỉ Spratlys, M.S Samuels  lại bảo vệ tên đó dùng để chỉ đá ngầm mà ngày nay có tên gọi là Trung Sa (Macclesfield Bank).

Phù Nam truyện chép: “Trong Trướng Hải có các bãi san hô, dưới bãi là đá tảng san hô mọc trên đó”.

Nam Châu di vật chí ghi lại: “Kỳ đầu Trướng Hải nước nông có nhiều từ thạch,  thuyền  lớn  nằm  ngoài biên cương, đóng đai sắt, đi lại dựa trên la bàn”.

Xuất phát từ những ghi chép đó, người TQ cho rằng Trướng Hải  là biển Nam Trung Hoa bao gồm tất cả các đảo của biển Nam Hải. Tuy nhiên, chúng ta có thể có một vài nhận xét:

– Các đoạn văn trích trên không cho thấy rõ vị trí chính xác của Trướng Hải. Chúng cũng không xác định rõ các thạch sành nói trên chính là Tây Sa và Nam Sa. Các sách trên, đúng như tên gọi, đều là miêu tả các lãnh thổ “man di”, nước ngoài, không phải lãnh thổ TQ.

– Nam Châu dị vật chí được soạn thời Tam Quốc (220-265) lại nói tới việc sử dụng la bàn trong hàng hải, thế nhưng dụng cụ hàng hải này dường như chỉ mới xuất hiện từ thế kỷ thứ X.

– Cụm từ “nằm ngoài biên cương” cho thấy  các đảo đá này không thuộc lãnh thổ TQ. Giả định này còn được khẳng định bởi các  tài  liệu chính thức khác của TQ mô  tả  và phân định  lãnh thổ của “Thiên triều” kết thúc ở điểm cực Nam của đảo Hải Nam như: Quỳnh Châu  phủ chí  (1731), Hoàng Triều di tông tâm lĩnh (1894), Đại Thanh di đồ (1905)… hay các sách, bản đồ cổ khác của người TQ đều xác định rõ điểm mút phía Nam của lãnh thổ TQ nằm ở Nhai Châu, thuộc phủ Quỳnh Châu tỉnh Quảng Đông tại vĩ độ 18o13’ Bắc. Điều đó còn được khẳng định bởi sách Địa lý Giáo khoa thư, Thương Vụ ấn Thư Quán, Thượng Hải (TQ) năm 1906 xuất bản: “Phía Nam bắt đầu là vĩ độ 18o13’ Bắc lấy bờ biển Châu Nhai đảo Quỳnh Châu (tức đảo Hải Nam) làm điểm mút”. Chúng ta không thấy trong các tác phẩm này một ghi chép nào về các quần đảo nằm ngoài điểm cực Nam đó.

TS Nguyễn Hồng Thao

>> Kỳ 4: “Bằng chứng khảo cổ” mập mờ và thiếu chính xác của Trung Quốc

MTH: Công chúa yêu kiều giữa biển Trường Sa

Nguồn: http://hoangsa.org/forum/showthread.php?t=71072&p=869080#post869080

Mai Thanh Hải – Đó là nhà giàn Huyền Trân (DK1/7), nằm trên vùng biển Trường Sa, cách TP. Vũng Tàu gần 254 hải lý về phía Đông Nam.

Thượng tá Lê Đình Việt, Phó Chính ủy Lữ đaàn 171, Vùng II Hải quân bảo: Dịp biển lặng như… ao, nhà giàn soi bóng xuống nước, lung linh như 1 nàng công chúa. Chả thế mà nhà giàn mang tên Huyền Trân, con gái vua Trần Nhân Tông, từ thủa giữ nước bộn bề, tít tắp quá khứ xa xưa.

Anh Việt gắn bó với nhà giàn từ khi những cái nhà cao cẳng, mọc lêu nghêu trên thềm lục địa phía Nam Tổ quốc, nên tỷ thứ chuyện liên quan, đều thuộc làu làu hơn cháo. Thế nên, câu chuyện của tụi mình, trong cả tháng hành quân từ bờ biển, từ đảo đến đảo, từ đảo qua nhà giàn, quanh đi quẩn lại vẫn chỉ là DK1.

Lẩn mẩn tính ra, trên toàn thế giới, chả có lực lượng Hải quân nào giống như Hải quân Việt Nam, mà trực tiếp là Lữ đoàn 171, bởi Lữ này, ngoài tàu bè, súng pháo, còn có 1 Tiểu đoàn rất đặc biệt, mang tên Tiểu đoàn DK1, chuyên làm nhiệm vụ canh trời giữ biển Tổ quốc trên những nhà giàn giống y tổ chim, cắm cheo leo trên mặt biển.

Diễn giải ra, thì vắn tắt thế này: DK1 là Cụm Dịch vụ kinh tế-khoa học-kỹ thuật, được xây dựng dưới dạng các nhà giàn, trên thềm lục địa phía Nam của Tổ quốc, cách đất liền khoảng 250-350 hải lý.

Trên khu vực Biển Đông, chúng ta đã xây dựng cụm 7 khu vực xây dựng nhà giàn, mỗi nhà giàn là một Trạm Dịch vụ Kinh tế-Khoa học kỹ thuật (DVKT-KHKT), giao cho Lữ đoàn 171 thuộc Vùng 2 Hải quân quản lý.

DK là chữ cái đầu viết tắt của cụm từ Dịch vụ-Khoa học kỹ thuật, được hiểu như một công trình phục vụ mục đích dân sự trên biển.

Số 1 chỉ những nhà giàn ở vòng ngoài cùng, xa nhất, so với phía gần đất liền hơn là hệ thống DK2.

Sau cuộc đụng độ 14/3/1988, Trung Quốc bất ngờ nổ súng chiếm đảo Gạc Ma và bắn chết 64 cán bộ chiến sĩ Hải quân Việt Nam đang làm nhiệm vụ xây dựng, canh giữ đảo, một số tàu chiến, tàu thăm dò của Trung Quốc được đà, xuất hiện sâu trong thềm lục địa phía Nam Việt Nam, nơi có tiềm năng lớn về dầu khí và có ý nghĩa chiến lược về an ninh, quốc phòng.

Trước tình hình đó, ngày 17/10/1988, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh ký văn bản 19/NQ-TƯ về việc bảo vệ khu vực bãi ngầm trong thềm lục địa phía Nam (gọi tắt là khu DK1).

Cùng thời gian này, Tư lệnh hải quân Giáp Văn Cương cũng đã khẩn cấp giao cho Lữ đoàn 171 nhiệm vụ trấn giữ, bảo vệ chủ quyền thềm lục địa phía Đông Nam.

Với những trang thiết bị đo độ sâu, biên đội tàu HQ-713 và HQ-668 do Trung tá Lữ đoàn trưởng Phạm Xuân Hoa chỉ huy đã ra khơi khảo sát, đo đạc trên vùng biển rộng 60.000km2, tìm ra các điểm cạn và định vị các bãi đá ngầm san hô Ba Kè, Phúc Tần, Phúc Nguyên, Quế Đường, Tư Chính và Huyền Trân.

Chính từ những dữ liệu đó, hệ thống nhà giàn DK1 được xây dựng

Từ ngày 10 đến 15/6/1989, Bộ Giao thông – Vận tải phối hợp với Bộ Tư lệnh Công binh tiến hành xây dựng xong nhà giàn đầu tiên tại bãi đá ngầm Phúc Tần (tên địa danh hành chính là Trạm KT-KHDV Phúc Tần). Đây là nhà giàn được khảo sát ở vị trí số 3 nên còn được gọi là nhà giàn DK1/3 và là nhà giàn đầu tiên được xây dựng hoàn chỉnh.

Ngay sau khi nhà giàn được xây dựng xong, một phân đội thuộc Lữ đoàn 171 Hải quân do Đại úy Nguyễn Văn Nam chỉ huy lần đầu tiên ra bám trụ nhà giàn.

Sau đó, ngày 16/6/1989, nhà giàn DK1/4 cũng hoàn thành.

Từ ngày 27/6/1989, Tổng cục Dầu khí phối hợp với Bộ Tư lệnh Công binh cũng hoàn thành nhà giàn DK1/1.

Ngày 5/7/1989, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra chỉ thị số 180U/T về việc xây dựng Cụm DVKT-KHKT thuộc Đặc khu Vũng Tàu-Côn Đảo, xác định lại chủ quyền Việt Nam đối với khu vực thềm lục địa này.

Ngày 2/11/1989, Trạm DVKT-KHKT Tư Chính B (hay Tư Chính 2, hay Nhà giàn DK1/5) được thành lập, trở thành nhà giàn DK1 thứ 4.

Ngày 10/11/1990, Trạm DVKT-KHKT Phúc Nguyên (hay Nhà giàn DK1/6) được xây dựng xong, trở thành nhà giàn DK1 thứ 5.

Giai đoạn đầu các nhà giàn tương đối thô sơ, kết cấu dạng pông-tông (một dạng phao lớn hình khối hộp làm bằng kim loại) đặt trên nền san hô, dễ bị dịch chuyển bập bềnh trong nước khi có sóng lớn cấp 4 hoặc dòng nước chảy mạnh.

Tháng 12/1990, một cơn bão lớn với gió giật cấp 12 đã giật sập nhà giàn DK1/3 làm 3 CBCS hy sinh (Chỉ huy phó Chính trị Trần Hữu Quảng, Trung sĩ cơ điện Hồ Văn Hiền và Trung úy Quân y Trần Văn Là). Các nhà giàn DK1/4, DK1/6 cũng bị bão giật sập nhưng không thiệt hại về người.

Không quản ngại khó khăn, chúng ta tiếp tục xây dựng thêm các nhà giàn để khẳng định chủ quyền trước sự gia tăng ảnh hưởng của Trung Quốc trên vùng Biển Đông. Các nhà giàn liên tục được xây dựng.

Những nhà giàn về sau được xây dựng trên 4 cọc thép chắc chắn cắm sâu xuống đáy biển, phía trên là tổ hợp sinh hoạt, công tác có diện tích sàn khoảng 100m2.

Ngày 12/12/1998, cơn bão Faith có sức gió giật trên cấp 12 quét qua vùng Biển Đông. Sáng ngày 13/12, nhà giàn Phúc Nguyên 2A bị sóng cuốn trôi, đánh sập, 9 người bị rơi xuống biển, trong đó có 3 CBCS Tiểu đoàn DK1 (Nguyễn Văn An, Lê Đức Hồng, Vũ Quang Chương) hy sinh.
Sau tai nạn của nhà giàn Phúc Nguyên 2A, Quân chủng Hải quân chấm dứt sử dụng các nhà giàn được xây dựng trên nền thiết kế cũ.

Ngày 28/8/2009, Vùng 2 Hải quân mới được thành lập, nhiệm vụ chính là quản lý, bảo vệ chủ quyền vùng biển từ Bình Thuận đến Bạc Liêu, trong đó có khu vực trọng điểm là khu DK1.

Như những cột mốc đánh dấu chủ quyền lãnh hải của Việt Nam tại vùng thềm lục địa , các nhà giàn được những người lính Hải quân canh giữ trong điều kiện cực kỳ thiếu thốn, không có điện, thiếu nước ngọt, khả năng liên lạc hạn chế.

Đầu năm 2009, Báo Tuổi Trẻ TP. Hồ Chí Minh phát động chương trình “Chung tay thắp sáng nhà giàn DK1”, vận động quyên góp tài chính để lắp đặt pin mặt trời và hệ thống điện gió trên toàn bộ các nhà giàn.

Ngày 22/8/2009, các nhà giàn DK1/21 và DK1/12 đã có điện mặt trời. Các nhà giàn khác cũng lần lượt được lắp đặt, đến ngày 1/1/2011, DK1/10 là nhà giàn cuối cùng cũng có điện.

Cùng thời gian này, Tập đoàn Viễn thông Quân đội cũng thực hiện việc cải tiến và tăng công suất nâng khả năng phát sóng của trạm BTS ở khu vực biển đảo đi xa 100 km, giúp 9/15 nhà giàn có thể liên lạc bằng điện thoại di động thông thường.

Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam cũng dùng cách nâng công suất trạm BTS cùng với việc lắp đặt các trạm thu sóng từ vệ tinh Vinasat-1, trạm tiếp sóng, giúp mở rộng cả khả năng kết nối Internet từ các nhà giàn.

Khu vực nhà giàn DK1 gồm 7 cụm­ Phúc Nguyên, Phúc Tần, Huyền Trân, Quế Đường, Tư Chính, Ba Kè và Cà Mau với cả thảy 20 nhà giàn, từng được xây dựng trên thềm lục địa.

Chiều sâu mực nước bãi cạn thấp nhấp là 7m tại DK1/3 và sâu nhất là 25m tại DK1/15. Các nhà giàn được xây dựng từ năm 1989 đến 1998.

Hiện tổng cộng có cả thảy 15 nhà giàn đang sử dụng, trong đó có 8 nhà giàn có bãi đỗ trực thăng trên nóc, 4 nhà giàn có hải đăng, 1 nhà giàn có trạm quan sát khí tượng. Có 14 nhà giàn ở khu vực giáp với vùng biển Trường Sa và một nhà giàn (DK1/10) ở bãi cạn Cà Mau trên vùng biển Tây Nam…

Kế hoạch của tụi mình, ngay từ khi ở Cam Ranh là chặng dừng chân làm việc tại nhà giàn trên bãi cạn Huyền Trân.

Cụm nhà giàn Huyền Trân được thành lập chính thức từ 11/11/1991, xây dựng trên bãi cạn Huyền Trân (Alexandra Bank) thuộc vùng biển Trường Sa với nhà giàn DK1/7,có ngọn hải đăng và Trạm quan sát khí tượng Huyền Trân

Cơ động từ Trường Sa Lớn đến Huyền Trân, tàu lùi lũi chạy trong đêm đen kịt.

Buổi chiều, biển lặng và đẹp là thế, nhưng đêm buông xuống, biển trở mặt đánh sóng ào ào như ngăn không cho qua nhà giàn.

Càng về khuya, sóng càng mạnh, lên đến cấp 5 khiến tàu nhô lên hụp xuống trên mặt nước sóng trắng lân tinh.

Ca ăn đêm, đã dọn sẵn ngoài boong dưới, cũng phải bê hết vào trong phòng, cho bộ đội lấy dây chằng buộc bàn ghế, xoong chảo nồi niêu.

Buổi chiều ăn cơm xong, mình cắm Headphone nghe Quang Dũng và đút túi quần sóoc mấy lon 333, lững thững ra mũi tàu, vắt vẻo như… Titanic, hút thuốc, uống bia và ngắm biển. Cứ miên man vậy, đến lúc ngất ngây con gà Tây mới phi về phòng, lấy võng ra boong dưới, trùm chăn nghe nhạc thiếp đi…

Gần sáng, chợt tỉnh dậy khi thấy… ướt ướt dưới mông. Tỉnh hẳn: “Ơ! Bằng tuổi này còn tè dầm á?”. Sụp phát, tàu khụy xuống, sóng ào phát lên mặt, mới té ngửa: “Biển động!” và tỉnh hẳn khi chú Biên khoác AK, tùm hum trong bộ rằn ri lay đầu: “Biển động, tàu neo, đề nghị các Thủ trưởng vào phòng kẻo sóng tràn ướt hết người!”. Lắc đầu sang trái, vầng sáng lung linh huyền ảo trong biển, trên ngất ngây đầu sóng, tỉnh hẳn: “Đã tới nhà giàn Huyền Trân”. Thế là tỉnh ngủ luôn, ngồi nghĩ chuyện nhà giàn…

Mình đã mấy lần lên nhà giàn, bởi mỗi chuyến đi, ít nhất cũng có 1 chặng dừng ở 1-2 nhà giàn.

Thế nhưng, có lên nhà giàn, mới thấm thía cái ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết, để phục lăn những đồng đội, mang thân mình đặt lên cái nhà cũ kỹ, trên những cột thép yếu ớt để canh giữ biển trời, như những cột mốc sống, không cho lũ Tàu khựa cải trang trong tàu cá vào thăm dò, thục mũi khoan hút máu biển.

Quay lại câu chuyện của Thượng tá Lê Đình Việt, cứ thấm thía lời trầm trầm, giữa ầm ào sóng biển: “Ở đảo, hy sinh còn giữ được xác. Lính nhà giàn, hy sinh là mất xác trong lòng biển!”

Ra thăm nhà giàn dịp sóng yên biển lặng, khối khách đất liền xuýt xoa: “Đẹp quá! Trong lành quá! Sướng quá!” khiến lính ta cứ quay mặt đi, cười cũng không nổi: Chả sướng đâu. Mỗi năm chỉ có 3-4 tháng biển lặng cho các Đoàn ra thăm và nhìn nhà giàn dưới con mắt “ăn chơi ngủ nghỉ”, còn lại chỉ mấy anh em co ro với nhau trên cái chuồng chim bện bẳng sắt thép, sóng to gió lớn là nghiêng ngả. Những lúc ấy, hết thảy lính tráng phải mặc áo phao , đút tài liệu – vũ khí khí tài quan trọng vào túi bảo quản, chờ lệnh nhảy xuống biển, kéo lên tàu trực theo kiểu… “bỏ của chạy lấy người”. Hết bão gió, người lại lướt thướt quay ra, với “của”.

Cứ lẩn mẩn, trời sáng lúc nào chả biết. Chỉ thấy phía Đông, ửng lên quầng sáng như cà chua chín, thêm chút nữa, quả cà chua chín được nhúng nước ướt rượt thèn thẹn nhô lên, khiến lũ sóng lâu nhâu bu đến, trên đầu đứa sóng nào cũng nhấp nháy những đốm nắng xinh xinh.

Loa phóng thanh trên tàu lại: “Toàn tàu báo thức! Báo thức toàn tàu!”, khiến tất cả bừng tỉnh, xô hết sang mạn vẫy tay chào nhà giàn.

Sáng hẳn, kế hoạch lên nhà giàn thay đổi: Sóng to, biển động nên số xuống xuồng chuyển tải chỉ gồm bộ đội, thuộc loại đàn ông đã có kinh nghiệm đi biển, lên nhà giàn…

Buộc chặt túi bảo quản, siết quai mũ, căng quai dép và đợi sóng dềnh lên, nhảy bụp xuống lòng xuồng trước sự thán phục của những người ở lại, đang xanh mặt nhìn sóng cao đến cả mét đập ầm ầm vào thân tàu, xô dúi dụi chiếc cano chuyển tải.

Lại lạch tạch, ngất ngư nhô lên ngụp xuống giữa mênh mông biển. Tiếng bộ đàm léo nhéo trên giàn, chỉ dẫn xuồng cập chân cột thép. Nới dây, cột thừng và đảo ra lắc vào đến cả chục lần, gần 20 con người mới co chân, đạp lên bậc cầu thang rêu bám xanh, theo đà kéo của bộ đội, chính thức đặt chân lên tổ chim Huyền Trân.

Nhà giàn Huyền Trân được đặt ở vị trí có độ sâu từ mặt san hô lên đến mặt nước biển khoảng 12-15m, độ cao từ mặt nước biển lên sân thượng khoảng 15m.

Nhà giàn được thiết kế, chế tạo đáp ứng các hoạt động công tác hằng ngày, thiết kế chống rung lắc khi sóng lớn, bão mạnh trên cấp 12.

Nhà giàn thiết kế như một căn hộ với các phòng khách, ngủ, bếp, các phòng lắp đặt thiết bị nghiệp vụ chuyên môn.

Dưới chỉ có biển và biển, xung quanh đều hợp kim sắt thép, lên xuống bằng các bậc thang thép dốc đứng, nhưng Huyền Trân vẫn có chuồng chăn nuôi ngan, , những ô rau xanh mơn mởn với mùng tơi, rau lang, dền, ớt cay…

Khác với các đảo của Lữ đoàn 146, bộ đội trên nhà giàn của Lữ đoàn 171 chủ yếu là QNCN. Cậu Thiếu úy QNCN tên Quang, người Bắc Ninh dẫn mình đi sục sạo khắp 3 tầng của chuồng cu, tủm tỉm: “Báo cáo! Đã hết chỗ đi!”.

Xuống tầng… trệt, nhìn lũ cá bâu đen dưới chân cột sắt, mình nổi hứng: “Hay câu tý nhỉ?”. Quang lắc đầu: “Bọn cá này, bọn em chả câu làm gì cho… phí công!”.

Ối Giời phí!. Té ra ngoài này cá nhiều như vãi trấu. Mỗi bữa ăn, bộ đội thường đổ cơm nguội xuống biển, bọn cá chén cơm thành quen, lấy luôn nhà giàn thành nơi kiếm ăn – sinh sống. Mà thường thì bọn đói khát – gầy ốm mới le ve đợi… ăn sẵn, bộ đội lại chả thích tụi “chế độ chính sách”, thi thoảng mới thả dây, câu bọn cá to – béo hú có đến vài chục cân ở mãi tít biển sâu…

Quang kéo mình lên tầng ở, lạch xạch mở cửa bếp, mở vung nồi nhôm to đùng đặt trên bếp dầu: Toàn cá là cá, chặt thành khúc dày khự. “Hôm nào có thời gian, anh ở lại đây 1 đêm, bọn em câu tôm hùm, nấu canh mời anh! Gì chứ tôm cá ngoài đây, có mà đầy!”.

Loanh quanh trên sàn thép, thần kinh căng như dây đàn bởi dịp sóng yên biển lặng, là lúc bọn trộm cắp hay lén lút mò vào thềm lục địa, dịp bão gió lại lo chống đỡ giữ thân nhưng lính tráng vẫn hồn nhiên, vô tư và yêu đời lắm lắm.

Sự yêu đời của những người lính, mình bắt gặp trên vỏ hòm đạn 12,7 ly cải tạo thành thùng trồng rau xanh mướt; trên vỏ đạn gò thành chiếc kẻng báo động, trên vỏ bia 333 mài nhẵn thành cốc uống nước; trên mầm xanh của nhánh xương rồng, được cất cẩn thận sau bậc cầu thang vươn lộc xanh đón gió biển; trên cật tre bu gà, buộc chặt vào cột thép kiên trung…

Chia tay, mấy chàng sĩ quan trẻ gãi đầu ấp úng: “Hôm nay sóng to, chị em không lên được. Lát tàu nhổ neo chạy ngang qua, các Thủ trưởng cho phép chúng em ngắm chị em qua… ống nhòm nhé!. Nửa năm rồi, nhà chưa bóng văn công!” khiến tất cả lặng đi, không nói nổi. Bao năm rồi, cái thiếu thốn của bộ đội vẫn vậy và vo tròn thành nỗi nhớ giọng nói, ánh mắt, vòng eo con gái…

Về tàu, kéo neo. Tiếng loa phóng thanh hôm nay nhẹ hẳn: “Đề nghị các đồng chí nữ lên mạn chào nhà giàn!”.

Trên cao chuồng chim, lính ta tràn hết ra lan can, cuống quýt chuyền tay nhau ống nhòm, vẫy tay đến hoa mắt, cho những vòng tay của các chị nữ cũng đáp lại hối hả.

Cô bé trong đoàn bỗng cởi chiếc khăn màu hồng, quàng kín cổ ngăn những trận ho, vẫy lên rối rít khi tàu ngang qua nhà giàn, hụ còi nói lời tạm biệt.

Trên cao nhà giàn, những chiếc mũ trắng Hải quân bỗng được chuyền hết lên tay, xếp thành đường thẳng, chao qua chao lại theo nhịp của lời hát: “Đời mình là một khúc quân hành, đời mình là bài ca chiến sĩ” quen thuộc, mà tất cả mọi người trên tàu, cùng cất lên giữa ầm ầm sóng vỗ, ngày biển động bất thường…

Và đến giờ thì mình mới hiểu: Ở cái nhà giàn xa đất liền nhất này, nằm trên vùng nước biến động của quần đảo Trường Sa này, mọi khó khăn vất vả, gian lao, người lính sẽ vượt qua được, bởi phía sau họ là vợ con, người yêu, bạn gái…

Nỗi nhớ ấy không chỉ là dòng thư nối tháng, tiếng điện thoại bập bõm sóng xa mà còn rành mạch trong từng hơi thở nóng, nụ cười quen, giọng nói trong trẻo và ngón tay mềm vẫy gọi, của con gái đất liền khi ghé ngang qua. Có phải vì nhớ thương, dấu yêu dằng dặc vợ con – người yêu đến cháy lòng, khát khao như vậy, nên căn nhà giàn xa xôi, khó khăn nhất trong các nhà giàn này, được đặt tên theo công chúa – Nàng công chúa yêu kiều trên biển Trường Sa?..
———————————————————————————————————————–

Nhà giàn Huyền Trân nhìn từ xa
Nghệ thuật… lên giàn
Đồ đặc chủng, cho nhà giàn không có sân bay
Có nhà vệ sinh hẳn hoi (nhưng chỉ mở cửa khi có khách đến thăm thôi nhá! Còn bình thường, ngu gì mà chui vào?..)
Bia tập bắn trên biển
Mình và anh em đều thích gọi bằng tên thực: Bu gà
Phao cứu sinh luôn để ở chỗ dễ lấy, dễ nhìn
Giấu kín chậu xương rồng nhưng vẫn bị mình phát hiện được
Công nghệ lọc nước ngọt có 1 không 2
Vườn treo rau muống
Chật chội quá nên dụng cụ nấu ăn, thực phẩm cũng phải để ngoài lan can, giữa trời
Tàu đỗ ngoài cho nhà giàn thêm nhớ
Không đâu có, ngoài Huyền Trân: Cây chanh rất sai quả và quả nào cũng to đùng, mọng nước
Để dép ở ngoài cửa, nhá!
Góc làm việc và sinh hoạt
Dao thớt như ai
Kẻng để báo động
Hòm đạn thành… hòm rau
Có nước ngọt đâu mà giặt giũ?..
Thức ăn dự trữ
Toàn lính trẻ
Ai thăm cứ thăm, ai gác vẫn gác
Vườn rau mầm đây
Chỗ này mà ngồi nhậu hoặc nhảy nhót thì tuyệt
Tầng trệt đây. Ai xuống đây cũng phải mặc áo phao
Sóng cuộn lên, nhìn khiếp hãi
Bãi cạn Huyền Trân có mấy chú cá mập to như cái thuyền, thi thoảng hay vào nhà giàn chờ ăn cơm nguội
Ổn định chỗ ngồi chưa nào
Chào tạm biệt
Ngắm nhau
Các gái chào các giai. Hẹn gặp lại Huyền Trân, nhé!
Một kiểu ảnh kỷ niệm với Phó Chính ủy 171, để không quên nhà giàn Huyền Trân, tháng 4/2012

Trước giờ, truyền thông TQ, đặc biệt là Hoàn Cầu thời báo, thường tuyên bố “chính nghĩa” thuộc về họ trong tranh chấp trên biển. Vì thế, bài viết này là một bằng chứng cho thấy Trung Quốc thừa hiểu họ đang làm sai, nhưng bất chấp tất cả.

Chuyên trang quân sự thuộc tờ Hoàn Cầu thời báo của đảng Cộng sản Trung Quốc vừa có bài viết nêu rõ những hành động gây rối của nước này trên biển Đông.

Với nhan đề “Mỹ choáng váng: Trung Quốc bài binh bố trận trên biển Đông vượt quá dự liệu“, đoạn đầu bài viết (không ghi tên tác giả) đánh giá về tương quan vị thế quân sự, chính trị của Washington và Bắc Kinh. Theo đó, bài xã luận nhận định những tuyên bố của Mỹ và Nhật Bản không đủ sức ngăn cản những hành động cứng rắn của Trung Quốc tại vùng biển châu Á – Thái Bình Dương. Bằng chứng là tại biển Đông, Bắc Kinh vẫn nắm thế chủ động và lâu nay liên tục có nhiều động thái gây hấn nhưng chẳng hề gì. Đến nay, bài viết vẫn đang hiện diện tại đường dẫn http://mil.huanqiu.com/weapon/2012-03/2548253_4.html.

Về tình hình khai thác dầu khí trên biển, bài báo viết:

“Các nước ASEAN luôn tìm kiếm những công ty phương Tây hợp tác khai thác dầu ở Nam hải (Việt Nam gọi là biển Đông – NV). Tuy nhiên, tàu chiến, máy bay của hải quân Trung Quốc luôn xuất hiện dày đặc. Đặc biệt, Bắc Kinh còn thành lập thành phố Tam Sa quản lý các quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và Tây Sa (Hoàng Sa), xây dựng sân bay trên đảo Vĩnh Hưng (Phú Lâm). Vì thế, việc khai thác dầu trên biển Đông không được yên ổn”.


Hình chụp giao diện bài xã luận trên chuyên trang quân sự của Hoàn Cầu thời báo

Bài viết cũng thừa nhận sự bất ổn trong các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc, đặc biệt là bản đồ “đường lưỡi bò” mà Bắc Kinh vẽ ra trên biển Đông:

“Từ xưa đến nay, đối với các nước như Brunei, Malaysia…, Trung Quốc vẫn luôn vẽ đường phân tuyến tới “tận cửa nhà người ta”. Trung Quốc còn phân hóa Myanmar, Thái Lan, Campuchia…, chia rẽ các nước ASEAN, nhìn Philippines bị bóp chết và từng bước cướp miếng ăn của Việt Nam. Thậm chí với đường lãnh hải, Trung Quốc vẽ nên một “vòng lớn hoa lệ” ở Nam hải. Tuyên bố này vốn có từ thời Trung Hoa Dân quốc.

Thập niên 1930 là thời kỳ hoàng kim của chính quyền Trung Hoa Dân quốc nên một nhóm chuyên gia bắt đầu sử dụng thủ thuật trên để mở rộng lợi ích dân tộc. Nhóm chuyên gia du học từ nước ngoài trở về đã đem theo những bản đồ hàng hải của Anh, Pháp, Mỹ, Nhật. Sau đó, họ tích cực tìm kiếm các hòn đảo trên bản đồ, thấy lợi ích ở đâu thì khoanh tròn lại rồi cho rằng thuộc Trung Quốc. Ngoài ra, Bắc Kinh còn tìm kiếm tài liệu lịch sử, từ các đời Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh để mò mẫm những tuyến lãnh hải gây tranh cãi nhằm tuyên bố chủ quyền”.

Theo đó, cứ địa điểm nào mà tài liệu lịch sử các đời trên từng nhắc đến thì Trung Quốc tuyên bố nơi đó thuộc chủ quyền của nước này. Bài viết đánh giá thêm:

“Sau này, Trung Quốc thấy bản đồ do Trung Hoa Dân quốc vẽ quá rộng, đem lại nhiều lợi ích nên “ăn theo” tuyên bố chủ quyền trong đó. Tuy nhiên, Nam hải quá rộng, nên dù mang tên quốc tế là biển Nam Trung Hoa, thì không có nghĩa cả khu vực này thuộc chủ quyền Bắc Kinh. Nói theo cách đó, không lẽ Ấn Độ Dương thuộc về Ấn Độ? Sử dụng một “đường lưỡi bò” để vẽ lại toàn bộ Nam hải thì chỉ xét về đạo lý cũng không thuận”.

Bài xã luận trên cũng thừa nhận Trung Quốc đã “làm càn” trên biển Đông trong các cuộc xung đột từng xảy ra.

“Trong cuộc chiến trên biển Tây Sa vào năm 1974, một số tàu săn ngầm Trung Quốc tấn công tới tấp nhằm vào các tàu khu trục của miền Nam Việt Nam. Lúc bấy giờ, mặt biển nhuộm đỏ máu, hải quân Trung Quốc không chỉ nã pháo mà còn ném vô số lựu đạn, điên cuồng xả súng và bắt tù binh.

Đến hải chiến ở Nam Sa hồi năm 1988, Trung Quốc dùng tàu lớn để đánh với tàu nhỏ Việt Nam, kết quả thì chẳng ai mà không biết. Tiếp đến, Bắc Kinh điên cuồng chiếm địa bàn, sửa chữa công sự để lập trạm phòng thủ như ngày nay. Trung Quốc còn đắp 8.000 mét vuông đất đảo và xây dựng bãi đáp trực thăng, nhà kính thực vật trên bãi đá Vĩnh Thử (đá Chữ Thập) thuộc Nam Sa”.

Cuối cùng, bài viết kết luận:

“Bắc Kinh ngày càng thích gây ra rắc rối trên Nam hải. Không chỉ cố đạt được lợi ích mà Trung Quốc còn “tát” vào các nước láng giềng rồi quay sang cho rằng họ tự đập mặt vào tay Bắc Kinh”.

Đây là một trong những bài bình luận với giọng điệu hiếm gặp được đăng trên các cơ quan ngôn luận trung ương của Trung Quốc. Trước giờ, truyền thông nước này, đặc biệt là Hoàn Cầu thời báo, thường tuyên bố “chính nghĩa” thuộc về họ trong tranh chấp trên biển. Vì thế, bài viết này là một bằng chứng cho thấy Trung Quốc thừa hiểu họ đang làm sai, nhưng bất chấp.

LUCY NGUYỄN (THANH NIÊN ONLINE)

Mai Thanh Hải – Ở trong đất liền, hễ có sự kiện gì liên quan đến biên giới chủ quyền trên bộ, trên biển, y như rằng mở báo, bật ti vi là gặp cái câu “tàu lạ”, “nước lạ”, “nước ngoài”… đến phát nhàm chán và nhám nhỉ.

Thế nhưng ở ngoài Trường Sa, bộ đội ta “nắm tay day trán” chỉ thẳng: Bọn này không lạ..

Có lẽ vì chúng không còn lạ ở mặt biển, ngang trời và rất hay chơi trò khiêu khích, lăm le cắn trộm khiến bộ đội ta theo dõi sát sao chúng từng giây từng phút.

Đến Sơn Ca, Gạc Ma, Sinh Tồn Đông… mình đều thấy chúng lởn vởn ngoái xa, qua vòng kính ống nhòm. Tới Sinh Tồn Đông, kéo ống tele máy ảnh cũng chụp rõ cái khối xám xịt, ngang phè của chúng nằm trên bãi Huy Gơ với đầy đủ nhà ở, ụ súng, sân đậu trực thăng, sân trực thăng…

Cũng ở Sinh Tồn Đông, đứng trên Đài quan sát cũng thấy lờ mờ tàu cá của chúng lởn vởn ngoài bãi Ba Đầu, âm mưu rình rập.

Bộ đội Sinh Tồn Đông đã từng phát hiện chúng cắm “vật lạ nhưng không hề lạ” trên bãi cạn Ba Đầu, định chơi trò đánh dấu và ngoác mồm nhận đấy là của mình.

Cái vật ghi làm bằng gỗ, đặt trên phao chìm ghi dòng chữ “CMDC 2” đấy, bộ đội ta đã nhổ bỏ – kéo về thu lại trên Sinh Tồn Đông, như bằng chứng không thể chối cãi về mưu đồ chiếm đóng vẫn sôi sùng sục, trong những cái đầu Phương Bắc tham lam ấy.

Trên bãi đá Bàn Than, nằm giữa Sơn Ca của ta và Ba Bình (do Đài Loan chiến giữ), những kẻ bụng to mắt híp đã, đang lăm le tìm mọi cách chiếm giữ, ăn cướp khiến ống nhòm trực gác, cứ chong mắt canh bãi đá suốt ngày đêm.

Những ngày tháng 4 này, không khi nào thôi thấm thía câu: “Không để Tổ quốc bị bất ngờ”, khi đến với những đảo tiền tiêu, ngoài tít tắp biên đảo Trường Sa.
————————————————————————————————————

Căn cứ của Trung Quốc chiếm đóng trái phép trên đá Gach Ma (hình: Thiềm Thừ)

 

Căn cứ Trung Quốc xây trái phép trên bãi Huy Gơ (hình: Thiềm Thừ)

 

Căn cứ của Trung Quốc có sân đậu trực thăng, kiêm chơi bóng rổ

 

Trước Huy Gơ là bãi Holly

 

Bãi Huy Gơ, tháng 4/2012 (Hình: MTH)

 

Trung Quốc dựng phao tiêu gần Huy Gơ

 

Chúng đấy

 

 

1 tàu cá của Trung Quốc kéo theo các ghe con, lởn vởn ở bãi Bàn Than và MTH chụp lại được từ Sinh Tồn Đông

 

Chúng đây

 

Kéo đến 4 chiếc thuyền nhỏ

 

1 tàu cá khác của chúng, đang neo đậu và chúng trên boong nghiêng ngó nhìn vào

 

Chúng ở gần bãi đá Ba Đầu

 

Thứ ghi “CMDC2” chúng cắm trộm ở Ba Đầu và ta phải ra thu về (hình: Thiềm Thừ)

 

 

Bãi đá Bàn Than gần đảo Sơn Ca, chúng cũng đang nhòm ngó

 

Tàu cá của chúng, đang rình rập cạnh Ba Đầu (hình: Thiềm Thừ)

Không phải đến bây giờ ngư dân Việt Nam, nhất là ngư dân Quảng Nam, Quảng Ngãi mới bị Trung Quốc bắt tàu, bắt người, tịch thu hải sản mà liên tiếp trong những năm qua, sự việc này xảy ra thường xuyên. Điều đáng lên án là những vụ bắt bớ nói trên đều xảy ra khi các ngư dân Việt Nam đang hoạt động đánh bắt hải sản hợp pháp trên vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

Liên tục cướp của, bắt người tống tiền

Những vụ cướp của, bắt người diễn ra liên tục, khiến cho nhiều ngư dân rơi vào hoàn cảnh khốn khó.

Theo thông kê từ năm 2005 đến 2011, Quảng Ngãi đã có 144 tàu với 1.116 ngư dân bị nước ngoài bắt giữ, khiến nhiều người bị thiệt hại số tiền lên đến hàng tỉ đồng.

Chỉ tính năm ngoái, Quảng Ngãi có 17 tàu thuyền với khoảng 200 ngư dân bị nước ngoài bắt và giam giữ, xua đuổi, phạt tiền, tông hỏng tàu, cướp tài sản, phạt tù…, trong đó có đến 10 trường hợp do phía Trung Quốc gây ra.

Gần đây nhất là vụ 21 ngư dân bị bắt cả tàu và người, bị cướp hết hải sản đánh bắt được, còn bị tống tiền.

Các thuyền viên tàu QNg-90078-TS kể chuyện tàu bị bão đánh và bị cướp khi trú bão

Hoặc trước đó, ngày 22-2, phía Trung Quốc cũng đã bắt giữ tàu cá QNg-90281-TS của ngư dân Đặng Tằm (xã Bình Châu, huyện Bình Sơn) sau đó tịch thu, phá hỏng toàn bộ phương tiện hành nghề trước khi thả tàu cá ông Tằm về lại địa phương. Còn theo ông Lê Văn Sơn – Chi cục trưởng Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản tỉnh Quảng Ngãi, cho biết: Từ đầu năm đến nay, tỉnh có 5 tàu cá với 61 ngư dân bị phía Trung Quốc bắt giam, tịch thu ngư cụ, đòi tiền nộp phạt.

Hay như trước đó, ngày 6-5-2011, tại đảo Bạch Quy thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam, tàu QNg-50615-TS do ngư dân Trần Văn Thoa (31 tuổi) làm thuyền trưởng cùng 14 ngư dân thuộc xã Bình Châu, huyện Bình Sơn đã bị một tàu kiểm ngư của Trung Quốc rượt đuổi và tịch thu tài sản trị giá hơn 200 triệu đồng. Tiếp đến trưa ngày 11-5-2011, tàu của thuyền trưởng Phạm Hà (37 tuổi) cũng bị tàu kiểm ngư của Trung Quốc vơ vét sạch tài sản như dây hơi, máy định vị, đồ nghề sửa máy, dây điện và toàn bộ 200 kg tôm hùm, 3 tấn cá…Anh Võ Đào (35 tuổi) ở thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu là thuyền trưởng tàu cá QNg-90019-TS cũng cho biết: “Ngày 9-5-2011, sau 10 ngày đổ mồ hôi giữa biển khơi 8 anh em đánh bắt được khoảng 5 tấn hải sản các loại đã bị tàu kiểm ngư Trung Quốc mang biển hiệu 309 áp sát trấn lột toàn bộ…”. Có những trường hợp chạy trốn bão cùng bị bắt, như tàu QNg-95031-TS, tàu QNg-90078-TS, tàu QNg-5012-TS… bị Trung Quốc bắt giữ, tịch thu tài sản và đánh đập trong quá trình trú bão. Khó mà kể hết những vụ bắt, cướp, tống tiền như trên.

Chị Nguyễn Thị Mai Trang (vợ ngư dân Phan Văn Tân  là thuyền viên tàu QNg-66074-TS bị Trung Quốc bắt giữ)  bên đứa con nhỏ mới sinh hơn 1 tháng

Khốn đốn vì bị cướp, bắt, tống tiềnNếu có ai về miền Trung thì chắc chắn không xa lạ gì với những câu chuyện ngư dân bị bắt, cướp, tống tiền. Trong số những người khánh kiệt do Trung Quốc bắt tàu, đáng kể là ông Mai Phụng Lưu, 30 năm qua ông đã kiên tâm bám biển thế nhưng 4 lần bị Trung Quốc bắt tàu, khiến ông phải khánh kiệt, nợ ngân hàng và các đầu nậu cá hơn 700 triệu đồng. Hay như thuyền trưởng Tiêu Viết Là (ở thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu), chỉ trong vòng 5 năm, tàu cá ông đã 4 lần bị Trung Quốc tấn công, bắt giữ, tịch thu tàu.

Bà Nguyễn Thị Bưởi (vợ ông Là) nói: “Gia đình còn nợ ngân hàng 120 triệu đồng nhưng biết lấy gì trả đây!” Vì thế, từ một gia đình giàu có nhất, nhì thôn Châu Thuận Biển, bây giờ ông Là trở nên khánh kiệt, nợ nần và đau ốm. Rất nhiều ngư dân ở xã Bình Châu và ở huyện đảo Lý Sơn rơi vào tình cảnh tương tự. Hay như tâm sự của ông Đặng Tằm: “Năm 2010, tui và 10 ngư dân bị tàu ngư chính của Trung Quốc bắt về đảo Phú Lâm giam 10 ngày, sau khi nộp phạt 210 triệu đồng mới được họ thả về.

Sau lần đó tui nợ nần gần 600 triệu đồng. Năm rồi tui đi bốn chuyến, trả được gần 300 triệu đồng, tính năm nay đi biển sẽ gom lại trả hết. Nhưng mới chuyến đầu đã bị cướp, nợ lại chồng nợ lên 600 triệu đồng. Vậy có khổ không chứ!” Có rất nhiều gia đình như ông Lưu, ông Là, ông Đặng Tằm, họ là những ngư dân hiền lãnh làm ăn ngay chính trên vùng đặc quyền kinh tế của nước ta, thế nhưng phía Trung Quốc vẫn cướp, bắt, tống tiền khiến họ lâm vào cuộc sống nợ nần khó khăn.

Nhiều ngư dân cho rằng, thật sự nếu không có sự giúp đỡ từ cộng đồng, từ những chính sách thiết thực của Đảng và Nhà nước thì họ khó có cơ may trở lại biển khơi. Như hoàn cảnh của “Sói biển” Mai Phụng Lưu, ông Lưu tâm sự rằng: “Tui bị phía Trung Quốc bắt 4 lần, tổn thất hàng tỉ đồng, tưởng chừng như sẽ không còn cách gì để ra khơi. Thế nhưng nhờ được hỗ trợ vay vốn, tui lại có tàu để ra khơi. Lòng tui lúc nào cũng luôn hướng về ngư trường Hoàng Sa”. Tâm sự của “sói biển” Lưu cũng là tâm sự của những người kiên tâm bám biển. Thật đáng trân trọng và khâm phục lòng quả cảm của những ngư dân này.

Theo Tấn Thành/ Đại Đoàn Kết

Chiến Tranh Năm 1979- Cái nhìn từ Người Nga

Việt Nam vẫn đang kiêu hãnh về những chiếc đầu lâu của lính Trung Quốc trong rừng rậm

Sergei Balmasov

Ngày 5-3-2009
Việt Nam đã anh dũng đẩy lùi cuộc tấn công của Trung Quốc cách đây 30 năm. Mối thù nghịch giữa hai nước tiếp tục trong hơn 2.000 năm.

Cách đây 2500 năm, lãnh thổ của Việt Nam đã từng lan rộng tới Sông Yangtze. Người Việt Nam đã chứng tỏ cách đây 30 năm rằng họ có thể vẫn còn tiến hành được một cuộc chiến tranh.

Cuộc chiến đã nổ ra năm 1979 bởi vì những mối quan hệ căng thẳng giữa Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Sô Viết và Trung Quốc. Hai chế độ cộng sản đang tranh giành ảnh hưởng đối với các quốc gia trong phe xã hội chủ nghĩa. Bắc Kinh đã không thể khoác lác được về bất cứ thành công nào: phạm vi ảnh hưởng của họ chỉ bao gồm có hai nước Albania và Kampuchea.

Pol Pot đã tấn công sang những vùng lãnh thổ biên giới của Việt Nam năm 1978. Hà Nội đã đáp trả bằng cách đưa quân tràn sang Kampuchea từ tháng 12-1978. Trung Quốc đã có được một lý do để xen vào phe Pol Pot và xâm chiếm Việt Nam cốt để làm suy yếu ảnh hưởng của Liên Xô trên thế giới.
Hoa Kỳ đứng đằng sau cuộc xung đột: nước này đang đấu tranh chống chủ nghĩa cộng sản. Hoa Kỳ khi đó đã đặt Trung Quốc vào vị trí chống lại các nước đồng minh của Liên Xô bằng hứa hẹn sẽ trợ giúp Bắc Kinh.

Đội quân Trung Quốc hùng hậu với 600.000 người đã tấn công Việt Nam dọc theo toàn tuyến biên giới dài 1.460 km. Việt Nam chỉ có hai sư đoàn để chống lại 44 sư đoàn Trung Quốc. Khoảng 85% binh lính Việt Nam khi đó đang đóng tại Campuchea, cách xa hàng ngàn cây số. Tuy nhiên, Trung Quốc đã thất bại trong một cuộc chiến tranh chớp nhoáng: Việt Nam đã hành động tuyệt vời mà không cần có vai trò cơ bản của các lực lượng chính quy.

Các đơn vị biên phòng và dân quân địa phương đã tỏ rõ sức kháng cự mãnh liệt trước kẻ thù xâm lược. Những toán quân Trung Quốc chỉ di chuyển được có 15 km trong lãnh thổ Việt Nam trong ba ngày đầu của cuộc chiến. Chỉ vài ngàn lính biên phòng Việt Nam nhưng đã ngăn cản được cả một đoàn quân.

Chỉ sang ngày thứ ba dân quân Việt Nam mới tham chiến. Các toán quân Trung Quốc di chuyển dọc theo những con đường hẹp trong rừng rậm – địa thế xung quanh rất tiện lợi cho việc gài bẫy. Các binh lính Việt Nam dần dần đã chia cắt quân đội địch thành nhiều mảnh.

Một nhóm cố vấn Liên Xô đã tới Việt Nam ngày 19 tháng Hai 1979. Moscow đặt quân đội ở Đông Âu của mình trong tình trạng báo động cao độ và đã hăm doạ tràn qua Trung Quốc. Hạm đội Thái Bình Dương của Liên Xô khi đó đang tiến vào vùng biển Trung Quốc. Các chiến đấu cơ Sô Viết chuyển vận một nhóm quân đội Việt Nam từ Campuchea về , để có thể tổ chức được một đội quân Việt Nam hùng hậu 100.000 người.

Trung Quốc bắt đầu rút các toán quân của họ vào ngày 5 tháng Ba. Họ đã tuyên bố chiến thắng nhưng không bao giờ giải thích lý do vì sao họ lại thất bại trong việc bảo vệ Pol Pot, đồng minh khát máu của mình. Mãi mười năm sau Việt Nam mới rút quân khỏi Campuchea, sau khi đã đánh bại Khmer Đỏ.

Các binh lính Việt Nam đi theo sau cuộc triệt thoái của quân đội Trung Quốc trong hai tuần và đã tiêu diệt 62.500 lính Trung Quốc. Họ còn phá hủy tới 50% vũ khí hạng nặng của quân đội Trung Quốc được sử dụng cho cuộc gây hấn này.

Những dấu tích của cuộc chiến vẫn còn vang vọng lại cho tới hôm nay. Cách đây không quá lâu, mỗi sinh viên Việt Nam đang học tập tại các trường y khoa địa phương được chấp thuận để mang vài ba cái đầu lâu của binh lính Trung Quốc từ trong rừng rậm cho các lớp học thực tâp. Cuộc tấn công bất ngờ năm 1979 đã chứng tỏ rằng Việt Nam có một trong những đội quân thiện chiến nhất trên thế giới, họ hiểu rõ cách làm sao để bảo vệ vùng đất quê hương mình.

Hiệu đính: Trần Hoàng

Trung Quốc phải dừng xâm phạm chủ quyền Việt Nam

Từ đầu năm 2012 đến nay, báo chí Trung Quốc đưa tin liên quan đến một số hoạt động của một số bộ ngành của Trung Quốc ở Biển Đông.

Cụ thể như: Bộ trưởng Giao thông Trung Quốc ra đảo Hoàng Sa thị sát tàu Hải Tuần; Cục trưởng Cục thể thao Trung Quốc đến thăm đảo Phú Lâm, Quần đảo Hoàng Sa khảo sát tình hình triển khai hoạt động thể dục thể thao; Viện nghiên cứu Môi trường và Khảo sát công trình hải dương “Nam Hải” thực hiện dự án đo đạc, giám sát, phân tích và đánh giá sự thay đổi của một số đảo điển hình ở quần đảo Hoàng Sa; Cục trưởng Cục ngư chính khu “Nam Hải” Trung Quốc cho biết Trung Quốc có kế hoạch về việc xây dựng căn cứ nghề cá ở đảo Phú Lâm, quần đảo Hoàng Sa và xây dựng cầu tàu và căn cứ dịch vụ nghề cá ở Trường Sa.

Ngày 23-2, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước những việc làm trên của phía Trung Quốc, Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Lương Thanh Nghị khẳng định:

 

Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lương Thanh Nghị

 

Việt Nam có chủ quyền không tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Mọi hoạt động ở khu vực hai quần đảo này mà không được sự đồng ý của Việt Nam là xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam, làm phức tạp và căng thẳng thêm tình hình trên Biển Đông, trái với Thỏa thuận các nguyên tắc cơ bản giải quyết vấn đề trên biển đã ký giữa hai nước, không phù hợp với Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), cũng như các cam kết duy trì ổn định, hòa bình trên biển.

Việt Nam yêu cầu Trung Quốc dừng ngay các hành động, hủy bỏ các dự án xâm phạm chủ quyền của Việt Nam nêu trên, cùng các bên liên quan hợp tác giữ gìn hòa bình, ổn định ở Biển Đông, thực hiện nghiêm túc DOC.

Theo TTXVN

Không được đụng tới Việt Nam (kỳ 6) Trận : đầu tiêu diệt xe tăng giặc

Lệnh lên đường truyền đi toàn đại đội 10. Lê Văn Thời bật người dậy, đeo balô trên người và ôm khẩu B41 lao đi. Toàn đại đội có mặt đông đủ. Mọi người khẩn trương lên xe. Chiếc ôtô rú ga chuyển bánh, vượt qua cầu sông Bằng, đi vào thị xã Cao Bằng rồi chạy thẳng lên hướng Hoà An. Sương đêm dăng màn trên đỉnh núi, thấm vào vai áo từng người ướt đẫm. Cái lạnh của vùng cao không thể làm dịu bớt sự nóng lòng của mỗi chiến sĩ chờ phút giáp mặt quân thù.

Cả đại đội triển khai theo các tuyến công sự có sẵn. Tiểu đội B41 của Thời dàn đội hình trên đoạn hào đầu tiên. Đi về phía sau là những lối mòn dẫn qua sườn đồi, có thể cơ động rất thuận lợi. Nhận xong vị trí, Thời lắp đạn vào súng, tính cự ly bắn ở nhiều tình huống khác nhau để khi xe tăng địch tới là có thể nổ súng được ngay. Dọc tuyến chiến đấu, đại đội cũng đã làm xong công tác chuẩn bị và sẵn sàng nổ súng khi có lệnh tiến công.

Từ hướng Hoà An có tiếng xe tăng vọng tới mỗi lúc một gần. 2 chiếc xe tăng đi đầu đã vào trận địa. Trên tháp pháo, chúng sơn hình cờ đỏ sao vàng để đánh lừa sự chú ý của ta. 2 khẩu pháo trên nóc 2 chiếc xe tăng hướng về phía trước. Nhìn chúng đi nghênh ngang trên đường nhựa, Thời căm giận sôi lên. Anh đã thò ngón tay trỏ vào cò súng định diệt luôn. Nhưng rồi Thời kịp nhớ ra : phải đợi toàn bộ đội hình của chúng lọt vào trận địa mới được nổ súng.

Khi 2 chiếc xe đến gần cuối đội hình của đại đội, vẫn chưa thấy toán sau đi tới. Nếu không diệt ngay, chúng sẽ tiến sâu vào Cao Bằng. Đại đội trưởng Hồng kịp thời lệnh cho 2 tay súng B41 bắn. Tiếng súng nổ. 1 chiếc xe tăng đã bốc cháy ngay tại chỗ. Chiếc thứ 2 hốt hoảng xoay ngang định vòng trở lại. Nhưng muộn rồi, Nguyễn Quang Anh, người bạn đồng hương của Thời đã vọt khỏi công sự, nã quả B41 vào ngang thân nó. Chiếc xe tăng địch bị trúng đạn khựng lại. Ngay lúc đó, 1 bác nông dân người Nùng từ trong nhà chạy ra. Bác đến cạnh Thời, nói nhỏ :

– Bộ đội ơi ! Xe tăng hỏng mà thằng địch còn sống đó. Nó đang mở nắp xe ra kìa.

Thời vội đeo khẩu AK và vác súng B41 lên vai chạy theo bác nông dân dẫn đường. Khi đến nơi, anh thấy thằng giặc đã nhảy khỏi xe. Nó đang tìm đường chạy trốn. Nhanh như cắt, Thời điểm xạ luôn 1 viên AK thật chính xác. Tên giặc trúng đạn, rống lên rồi ngã vật bên xác chiếc xe tăng. Thời nhảy lên nóc xe chiếu đèn pin vào kiểm tra. Tất cả chúng nó đã bị tiêu diệt. Thời nhanh chóng trở về vị trí của mình.

Ngay sau đó, 1 đoàn xe tăng địch ầm ầm lao tới. Thời đếm rõ từng chiếc một. Chúng cứ tưởng 2 chiếc đi đầu đã làm được nhiệm vụ mở đường nên cứ ngạo mạn tiến. Chiếc đi đầu đã lọt đúng vào tầm bắn.

Một tiếng nổ dữ dội. Quả đạn B41 từ công sự của Thời đã lao đi. Chiếc xe tăng đi đầu trúng đạn, bốc khói đen xịt. Cả tốp xe tăng địch ùn lại xoay ngang, hạ nòng súng bắn quét 2 bên đường. Nhưng không có tác dụng. Tầm đạn của chúng quá cao trên tầm công sự bám sát mép đường của bộ đội ta.

– Đồng chí Thời, luồn về phía sau, diệt bằng được chiếc xe tăng cuối cùng.

Đại đội trưởng Hồng ra lệnh. Thời xách khẩu B41 vòng vệ con đường mòn sau bản để tiếp cận gần xe tăng địch. 5 phút sau anh đã bám sát chiếc xe sau cùng. Địa hình ở đó hơi trống trải. Chỉ có vài cây cối lưa thưa. Địch rất dễ phát hiện. Đứng ở trong sân nhà, lợi dụng bức tường bắn ra chăng ? Không được, cự li quá xa, rất dex trật mục tiêu. Bắn không trúng chiếc xe này thì quân địch dễ tháo chạy trở lại thị trấn Hoà An, thời cơ diệt gọn cả đoàn xe địch sẽ không còn. Suy nghĩ giây lát, Thời quyết định một cách đánh táo bạo hơn. Anh đã vọt ra khỏi bức tường và bám sau xe tăng để bắn.

Mải bắn phía trước, bọn địch không biết rằng chúng đang hở 1 khoảng trống ở phía sau nên Thời đã tiếp cận xe tăng địch được thuận lợi. Khi cách xe tăng khoảng 10m, Thời đưa súng lên vai ngắm mục tiêu rất nhanh, bóp cò. Quả đạn từ phía Thời bắn đi đã lao chúng vào phần cuối xe tăng địch. Một luồng lửa màu da cam loé lên, rồi một luồng khói xám xịt toả ra trùm lấy thân hình bất động của nó. Biết chắc hiệu quả của viên đạn bắn đi, Thời lui về phía sau bức tường quan sát. Không thấy tên địch nào sống sót nhảy ra, anh mới yên tâm chạy về vị trí cũ để tiếp tục diệt những chiếc xe còn lại. Trên đường về, Thời gặp Màu, 1 chiến sĩ giữ AK. Màu bảo Thời :

– Phía trước, xe tăng địch bị diệt gần hết rồi. Đại đội trưởng bảo anh đón sẵn ở đó, đề phòng còn có xe địch tới.

Nghe Màu truyền lệnh của đại đội, Thời xách súng quay lại ngay. 2 người đi được một đoạn, thấy tiếng súng bắn xối xả về phía trung đội 2.

– Tiếng súng ở đâu đó ?

– Có lẽ trên xe tăng địch.

– Không phải, tầm đạn rất gần mặt đất Màu à. Có thể bọn địch trong xe còn sống đã xách súng xuống nấp ở nơi nào đó bắn chăng.

– Cũng có thể thế lắm.

2 người im lặng quan sát một lúc thì phát hiện ra mấy tên địch đang giấu mình trong bụi tre, bắn đại liên về phía trước. Thời lấy khẩu Ak của Màu nhưng Màu đã ngăn lại và nói :

– Bụi tre vướng lắm, 3 thằng địch lại nấp kín ở gốc cây, bắn AK khó trúng. Có thể nó sẽ lủi mất. ANh dùng B41 bắn để diệt luôn cả khẩu đại liên. Tụi này nguy hiểm lắm.

– Ờ, thế cũng hay đó !

Thời quyết định bắn B41.”Một quả B41 đổi 3 tên địch và 1 khẩu đại liên là được rồi”. Nghĩ vậy, Thời vội đi vòng ra phía sau lưng địch, đứng nép vào gốc cây, đưa khẩu B41 lên vai, lấy đường ngắm. Một tiếng nổ lớn, khẩu đại liên văng ra cùng với xác 3 tên giặc.

Vừa về đến chỗ Màu, Thời thấy 1 chiếc xe tăng địch đang ẩn mình dưới một thửa ruộng trũng ven đường, quay nòng pháo bắn vào trong bản. Thời bò lết theo bờ mương, vận động theo hướng xe tăng để diệt. Đang bò, bỗng Thời nghe thấy 1 tiếng nổ lớn. 1 chiến sĩ khác trong đại đội đã kịp thời nổ súng, tiêu diệt chiếc xe tăng cuối cùng của địch trong trận đánh.

Trận địa đã thưa dần tiếng súng. Đoàn xe tăng của địch có 13 chiếc, đã bị đại đội 10, tiểu đoàn 9, đoàn B46 tiêu diệt toàn bộ, nằm phơi xác trên đoạn đường thuộc xã Nam Tuấn, huyện Hoà An (Cao Bằng).