Tag Archive: đằng


Có thể nói, bây giờ độ phổ biến của Facebook cũng như nút Like ngày càng lan rộng, và sau đây là infographic thể hiện điều này

Hình ảnh trên diễn đàn Việt Designer

Nguồn: GenK

Read more: 

CUỘC ĐÀM LUẬN GIỮA CHỦ THỂ ĐỀ NGHỊ ĐA ĐẢNG (CT1) VỚI CHỦ THỂ ỦNG HỘ ĐỘC ĐẢNG LÃNH ĐẠO (CT2) TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

            – CT1: Montesquieu có bàn trong “Tinh thần pháp luật”, ông cho rằng: Nguyên nhân của dân tha hoá là do quan tha hoá, mà nguyên nhân của quan tha hoá là do độc quyền. Bạn có thể không đồng ý với quan điểm trên. Vậy nên, tôi đề cập đến quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin – Chủ nghĩa được xác định là hệ tư tưởng chỉ đường ở Việt Nam hiện nay: Triết học Mác – Lênin có lý luận về 03 quy luật của phép biện chứng duy vật, thì có “Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập – quy luật mâu thuẫn”. Nội dung của nó thừa nhận “mâu thuẫn” là động lực của sự phát triển. Trong điều kiện hiện tại, Việt Nam thừa nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có tận dụng “quy luật cạnh tranh” làm động lực phát triển kinh tế đất nước. Vậy tại sao Việt Nam lại không thừa nhận quan điểm đa đảng, vừa tận dụng và phát huy được giá trị của “quy luật cạnh tranh” trong chính trị, vừa phù hợp với quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin tạo động lực để làm trong sạch, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng? Như vậy, Việt Nam phải chăng đang đi trái với quy luật được đưa ra trong hệ tư tưởng của mình!
            – CT2: Chủ nghĩa khai sáng ở Pháp thế kỷ XVIII đã để lại những thành quả to lớn cho nhân loại, với những tư tưởng tiến bộ và có giá trị  nhân văn sâu sắc cho đến thời điểm hiện nay, và có thể cả nhiều thập kỷ hay thế kỷ về sau; và không thể phủ nhận việc Chủ nghĩa Mác – Lênin có kế thừa những quan điểm, tư tưởng tiến bộ từ các học thuyết trong giai đoạn này. Riêng với quan điểm của chúng tôi, người phương Đông từ xưa đã có câu “Xà trên không thẳng, xà dưới ắt cong”, tục ngữ Việt Nam cũng đã dạy rằng “Nhà dột từ nóc”.
            Và cho rằng độc quyền là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự tha hoá của “xà trên” theo chúng tôi cũng là một quan điểm phù hợp trong tính tương đối và biện chứng, nhưng điều này không mang tính hiển nhiên. Bởi vì, Độc quyền không sẵn mang trong nó bản chất tiêu cực. Độc quyền – duy nhất một chủ thể nắm quyền – khác hoàn toàn với khái niệm độc tài. Độc tài hay là sự độc đoán, chuyên quyền mới là yếu tố tiểu cực về bản chất. Có thể thừa nhận, sự độc tài có nguồn gốc từ sự độc quyền, nhưng không phải sự độc quyền nào cũng dẫn đến độc đài – độc đoán chuyên quyền.
             Đồng thời, không có một điều gì chứng minh rằng: một nhóm gồm nhiều người hiển nhiên là một nhóm biết lắng nghe; và cũng không có điều gì chứng minh rằng: một con người hiển nhiên là không biết lắng nghe. Không có điều gì chứng minh rằng: nhiều hơn một thì hiển nhiên vì tất cả mọi người; và cũng không có điều gì chứng minh rằng: một thì hiển nhiên không vì tất cả mọi người. Tôi thấy trong thực tiễn thế giới, rất nhiều, rất nhiều trường hợp “một” nhưng vì nhân loại, vì cả loài người. Nhưng trường hợp “nhiều hơn một” mà vì nhân loại thì không nhiều như thế. Nước Anh có Robert Owen vì nhân loại và lòng bình đẳng, bác ái, nhưng cả nước anh lúc đó đâu như vậy; tương tự như Xanh Xi – mông ở Pháp; Abraham Lincohn ỡ Mỹ. Bạn nghĩ để một mà vì tất cả mọi người lãnh đạo tốt, hay để nhiều hơn một nhưng cái nhiều hơn một trong cái “hỗn tạp” lãnh đạo tốt!?
            Aristole đã từng nói: Không phải bản chất của độc quyền hay cộng hoà đã mang sẵn trong nó tính tốt hoặc xấu; mà tuỳ thuộc vào từng điều kiện cụ thể nhất định. Tất cả mọi vấn đề đều có tính hai mặt của nó. Trong thời kỳ chiến tranh, sự độc quyền chỉ huy tập trung vào tay một chủ thể là vấn đề tất yếu và tích cực. Trong khoa học quản lý kinh doanh, người ta thường đề nghị “tập quyền” trong giai đoạn mới thành lập; nhưng vào giai đoạn ổn định và phát triển thì cần phát huy tính “cộng hoà”. Chúng ta cũng không thể phủ nhận tính “độc quyền tự nhiên” trong nền kinh tế. Những dạng độc quyền như thế là những độc quyền tích cực. Aristole cũng cho rằng, sẽ rất hiếm tìm được một chủ thể thật sự tài năng và đức độ để trao cho “độc quyền”, vì vậy, để tránh rũi ro, thì khi không có được chủ thể như vậy, chúng ta nên “cộng hoà”. Nhưng khi có một chủ thể xứng đáng để được trao sự “độc quyền”, thì sự độc quyền sẽ là một động lực lớn để phát triển đất nước, tốc độ trong việc đưa ra quyết sách và sự triệt để trong việc thực thi chiến lược từ sự độc quyền lúc này sẽ lớn hơn nhiều sự “cộng hoà”, nhất là khi cộng hoà đó là một “cộng hoà hỗn tạp”.
               Có thể nhìn thấy điều này trong lịch sử nước ta, từ sự “độc quyền” của Lê Thánh Tôn đã tạo nên một thời ký thái bình, thịnh trị; hay thời kỳ “Trinh Quán” mà Lý Thế Dân đã xây dựng trong lịch sử Trung Hoa (là những chủ thế bãi bó chức Tể tướng, Thái sư, “hư danh hoá” chức Thái phó, tập trung tối đa và trực tiếp điều hành quyền lực vào tay mình); là thực tiễn trong 40 năm làm Thủ tướng Singapore của Lý Quang Diệu với Đảng PAD của ông tồn tại duy nhất tại Singapore trong 38 năm ông làm Thủ tướng, đã đưa Singapore hoá rồng. Và người dân Mỹ hiểu sự độc quyền của Flanklin Roosevelt đã đem lại cho nước Mỹ và những tên trùm tài phiệt tại nước này nhiều lợi ích như thế nào trong thế chiến thứ hai; và sự độc quyền của Marcaret Thactcher đã vựt dậy nền kinh tế Anh như thế nào, và sự “không độc quyền” của các vị thủ tướng kế nhiệm bà sau này đã đưa nước Anh thụt lùi như thế nào. Và sự độc quyền của MITI (Bộ Thương mại Nhật Bản) trước đây đã đưa Nhật Bản đứng lên một cách mạnh mẽ sau thế chiến thứ hai như thế nào; và ai có thể phủ nhận công lao của Tổng thống Park Chung Hee với sự độc quyền đến độc tài (và ra trường bắn) đã thúc đẩy và tạo nền móng vững chắc cho nền công nghiệp Hàn quốc hiện nay!
               Với những điều kiện khách quan nhất định, có thể thấy rằng, độc quyền là điều kiện tất yếu, là nguồn gốc và là động lực của sự phát triển.
               Vậy có thể thấy được, độc quyền không mang bản chất đã sẵn tiêu cực, mà phụ thuộc vào chủ thể “độc quyền” và điều kiện, tính hình khách quan cụ thể.
               Độc quyền hay cộng hoà, trong trường hợp này là một hay nhiều đảng lãnh đạo đơn giản chỉ là cách thức lựa chọn mô hình lãnh đạo đất nước, điều đó hiển nhiên gắn với lịch sử, điều kiện của từng quốc gia cụ thể. Và thực tiễn lịch sử trong giai đoạn 28 – 30, 30 -45, 45 – 54, 54 -75, năm 1989 (Đảng Xã hội ở Việt nam tự tuyên bố giải tán)  đến nay, đã chứng minh, ở Việt Nam, độc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là điều phù hợp.
               Vấn đề thứ hai mà bạn đề cập, về “Quy luật mâu thuẫn”. Chúng tôi là những người thấu hiểu, tuân theo và vận dụng sáng tạo Triết học Mác, trong Quy luật mâu thuẫn có chỉ rõ: mâu thuẫn có nhiều loại mâu thuẫn, có mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài. Trong đó, mâu thuẫn bên trong là cái trọng yếu và mấu chốt; giải quyết mâu thuẫn bên trong mới thật sự là động lực của sự phát triển, vì sự phát triển là sự phát triển mang tính tự thân. Trong tất cả mọi vấn đề, trong tu thân (chiến thắng chính mình), trong quân sự “nội bộ phải vững chắc, đoàn kết”, trong kinh doanh “phải nắm được thị trường nội địa trước khi tiến hành vươn ra biển lớn quốc tế”. Vậy nên, mâu thuẫn bên ngoài chỉ mang tính xúc tác, điều kiện.
                Chúng tôi xin nhắc lại, mọi vấn đề đều có tính hai mặt. Chúng tôi hiểu rằng, khi chúng tôi không thừa nhận vấn đề đa đảng, chúng tôi sẽ mất đi một chất xúc tác rất quan trọng, đó là tạo áp lực để từng Đảng viên, và toàn Đảng phải tự ý thức, tự nỗ lực do tính “cạn tranh” giữa các Đảng. Nhưng “cạnh tranh” chỉ là một trong rất nhiều chất xúc tác, điều kiện khác nhau. Bên cạnh xúc tác “cạnh tranh”, còn nhiều xúc tác khác mà chúng tôi có thể tận dụng để làm động lực cho quá trình giải quyết mâu thuẫn bên trong. Nhưng nếu chúng tôi dùng chất xúc tác “cạnh tranh” giữa các đảng, thì hệ luỵ thật khôn lường với mặt trái của nó. Một loại thuốc có chất có thể gây tác dụng phụ chết người đối với người này, nhưng có thể không có hoặc có nhưng không đáng kể đối với người khác. Một loại thuốc có thể gây bớt bệnh đối với người này, nhưng chưa hẵn chữa lành bệnh cho người khác. Và bạn hãy nhìn thực tiễn chiến tranh, xung độc sắc tộc, bất ỗn chính trị liên miên tại các quốc gia châu Phi, hay Thái Lan đã tàng phá những nước này như thế nào từ vấn đề đa đảng.
                Vậy nên, đứng trên quan điểm biện chứng, xác định đúng chất xúc tác phù hợp, đặc trọng tâm vào giải quyết tốt mâu thuẫn nội bộ, nghiên cứu lịch sử và hiện thực khánh quan của Việt Nam, việc Việt Nam lựa chọn mô hình “độc đảng lãnh đạo” là phù hợp.
                 CT1: Nhưng tôi nghĩ rằng, Triết học Mác đã từng nói: “Vận động và biến đổi là thuộc tính cố hữu của vật chất”. Bên cạnh đó, như anh đã đề cập ở trên, sự phù hợp của yếu tố độc quyền tuỳ thuộc vào chủ thể, điều kiện lịch sử mang tính giai đoạn nhất định. Xã hội là một dạng vật chất, và nó luôn biến đổi, vận động, xã hội Việt Nam hiện tại đã khác xưa; Việt nam cũng không nằm trong điều kiện có chiến tranh như xưa; Đảng Cộng sản Việt nam cũng không còn trong sạch và vững mạnh như thời của cụ Hồ còn sống, Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay đã bị vướng vào một vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói và lo ngại, với đại ý: Một đảng, một con người, ngày hôm qua là vĩ đại, được mọi người ca tụng, không nhất thiết ngày hôm nay còn giữ được ánh hào quang, nếu không còn trong sạch nữa, nếu rơi vào chủ nghĩa cá nhân. Vậy, tôi thấy rằng, ở Việt Nam hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam không còn là chủ thể xứng đáng để trao cho sự độc quyền như xưa; điều kiện khách quan và tình hình Việt Nam hiện nay đã không còn như xưa. Tôi tự hỏi, hoặc là Đảng Cộng sản Việt nam không nhận thức được điều này, hoặc là Đảng Cộng sản Việt nam muốn giữ mãi vị trí độc tôn và lo sợ, thiếu tự tin trong cạnh tranh khi tiến hành đa đảng – bởi tình trạng xuống cấp nghiêm trọng của một bộ phận “không nhỏ” đảng viên, hoặc là chưa được học về câu chuyện vua Nghiêu, vua Thuấn, nên còn giữ mãi vấn đề độc đảng!?
               CT2: Thứ nhất, tôi muốn nói với bạn, xã hội Việt Nam đã vận động, biến đổi, nhưng sự vận động và biến đổi đó không “tạo ra chất mới” trong yêu cầu phải độc quyền để tồn tại và phát triển ở Việt Nam. Việt Nam hiện tại vẫn còn đó rất nhiều kẻ thù; Việt Nam hiện tại công nhân và bà con nông dân vẫn còn nghèo; và con người Việt Nam hiện tại vẫn còn đó tinh thần đoàn kết và yêu nước lớn lao; con người Việt Nam vẫn còn đó tinh thần yêu chuộng hoà bình; con người Việt Nam vẫn còn đó tư tưởng an phận; con người Việt Nam vẫn còn đó trình độ dân trí của đại bộ phận nông dân và công nhân rất thấp; con người Việt Nam vẫn còn đó trong tim hai chữ: “Đảng ta”.
                   + Việt Nam phải độc quyền lãnh đạo trong hiện tại: để đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị nội bộ, tránh tối đa sự len lõi, chia rẽ của kẻ thù, sự xáo trộn nội bộ làm mãnh đất màu mỡ, cơ hội cho những kẻ đang dòm ngó.
                    + Việt Nam phải độc quyền lãnh đạo trong hiện tại để tạo sự đi lên tương đối đồng bộ, tránh tối đa sự “vênh” trong việc phát huy các nguồn lực để phát triển đất nước, để đem lại sự ấm no cho công nhân và nông dân Việt Nam, không để xãy ra tình trạng nghèo khổ cho công nhân và nông dân như tại các nước thế giới thứ ba, các nước đang phát triển khác, nhất là trong điều kiện tiềm lực kinh tế Việt Nam còn tương tự như các nước này. Không thể đem so sánh Việt Nam với các nước tư bản đã phát triển từ rất lâu về chính trị, khi tiềm lực kinh tế là không thể so sánh. Với tiềm lực kinh tế như hiện nay, nông dân và công nhân Việt Nam sẽ gánh lấy hậu quả như nông dân và công nhân các nước thế giới thứ ba nếu Việt Nam tiến hành đa đảng. Còn vệ việc đãi ngộ, giàu có, an sinh xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay có nguồn gốc từ đâu thì tôi đã đề cập trong bài viết “Các hình thức bóc lột của chủ nghĩa tư bản trong thế giới hiện đại”, chứ không hề có được từ sự đa đảng. Nếu các nước tư bản phát triển do Đảng Cộng sản lãnh đạo, thì nhân loại đã không có một châu Phi chết đói, không có một Mỹ la tinh bất bình đẵng và nợ nầng chồng chất; không có “chiến tranh tiền tệ”; và người dân tại nước họ còn có cuộc sống tốt đẹp hơn hiện tại rất nhiều lần, chứ không phải đang dần biến thành con nợ cho những tên trùm tài phiệt như hiện nay.
                 + Việt Nam hiện nay phải độc đảng để giữ lấy tinh thần đoàn kết và yêu nước lớn lao; không thể để cho ra đời những tên cơ hội, sẵn sàng chia rẽ dân tộc và bán dân mình thành nô lệ vì lợi ích cá nhân. Hãy nhớ câu nói của Dương Văn Minh khi quyết định đầu hàng hay chấp nhận cho Trung Quốc nhãy vào năm 1975 của Chính phủ Cộng hoà Nam Việt Nam trước đây: “Chúng ta đã bán nước hai lần, không thể bán nước thêm một lần nữa”; để cả dân tộc cùng nắm tay nhau tiến đến một xã hội tốt đẹp chứ không phải là một xã hội chia rẽ, xáo trộn, nô lệ, làm con chốt thí, vật thí nghiệm, làm cái sân sau cho các nước lớn
                  + Việt Nam hiện tại phải độc đảng để những khiếm khuyết về dân trí không bị kẻ thù lợi dụng, không bị coi khinh, không bị đem ra làm cơ hội để xõ mũi, bị bóc lột; độc đảng để những khiếm khuyết đó được yêu thương, được bổ khuyết, được xoá bỏ, được tạo điều kiện phát triển đồng bộ, hài hoà; để dù chưa loại bỏ được hết những khiếm khuyết, người nông dân và công nhân Việt Nam vẫn có được cuộc sống tốt đẹp hơn rất nhiều người nông dân và công nhân ở những nước thế giới thứ ba có trình độ dân trí như họ.
                  + Việt Nam phải độc đảng, vì người dân Việt Nam không hề muốn đa đảng, họ chỉ muốn Đảng phải sữa sai triệt để, mạnh mẽ để Đảng ngày càng trong sạch và vững mạnh hơn, xứng đáng với niềm tin của nhân dân. Vì tôi hiểu, nhiều người Việt Nam yêu nước, yêu Đảng ta lắm, nhưng họ vẫn đề nghị đa đảng. Họ đề nghị đa đảng không phải vì ghét Đảng, mà vì quá yêu Đảng, không muốn thấy Đảng “đánh mất mình”, không muốn thấy những kẻ cơ hội, ích kỹ, xấu xa, thối nát cứ tồn tại nhơn nhỡn, nhơn nhỡn trong Đảng; không muốn thấy tình trạng Đảng ngày càng mất niềm tin ở nhân dân, không muốn thấy cảnh “chệch hướng XHCN”. Họ quá yêu quý Đảng, nên ngày đêm ray rứt tìm cách thức để Đảng ta trong sạch, vững mạnh, để Đảng ta được tốt đẹp như thời còn Chủ tịch Hồ Chí Minh (họ mới là người đáng quý, người yêu Đảng; chứ không phải những kẻ miệng cứ đòi một đảng, nhưng lại tham ô, tham nhũng, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, truỵ lạc, bê tha, coi khinh dân, đè đầu cửi cổ dân mà đáng quý, mà yêu Đảng đâu – những kẻ này hiện nay thì miệng nói trung thành với Đảng lắm, nhưng nếu như có biến cố xãy ra, họ sẵn sàng bỏ rơi Đảng ngay, mà nói thế cũng không đúng, phải nói hiện tại họ đã “bỏ rơi” Đảng rồi, họ mới là kẻ thù và là những kẻ phản bội Đảng đáng kinh tởm nhất; Đảng ta hiểu điều này bạn ạ! Tất nhiên, Đảng cũng hiểu trong số những người đề nghị đa Đảng có rất nhiều kẻ cơ hội, phản bội dân tộc vì lợi ích riêng); và họ nghị đến cách đa đảng, vì họ tin rằng, như thế Đảng ta sẽ có động lực lớn lao để ngày càng tốt đẹp hơn, ngày càng xứng đáng với niềm tin của nhân dân hơn; nhưng những người yêu nước và yêu Đảng vô bờ này chưa lường hết được tính hai mặt của vấn đề đa đảng, chưa thấy hết được khả năng và sự sâu hiểm của kẻ thù; và quan trọng nhất, những người đáng quý biết bao này vẫn chưa tìm ra được cách nào, phương thức nào khác theo họ là hiệu quả, mạnh mẽ và triệt để. Và tôi nghĩ, bạn cũng cao quý như họ!
                + Cuối cùng, Việt Nam phải độc đảng để vững tin theo một con đường và nhất quán thực hiện triệt để chính sách phát triển toàn dân tộc.
            Bây giờ đến vấn đề Đảng ta liệu có còn xứng đáng để được trao cho “độc quyền” hay không! Đảng ta hiểu rõ và thừa nhận hiện nay vì một lượng không nhỏ những tên mang nhãn “đảng viên” thoái hoá, biến chất đã làm cho Đảng giảm sút niềm tin nơi nhân dân, làm cho nước nhà chậm phát triển, làm cho nhân dân ta vẫn còn nghèo, còn cực khổ. Không thể phủ nhận những thành quả mà Đảng ta đã làm được trong thời kỳ xây dựng đất nước sau đổi mới, những cũng không thể phủ nhận chúng ta có thể đạt được những thành quả vinh quang hơn, đáng tự hào hơn rất nhiều và rất nhiều nếu Đảng ta có được sự trong sạch, vững mạnh thư thời còn Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhưng Đảng ta bản chất vẫn là Đảng tốt bạn à! Cái này trong bóng đá người ta gọi: phong độ là nhất thời, nhưng đẳng cấp là mãi mãi. Nhưng Đảng ta hiểu rằng, nếu lượng thay đổi đến một độ nào đó, nó sẽ biến thành chất mới.    Do đó, Đảng hiện nay xem vấn đề làm trong sạch Đảng là nhiệm vụ hàng đầu. Đảng hiểu sự kiên nhẫn của người dân là có giới hạn, niềm tin yêu của người dân vào Đảng là có điều kiện, nếu Đảng không nhanh chóng và triệt để trong thời gian tới, để cái hiện tượng thành cái bản chất, thì Đảng thật sự không còn xứng đáng với niềm tin của nhân dân nữa; lúc đó Đảng sẽ phụ biết bao nhiêu tấm lòng của người dân Việt Nam yêu nước, yêu Đảng, phụ biết bao xương máu, nỗi hy sinh của bao lớp người, thế hệ Việt Nam, phụ và phản bội dân tộc, Chủ tịch Hồ. Bạn ạ! Với những gì Đảng ta đã làm được, hãy kiên nhẫn thêm một tí nữa, và hãy thêm tin một tý nữa vào “đẳng cấp” của Đảng ta, dù tôi hiểu điều này có giới hạn và điều kiện.
                 CT1: Được, tôi tạm đồng ý với bạn! Nhưng bạn phải chỉ ra cho chúng tôi cách thức nào khác thật sự hiệu quả, mạnh mẽ và triệt để trong điều kiện hiện nay! Và tôi muốn nhắt với bạn rằng: thực tiễn là cái để kiểm tra chân lý; đối với người phương Đông của chúng ta, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Một trăm bài diễn thuyết không bằng một tấm gương”; và: người dân Việt Nam mình đang dần bắt đầu đánh giá vấn đề qua thực tiễn hành vi chứ không phải bằng lời nói rồi đấy bạn ạ!
                 CT2: Bạn hãy cho tôi được chắp tay, cúi người để tỏ lòng biết ơn, tôn kính với bạn và những con người như bạn! Đảng ta hạnh phúc và vinh dự làm sao! Nhân dân ta hạnh phúc và vinh dự làm sao khi có được những người con yêu nước như bạn, ngày đêm lo nghĩ cho cái hưng vong của quốc gia, với một niềm thuỷ chung son sắc.
                 Bạn ạ ! Cho tôi được chia sẽ điều này, mình không nguỵ biện đâu, thực tiễn được dùng để kiểm tra chân lý phải là cái thực tiễn được nhìn với con mắt biện chứng và quan điểm toàn diện; thực tiễn không là thực tiễn của hôm nay, mà còn là thực tiễn trong ngày mai; điều gì cũng cần phải có thời gian, cần phải có một sự kiên nhẫn có giới hạn nhất định! Mình không thể nói nữa! Vì dù sao cũng chỉ là lời nói. Đúng! thực tiễn đang đặt ra cho Đảng ta nhiệm vụ là phải dùng thực tiễn để chứng minh chân lý. Điều này hoàn toàn phụ thuộc trực tiếp và trước hết vào Đảng. Không có điều gì có thể biện minh nếu như Đảng thất bại trong việc làm trong sạch nội bộ Đảng, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong thời gian tới! Nhân dân đã tin, và đã cho Đảng cơ hội!
               Còn về cách thức khác hiệu quả, triệt để, mạnh mẽ, thì mình xin được nói thế này:
               Ngày xưa khi Jean Jacquen Rouseau viết “Khế ước xã hội”, có người hỏi ông: Anh có phải là một chính trị gia hay một nhà lập pháp không mà viết những điều này?! J.J. Rouseau trã lời: Vì tôi không phải là một chính trị gia hay một nhà lập pháp tôi mới phải viết những điều này! Nếu tôi là một chính trị gia hay một nhà lập pháp, với quyền lực trong tay, tôi sẽ dùng quyền lực để triển khai thực hiện ngay, không cần phải viết bạn ạ!
               Vì chúng ta không có được cái động lực “cạnh tranh” mạnh mẽ và đầy mặt tiêu cực bất trắc, nên chúng ta phải kết hợp nhiều biện pháp quyết liệt khác nhau với sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau, và của sự chung tay, quyết tâm của cả dân tộc.
               Trước hết, toàn dân, từng Đảng viên yêu nước, yêu Đảng phải hành động quyết liệt, triệt để, đầy trách nhiệm, không thể nói đổng mà phải bằng hành vi cụ thể, làm cách mạng thì phải chấp nhận hi sinh, không thể an phận được nữa, phải dám chiến đấu quên mình để có được một Tổng Bí thư Đảng xứng đáng! Vì theo Chủ nghĩa Mác, cá nhân lãnh đạo hay lãnh tụ là một “xúc tác” làm biến đổi và thúc đẩy nhanh lịch sử (hãy nhìn vào V.I. Lenin, Chủ tịch Hồ Chí Minh). Vì theo khoa học lãnh đạo, Maxell đã từng nói: “Mọi sự thành bại đều do lãnh đạo!”.
               Nhưng có người xứng đáng thôi thì chưa đủ, mà phải có thật nhiều, thật nhiều những con người dám xã thân để thực hiện chiến lược, con đường của cá nhân xứng đáng đó!
               Bạn có đồng ý với tôi chăng! Hiện nay Nhân dân ta, Đảng ta đang có một Tổng Bí thư tuyệt vời. Bác Nguyễn Phú Trọng đang cần ở nhân dân ta, mỗi người, từng người một, hãy ý thức lấy trách nhiệm của mình, hãy dám hành động vì công lý, vỳ lẽ phải, để cùng bác, cùng Đảng, cùng nhân dân ta làm nên những điều kỳ diệu, làm trong sạch Đảng. Một mình bác không thể nào làm nỗi. Và nhiệm vụ của chúng ta là làm gì đây? Làm những điều nhỏ thôi, nhưng có ý nghĩa! Nhưng những điều nhỏ, đời thường nhưng cao quý thì vẫn chưa đủ! Mà từng người chúng ta phải là từng con người cách mạng, tức là từng con người dám hi sinh. Hãy ý thức đầy đủ với từng lời nhận xét, từng lá phiếu bầu của chúng ta. Hãy cho đi sự an phận của bản thân để cùng nhau chiến đấu không khoan nhượng với những tên gắn mác “đảng viên” mà thoái hoá, biến chất. Hãy đứng lên và công khai tuyên chiến, phản đối, không khoan nhượng với những kẻ ích kỹ, cục bộ, bè phái, quan liêu, cơ hội, hách dịch, cửa quyền; đừng ngồi đó và giữ mãi nỗi bất bình ở trong lòng. Không có cách mạng diễn ra thuần tuý trong tư tưởng, quan điểm và lới nói. Không có cách mạng nào là cách mạng không phải hi sinh, ngay cả cách mạng “Bất bạo động” của Ganhdi cũng phải hi sinh và hi sinh rất nhiều. Dù bạn có đang thực hiện chiến lược hay đang đấu tranh bước ngắn, cũng hãy đừng khoan nhượng với tiêu cực.
              Bạ ạ! Đảng là người đầy tớ trung thành, và nhân dân là chủ. Nên bạn phải nhớ rằng: “Cha không ra cha, con không ra con; vua không ra vua, tôi không ra tôi là cái gốc của loạn”. Nếu bạn làm chủ mà không ý thức, không dám hành động, không dám dùng quyền như một người chủ, thì hiển nhiên “đầy tớ” sẽ lộng hành. Nếu “đầy tớ” tha hoá, thì trách nhiệm chính thuộc về “ông chủ” không ra ông chủ, để “đầy tớ” qua mặt. Bạn hãy luôn luôn để trong vô thức, tiềm thức, ý thức và trong ngay từng hành động: TA LÀ CHỦ, VÀ NGƯỜI CHỦ NÀY QUYẾT KHÔNG ĐỂ ĐẦY TỚ QUA MẶT, MUỐN LÀM GÌ THÌ LÀM. HÃY XEM TA LÀM MỘT ÔNG CHỦ ĐỘ LƯỢNG, CÔNG MINH NHƯNG ĐẦY TRÁCH NHIỆM VÀ NGHIÊM KHẮC NHƯ THẾ NÀO!
             Chủ tịch Hồ Chí Minh, những anh hùng đã hi sinh, bác Nguyễn Phú Trọng đang mong mõi biết bao sự thức tỉnh và hành động của từng con người “chủ” của dân tộc Việt Nam!
             Thứ hai: phải có pháp luật về biểu tình. Toàn dân tộc Việt Nam, phải đem cả trí tuệ của mình để xây dựng nên một pháp luật về biểu tình, mà ở đó, gần như tất cả mặt tiêu cực của nó (Nói như Hitler: “…, nhưng đám dân ngu dốt đó còn là một con rồng, và với những cuộc biểu tình, con rồng đó sẽ phun lữa thiêu rụi cái thế giới dân chủ giả tạo, để chế độ độc tài của ta trở nên bá chủ và mãi mãi trường tồn!), đồng thời phát huy tối đa mọi mặt tích cực của nó, tạo thành một động lực thật sự mạnh mẽ để Đảng ta thực hiện triệt để vấn đề làm trong sạch đảng. Những để “con mèo bắt chuột giỏi nhưng cũng ăn vụng giỏi” này “chỉ có thể bắt chuột” thì cần có tầm trí tuệ của cả dân tộc. Nếu không, nó có thể không chịu “bắt chuột” mà chỉ lo “ăn vụng” là giỏi. Nhất là khi trình độ dân trí của ta còn thấp như hiện nay.
            Điều này khó, nhưng có thể làm được và làm tốt bạn ạ! Miễn là chúng ta có được trí tuệ của cả dân tộc để xây dựng nên pháp luật đó. Chương trình xây dựng Luật Biểu tình đã được Quốc hội khoá XIII đưa vào chương trình nghị sự chính thức; khi có dự thảo và xin ý kiến đóng góp của nhân dân, lúc đó, hãy hành động để tập trung tất cả trí tuệ của dân tộc!
            Thứ ba: phải pháp luật hoá Điều lệ Đảng; pháp luật hoá các vấn đề về phương thức lãnh đạo của Đảng; pháp luật hoá các vấn đề về kiểm tra, giám sát, bình, bầu, kỷ luật, đánh giá, phân loại đảng viên của Đảng, và nhân dân là chủ thể phải hiện diện một cách bắt buộc, tất yếu trong quá trình này. Hiện nay, nhân dân đã tham gia, nhưng chỉ tham gia bằng nghị quyết của Đảng mà chưa bằng pháp luật, nhân dân phải được chính thức hoá bằng pháp luật bằng quyền này!
            Đảng ta là đảng của toàn thể nhân dân, vì vậy cho nên: Đảng phải chịu sự kiểm tra, giám sát theo luật của toàn thể nhân dân; Đảng phải vận hành và hoạt động theo ý chí của toàn thể nhân nhân, tức là bằng những văn bản quy phạm pháp luật cụ thể.
            Nào, các bạn, chúng ta hãy cùng nắm tay nhau, cùng tiến lên với một tinh thần sẵn sàng hi sinh, bằng những hành động dù nhỏ hay “to” nhưng triệt để, mạnh mẽ, quyết không khoan nhượng. Để Đảng ta ngày càng trong sạch hơn, ngày càng vững mạnh hơn, ngày càng xứng đáng với niềm tin của nhân dân hơn!
           “Không có từng con suối nhỏ, làm sao hình thành được dòng sông lớn; không có từng hạt cát nhỏ, làm sao có được cả sa mạc!”
Thứ tư: phải tiến hành công nhân hoá Đảng ta thật mạnh mẽ. Đảng ta đã có chủ trương này, nhưng trong thời gian tới cần phải làm quyết liệt và mạnh mẽ hơn nữa. Bởi vì trí thức dù có thấm nhuần lý tưởng cách mạng của giai cấp công nhân đến mấy đi chẳng nữa, thì chất của họ vẫn là chất tri thức; tri thức không thể nào thay thế và có được bản chất đích thực của giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân là giai cấp mà quyền và lợi ích của họ tỷ lệ thuận với quyền và lợi ích của các giai cấp tiến bộ khác và với cả dân tộc. Kết nạp công nhân vào Đảng, cần nhất và trước hết hiện nay là phẩm chất đạo đức thông thường (chưa cần đạo đức cách mạng), vì đạo đức thông thường là cái tiền đề, cơ sở, điều kiện để hình thành đạo đức cách mạng. Chỉ cần có tinh thần yêu nước, lòng thương người, bản tính trung thực, thẳng thắn, biết đấu tranh bên vực kẻ yếu, biết lo nghĩ về lợi ích cho quốc gia, dân tộc là được. Lý tưởng cách mạng sẽ được bồi dưỡng sau. Trong cái trước mắt, nếu trình độ còn hạn chế thì đảng viên trí thức bù khuyết; cài cần ở đảng viên công nhân là tính triệt để, tính vị lợi ích chung, rất kiên quyết trong những trường hợp xử lý những chủ thể tha hoá, đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc. Chất công nhân từ những công nhân Đảng viên sẽ là động lực để làm trong sạch Đảng. Đảng hãy tin rằng, số lượng đảng viên công nhân (phải thoả mãn yếu tố tối thiểu trên) trong Đảng càng cao bao nhiêu, thì: tính triệt để trong thực hiện các chính sách làm trong sạch Đảng, vững mạnh Đảng càng cao bấy nhiêu; các chính sách của nhà nước về cải cách hành chính, phát huy dân chủ, chống tham nhũng, quan liêu, thực hiện an sinh xã hội, phát triển bềnh vững, chống bất bình đẳng, xoá đói giảm nghèo sẽ được thực hiện một cách triệt để bấy nhiêu.
            HÃY VỮNG MỘT NIỀM TIN VÀO CÔNG LÝ! VÌ CÔNG LÝ NẰM TRONG ĐÔI TAY CỦA CHÚNG TA! Lẽ nào chúng ta chịu thua và để những tên mang nhãn đảng viên thoái hoá, biến chất, hại dân, hại nước , hại Đảng cứ mãi cười hả hê hay sao, cứ mãi nhỡn nhơ, vui chơi hưỡng lạch trên sự nhọc nhằn, mồ hôi, nước mắt, sự tủi nhục của những người công nhân làm thuê, của những người nông dân chân lấm, tay bùn, mồ hôi đổ lộn nước mắt hay sao! Không! Vì những con người đã hi sinh cho dân tộc, vì tất cả, chúng ta không thể thua lũ sâu bọ, lũ sâu dân mọt nước đó được!
TẤT CẢ! HÃY CÙNG TIẾN LÊN!
Đăng 9th February 2012 bởi 

(REDS.VN) Sự sụp đổ của Liên bang Xô viết vào năm 1991 tưởng như là hồi chuông báo tử cho hệ tư tưởng của Marx và Lenin tại Nga, tuy nhiên chỉ sau gần hai thập kỷ, một làn sóng mới của các nhà hoạt động xã hội chủ nghĩa tại Nga, những người sẵn sàng vẫy cờ đỏ một lần nữa trên nóc điện Kremlin, đã xuất hiện ngày càng rõ rệt hơn.

Isabel Magkoeva, 21 tuổi, một nhà hoạt động của Mặt trận Xã hội Cách mạng, ngôi sao đang lên của cánh tả nước Nga cho biết “Tôi đã đặc biệt hứng thú với lý tưởng xã hội chủ nghĩa ngay từ khi còn là một thiếu niên.”

Magkoeva cho biết, cô luôn quan tâm đến các vấn đề bất công trong nền kinh tế và bắt đầu tự hỏi về nguyên nhân gây ra tình trạng này, sau đó, cô đã đi tìm câu trả lời trong các tài liệu cánh tả, và nhận ra cô phải tự tay tham gia đấu tranh chống lại chuyện này. Isabel Markoeva đã từng là một người mẫu tuổi thiếu niên, người được cho là có đặc điểm rất giống với thủ lĩnh biểu tình sinh viên người Chile có tên Camila Vallejjo.

Tuy nhiên, dù Magkoeva luôn coi Lenin là “Nhà cách mạng vĩ đại” nhưng cô vẫn còn rất mơ hồ về Liên bang Xô viết, một thể chế đã sụp đổ vào cùng năm mà cô được sinh ra.

Cô cho biết: “Thực ra nhà nước Xô viết chưa đi theo con đường chủ nghĩa xã hội thực thụ, và do đó, sẽ là rất sai lầm nếu miêu tả những người như tôi cố gắng hành động để khôi phục lại một nhà nước từ quá khứ. Thực sự, chúng tôi đấu tranh cho một hình thái hiện đại hơn của chủ nghĩa xã hội”.

Thực trạng lý tưởng xã hội chủ nghĩa ngày một phổ biến tại Nga đã ngày được xác nhận rõ ràng qua những báo cáo về tình trạng phân hóa giầu nghèo được đưa ra tháng trước bởi công ty tài chính Credit Suisse của Thụy Sĩ. Trong báo cáo có đoạn: “Không kể đến một số nước vùng Caribbe vốn là nơi được chọn đặt dinh thự của rất nhiều tỷ phú, sự phân hóa giàu nghèo tại Nga là cao nhất trên thế giới. Trên quy mô toàn cầu, các nhà tỷ phú đang sở hữu không tới 2% tài sản cá nhân, tuy nhiên tại nước Nga hiện nay, 100 tỷ phú đã chiếm giữ tới 30% tổng khối tài sản này”.

Chính vì lý do này, nhiều người trẻ nước Nga ngày càng bị cuốn hút vào các nhóm hoạt động mang tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tạo bước đột phá cho phong trào cánh tả khi trong so với gần hai mươi năm trước, khi những người Cộng sản thời Xô viết là những người duy nhất còn mang tư tưởng xã hội chủ nghĩa.

Nhà hoạt động cánh tả Sergei Fomchenkov, 38 tuổi, thủ lĩnh mặt trận Nước Nga khác cho biết: “Những người trẻ gần như không có cơ hội mua được nhà cửa với mức giá trên trời và lo cho gia đình một cuộc sống bình thường. Cơ hội để họ leo lên những tầng lớp trên của xã hội cũng gần như không có, đặc biệt là với những người không có gốc gác Moskva. Khi tất cả mọi người phải chịu đựng điều này, họ lại thấy một nhóm nhỏ những tỷ phú giầu có xây dựng những dinh thự xa hoa, từ đó, những tư tưởng đấu tranh theo mô hình cánh tả đã thu hút họ”.

Tuy nhiên, giống như Magkoeva, Fomchenkov không hề có ý tưởng đưa nước Nga lại thời kỳ Xô viết. Ông cho biết cái mình muốn là một nhà nước xã hội chủ nghĩa kiểu mới, với mô hình nhà nước kiểm soát hoàn toàn các ngành công nghiệp chính, tuy nhiên, những hình thức kinh doanh quy mô nhỏ vẫn có được toàn quyền tự do. Theo Fomchenkov, nếu nhà nước muốn kiểm soát đến từng mặt nhỏ nhất của đời sống, ví dụ như từng quán café một, đó thực sự là độc tài chứ không phải xã hội chủ nghĩa.

Những nhà phân tích nhìn nhận phong trào cánh tả đang lên ở Nga cũng tương tự những gì đang xảy ra ở châu Âu trong thời kỳ khủng hoảng này. Kết quả là tại châu Âu, các đảng cánh Tả cũng đang lớn mạnh một cách bất ngờ trong hệ thống chính trị của các nước thành viên.

Một nhà phân tích tại Trung tâm phân tích Carnegie, Moskva tên Lilia Shevtsova bình luận: “Giống mọi nơi khác tại châu Âu, những người trẻ bị tác động mạnh hơn bởi khủng hoảng kinh tế toàn cầu và họ sẽ dễ bị ảnh hưởng bởi tư tưởng xã hội chủ nghĩa”.

Ilya Ponomaryov, một trong những nhà sáng lập của Mặt trận cánh tả nhận định: “Ngày nay, những nhóm đấu tranh kiểu mới đã xây dựng được một cương lĩnh đấu tranh với tư tưởng xã hội chủ nghĩa kiểu mới và đã nhận được rất nhiều biểu hiện tích cực từ dân chúng và càng ngày càng có nhiều người trẻ tham gia”.

Ponomaryov cũng phủ nhận ngay những quan điểm cho rằng việc xây dựng nhà nước cộng sản và xã hội chủ nghĩa lý tưởng là bất khả thi. Ông bày tỏ quan điểm khi nói về sự thất bại của hệ tư tưởng này trong quá khứ: “Mọi người đã hiểu sai hết ý tưởng của Marx và Engels, đáng lẽ ra bạn phải thi hành đường lối kinh tế xã hội chủ nghĩa hoàn chỉnh trước khi bạn muốn xây dựng một nhà nước xã hội chủ nghĩa.”

Tổng thống Putin thường gọi sự sụp đổ của liên bang Xô viết là “thảm họa địa chính trị khủng khiếp nhất” của thế kỷ 20, thể hiện sự đồng cảm với những người thuộc về thế hệ đã sinh sống dưới thời kỳ này.

Đồng thời, đối thủ chính của ông Putin là Gennady Gudkov, một sĩ quan KGB trong quá khứ hiện là một nhà đấu tranh chống lại chính quyền Kremlin cũng tự bạch với tạp chí RIA Novosti khi được hỏi quan điểm về tổng thống: “Dù sao chúng tôi cũng phải giữ cho đất nước sự đoàn kết.”

Còn đối với nhà đồng sáng lập mặt trận cánh tả Ponomaryov, ông thừa nhận có “cảm xúc lẫn lộn” về nhà nước Xô viết trong quá khứ. Trong phát biểu của Ponomaryov có đoạn: “Liên bang Xô viết là một nhà nước rất mạnh với nhiều bảo đảm xã hội, tuy nhiên, họ lại quá chuyên quyền. Nhưng một điều khá rõ ràng là xã hội thời Xô viết còn tốt hơn hiện nay”.

Trong con mắt các nhà phân tích, những người cánh tả đang là đe dọa lớn nhất cho quyền lực của tổng thống Putin. Về vấn đề này, nhà phân tích Shevtsova của trung tâm Carnegie cho biết: “Ngày trước thì những nhóm dân tộc cực đoan là đe dọa lớn nhất đối với quyền lực chính quyền, nhưng ngày nay thì chắc chắn rằng, vai trò này đang thuộc về các nhóm đấu tranh cánh tả”.

NGUYỄN LINH (trích dịch từ RIA Novosti)

Đại hội Đảng lần thứ XI tiếp tục khẳng định nguyên tắc Đảng lãnh đạo QĐND Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. Đây là một vấn đề chiến lược không chỉ có ý nghĩa quyết định đối với sức mạnh chiến đấu của quân đội, mà còn liên quan trực tiếp đến sự an nguy của đất nước, sự sống còn của chế độ XHCN.

Theo dòng lịch sử cho thấy, trong quá trình lãnh đạo công cuộc xây dựng và bảo vệ nước Cộng hòa Xô-viết còn non trẻ, V.I.Lê-nin rất quan tâm xây dựng Hồng quân vững mạnh làm nòng cốt bảo vệ Tổ quốc, trong đó Người đặc biệt chú trọng việc Đảng Cộng sản (ĐCS) nắm vững quyền lãnh đạo đối với quân đội, coi đó là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nhờ kiên định nguyên tắc đó, Hồng quân và nước Cộng hòa Xô-viết đã vượt qua những thử thách nghiệt ngã của thời kỳ nội chiến chống các thế lực phản cách mạng cùng sự can thiệp của 14 nước đế quốc, tiếp tục vượt qua những gian khổ hy sinh to lớn trong Đại chiến Thế giới lần thứ II, làm nên những chiến thắng vĩ đại, khẳng định sức mạnh vô địch của quân đội kiểu mới và sức sống mãnh liệt của Tổ quốc XHCN, tác động to lớn đến sự phát triển của phong trào cách mạng trên thế giới…. Vào những năm 1986-1991 M.Goóc-ba-chốp làm Tổng bí thư ĐCS Liên Xô, những người lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô đã xa rời các nguyên tắc xây dựng quân đội kiểu mới, mắc sai lầm rất nghiêm trọng về chiến lược, nhất là xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, thực hiện chủ trương “Quốc gia hóa quân đội”, làm cho quân đội bị “Phi chính trị hóa” và bị vô hiệu hóa. Đó là một nguyên nhân rất quan trọng dẫn tới sự sụp đổ và tan rã của Liên bang Cộng hòa XHCN Xô-viết vào cuối năm 1991. Dù lúc đó Quân đội Liên Xô có 3,9 triệu quân thường trực, trang bị rất hiện đại, vượt xa các nước về lực lượng chiến đấu thông thường và lực lượng hạt nhân chiến lược, nhưng bị tha hóa về chính trị nên mất sức chiến đấu, không thể bảo vệ được Tổ quốc XHCN… Thực tế ở Liên Xô để lại nhiều bài học.

 

Kiên định nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội. Ảnh: Internet

Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch tăng cường những âm mưu, thủ đoạn nhằm “phi chính trị hóa” quân đội, tập trung bài xích cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, kích động khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò của chỉ huy, hạ thấp vai trò của hệ thống tổ chức đảng, hệ thống chính ủy (chính trị viên), cơ quan chính trị và chế độ công tác Đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT) trong quân đội. Chúng ra sức truyền bá quan điểm và thúc đẩy xu hướng đòi “Quốc gia hóa quân đội”, yêu cầu “Luật hóa mọi vấn đề về tổ chức và hoạt động của quân đội” theo kịch bản “Cách mạng pháp luật” của phương Tây tư bản chủ nghĩa. Một số cán bộ, đảng viên và nhân dân ta cũng ngộ nhận đối với quan điểm này, có lập luận cho rằng, trong kháng chiến chống Pháp quân đội ta đã từng là “Quân đội quốc gia”.

Đúng là khi Đảng ta rút vào hoạt động bí mật (11-1945/2-1951), trong tình thế hiểm nghèo phải thực hiện sách lược nhân nhượng để thêm bạn bớt thù, bộ máy Nhà nước có người của lực lượng Việt quốc, Việt cách và người không đảng phái, quân đội ta có lúc mang tên Quân đội quốc gia Việt Nam (1946-1950), nhưng Đảng ta vẫn giữ vững sự lãnh đạo đối với quân đội. Tháng 1-1946, Ban Chấp hành Trung ương (BCHTW) Đảng quyết định thành lập Trung ương Quân ủy nhằm tăng cường sự lãnh đạo đối với quân đội và cuộc kháng chiến. Tháng 5-1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký một số sắc lệnh quan trọng như Sắc lệnh số 71/SL, Sắc lệnh số 47/SL, Sắc lệnh số 60/SL. Theo các sắc lệnh đó, đồng chí Võ Nguyên Giáp (khi ấy là Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, Bí thư Trung ương Quân ủy) được giao trọng trách là Tổng chỉ huy quân đội và dân quân toàn quốc, Chủ tịch Quân sự ủy viên hội là cơ quan quân sự tối cao có nhiệm vụ điều khiển quân đội toàn quốc; trong quân đội từ cấp trung đội đến cấp trung đoàn có Chính trị viên, cấp chiến khu có Chính trị ủy viên do Chủ tịch nước ký quyết định bổ nhiệm. Điều này thể hiện sâu sắc bản lĩnh, trí tuệ của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa kiên định nguyên tắc chiến lược, vừa mềm dẻo về sách lược để lãnh đạo dân tộc vượt qua hiểm nguy, giành thắng lợi vẻ vang.

Trong bối cảnh đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc diễn ra rất gay go và phức tạp, thực chất của quan điểm “Quốc gia hóa quân đội” là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, làm cho quân đội mất định hướng chính trị, hiệu lực lãnh đạo, chỉ huy bị suy yếu, bị tha hóa biến chất và không đủ sức bảo vệ Tổ quốc XHCN; đồng thời làm cho Đảng không nắm được quân đội, dẫn đến mất vai trò đảng cầm quyền, đưa đất nước lâm vào tình trạng mất ổn định và nguy cơ suy thoái… Với lẽ đó, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội không chỉ có ý nghĩa chiến lược, mà còn mang tính cấp thiết.

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong thời kỳ mới, trước hết cần tập trung cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghiêm túc cơ chế, hệ thống định chế và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Cần nhận thức sâu sắc hơn về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của quân đội trong thời kỳ mới; kiên quyết khắc phục nếp nghĩ “nuôi quân ba năm dùng một giờ”, coi việc xây dựng quân đội chỉ để dùng trong chiến tranh và lo đối phó với chiến tranh. Tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc XHCN đòi hỏi phải sử dụng hợp lý và phát huy tối ưu vai trò của quân đội trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” và “cách mạng màu” của các thế lực thù địch, trong xử trí các tình huống an ninh phi truyền thống và các hoạt động quân sự phi chiến tranh, trong thực hiện các nhiệm vụ của đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất, sẵn sàng đối phó thắng lợi với mọi tình huống phức tạp có thể xảy ra, bảo đảm cho đất nước luôn chủ động về chiến lược. Để thực hiện điều này cần có những quy định thật rõ ràng, cụ thể về trách nhiệm và thẩm quyền của BCHTW, Bộ Chính trị (BCT), Ban Bí thư (BBT) và Quân ủy Trung ương (QUTƯ), của Tổng bí thư đồng thời là Bí thư QUTƯ, của Chủ tịch nước đồng thời là Thống lĩnh các LLVT đối với các vấn đề tổ chức và hoạt động của quân đội.

Cần thấy rõ sự thống nhất nhưng không đồng nhất trong cơ chế lãnh đạo, điều hành của Đảng và Nhà nước đối với QĐND Việt Nam và Bộ Quốc phòng, trong đó đáng chú ý là cơ chế lãnh đạo, điều hành đối với Bộ Tổng tham mưu và Tổng cục Chính trị khác với các cơ quan Bộ Quốc phòng. Cần có những định chế cụ thể để BCT, BBT, QUTƯ và Tổng bí thư trực tiếp, thường xuyên chỉ đạo, điều hành đối với tổ chức và hoạt động của hai cơ quan này như đối với các ban của Đảng ở Trung ương, bảo đảm cho Đảng luôn nắm vững quyền lãnh đạo đối với quân đội và kiểm soát toàn diện đối với chỉ huy quân đội.

Mặt khác cần phát triển và vận hành thống nhất, đồng bộ, có hiệu quả các yếu tố hợp thành cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Đảng thực hiện sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội thông qua hệ thống tổ chức đảng, hệ thống chỉ huy, hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp và các tổ chức quần chúng ở cơ sở. Do đó, cần tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, chú trọng cấp ủy đảng ở cơ sở và cơ quan tham mưu chiến dịch – chiến lược; tập trung nâng cao năng lực quán triệt, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghị quyết, chất lượng sinh hoạt của cấp ủy, chi bộ. Cùng với đẩy mạnh Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” có chiều sâu và độ bền vững, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng, nhất là việc chấp hành nghị quyết và Điều lệ Đảng, chấp hành các nguyên tắc tổ chức và hoạt động, chế độ công tác, quy chế và quy trình làm việc trên các lĩnh vực hệ trọng, nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực. Xử lý nghiêm túc những trường hợp vi phạm nguyên tắc, mất đoàn kết nội bộ, kém tính đảng, thiếu trách nhiệm trong công tác.

Một trong những đặc trưng bản chất đồng thời là yếu tố vượt trội của quân đội ta là sự thống nhất, đồng bộ cơ chế lãnh đạo, chỉ huy, trong đó tổ chức và hoạt động chỉ huy phục tùng tổ chức và hoạt động lãnh đạo, đồng thời hiệu lực lãnh đạo thể hiện tập trung rõ nét trong phát huy có hiệu quả tính chủ động, sáng tạo của tổ chức chỉ huy. Do đó, cần chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ chỉ huy và cơ quan chỉ huy tham mưu có tính đảng cao và bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực trí tuệ và trình độ tổ chức hoạt động thực tiễn tốt, nắm vững và thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc, nội dung, quy trình và chế độ công tác chỉ huy tham mưu đồng thời am hiểu CTĐ, CTCT trong quân đội, có phương pháp, tác phong làm việc khoa học đáp ứng chức trách, nhiệm vụ được giao, thực sự là những “chỉ huy đỏ” gương mẫu, trung thành và tin cậy của Đảng.

Trong cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, hệ thống cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị là lực lượng nòng cốt tiến hành CTĐ, CTCT nhằm giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Do đó, cần coi trọng kiện toàn và bồi dưỡng, nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị, nhất là những chính ủy, chính trị viên trong quân đội thật sự tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, năng lực trí tuệ, tính tiền phong gương mẫu, năng lực tư duy lý luận và trình độ tổ chức hoạt động thực tiễn, nắm vững và thực hiện tốt các nguyên tắc, nội dung, chế độ công tác và quy trình, phương pháp tiến hành CTĐ, CTCT, đồng thời am hiểu khoa học nghệ thuật quân sự và nghệ thuật tổ chức chỉ huy theo chức trách, nhiệm vụ được giao, thực sự là người đại diện mang tinh thần và kỷ luật của Đảng vào trong tổ chức và hoạt động của quân đội…

Đồng thời phải xây dựng và thực hiện có hiệu quả chiến lược cán bộ đúng đắn trong quá trình chuyển tiếp các thế hệ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy của quân đội, nhất là cấp chiến dịch – chiến lược. Những năm gần đây, hầu hết tướng lĩnh, sĩ quan dạn dày trận mạc, được tôi luyện và kiểm nghiệm nghiêm ngặt cả về bản lĩnh và trí tuệ, đạo đức và lối sống, phong cách lãnh đạo, chỉ huy và năng lực tổ chức thực tiễn trong những năm chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh từng bước chuyển giao trọng trách cho lớp cán bộ lớn lên trong thời bình, được đào tạo cơ bản nhưng còn ít trải nghiệm thực tiễn, nhất là trong xử trí các tình huống chính trị – quân sự phức tạp. Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch tăng cường “can dự” sâu hơn vào quá trình chuyển tiếp các thế hệ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy của quân đội ta, ra sức mua chuộc, lôi kéo những cán bộ có biểu hiện tha hóa về đạo đức và lối sống để thúc đẩy “tự chuyển hóa” về chính trị, nhằm tạo ra lớp cán bộ “đỏ vỏ, xanh lòng” làm nhân cốt thực hiện “phi chính trị hóa quân đội”. Do đó, để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, vấn đề then chốt có ý nghĩa quyết định là xây dựng, thực hiện tốt chiến lược cán bộ lãnh đạo, chỉ huy của quân đội, nhất là cán bộ cấp chiến dịch – chiến lược.

Cần quán triệt sâu sắc, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghiêm túc nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ. Tập thể cấp ủy đảng trực tiếp quyết định mọi vấn đề về cán bộ theo phân cấp quản lý, tránh tình trạng người đứng đầu độc đoán, gia trưởng áp đặt theo ý chí cá nhân, nhất là khi người đứng đầu nắm giữ các cương vị chủ chốt cả về đảng và chính quyền. Kiên quyết không để các “tập đoàn lợi ích đặc biệt” thông qua vận động hành lang để can dự, thậm chí thao túng các vấn đề nhân sự cán bộ. Đồng thời phải thực sự phát huy dân chủ trong công tác cán bộ. Cần bổ sung, hoàn thiện và tổ chức thực hiện nghiêm túc cơ chế, quy chế, quy trình và chế độ công tác cán bộ nhằm phát huy trách nhiệm, trí tuệ của cấp ủy đảng, của chính ủy (chính trị viên) và người chỉ huy, cơ quan chính trị và các tổ chức quần chúng trong công tác cán bộ.

Cùng với đó, không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả CTĐ, CTCT trong quân đội. Đây là hoạt động nhằm trực tiếp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Cần quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, bám sát thực tiễn, hướng mạnh về cơ sở, tập trung bồi dưỡng nâng cao chất lượng chính trị – tư tưởng của quân đội, làm cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhận thức đúng về đối tượng và đối tác, về hợp tác và đấu tranh, kiên định nền tảng tư tưởng, đường lối quan điểm và nguyên tắc của Đảng, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước XHCN và nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Xây dựng các tổ chức đảng trong quân đội thực sự trong sạch vững mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu cao, là hạt nhân lãnh đạo hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội có số lượng và cơ cấu hợp lý, đồng bộ và chất lượng cao, làm nòng cốt trong tổ chức thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ và xây dựng đơn vị. Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phòng giam giữ bí mật, xây dựng đơn vị an toàn gắn với địa bàn an toàn, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn xâm nhập, cài cắm, móc nối để phá hoại của các thế lực thù địch. Làm tốt công tác dân vận, tăng cường đoàn kết quân dân, tích cực góp phần xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở và giữ vững ổn định chính trị của đất nước, đồng thời xây dựng vững chắc nền tảng chính trị – xã hội của quân đội. Giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ, tạo chuyển biến mạnh mẽ, có chiều sâu và độ vững chắc về đoàn kết, dân chủ và kỷ luật trong quân đội.

Thực hiện nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội là vấn đề chiến lược có tính khoa học cao, chúng ta cần tích cực tổng kết thực tiễn kết hợp với nghiên cứu lý luận để nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về vấn đề này, không ngừng bổ sung, hoàn thiện và nâng cao hiệu lực cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong thời kỳ mới./.

Trung tướng PGS, TS Nguyễn Tiến Bình

Quân đội Nhân dân

CNTB đang làm gì nếu không phải là giãy chết?

Chủ nghĩa tư bản là một thứ không đứng yên, nó phát triển và tiến với tinh thần cách mạng về phía trước, nhưng nó cũng tất yếu sụp đổ và luôn gắn liền với những khủng hoảng quy mô khác nhau và có thể hết sức khốc liệt.

 

 

Nhà sử học Marxist đương đại nổi tiếng, ông Eric Hobsbawm, vừa qua đời ở tuổi 95. Dưới đây là bài phỏng vấn ông do tuần báo Stern thực hiện trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới bắt đầu từ mùa Hè 2007, kéo theo các khủng hoảng ngân hàng, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng nợ công ở châu Âu mà hậu quả cho đến nay còn chưa lường hết.

– Thưa ông Hobsbawm, ông đã chứng kiến sự ra đi của nhiều hệ thống: Cộng hòa Weimar tiêu vong, chủ nghĩa phát xít tan vỡ, Cộng hòa Dân chủ Đức lụi tàn, chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, và bây giờ…

– Nghe ông liệt kê ra thế, tôi thấy mình sắp thành một hiện vật bảo tàng mất rồi. Lúc tôi còn bé, vua nước Anh đồng thời là hoàng đế Ấn Độ, phần lớn thế giới là các nền quân chủ, vương quốc và thuộc địa. Hầu hết đều đã đi tiêu.

– Và bây giờ biết đâu ông còn được chứng kiến điều này nữa: sự cáo chung của chủ nghĩa tư bản.

– Ồ, tôi không tin là mình còn sống đến cái ngày đáng mừng đó. Nhưng là một sử gia, tôi biết rằng không có giải pháp nào là vĩnh cửu. Chủ nghĩa tư bản cũng thế, nó có sống dai đến đâu, có hiển hiện trong đầu óc người ta như một cái gì không thể thay đổi tới mức nào, rồi nó cũng sẽ biến mất, sớm hay muộn mà thôi.

– Tất nhiên ông phải có quan điểm như vậy.

– Vì sao?

– Ông là một nhà marxist kì cựu, lại sống tại London, chỉ cách mộ Karl Marx một đoạn ngắn.

– Xin chớ giễu cợt. Tôi trở thành người marxist từ những kinh nghiệm đích thân trải qua trong những năm 30, trong cơn Đại Suy thoái.

– Và bây giờ chúng ta lại đang đứng ở một điểm ngoặt của lịch sử?

– Vâng, tôi nghĩ thế. Ngày 15 tháng Chín năm 2008, ngày mà nhà băng Lehman phá sản, sẽ thay đổi tiến trình của lịch sử hơn nhiều so với ngày 11 tháng Chín năm 2001, khi tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới sụp đổ.

– Ông thử đoán tương lai xem sao.

– Sử gia chúng tôi không phải là những nhà tiên tri. Tôi chỉ có thể nói rằng: Ngày Phán xử Cuối cùng thì chắc chúng ta chưa phải đối mặt, nhưng một số phần của thế giới có thể tiêu vong.

– Vì sao lại thế?

– Trước hết: Tôi, người đã trải qua cơn Đại Suy thoái, vẫn chịu không thể hiểu nổi vì sao cuối những năm 70 rồi sang thập niên 80 và 90 thế kỉ trước, các nhà tư tưởng của nền kinh tế thị trường thả phanh lại có thể trở lại khuynh loát, mặc dù thế hệ tiền bối của họ từng góp phần gây ra một tai họa khủng khiếp: nghèo đói, khốn cùng, thất nghiệp, và rốt cục cả cuộc chiến tranh thế giới nữa.

– Ông thử giải thích xem.

– Trí nhớ của con người ta ngắn tới mức không thể tin nổi. Sử gia chúng tôi ghi lại những tội ác và sự điên rồ của nhân loại, chúng tôi nhắc cho người ta nhớ những điều nhiều người không muốn nhớ. Nhưng gần như chẳng có gì từ lịch sử được rút thành bài học. Hậu quả thế nào thì bây giờ đã thấy. Trong 30, 40 năm gần đây, người ta đã khước từ một cách hệ thống việc đánh giá chủ nghĩa tư bản theo tinh thần duy lý.

– Nhưng chúng ta đang có bao nhiêu chuyên gia và các nhà kinh tế học suốt ngày chỉ làm mỗi việc ấy.

– Không, họ trước hết là những nhà thần học của tôn giáo thị trường với một đức tin ấu trĩ rằng thị trường sẽ tự động điều chỉnh được mọi thứ. Họ nhắm chặt mắt trước hiện thực, đó là điều khiến họ trở thành nguy hiểm cho nhân loại. Trong những năm qua họ còn không thèm nhận ra những báo hiệu của khủng hoảng. Họ mù quáng. Họ bất chấp.

– Có những người ở Mỹ cực kì hưng phấn nói về sự cáo chung của lịch sử. Sự lạc quan đó không có cơ sở nào hay sao?

– Không. 40% dân số thế giới sống bằng mức thu nhập 1 Dollar mỗi ngày. Đó không thể là cơ sở cho một trật tự xã hội ổn định. Lịch sử cáo chung cái nỗi gì. Khủng hoảng bên lề ngày càng lan rộng và ngày càng khốc liệt. Còn ở chỗ chúng ta trong trung tâm thì khủng hoảng thỉnh thoảng xuất hiện dưới dạng chứng khoán lao dốc rồi sau đó lại được điều chỉnh. Cuộc chơi lại tiếp diễn.

– Cuộc chơi nay đã chấm dứt.

– Đúng là phải nói như vậy. Cuộc khủng hoảng hiện tại có một chất lượng hoàn toàn mới. Điều duy nhất để các nhà chính trị có thể lấy làm định hướng là giai đoạn từ năm 1929 đến 1933.

– Tờ New York Times cho rằng cuộc khủng hoảng hiện nay thậm chí có thể khốc liệt hơn thời Đại Suy thoái, mà Đại Suy thoái khi ấy phải nhờ cuộc Đại chiến Thế giới mới giải quyết được.

– Chính sách Kinh tế Mới (New Deal) bây giờ được ca tụng của Roosevelt không thực sự chấm dứt được khủng hoảng, nó chỉ ngăn được bạo loạn chính trị và xã hội xảy ra ở Hoa Kỳ. Không ai chế ngự được cuộc khủng hoảng những năm 30. Và tuy lịch sử không lặp lại nhưng hôm nay tình thế cũng khốc liệt như thuở đó, không, hôm nay còn tệ hơn: Không một chính phủ nào biết mình phải làm gì.

– Ông nói sao? Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama bơm hàng ngàn tỉ Dollar vào kinh tế, Thủ tướng Angela Merkel và chính phủ Đức đưa ra những chương trình kích cầu trị giá hàng tỉ. Tại Hội nghị Thượng đỉnh G20, tất cả đều đồng thanh tuyên bố: Chúng ta sẽ sát cánh! Chúng ta biết rõ phải làm gì.

– Ông có cảm tưởng rằng họ thật sự biết phải làm gì à? Họ có đường lối nào, có phân tích nào hậu thuẫn không? Không! Họ hốt hoảng như các nữ y tá chạy vội đến giường bệnh của chủ nghĩa tư bản và làm như thể họ đang hành động gì đó.

– Họ không biết phải đi về đâu hay sao?

– Đúng như vậy, và thế nên vấn đề mới đáng sợ: họ tuyệt không biết phải làm gì. Như người mù đi giữa mê cung, họ dùng những chiếc gậy khác nhau gõ thử vào tường, đầy tuyệt vọng, và hi vọng một lúc nào đó sẽ tìm thấy lối ra. Nhưng công cụ của họ không có tác dụng.

– Cựu Thủ tướng Pháp Laurent Fabius lo ngại sẽ xảy ra “bạo động xã hội“, và ứng viên Tổng thống Đức của Đảng Dân chủ Xã hội, bà Gesine Schwan, cho rằng những bạo động đó có thể là một mối nguy cho nền dân chủ.

– Tất cả đều có thể xảy ra. Lạm phát. Giảm phát. Siêu lạm phát. Nếu không còn gì là an toàn nữa, nếu bị ném khỏi cuộc sống, nếu những dự tính cuộc đời của người ta bị hủy diệt tàn bạo thì con người sẽ phản ứng như thế nào? Kinh nghiệm lịch sử của tôi cho biết rằng chúng ta – tôi không thể loại trừ khả năng này – đang tiến đến một bi kịch. Máu sẽ đổ, mà còn hơn thế, máu sẽ đổ rất nhiều, nỗi thống khổ tăng lên, số người tị nạn cũng tăng lên. Và một điều nữa tôi cũng không muốn loại trừ, đó là chiến tranh, một cuộc chiến tranh rồi sẽ biến thành đại chiến thế giới – giữa Trung Quốc và Mỹ.

– Nghe quá phi lí!

– Không hề. Tôi thừa nhận là hiện thời kịch bản đó có vẻ rất khó xảy ra. Trung Quốc và Hoa Kỳ hiện đang bổ sung cho nhau, thậm chí còn chống đỡ lẫn nhau, gần như hai mặt của một thể thống nhất. Nhưng cuộc cạnh tranh đối đầu của hai thế lực này ở khu vực châu Á và Thái Bình Dương ngày càng quyết liệt. Không có nền tảng nào cho tình hữu nghị dài lâu giữa hai cường quốc đó.

– Xin ông đừng quá bi quan như thế!

– Có rất ít lí do để lạc quan nhìn về tương lai! Ở thế kỉ 19, người ta tin tưởng rằng mọi sự sẽ tiến lên, sẽ tốt đẹp hơn, con người sẽ văn minh hơn, có học thức hơn. Người ta học đọc, học viết. Người ta tin rằng sẽ tiến bộ lên, không chỉ về vật chất mà cả về đạo đức. Người ta đã lạc quan.

– Nhưng sau đó thì Đại chiến Thế giới xảy ra năm 1914.

– Và tất cả những thứ đó kết thúc. Một thời đại khủng khiếp, một thời đại cực đoan bắt đầu: chưa bao giờ số người bị giết trong chiến tranh hay bị giết theo chỉ thị và do nhà nước cho phép nhiều như trong thế kỉ 20. Tra tấn từng được xóa bỏ ở phương Tây – một tiến bộ vượt bực trong lịch sử nhân loại – lại được phục hồi! Và đầu thế kỉ 21 này Hoa Kỳ còn biến nó thành một phương tiện thẩm vấn! Sự mông muội đang tiến mạnh. Những giá trị được thừa nhận của nền văn minh bỗng nhiên bị chối bỏ.

– Nghe ông nói thì con người thật ngu xuẩn.

– Về vật chất thì với rất nhiều người, thế giới ngày nay đã được cải thiện. Người ta cao lớn hơn, thọ hơn, khỏe hơn. Nhưng về tinh thần, chính trị và đạo đức thì người ta không tiến kịp, hiện tại có lẽ còn đang thụt lùi. Vậy đâu là những giá trị của cuộc sống? Vì sao chúng ta sống trên đời? Sống để làm gì?

– Và câu trả lời của ông?

– Chà, tôi chỉ có thể hỏi rằng vì sao người ta cứ bám chặt vào một hệ thống thường xuyên sản sinh ra những tai họa khủng khiếp nhất như vậy? Một hệ thống bóc lột và phá hủy môi trường, cưa chính cái cành cây mà mình đang ngồi? Và bây giờ cành cây gãy răng rắc khắp nơi. Có lẽ nhân loại rồi sẽ ân hận vì không nghe theo Rosa Luxemburg: hoặc chủ nghĩa xã hội, hoặc trở về thời mông muội.

– Tôi xin ông, chính các bạn hữu chính trị của ông, những người thừa kế gia sản của Lenin, đã tàn phá dự án đối lập với chủ nghĩa tư bản, đã hủy hoại ý tưởng về một thiên đường mơ ước.

– Vâng, đúng như vậy. Và hậu quả đã hiện rõ. Vì bây giờ, khi chúng ta thật sự cần thì lại không có một dự án đối sách cho nhân loại. Thật tai họa.

– Có lẽ vì bản tính của con người là tham lam. Đơn giản chỉ có thế.

– Không. Không. Karl Marx chưa bao giờ lập luận chống lại các nhà tư bản tham lam. Ông ấy chỉ chống lại một hệ thống tất yếu đẻ ra lòng tham. Con người có thể thay đổi, tôi tin tưởng sâu sắc như vậy. Nhưng trong chế độ tư bản, ai cũng buộc phải chạy theo lợi thế cho bản thân, không làm thế là chết.

– Vậy ông cho rằng giới nhà băng không hề làm gì quá đáng?

– Họ tuyệt đối tuân theo quy luật nội tại của hệ thống. Lợi nhuận. Lời lãi. Tăng trưởng kinh tế tối đa. Các lí thuyết sùng bái thị trường tự do rất hay ho, chừng nào chúng ta bỏ qua thực tế. Người ta kiến tạo một hệ thống, đặt tên cho nó là tự do, và trên lí thuyết thì nó vận hành rất tốt: mọi người, mọi nhà, mọi doanh nghiệp đều tìm mọi cách kiếm lợi thế, cái lợi thế có thể hoạch tính bằng lí trí, và thị trường đứng trên mọi phán quyết của con người sẽ điều chỉnh mọi chuyện theo hướng lành mạnh. Thật là một hệ tư tưởng sơ khai. Khối tri thức của những người từng hiểu và mổ xẻ chủ nghĩa tư bản thì bị khinh thường và bỏ xó: Những người như Marx và Schumpeter biết rõ rằng chủ nghĩa tư bản là một thứ không đứng yên, nó phát triển và tiến với tinh thần cách mạng về phía trước, nhưng nó cũng tất yếu sụp đổ và luôn gắn liền với những khủng hoảng quy mô khác nhau và có thể hết sức khốc liệt.

– Nhưng Marx của ông nói rằng “mọi cuộc cách mạng cho đến nay chỉ chứng minh được một điều, rằng nhiều thứ có thể thay đổi, chỉ con người là không“.

– Đúng thế, nhưng Phương châm Hi vọng vẫn là một điều vĩ đại. Tuy theo Max Weber thì mô hình xã hội lí tưởng nằm ngoài khả năng của chúng ta, nhưng nếu không tin vào chính trị thì cũng không thể đạt được điều gì đáng kể trong chính trị. Con người vừa có bản tính Thiện, vừa có bản tính Ác – mà hành xử của con người thì chắc có thể thay đổi được! Để thế giới này vẫn còn là quê hương, hay rồi sẽ trở thành quê hương cho tất cả mọi người, mục tiêu ấy đẹp đấy chứ.

Theo PRO&CONTRA / STERN

[nguồn: REDS.vn]


Ông Hoàng Hữu Phước

Câu nói hay nhất đầu năm 2011 cũng là câu đầy dõng dạc, dứt khoát, và khí thế – rất hiếm khi được nghe thấy ở Việt Nam trong suốt vài thập kỷ qua – chính là câu trả lời“Việt Nam Không Cần Đa Đảng” của một lãnh đạo Đảng khi được phóng viên nước ngoài phỏng vấn nhân Đại Hội Đảng Lần Thứ XI vừa qua. Cái thần uy của vị lãnh đạo Đảng là ở chỗ không cần nói nhiều, không cần giải thích dài dòng, vì sự phân bua nhỏ nhẹ dịu dàng không bao giờ là chiến thuật thượng đẳng hay phong thái đường bệ luôn phải có của người chiến thắng. Thế nhưng, vấn đề đa đảng sẽ cứ mãi được phóng viên nước ngoài lập đi lập lại trong những ngày tháng năm sắp đến, cũng như sẽ mãi được các nhóm chống Cộng khai thác để công kích Việt Nam, còn những người Việt ít làm việc trí óc thường dễ bị phân vân trước các khích bác. Nhân một số học trò và bạn hữu ở nước ngoài, những người hay chuyển đến tôi nhiều bài viết chống cộng ở hải ngoại do thích nghe tôi phản pháo [1] mà họ cho là dễ hiểu dễ nhớ khó cãi khó chống, hỏi tôi dịp Tết này vì sao Việt Nam vẫn còn “độc đảng độc tài” khi sự kiện Đại Hội Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn còn nóng hổi và vì cũng để những bạn trẻ Việt Nam hiểu biết thấu đáo hơn và hết phân vân trước các luận điệu chống đối của nước ngoài, tôi thấy cũng nên mạn phép dùng kiểu giải thích “cực kỳ bình dân” cho vấn đề “cực kỳ hàn lâm” trên.

Việt Nam không cần đa đảng vì sáu lý do rất đơn giản mà tất cả những người Việt Nam có sở hữu trí tuệ uyên bác và trong tình trạng sức khỏe tâm thần ổn định tốt đều đã hiểu và biết rất rõ như sau:

1) L‎ý do thứ nhất: Lẽ Công Bằng

Tại các nước Âu Mỹ dù có hay không có kinh qua các cuộc chiến tranh nội bộ, xâm lược hay bị xâm lược, khu vực hay toàn cầu, thì mọi tầng lớp nhân dân thuộc mọi phe nhóm hay đảng phái đều có đóng góp công của vào việc xây dựng đất nước, đóng góp xương máu trong tiến hành xâm chiếm nước khác làm giàu cho nước mình, hay đóng góp máu xương chống giặc xâm chiếm nước mình để giữ yên bờ cõi; thế nên ở xứ của họ đương nhiên là các phe nhóm chính trị, các đảng phái chính trị, và các tầng lớp nhân dân có quyền lợi như nhau trong sinh hoạt phe nhóm, đảng phái, mà họ gọi hoa mỹ là “đa đảng” như một nền tảng của “tự do ngôn luận” và “tự do lập đảng”. Tất nhiên, “đa đảng” là để che dấu một sự thật là tất cả các đảng đều chỉ khác nhau ở cái tên còn giống y nhau ở hai điểm (a) phục vụ lợi ích các nhà tài phiệt chủ nhân của đảng cầm quyền và (b) phục vụ lợi ích các nhà tài phiệt chủ nhân của các đảng khác đang nắm quyền ở Thượng Viện và Hạ Viện – nghĩa là nếu giả dụ hoang đường rằng ngay cả khi đảng “Cộng Sản Mỹ” có người “đắc cử” làm Tổng Thống Hoa Kỳ thì người ấy vẫn phải răm rắp thực hiện đầy đủ các cam kết của và tiếp tục các đường lối đối ngoại và thậm chí các cuộc chiến tranh gây ra bởi vị tổng thống tiền nhiệm. Tương tự, đa đảng ở Anh Quốc có nghĩa là bất kỳ đảng nào lãnh đạo chính phủ cũng đều phải tuyệt đối ủng hộ Mỹ, chung vai sát cánh với Mỹ tiến hành chiến tranh tại bất kỳ khu vực nào Mỹ muốn. Thêm vào đó, “đa đảng” tại các quốc gia theo thể chế quân chủ lập hiến chính là trò bát nháo buồn cười khi vẫn tồn tại miên viễn đặc quyền bất khả xâm phạm của các “vua”, các “nữ hoàng”, tức “đảng cấp trên” hay “đảng thượng cấp”, còn các đảng ở quốc hội và “nội các” là … “đảng hạ cấp” mà họ tự an ủi bằng danh xưng hoa mỹ “đa đảng của tự do dân chủ”.

Việt Nam hoàn toàn khác: tất cả các phe nhóm và đảng phái chính trị đều hoặc làm tay sai cho Pháp hay Nhật hay Hoa hay Mỹ, hoặc tự bươn chải chỉ biết dùng nước mắt bạc nhược cố tìm “đường cứu nước” (như Phan Bội Châu khóc lóc với Lương Khải Siêu [2] khi nhờ Lương Khải Siêu giới thiệu với Nhật xin giúp kéo quân sang Việt Nam đánh Pháp, mà không biết mình rất có thể đã “cõng rắn cắn gà nhà”, “rước voi về dày mả tổ”, mở đường cho sự quan tâm của Quân Phiệt Nhật tàn bạo đánh chiếm và giết chết nhiều triệu người Việt Nam sau này, và phải nhờ Lương Khải Siêu ban phát cho lời khuyên can mới hiểu ra sự nguy hiểm của lời yêu cầu Nhật đem quân đến Việt Nam giúp đánh Pháp), và tất cả đều chống Cộng. Chỉ có Đảng Cộng Sản Việt Nam đánh thắng tất cả, tạo dựng nên đất nước Việt Nam thống nhất, nên việc “đòi quyền lợi” hay “đòi quyền tham chính” của tất cả các cá nhân, tất cả các phe nhóm chính trị bên ngoài Đảng Cộng Sản Việt Nam là điều không tưởng, vô duyên, khôi hài và bất công, nếu không muốn nói là hành vi bất lương của kẻ cướp muốn thụ hưởng quyền lực chính trị trong khi đã không có bất kỳ công sức đóng góp nào cho Đảng Cộng Sản Việt Nam, ngoài sự chống phá ngay từ bản chất.

Người Việt Nam yêu sự công bằng nên không ai chấp nhận đa đảng. Bất kỳ ai nói nhặng lên về đa đảng đích thị là phường gian manh muốn ngồi mát ăn bát vàng, hoặc phường Việt gian tay sai Hoa-Mỹ, và do đó không thuộc cộng đồng người dân Việt chân chính.

2) Lý do thứ nhì: Yêu Cầu Cao Và Chuyên Nghiệp Của Trị Nước

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về chính trị.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về quân sự.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về ngoại giao.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về kinh tế.

Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo thành công về tạo uy danh lớn, uy tín cao, uy thế mạnh trên trường quốc tế.

Do đó, Đảng Cộng Sản Việt Nam đã bảo vệ đất nước thành công, đã xây dựng đất nước thành công, và tất cả những điều này có nghĩa rằng Đảng Cộng Sản Việt Nam có kinh nghiệm thực tế về trị quốc.

Nhân dân Việt Nam không bao giờ cho phép Đảng Cộng Sản Việt Nam đặt sinh hoạt chính trị sống còn của đất nước Việt Nam vào tay những kẻ vô danh tiểu tốt chỉ có hai thứ lận lưng là (a) tấm bằng thạc sĩ hay tiến sĩ của đại học Mỹ và (b) tiền tài trợ của Mỹ và những nước tương cận mưu toan xóa sổ Đảng Cộng Sản Việt Nam để ăn cướp thành quả cách mạng mà chỉ riêng Đảng Cộng Sản Việt Nam tạo dựng nên.

3) L‎ý do thứ ba: Kinh Nghiệm Thực Tế Và Sâu Sắc Của Người Việt Đối Với Những Kẻ Đặt Vấn Đề Đa Đảng

Tất cả những kẻ đặt vấn đề đa đảng đều nhận tiền của các thế lực chống cộng, từ đó dễ dàng suy ra rằng đòi hỏi đa đảng chỉ nhằm một mục đích duy nhất là tiêu diệt cộng sản để chỉ còn một đảng duy nhất của riêng chúng, chứ không phải để cùng Đảng Cộng Sản hữu hảo sinh hoạt chính trị “tự do” như ở các nước khác. Đảng Cộng Sản Việt Nam sẽ không xứng đáng lãnh đạo đất nước Việt Nam nếu để bản thân Đảng bị tiêu diệt vì luận điệu đa đảng ngây ngô trẻ nít ấy.

Điều nói thêm tuy không cần thiết do đã là sự thật quá rõ ràng là tất cả những người đã và đang kêu gào đòi đa đảng đều là phường bất tài vô dụng, vô danh tiểu tốt, vô hạnh, và vô lại. Không một ai trong nhóm người đòi đa đảng có thể cho ra một cái tên cụ thể nào của một con người cụ thể nào trong toàn thế giới chống cộng có uy danh hiển hách cùng kỳ tích trong và kinh nghiệm về trị quốc để có thể “tham chính” tại Việt Nam.

4) Lý do thứ tư: Kinh Nghiệm Thực Tế Và Sâu Sắc Của Người Việt Đối Với Đa Đảng

Người dân Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã có kinh nghiệm rằng Đảng Cộng Sản ở Miền Bắc đã lãnh đạo cách mạng thành công, chiến thắng xâm lược, xây dựng đất nước, và thống nhất đất nước trong vẻ vang.

Người dân Việt Nam Cộng Hòa đã có kinh nghiệm rằng Miền Nam đã chưa hề có chế độ đa đảng mà chỉ có vài phe nhóm linh tinh hay nói đúng hơn là chế độ đa đảng với chữ “đảng” là “băng đảng”. Sau nhiều năm làm tổng thống, Nguyễn Văn Thiệu cho rằng nhất thiết phải có một đảng chính trị để hòng có được uy danh một tổ chức có cương lĩnh hẳn hoi hầu sánh được với Đảng Cộng Sản Việt Nam nên đã khẩn cấp tổ chức nên cái gọi là Đảng Dân Chủ, với cờ vàng sao đỏ (đối chọi với cờ đỏ sao vàng) do Nguyễn Văn Thiệu làm đảng trưởng (đối chọi với chủ tịch đảng Hồ Chí Minh) trong lễ ra mắt ồn ào rợp cờ xí năm 1973 tại tòa nhà sát bên nơi nay là trụ sở Ủy Ban Nhân Dân Quận Bình Thạnh. Kỳ dư chỉ là những “liên danh tranh cử” của các tên tài phiệt, nhân sĩ “xôi thịt”, trí thức nửa vời, tu sĩ hổ mang, tay sai Mỹ, bất tài về kinh tế, bất lực về quân sự, dẫn đến sự thất bại nhục nhã khi các tổng thống nối đuôi nhau khóc lóc trên đài truyền hình quốc gia, run rẩy giàn giụa nước mắt thề tử thủ trước khi ôm vàng trốn chạy, còn quân đội vứt bỏ cả quân trang quân dụng và quân phục tháo chạy tán loạn.

Người dân Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam biết rất rõ rằng “tự do đa đảng” kiểu Mỹ áp dụng ở Đông Nam Á hoàn toàn là “độc-đảng-có-sự-ủng-hộ-của-Mỹ” như vết xe đổ của Philippines, Indonesia, v.v.; đồng thời, “tự do dân chủ” dưới sự bảo trợ của Mỹ luôn đồng nghĩa với độc tài gia đình trị tàn bạo và phản dân chủ như phiên bản các “đồng minh” khủng khiếp của Mỹ mà cụ thể là các tên tổng thống “độc đảng độc tài” như Ferdinand Marcos (Philippines), Suharto (Indonesia), Park Chung-hee (Hàn Quốc), Ngô Đình Diệm (Việt Nam Cộng Hòa), Nguyễn Văn Thiệu (Việt Nam Cộng Hòa), v.v., mà hiện nay là Husni Mubarak (Ai Cập) đã cai trị cùng kiểu và bị lật đổ cùng với sự dấy lên của phong trào chống Mỹ và/hoặc chủ nghĩa cực đoan gây bất ổn triền miên trên toàn thế giới.

Do đó, người dân Việt Nam chân chính, biết tự trọng, có tính hào hùng dân tộc, và hiểu biết sâu sắc về chính trị sẽ không bao giờ đặt vấn đề về đa đảng hay có nhu cầu đối với đa đảng.

Người Việt chân chính và có học thức đều biết rằng Hoa Kỳ và Việt Nam đều độc đảng, với điểm khác nhau duy nhất là đảng ở Việt Nam ở dạng sinh học nhất thể, còn đảng ở Hoa Kỳ là dạng sinh năm sinh ba sinh mười giống nhau như đúc do tự phân thân kiểu vi trùng để hoạt động giống y nhau bằng những cơ thể khác nhau, phục vụ cho mục đích không khác nhau.

Người Việt chân chính và có học thức đều biết rằng Hoa Kỳ và phe người Việt chống cộng hiểu rất rõ là họ đang sử dụng chiêu bài công kích cộng sản độc đảng chỉ với mong muốn tiêu diệt cộng sản, hình thành một xã hội độc-đảng-không-cộng-sản mà thôi, như những cuộc tiêu diệt cộng sản và chụp mũ cộng sản lên đầu phe đối lập đã luôn xảy ra dưới thời Suharto, Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu cùng những tên tương cận khắp thế giới.

Người Việt chân chính và có học thức muốn đất nước được lãnh đạo bởi một đảng chính trị có thực tài để không phải chứng kiến trò hề tranh cử như ở Mỹ và sự rối loạn chính trị như ở Thái Lan. Đảng phái chính trị ở Việt Nam Cộng Hòa hoặc hữu danh vô thực, hoặc bất tài vô dụng, nên không bao giờ là mong muốn có tồn tại của người dân. Đảng phái chính trị “tương lai” mà những tên nhóc con vô danh tiểu tốt điên rồ như Lê Công Định [3] hay Cù Huy Hà Vũ [ 4] hoặc những tên lưu manh mặc áo chùng đen hay cà sa điên loạn muốn thành lập dù bất tài vô dụng về chính trị, ngu dốt về trị quốc, và chà đạp giáo lý đấng Chí Tôn không bao giờ được người dân Việt Nam chân chính yêu nước cho phép hình thành.

5) L‎ý do thứ năm: Người Dân Việt Nam Hài Lòng Với Và An Tâm Dưới Sự Lãnh Đạo Của Đảng Cộng Sản Việt Nam

6) Lý do cuối cùng và là lý do quan trọng nhất: Sự Tồn Tại Của Việt Nam

Mỹ kiêng sợ Trung Quốc đến độ nhiều chục năm qua không bao giờ dám gọi đồng minh Đài Loan là quốc gia. Thái Lan kiêng sợ Trung Quốc. Thế giới kiêng sợ Trung Quốc. Trung Quốc không sợ bất kỳ quân đội nào của thế giới. Trung Quốc chiếm Hoàng Sa đánh tan các chiến hạm Việt Nam Cộng Hòa ngay trước mũi Đệ Thất Hạm Đội hùng hậu của Hoa Kỳ. Trung Quốc chỉ sợ quân đội của Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Bọn đòi đa đảng là nhằm xóa sổ Đảng Cộng Sản Việt Nam. Người dân Việt Nam biết rằng xóa sổ Đảng Cộng Sản Việt Nam đồng nghĩa với thủ tiêu tất cả các tướng lĩnh Cộng Sản của quân đội Việt Nam, và làm tan rã quân đội Việt Nam. Người dân Việt Nam biết rằng Trung Quốc không trông mong gì hơn là Việt Nam có đa đảng, vì ngay khi bọn đa đảng xóa sổ được Đảng Cộng Sản Việt Nam, Trung Quốc sẽ xua quân đánh chiếm toàn bờ cõi Việt Nam và chiếm Việt Nam trong vòng 8 giờ làm việc của một ngày làm việc.

Người Việt chống cộng hay rêu rao Đảng Cộng Sản Việt Nam làm tay sai cho “giặc” Trung Quốc mà không đủ trí tuệ để hiểu rằng chính những hành vi chống Việt Nam của họ mới làm hài lòng mấy anh “giặc” ấy.

Hoa Kỳ thiếu ánh sáng trí tuệ nếu tài trợ dưỡng nuôi các phe nhóm chống Việt Nam Cộng Sản, vì chỉ có quân đội của Đảng Cộng Sản Việt Nam mới có thể ngăn chặn sự bành trướng của Trung Quốc xuống vùng Đông Nam Á, không cho Trung Quốc uy hiếp Châu Úc, không cho Trung Quốc đặt dấu chấm hết cho sự ngự trị tung hoành của các hạm đội Hoa Kỳ ở Thái Bình Dương.

Cộng sản không bao giờ có thể bị tiêu diệt; do đó, sự trỗi dậy của đa đảng đồng nghĩa với nội chiến, tàn phá đất nước, tàn diệt dân tộc, và tạo điều kiện cho Trung Quốc xóa sổ Việt Nam.

Ngoài sáu lý do đơn giản cực kỳ bình dân dễ hiểu và dễ nhớ trên còn có vô số các lý do khác, chẳng hạn (a) thế giới đang đánh giá cao về sự ổn định chính trị (do độc đảng đem lại) ở Việt Nam, nên Việt Nam dứt khoát kiên trì độc đảng để không làm thất vọng các nhà đầu tư quốc tế; (b) thế giới tư bản biến loạn với sự suy thoái kinh tế toàn cầu và các chủ thuyết của Karl Marx được Châu Âu quan tâm tái nghiên cứu tìm cách cứu thân trong khi Việt Nam đã nhuần nhuyễn áp dụng sáng tạo nên không lý do gì phải đi theo con đường đa đảng vô hiệu và thất bại của Âu Mỹ; hay (c) ngay cả Chính Phủ Hoa Kỳ cũng phải nhìn nhận vai trò quan trọng chiến lược của Việt Nam, đất nước độc đảng, trong an ninh khu vực và quốc tế, v.v.

Lời kết luận sẽ rất đơn giản, như lời lãnh đạo Đảng Cộng Sản Việt Nam đã nói:

“Việt Nam Không Cần Đa Đảng.”

Hoang Huu Phuoc, MIB

* Tựa đề do kenminhthien.net đặt.

[nguồn: http://my.opera.com/thanhniendatviet/blog/2012/09/29/da-dang]

Chỉ tính riêng 3 kênh chính của VTV là VTV1, VTV2, VTV3 thời điểm hiện nay, tất cả các giờ phim nước ngoài đều đang chiếu phim Trung Quốc và Hàn Quốc.

Quảng bá miễn phí cho nước ngoài

Phát biểu của ông Hoàng Hữu Lượng- Cục trưởng Cục Báo chí (Bộ Thông tin – Truyền thông) hôm 16.8 vừa qua về việc “Các đài phát thanh, truyền hình phải nâng cao chất lượng và thời lượng chương trình tự sản xuất, hạn chế việc khai thác quá nhiều phim truyền hình nước ngoài, nhất là phim của Trung Quốc, Hàn Quốc” đang thu hút sự chú ý của dư luận.

Tại các diễn đàn, các mạng xã hội, nhiều thành viên đều ủng hộ ý kiến của ông Lượng. Họ cho rằng, trong một thời gian dài, việc không chỉ VTV mà 63 đài truyền hình các tỉnh, thành phố và hàng chục kênh truyền hình khác?đang quá ưu ái cho phim truyền hình Hàn Quốc, Trung Quốc không chỉ tạo nên một sự lệch lạc trong thực đơn giải trí của khán giả mà ít nhiều đã để lại hậu quả khó lường trong thế hệ khán giả trẻ.

Hiện nay, VTV1 đang chiếu 2 phim Trung Quốc là “Điện thoại di động”, “Chúng ta là anh em”, kênh VTV3 đang chiếu 3 phim Hàn Quốc “Tổng thống”, “Bằng chứng ngoại tình”, “Chốn hậu cung”, kênh VTV6 chiếu 1 phim Hàn Quốc “Công chúa của tôi” và 1 phim Đài Loan “Lần thứ hai mình yêu nhau”. Kênh VTV2 đang phát sóng bộ phim Trung Quốc “Vịnh Xuân Quyền”…

Khán giả Đỗ Ngọc Thanh ở phường Thanh Xuân Bắc, quận Thanh Xuân (Hà Nội) cho biết: “Cứ bật các kênh lên thì thấy phim Hàn, nhạc Hàn, các ngôi sao giải trí của Hàn tràn lan phủ sóng. Có phải chúng ta đang tập trung thời gian, tiền bạc của đất nước mình để quảng bá cho văn hóa Hàn Quốc hay không? Tại sao lại phi lý như thế?”.

Một ý kiến khác, bác Lê Văn Tiến ở nhà K5 Thành Công (Ba Đình, Hà Nội) cho biết: “Truyền hình chiếu phim gì thì khán giả chúng tôi phải xem phim đó, vậy mà giờ suốt ngày TV phát phim Hàn Quốc, phim Trung Quốc khiến người xem chán ngán. Các đài truyền hình có “âm mưu” gì không mà lại suốt ngày cứ đi quảng bá cho văn hóa, lịch sử, du lịch, lối sống của hai nước thông qua phim ảnh ngày càng nhiều như vậy?”.

Vì dễ hay vì rẻ?

Không thể phủ nhận một thực tế, Trung Quốc và Hàn Quốc đang là hai nền điện ảnh lớn nhất châu Á. Điện ảnh của họ đã trở thành một nền công nghiệp chiếm thị phần lớn và ảnh hưởng lớn ở nhiều nước trong khu vực, thế nên truyền hình VN khai thác nhiều phim từ đó cũng là một điều có thể lý giải được.

Ông Nguyễn Hà Nam – Trưởng Ban Thư ký biên tập, Đài Truyền hình Việt nam cho biết:”Sở dĩ VTV phát sóng nhiều phim Hàn Quốc, Trung Quốc là vì đây là hai nền điện ảnh hàng đầu châu Á, mà phim châu Á thì phù hợp hơn với khán giả Việt Nam. Bao giờ VTV cũng muốn đa dạng nguồn phim, tuy nhiên nguồn phim gần gũi với khán giả VN không phải dễ tìm. Đối với phim của các nước khác, nhà đài có thể khai thác nhưng khán giả lại chưa thấy phù hợp về thẩm mỹ và thưởng thức. Thời gian tới chúng tôi sẽ rà soát để điều tiết hợp lý chứ không bỏ hẳn phim Hàn Quốc, Trung Quốc”.

Ai cũng biết, tiền bản quyền của một bộ phim hay có xuất xứ từ Mỹ, Pháp, Nga, Italia, Australia… sẽ không hề rẻ, trong khi phim Hàn Quốc, Trung Quốc vừa sẵn, vừa nhiều, giá lại “mềm”, và trong nước lại sẵn có một lượng không nhỏ người mê phim Hàn, phim Tàu nên chẳng dại gì mà các đài không nhập về chiếu. Chi phí bản quyền rẻ (thậm chí nhiều phim được tặng không hoặc đổi quảng cáo), nội dung phim đơn giản, dễ hiểu, dễ xem, quảng cáo vẫn hút khách… nên các đài cứ tích cực phát.

Quảng bá văn hóa của quốc gia này ở một quốc gia khác trong thời điểm hiện nay đang là một câu chuyện hết sức nhạy cảm. Còn nhớ, tháng 8.2011, hơn 6.000 người dân Nhật Bản đã tụ tập để biểu tình phản đối việc Đài Truyền hình FUJI Tokyo chiếu quá nhiều phim của Hàn Quốc.

Nguyên nhân trực tiếp dẫn đến cuộc biểu tình này là trước đó diễn viên Nhật Bản Takaoka chỉ trích việc Đài FUJI quá coi trọng văn hóa du nhập từ Hàn Quốc và đã bị đuổi việc. Còn ở VN, báo chí và dư luận lên tiếng nhiều, đã có những ý kiến chỉ đạo hạn chế chiếu phim Trung Quốc, Hàn Quốc… và tăng thời lượng phim nội, vậy mà đài truyền hình quốc gia và các đài địa phương vẫn ồ ạt chiếu.

Các nhà đài nghĩ gì khi mình cứ vô tư quảng bá cho văn hóa, lịch sử, lối sống… của Hàn Quốc, Trung Quốc? Họ có ý thức rằng mình là “người đầu bếp”, phải liệu cơm gắp mắm để thu xếp được một thực đơn đủ món, có Á có Âu, có Mỹ có Phi… giúp khán giả được tiếp cận với những nền điện ảnh lớn khác, hiểu biết rộng hơn về thế giới chứ không chỉ suốt ngày loanh quanh với mấy câu chuyện “cà kê dê ngỗng” và sướt mướt chuyên dành cho những người ủy mị.

LÊ TÂM (DÂN VIỆT)

Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ gồm:
– Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu (Mẫu HK02)
– Bản khai nhân khẩu (Mẫu HK01) (đối với nhân khẩu từ đủ 14 tuổi trở lên)
– Giấy chuyển hộ khẩu (mẫu HK07) (đối với các trường hợp phải cấp giấy chuyển hộ khẩu quy định tại khoản 2 Điều 28 Luật Cư trú);
– Giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp thuộc quyền sở hữu của công dân (quy định tại Điều 5 Nghị định số l07/2007/NĐ-CP) (trừ trường hợp được người có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu của mình):
+ Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hoặc giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở do cơ quan có thẩm quyền cấp qua các thời kỳ;
+ Giấy tờ về quyền sử dụng đất ở theo quy định của pháp luật về đất đai (đã có nhà ở trên đất đó);
+ Giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng (đối với trường hợp phải cấp giấy phép);
+ Hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước hoặc giấy tờ về hoá giá thanh lý nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;
+ Hợp đồng mua nhà ở hoặc giấy tờ chứng minh việc đã bàn giao nhà ở, đã nhận nhà ở của doanh nghiệp có chức năng kinh doanh nhà ở đầu tư xây dựng để bán;
+ Giấy tờ về mua, bán, tặng, cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở có công chứng hoặc chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn;
+ Giấy tờ về giao tặng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết, cấp nhà ở, đất ở cho cá nhân, hộ gia đình di dân theo kế hoạch của Nhà nước hoặc các đối tượng khác;
+ Giấy tờ của Toà án hoặc cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền giải quyết cho được sở hữu nhà ở đã có hiệu lực pháp luật;
+ Giấy tờ có xác nhận của UBND cấp xã về nhà ở, đất ở không có tranh chấp quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở nếu không có một trong các giấy tờ nêu trên;
+ Giấy tờ chứng minh về đăng ký tàu, thuyền, phương tiện khác thuộc quyền sở hữu và địa chỉ bến gốc của phương tiện sử dụng để ở. Trường hợp không có giấy đăng ký thì cần có xác nhận của UBND cấp xã về việc có tàu, thuyền, phương tiện khác sử dụng để ở thuộc quyền sở hữu hoặc xác nhận việc mua bán, tặng cho, đổi, thừa kế tàu, thuyền, phương tiện khác và địa chỉ bến gốc của phương tiện đó.
* Giấy tờ chứng minh việc cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ chỗ ở hợp pháp là các loại hợp đồng, cam kết cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà ở, nhà khác của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân (trường hợp hợp đồng, cam kết cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà của cá nhân phải có công chứng hoặc xác nhận của UBND cấp xã);
* Giấy tờ của cơ quan, tổ chức, cơ sở tôn giáo về việc công dân có chỗ ở thuộc trường hợp quy định tại điểm c, điểm d khoản 1 Điều 26 của Luật Cư trú:
+ Thương binh, bệnh binh, người thuộc diện chính sách ưu đãi của Nhà nước, người già yếu, cô đơn, người tàn tật và các trường hợp khác được cơ quan, tổ chức nuôi dưỡng, chăm sóc tập trung;
+ Chức sắc tôn giáo, nhà tu hành hoặc người khác chuyên hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo mà sống tại cơ sở tôn giáo.
* Giấy tờ của cơ quan, tổ chức do thủ trưởng cơ quan, tổ chức ký tên, đóng dấu chứng minh về việc được cấp, sử dụng nhà ở, chuyển nhượng nhà ở, có nhà ở tạo lập trên đất do cơ quan, tổ chức giao đất để làm nhà ở (đối với nhà ở, đất thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức) hoặc xác nhận của UBND cấp xã là nhà ở đó không có tranh chấp về quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng.
Đối với trường hợp chỗ ở hợp pháp là nhà ở do thuê, mượn, ở nhờ của của cá nhân hoặc được người có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu của mình thì người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà ở của mình hoặc người có sổ hộ khẩu phải ghi rõ ý kiến đồng ý cho đăng ký thường trú vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu, ký, ghi rõ họ, tên và ngày, tháng, năm.
Đối với trường hợp có quan hệ gia đình là ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con và anh, chị, em ruột, cháu ruột chuyển đến ở với nhau thì không phải xuất trình giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp, nhưng phải xuất trình giấy tờ chứng minh mối quan hệ nêu trên để làm căn cứ ghi vào sổ hộ khẩu.

*Hồ sơ đăng ký thường trú đối với một số trường hợp cụ thể:
Ngoài giấy tờ có trong hồ sơ đăng ký thường trú nêu trên, các trường hợp dưới đây phải có thêm giấy tờ sau:
+ Người chưa thành niên nếu không đăng ký thường trú cùng cha, mẹ; cha hoặc mẹ mà đăng ký thường trú cùng với người khác thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha, mẹ; cha hoặc mẹ.
+ Người sống độc thân được cơ quan, tổ chức nuôi dưỡng, chăm sóc tập trung khi đăng ký thường trú thì cơ quan, tổ chức đó có văn bản đề nghị. Trường hợp được cá nhân chăm sóc, nuôi dưỡng tập trung thì cá nhân đó có văn bản đề nghị có xác nhận của UBND cấp xã. Văn bản đề nghị cần nêu rõ các thông tin cơ bản của từng người như sau: họ và tên, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, quê quán, dân tộc, tôn giáo, số chứng minh nhân dân, nơi thường trú trước khi chuyển đến, địa chỉ chỗ ở hiện nay.
+ Trẻ em khi đăng ký thường trú phải có giấy khai sinh (bản chính hoặc bản sao có công chứng hoặc chứng thực).
+ Người sống tại cơ sở tôn giáo khi đăng ký thường trú phải có giấy tờ chứng minh là chức sắc tôn giáo, nhà tu hành hoặc người khác chuyên hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn còn quốc tịch VN trở về nước sinh sống có một trong các giấy tờ sau: Hộ chiếu VN hoặc giấy tờ thay hộ chiếu VN có đóng dấu kiểm chứng nhập cảnh của lực lượng kiểm soát xuất nhập cảnh tại cửa khẩu; Giấy tờ chứng minh còn quốc tịch VN do cơ quan đại diện VN ở nước ngoài cấp, kèm theo giấy tờ chứng minh được về VN thường trú của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, kèm theo giấy tờ chứng minh được về nước thường trú của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Bước 2: Nộp hồ sơ tại Đội CSQLHC về TTXH Công an cấp huyện
* Thời gian: Từ thứ 2 đến sáng thứ 7 hàng tuần (ngày lễ nghỉ).
Cán bộ tiếp nhận hồ sơ kiểm tra hồ sơ viết giấy biên nhận trao cho người nộp. Nếu thiếu, hoặc không hợp lệ thì cán bộ tiếp nhận hồ sơ hướng dẫn làm lại.
Bước 3: Nhận Sổ hộ khẩu tại trụ sở Công an cấp huyện
– Người nhận đưa giấy biên nhận từ thứ 2 đến sáng thứ 7 hàng tuần (ngày lễ nghỉ) để nhận lại hổ khẩu và nộp lệ phí (trừ trường hợp được miễn).
+ Thời hạn giải quyết: Không quá 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định.
+ Lệ phí đăng ký cư trú: không quá 15.000đ/lần đăng ký (không quá 10.000đ/lần đăng ký đối với trường hợp không cấp sổ hộ khẩu) đối với các quận của thành phố trực thuộc TƯ hoặc phường nội thành của thành phố thuộc tỉnh. Đối với các khu vực khác, mức thu tối đa bằng 50% mức thu trên. Mức thu cụ thể do HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định.
+ Không thu lệ phí đăng ký thường trú đối với các trường hợp: bố, mẹ, vợ (hoặc chồng) của liệt sĩ, con dưới 18 tuổi của liệt sĩ; thương binh, con dưới 18 tuổi của thương binh; Bà mẹ VNAH; hộ gia đình thuộc diện xoá đói, giảm nghèo; công dân thuộc xã, thị trấn vùng cao theo qui định của Uỷ ban Dân tộc.

Lưu ý:
– Những trường hợp bị xóa tên trong sổ đăng ký thường trú và trong hộ khẩu cũ vì đi khỏi nơi cư trú trong thời gian dài nhưng không đăng ký tạm vắng thì hồ sơ xin đăng ký thường trú gồm:

+ Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu (theo mẫu);
+ Bản khai nhân khẩu (theo mẫu);
+ Giấy chuyển hộ khẩu và giấy này cần phải có giấy xác nhận nơi trước đây đã đăng ký thường trú.
Hồ sơ đề nghị xác nhận gồm: (Gửi đến cơ quan đã đăng ký thường trú trước đây).
+ Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu (theo mẫu);
+ Giấy tờ chứng minh trước đây có hộ khẩu thường trú (nếu có).
– Ngoài những quy định về thủ tục nói trên, người muốn nhập hộ khẩu phải có giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp.
+ Nếu ở thuê, ở nhờ thì phải có văn bản đồng ý của chủ nhà.
+ Nếu nhập hộ khẩu về với gia đình thì không cần chứng minh chỗ ở hợp pháp, nhưng phải xuất trình giấy tờ chứng minh mối quan hệ để làm căn cứ ghi vào sổ hộ khẩu (đăng ký kết hôn, giấy khai sinh, sổ hộ khẩu, xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú hoặc giấy tờ chứng minh quan hệ cha mẹ và con; cha mẹ nuôi và con nuôi…).
– Trường hợp đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc TW cần có thêm một trong các giấy tờ sau:
+ Có chỗ ở hợp pháp và đã tạm trú liên tục tại thành phố đó từ 1 năm trở lên (kể từ ngày đăng ký tạm trú đến ngày nộp hồ sơ đăng ký thường trú; tạm trú liên tục tại một chỗ hay tạm trú liên tục tại nhiều chỗ ở thành phố đó trong thời gian tổng cộng từ 1 năm trở lên). Cần một trong các giấy tờ sau để chứng minh thời hạn tạm trú: Giấy tờ về tạm trú có thời hạn hoặc xác nhận của công an phường, xã, thị trấn về thời gian tạm trú trước ngày 1.7.2007, Sổ tạm trú hoặc xác nhận của công an xã, phường, thị trấn về thời gian đăng ký tạm trú (với các trường hợp đăng ký tạm trú nhưng không cấp sổ tạm trú). Nếu có người đồng ý cho nhập vào hộ khẩu của mình thuộc một trong các trường hợp: vợ về ở với chồng, mẹ về ở với con thì không cần chứng minh chỗ ở hợp pháp và chứng minh đã tạm trú liên tục từ 1 năm trở lên.

Người dân Trung Quốc đang bị kích động

TT – Tại sao ở Trung Quốc liên quan đến vấn đề biển Đông lại xuất hiện dư luận hiếu chiến đến mức mù quáng, bất chấp lẽ phải và sự thật, bất chấp luật pháp quốc tế? Kết quả của một cuộc thăm dò của Thời báo Hoàn Cầu.

Tàu Trung Quốc tuần tra trên biển Đông – Ảnh: Mạng quân sự Trường Giang

Kết quả của một cuộc thăm dò do Thời báo Hoàn Cầu thực hiện với gần 1.500 người ở Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Thành Đô, Tây An, Thẩm Dương… cho thấy rõ điều này. Gần 80% ủng hộ Trung Quốc “sử dụng vũ lực để đập tan các hành động gây hấn và xâm phạm” trên biển Đông. Chỉ vỏn vẹn 16,6% là nói không.

Thử khảo sát trên các trang Weibo… của cư dân mạng Trung Quốc cũng dễ dàng nhận thấy một dư luận tương tự. Rất nhiều ý kiến đòi chính quyền tuyên chiến trên biển Đông. “Không có chỗ cho đàm phán khi xét đến vấn đề lãnh thổ. Một cuộc chiến có thể đem lại 10 năm hòa bình” – một người viết. Người khác lại thẳng thừng: “Tôi ủng hộ việc bắn phá Philippines”. Nhiều người còn chỉ trích chính quyền Trung Quốc là hèn nhát, không dám bảo vệ đất nước. Đa số khẳng định căng thẳng trên biển Đông là “âm mưu thâm độc” do Mỹ dàn dựng để chống Trung Quốc…

Tâm lý nạn nhân

Tất nhiên, ở Trung Quốc vẫn còn có những người tử tế, biết tôn trọng lẽ phải và sự thật, biết yêu đất nước mình và tôn trọng quyền lợi chính đáng của những nước khác như hội thảo “Chủ quyền quốc gia và quy tắc quốc tế” do Viện Nghiên cứu kinh tế và báo mạng Tân Lãng tổ chức mới đây đã cho thấy. Thế nhưng những tiếng nói như vậy còn ít ỏi và lẻ loi, thậm chí đang có nguy cơ bị xem là “những kẻ phản quốc”. Nguyên văn tuyên bố của thiếu tướng quân đội Trương Châu Trung như sau: “Có hơn 1 triệu kẻ phản quốc ở Trung Quốc. Một số học giả là do Mỹ đào tạo, đọc sách Mỹ, chấp nhận quan niệm Mỹ và họ đang giúp Mỹ chống Trung Quốc”.

Tại sao dư luận Trung Quốc lại mù quáng, bất chấp đạo lý và lẽ phải đến như vậy? Câu trả lời dễ nhận ra là do người dân đã bị “tẩy não” và bị “đầu độc” hằng ngày hằng giờ những điều sai lệch.

Các phương tiện truyền thông Trung Quốc, điển hình nhất là tờ Thời báo Hoàn Cầu, thường xuyên cáo buộc Việt Nam và Philippines là “kích động”, “gây hấn” trên biển Đông và đòi chính quyền Bắc Kinh phải phát động “một cuộc chiến tranh quy mô nhỏ” chống lại các quốc gia Đông Nam Á. Giới tướng lĩnh quân đội Trung Quốc (PLA) liên tục đe dọa sẽ trừng trị các nước láng giềng.

Sách giáo khoa của học sinh tiểu học và trung học đều khẳng định cực nam lãnh thổ Trung Quốc là quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Các bản đồ chính thức của Trung Quốc cũng vẽ lãnh thổ Trung Quốc kéo dài tới tận Trường Sa.

Tất nhiên, sách giáo khoa Trung Quốc đã lờ tịt việc hải quân nước này đánh chiếm bất hợp pháp quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào năm 1974. Giới “học giả” Trung Quốc cứ ra rả một luận điệu dối trá khi nhấn mạnh trước thập niên 1970 không hề có cái gọi là “vấn đề biển Đông” do “biển Đông thuộc quyền quản lý của Trung Quốc”.

Trung Quốc hiện có một số tổ chức lớn chuyên nghiên cứu về biển Đông như Viện Hàng hải Trung Quốc, Viện Nghiên cứu Nam Hải, Học viện Khoa học xã hội, Viện Quan hệ quốc tế đương đại… Các “học giả” và “chuyên gia” của các tổ chức này, thông qua các hội nghị, hội thảo, diễn đàn, đều chung một luận điệu dối trá cho rằng khu vực được quy định bởi “đường chín đoạn” là thuộc chủ quyền lịch sử của Trung Quốc.

Phân tích dư luận của Trung Quốc về vấn đề biển Đông, nghiên cứu của Tổ chức Khủng hoảng quốc tế (ICG) cho rằng nguyên nhân là do chính quyền Bắc Kinh đã “tẩy não” người dân nước mình ngay từ khi họ còn là những đứa trẻ và “đầu độc” họ hằng ngày, nên người dân luôn tin rằng toàn bộ biển Đông là của Trung Quốc. Hằng ngày họ liên tục tiếp nhận những thông tin méo mó, dối trá qua các phương tiện thông tin. Do đó, niềm tin này càng trở nên mạnh mẽ đến mức họ coi các quốc gia khác là kẻ gây hấn, còn Trung Quốc là người vô tội.

Tâm lý của kẻ bị vây hãm

Vẫn theo ICG, trong vấn đề biển Đông, chính quyền Trung Quốc đã kích động một tâm lý dân tộc cực đoan bằng cách mô tả Trung Quốc là “nạn nhân” của các quốc gia xung quanh, là “kẻ yếu thế” trong các tranh chấp trên biển Đông. Chẳng hạn, báo chí Trung Quốc thường đưa tin theo kiểu: “Có hơn 1.000 giàn khoan dầu trên biển Đông và bốn sân bay ở Trường Sa, nhưng không có một cái nào là của Trung Quốc”.

Việc Mỹ tuyên bố trở lại châu Á càng là cơ hội để truyền thông Trung Quốc tô đậm “tâm lý nạn nhân” này, đẩy nó lên thành “tâm lý của kẻ bị vây hãm” bởi “những thế lực chống Trung Quốc” ở bên ngoài, và Trung Quốc đang phải tả xung hữu đột để chống đỡ và cố thoát ra tình trạng bị bủa vây này. Tất nhiên, như ICG vạch rõ, bằng cách này các cơ quan và chính quyền địa phương ở Trung Quốc mới có thể lợi dụng để thực hiện những ý đồ riêng. Họ thường công khai chỉ trích các quốc gia khác để gây sức ép buộc chính quyền Bắc Kinh hỗ trợ thêm nguồn lực. PLA cũng lợi dụng tranh chấp ở biển Đông để mở rộng ngân sách quốc phòng.

Chính do những thứ tâm lý này, các giọng điệu hiếu chiến luôn chiếm ưu thế trước quan điểm ôn hòa trong dư luận Trung Quốc. Cũng chính vì tự thổi ngọn lửa dân tộc cực đoan, chính quyền Bắc Kinh lại luôn bị áp lực phải thể hiện bộ mặt cứng rắn để không bị xem là yếu thế mỗi khi đề cập đến vấn đề biển Đông. Một số học giả nhận định chính Bắc Kinh đã “tự tạo ra một con quái vật mà nó sẽ khó lòng kiểm soát”.

SƠN HÀ – ĐÔNG PHƯƠNG

Xem thêm nhiều bài báo tại Tuổi Trẻ

Xem hồ sơ Trung Quốc mở thầu phi pháp trên biển Đông: “Công ty nước ngoài không tham gia gói thầu Trung Quốc” I Thượng nghị sĩ Mỹ: Các lô dầu khí là của Việt Nam I Trung Quốc tự xóa sạch cam kết I Trung Quốc mời thầu phi pháp: Ngang ngược và tráo trở I Bắc Kinh “diễn trò chính trị” I Hội Luật gia VN phản đối TQ mời thầu sai trái I Trung Quốc đang bành trướng I Vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam I “Khu vực Trung Quốc mời thầu thuộc chủ quyền Việt Nam” | Trao công hàm phản đối Trung Quốc mời thầu phi pháp | Trung Quốc mời thầu tại thềm lục địa VN là phi pháp I Trung Quốc mời thầu 9 lô dầu khí trên biển Việt Nam

Sự thật đằng sau việc Trung Quốc thu mua đỉa Việt Nam ???

Như thường lệ, sáng ra lên linkhay tra tin, thấy có bài giật tip “Trung Quốc mua đỉa Việt Nam – 10.000đ/con”. Thấy hay hay nên ngó qua xem. Nội dung đại loại là “Nông dân một số tỉnh miền Bắc đang lùng bắt đỉa để bán với giá hơn một triệu đồng/kg. Nhiều người bán cho biết, đỉa được đưa ra nước ngoài làm thuốc” và“nước ngoài” ở đây không ai khác chính là “ông bạn hàng xóm tốt bụng quý hóa” mang tên Tung Của.

Search trên mạng về tác dụng của đỉa thấy không ít các bài báo đề cập. Hầu như chỉ đề cập là đỉa có tác dụng chữa bệnh bệnh khớp, tim mạch, bởi trong tuyến nước bọt của loài hút máu này chứa chất chống viêm sưng, chống đông máu cùng một số chất có khả năng hạn chế triệu chứng viêm khớp, … Bên cạnh đó có một vấn đề cần lưu tâm là “Dùng bừa bãi sẽ gây tác hại khôn lường. Nếu khi đốt, tán đỉa không đúng cách sẽ khiến một số tế bào đỉa còn sống. Khi người bệnh uống, tế bào còn sót lại sẽ sinh trưởng và lớn lên thành con đỉa ở trong người bệnh” – Lương y Trần Văn Quảng, Hiệp hội Đông y Việt Hoàng Nam.

Đỉa là loài sinh vật lưỡng tính, ngoài hình thức sinh sản như thông thường, đỉa còn có thể sinh sản theo phương thức sinh sản vô tính phân mảnh, nói đơn giản thì nếu ta cắt con đỉa ra làm nhiều mảnh nhỏ, thì từ mỗi mảnh đó lại có thể phát triển thành một con đỉa mới, hình thức này giống hệt với sao biển mà chúng ta từng biết.

Trong bài viết này, mình không phải có “ham muốn” đề cập tới việc đỉa sinh sản thế nào hay cấu tạo của đỉa ra sao, mà điều mình muốn nói là thực chất sự thật đằng sau việc Trung Quốc mua đỉa của Việt Nam với giá cao là gì ???

Chúng ta hẳn vẫn chưa quên, chúng ta từng phải trả những cái giá quá đắt khi tin tưởng vào ông bạn chí tốt hàng xóm Trung Quốc. Có thể lấy dẫn chứng như sau:

Từng có thời gian, thương lái Trung Quốc về các chợ nông thôn Việt Nam thu mua móng trâu với giá rất cao, thậm chí những cái móng từ 4 chân của một con trâu được bọn Tàu mua với giá hơn hẳn một con trâu. Thế là nông dân Việt Nam và bọn “trâu tặc” ra sức chặt móng trâu đem bán,… vẫn còn lãi một con trâu thịt mang bán ở chợ. Chỉ một thời gian rất ngắn, bọn chúng đã triệt phá tan hoang sức kéo của nông dân nghèo Việt Nam. Tiếp đó, dân loan tin cho nhau, hàng lũ lái trâu từ bên Tàu tràn qua biên giới để “tiếp thị” bán trâu. Trong cái lũ thương lái mới này còn có cả kẻ tiếp thị bán trâu sắt (máy kéo). Dân tình vỡ lẽ: Thì ra chúng thu mua móng trâu là vì như thế!

Ở một nơi khác, thương lái Tàu đi các chợ thu mua rễ hồi, thế là những bọn “hồi tặc” mở chiến dịch triệt phá rừng hồi, một dược liệu quý hiếm của Việt Nam; chúng mua râu ngô non, xúi giục nông dân triệt phá nương ngô mang bán, đánh vào trúng cái dạ dày của những người mà bọn Tàu gọi là “đồng chí tốt” Việt Nam; Khoảng giữa thập niên 1990, con buôn Trung Quốc từng đặt mua mèo, trăn, rắn không giới hạn số lượng và sau những đơn đặt hàng này, mùa màng ở tất cả các miền gần như mất trắng vì bị chuột phá hoại;

Rồi chúng mua ốc bươu vàng, xúi giục nông dân nuôi ốc bươu vàng tràn ngập đồng ruộng phá hoại mùa màng, tấn công vào chiến lược an ninh lương thực của quốc gia “láng giềng tốt” Việt Nam. Mình còn nhớ, ngày khoảng 3 hay 4 tuổi gì đó, thấy các anh lớn trong xóm đua nhau nuôi ốc biêu vàng, chia nhau những cụm trứng ốc biêu vàng để nuôi.

Chưa hết, chắc hẳn các bạn còn nhờ từng có thời gian, trên thị trường bán vật tư thuốc nông nghiệp của Việt nam ồ ạt bán các loại thuốc diệt chuột nhập ngoại dán mắc China. Thấy rẻ, dân ta hồ hởi mua để diệt chuột, chắc mẩm rằng sau vụ này cho họ hàng nhà chuột chúng may đi đời sạch. Chuột đi đời đâu chẳng thấy, chỉ thấy sau vụ đó sô lượng chuột càng tăng mạnh, kiểm tra mới vỡ lẽ trong thuốc diệt chuột đó có thành phần của thuốc kích dục, chuột ăn vào chẳng chết mà còn thi nhau đẻ vượt kế hoạch, làm dân mình khốn đốn

Rồi đến vụ, hàng tốp thương lái Tàu xuất hiện từ Hà Giang cho đến Lâm Đồng để thu mua chè vàng, là thứ chè chặt thô phơi tái, không cần chế biến. Thương lái Tàu mua chè vàng với giá rất cao, kích thích nông dân chặt trụi đồi chè mang bán. Thế là thương lái Tàu đã triệt hạ vùng nguyên liệu cho các nhà máy chè Việt Nam. Không còn con đường nào khác, các doanh nghiệp chè Việt Nam phải sang mua chè nguyên liệu từ Trung Quốc. Đến khi nông dân Việt Nam cần trồng lại đồi chè, thì các “đồng chí tốt” từ bên kia biên giới, vì tình quốc tế vô sản lại lọ mọ xuất hiện, “giúp” mua giống chè từ Trung Quốc chở qua cho nông dân Việt Nam.

Thâm độc hơn, chúng mở chiến dịch thu mua dây đồng vụn với giá cao “trên trời,” đẩy từng đoàn “đồng tặc” lùng sục chặt trộm dây đồng từ các đường điện cao thế, băm nát mạng lưới điện quốc gia của nước “láng giềng tốt” để nước này đốt đèn dầu đi theo họ “hướng tới tương lai.” Có nơi, bọn “đồng tặc” lẻn vào kho ăn cắp từng cuộn dây đồng mới “coong” mang bán, thì “các đồng chí tốt” lên mặt đạo đức: “Ấy chết, cái ngộ không mua cái cuộn dây tôồng ăn cắp tài sản xã hội chủ nghĩa của các tôồng chí tâu lố!” (Chúng tôi không mua cái cuộn dây đồng ăn cắp tài sản xã hội chủ nghĩa của các đồng chí đâu nhé).

Cho đến khi bọn thương lái Tàu đi thu mua cáp quang phế liệu, thì các nhà đương cục của chúng ta mới được phen ngớ ra, không hiểu bọn chúng mua cái “của nợ” này để làm gì. Vì mua dây đồng thì còn có thể hiểu là chúng lấy nguyên liệu, nhưng cáp quang thì thật không thể hiểu được chúng mua để làm gì? Đến khi dân nghèo lặn xuống biển chặt phá mạng cáp quang viễn thông, thì mới “ngã ngửa” ra, là chúng đang phá hoại con đường huyết mạch thông tin của Việt Nam… Chắc là các “đồng chí Việt Nam” nghĩ mãi không biết xử thế nào với những người “đồng chí tốt” bên nước vô sản Trung Hoa, đành phải đưa ra tòa vài thằng dân nghèo “trót dại” lặn xuống biển chặt trộm cáp quang.

Rồi mới đây, người anh em Trung Quốc còn phao tin mua gỗ sưa – một loại gỗ quý của Việt Nam, với mục đích chữa bệnh tật gì đó, … Thấy lãi, anh em ta thi nhau đi chặt trộm gỗ sưa đem bán cho Trung Quốc…

Phía trên chỉ là một vài trong số nhiều “nguồn lợi” mà người anh em Trung Quốc đem ra để chia sẻ cho chúng ta mà thôi. Search trên mấy trang báo còn thấy dân ta giờ đang ồ ạt thu mua đỉa, không ít anh em còn đang nuôi mộng nuôi đỉa nhằm mục đích bán cho Trung Quốc lấy lãi. Liệu rằng vụ mua đỉa với quy mô lớn này có phải là vụ ốc bươu vàng lập lại trước đây, nếu đơn thuần chỉ là chữa bệnh thì OK, 10.000 đồng/con ta nên bán quá đi chứ, nhưng mình nghĩ, với người anh em Trung Quốc, đến cả gạo, trứng họ còn làm giả cho chính người dân của họ ăn, thì không có lý gì họ bỏ ra một số tiền như vậy để mua một con đỉa về làm thuốc. Cuối cùng mình chỉ muốn chốt hạ một câu mà thôi “Hãy cảnh giác với người anh em tốt mang tên Trung Quốc”.

P/S: Quá nhiều bài học mà chúng ta đã phải trả 1 cái giá quá đắt. Hãy là người luôn cảnh giác cao độ với các mưu mô khó lường của TQ nhé các bạn ^^!

Nguồn: Internet [Phan Tiểu Ngư ]