Tag Archive: dau


Họ là những người Việt Nam nhưng những cống hiến, thành tựu của họ đã mang tầm quốc tế, đặc biệt là khiến người Pháp cảm phục.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh

Đại sứ Pháp tại Việt Nam Jean-Noël Poirier hôm 26/2 vừa qua trao huân chươngBắc đẩu Bội tinh, huân hương cao quý nhất của Cộng hòa Pháp, cho bà Tôn Nữ Thị Ninh, tại TP.HCM.

“Bà là một “người phụ nữ của Ánh sáng”, một phụ nữ của văn hóa, đồng thời là một nhà ngoại giao và một nữ chính khách, và bà hết sức coi trọng việc truyền bá kiến thức cho các thế hệ trẻ”, ông Poirier dành những lời tốt đẹp nhất ca ngợi bàTôn Nữ Thị Ninh, trong lễ trao huân chương.

“Bà vừa là hiện thân cho gương mặt thời nay của các nhà nho lớn thời xưa của Việt Nam, vừa là hiện thân của các nhà trí thức dấn thân của Pháp của thế kỷ XX. Bà đã có những đóng góp lớn cho mối quan hệ lâu bền và tin tưởng giữa Việt Nam, Pháp và các nước Pháp ngữ”, ông nói.

Bà Ninh từng được trao huân chương Bắc đẩu Bội tinh hạng Nhì (cao nhất là hạng Năm) sau Hội nghị Thượng đỉnh Pháp ngữ Hà Nội 1997. Lần này, bà được đại sứ Pháp trao huân chương Bắc đẩu Bội tinh hạng Ba.

Đại sứ quán Pháp cho rằng với vai trò là giáo viên, nhà ngoại giao, chính khách, bà Ninh đã không ngừng đóng góp cho sự phát triển của Việt Nam và cho sự hội nhập của đất nước vào cộng đồng quốc tế, qua đó duy trì mối quan hệ bền chặt của bà với nước Pháp.

Bà Nguyễn Thị Kim Tiến

Chiều 20/3/2009, Phó Giáo sư – Tiến sĩ, Thầy thuốc ưu tú Nguyễn Thị Kim Tiếnđã được trao tặng huân chương Bắc đẩu Bộitinh – huân chương cao quý nhất của nước Pháp.

Bà Nguyễn Thị Kim Tiến là cán bộ y tế Việt Nam đầu tiên nhận huân chương Bắc đẩu Bội tinh.

Đây là sự ghi nhận của nước Pháp với những đóng góp to lớn của bà Kim Tiến trong việc phát triển quan hệ hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực khoa học ở trình độ cao.

Bà Kim Tiến cho biết, ngành y tế hai nước Việt Nam và Pháp đã có mối quan hệ truyền thống từ xưa. ĐH Y Hà Nội, bệnh viện Bạch Mai, Việt – Đức ở phía Bắc, bệnh viện Chợ Rẫy ở phía Nam đều do Chính phủ Pháp xây dựng. Nhiều giáo sư y học đầu ngành của nước nhà như Giáo sư Hồ Đắc Di, Giáo sư Tôn Thất Tùng, Giáo sư Trần Hữu Tước, Giáo sư Đặng Văn Chung, cố Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch… đã được đào tạo từ Pháp.

Viện Pasteur Paris có mối quan hệ khăng khít với hệ thống hơn 20 viện Pasteur trên thế giới. Đây là niềm tự hào của nước Pháp về nghiên cứu và ứng dụng trong lĩnh vực Y sinh học. Viện Pasteur TP.HCM là được thành lập sau Viện Pasteur Paris và là Viện Pasteur đầu tiên được xây dựng ngoài nước Pháp – nơi Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Tiến đã công tác liên tục trong suốt 20 năm. Bà làm Viện trưởng Viện Pasteur TP.HCM từ năm 2001 và là người Viện trưởng trẻ nhất trong số hơn 20 Viện trưởng Pasteur trên thế giới.

Bà Nguyễn Thị Xuân Phượng

Tối 12/10/2011, tại Tổng lãnh sự quán Pháp ở TP.HCM, Đại sứ Pháp tại Việt Nam đã trao huân chương Bắc đẩu Bội tinh của Chính phủ Pháp cho bà Nguyễn Thị Xuân Phượng. Trong lễ trao huân chương, Đại sứ Jean-François Girault nhận xét, bà Phượng có những đóng góp tích cực cho xã hội và đất nước Việt Nam thông qua những việc mà bà đã làm, cả trong thời chiến và thời bình.

Bà Nguyễn Thị Xuân Phượng (sinh năm 1924) là cựu phóng viên chiến trường, đạo diễn phim tài liệu của Đài Truyền hình Việt Nam. Năm 1989, bà về hưu. Bà Phượng đã từng viết báo, dịch nhiều tài liệu và viết sách giới thiệu về Việt Nam với độc giả Pháp suốt 30 năm qua.

Với những hoạt động tích cực, bà Phượng đã đưa 28 đoàn điện ảnh Pháp sang thăm Việt Nam để làm phim cả trong thời gian chiến tranh lẫn thời bình. Từ năm 1991 đến nay, bà Phượng liên tục đưa nhiều đoàn họa sĩ Việt Nam sang Pháp triển lãm tranh tại nhiều thành phố. Bà trở thành một nhà sưu tập, chủ nhân của phòng tranh Lotus.

Ông Ngô Bảo Châu

Ngày 27/1/2012, GS Ngô Bảo Châu đã được đích thân Tổng thổng Pháp Nicolas Sarkozy trao tặng huân chương Bắc đẩu Bội tinh tại điện Élysée.

Trước đó, ngày 19/8/2010, tại Đại hội Toán học thế giới tổ chức ở Hyderabad, Ấn Độ, GS Ngô Bảo Châu đã được trao huy chương Fields – giải thưởng cao quý nhất trong lĩnh vực toán học. Đây là lần đầu tiên giải thưởng này được trao cho một người Việt Nam.

Ngày 9/3/2011, Bộ GD-ĐT đã tổ chức công bố Quyết định thành lập Viện Nghiên cứu cao cấp về toán trực thuộc Bộ GD-ĐT và Quyết định bổ nhiệm GS. Ngô Bảo Châu giữ chức Giám đốc khoa học của Viện. GS Châu cho biết, sẽ cố gắng để bảo đảm hoạt động khoa học của Viện đúng với tinh thần, mục tiêu đã đề ra trong việc tác động cụ thể lên khả năng nghiên cứu, giảng dạy toán học tại các trường ĐH Việt Nam, thu hút và tạo điều kiện cho các nhà toán học trẻ Việt Nam cũng như của nước ngoài đạt được hướng nghiên cứu mới về toán học.

Hiện GS Ngô Bảo Châu đang giảng dạy tại ĐH Chicago (Mỹ) và vừa qua GS đã được bổ nhiệm vào vị trí giáo sư gắn danh, và được phong tặng danh hiệu giáo sư xuất sắc. Từ trước đến nay, có chưa đầy 1% GS đang giảng dạy ĐH tại Mỹ được trao tặng danh hiệu này.

GS Ngô Bảo Châu sinh năm 1972, từng học khối phổ thông chuyên toán của ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội và đoạt giải huy chương vàng Olympic toán quốc tế năm 1988 và 1989. GS Châu nhận được học vị tiến sĩ tại ĐH Paris-Sud năm 1997.

Năm 2004, GS Châu nhận giải thưởng nghiên cứu hàng năm của Viện Toán học Clay, Mỹ dành cho những người đạt thành tựu xuất sắc nhất trong năm nhờ giải quyết một trường hợp đặc biệt của “chương trình Langlands”. Mỗi năm chỉ có một hoặc hai người được trao giải và Ngô Bảo Châu là người Việt Nam đầu tiên nhận giải thưởng này.

Theo Kiến Thức

Advertisements

Mới đây, tổ chức “Nhà tự do” đã công bố cái gọi là phúc trình về tự do thế giới 2013, trong đó đưa ra một số đánh giá thiếu khách quan về tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Vậy tổ chức “Nhà tự do” là gì, tại sao họ lại có hành xử thiếu thiện chí như vậy?  

“Nhà tự do” (Freedom House – FH) là tổ chức phi chính phủ, thành lập tháng 10-1941, trụ sở đặt ở Hoa Kỳ. Tổ chức này tự gán cho mình sứ mệnh “theo dõi tiến trình dân chủ hóa toàn cầu, khảo sát và nghiên cứu tình hình thực thi các quyền tự do chính trị và dân sự tại các quốc gia trên thế giới”; hơn thế nữa, FH còn tự nhận là “một tiếng nói minh bạch cho dân chủ và tự do trên thế giới”! Ðể thể hiện sứ mệnh, hằng năm FH đều công bố các văn bản gọi là phúc trình về tự do trên thế giới, báo cáo thường niên về tự do báo chí, tự do in-tơ-nét. Các văn bản này chỉ tập trung vào một số nước như CHDCND Triều Tiên, Lào, Trung Quốc, Việt Nam, Cu-ba,… hoặc các quốc gia vốn đang nằm trong “tầm ngắm” của một số thế lực thiếu thiện chí ở phương Tây. Các thế lực này luôn luôn lợi dụng vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá, hoặc làm mất uy tín của các chính phủ mà họ “không ưa” trước cộng đồng thế giới. Trong phúc trình của FH về “tự do thế giới 2013″, FH tiếp tục coi Việt Nam là quốc gia “không tự do” trong thực thi quyền tự do chính trị và dân sự. Tới ngày 18-1, trả lời phỏng vấn của VOA tiếng Việt, Sarah Cook – người được giới thiệu là chuyên gia phân tích cao cấp về tự do in-tơ-nét và Ðông Á của FH, còn trắng trợn cho rằng Việt Nam đang có xu hướng gia tăng đàn áp các quyền cơ bản của công dân, xử “nặng tay” với những blogger chỉ trích nhà nước kiểm duyệt in-tơ-nét và tiếp tục đàn áp tự do tôn giáo!

Từ khi mới ra đời, FH đã là “cỗ máy tuyên truyền” do cố Tổng thống Roosevelt lập ra để chuẩn bị tâm lý cho công chúng Mỹ đối với việc nước Mỹ tham chiến trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Tuy nhiên, sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, FH không bị giải thể mà tiếp tục được sử dụng để tiến hành các chiến dịch tuyên truyền, vận động cho Kế hoạch Marshall và tổ chức NATO, đồng thời tuyên truyền chống Chủ nghĩa cộng sản. Bên cạnh đó, FH cũng tích cực cổ súy truyền bá giá trị của Hoa Kỳ với khẩu hiệu “Hoa Kỳ: quốc gia của tự do”. Trong những năm 90 của thế kỷ trước, FH phát động chương trình đào tạo về nhân quyền cho các phần tử chống đối ở Ðông và Trung Âu; khuyến khích công đoàn và người lao động tham gia các hoạt động bí mật, qua đó can thiệp vào công việc nội bộ của một số nước ở Ðông và Trung Âu. Trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21, cựu Tổng thống George W. Bush từng yêu cầu FH soạn thảo báo cáo hằng năm về quyền chính trị, dân sự trên toàn thế giới để chính quyền tham khảo trước khi quyết định cung cấp viện trợ phát triển trong khuôn khổ hợp tác đối phó với các thách thức thiên niên kỷ cho các nước…

Có một sự thật là cho đến nay, hầu hết kinh phí hoạt động của FH do Chính phủ Hoa Kỳ tài trợ, phần lớn thành viên ban lãnh đạo của tổ chức này đều là cựu thành viên của các cơ quan chính quyền Hoa Kỳ (như: Chủ tịch đương nhiệm của FH là William H. Taft – người từng giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng thời Tổng thống Ronald Reagan, quyền Bộ trưởng Quốc phòng dưới thời Tổng thống Bush cha, Cố vấn luật pháp của Bộ Ngoại giao dưới thời Tổng thống Bush con; các thành viên khác trong ban lãnh đạo của FH, như Kenneth Adelman từng là thành viên Ban cố vấn chính sách Quốc phòng của Lầu Năm góc, Mark Palmer là cựu Ðại sứ Hoa Kỳ tại Hungary…). FH còn có quan hệ chặt chẽ với Quỹ dân chủ quốc gia (NED), Liên đoàn chống cộng thế giới, Ðài châu Âu tự do,… Ðã lệ thuộc tài chính vào chính quyền Mỹ, lại bị điều khiển bởi các nhân vật từng tham gia chính quyền, cho nên không có gì khó hiểu khi FH trở thành một công cụ của những người đã chi tiền để FH có thể tồn tại dưới vỏ bọc nghiên cứu, theo dõi, cổ súy cho tự do, dân chủ, nhân quyền!

Câu hỏi đặt ra là tổ chức này dựa trên cơ sở nào để “chấm điểm” mức độ tự do về quyền chính trị và dân sự tại các quốc gia, và liệu cơ sở ấy có thật sự khách quan, đáng tin cậy? Sarah Cook cho rằng phúc trình của FH “đánh giá rõ ràng, khách quan mức độ tự do về quyền chính trị và dân sự của công dân tại tất cả các quốc gia trên thế giới”, nhưng khi được hỏi về căn cứ đưa ra bản phúc trình hằng năm đối với Việt Nam, nhân vật này thản nhiên trả lời: “Chúng tôi có một chuyên gia chính phụ trách từng quốc gia, chuyên phân tích tình hình của quốc gia đó. Họ theo dõi tin tức và thông tin về tình hình quốc gia ấy, tham vấn những người liên quan tại nước đó hay những người thường xuyên lui tới nước đó, nói chuyện với các tổ chức kể cả các nhóm hoạt động bên ngoài nước đó”. Câu trả lời cho thấy, FH đánh giá vấn đề theo lối hồ đồ vô căn cứ và tin tức mà chuyên gia của FH theo dõi không phải từ các nguồn chính thống, khách quan, mà chủ yếu khai thác từ các website, blog, các cơ quan truyền thông vốn có thái độ thù địch hoặc thiếu thiện chí với Việt Nam; từ một số cá nhân, nhóm hoạt động thực chất là các thế lực chống phá Việt Nam ở nước ngoài, một số phần tử vi phạm pháp luật ở trong nước. Từ các thông tin FH công bố, có thể khẳng định tổ chức này không hề có bất cứ hoạt động khảo sát thực tế nào, họ chỉ dựa trên các thông tin sai lệch, vu cáo và bịa đặt để nhận xét, rồi chấm điểm. Vậy xin hỏi bà Sarah Cook, đâu là tính khách quan trong phúc trình của FH?

Trong lĩnh vực in-tơ-nét và báo chí, mọi người đều biết việc Nhà nước Việt Nam đã quan tâm, tạo điều kiện để phát triển in-tơ-nét và báo chí như thế nào, chỉ có FH và Sarah Cook là không biết mà thôi. Cho nên, một người Việt đang sống tại Hoa Kỳ, sau khi đọc bản phúc trình của FH và ý kiến của Sarah Cook trên VOA đã phải lên tiếng như sau: “Sự thật tự do báo chí ở Việt Nam đã chứng minh, phản bác hành động sai trái của Freedom House, tôi xin trích dẫn số liệu sau: Theo thống kê của tổ chức Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) năm 2010, Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ người dân sử dụng in-tơ-nét cao nhất trong khu vực Ðông – Nam Á, chiếm 31,06% dân số, chỉ đứng sau ba nước là Xin-ga-po (70%), Ma-lai-xi-a (55,3%), Bru-nây (50%);… đồng thời vượt khá xa tỷ lệ trung bình của khu vực Ðông – Nam Á (17,86%), khu vực châu Á (17,27%) và thế giới (21,88%). Nhân đây, cần nhắc lại rằng, sự thật về tình hình báo chí ở Việt Nam là trái ngược hẳn với những gì Freedom House vu cáo. Thật vậy, tính đến tháng 3-2012, ở Việt Nam có gần 17 nghìn nhà báo, hơn 19 nghìn hội viên nhà báo, hàng nghìn phóng viên hoạt động ở 786 cơ quan báo in, với 1.016 ấn phẩm, 67 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và cấp tỉnh, 47 đơn vị hoạt động truyền hình cáp, chín đơn vị truyền dẫn tín hiệu truyền hình cáp… Các con số nêu ra trên đây dù chưa được đầy đủ nhưng là một minh chứng cho nhiều sắc màu về tự do truyền thông”. Ý kiến của tác giả này cùng thực tế sinh động của sự phát triển in-tơ-nét và báo chí ở Việt Nam trong các năm qua là cơ sở chứng minh điều FH và Sarah Cook kết luận là sự bịa đặt, xuyên tạc trắng trợn.

Ðây không phải lần đầu FH dựng chuyện và nhận xét nhảm nhí về việc thực thi quyền tự do chính trị và dân sự ở Việt Nam. Và không chỉ có thế, nhiều năm qua, FH còn mở một số chiến dịch cổ súy cho cái gọi là “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí”, rồi kích động, hậu thuẫn cho một số kẻ cơ hội, phần tử vi phạm pháp luật ở Việt Nam. Rồi mỗi khi cơ quan tư pháp của Việt Nam tiến hành điều tra, bắt giam, xét xử một số công dân vi phạm pháp luật là FH vội vàng vận động một số chính khách phương Tây vu cáo Việt Nam đàn áp “nhà đấu tranh dân chủ”, “người bất đồng chính kiến”, và… đòi “trả tự do ngay lập tức”! Xâu chuỗi các hành động, việc làm của FH trong nhiều năm qua, có thể nhận diện ý đồ thâm độc của tổ chức này đối với Việt Nam là vừa vu khống Ðảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam, vừa tiếp tay cho các thế lực thù địch và một số người có hành vi vi phạm pháp luật để FH dựa vào đó thực hiện âm mưu của mình.

Như vậy có thể nói sự quan tâm của FH đối với Việt Nam không phải nhằm khuyến khích tự do, dân chủ, nhân quyền. Qua những gì FH thể hiện, tổ chức này chỉ chuyên tâm cổ súy các hoạt động gây bất ổn định chính trị – xã hội ở Việt Nam. Nếu thật sự quan tâm đến tự do, dân chủ, nhân quyền, FH nên tự vấn để trả lời câu hỏi tại sao Báo cáo của Ngân hàng Thế giới mới công bố ngày 24-1 lại đánh giá trong 20 năm qua, tỷ lệ nghèo đói ở Việt Nam đã giảm từ 60% xuống 20,7%, tức là 30 triệu người dân đã thoát khỏi đói nghèo; lĩnh vực giáo dục cũng có nhiều cải thiện, tỷ lệ đăng ký đi học trường tiểu học và trung học ở bộ phận người nghèo tăng lần lượt hơn 90% và 70%,…? Phải chăng đó không phải là thành tựu đáng khích lệ về tự do, dân chủ, nhân quyền? Nếu thật sự quan tâm đến tự do, dân chủ, nhân quyền, FH hãy tỏ ra là có liêm sỉ để góp phần vào việc mà mới đây, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc – UNICEF, kêu gọi tìm nguồn kinh phí 1,4 tỷ USD trong năm 2013 để đáp ứng các nhu cầu giúp đỡ hàng chục triệu trẻ em bị ảnh hưởng vì chiến tranh, thiên tai và các trường hợp khẩn cấp tại 45 quốc gia, vùng lãnh thổ. Và nếu thật sự quan tâm đến tự do, dân chủ, nhân quyền, FH không nên khoác lên mình “bộ cánh đã lỗi mốt” để trở thành “con rối” trong tay người khác.

BÁ SỸ
Theo Nhandan.com.vn

Kịch bản để mở đầu một cuộc chiến.

Photo: EPA
Câu nói “Cái mới chẳng qua là điều  xưa đã bị quên lãng” đã trở nên thông dụng 200 năm nay và nhiều lần khẳng định sự tồn tại của mình.
Chẳng hạn như thí dụ mới đây. Thượng viện Mỹ công bố gói tài liệu tiếp theo về thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Bình luận về các tài liệu này trên tạp chí New York Times vào tuần qua, nhà báo Mỹ Elizabeth Bumiller đã rút ra kết luận: “Những tài liệu này chứng tỏ, Nhà Trắng và Lầu Năm góc lừa dối các thượng nghị sĩ về sự kiện Vịnh Bắc Bộ năm 1964″.
Không ít người còn coi đây là một tin giật gân. Liệu có đúng như vậy?
Sự lơ đãng, với hình thức tồi tệ nhất là cố tình quên lãng, vốn là một trong những bản chất tính cách không những của con người, mà cả nhiều quốc gia. Nhưng ông Lê Đức Thọ, người được trao giải thưởng Nobel Hòa bình đã công bằng nhận xét “ai quên đi sai lầm của mình sẽ không tránh khỏi sự lặp lại”. Người đại diện của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tại các cuộc thương lượng với Henry Kisinger, trước lễ ký kết Thỏa thuận Paris 1973 về đình chiến ở Việt Nam, đã trả lời như vậy khi nhân vật đối thoại người Mỹ đề nghị hai nước quên đi mọi chuyện cũ và bắt đầu mối quan hệ từ trang giấy trắng.
Tìm cách quên lãng quá khứ là những ai cảm thấy đó điều bất lợi cho mình , Mới đây, trên một kênh truyền hình chiếu bộ phim về chiến tranh Việt Nam , có một cảnh làm  đó là cuộc tranh luận giữa hai người Mỹ, một già một trẻ, về nguyên nhân sự thất bại của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Nhân vật đứng tuổi giải thích đó là bởi sự công minh trong tính chất đấu tranh của người Việt Nam, bởi chiến lược và chiến thuật quân sự tài tình của họ. Còn nhân vật trẻ tuổi giải thích đấy là nhờ vào hoạt động chống chiến tranh của những người theo chủ nghĩa hòa bình và trào lưu hippy tại chính nước Mỹ. Có thể thấy, không hề thừa khi chúng ta nhắc nhở cho các thế hệ trẻ về những điều bị quên lãng. Cả về nguyên nhân sự thất bại của Mỹ ở Việt Nam, cũng như lý do khởi đầu sự xâm lược của Mỹ.  Cụ thể, về sự kiện Vịnh Bắc Bộ mà Mỹ đã sử dụng như lý lẽ để khai màn cuộc chiến tranh trên không chống nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Ngày 05/08/1964, phát biểu trên đài truyền hình Mỹ, Tổng thống Johnson thông báo, tại vịnh Bắc Bộ ngày 02/08 tầu ngư lôi của Bắc Việt Nam đã tấn công tầu khu trục Mỹ, và đến ngày 04/08 thì đã hai tầu Mỹ là Maddox và Turner Joy bị phía Việt Nam tấn công. Vì những nguyên nhân này mà không quân Mỹ vừa tổ chức cuộc ném bom đầu tiên xuống lãnh thổ Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Chỉ sau đó vài giờ, dự thảo nghị quyết chuẩn y hoạt động chiến tranh qui mô tại Việt Nam đã được đưa vào Hạ nghị viện. Văn bản được gọi là “Nghị quyết vịnh Bắc Bộ” đã thông qua ngày 07/08 và trở thành cơ sở khởi đầu sự tham gia toàn diện của Mỹ trong các hoạt động chiến sự chống nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, không cần tới sự tuyên chiến chính thức.
Nhà sử học Makxim Siunenberg chuyên viên về nghiên cứu các mối quan hệ Việt Nam và Mỹ những năm 1950-1970  nói: “Ngay từ đầu, sự trung thực của cái gọi là sự kiện vịnh Bắc Bộ đã gây nên nhiều hoài nghi chính tại Mỹ cũng như từ các hạ nghị sĩ. Vào đầu năm 1968, các tạp chí Esquire và Times đã đăng những tài liệu  vạch trần toàn bộ sự dối trá trong nội dung giả thiết chính thức của Mỹ về sự kiện này”.
Cả hai ngày 2 và ngày 4 tháng 8, không một tầu khu trục nào của Mỹ đã bị trúng ngư lôi. Sau đó, như Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Robert McNamara thông báo vào tháng 2/1968, các tầu khu trục Mỹ đã có mặt  tại vịnh Bắc Bộ với mục đích “khiêu khích hoạt động của các thiết bị radar Bắc Việt Nam, nhằm ghi lại tần số các radar này”.
Và nếu ngày 02/08/1964, đúng là tầu hải quân Bắc Việt Nam có mặt ở khu vực Maddox, nhưng tại hải phận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thì ngày 04/08 hòa toàn không có một tầu nào tại đây.
“Toàn bộ là những hành động đáng ngờ”, – thuyền trưởng John Gerric, người nắm quyền điều kiển linh hoạt cả hai tầu khu trục, đã thông báo như vậy với ban chỉ huy Hải quân Mỹ ngày 05/08. Người này tỏ ra nghi ngờ sự đúng đắn các chỉ số của thiết bị định vị âm thanh trên khu trục hạm. “Tôi tin rằng, đây chỉ là những thông số ghi lại tiếng ầm của động cơ hai tầu khu trục”, – ông tuyên bố như vậy.
Bản thân thuyền trưởng Gerbert Ogayer của tầu Meddox đã cho biết, tầu của ông không hề bị tấn công. Ông thú nhận đã nhầm tiếng ồn của động cơ tầu mình với tiếng ồn của tầu phóng ngư lôi. Thuyền trưởng Bartnhart của Turner Joy cũng  phủ nhận là khu trục hạm bị tấn công.
Trung úy Connell, sĩ quan pháo trên tầu Maddox thì nói như sau: “Chúng tôi đã nã pháo loạn xạ. Không có một mục tiêu nào trên màn hình radar. Các máy bay được điều động từ hàng không mẫu hạm cũng không phát hiện thấy đối phương”.
Tháng 3/1968, Ủy ban đối ngoại Thượng nghị viện Mỹ đã điều tra đầy đủ sự kiện vịnh Bắc Bộ và kết luận, sự kiện này được “sáng tác từ đầu đến cuối”.  Những bằng chứng mới khẳng định điều này nằm trong các tài liệu thời chiến tranh Việt Nam, vừa được Ủy ban quan hệ quốc tế Thượng nghị viện Mỹ giải mật .
Hoa Kỳ cần tới sự kiện vịnh Bắc Bộ như một casus belli – lý do để tuyên chiến. Trong lịch sử thế giới đây không phải là trường hợp đầu tiên.

Trong cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại có những nhân vật “hành nghề chính trị” mà khi nhắc đến thì mọi người đều lắc đầu ngán ngẩm với những nhận xét đầy khinh bỉ . Đó là những kẻ cơ hội , trục lợi, trơ trẽn với những việc làm trong quá khứ và hiện tại của họ . Ở đây tôi muốn nói đến một nhân vật thuộc hạng có “máu mặt” đó là Võ văn Ái với hỗn danh là “ma đầu”, hiện đang là chủ tịch cơ sở Quê mẹ và “Ủy ban bảo vệ quyền làm người VN” do chính Ái tự phong làm chủ tịch và điều hành. Qua việc theo dõi các thông tin trên báo chí thì tôi được biết vào tháng 3 đầu năm nay, 2012, dưới sự cầm đầu của Võ Văn Ái “Ủy ban bảo vệ quyền làm người VN” đã đến Genève vận động can thiệp cho những người mà họ gọi là “những tù nhân chính trị và tù nhân vì lương thức Việt Nam”? Võ văn Ái gặp gỡ “Tổ Hành Động Chống Bắt bớ Trái phép của LHQ”(WGAD). Theo thủ tục WGAD đã chuyển đạt tin tức cùng hồ sở do Võ văn Ái cung cấp đến chính quyền Việt Nam ngày 15.3.2012. Việt Nam hồi đáp ngày 13.7.2012 bác bỏ mọi luận điểm của hồ sơ, rồi tuyên bố các người bị giam tù do họ vi phạm pháp luật Việt Nam. 29-8-2012 WGAD đã gởi bản Fax đến “Ủy ban bảo vệ quyền làm người VN” với nội dung tuyên bố rằng,”Việt Nam vi phạm các điều 9, 19, và 21 của Công ước quốc tế khi giam giữ trái phép ông Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, và Lê Thăng”. Võ văn Ái vui mừng coi đây là một thành tích mà các “bề trên” ủng hộ, ngày 8-11-2012 vội vàng xuất xưởng với cái gọi là “Thông cáo báo chí” trên nguyệt san Quê mẹ.
Trong nội dung “Thông cáo báo chí” Võ Văn Ái lớn giọng “Phải trả tự do cho những người này và phải chấp nhận đền bù cho họ …”? Ông ta có cái quyền gì mà ra lệnh cho một nhà nước hợp pháp đang lãnh đạo 90 triệu dân ? chỉ có kẻ đầu óc hoang đường mới có những phát ngôn ngông cuồng như vậy.Theo sự tìm hiểu của bản thân tôi về việc thực hiện quyền con người và sự thúc đẩy nó đạt đỉnh thăng hoa nhất đó là trách nhiệm và quyền hạn của mỗi quốc gia , mỗi dân tộc. Việt Nam cũng như các quốc gia khác có trách nhiệm xây dựng hệ thống pháp luật trong nước cho phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế mà đặc biệt là hiến chương liên hợp quốc. Nhưng do hoàn cảnh khác biệt về lịch sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá trị truyền thống văn hóa… nên cách thực hiện quyền con người ở mỗi quốc gia có thể khác nhau. Hợp tác đối thoại giữa các quốc gia nhằm mục đích thúc đẩy việc thực hiện và bảo vệ quyền con người là một yêu cầu thực tế, cần thiết khách quan chứ không phải là sự quy chụp võ đoán bất chấp thực tế.Thật khó mà kể hết những hoạt động của Võ Văn Ái chống phá đất nước và dân tộc Việt Nam mà đặc biệt là với bà con phật tử và Giáo hội Phật giáo Việt Nam . Võ Văn Ái là tên đầu cơ trục lợi chính trị một cách ma mãnh nhất, ông ta đã không từ một thủ đoạn nào với mục đích duy nhất là đánh bóng tên tuổi và kiếm chác tiền bạc từ các tổ chức ngoại bang chống Việt Nam và của bà con trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Một điều lẽ tất nhiên là khi nhận tiền của ngoại bang là phải chấp nhận những điều kiện, những hoạt động phục vụ cho đường lối chính sách của tổ chức đó thì đồng nghĩa với thân phận làm tay sai, điều này thì Võ văn Ái không thể phủ nhận được . Vậy thì những điều mà Võ Văn Ái lên tiếng tranh đấu cho tự do, dân chủ, quyền làm người của dân tộc Việt Nam như ông ta đã cao giọng nhằm phục vụ cho đường lối sách lược nào? cho thế lực ngoại bang hay cho dân tộc Việt Nam? Đúng là con người gian manh , một tên “ma đầu” về chính trị tự khoác lên người tấm áo choàng “bảo vệ quyền làm người” nhưng mục tiêu của ông Ái là làm tay sai để được trả tiền. Những việc làm của Võ văn Ái đã để lại những hậu quả tai hại là Phật giáo Việt Nam bị chia rẽ, rối ren . Đồng thời với hoạt động báo chí, Ái còn lập tổ chức “Ủy ban bảo vệ quyền làm người VN” như đã nói, do chính Ái làm chủ tịch và điều hành. Chúng ta thấy Võ văn Ái hay “mở sô” phỏng vấn trên các “mõ làng” như VOA, RFA, RFI… để Ái tự quảng cáo, đánh bóng, phô trương, phóng đại thành tích chống Cộng và tranh đấu cho quyền làm người Việt Nam hay tự do tôn giáo bằng bất kỳ thủ đoạn nào .Võ Văn Ái chuyên nghề câu kết với một số đối tượng cơ hội chính trị trong nước và các phần tử chống cộng cực đoan (CCCĐ) lợi dụng tôn giáo để kích động gây rối xã hội Việt Nam. Đối với Võ Văn Ái, thì tất cả người dân trong nước đều là những “nạn nhân” của chế độ cộng sản cầm quyền ,không có “nạn nhân” cũng phải cố tạo, cố nặn ra để được lên tiếng đánh bóng cái mác “bảo vệ quyền làm người” với chức danh chủ tịch tự phong của mình .
Lật lý lịch của Võ Văn Ái, có quốc tịch Pháp, dân tộc Kinh, quê Thừa Thiên – Huế, là Phật tử. Ái là bác sĩ, viết văn, làm thơ, làm báo với các bút danh: Nguyễn Thái, Thi Vũ, Trần Phổ Minh…, và làm con rối chính trị . Là Phật tử, đúng ra ông ta phải có những việc làm ích đời đẹp đạo vậy mà tất cả những việc làm của Võ văn Ái chỉ có duy nhất một niềm đam mê như con thiêu thân là chống lại dân tộc Việt Nam và kiếm tiền. Chỉ đáng tiếc là một số người trong nước không hiểu được dã tâm của những người như Ái họ đã tự nguyện làm vật tế thần, nhằm phục vụ cho mưu đồ đen tối .1978- khi Bernard Kouchner, Chủ tịch tổ chức “Thầy thuốc không biên giới Pháp” dùng con tàu mang tên “Đảo ánh sáng” đi vớt người vượt biển, thì Võ Văn Ái đã tích cực tham gia cổ vũ cho tổ chức này. Ông ta dùng địa chỉ nhà mình làm nơi quyên tiền ủng hộ, và đã thu được hơn 200 triệu frăng (tiền Pháp). Tuy nhiên, số tiền thực tế đến tay “người vượt biển” lại không bao nhiêu, mà chủ yếu Võ Văn Ái tiêu xài cá nhân dưới danh nghĩa chi phí để đi nơi này, nơi kia, tuyên truyền vận động. Nắm được thông tin cụ thể, báo chí Pháp liên tiếp đăng nhiều bài tố cáo khiến kế hoạch “quyên góp” của Võ Văn Ái phải ngưng lại nửa chừng khi bị sở thuế sờ gáy.
Năm 1983 trong khoảng thời gian này đời sống nhân dân trong nước gặp nhiều khó khăn vì bị cấm vận cầm đầu là Hoa Kỳ thì ở hải ngoại mọc lên một số tổ chức chống phá nhà nước Việt Nam, lợi dụng cơ hội đó tổ chức của Hoàng Cơ Minh tiền thân của băng đảng khủng bố Việt Tân với các chiến dịch lừa bịp, hù dọa bà con trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại quyên góp cho “kháng chiến quân” về “giải phóng quê hương” kiếm được rất nhiều tiền. Nắm bắt cơ hội “ngàn vàng” này Võ Văn Ái đẻ ra cái gọi là “Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam “Theo tài liệu chính trên www.ned.org thì ông Ái nhận được sự tài trợ của NED, một tổ chức của Mỹ thành lập năm 1983 vào thời Tổng thống Reagan. Về hình thức, những hoạt động của NED không khác với những hoạt động của CIA nhưng được ngụy trang dưới danh nghĩa là tranh đấu của dân chủ. Khi được một thế lực nước ngoài đỡ đầu tài chính, thì ông ta lại càng tích cực gia tăng các hoạt động chống phá Việt Nam một cách điên cuồng . Võ văn Ái đứng ra thành lập “Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam” tại Pháp như đã nói ở trên , rồi tự phong cho mình chức chủ tịch. Đồng thời lôi kéo một số người có tư tưởng hận thù chống cộng vào cuộc để khuếch trương và cho ra mắt tập san Quê Mẹ làm phương tiện chống phá Việt Nam mà nội dung không ngoài việc tuyên truyền, xuyên tạc các chủ trương, chính sách của Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực tôn giáo.
Ban đầu tập san có nội dung như văn nghệ, văn hóa, chính trị, thơ văn… do chính Ái viết dưới nhiều bút danh khác nhau và vài tác giả khác cộng tác. Quê Mẹ lúc ấy không gây được ảnh hưởng nhiều trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Chỉ đến khi nhận được sự tài trợ của National Endowment for Democracy (NED), một tổ chức thuộc hạ viện Hoa Kỳ, từ đó Quê Mẹ bắt đầu “bẻ lái đổi hướng” sang mục tiêu chính là chính trị theo ý đồ của tổ chức tài trợ. Từ lập trường mang hơi hướng tinh thần hóa giải của Phật giáo Quê Mẹ chuyển sang lập trường chống Cộng một cách triệt để và cực đoan. Nội dung trọng tâm của tạp chí Quê mẹ là những tin tức liên quan đến “nhân quyền”, vi phạm “tự do tôn giáo” ở VN, sau khi được Võ văn Ái bóp méo xuyên tạc méo hoặc thổi phồng các tin tức này nhằm khuấy động dư luận quốc tế .
Sau đó Võ Văn Ái cho ra đời cái được gọi là “Phòng Thông tin Phật giáo hải ngoại” do Ái tự phong làm giám đốc. Đồng thời rủ rê một số tăng ni để hợp thức hóa thành lập “Văn phòng 2 Viện Hóa đạo” trực thuộc GHPGVNTN(giáo hội phật giáo Việt Nam thống nhất) hải ngoại . Cái “Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế” chỉ là một nhãn hiệu bịp bợm để lòe thiên hạ có như vậy mới vận động quyên góp tiền bạc của bà con phật tử. Sự thật thì đó chỉ là hang ổ cho ra lò những sản phẩm gọi là “Thông cáo báo chí” “kiến nghị” “điều trần” do Ái nghĩ ra chứa đựng nhiều thông tin bịa đặt đến mức thô thiển để chống Việt Nam chứ không dính dáng gì đến Phật giáo cả . Vì lập ra “Phòng Thông tin Phật giáo quốc tế” nên Võ Văn Ái cần có sự hậu thuẫn, ủng hộ của một số tu sĩ Phật giáo sống tại Việt Nam, đứng đầu là ông Quảng Độ. Giữa năm 2003, Võ Văn Ái sai tay chân của mình về Việt Nam, gặp ông Thích Quảng Độ, rồi đề nghị ông ta nhận lời làm người lãnh đạo GHPGVNTN . Và điều không ngoài dự đoán của nhiều người đối với ông thầy tu nhưng rất khoái chức tước, quyền lực, tháng 10/2003 ông Quảng Độ trao quyền quyết định cho Võ Văn Ái đứng ra tổ chức một đại hội bất thường của “GHPGVNTN hải ngoại” tại Mỹ. Mục đích đại hội này nhằm đưa ông Quảng Độ lên ghế “Tăng thống”. Đổi lại, ông Quảng Độ cho Võ Văn Ái toàn quyền sắp xếp nhân sự của Viện Tăng thống và Viện Hóa đạo tại hải ngoại, đồng thời còn có quyền là “người phát ngôn của giáo hội” được ban hành “thông điệp” từ trong nước đến các GHPGVNTN ở nước ngoài . Cho nên Ái mô tả, thêm bớt, vẽ vời thế nào thì các “đệ tử” cứ theo đó mà làm. Ngược lại hầu hết các thông tin, thông điệp, giáo chỉ từ trong nước đến được với các GHPGVNTN ở hải ngoại cũng là qua Ái. Cho nên Ái đã mặc tình thao túng cả GHPGVNTN. Do vậy, Thượng Phối Sư Thông Trần từng nhận xét rằng: “Võ Văn Ái không khéo sẽ biến Thích Quảng Độ thành… nài ngựa!” là vậy. Bộ mặt thật của Võ Văn Ái là chỉ vì bạc tiền danh vọng mà trở thành tay sai đắc lực của ngoại bang nhằm thực hiện diễn biến hòa bình để rồi gây ra hận thù chia rẽ Phật giáo Việt Nam , Và tất nhiên cái vỏ bọc đấu tranh cho nhân quyền, tự do tôn giáo chỉ là phương tiện để Võ Văn Ái kiếm Fund(tiền tài trợ) của các tổ chức ngoại bang chống Việt Nam và moi tiền bà con người Việt ở hải ngoại .Trước đây dư luận trong cộng đồng khi đề cập đến vấn đề tài chánh thì bao giờ Võ Văn Ái cũng tìm đủ mọi cách tránh né , phủ nhận là ông ta không bao giờ ăn tiền của ai: “Tôi làm những chuyện không công, chẳng có lương bổng gì hết, do vậy mà chư tôn đức tăng ni, phật tử cho bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu mà không đòi hỏi, để lo cho cơ sở Quê Mẹ” ?. Ngày 26-9-2012 Võ văn Ái thể hiện là kẻ ôm chân ngoại bang một cách trơ trẽn nhất đó là viết thơ cho tổng thống Pháp Francois Hhollande yêu cầu Tổng Thống nhân danh nước Pháp lên tiếng can thiệp cho các bloggers vi phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam như Điếu Cày, Phan Thanh Hải, Tạ Phong Tần và ký giả Hoàng Khương ?. Võ văn Ái đã lếu láo vu khống một cách trắng trợn rằng nhà nước Việt Nam đối xử với người dân trong nước “họ bị tù đày trên lãnh thổ họ như trong một nhà tù…” ? Xin hỏi ông Ái rằng hàng năm có trên nửa triệu người Việt từ hải ngoại về thăm cái mà ông gọi là “nhà tù” thì nhận xét của họ như thế nào ? kiều hối bà con gởi về “nhà tù” là 12 tỷ đô la trong năm qua thì ông có lý giải gì cho thỏa đáng với những lời vu khống vô căn cứ của ông ? Vẫn chưa hết ông Ái còn cao giọng : “Nhân danh Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam, xin được nói lên mối âu lo trước muôn nghìn hành động đàn áp của nhà cầm quyền Việt Nam tiếp tục đàn áp Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trong âm thầm nhưng thường trực.” ?. Khi đọc những cái gọi là “thông cáo” “kiến nghị”.. mà Võ Văn Ái nhào nặn thì những người Việt có tấm lòng với quê hương đất nước không khỏi phải phì cười về sự lố bịnh đến nham nhở của ông ta .Theo như tôi được biết Việt Nam hiện nay tôn giáo phát triển hơn bao giờ hết , đồng bào ở hải ngoại về thăm quê hương hàng năm đều nhận thấy sự đổi khác đang diễn ra từng ngày, nhà thờ, chùa chiềng được xây dựng mới khang trang lộng lẫy, vào các ngày lễ lớn nhà thờ, chùa chiềng, miếu mạo tấp nập vui như trẩy hội niềm vui hiên trên nét mặt của mọi người .Nhà nước Việt Nam hiểu rằng tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo là tôn trọng niềm tin, nghi thức thờ phượng, những sinh hoạt tôn giáo phù hợp với giáo lý với truyền thống văn hóa dân tộc là góp phần nâng cao đạo đức, nhân cách của con người chứ không chấp nhận những hành vi lợi dụng, hoặc đội lốt tôn giáo để làm những điều trái pháp luật, phản văn hóa đi ngược lại điều răn dạy của chúa, phật, thánh , thần và những yêu cầu chính đáng của đồng bào theo các tôn giáo.
Nói tóm lại những kẻ như Võ Văn Ái chỉ vì mục đích phô trương bản thân, trục lợi chính trị can tâm làm tay sai cho các thế lực thù địch chống Việt Nam để moi rút tiền bạc cho bản thân mình , những khẩu hiệu “dân chủ, nhân quyền” chỉ là tấm áo khoác để lừa bịp. Nhân bài viết này tôi cũng muốn nhắn gởi cho những ai ở trong nước cũng như bà con trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại hãy cảnh giác với những kẻ “ma đầu” như Võ văn Ái đừng để cho bọn chúng lợi dụng trở thành công cụ chống phá đất nước, đi ngược lại lợi ích của dân tộc mình.
Ngày 6-12-2012

Sau khi hạ thủy ngày 28/8/2012, tàu ngầm Kilo 636.1 đầu tiên – mang tên Hà Nội – của đối tác Việt Nam đang được nhà máy đóng tàu Admiratly ở St Petersburg hoàn thiện phần kiến trúc thượng tầng trước khi đưa ra biển thử nghiệm.

Dưới đây là một số hình ảnh mới nhất về chiếc tàu ngầm Kilo này đang neo đậu ở âu tàu nhà máy Admiratly hôm 4/11.

Theo TP

Hình ảnh tàu ngầm Kilo đầu tiên Nga đóng cho Việt Nam

Suốt trên hai nghìn năm chúng ta hầu như chỉ học cho biết rằng Việt Cổ là một đất nước vô văn hóa, man di, được nhờ Tàu Mông Cổ khai hóa, dầu rằng Tàu gốc Mông Cổ không chứng minh được nguồn gốc văn hóa của họ. Như thế đủ thấy ảnh hưởng của việc bị đô hộ Tàu, kể cả Tây sau nầy, là nguy hiểm như thế nào!.

Chính vì vậy mà LM Triết Gia Kim Định đã gia công nghiên cứu một triết lý An Việt và nói đến “… một nền văn hóa Việt Nam cổ mồ côi..” . Nhưng văn hóa tiền sử Việt Nam đã bị che dấu và cướp đoạt vì sức mạnh, chứ nhất thiết không hẳn là một văn hóa mồ côi văn hóa Việt cổ có mẹ đẻ từ các nền văn hóa tiền sử Việt Nam, và đã sinh đứa con khổng lồ là nền văn hóa ?~siêu việt?T Trung Quốc.

Chính văn hóa Trung Quốc lúc không nhận là con đẻ của văn hóa Bách Việt, là một văn hóa mồ côi lúc Tưởng Giới Thạch ra lệnh nghiên cứu về văn hóa Trung Hoa từ ngày nay trở về trước.

Nhưng khi lên đến nhà Hán và thời Khổng Tử, các nghiên cứu gia Trung Hoa Dân Quốc đành bỏ dở vì vấp phải nguồn gốc văn hóa Bách Việt!. Với thực dân Pháp, trong vòng 80 năm đô hộ Việt Nam, chúng đã lấy biết bao tài sản của đất nước ta đem về cất giữ và xây dựng đất nước họ, làm giàu Viện Bảo Tàng của họ (ví dụ đàn đá báu vật hiếm quí, nào 4 quyển sách trước tác của cụ Nguyễn Du, v.v. và v.v… Pháp cướp về nước tất).

——–

——-

Quế Dương là đất Việt, bị nhà Hán chiếm và chia cắt, nhiều lần thay đổi, sát nhập cốt để người đời sau lần tìm về cội nguồn không biết đâu mà căn cứ.Thái Luân là người Việt, sinh ra trên đất Việt, làm quan trong triều của nhà Hán. Và công trình phát minh ra giấy của ông bị người Tầu nhận là do người Tầu làm ra!
Nhà Hán chiếm đất Việt bao gồm toàn vùng châu thổ sông Dương Tử (Trường Giang), chia cắt, thay đổi địa danh, vẽ lại bản đồ… cốt để xóa hết dấu vết của dân tộc bị chiếm.Trong tập bản đồ lịch sử ấn hành năm 1991, tạp National Geographic cung cấp đầy đủ các chi tiết lịch sử Trung Hoa từ thời sơ khai hơn 5.000 về trước.

[IMG]

Tài liệu giá trị này ghi rõ địa bàn gốc của dân tộc Tầu là vùng châu thổ sông Hoàng Hà ở về phía bắc.Trong khi tổ tiên của dân tộc Tầu còn sống đời du mục trên lưng ngựa rày đây mai đó thì tổ tiên của người Việt đã định cư ở châu thổ sông Trường Giang (Dương Tử) ở phương Nam.Ðiều này Khổng Tử đã viết rành mạch trong sách Trung Dung “Ðộ lượng bao dung, ôn hòa giáo hóa, không báo thù kẻ vô đạo, đó là sức mạnh của phương Nam. Người quân tử ở đấy. Mặc giáp cưỡi ngựa, xông pha giáo mác, đến chết không chán, đó là sức mạnh của phương Bắc. Kẻ cường bạo ở đấy.” (Ðây là lời giảng về sức mạnh của Khổng Tử cho đệ tử tên Tử Lộ).Cũng Khổng Tử, trong Kinh Thi, đã trân trọng ghi lại ca dao Việt (trong cả hai thiên Chu Nam và Thiệu Nam) phản ảnh nền văn hiến rực rỡ của giống Việt, biết coi trọng luân thường đạo lý, trong khi người du mục hung bạo phương Bắc, sống đời lang chạ.Kinh Thi, xếp Nhị Nam là Chu Nam và Thiệu Nam làm “Chính Phong” để ứng dụng những ca dao ấy vào gia đình, làng xóm và nhà nước mà giáo hóa cả thiên hạ.Chu Nam là các nước ở phương Nam của Việt tộc bị nhà Chu chiếm, cai trị và đồng hóa. Còn Thiệu Nam là lãnh thổ phương Nam của Việt tộc bị nhà Chu chiếm được, cắt phong cho Thiệu Công Thích để làm thái ấp (đất hưởng lộc).
Từ sử liệu của National Geographic Magazine (Mỹ) và các nhận định rải rác của Khổng Tử, Tư Mã Thiên và nhiều sử gia khác trong Minh sử, Thanh sử… những người nghiên cứu về dân tộc Việt ngày càng có thêm chứng cứ để làm sáng tỏ những gì đã bị khuất lấp, đã bị thực dân văn hóa Tầu xuyên tạc, bóp méo.Tống sử còn lưu dấu vết nhà Tống học cách tổ chức quân đội của nhà Lý Việt Nam: “Thái Duyên Khánh, là tri châu ở đất Hoạt, thường học được phép tổ chức quân đội của An Nam, xin bắt chước theo quy chế chia ra từng bộ phận. Chia chính binh, cung tiễn phủ, nhân mã đoàn làm 9 phủ. Hợp 100 đội, chia ra làm tả, hữu, tiền, hậu bốn bộ. Mỗi đội có trú chiến (đóng quân để đánh), thác chiến (đi đánh), khác nhau. Tướng nào cũng có lịnh bộ, quân kỷ, khí giới; chỉ lấy nhân, mã phiên binh mà phân biệt. Tất cả đều tùy chỗ đóng mà chia. Số chư tướng không bằng nửa số chính binh. Còn về sự kiềm chế, thì cho quân già yếu ở thành trại, tùy xa gần mà chia giữ, không cho binh Phiên và binh Hán ở lẫn với nhau, cho khỏi sinh biến. Vua Thần tông nhà Tống khen mãi.”Minh sử còn ghi hai sự kiện: Thứ nhất, mỗi khi tế thần súng, người Tầu phải tế Lê Trừng (tức Hồ Nguyên Trừng, người mang bí quyết làm súng đại bác (thần sang) của nhà Trần sang nộp cho nhà Minh và được nhà Minh phong cho làm bộ trưởng 2 bộ quốc phòng và xây dựng); thứ hai, công trình kiến trúc, xây dựng thành Bắc Kinh vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay là do “công trình sư trưởng” (như là kiến trúc sư trưởng ngày nay) Nguyễn An, một thái giám người Việt, đảm trách. Bộ Minh sử này đã được dịch sang Anh ngữ: “The Cambridge History of China”, xếp vào quyển thứ VII, ghi rõ “Công trình xây dựng thành đô Bắc Kinh đòi hỏi sự động viên một lực lượng đông đảo thợ giỏi về thủ công và lao động, thường được lấy từ những đơn vị quân binh hoặc những tội phạm khó trị bị kết án khổ sai, cũng như việc trưng dụng vật liệu xây cất từ khắp nơi trong nước, kể cả những nơi xa xôi như An Nam vừa mới được sát nhập.Số lượng nhân công không biết đích xác, nhưng ước lượng phải lên tới hàng trăm nghìn người. Kiến trúc sư trưởng là một thái giám người An Nam tên Nguyễn An (mất năm 1453), ông này cũng còn đóng vai trò quan trọng trong công trình tái thiết Bắc Kinh sau đó dưới thời vua Anh Tông.”Trong tất cả sách vở do người Hoa biên soạn, lúc nào họ cũng “tự hào” về nước Trung Hoa rộng lớn nhất thế giới, người Hoa tài giỏi và có nhiều đóng góp quan trọng cho nền văn minh của nhân loại.

[IMG]
Hình Âm Dương của Lạc Việt

Sách của người Hoa và người Hoa chẳng bao giờ dám giải thích minh bạch về sự bành trướng từ 1 bộ lạc du mục ở lưu vực sông Hoàng Hà, xua quân xâm lăng mở rộng biên cương, tiêu diệt nhiều dân tộc để có được 1 bản đồ mênh mông như ngày nay. Thế nhưng tạp chí National Geographic đã làm việc đó, đã ghi nhận đủ các chi tiết cần thiết sau khi tra cứu công phu.Tìm trong kho tàng lưu giữ các loại sách lớn nhất của người Hoa, cuối cùng do nhà Thanh bổ túc, sắp xếp, là bộ “Tứ Khố Toàn Thư”, một số sử liệu được phát giác, làm sáng tỏ nhân thân của các công trình đóng góp quan trọng vào văn minh, văn hóa Trung Hoa. Phần lớn những đóng góp này đến từ gốc tộc Việt.

ÐÓNG GÓP QUAN TRỌNGTrong tác phẩm “Bách Việt Tiên Hiền Chí – Lĩnh Nam Di Thư” của sử gia Âu Ðại Nhậm (đời nhà Minh bên Tầu) được giáo sư Trần Lam Giang dịch và chú thích, dịch giả đã nhận định bên dưới truyện Thái Luân, phần phụ chú:“Nhân tài người Việt rèn kiếm quý, làm khí giới, làm giấy viết, hiệu đính kinh truyện cho nhà Hán. Ðiều này chứng tỏ Việt vượt trên Hán về văn minh kim loại và văn học.Việt đem văn minh khai hóa cho người Hoa, trong khi người Hoa đem bạo lực đàn áp người Việt. Chung cuộc, Việt Nam vẫn đòi lại quyền tự chủ, sống với văn minh nhân bản. Người Hoa thực dân bị quét ra khỏi nước, tự chuốc lấy ô danh bạo ngược, xâm lược.Thuật làm giấy do tiên hiền Bách Việt Thái Luân sáng chế, được truyền sang Ấn Ðộ và từ đấy lan rộng sang khắp vùng Trung Á. Vào năm 751, xảy ra cuộc chiến giữa nhà Ðường (Trung Hoa) và các Vương Quốc Ả Rập. Trong trận chiến này, do tướng Cao Tiên Tri thống lãnh, Tầu thua. Trong số tù binh bị Ả Rập (người Tầu gọi là Ðại Thực Quốc) bắt, có thợ làm giấy. Năm 793 Iraq có xưởng làm giấy và từ đó lan ra khắp các nước láng giềng. Năm 900 đến Ai Cập. Sang năm 1100 truyền đến Marocco và các xứ Phi Châu. Vào năm 1150, người Ả Rập vượt biển qua Tây Ban Nha và xây xưởng làm giấy đầu tiên trên lục địa Âu châu.Ðến năm 1189, xưởng làm giấy đầu tiên được dựng lên tại Pháp và từ cửa ngõ này, kỹ thuật làm giấy bở rộ khắp các châu lục.”Không chỉ Thái Luân truyện mà trong 105 tiên hiền Việt tộc khác, dịch giả Trần Lam Giang đã tra cứu và chú thích rành rẽ, dẫn chứng sử sách, truy nguyên chữ cổ, điển tích để làm sáng tỏ thêm những gì mà người yêu lịch sử và văn hóa Việt muốn “nói có sách, mách có chứng”.Sau bộ Cổ Tích Việt Nam dày 1,100 trang, Trung Tâm Nghiên Cứu Văn Hóa Việt Nam và Thư Viện Việt Nam đã đóng góp thêm một công trình giá trị khác nữa. Ðó là bộ Bách Việt Tiên Hiền Chí – Lĩnh Nam Di Thư.Ðây là một kỳ công của các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa Việt tộc ở hải ngoại, làm giàu thêm kho tàng tài liệu lịch sử và văn hóa Việt Nam.
Người viết trân trọng giới thiệu các công trình ý nghĩa này đến với độc giả bốn phương.
LÊ THANH HOATÀI LIỆU THAM KHẢO:- Bách Việt Tiên Hiền Chí – Lĩnh Nam Di Thư, nguyên tác Âu Ðại Nhậm, bản dịch và chú thích của giáo sư Trần Lam Giang, Thư Viện Việt Nam ấn hành tháng 8 năm 2006, tại Hoa Kỳ.- National Geographic Magazine, July 1991, Washington D.C., USA.- “The Cambridge History of China”, Volume 7, Cambridge University Press, Feb. 1988.- Kinh Thi.- Thi Kinh Tập Truyện,1969.- Vân Ðài Loại Ngữ, Lê Quý Ðôn, Phạm Vũ và Lê Hiền dịch và chú giải.- Sự Hình Thành và Phát Triển Nền Văn Hóa Trung Hoa, nhà xuất bản Nhân Dân Sơn Ðông 1993

Dấu tích về chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam ở Lý Sơn

Bảo tàng Lý Sơn, Quảng Ngãi, đang lưu giữ nhiều hình ảnh, bản đồ từ thế kỷ thứ 16 đến 19, khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa.

 
 Hiện tại bảo tàng Hoàng Sa (Lý Sơn, Quảng Ngãi) còn lưu giữ nhiều tài liệu quý về Hoàng Sa.
 
 Những bài báo và bản đồ chính trị (từ thời Việt Nam Cộng Hòa 1954 – 1975) nêu rõ quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam.
 
 Những dòng chữ được ghi trong Đại Nam Thực Lực Chính Biên (năm 1848) và Quảng Ngãi Tỉnh Chí (năm 1933) ghi chép về quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
 
 Những dấu tích, bản đồ, sắc phong còn được giữ nguyên vẹn tại bảo tàng.
 
 Dụng cụ trã đất nấu ăn của binh phu Hoàng Sa khi đi ra đảo.
 
 Những vật chứng của ngư dân và đội lính có mặt tại Hoàng Sa từ thời nhà Nguyễn.
Bia chủ quyền Việt Nam ở Hoàng San năm 1930.
Bản đồ phía Đông Ấn Độ và những vùng lân cận, xác định quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam, bản đồ xuất bản tại London, Anh năm 1956.
Bản đồ Nam Việt ghi rõ, Hoàng Sa và Vạn lý Trường Sa trong sách Đại Nam Thống Nhất Toàn Đồ do quốc sử quán triều Nguyễn ấn hành thế kỷ 19.
 
 Bản dịch tài liệu châu bản của Tống Lý đại thần ngày 15/12 niên hiệu Bảo Đại thứ 15 (1939) về việc xin truy thưởng Tú hạng long tinh cho cai đội Hoàng Sa người Pháp M.Fontan.
 Bản đồ Việt Nam do người Hà Lan vẽ năm 1594, hiện đang lưu giữ tại Amsterdam (Hà Lan). Khi đó Hoàng Sa, Trường Sa đã là của Việt Nam.
Một góc đảo Đá Lát, quần đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa năm 2009.
Hải đăng Việt Nam trên quần đảo Trường Sa trước năm 1945.
 Cơ sở hành chính trên đảo Hoàng Sa trước năm 1945.
Ông Nguyên Giáo, nhân viên ty khí tượng Hoàng Sa, trước năm 1974 đang đo nhiệt độ, độ ẩm tại lều máy trạm khí tượng Hoàng Sa.
 
 Văn tế trong lễ khao lế thế lính Trường Sa năm Tự Đức thứ 20, Đinh Mão 1867.
 
 Bài vị các tướng quân, binh sĩ hy sinh tại Hoàng Sa.
 Thuyền nhỏ được đội quân Hoàng Sa kiêm Bắc Hải ra Hoàng Sa để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ biển đảo.
Cho đến nay, lớp lớp người dân Lý Sơn vẫn tự hào về quá khứ hào hùng của cha ông. Các em nhỏ luôn được nhắc nhở về Hoàng Sa như một phần máu thịt của đất nước.

THÁI AN

theo infonet

“VẠCH MẶT” MƯU ĐỒ VÀ KỊCH BẢN DẦU KHÍ CỦA TRUNG QUỐC

Thời gian qua, những hành động ngang ngược và các phát biểu bất chấp đạo lý, luật pháp quốc tế của Trung Quốc trong vấn đề biển Đông đã thu hút sự quan tâm của tất cả người Việt Nam. Các ý kiến đưa ra đều bày tỏ sự phản đối những hành động gây hấn và xâm phạm chủ quyền Việt Nam của Trung Quốc. Phóng viên Báo GDVN đã có cuộc trao đổi với Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện chiến lược – Bộ Công an xung quanh vấn đề này.

TRUNG QUỐC ĐÃ NÓI “MỘT ĐẰNG LÀM MỘT NẺO” NHƯ THẾ NÀO?

Nói về những hành động vừa qua của Trung Quốc, Thiếu tướng Lê Văn Cương cho rằng: “Trước tiên phải nói rằng những hành động của Trung Quốc đều được tính toán một cách kỹ càng, cẩn thận. Người ta chọn không gian địa điểm, thời gian để làm việc này. Đây không phải là hành vi bột phát mà nó nằm trong một chuỗi hành động để thể hiện chủ trương “độc chiếm biển Đông” của Trung Quốc. Tôi cho rằng, việc này có sự chỉ đạo của nhà nước chứ không chỉ đơn thuần là một công ty dầu khí có thể dám làm.

Thứ hai là hành động của Trung Quốc đã vi phạm công ước quốc tế về Luật Biển 1982 trong đó cả Việt Nam và Trung Quốc đều đã ký. Chín lô Trung Quốc mời thầu nằm trọn trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam. Vùng này thuộc chủ quyền của Việt Nam, không thể là vùng có tranh chấp với bất kỳ quốc gia nào. Như vậy hành vi của Trung Quốc đã vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc, vi phạm Tuyên bố ứng xử trên biển Đông (DOC). Đây cũng là việc chứng tỏ cho thế giới thấy rằng lãnh đạo Trung Quốc nói một đằng làm một nẻo”.

Chứng minh cho luận điểm này, ông Cương nói: “Cụ thể, gần đây nhất là tháng 10/2010, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã gửi điện cho những người đồng cấp ASEAN nói rõ rằng Trung Quốc muốn xây dựng lòng tin cùng các bên liên quan để xây dựng biển Đông thành một vùng hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển.

Đến tháng 1/2011, tại Washington, trong tuyên bố chung Mỹ – Trung được ký kết giữa Tổng thống Obama và Chủ tịch Hồ Cẩm Đào gồm 41 điểm, cả hai bên đều cam kết hợp tác để đảm bảo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nói chung và khu vực Đông Á nói riêng là một khu vực ổn định, hòa bình, hợp tác, phát triển; trong điều kiện như vậy thì nước nào cũng có lợi.

Đến giữa năm 2011, trong tuyên bố chung với Việt Nam ở chuyến công du của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói rõ: Trong khi hai bên chưa giải quyết được vấn đề thì hai bên có những bước đi nhỏ để chuẩn bị về lâu dài giải quyết một cách cơ bản, không làm phức tạp thêm tình hình chung.

Những hành động trên đây của Trung Quốc đều chứng tỏ lãnh đạo Trung Quốc nói một đằng, làm một nẻo. Tất cả những hành động gây hấn của Trung Quốc không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với cả Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippin… trong mấy năm gần đây cho thế giới thấy rằng Trung Quốc không muốn phát triển hòa bình trên biển.

Lãnh đạo Trung Quốc, những học giả của Trung Quốc đã tận dụng những diễn đàn song phương để quảng bá chủ trương Trung Quốc trỗi dậy hòa bình (sau này gọi là phát triển hòa bình) phát triển nhanh, mạnh chỉ có lợi cho các quốc gia, không có hại ai cả và các bạn hãy làm ăn với Trung Quốc; Trung Quốc phát triển mạnh nhưng không xâm phạm chủ quyền của nước nào cả. Tuy nhiên, những hành động trong 2 năm gần đây đi ngược lại với chủ trương mà người ta đã quảng bá. Một lần nữa chứng tỏ dư luận thế giới không thể tin lãnh đạo Trung Quốc vì họ đã nói một đằng, làm một nẻo”.

“BÓC MẼ” THỦ ĐOẠN CỦA TRUNG QUỐC

Theo ông Cương, hành động của Trung Quốc kêu gọi, mời thầu 9 lô thuộc chủ quyền của Việt Nam thể hiện sự ngang ngược, bất chấp đạo lý. “Những công ty, tập đoàn làm ăn tử tế sẽ không tham gia lời mời thầu này vì thế giới biết Trung Quốc rồi. Tự Trung Quốc đã bóc bộ mặt nạ của mình ra rồi. Thủ đoạn của Trung Quốc là biến những vùng không tranh chấp thành những vùng xảy ra tranh chấp. Cụ thể là vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam thuộc chủ quyền của Việt Nam nhưng Trung Quốc lại đi rêu rao với thế giới rằng vùng đó thuộc chủ quyền của họ. Đó là một sự ngụy biện của Trung Quốc.

Dù như vậy nhưng một tình huống có thể xảy ra là một số công ty dưới danh nghĩa của nước ngoài nhưng thực tế lại quan hệ rất chặt chẽ và phụ thuộc vào Trung Quốc (những CNOOC phẩy) sẽ nhận thầu. Và nếu không có công ty nào nhận thầu thì Trung Quốc rất có thể sẽ kéo dàn khoan khủng vào khai thác dầu trong vùng thuộc chủ quyền của ta”, ông Cương cho biết.

Ông Cương nói tiếp: “Trung Quốc sẽ làm gì? Đó không chỉ phụ thuộc vào ý đồ của họ mà còn phụ thuộc vào sức mạnh, phản ứng của Việt Nam. Lịch sử đã chứng minh, dưới những triều đại phong kiến Việt Nam mạnh thì Trung Quốc không dám xâm phạm bờ cõi của ta. Còn những lần Trung Quốc tràn xuống xâm lược thì đều là những lần Việt Nam suy yếu”.

ĐIỂM YẾU CỦA TRUNG QUỐC NẰM Ở ĐÂU?

Trước một Trung Quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ, ông Cương phân tích: “Trung Quốc có điểm yếu không? Câu trả lời ở đây là có. Trung Quốc phát triển mạnh như vậy nhưng Trung Quốc cần quan hệ với thế giới. Thêm nữa, sự phát triển của Trung Quốc mới chỉ là bề rộng, còn về bề sâu thì Trung Quốc còn kém Mỹ và Nhật Bản hàng chục năm.

Nền kinh tế Trung Quốc phụ thuộc vào thế giới. Trung Quốc là Ủy viên thường trực HĐBA Liên hợp quốc và hàng trăm lần lãnh đạo Trung Quốc nói rằng phải duy trì xu thế tất yếu của thời đại. Nhưng những hành động của Trung Quốc lại đi ngược với xu thế chung của thế giới và bị cộng đồng quốc tế phản đối. Trong thời buổi hiện nay, các nước nương tựa vào nhau, quyền lợi kinh tế của Trung Quốc đan xen với các nước khác”.

Ông Cương nói: “Còn điểm mạnh của ta nằm ở đâu? Điểm mạnh của ta nằm ở việc được luật pháp quốc tế bảo vệ. Thứ hai là cộng đồng quốc tế đứng về phía chúng ta. Yếu tố này phụ thuộc vào việc chúng ta thể hiện như thế nào. Mình phải tỏ thái độ lập trường kiên quyết, vững vàng thì thế giới sẽ ủng hộ mạnh mẽ.

Đó là việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Mà muốn vậy, bản thân trong nước phải mạnh mà muốn nước mạnh thì trước hết bộ máy nhà nước phải vững mạnh: Gắn bó với nhân dân, thực sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Khi có được lòng tin của dân đối với Đảng, nhà nước thì sẽ tạo ra sức mạnh của đất nước.

Nghị quyết Trung ương 4 đã nêu rõ lúc này mỗi Đảng viên phải gương mẫu nhất là ở cấp cao. Việc thực hiện thành công nghị quyết Trung ương 4 sẽ giúp cho Đảng mạnh, nhà nước mạnh. Và từ đó tạo ra sức mạnh trong lòng dân tộc. Khi đó chúng ta mới có khả năng tiếp thu sức mạnh thời đại.

Có một điều tôi muốn nói là dù bây giờ đã là quá muộn nhưng vẫn phải làm ngay đó là đưa vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa và biển Đông vào sách giáo khoa lịch sử, địa lý để dạy cho thanh thiếu niên các cấp và đưa vào giáo trình ở bậc Đại học và cao đẳng để dạy cho sinh viên. Trong khi Trung Quốc hoàn toàn không có chủ quyền tại Hoàng Sa, Trường Sa nhưng người ta lại dạy cho học sinh của họ rằng những quần đảo đó là của Trung Quốc. Đó là một việc xuyên tạc lịch sử lừa dối cả nhân dân Trung Quốc.

Còn chúng ta có cơ sở văn hóa, lịch sử, pháp lý để chứng tỏ rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam lại không phổ biến rộng rãi để toàn thể người dân biết. Ngay kỳ học tới đây chúng ta phải đưa ngay vào SGK. Thêm nữa, phương tiện thông tin đại chúng có một sức mạnh rất lớn trong việc tuyên truyền này. Tuy nhiên, tôi có cảm giác chúng ta chưa phát huy được hết sức mạnh này. Đầu tư vào vũ khí thì còn có hạn chứ nhưng đầu tư vào báo chí thì sẽ tạo ra một sức mạnh khủng khiếp.

Nói một cách “sòng phẳng” Trung Quốc đối với Việt Nam là vấn đề dân tộc. Chúng ta đối với Trung Quốc là láng giềng hữu nghị nhưng phải trên nguyên tắc là bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ. Đó là mục tiêu tối thượng”.

 

Nguồn: Internet

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – Kỳ 13: Đặt dấu mốc 1909: Quá muộn!

14/08/2011 23:28

Tháng 8.1907, người Nhật có tham vọng chiếm đóng các đảo không người của quần đảo Đông Sa, gần Quảng Đông. Việc này đe dọa trực tiếp tới an ninh của TQ. Biến cố này đã có hậu quả lật ngược hoàn toàn thái độ của TQ đối với Hoàng Sa, quần đảo được coi là bàn đạp có thể được sử dụng để chống lại TQ.

>> Kỳ 12: Chiếm hữu bằng vũ lực là bất hợp pháp

Cuối tháng 3.1909, chính quyền Quảng Đông đã cử 3 sĩ quan đi thăm tất cả các đảo nằm ngoài khơi tỉnh này để xem liệu “các đảo này đã từng được các chủ thể nước ngoài nào yêu sách hay chưa?”. Một báo cáo mô tả đã được nộp khi họ trở về, theo đó các đảo Hoàng Sa gồm 15 đảo nhỏ, 7 ở phía tây và 8 ở phía đông. Các đảo này rất giàu phốt phát và các sản vật biển rất phong phú. Có cả dấu vết người nước ngoài lẫn người TQ trên các đảo này [1].

Về bản chất cuộc khảo sát này là một cuộc công cán nhận biết thực địa đầu tiên từ phía TQ. Tiếp sau các thông tin đó, cuối tháng 5.1909, Phó vương Lưỡng Quảng đã cử Đô đốc Lý Chuẩn tới Hoàng Sa. Chuyến đi này đến một đảo của quần đảo Hoàng Sa vào ngày 6.6.1909, sau đó có ghé lại một vài đảo khác và ngày 7.6 vào hồi 4 giờ chiều hai pháo thuyền nhỏ trở về tới Quảng Châu [2].

Nhân dân Nhật báo (TQ) ngày 25.11.1975 đã bình luận về chuyến đi này như sau:

“Tháng 4.1909, Đô đốc Lý Chuẩn cùng hai chuẩn đô đốc Jingyong và Lia Yike dẫn 170 người đi trên pháo hạm Fubo và Chenlang tới Tây Sa. Họ đã điều tra 15 đảo, đặt tên quần đảo là Loshi, cắm cờ TQ trên đảo Yong xing và nổ súng thần công vang rền, tuyên bố khẩn thiết với tất cả, trong cũng như ngoài nước, rằng các đảo trong biển Nam là một bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của TQ”.

Căn cứ theo lời trích dẫn trên, các chuyến thám hiểm mà người TQ thực hiện vào năm 1909 là một sứ mệnh phát hiện các đảo bởi vì họ thực hiện các hành vi tượng trưng nhằm tuyên bố các quyền chiếm hữu các đảo của họ. Nếu không, lý do tại sao lại tiến hành chiếm hữu cái mà ta đã từng sở hữu?

Nước Pháp không phản đối gì về chuyến đi của Lý Chuẩn, một chuyến đi có tính chất địa phương. Đối với Pháp, việc phô diễn của Đô đốc Lý Chuẩn tại Hoàng Sa năm 1909 không có tính chất một sự chiếm hữu mà nó chỉ là “một nghi thức hải quân nhân dịp chuyến thám sát” [3]. Các tàu tuần dương của Hải quân Pháp vẫn tiếp tục được phái tới các đảo [4].

Tình hình tiếp tục đóng băng cho tới 1921, không có một hành động gì nhằm củng cố chủ quyền cả từ phía TQ lẫn phía Pháp. Đến khi một công ty Nhật là Mitsui Bussan Kaisha có hỏi chỉ huy hải quân Pháp tại Sài Gòn xem các đảo Hoàng Sa có thuộc sở hữu của Pháp không thì một làn sóng lo lắng lan rộng trong giới báo chí và dân chúng, điều này buộc nhà cầm quyền thuộc địa ở Đông Dương phải xem xét lại vấn đề quốc tịch của các đảo. Thân Trọng Huề, Thượng thư Bộ Binh của Vương quốc An Nam bằng bức thư ngày 3.3.1925 đã khẳng định “các đảo nhỏ này luôn luôn thuộc An Nam, không có gì phải tranh cãi chuyện này”.

Thái độ kiên quyết của Vương quốc An Nam đã chấm dứt sự lưỡng lự của Pháp. Nước Pháp đã long trọng khẳng định chủ quyền của mình ngày 8.3.1925 [5]. Các chuyến công du khoa học đã được thực hiện tới Hoàng Sa từ năm 1925 và tới Trường Sa từ năm 1927.

Cuối năm 1931, nhà chức trách Quảng Châu có ý định gọi thầu các mỏ phân chim trên các đảo Hoàng Sa. Chính phủ Pháp phản đối bằng Công hàm ngày 4.12.1931 gửi phái đoàn ngoại giao TQ dẫn chứng các danh nghĩa lịch sử và các bằng chứng chiếm hữu của An Nam sau đó là của Pháp trên các đảo.

Năm 1937, chính quyền thuộc địa cử J.Gauthier, kỹ sư trưởng công binh chính ra Hoàng Sa để nghiên cứu các bãi đậu trú và các cơ sở hàng không, lắp đặt đèn biển trên đảo Hoàng Sa và các điều kiện lắp đặt có thể trên quần đảo Hoàng Sa. Cùng thời gian, nhằm khẳng định lại các quyền chủ quyền tồn tại từ trước của An Nam, Hoàng đế Bảo Đại, ngày 30.3.1938 đã ra chiếu chỉ N 10 (ngày 29 tháng thứ hai năm thứ 13 triều Bảo Đại) quyết định sáp nhập quần đảo Hoàng Sa vào tỉnh Thừa Thiên [6].

Sáng kiến này đã được ủng hộ bởi Nghị định N156S-V ngày 15.6.1938 của Toàn quyền Đông Dương J.Brévié, thành lập một đơn vị hành chính tại Hoàng Sa. Sau đó, Chính phủ Pháp quyết định tiến hành chiếm đóng toàn bộ và thực sự các đảo. Một phân đội cảnh sát người Việt đã được gửi đến đồn trú thường xuyên ở đây. Bia chủ quyền cho quần đảo Hoàng Sa đã được dựng lên với dòng chữ: “Cộng hòa Pháp – Vương quốc An Nam – Quần đảo Hoàng Sa, 1816 – đảo Hoàng Sa – 1938”.

Minh chứng cho sự đồn trú thường xuyên này có thể xem xét qua các châu bản của Bảo Đại. Tờ Châu bản đề ngày 15.12 (năm Bảo Đại thứ 13) có nội dung: Vào ngày 2.2.1939, Khâm sứ Trung kỳ Graffeuil gửi cho Tổng lý Ngự tiền văn phòng Phạm Quỳnh một văn thư tâu xin Hoàng đế Bảo Đại truy tặng Huy chương Long tinh của Nam triều cho ông Louis Fontan, người vừa qua đời trong ngày hôm ấy [7].

Trước đó, ông Louis Fontan giữ chức chánh cai đội hạng nhất của đội lính Khố xanh đóng tại đảo Hoàng Sa.

Sự hiện diện của phân đội do Pháp cử ra các đảo, nhất là đảo Hữu Nhật, đảo Phú Lâm và đảo Hoàng Sa, được củng cố thêm bởi các chuyến thăm thường xuyên của các chiến hạm Pháp đã kéo dài cho đến khi họ bị gạt bỏ do sự chiếm đóng quân sự của Nhật Bản trên các đảo, ngày 9.3.1945 [8].

Bằng việc chiếm đóng này, nước Pháp đã tăng thêm giá trị các quyền của An Nam dựa trên các danh nghĩa lịch sử. “Chiếm đóng Paracel, nước Pháp đã giới hạn trong việc khẳng định các danh nghĩa lịch sử phù hợp với các yêu cầu của luật quốc tế hiện đại” [9].

TS Nguyễn Hồng Thao

>> Kỳ 14: Thụ đắc chủ quyền Trường Sa

[1] Yang t ch’eng pao ngày 22 tháng 4 năm 1909.

[2] P. A. Lapique, sách đã dẫn, tr. 610.

[3] Công hàm Bộ Ngoại  giao Pháp  gửi Đại  sứ  TQ  tại Paris  ngày 23.11. 1936.

[4]  P.A.Lapique, Sđd.

[5]  J. P. Ferrer, Sđd, tr. 182.

[6] Nam Triều quốc ngữ Công báo, số tháng 8.1938.

[7] Thêm  một  Châu  bản  khẳng  định  chủ  quyền  Hoàng  Sa,  nguồn:  Vietnamnet, 11:12′ 25.12.2009 (GMT+7) 

[8] Điện văn ngày 3.6.1946 của Đô đốc D’Argenlieu.

[9] Công hàm của phòng pháp lý Bộ Ngoại giao Pháp ngày 6.9.1946. Lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, Sđd.

Bác Hồ với ba người con đỡ đầu ở Pháp – Đức – Nga

Sinh thời, Bác Hồ luôn luôn dành sự quan tâm và tình cảm yêu thương nhất cho các cháu thiếu nhi trong và ngoài nước, bởi đó là những chủ nhân tương lai của nước nhà và nhân loại.

Tình cảm và sự quan tâm chăm sóc của Bác dành cho thiếu nhi trong nước và quốc tế thể hiện ở nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau, trong đó có cả tình cảm mà Bác Hồ đã dành cho những người con đỡ đầu của mình. Vậy những người con đỡ đầu của Bác là ai? Họ đang làm gì và sinh sống ở đâu?

Cuối tháng 5 năm 1946, với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Cộng hoà Pháp. Người đã đi thăm những di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh của nước Pháp, một đất nước có nền văn hoá lâu đời. Người đã tiếp xúc, gặp gỡ với các nhà lãnh đạo Pháp. Người cũng đã gặp gỡ, nói chuyện với các văn nghệ sĩ, các nhà khoa học và bà con Việt kiều…

Ngày 27 tháng 7 năm 1946, Việt kiều Pháp tổ chức buổi chiêu đãi chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại vườn hồng Batagen trong lâu đài D’Artois, nằm ở ven rừng Bôlônhơ. Ông Raymông Ôbrắc – cựu Ủy viên Cộng hoà ở Mácxây, nghị sĩ Quốc hội Pháp đã được mời tới dự buổi chiêu đãi. Tại đây ông được giới thiệu với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong lúc chuyện trò với ông Raymông Ôbrắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cảm ơn ông về những việc ông đã làm cho nhân dân Việt Nam hai năm trước ở Mácxây. Ông Raymông Ôbrắc ngỏ ý mời Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm gia đình, Người vui vẻ nhận lời và nói: “Tôi sẽ sung sướng nếu được đến vườn của ông, ông bạn thân mến ạ. Vậy tuần sau, vào giờ uống trà buổi chiều tôi đến thăm gia đình ông được chứ?”1.

Đến thăm căn nhà và khu vườn của gia đình ông Raymông Ôbrắc (ở 190 đường Soisy sous Montmorency, quận Seine et Oire2, cách Thủ đô Pari 10 km), Chủ tịch Hồ Chí Minh rất thích. Ngày 28 tháng 7, Người chuyển về đây ở. Ông Ôbrắc và bà Luyxi, vợ ông, là những người có cảm tình với chủ nghĩa cộng sản và rất kiên cường trong cuộc đấu tranh chống phát xít.
Ông Raymond Aubrac, một người bạn Pháp thân thiết của chủ tịch Hồ Chí Minh
Ngày 15 tháng 8 năm 1946, bà Luyxi sinh một bé gái tại bệnh viện phụ sản Bôđơlốc ở đại lộ Po Roayan, quận 5, Pari. Em bé được đặt tên là Êlidabét. Bác Hồ đã đến bệnh viện thăm, tặng quà và nhận Êlidabét làm con đỡ đầu. Người gọi Êlidabét là Babét (Babette). Gia đình ông Ôbrắc vô cùng vui sướng và hạnh phúc. Vào những dịp sinh nhật Babét, Người thường gửi thư và quà tới ông bà Ôbrắc và con gái đỡ đầu của mình. Quà của Bác là quả cầu nhỏ hay một con trâu bằng ngà, có khi là một bức ảnh chân dung của Người, hoặc một đồng tiền vàng có mang hình Bác và đặc biệt là tấm lụa vàng để Babét may áo cưới.

Babét sau này là giáo viên và có ba người con. Những món quà của Bác Hồ tặng, Babét vẫn giữ gìn như những kỷ vật. Babét đã nói với chồng và các con: “Chúng ta đang sống lại một kỷ niệm đẹp đẽ nhất trong đời mà Bác Hồ đã dành cho chúng ta”.

Còn Knuth Wolfgang Walther Hartmann ở miền nam nước Đức thì lại có vinh dự được làm con đỡ đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi có ngày sinh trùng với ngày sinh của Người: 19 tháng 5 năm 1951. Chính vì sự trùng hợp ngẫu nhiên này mà ông bà Walter R. Harlmann, cha mẹ của Knuth, đã gửi thư tới Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ cảm tình ủng hộ cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam và xin Người nhận Knuth Wolfgang Walther Hartmann làm con đỡ đầu.

Tại Việt Bắc, mặc dù bộn bề công việc để lãnh đạo nhân dân ta kháng chiến chống Pháp và kiến thiết đất nước, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian viết thư trả lời ông bà Hartmann. 5 tháng sau ngày gửi thư, ông bà Hartmann đã nhận được thư trả lời của Người. Bức thư được đánh máy trên giấy với nội dung:

“CHỦ TỊCH PHỦ

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

Độc lập Tự do Hạnh phúc

Gởi:
Bà và ông Walther R. Hartmann

Postamtsvorsteher

E. Thalmanr – Strasse 13

Sebaitz (Sachs)

Tôi thân ái mừng bà và ông vừa có cháu trai là Knuth Wolfgang Walther Hartmann.

Tôi cảm ơn bà và ông đã gửi thư và ảnh cho tôi. Và tôi rất vui lòng nhận cháu làm con đỡ đầu. Tôi gởi biếu cháu một bức ảnh nhỏ và một đồng Việt Nam để làm kỷ niệm. Tôi chắc rằng ở trong nước Đức dân chủ nhân dân và dưới sự chăm sóc của Chủ tịch W. Pieck và của Đảng, bà và ông sẽ nuôi dạy cháu mau lớn, vui vẻ, mạnh khoẻ, mai sau cháu sẽ thành một chiến sỹ tốt trong sự nghiệp phát triển nước Đức xã hội chủ nghĩa, gắn chặt tình thân thiện giữa hai dân tộc Đức – Việt và giữ gìn dân chủ cùng hoà bình thế giới.

Tôi gởi bà và ông lời chào thân ái, và gởi cháu nhiều cái hôn.

VIỆT NAM. 15-9-51

HỒ CHÍ MINH”

Nhận được thư của Bác, gia đình ông Hartmann vô cùng xúc động, bởi tình cảm và sự quan tâm mà Người đã dành cho gia đình ông. Vào dịp Knuth Wolfgang Walther Hartmann tròn 3 tuổi, ngày 19 tháng 5 năm 1954, Bác gửi tặng gia đình ông Hartmann một bức ảnh Người. Bức ảnh Người chụp chung với một bé gái, phía sau Bác viết:

“Thân ái gởi con đỡ đầu yêu quí Knuth Wolfgang W. Hartmann. Việt Nam, 19-5-1954 – Hồ Chí Minh”4.

Gia đình ông Harmann rất trân trọng những tình cảm của Bác Hồ dành cho họ. Các bức ảnh chụp chung trong dịp Người sang thăm Cộng hoà dân chủ Đức được lưu giữ như những kỷ vật, dù thời gian trôi qua đã nhiều năm. Còn với người con đỡ đầu của Bác, dù lúc còn học ở trường, khi tham gia quân đội hay là cán bộ kỹ thuật làm việc tại một xí nghiệp lai bò giống, Knuth đều mang theo bên mình một trong những tấm ảnh chụp chung với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Còn cô bé người Nga, Irina Đimitơriépna Đênia, được Bác Hồ nhận làm con đỡ đầu trong trường hợp khác.

Irina Đimitơriépna Đênia sinh vào mùa xuân năm 1958, là con của nhà báo X. Côlôxốp (X. Côlôxốp từng là phóng viên của Thông tấn xã Liên Xô APN) và vợ là bác sĩ Anna Xtaxia Vaxilépna, ở thành phố Giucốpxki, ngoại ô Mátxcơva. Mặc dù chưa một lần được gặp hay nói chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng với tấm lòng kính yêu Bác, nên khi sinh con gái họ đã viết thư gửi Người. Bức thư viết:

“Chúng cháu được biết, tình yêu của Người đối với trẻ em và của trẻ em đối với Người vô cùng sâu sắc. Theo phong tục Nga cổ truyền, một phong tục tốt đẹp ở nước Nga, chúng cháu chân thành đề nghị Người làm cha đỡ đầu của đứa con nhỏ của chúng cháu – con gái tên là I-ri-sơ-ca”5.

Không lâu sau ngày gửi thư, gia đình Điôminnưi đã nhận được thư trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác viết:

“Cô An-na Xta-xi-a Va-xi-lép-na và chú Đi-mi-tơ-ri Gơ-ri-gô-rê-vích thân mến!

Tôi đã nhận được thư của cô chú và chân thành cảm ơn cô chú đã mời tôi làm cha đỡ đầu cho con gái của cô chú. Tôi mong rằng sự nhận lời của tôi sẽ thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết anh em giữa hai dân tộc Việt Nam và Liên Xô.

Hôn con gái đỡ đầu bé nhỏ của tôi và chúc cháu được mạnh khoẻ, hạnh phúc. Chúc cô chú đạt nhiều thành tích trong công tác, trong cuộc sống.

Chào thân ái,

HỒ CHÍ MINH”

Cùng với lá thư, còn có một bức ảnh chân dung của Người, trên đó viết dòng chữ Nga: “Hôn con I-ra-sơ-ca, chúc con mạnh khoẻ và hạnh phúc!

Cha nuôi Hồ”

Đến tháng 5 năm 1960, gia đình X. Côlôxốp nhận được thư tiếp theo của Bác. Trong thư Người viết:

“Tôi đã nhận được thư của cô chú.

Tôi gửi lời chào thắm thiết nhất tới bé I-ra-sơ-ca. Chúc bé khoẻ, hạnh phúc.

Hôn bé.

HỒ CHÍ MINH”

Tháng 11 năm 1960, Irasơca và bố mẹ đã được gặp Bác Hồ tại một ngôi nhà trên phố Alếchxây Tônxtôi, nhân dịp Người cùng Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam sang Mátxcơva dự lễ kỷ niệm lần thứ 43 Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại. Cuộc gặp gỡ đã diễn ra rất tình cảm và thân mật. Bác mời gia đình Irasơca cùng ăn trưa với Người.

Trong khi nhân dân ta đang tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dù bận rất nhiều công việc nhưng Bác Hồ vẫn dành thời gian viết thư trả lời con gái đỡ đầu yêu quý của mình. Sau này Irina phục vụ trong ngành công an, rồi cùng chồng là Igo Tribixốp, cán bộ ngành hàng không dân dụng khai thác dầu khí ở Chiumen (Tây Xibiari). Họ sống ở làng Taôgiơnưi và có một con gái là Varônica.

Việc Bác Hồ nhận những cháu bé người Pháp, Đức và Liên Xô làm con đỡ đầu đã thể hiện tấm lòng nhân ái và sự quan tâm của Bác dành cho thiếu nhi quốc tế, và cũng qua đó càng làm tăng thêm tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân Pháp, nhân dân Cộng hoà dân chủ Đức và nhân dân Liên Xô anh em./.

nguồn: Baotanghochiminh.vn