Tag Archive: đò


VẠCH MẶT ÂM MƯU LẬT ĐỔ CHẾ ĐỘ XHCN VIỆT NAM

Nước CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập – Tự Do – Hạnh Phúc

Thời gian qua, sau những biến động chính trị gắn với những cái gọi là “cách mạng hoa nhài” ở Ai Cập, Tuy-ni-di, Li-bi, một số kẻ phản động trong và ngoài nước đang hí hửng cho rằng, các cuộc “cách mạng” ấy chẳng bao lâu sẽ lan tới Việt Nam. Chúng kích động những người nhẹ dạ cả tin, kêu gọi biểu tình, “tập dượt” cho một cuộc “cách mạng hoa sen” để lật đổ chế độ XHCN.

Nhận diện một âm mưu
Trước hết, có thể nhận thấy ngay đây là một chiêu bài “Diễn biến hòa bình”, lợi dụng các trào lưu xã hội trên thế giới để phát động phong trào chống đối, đi tới lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam. Ở đây, từ “cách mạng” đã bị lạm dụng đến mức nguy hiểm. Trên thực tế, những cuộc “cách mạng nhung”, “cách mạng cam”, “cách mạng hoa nhài” hay hoa gì đi chăng nữa không hề tạo ra một sự biến đổi xã hội mang tính sâu sắc, toàn diện, tạo bước ngoặt thay đổi về chất trong mọi lĩnh vực xã hội, thay thế hình thái kinh tế – xã hội lỗi thời, lạc hậu bằng hình thái xã hội cao hơn mà thực chất chỉ là cuộc lật đổ chế độ bằng các thủ đoạn phi bạo lực kết hợp với bạo lực ở mức độ khác nhau. Sự độc tài, bất công chẳng những không mất đi mà còn trầm trọng hơn, đổ máu nhiều hơn, nghèo đói nhiều hơn, bất ổn nhiều hơn. Vì vậy, không thể gọi đó là một cuộc cách mạng dù nó có mang màu sắc sặc sỡ bao nhiêu, mang tên loài hoa đẹp bao nhiêu đi chăng nữa! Đặc biệt, hoa sen, một loài hoa với vẻ đẹp Việt Nam và mang nhiều triết lý nhân sinh Việt Nam, không thể gắn với những âm mưu và hành động đi ngược lợi ích của Tổ quốc, dân tộc, mang lại khổ đau, chém giết, huynh đệ tương tàn.

Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, Trung với Đảng, Hiếu với Dân

Tại nhiều diễn đàn, mạng xã hội trên internet hiện nay, các thế lực thù địch hải ngoại có khá nhiều bài viết, thậm chí cả các chương trình truyền hình, đối thoại, bàn luận khá rầm rĩ về “cách mạng hoa nhài và hiện tình Việt Nam”. Một số nhân vật chống Cộng say sưa phân tích thế sự từ Tây sang Đông, từ chuyện Ai Cập, Tuy-ni-di, Li-bi… để “soi rọi”, “cảnh báo cho quốc dân đồng bào trong nước”. Chúng cho rằng, một cuộc cách mạng dân chủ theo kiểu mẫu của phương Tây, có thể tạo ra cuộc “chuyển giao quyền lực êm đềm, không đổ máu” ở Việt Nam. Chúng huênh hoang, bất chấp lý luận về cách mạng xã hội khi lập luận: “Cách mạng hoa nhài” mang tính tự phát của quần chúng, không cần gắn liền với một ý thức hệ, cương lĩnh hay tổ chức nào cả và đây lại là một yếu tố quan trọng góp phần thành công mà những cuộc cách mạng trước kia không có. Kiểu “lý luận” này thực sự chỉ là một kiểu suy luận bừa. Lê-nin từng nói: “Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng”. Nếu cuộc cách mạng không cương lĩnh, không tổ chức, thì cuộc cách mạng đó vì ai, dựa vào đâu?

Sự thâm độc, xảo quyệt của chiêu bài này càng lộ rõ khi các thế lực phản động và thù địch “mách” rõ những cách làm rất cụ thể, tỉ mỉ cho từng giai tầng, lực lượng xã hội ở Việt Nam. Chúng luôn đề cao vai trò của các mạng xã hội và công cụ internet, từ facebook, youtube đến twitter, thậm chí điện thoại di động là “vũ khí hữu hiệu” trong việc tập hợp lực lượng nổi dậy ở nhiều nước. Từ đó, chúng kích động giới trẻ Việt Nam hãy tận dụng lợi thế của sự phát triển internet để “hành động”. Chúng cũng cho rằng cách mạng “hoa sen” thuận lợi hơn vì dân số trẻ, sẽ đi theo từng nấc thang để chính quyền khó đàn áp. Chúng đưa ra các bước hành động: Ban đầu chỉ kêu gọi nhau tụ tập mặc áo trắng ở chỗ đông người rồi dần dần tiến tới tụ tập vì biển, đảo, vì kinh tế khó khăn. “Hương hoa nhài, hoa sen” sẽ khích lệ tiếng nói đối kháng qua các phong trào cùng ký tên vào tâm thư, thỉnh nguyện, các bản tuyên cáo, kiến nghị nào đó để tạo dư luận xã hội. Ở nấc thang cao hơn, sẽ phát động biểu tình sẽ hướng tới phản đối những hạn chế trong điều hành, quản lý kinh tế, những tiêu cực xã hội rồi tiến tới kêu gọi lật đổ chính quyền, phát động phong trào “toàn dân xuống đường… cứu nước”. Chúng lại đưa ra chiêu bài kêu gọi: “Quân đội nhân dân sẽ thực sự là của nhân dân nên sẽ không bắn vào người biểu tình. Lực lượng công an và quân đội hãy trở về với nghĩa vụ giúp đỡ và bảo vệ nhân dân, vốn đã sinh ra và nuôi nấng mình”. Khi các cuộc biểu tình đã được đẩy lên ở mức cao tại các thành phố lớn, sẽ có sự hà hơi tiếp sức của các tổ chức phản động trong và ngoài nước, rồi chúng sẽ kêu gọi sự can thiệp của nước ngoài… Nhìn lại một vài cuộc tụ tập đông người vừa qua, có nhiều dấu hiệu cho thấy đã có bàn tay kích động, đứng sau của các thế lực thù địch theo một “kịch bản” dài hơi.

Đẩy lùi, ngăn chặn và làm thất bại

Những chiêu bài, thủ đoạn thâm độc trên, may thay, đã sớm bị bóc trần. Ngay tại cộng đồng hải ngoại, đã có không ít ý kiến khách quan, phản đối thẳng thừng âm mưu “cách mạng hoa sen”. Ông Phúc Nguyễn, một Việt kiều sống ở Hoa Kỳ khi được hỏi về một cuộc “cách mạng hoa nhài” ở Việt Nam đã thẳng thắn nói: “Không thể có một cuộc cách mạng như thế và cũng không cần phải có. Bởi nó chỉ làm xã hội Việt Nam xấu đi khi đất nước đang phát triển đầu tư, hòa bình. Vả lại, cách quản lý xã hội ở Việt Nam chặt chẽ, không thể xảy ra chuyện như ở một số nước gần đây”.

GoocBachop – kẻ cơ hội

Tuy nhiên, để ngăn chặn, đẩy lùi và làm thất bại hoàn toàn âm mưu phát động những cuộc “cách mạng” như thế, cần sự quan tâm nghiên cứu, phân tích, làm rõ bản chất các trào lưu, hiện tượng xã hội và tình hình thế giới đầy biến động sâu sắc và phức tạp hiện nay. Dư luận xã hội, đặc biệt là nhận thức của thế hệ trẻ cần phải được định hướng rõ ràng, phân biệt giữa bản chất và hiện tượng, các mối liên hệ giữa các sự kiện để tránh sa vào cực đoan, bị kích động, lôi kéo. Nhìn lại một số sự kiện quốc tế vừa qua, các phương tiện báo chí, truyền thông có lúc, có nơi mới chỉ phản ánh được bề nổi của sự kiện, cần có nhiều hơn những đánh giá, bình luận mang tầm khái quát, phân tích rõ bản chất các hiện tượng, sự kiện, định hướng dư luận xã hội một cách tích cực.

Về mặt quản lý, rõ ràng những biện pháp bảo vệ trật tự trị an, an ninh xã hội vừa qua là rất cần thiết và cần được duy trì hiệu quả hơn nữa. Ở Việt Nam, Đảng, Nhà nước khuyến khích các ý kiến phản biện xã hội mang tính xây dựng, khuyến khích đấu tranh chống tiêu cực xã hội, tham ô, quan liêu, cửa quyền… Tuy nhiên, những âm mưu và hành vi lợi dụng đấu tranh chống tiêu cực hay lợi dụng dân chủ để chống đối chế độ XHCN sẽ phải được xử lý nghiêm minh theo đúng pháp luật.

Những kẻ cơ hội Chính trị sẽ trốn khỏi đôi mắt Nhân dân

Chúng ta không cần một cuộc “cách mạng hoa sen, hoa nhài” hay loài hoa nào khác, mà kiên trì con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn. Chúng ta nhận thức sâu sắc rằng, thời kỳ quá độ lên CNXH là một quá trình đầy khó khăn, gian khổ, kéo dài. Chỉ có sự đoàn kết, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, nhìn thẳng vào sự thật, đấu tranh đẩy lùi tham nhũng, lãng phí và các tiêu cực xã hội, hạn chế các yếu kém trong quản lý, điều hành xã hội vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh mới giúp cho cách mạng XHCN sớm thành công. Cái gọi là “cách mạng màu, cách mạng hoa” mà các thế lực thù địch đang mưu toan chỉ là sự lừa phỉnh nhân dân!

Bài viết của: Nguyễn Văn Minh. [Đã được đăng trên Việt Nam – Đất Nước – Con Người bởi Hoa Phượng Đỏ]

Advertisements

Mấy anh em mình tuy “bô lão” cũ kỹ, nhưng cùng dàn hàng phi tàu Khựa (màu trắng), khiến chúng chả đi đâu được

Đi biển với lính Hải quân, ai mới lần đầu cũng lắc đầu quầy quậy, khi thấy phần lớn những tàu được gọi là “tàu chiến đấu” mang số hiệu HQ cũ kỹ, chậm chạp và trang bị đơn sơ đến thảm hại, với vài khẩu pháo phòng không 12ly7, cao hơn nữa là khẩu 14ly5 trùm bạt im ỉm trên mũi và đuôi tàu.

Thế nhưng, đi nhiều mới vỡ lẽ “tưởng vậy nhưng không phải vậy”: Những con tàu tưởng như sắp chuyển công tác lên… Gang thép Thái Nguyên ấy, thường xuyên được gia cố, nâng cấp mũi – vỏ rất chắc chắn và ngoài đảm đương nhiệm vụ vận chuyển, trực đảo – nhà giàn, còn phải làm nhiệm vụ cực kỳ quan trọng, cần thiết là chiến đầu với những tàu hiện đại của Tàu khựa, cứ rình rình sơ hở là phi vào lãnh hải ta.

Dĩ nhiên, từ “chiến đấu” dùng trong trường hợp này, giai đoạn vừa qua – hiện nay, chỉ dừng ở việc vây ép, đâm va hoặc chắn đường, không cho chúng xâm phạm hải phận, bắt nạt những tàu dân sự khác…

Còn nếu xảy ra chiến đấu thực sự, những “bô lão” này khó có thể chống chọi với tên lửa, pháo hạm, ngư lôi của tàu địch, mà phải cần đến những “thanh niên mới lớn” Đinh Tiên Hoàng, Lý Thái Tổ…

Đấy là giả dụ thế thôi, chứ hiện tại thì những chuyện đâm va, vây ép giữa ta và địch, xảy ra như cơm bữa và chúng, hình như cũng… xót của, thấy ta hùng hục lao vào, phi bình bịch vào thân tàu cảnh quất trắng muốt, vỏ sắt nhẹ hều, lên chỉ vài cú đâm, là chán hẳn, chạy mất dép. Thế mới thấy “thô sơ thắng hiện đại” là thế nào.

Anh em Hải quân công tác trên những tàu “bô lão” này đã quá quen thuộc với những chiến thuật vây ép. Đơn cử như húc tàu. Chiến thuật này được dùng khi tàu đối phương lớn hơn tàu mình, vị trí húc thì thường ở 1/3 thân tàu về phía mũi, nếu muốn ép tàu đối phương chuyển hướng.

Biện pháp đâm ngang thân là cách húc quyết liệt nhất, ít dùng.

Một chiến thuật khác là chèn mạn và chỉ áp dụng khi công suất máy tàu ta mạnh hơn, phải biết chọn góc tiếp cận để ép tàu đối phương bẻ lái theo hướng ta muốn. Nếu dùng biên đội tàu thì thường là ép cả lái và mũi.

Đặc biệt, trên các tàu thường xuyên đâm, húc thì ở các vị trí phải làm việc trên mặt boong, đều có dây an toàn, đệm vải bạt để chiến sĩ đeo, tránh rơi xuống biển, hoặc bị ngã ra khỏi vị trí công tác quá xa…

Nghe chuyện và chứng kiến cùng anh em Hải quân, mới thấm thía: Việc bảo vệ chủ quyền trên biển, có những chuyện không thể ngờ được, ngặt 1 nỗi cả ta và đối phương đều tiết chế, không làm rùm beng.

Thế nhưng, có điều phải khẳng định là những hình ảnh, video clip mà cư dân mạng mới được chứng kiến vừa rồi, không phải là cái gọi là “sắp xếp, dàn dựng, diễn trò” như nhiều người lầm tưởng. Đừng nói vậy mà anh em bộ đội Hải quân làm nhiệm vụ trên các tàu “bô lão” buồn, tủi.

Chả ở đâu vất vả, khó khăn, thiếu thốn như sống trên những con tàu ấy.

Chả ở đâu, những người lính lại dũng cảm, can trường và chấp nhận hy sinh, như sống – làm nhiệm vụ trên những con tàu ấy. Đụng độ trên biển, không hẳn là nổ súng bắn nhau, mà còn là những biện pháp – chiến thuật mềm dẻo, cương quyết nhưng cũng rất gan góc, nguy hiểm để ngăn chặn đối phương có sức mạnh quân sự hiện đại, đủ đầy hơn ta nhiều lần.

Và từ đó mới càng thấm thía lời dạy của Ông Cụ từ những năm xa tít tắp: “Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm. Nếu không có súng – gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc…”.

Đầu tuần, mình kể lại 1 cuộc đụng độ trên biển Đông giữa tàu của Hải quân ta và tàu Ngư chính của Trung Quốc. Hình ảnh do phía Trung Quốc ghi lại, từ trên tàu và trực thăng, của chính họ.

Cuộc đụng độ này, diễn ra tại tọa độ XYZ nào đấy. Tại thời điểm ABC nào đấy, mà bạn nào thắc mắc, hỏi hộ mình với. Đơn giản là mình chả biết tiếng Tàu, lại chả có vinh dự công tác trên những con tàu tuy “bô lão”, nhưng rất can trường, dũng cảm ấy và dĩ nhiên, mình cũng rất… tò mò muốn biết: Sự thể ra răng?. Hi! Hi!..

Mai Thanh Hải [link]

971281_451630561592023_2071654550_n

2 "bô lão" cùng ép lòi rom tàu Khựa

2 “bô lão” cùng ép lòi rom tàu Khựa

983825_451630598258686_1306296577_n

Tàu ta (nâu sẫm) tuy 1 nhưng dũng cảm chọi với 2 thằng tàu Khựa (màu trắng)

Tàu ta (nâu sẫm) tuy 1 nhưng dũng cảm chọi với 2 thằng tàu Khựa (màu trắng)

Chắn ngay trước mũi, khiến Khựa không nhúc nhích nổi (hình do trực thăng Khựa ghi lại, từ trên cao)

Chắn ngay trước mũi, khiến Khựa không nhúc nhích nổi (hình do trực thăng Khựa ghi lại, từ trên cao)

270507_451630618258684_1742592281_n 943163_451630624925350_574207815_n

Tàu ta (Đông Nam 29, Quân chủng Hải quân) chắn trước mũi, không cho tàu Khựa xâm phạm sâu vào lãnh hải

Tàu ta (Đông Nam 29, Quân chủng Hải quân) chắn trước mũi, không cho tàu Khựa xâm phạm sâu vào lãnh hải

Mới đây, tổ chức “Nhà tự do” đã công bố cái gọi là phúc trình về tự do thế giới 2013, trong đó đưa ra một số đánh giá thiếu khách quan về tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Vậy tổ chức “Nhà tự do” là gì, tại sao họ lại có hành xử thiếu thiện chí như vậy?  

“Nhà tự do” (Freedom House – FH) là tổ chức phi chính phủ, thành lập tháng 10-1941, trụ sở đặt ở Hoa Kỳ. Tổ chức này tự gán cho mình sứ mệnh “theo dõi tiến trình dân chủ hóa toàn cầu, khảo sát và nghiên cứu tình hình thực thi các quyền tự do chính trị và dân sự tại các quốc gia trên thế giới”; hơn thế nữa, FH còn tự nhận là “một tiếng nói minh bạch cho dân chủ và tự do trên thế giới”! Ðể thể hiện sứ mệnh, hằng năm FH đều công bố các văn bản gọi là phúc trình về tự do trên thế giới, báo cáo thường niên về tự do báo chí, tự do in-tơ-nét. Các văn bản này chỉ tập trung vào một số nước như CHDCND Triều Tiên, Lào, Trung Quốc, Việt Nam, Cu-ba,… hoặc các quốc gia vốn đang nằm trong “tầm ngắm” của một số thế lực thiếu thiện chí ở phương Tây. Các thế lực này luôn luôn lợi dụng vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá, hoặc làm mất uy tín của các chính phủ mà họ “không ưa” trước cộng đồng thế giới. Trong phúc trình của FH về “tự do thế giới 2013″, FH tiếp tục coi Việt Nam là quốc gia “không tự do” trong thực thi quyền tự do chính trị và dân sự. Tới ngày 18-1, trả lời phỏng vấn của VOA tiếng Việt, Sarah Cook – người được giới thiệu là chuyên gia phân tích cao cấp về tự do in-tơ-nét và Ðông Á của FH, còn trắng trợn cho rằng Việt Nam đang có xu hướng gia tăng đàn áp các quyền cơ bản của công dân, xử “nặng tay” với những blogger chỉ trích nhà nước kiểm duyệt in-tơ-nét và tiếp tục đàn áp tự do tôn giáo!

Từ khi mới ra đời, FH đã là “cỗ máy tuyên truyền” do cố Tổng thống Roosevelt lập ra để chuẩn bị tâm lý cho công chúng Mỹ đối với việc nước Mỹ tham chiến trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Tuy nhiên, sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, FH không bị giải thể mà tiếp tục được sử dụng để tiến hành các chiến dịch tuyên truyền, vận động cho Kế hoạch Marshall và tổ chức NATO, đồng thời tuyên truyền chống Chủ nghĩa cộng sản. Bên cạnh đó, FH cũng tích cực cổ súy truyền bá giá trị của Hoa Kỳ với khẩu hiệu “Hoa Kỳ: quốc gia của tự do”. Trong những năm 90 của thế kỷ trước, FH phát động chương trình đào tạo về nhân quyền cho các phần tử chống đối ở Ðông và Trung Âu; khuyến khích công đoàn và người lao động tham gia các hoạt động bí mật, qua đó can thiệp vào công việc nội bộ của một số nước ở Ðông và Trung Âu. Trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21, cựu Tổng thống George W. Bush từng yêu cầu FH soạn thảo báo cáo hằng năm về quyền chính trị, dân sự trên toàn thế giới để chính quyền tham khảo trước khi quyết định cung cấp viện trợ phát triển trong khuôn khổ hợp tác đối phó với các thách thức thiên niên kỷ cho các nước…

Có một sự thật là cho đến nay, hầu hết kinh phí hoạt động của FH do Chính phủ Hoa Kỳ tài trợ, phần lớn thành viên ban lãnh đạo của tổ chức này đều là cựu thành viên của các cơ quan chính quyền Hoa Kỳ (như: Chủ tịch đương nhiệm của FH là William H. Taft – người từng giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng thời Tổng thống Ronald Reagan, quyền Bộ trưởng Quốc phòng dưới thời Tổng thống Bush cha, Cố vấn luật pháp của Bộ Ngoại giao dưới thời Tổng thống Bush con; các thành viên khác trong ban lãnh đạo của FH, như Kenneth Adelman từng là thành viên Ban cố vấn chính sách Quốc phòng của Lầu Năm góc, Mark Palmer là cựu Ðại sứ Hoa Kỳ tại Hungary…). FH còn có quan hệ chặt chẽ với Quỹ dân chủ quốc gia (NED), Liên đoàn chống cộng thế giới, Ðài châu Âu tự do,… Ðã lệ thuộc tài chính vào chính quyền Mỹ, lại bị điều khiển bởi các nhân vật từng tham gia chính quyền, cho nên không có gì khó hiểu khi FH trở thành một công cụ của những người đã chi tiền để FH có thể tồn tại dưới vỏ bọc nghiên cứu, theo dõi, cổ súy cho tự do, dân chủ, nhân quyền!

Câu hỏi đặt ra là tổ chức này dựa trên cơ sở nào để “chấm điểm” mức độ tự do về quyền chính trị và dân sự tại các quốc gia, và liệu cơ sở ấy có thật sự khách quan, đáng tin cậy? Sarah Cook cho rằng phúc trình của FH “đánh giá rõ ràng, khách quan mức độ tự do về quyền chính trị và dân sự của công dân tại tất cả các quốc gia trên thế giới”, nhưng khi được hỏi về căn cứ đưa ra bản phúc trình hằng năm đối với Việt Nam, nhân vật này thản nhiên trả lời: “Chúng tôi có một chuyên gia chính phụ trách từng quốc gia, chuyên phân tích tình hình của quốc gia đó. Họ theo dõi tin tức và thông tin về tình hình quốc gia ấy, tham vấn những người liên quan tại nước đó hay những người thường xuyên lui tới nước đó, nói chuyện với các tổ chức kể cả các nhóm hoạt động bên ngoài nước đó”. Câu trả lời cho thấy, FH đánh giá vấn đề theo lối hồ đồ vô căn cứ và tin tức mà chuyên gia của FH theo dõi không phải từ các nguồn chính thống, khách quan, mà chủ yếu khai thác từ các website, blog, các cơ quan truyền thông vốn có thái độ thù địch hoặc thiếu thiện chí với Việt Nam; từ một số cá nhân, nhóm hoạt động thực chất là các thế lực chống phá Việt Nam ở nước ngoài, một số phần tử vi phạm pháp luật ở trong nước. Từ các thông tin FH công bố, có thể khẳng định tổ chức này không hề có bất cứ hoạt động khảo sát thực tế nào, họ chỉ dựa trên các thông tin sai lệch, vu cáo và bịa đặt để nhận xét, rồi chấm điểm. Vậy xin hỏi bà Sarah Cook, đâu là tính khách quan trong phúc trình của FH?

Trong lĩnh vực in-tơ-nét và báo chí, mọi người đều biết việc Nhà nước Việt Nam đã quan tâm, tạo điều kiện để phát triển in-tơ-nét và báo chí như thế nào, chỉ có FH và Sarah Cook là không biết mà thôi. Cho nên, một người Việt đang sống tại Hoa Kỳ, sau khi đọc bản phúc trình của FH và ý kiến của Sarah Cook trên VOA đã phải lên tiếng như sau: “Sự thật tự do báo chí ở Việt Nam đã chứng minh, phản bác hành động sai trái của Freedom House, tôi xin trích dẫn số liệu sau: Theo thống kê của tổ chức Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) năm 2010, Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ người dân sử dụng in-tơ-nét cao nhất trong khu vực Ðông – Nam Á, chiếm 31,06% dân số, chỉ đứng sau ba nước là Xin-ga-po (70%), Ma-lai-xi-a (55,3%), Bru-nây (50%);… đồng thời vượt khá xa tỷ lệ trung bình của khu vực Ðông – Nam Á (17,86%), khu vực châu Á (17,27%) và thế giới (21,88%). Nhân đây, cần nhắc lại rằng, sự thật về tình hình báo chí ở Việt Nam là trái ngược hẳn với những gì Freedom House vu cáo. Thật vậy, tính đến tháng 3-2012, ở Việt Nam có gần 17 nghìn nhà báo, hơn 19 nghìn hội viên nhà báo, hàng nghìn phóng viên hoạt động ở 786 cơ quan báo in, với 1.016 ấn phẩm, 67 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và cấp tỉnh, 47 đơn vị hoạt động truyền hình cáp, chín đơn vị truyền dẫn tín hiệu truyền hình cáp… Các con số nêu ra trên đây dù chưa được đầy đủ nhưng là một minh chứng cho nhiều sắc màu về tự do truyền thông”. Ý kiến của tác giả này cùng thực tế sinh động của sự phát triển in-tơ-nét và báo chí ở Việt Nam trong các năm qua là cơ sở chứng minh điều FH và Sarah Cook kết luận là sự bịa đặt, xuyên tạc trắng trợn.

Ðây không phải lần đầu FH dựng chuyện và nhận xét nhảm nhí về việc thực thi quyền tự do chính trị và dân sự ở Việt Nam. Và không chỉ có thế, nhiều năm qua, FH còn mở một số chiến dịch cổ súy cho cái gọi là “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí”, rồi kích động, hậu thuẫn cho một số kẻ cơ hội, phần tử vi phạm pháp luật ở Việt Nam. Rồi mỗi khi cơ quan tư pháp của Việt Nam tiến hành điều tra, bắt giam, xét xử một số công dân vi phạm pháp luật là FH vội vàng vận động một số chính khách phương Tây vu cáo Việt Nam đàn áp “nhà đấu tranh dân chủ”, “người bất đồng chính kiến”, và… đòi “trả tự do ngay lập tức”! Xâu chuỗi các hành động, việc làm của FH trong nhiều năm qua, có thể nhận diện ý đồ thâm độc của tổ chức này đối với Việt Nam là vừa vu khống Ðảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam, vừa tiếp tay cho các thế lực thù địch và một số người có hành vi vi phạm pháp luật để FH dựa vào đó thực hiện âm mưu của mình.

Như vậy có thể nói sự quan tâm của FH đối với Việt Nam không phải nhằm khuyến khích tự do, dân chủ, nhân quyền. Qua những gì FH thể hiện, tổ chức này chỉ chuyên tâm cổ súy các hoạt động gây bất ổn định chính trị – xã hội ở Việt Nam. Nếu thật sự quan tâm đến tự do, dân chủ, nhân quyền, FH nên tự vấn để trả lời câu hỏi tại sao Báo cáo của Ngân hàng Thế giới mới công bố ngày 24-1 lại đánh giá trong 20 năm qua, tỷ lệ nghèo đói ở Việt Nam đã giảm từ 60% xuống 20,7%, tức là 30 triệu người dân đã thoát khỏi đói nghèo; lĩnh vực giáo dục cũng có nhiều cải thiện, tỷ lệ đăng ký đi học trường tiểu học và trung học ở bộ phận người nghèo tăng lần lượt hơn 90% và 70%,…? Phải chăng đó không phải là thành tựu đáng khích lệ về tự do, dân chủ, nhân quyền? Nếu thật sự quan tâm đến tự do, dân chủ, nhân quyền, FH hãy tỏ ra là có liêm sỉ để góp phần vào việc mà mới đây, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc – UNICEF, kêu gọi tìm nguồn kinh phí 1,4 tỷ USD trong năm 2013 để đáp ứng các nhu cầu giúp đỡ hàng chục triệu trẻ em bị ảnh hưởng vì chiến tranh, thiên tai và các trường hợp khẩn cấp tại 45 quốc gia, vùng lãnh thổ. Và nếu thật sự quan tâm đến tự do, dân chủ, nhân quyền, FH không nên khoác lên mình “bộ cánh đã lỗi mốt” để trở thành “con rối” trong tay người khác.

BÁ SỸ
Theo Nhandan.com.vn

Những mánh khóe “chanh luận” & dụ dỗ của bọn phản động :
=================================================================

1. Dẫn chứng tùm lum
Chúng đưa ra những dẫn chứng, những số liệu do chúng bịa ra, nhưng được viết dưới dạng học thức, những thứ đó được gắn mác là của tổ chức khoa học- nghiên cứu thế giới gì gì đó, hay của ông tiến sĩ- giáo sư ngoại nào đấy v.v…

2. Tự sướng siêu nhân Gao
À à, chiêu này là hài hước nhất, tự phong cho mình và đồng bọn là giáo sư, tiến sĩ, thậm chí là anh hùng, luật sư tốt nghiệp mấy trường luật thế giới, thậm chí là đảng viên đảng CS, lúc trước Lý Tống được phong tới anh hùng trên không, Nhà bảo trợ nhân quyền cơ đấy

3. Đồ Rê Mí
Còn được gọi là chiêu “thằng khùng thích hát”, chúng sẽ viết nhạc xong up lên Youtube với những lời bài hát mang đậm chất kích động, xuyên tạc pha thêm chút kịch tích, man rợ, dơ bẩn nữa khiến cho người nghe thấy mà ớn lạnh, từ đó để lại những ấn tượng Đảng CS và xã hội VN ko tốt đẹp mấy trong đầu người nghe

4. Tao điên, tao có quyền
Chiêu điên loạn nhất, chúng sẽ hát mãi điệp khúc cải lương “CS bán nước, CS dâng đảo cho Tàu” nhưng ko thể đưa ra 1 chứng cứ nào mà dù có đưa ra cũng chả dám tranh luận lâu, và viết được mấy câu lại thêm 1- 2 cụm từ “CS bán nước”, “CS theo Tàu” vào như thể đây là dẫn chứng hùng hồn nhất Nếu “thua” ớ nơi này, chúng lại đi nơi khác rêu rao và cứ diễn mãi vở hài kịch “CS bán nước” khắp mọi nơi để mua vui cho người tri thức.

5. Liên hoàn nói
Với chiêu này thì bọn Vichoco sẽ tích cực phán, tích cực nói thậm chí là làm thơ, chúng đặt vấn đề nhanh như súng liên thanh, nói nhiều đến mức mà ta ko có thời gian để kịp tranh luận, 1 đứa nói thì chục đứa bè, clones quá trời clones, cốt để cho đông, cho có số lượng, cho chúng ta thấy đông mà hoang mang, cho bọn trẻ thấy đông mà tin theo, việc này thường xảy ra ở phần bình luận trên Youtube hay Yahoo! News.
Và đây cũng là điểm nguy hiểm nhất, cứ thử tưởng tượng một mình mình tranh luận kèm cãi lộn với chục thằng Mafia Vichoco, không đuối vì mệt cũng đuối vì tức những câu từ chúng bịa đặt, xuyên tạc một cách trắng trợn, vô liêm sĩ.

6. Thêm xăng vào lửa
Chúng thường lấy những vấn đề nhức nhối của xã hội ra và đổi trắng thay đen, thổi phồng bịa đặt, bóp méo nửa sự thật, viết luyên thuyên 1 hồi, dẫn chứng đủ kiểu nhưng kiểu chủ yếu là tính bắt cầu, nghĩa là ông này làm cái này, mà ông này lại quen với ông kia, suy ra ông kia cũng làm thế, hay là 1 thằng ăn cắp là cả nhà ăn cắp, hoặc mày nhượng bộ suy ra mày bán nước, mày nhẫn nhịn suy ra mày nhục nhã, mày muốn nhân nhượng suy ra mày sợ giặc, nhằm làm cho người đọc mê muội, vì không nhận ra được đây là chiêu bóp méo nửa sự thật nên bị chúng làm mòn hay làm mất đi thế lập trường.

7. Tụi bây còn thơ ngây lắm, biết cái gì
Với chiêu này thì bọn chúng sẽ gắn cho những bạn 9x cái mác là còn nhỏ, ko hiểu việc đời, và tự cho mình 1 cái tuổi già dặn để giảng dạy như trong tiết Sử, nào là ngày xưa bác đã chứng kiến CS ác ôn, ngày xưa gia đình bác đã phải bỏ chạy CS, hay “ngày xưa đó, cháu ko biết đâu, CS đuổi nhà bác, rồi đánh đập vợ con bác , nhưng bây giờ CS nhồi nhét vào não các cháu những thứ sai sự thật, đừng nghe những lời của kẻ chiến thắng, nghe những người thật, “việc thật”, nghe những người 60-80 tuổi kể lại nè”
Rồi sẽ đưa ra những dẫn chứng ko ai kiểm tra được như “Ông nội bác kể lại, cha bác kể lại, bạn bác nói …” nhưng thực ra là bác tự nghĩ ra Và “bác” chỉ mới 20-30t hay thậm chí là bằng tuổi con thôi con ạ, lấy tuổi giả cho con tin thế thôi
Nếu bạn dám phản biện lại mà có lời nào bất kính với “bác” hay “chú” gì gì đó tùy theo mức độ ham tự phong của mấy ku phản động ấy thì sẽ bị chụp lên đầu cái mũ “bất kính, mất dạy” từ đó suy ra những gì bạn nói là sai hết dù cho luận điểm, luận cứ của bạn là hoàn toàn chính xác và hợp lý đi chăng nữa

8. Kim thiền thoát xác & Đại cương chửi thề
Lâm vào thế bí, đơ lưỡi, lý luận ko được nữa thì bọn rận sẽ dùng chiêu “kim thiền thoát xác” nghĩa là bỏ chạy í. Chúng sẽ nói bâng quơ 2-3 câu rồi kết luận tạp cho có sau đó là bỏ chạy, chuyển sang nơi khác hành nghề; để cho người khác thấy ta đây vẫn chưa thua, ta đây vẫn còn nhiều lý lẽ lắm nhưng ko thích nói, hay rõ hơn là ta đây bị lý luận của nó làm cho viêm họng, nói ko được nữa, nên phải bỏ chạy để bào toàn “danh dự”, để cho đỡ bị quê
Cách này chỉ dành cho bọn rận già gào ko được và rận có học (tạm gọi là thế). Còn đối với bọn rận trẻ, rận mới vào nghề, chúng sẽ điên cuồng áp dụng những thứ mà chúng đã học trong Đại cương chửi thề để “chanh luận” với bạn. Bao nhiêu từ thô tục và dơ bẩn nhất bất kể ngoại ngữ hay Quốc ngữ, bất kể tiếng địa phương hay tiếng lóng gì cũng sẽ được bọn chúng áp dụng triệt để và xem đó như là những chứng cứ, dẫn chứng, lý lẽ hùng hồn nhất. Khi bạn ko chịu được những câu từ hạ đẳng này và bỏ đi thì chúng sẽ quy ngay cho bạn tội “đuối lý nên phải bỏ chạy” Còn khi bạn tiếp tục lý lẽ thì chúng cũng tiếp tục chửi, chúng sẽ kiên trì chửi thề cho đến hồi kết, đến khi bạn chịu ko được nữa…

9. Sánh so tương đối, nêu gương thần tượng
Với chiêu này thì bọn chúng tha hồ mà khoe thần tượng Hoa Kỳ đồng thời cũng là cha mẹ của chúng và khiến cho bạn bị bí thế với những câu ngớ ngẩn như :
Tại sao Việt Nam theo Cộng Sản mà không bằng Mỹ ?
Mày nói không nên đa đảng à ? Đa đảng mới bằng Mỹ chớ !
Các nước một Đảng đều nghèo trong khi các nước đa đảng đều giàu, theo đa đảng !

hay những câu đại loại như :
Mỹ dân chủ lắm, vì thế nó mạnh lắm. Việt Nam không dân chủ nên không mạnh. Muốn sướng thân thì cứ theo chúng tao mà phản động, rồi sẽ được sung sướng như bên Mỹ.
=> Trong khi chúng có biết được sự thật về món hàng “dân chủ” mà các Đảng chính trị Mỹ rao bán cho dân chúng ? Chúng chỉ nhìn thấy cái bề ngoài, cái bản mặt đằng trước tốt đẹp, nói theo chúng thì miễn Mỹ giàu, Mỹ đẹp thì cái gì Mỹ cũng tốt, cũng hay và bắt chước Mỹ sẽ được như Mỹ, còn không cứ nghèo hoài chứ không hiểu, không thấy được cái đằng sau lưng của tụi Tư bản keo kiệt, của xã hội rối ren, bầu cử kiểu PR marketing.

10. Hiếp dâm lịch sử
Chúng rất thành công khi dùng chiêu này nhằm hạ uy tín của Đảng CS Việt Nam. Chúng thường lôi hình ảnh ông Hồ Chí Minh-lãnh tụ của Đảng CS Việt Nam- và các nhà lãnh đạo Đảng CS ra và phủ bụi lịch sử. Chúng xuyên tạc, bịa đặt, nói ngông chuyện lịch sử. Chiêu này của chúng thường đánh vào những cái đầu óc ham lạ của nhiều bạn trẻ đam mê môn Sử nhưng lại làm biếng, không dám và cũng không muốn tìm hiểu kỹ càng lịch sử, chỉ muốn biết những “chuyện lạ” trong lịch sử nhằm thỏa mãn cơn khát hiểu biết của mình để có vốn “kiến thức” mà ra vẻ ta đây giỏi Sử, ta đây biết tất tần tật những “thâm cung bí sử” mà nhiều người chưa biết. Nhưng đối với những bạn đã am hiểu tường tận chuyện sử xưa thì chiêu này chả khác gì vở hài kịch rẻ tiền. Có những bạn “cao Sử” tức tối khi đọc những bài viết ngông của chúng nhưng cũng có một số chỉ cười nhạt rồi sang trang khác…

Tụi Phản động tranh luận với khẩu hiệu :

PHÁN LÀ TRÚNG, KHÔNG CẦN ĐÚNG HAY SAI

1. Gặp những bài chống phản động, không bao giờ đọc hoặc chỉ đọc hai ba dòng đầu rồi phán một cách cực kỳ lạc đề, bắt mình phải trích dẫn lại bài của mình và diễn giải ra. Hoặc tệ hơn là luận điểm của chúng đã bị bác bỏ ngay trong bài của mình nhưng chúng lại cmt những luận điểm đó.
2. Dùng những ý, những bài viết phản động trên mạng để làm luận cứ trong khi những ý đó chỉ gần sát hay có cảm tưởng như sát chủ đề. Ví dụ như mình đăng bài chống đa đảng, chúng đăng bài nêu cao dân chủ trong khi 2 bài viết chả liên quan gì với nhau
3. Phản bác bằng những từ ngữ đả kích cá nhân và hiển nhiên cho rằng như thế là luận cứ. Và hay trích dẫn những ý nào khó hiểu hoặc có thể hiểu lầm và biến tấu, chế tác, suy diễn làm méo đi ý nghĩa gốc của câu đó, đoạn đó.
4. Bị chịu ảnh hưởng tâm lý đám đông nặng nề nhưng không biết, cho rằng ấy là đồng minh, đồng chí của mình
5. Thường so sánh tương đối và phản biện theo kiểu “mày cũng quá cha tao, suy ra tao đúng mày sai”.

Ví dụ như mình nói VNCH là độc tài, chúng bảo CSVN cũng độc tài vì một đảng, vậy là “mày cũng quá cha tao, suy ra tao đúng mày sai”.
6. Thường lên mạng tìm những hình ảnh phản động rồi đăng lên như robot vì chúng nghĩ trong nhóm ấy có nhiều đồng chí hay lừa chúng nên họ sẽ ủng hộ và “like”.
7. Tích góp, lượm lặt những cmt phản động có giá trị, sau đó xào xáo, thêm mắm thêm muối cho rộng ra thành cmt của mình
8. Biết sơ sơ về chánh trị, biết sơ sơ về xã hội, nhưng rất thích bàn luận để lấy những cmt phản động có những thông tin với chúng là hay, là lạ, còn với chúng ta thì chỉ là bóp méo nửa sự thật để làm vốn hiểu biết riêng của mình.

[Hồ Minh Khanh]

Đường hòa nhập của những nhân sĩ chế độ cũ

Với những nghiên cứu thầm lặng, Nhóm trí thức này đã đóng góp tích cực vào quá trình đổi mới của thành phố. Họ để lại dấu ấn trong những đột phá về cải cách giá – lương – tiền, cải tổ ngành ngân hàng, đề xuất lập khu chế xuất Tân Thuận…

LTS: GS. Đặng Phong trong cuốn Tư duy kinh tế Việt Nam 1975-1989 kể: Ở TP. Hồ Chí Minh có một nhóm chuyên viên kinh tế được nhắc đến với cái tên “Nhóm Thứ Sáu”. Thành phần chủ yếu là những người từng làm việc trong chế độ cũ. Họ được Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh thời đó là ông Võ Trần Chí trọng dụng.

Với những nghiên cứu thầm lặng, Nhóm trí thức này đã đóng góp tích cực vào quá trình đổi mới của thành phố. Họ để lại dấu ấn trong những đột phá về cải cách giá – lương – tiền, cải tổ ngành ngân hàng, đề xuất lập khu chế xuất Tân Thuận…

Thực ra lâu nay, cái tên “Nhóm Thứ Sáu” được nhắc đến rải rác trên một số trang báo, nhưng chưa từng có một tuyến bài nào kể lại đầy đủ hoạt động và đóng góp của nhóm. Tuần Việt Nam vừa có may mắn tiếp xúc với một số câu chuyện thực tế của họ. Chúng tôi trân trọng chia sẻ cùng độc giả.

Hơn hai chục năm trong chiều dài lịch sử không là bao nhiêu, nhưng đối với những người ray rứt với tình hình đất nước đang từng ngày chuyển biến thì quả thật là đáng kể.

Những nhân sĩ, trí thức trong Nhóm Thứ Sáu với điểm xuất phát tuy khác nhau nhưng do cùng hoàn cảnh và tâm tư, đã hội tụ thân thiết như các thành viên trong một gia đình. Mỗi tuần họp mặt ít nhất một lần, anh em cùng nhau lạm bàn chuyện thế sự mà không hề có tham vọng riêng tư. Đây là một nhóm lãng tử tìm đến nhau một cách tình cờ, tập hợp vốn hiểu biết rồi cùng nhau bàn luận, trước hết là để chung vui, còn ai muốn sử dụng những điều ấy như thế nào thì tuỳ hoàn cảnh và công việc.

Bao trùm lên trên cái thực thể của Nhóm là rất nhiều cái Không. Không giấy phép thành lập, không chủ quản, không tổ chức, không nội quy điều lệ, không trụ sở, không ai lãnh đạo, không ai hưởng lương, không vụ lợi, không kỷ luật lẫn khen thưởng, không ràng buộc cũng như không hơn thua với ai và còn nhiều cái không nữa.

Có lẽ nhiều cái không ấy đã làm nên cái có: đó là có anh em, có chuyện để bàn bạc, có tấm lòng và có dịp sinh hoạt với nhau đến nay đã 24 năm liên tục.

Tên gọi của nhóm này thật ra chỉ mới có vài năm gần đây và việc định danh “Nhóm chuyên viên kinh tế Thứ Sáu” cũng rất đơn giản là vì anh em gặp nhau định kỳ vào chiều thứ Sáu hàng tuần.

Nếu ai hỏi Nhóm Thứ Sáu có bao nhiêu người thì cũng khó trả lời chính xác. Trong những năm qua số này có nhiều biến động nhưng “cựu trào” thì còn không quá 10 người. Hiện nay có thường xuyên từ 15 đến 20 anh em gặp gỡ nhau hàng tuần, có thể coi như là những nhân vật nòng cốt.

Thời kỳ cuối thập niên 70 đầu thập niên 80, tình hình kinh tế xã hội ở miền Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng cực kỳ khó khăn.Sau hai đợt cải tạo, tiềm lực kinh tế của thành phố gần như kiệt quệ. Nhiều năm sau ngày giải phóng, nền kinh tế vận hành theo quán tính như một chiếc xe ngày càng cạn nhiên liệu, tạo điều kiện cho hoạt động kinh tế ngầm phát triển với hàng loạt sản phẩm tiêu dùng thuộc loại kém chất lượng vì thành phần nguyên liệu, phụ liệu không đủ, được đưa ra thị trường nhằm giải quyết nhu cầu không thể thiếu của người dân.

Nền kinh tế kế hoạch tập trung và cơ chế bao cấp áp đặt ở miền Nam làm cả hai miền đất nước nghèo như nhau. Đó là thời kỳ mà lần đầu tiên ở Sài Gòn biết thế nào là ăn độn. Trí thức Sài Gòn phần lớn dính dáng vào quân đội và chính quyền cũ nên phải đi học tập cải tạo, một số trở về mang tâm trạng hoang mang chán nản, một số không ít bỏ ra nước ngoài tạo nên tình trạng chảy máu chất xám đến mức báo động. Thêm vào đó, vụ Nạn kiều và những chuyến vượt biên bán công khai càng làm cho tâm lý xã hội thêm nặng nề.

Trong tình hình kinh tế xã hội gay gắt ấy, mô hình công ty xuất nhập khẩu trực dụng được lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh cho ra đời mà Quận 5 đã đi tiên phong với Công ty Cholimex.

Mục đích của công ty này là huy động những đồng vốn tản mát trong dân dưới hình thức cổ phần, tận dụng các mối quan hệ của những nhà kinh doanh người Hoa với bên ngoài để xuất khẩu các loại hàng nông hải sản rồi nhập vật tư nguyên liệu về cung ứng cho các cơ sở sản xuất tại Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh và cho cả các doanh nghiệp nhà nước.

Lúc bấy giờ, ông Phan Chánh Dưỡng sau khi giã từ ngành giáo dục được Quận uỷ đưa về làm Trưởng phòng kế hoạch tại Cholimex. Là một nhà giáo gần như chưa bao giờ tiếp cận với hoạt động kinh doanh ở cấp độ công ty, ông Dưỡng thấy rằng cần phải thu hút chất xám từ những người có kiến thức chuyên môn để bổ sung vào những hạn chế của mình.

Thế là ông Trần Bá Tước, một chuyên viên ngân hàng sau khi đi học tập về đã đến với Cholimex vào năm 1982 với tư cách là một phiên dịch. Tiếng lành đồn xa, nhận ra Cholimex là nơi có thể đóng góp hiểu biết của mình, nhiều trí thức cũ đã gặp ông Phan Chánh Dưỡng và trở thành những người trợ lý đắc lực.

Một trong những người này là ông Phan Thành Chánh, chuyên viên ngân hàng và ông Đỗ Hải Minh, chuyên viên hành chính nhiều kinh nghiệm trước đây làm việc ở Bộ phát triển sắc tộc trong chế độ cũ, sau khi đi học tập về đang tìm một chỗ làm việc để nhẹ gánh mặc cảm.

Ông Nguyễn Thông Minh, một chuyên gia mà cũng là một giáo sư đại học dạy vật lý có phương pháp sư phạm rất tốt (nhất là về môn điện tử) lại là một chuyên viên điện toán giỏi, sau khi “đầu quân” đã soạn chương trình vi tính về quản lý lương bổng cho Cholimex, một công việc cực kỳ mới mẻ lúc bấy giờ. Sau đó ông lại đứng ra thành lập Trung tâm Điện toán Cholimex, cơ sở vi tính đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh.

Từ đó Cholimex thành một nơi đất lành chim đậu, tập hợp rộng rãi các anh em trí thức đang làm việc tại Ban Khoa học Kỹ thuật thành phố, Công ty Đại Dương, Công ty dịch vụ Kỹ thuật như các anh Lê Mạnh Hùng, Võ Hùng, Võc Văn Huệ. Rồi đến Mai Kim Đỉnh, Trương Quang Sáng, Lê Hoà, Nguyễn Chính Đoan, Lê Văn Bỉnh, Trần Văn Tư, Đỗ Trung Đường, Lê Đình Khanh, Lâm Tuấn Anh, Võ Gia Minh, Trần Quí Hỷ, Đỗ Nguyên Dũng, Phan Tường Vân, Lâm Võ Hoàng, Huỳnh Bửu Sơn, Hồ Xích Tú, Nguyễn Ngọc Hồ… cùng một số người khác.

Thời kỳ đầu, họ đã đi thực tế ở nhiều nơi như Duyên Hải, Đồng Nai và các tỉnh miền Tây, nghiên cứu nhiều dự án với hy vọng khái thác tiềm năng cho nhu cầu phát triển kinh tế của thành phố. Thế nhưng đó lại là câu chuyện đội đá vá trời trong tình hình cơ chế xơ cứng đang còn ngự trị. Khi nhìn lại anh em thấy những công việc đã làm chẳng qua cũng là công dã tràng. Nhưng dù sao đây cũng là  nhân tố ban đầu của sự tập hợp một số trí thức cũ có tấm lòng và mong được đóng góp cho sự phát triển kinh tế thành phố nói riêng và đất nước nói chung.

Bước đầu hình thành Nhóm, ngoài hạt nhân là ông Phan Chánh Dưỡng còn có sự ủng hộ của ông Võ Trần Chí khi ấy đang làm Bí thư Quận 5- một người cầu thị, trân trọng trí thức, trong giao tiếp không bao giờ nói chuyện đao to búa lớn.

Ông Chí cũng nhận ra rằng không dễ dàng khai thác kiến thức của những người trí thức. Muốn anh em đóng góp thì phải tạo cho họ có được cảm giác tự do, không một mảy may gò bó. Cũng trong tư cách một người anh, ông chấp nhận ngay cả việc anh em có thể nói sai, cho rằng đó chẳng qua vì anh em chưa hiểu thấu đáo, lần lần rồi cũng sẽ hiểu ra. Chính sự bao dung đó đã thuyết phục được anh em.

Thời gian này, Nhóm Thứ Sáu sinh hoạt định kỳ ba lần một tuần tại Cholimex vào thứ Hai, thứ Tư và thứ Sáu, gặp gỡ nhau để bàn bạc, tranh luận. Đó vừa là cơ hội để kết thân vừa giải toả được mặt cảm nên ai cũng thấy rất vui, dần dần trở thành nhu cầu mà tuần nào không gặp nhau là cảm thấy như thiếu điều gì đó, một thứ thiếu vắng không có tên gọi.

Giai đoạn 1986-1990: Những công trình nghiên cứu

Sau mấy năm sinh hoạt tại cơ ngơi của Mạnh Thường Quân Cholimex, cùng nhau mổ xẻ một số vấn đề gay gắt trong đời sống kinh tế xã hội, cho đến một lúc họ bỗng giật mình nói với nhau: Cả Nhóm ngồi lại nhiều năm nói chuyện trên trời dưới đất nhưng nếu ai đó không hiểu thì lôi thôi, không chừng lại bị “hỏi thăm”.

Suy nghĩ này được ông Phan Chánh Dưỡng đề đạt lên ông Võ Trần Chí khi đó đang làm Bí thư Thành uỷ: nếu thấy tin cậy được thì đề nghị cấp cho một giấy chứng nhận hợp thức hoá sự tập hợp trí thức cũ. Rất may, do quá trình hiểu biết anh em nhiều năm, ông Võ Trần Chí đồng ý và giao nhiệm vụ này cho ông Năm Ẩn, lúc đó là Trưởng ban Kinh tế Thành uỷ.

Thế là một danh sách 24 người được gửi lên cho lãnh đạo, anh Năm Ẩn ký giấy xác nhận danh sách “Nhóm nghiên cứu chuyên đề kinh tế của Thành uỷ”. Đây không phải là giấy khai sinh mà chỉ là tấm lá chắn nhưng cũng đã đánh dấu thời điểm “hợp pháp” từ tháng 10 năm 1986.

Bắt đầu từ đấy, nhóm trí thức cũ sinh hoạt định kỳ hàng tuần, vẫn tại Cholimex và hoàn toàn có tính tự nguyện. Cũng từ đó các lãnh đạo thành phố như các ông Võ Trần Chí (Hai Chí), Nguyễn Vĩnh Nghiệp (Sáu Tường), Năm Ẩn, Tư Triết, Phạm Chánh Trực (Năm Nghị) thỉnh thoảng xuống tham dự hội họp với họ.

Cái tư cách pháp nhân lưng chừng ấy cũng đã khiến nhóm nhân sĩ này nghĩ đến một cách sinh hoạt có tính chủ đề hơn. Vì vậy đây chính là thời kỳ hình thành nhiều công trình nghiên cứu có tính bài bản của nhóm. Có thể kể ra đây một số công trình nghiên cứu được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, qua đó tâm huyết của anh em đã có cơ hội góp phần vào việc hình thành chính sách của nhà nước sau này.

  1. Nghiên cứu về Giá – Lương – Tiền:

Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên được thực hiện rất bài bản. Có mô tả hiện trạng, có phản biện, có cơ sở lý luận và chuẩn bị bảo vệ ý kiến của mình.

Bài toán giá – lương – tiền được mổ xẻ thấu đáo mà đáp số của nó theo quan điểm của nhóm có cự ly rất xa với nhận định của các nhà lập chính sách ở Trung ương vào lúc ấy. Sau nhiều tuần cọ xát quan điểm, anh em hoàn thành bản nghiên cứu về giá – lương – tiềm thì vào cuối năm 1986 ông Phạm Chánh Trực viết thư giới thiệu công trình này với ông Võ Văn Kiệt lúc ấy đang làm Chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước và đề nghị ông trực tiếp nghe anh em trình bày.

Các ông Phan Chánh Dưỡng, Huỳnh Bửu Sơn, Trần Bá Tước ra Hà Nội báo cáo đề tài này với các chuyên viên cấp cao của Chính phủ, buổi làm việc do ông Sáu Dân chủ trì, Đề tài nghiên cứu này có tính thuyết phục, được các chuyên viên như ông Trần Đức Nguyên, Vũ Quốc Tuấn, Lê Đăng Doanh đánh giá cao. Trước khi trở về thành phố Hồ Chí Minh, các anh Dưỡng, Sơn, Tước còn được ông Nguyễn Cơ Thạch (lúc ấy là Bộ trưởng Ngoại giao) mời trình bày đề tài này và cũng được ông đánh giá cao.

  1. Nghiên cứu đề tài Cải tổ Ngân hàng:

Sau chuyến thuyết khách ở Hà Nội, Nhóm Thứ Sáu nắm bắt thêm thực tế và phát hiện ra rất nhiều nghịch lý trong điều hành vĩ mô. Một trong những vấn đề đó là hoạt động thiếu hiệu quả của hệ thống ngân hàng của thời kế hoạch hoá tập trung. Đề tài này do hai ông Huỳnh Bửu Sơn và Lâm Võ Hoàng là những người có kinh nghiệm thực tiễn nhiều năm trong lĩnh vực ngân hàng chủ trì.

Nghiên cứu của họ đi sâu vào cơ thể dị dạng của hai bộ phận Ngân hàng và Tài chính dính chặt vào nhau, sự bất hợp lý trong điều hành chính sách tiền tệ và đề xuất một cơ chế hoạt động cho Ngân hàng theo hướng kinh tế thị trường. Đề tài nghiên cứu này cũng được Chính phủ quan tâm, những suy nghĩ và đề xuất của các thành viên trong Nhóm dường như có sự lan toả cho nên vào năm 1988, khi Chính phủ chẩn bị Pháp lệnh Ngân hàng, hai ông Lâm Võ Hoàng và Huỳnh Bửu Sơn đã được mời tham gia vào việc soạn thảo.

  1. Nghiên cứu phát triển Ngoại thương:

Đây là đề tài nghiên cứu khá gay gắt bởi vào thời điểm ấy thành phố Hồ Chí Minh chủ trương cho các công ty xuất nhập khẩu tự cân đối tài chính. Đề tài này làm rõ chủ trương vừa nói là sai lầm vì đó chính là một trong nguyên nhân đẩy giá cả tăng lên.

Do được quyền tự cân đối nên các công ty xuất nhập khẩu mua nông sản với bất cứ giá nào bất chấp giá thị trường để xuất khẩu, rồi dùng ngoại tệ bán được để nhập khẩu bán lại cho trong nước với giá cao để kiếm lời mà Nhà nước không can thiệp vào. Do tự cân đối mà giá cả nông sản tăng keo theo hàng công nghệ phẩm lên giá, góp phần làm tăng áp lực lạm phát.

  1. Đề tài Kinh tế vùng:

Đề tài này được giao cho ông Nguyễn Ngọc Hồ chủ trì và được bản thảo lâu nhất, kéo dài khoảng nửa năm. Công trình này được ông Lê Văn Triết lúc bấy giờ là Thứ trưởng Thương mại đánh giá cao và sau đó góp phần vào việc hình thành chính sách.

  1. Công ty tư vấn Đầu tư và Khu chế xuất:

Vào năm 1987, dưới tác động của chính sách mở của, Nhóm tập trung thảo luận về khả năng thu hút đầu tư nước ngoài và thống nhất thành lập Công ty tư vấn đầu tư (IMC). Đây là một chuyển biến quan trọng trong sinh hoạt của Nhóm, chuyển từ bàn bạc sang thực hiện. Ông Phan Chánh Dưỡng được giao làm Phó Giám đốc Công ty, nhưng sau đó do số cán bộ từ thành phố điều xuống áp dụng cách làm việc theo kiểu cũ nên vai tròg hạn chế, không phát huy được công năng của công ty. Vì vậy ông Dưỡng và một số anh em trong Nhóm từng bước rút lui khỏi công ty.

Năm 1989, ông Dưỡng đề nghị thành lập Hiệp hội Xuất nhập khẩu đầu tư (Infotra) và đề tài được anh em tập trung nghiên cứu là Khu chế xuất. Đây cũng là thời gian ông Dưỡng rút khỏi vị trí Giám đốc Cholimex và chú tâm vào việc biến công trình nghiên cứu trở thành hiện thực.

Có thể nói đây là công nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao vì sau đó nội dung này được áp dunhgj vào việc hình thành Khu chế xuất Tân Thuận dưới hình thức Công ty liên doanh trong đó anh Phan Chánh Dưỡng đại diện cho đối tác trong nước làm Phó Tổng Giám đốc. Và để thực hiện ý tưởng phát triển thành phố Hồ Chí Minh ra biển Đông, Công ty Phát triển Công nghiệp Tân Thuận sau đó được thành lập làm pháp nhân nghiên cứu và thực hiện các chương trình như đại lộ “Bắc Nhà Bè – Nam Bình Chánh” nay là đại lộ Nguyễn Văn Linh, khu đô thị mới Nam thành phố Hồ Chí Minh, Khu công nghiệp Hiệp Phước…

  • Mời theo dõi tiếp kỳ 2.
    [Tác giả: ĐÔNG HẢI]
    [link: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-04-06-duong-hoa-nhap-cua-nhung-nhan-si-che-do-cu]

Sở hữu sự khéo léo của nghệ thuật sắp đặt cùng với trí tưởng tượng và khả năng nắm bắt khoảnh khắc, nhiếp ảnh gia người Nga Stanislav Aristov đã chộp được những bức hình tuyệt đẹp từ que diêm.

Nhiếp ảnh gia 30 tuổi Stanislav Aristov khéo léo uốn cong que diêm để tạo hình trước khi châm lửa. Hình dạng của những que diêm cháy dở, hình ảnh ngọn lửa hay cách đám khói bốc lên tạo thành những hình thù đặc biệt, không khỏi làm người xem trầm trồ thán phục.

Ra mắt những ngày cuối tháng 12, bức ảnh chụp 7 que diêm đang cháy dở tạo thành hình cây thông Noel của Stanislav Aristov thực sự tạo ấn tượng mạnh đối với người xem.
Bức ảnh chụp 2 que diêm đang cháy tạo hình tháp Eiffel cũng là một trong những tác phẩm đáng chú ý của nhiếp ảnh gia trẻ tuổi người Nga.
Hình ngôi sao 5 cánh được tạo thành từ 5 que diêm cho người đọc thấy trí tưởng tượng phong phú của tác giả.
Cách thức duy trì giống nòi được tác giả khéo léo thể hiện bằng những que diêm đã tàn và ngọn lửa đang cháy dở.
Tuy nhiên, góp mặt nhiều nhất trong bộ ảnh của Stanislav Aristov chính là các tạo hình những loài động vật từ chính ngọn lửa vào khói từ mỗi que diêm. Hình ảnh chú bướm được tạo thành từ ngọn lửa lúc diêm bốc cháy.
Khói tỏa ra sau khi ngọn lửa tắt trở thành đôi cánh của chú chuồn chuồn nhỏ.
Con sâu được định hình từ những que diêm đang cháy dở.
Hình ảnh con nhện và chiếc thuyền buồm cho thấy sự tài tình của tác giả.
Hình ảnh một loài hoa mang tên Bulrushes và một chú ruồi đang bay.
Con thằn lằn và chú ốc sên đang trong tư thế di chuyển.

HỒNG DUY

Office 2013 full Crack + key bản quyền. Ngày 16/7, hãng phần mềm Mỹ tổ chức sự kiện tại San Francisco (Mỹ) để công bố một trong những sản phẩm quan trọng nhất của họ. Office 2013 có thiết kế trực quan và có thể hoạt động trên một loạt thiết bị Windows, trong đó có cả máy tính bảng.

Office 2013 full hỗ trợ cảm hỗ trợ cảm ứng đa chạm. Điểm đặc biệt của phiên bản mới là được cung cấp qua dịch vụ đám mây, thường xuyên được cập nhật, mang tính xã hội cao và được thiết kế phù hợp với các ngữ cảnh hiện đại trong việc đọc, ghi chép, hội họp, truyền thông.
Steve Ballmer, CEO của Microsoft nhấn mạnh rằng việc phân phối qua đám mây sẽ mang đến sự linh loạt cho cả khách hàng cá nhân và doanh nghiệp, nhất là khi kết hợp cùng với Windows 8. Trước đó, Kurt DelBene, Chủ tịch bộ phận Office, cũng tuyên bố số lượng người dùng Microsoft Office đã cán mốc 1 tỷ. Trên thế giới, cứ mỗi giây lại có một người mua một phiên bản Office 2010.
Office 2013 RT gồm Word, Excel, PowerPoint và OneNote mới nhất sẽ có mặt trên thiết bị chạy trên nền tảng Windows 8 ARM, trong đó có tablet Microsoft Surface. Hiện Office 2013 mới có bản duyệt trước tại Office.com/preview còn gói đầy đủ và giá cả sẽ được công bố trong mùa thu.

Giống như Windows 8, Office tương tác cảm ứng một cách tự nhiên. Người dùng có thể lướt ngón tay trên màn hình hoặc kéo, thay đổi kích cỡ để đọc các văn bản và thuyết trình. Họ cũng có thể tạo ra nội dung mới và tiếp cận các tính năng bằng các chạm ngón tay.

Office 2010 download mang tính xã hội cao, trong đó có Yammer là mạng xã hội có độ bảo mật cao dành cho doanh nghiệp và công cụ chat Skype. Khi đăng ký, người dùng sẽ được tặng 60 phút gọi toàn cầu mỗi tháng. Danh bạ Skype được tích hợp với Lync giúp gọi hoặc gửi tin nhắn tức thì tới bất kỳ ai trên Skype.

download
Bản 32 bit http://www.mediafire.com/?8sagwaus2u56u
Bản 64 bit http://www.mediafire.com/?8ky1wy5lb8c1d
hoặc

Bản 32 bit http://www.fshare.vn/file/T8PG7WKA6T/
Bản 64 bit http://www.fshare.vn/file/TYQGVBQ33T/

hoặc

Bản 32 bit http://share.vnn.vn/dl.php/11456369
Bản 64 bit http://share.vnn.vn/dl.php/11456368

Bản 32 bit http://t.co/MKK629es
Bản 64 Bit: http://t.co/D9OjSCXZ

32-bit:http://care.dlservice.microsoft.com/…_en-us_x86.exe
64-bit: http://care.dlservice.microsoft.com/…_en-us_x64.exe

key:
4N8CF-3M2CT-7TD3X-HP2K9-HB9TW
Y89N6-KWWJX-YHFVP-DWMGK-XKR9J
MT7NR-6GWBK-QGHBV-2YBFG-72V28

Office 2013 full Serial key bản quyền cho mọi HDH
Office 2013 Preview full 1link Download
Microsoft Office 2013 Customer Preview full link
Office 2013 full 1 link download tốc độ siêu khủng
[Từ internet]

 Nhà báo, chủ báo bị chụp mũ, vu khống, sỉ nhục, bị đánh đập dã man hoặc thủ tiêu, ám sát. Tòa soạn báo bị côn đồ khủng bố, đốt cháy, bao vây gây náo loạn cả năm trời. Nhiều người bị ngăn cấm đọc báo, nghe đài… Đây là thực trạng nhức nhối, kéo dài suốt 37 năm qua, là “khổ nạn” của báo chí Việt trên đất Mỹ. Phan Nhật Nam – một cây bút chống cộng khét tiếng từ trước và sau năm 1975, phải cay đắng thốt lên: “Những người làm văn, làm báo ở đây (Mỹ) đang phải chịu đựng một áp lực tồi tệ”… (Phan Nhật Nam trả lời Lệ Hằng – đã đăng trên nhiều trang web). Nhà văn Nhật Tiến thì than thở: “Không có đủ tự do cho những người cầm bút ở hải ngoại…” (trích từ “Sống và viết trên đất Mỹ” – Thế Uyên tháng 4-1998, đã đăng trên “Tiền vệ”). Tại sao trên xứ sở tự do như Hoa Kỳ lại có chuyện đàn áp báo chí khốc liệt như vậy?

Kỳ 1: VÀI NÉT LỊCH SỬ BÁO VIỆT TRÊN ĐẤT MỸ

Ngày 30-4-1975, kết thúc sự tồn tại của chính thể Việt Nam cộng hòa (VNCH). Hai ngày sau, tại đảo Guam, tờ báo đầu tiên của người Việt tại Mỹ ra đời với tên gọi Chân trời mới. Tại thời điểm đó, trên đảo Guam có hơn 100 ngàn người Việt (gồm binh lính, sĩ quan, công chức chế độ VNCH vừa sụp đổ) được máy bay, tàu chiến bốc ra đang chờ sang Mỹ định cư.

Ồ ẠT RA ĐỜI RỒI… CHẾT YỂU!

Tờ Chân trời mới mỗi tuần ra năm số, mỗi số phát hành từ 5 – 10 ngàn bản. Đến cuối tháng 10-1975, tờ báo này cũng đóng cửa theo trại tạm cư Guam (theo BBC ra ngày 18-4-2005).

Tiếp đó, trong cộng đồng người Việt di tản trên đất Mỹ ra đời thêm một số tờ báo như: Đất mới (7-1975), Đất lành (8-1975), Văn nghệ tiền phong (11-1975), Tin yêu (2-1976), Việt báo (7-1976)… Tổng cộng trong hai năm 1975 – 1976 có tới 45 tờ báo Việt ra đời.

Những năm sau đó, cùng với làn sóng người Việt ồ ạt nhập cư vào Mỹ, báo chí (bao gồm báo in, truyền hình, truyền thanh và Internet) tiếng Việt càng nảy nở nhộn nhịp. Đến nay – 37 năm hình thành cộng đồng Việt tại Mỹ, đã có hàng trăm cơ sở báo chí ra đời hoặc… biến mất. Nhiều tờ báo khai trương ồn ào, phát hành được… một số rồi “tắt”. Như tờ Tin Văn của Hoàng Dược Sư ra một số duy nhất vào tháng  9-1975 với 15.000 bản in, sau đó… hết vốn, đóng cửa. Tờ Quê Hương của Du Tử Lê cũng đoản mệnh sau khi số thứ hai được phát hành. Có tờ như KBC Hải ngoại chết đi sống lại không biết bao nhiêu lần và mỗi lần “tái sinh” lại có một chủ mới…

Sở dĩ có tình trạng lạ lùng kể trên là vì ở Mỹ muốn ra một tờ báo rất dễ, dễ đến mức ai cũng có thể là chủ báo, nhà báo. Có người ví von: “Làm báo ở Mỹ dễ hơn lái xe. Bởi lái xe còn đòi hỏi bằng cấp, làm báo chẳng cần bằng cấp…”. Cũng có những người Việt tốt nghiệp các khoa, trường đào tạo báo chí của Mỹ nhưng hầu hết không tham gia làm báo Việt bởi thu nhập thấp và tương lai bấp bênh. Họ làm việc cho các cơ quan truyền thông của Mỹ. Có những tờ báo chỉ một người làm, “công nghệ” chính là cắt, dán. Cứ lấy tin báo khác đưa sang báo của mình, chẳng cần tính đến bản quyền. Báo loại này chỉ sống nhờ quảng cáo. Báo in xong, đem đi cho là chính. Trên trang web BBC tiếng Việt ngày 22-7-2007 đăng ý kiến của một độc giả người Việt ở Mỹ: “Ở Cali quơ tay là có hàng chục tờ báo (tiếng Việt) rơi rớt trong các tiệm phở, ngõ ngách các khu chợ, siêu thị. Chục tờ như một toàn nhai đi nhai lại, copy trên mạng, kể cả các “tin Việt Nam” đều từ các báo điện tử Việt Nam mà ra… Đa số “báo chợ” không có một phóng viên, chỉ có vài người lên mạng “sao y bản chính”. Nhà báo kỳ cựu Sơn Điền – Nguyễn Viết Khánh từng viết về một kỷ niệm buồn với báo Việt ở Mỹ: “Tình cờ ra chợ, thấy chồng báo để dưới đất cho thiên hạ lượm. Những tờ báo trang trọng đẹp đẽ, trong đó có biết bao tâm tư trí não đã gửi gắm thành văn bị chà đạp bởi bước chân vô tình của khách qua đường…”. Nhà báo Nguyễn Ngọc Bích (Giám đốc chương trình Việt ngữ đài CATD) trong bài “Người Việt hải ngoại và công tác truyền thông hải ngoại”, cho biết: “Báo Việt ngữ ở hải ngoại phần lớn (95 – 98%) là báo của một gia đình. Vợ chồng với đôi ba người thân phụ giúp… Các tin có thể viết dông dài, văn bất thành cú mà vẫn được đăng vì tờ báo có nhiều chỗ trống cần trám hoặc vì là chỗ quen biết… Đây là cách làm báo tiểu công nghệ”…

Ra một tờ báo quá dễ như vậy nên báo Việt ở Mỹ nhiều đến mức không đếm xuể. Cây bút chống cộng Phan Nhật Nam trong lần trả lời phỏng vấn Lệ Hằng, đã mỉa mai: “Chỉ riêng vùng Orange County (Nam California – USA) đã có hơn 200 hội đoàn, số lượng báo cũng xấp xỉ như nhu cầu hội đoàn này…”. Trong bài nói chuyện tại trụ sở cộng đồng Dallas ngày 12-11-2005, nhà báo Phan Thanh Tâm cho biết: “Có người ví trên trời có bao nhiêu ngôi sao thì quận Cam (nơi có đông người Việt định cư) có bấy nhiêu tờ báo. Tờ này chết, tờ khác phanh ngực tiến lên…”. Trong bài “Người Việt hải ngoại và công tác truyền thông đại chúng”, nhà báo Nguyễn Ngọc Bích có cùng quan điểm: “Riêng vùng tôi ở, Washington D.C và ngoại ô Virginia và Maryland, có chừng 60 ngàn người Việt Nam, mà có đến hơn mười tờ tuần báo (Việt ngữ) ra hàng chục năm nay. Nếu mỗi tờ in 3.000 bản mỗi tuần, thì ta cũng có con số 30 nghìn bản các loại một tuần. Có nghĩa là cứ hai người Việt từ tuổi sơ sinh đến lúc bạc đầu thì đã có một tờ báo Việt ngữ để đọc một tuần… Rất nhiều người thuộc lòng những giờ báo được phát đến các cơ sở thương mại, để nhanh chân đến đó lấy trước khi người ta lấy hết…”.

Trang web Bulletin ngày 13-6-2005, đăng phát biểu của tác giả Phạm Nam Vinh: “Ở thủ đô tị nạn này (quận Cam – California) chẳng mấy ai quan tâm đến sự báo này vừa ra, báo nọ âm thầm lặng lẽ đóng cửa. Có khi cầm một tờ báo trên tay mà chẳng biết nó ra hàng tuần hay nửa tháng, hay một tháng, ba tháng. Có tờ tìm đỏ con mắt không biết chủ nhiệm, chủ bút, ban biên tập là những ai. Ngay đến địa chỉ báo quán ở đâu cũng chẳng thấy nữa…”. Mỹ là xứ sở phát triển khoa học kỹ thuật bậc nhất thế giới. Nhưng hơn mười năm sau khi ra đời, báo Việt ngữ ở Mỹ sau khi in xong phải bỏ dấu bằng tay, trông lem luốc. Đến đầu những năm 90 thế kỷ 20, kỹ sư Hồ Thành Việt của Công ty VNI cho ra đời phần mềm tiếng Việt, nhờ đó báo Việt ở hải ngoại mới thoát được nạn “bỏ dấu bằng tay”!

“THÀ Ở TÙ CHỨ KHÔNG… ĐI LÀM BÁO!”
Tình hình báo chí đã buồn, nghề báo trong cộng đồng Việt ở Mỹ cũng hiu hắt không kém. Theo tìm hiểu của các tác giả loạt bài này, nhuận bút trung bình của một bài báo trên báo chí Việt ngữ  hiện cỡ 25USD (thấp hơn nhiều so với nhuận bút các báo trong nước đang trả). Dù ít ỏi, nhưng không phải báo nào cũng trả nổi. Chuyện chủ báo quỵt nhuận bút của nhà báo không hiếm xảy ra. Trên tờ Việt Fun ra gần đây, trong bài “Vui buồn đời viết báo hải ngoại”, tác giả Hà Đình Trung viết: “Phần lớn báo Việt ngữ ở hải ngoại đều phải dựa vào quảng cáo để sống. Trong vùng Bắc Cali (USA) có mấy chục tờ báo, đa phần đời sống của chủ báo cũng bấp bênh nói gì đến những tay ký giả làm công cho chủ báo. Người ký giả chuyên nghiệp sống nhờ vào nhuận bút, nhưng thành thật mà nói, từ trước đến nay có bao nhiêu ông chủ báo làm tròn nghĩa vụ cao cả này. Chi phí công tác không được chủ báo trả, đã vậy có người ba năm không được trả lương, nhuận bút. Nhưng nhục nhất là đi xin quảng cáo… bởi vậy có người vừa dí dỏm vừa cường điệu nói với nhà báo Thanh Thương Hoàng rằng – Nếu phải chọn giữa ở tù và làm báo, tôi thà đi tù…”. Trong giới ký giả Việt ở Mỹ, thường có câu đùa chua xót: “Ghét đứa nào cứ cho nó đi làm báo”…

Một “đặc tính” nữa của báo Việt ở Mỹ là “chửi”. Thời kỳ đầu là chửi bới quê hương, sau đó là chửi lẫn nhau giữa các báo với các báo, đài với đài, hội đoàn với hội đoàn và các cá nhân với cá nhân. Chửi xong lại kiện nhau ra tòa. Nhà báo Phan Thanh Tâm trong bài “Báo chí hải ngoại” (đã trích dẫn ở trên), viết: “Tuy sinh hoạt đã 30 năm, có lập hội ký giả, báo Việt ngữ vẫn chưa bao giờ có một làng báo… Đây là một tập thể phức tạp nhất. Không có làng nên không có lệ, không có quy ước. Nhiều vụ kiện tụng vì phỉ báng, chụp mũ đã xảy ra… Ngày 9-9-1993, hơn 100 nhà văn, nhà báo đã gửi một thư ngỏ đến quý vị chủ nhiệm báo, giám đốc truyền thanh, truyền hình yêu cầu các cơ quan truyền thông khi chỉ trích ai nên tôn trọng quyền trả lời của người bị chỉ trích…”.

Trên trang web Dân kêu ra ngày 29-1-2012, trong bài “Tú gàn – ông là ai?”, tác giả Nguyễn Văn Lục kết luận: “Truyền thông báo chí hải ngoại được tự do viết. Nhưng học đòi dân chủ, tự do không xong. Tự do biến thành tự do chửi, chửi vung vít, chửi bất cứ ai mình muốn chửi. Báo chí tự biến thành “báo bẩn” vì “chửi”… Cũng vì “đặc tính chửi” quá phổ biến trên báo Việt ở Mỹ nên ông Nguyễn Cao Kỳ – nguyên phó tổng thống VNCH lúc còn sống, phải than rằng: “Báo chí trong nước ngày càng hay, trong khi báo chí hải ngoại ngày càng tồi tệ” (trích từ sách “Tường trình cùng đồng bào trong nước” – xuất bản tại Mỹ 1998, trang 54).

Tuy gặp nhiều khó khăn như vậy, nhưng báo Việt ở Mỹ sẽ “dễ thở” hơn rất nhiều nếu như không có kềm kẹp, đàn áp man rợ của các tổ chức phản động lưu vong. Bọn khủng bố báo chí này thường xưng danh “Tập thể quân lực VNCH”, “Chánh nghĩa quốc gia”, “Kháng chiến phục quốc”, “Bảo vệ cờ vàng”… để bóp nghẹt tự do báo chí. Thế Uyên – một cây bút chống cộng thâm độc từ thập niên 60, 70 ở Sài Gòn, nay sang Mỹ tiếp tục đời viết văn, làm báo. Dù đã có “số má” như vậy, nhưng Thế Uyên vẫn không thoát khỏi “vòng kim cô” của lực lượng áp bức báo chí. Trong bài “Sống và viết trên đất Mỹ”, đăng trên tờ Tiền vệ tháng 4-1998, Thế Uyên cay đắng, uất hận kể: “Những môn đệ còn theo trường phái chống cộng cổ điển ở Mỹ ép buộc cộng đồng hải ngoại phải chấp nhận những tiền đề chính trị xã hội chẳng liên quan gì đến thực tại Việt Nam. Ai mà không chịu phát ngôn theo các tiền đề đó thì trước sau cũng bị chụp mũ, đả kích thậm tệ, biểu tình và tẩy chay. Và nếu là người cầm bút thì còn bị đánh trọng thương, bị đốt chết, bắn chết…”.
[http://www.congan.com.vn/?mod=detnews&catid=942&p&id=466363http://www.congan.com.vn/?mod=detnews&catid=942&p&id=466363]

Phá cáp, Trung Quốc có ý đồ gì?

Sau khi cho lưu hành “hộ chiếu lưỡi bò”, một nhóm tàu đánh cá Trung Quốc đã vây quanh và gây đứt cáp tàu Bình Minh 02 khi tàu này đang làm nhiệm vụ trong vùng biển gần đảo Cồn Cỏ của Việt Na

(ĐVO) Đây không phải là lần đầu tiên phía Trung Quốc ngang ngược, trắng trợn lộng hành và gây hấn với các tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam.

Năm 2011, tàu Bình Minh 02 và Viking II bị gây đứt cáp ngay trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam. Sự việc này tiếp tục tái diễn trong năm nay.

 

Để giúp độc giả hiểu rõ hơn về tính chất sự việc, Đất Việt đã có cuộc phỏng vấn với nhà nghiên cứu Dương Danh Huy (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông) về vấn đề này.

PV – Thưa ông, tàu Bình Minh 02 bị gây đứt cáp ở vị trí như thế nào?

Ông Dương Danh Huy – Trong khu vực tàu Bình Minh 02 bị gây đứt cáp, tức là ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, chưa có ranh giới đường đặc quyền kinh tế (EEZ) giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nhưng so với đường trung tuyến giữa Việt Nam và đảo Hải Nam, không tính quần đảo Hoàng Sa, điểm này cách 20 hải lý về phía Việt Nam. Điểm này nằm cách xa Hoàng Sa, và cũng cách xa vạch đầu tiên của đường chữ U về phía Bắc.

– Theo ông, mục đích đằng sau sự việc này là gì? Hành động gây đứt cáp này có vi phạm luật pháp quốc tế không?

Hiên nay Việt Nam và Trung Quốc đang đàm phán phân định và hợp tác cho vùng biển này. Khả năng là Trung Quốc không muốn phân định, vì một ranh giới hợp lý ở vùng này sẽ là một thách thức cho đường chữ U, và như thế thì họ sẽ muốn đẩy đàm phán về hướng cùng khai thác. Có thể đây là cách của Trung Quốc để gây áp lực lên Việt Nam trong đàm phán.

Nhưng nếu thực tế là tàu cá Trung Quốc đang lộng hành trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam thì không cần mục đích trên cũng có thể có sự việc này.

Ngày 5/6/2011 thì tàu cá Trung Quốc gây đứt cáp tàu Viking II ở vùng Nam Côn Sơn. Có vẻ như tàu cá Trung Quốc đang lộng hành từ cửa Vịnh Bắc Bộ đến Nam Côn Sơn. Dĩ nhiên là điều đó có gây tổn hại cho ngư dân Việt Nam.

Việc gây thiệt hại kinh tế cho Việt Nam và cản trở hoạt động kinh tế của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế là vi phạm UNCLOS 1982. Ngoài ra, Tổ chức Hàng hải Quốc tế của Liên Hợp Quốc, mà Việt Nam và Trung Quốc là thành viên cũng có “Công ước phòng ngừa đâm, va trên biển” (COLREGs) với mục đích tránh va chạm trên biển. Nhiều khả năng, các tàu cá Trung Quốc đã cố ý gây va chạm và vi phạm Công ước đó.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lương Thanh Nghị cho biết, ngày 3/12/2012, đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp đại diện Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội trao công hàm kiên quyết phản đối những việc làm nói trên của Trung Quốc, yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, chấm dứt ngay những việc làm sai trái đó và không để tái diễn những hành động tương tự.Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gửi công hàm một ngày trước đó để phản đối Trung Quốc về những hành động sai trái gần đây, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam.

Theo TTXVN

– Thông thường, Trung Quốc gây hấn với Việt Nam từ khoảng tháng 5 tới tháng 8 hàng năm, bắt đầu bằng lệnh cấm đánh bắt cá. Năm nay việc gây đứt cáp diễn ra vào cuối năm, nhất là sau khi Hội nghị thượng đỉnh ASEAN mới kết thúc. Có điều lạ gì ở đây không?

 

– Lệnh cấm đánh cá mùa hè, bản thân nó là một cách của Trung Quốc để gây hấn, nhưng sự thật là Trung Quốc gây hấn với ngư dân Việt Nam quanh năm. Tương tự việc Trung Quốc cản trở và phá hoại các hoạt động dầu khí của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế của chúng ta cũng không hề đợi đến mùa hè. Hiện nay, Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN vừa kết thúc. Có thể Trung Quốc tính toán rằng những lời phản đối sẽ bị cân bằng phần nào bởi những ngôn từ ngoại giao của sự kiện.

–  Đây là lần thứ 2 tàu Bình Minh 02 bị gây đứt cáp, liệu sự việc này có trở thành “thông lệ”? Việt Nam cần làm gì?

– Việt Nam phải bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế của mình. Bộ Ngoại Giao Việt Nam cần có một trang mạng về chuỗi các sự kiện tàu Trung Quốc gây hấn với tàu Việt Nam, có đầy đủ thông tin cho thế giới và người Trung Quốc. Việt Nam cần phải phản đối Trung Quốc và đòi bồi thường thiệt hại và cũng phải đưa vấn đề ra các diễn đàn quốc tế.

>> GS Carl Thayer: ‘VN nên có dấu riêng đặc trị ‘hộ chiếu lưỡi bò’
>> Việt Nam từ chối hộ chiếu ‘lưỡi bò’
>> Hộ chiếu ‘lưỡi bò’: Làm phiền láng giềng
>> Đài Loan phản đối hộ chiếu ‘lưỡi bò’ của Trung Quốc
>> Trao công hàm phản đối TQ in hình lưỡi bò trên hộ chiếu
>> Biên phòng Việt Nam đóng dấu ‘hủy’ vào ‘hộ chiếu lưỡi bò’

>> Tủ sách biển Đông: Biển xanh màu lá
>> Tủ sách biển Đông: Những yêu sách đối kháng của Việt Nam và Trung Quốc ở khu vực bãi ngầm Tư Chính và Thanh Long trong biển Đông
>> Tủ sách biển Đông: Chủ quyền quốc gia Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa
>> Tủ sách biển Đông: Bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam
>> Tủ sách biển Đông: Xung đột trên Biển Đông: không còn là nguy cơ tiềm ẩn
>> Tủ sách biển Đông: Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
>> Tủ sách biển Đông: Bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam
>> Tủ sách biển Đông: Hoàng Sa – Trường Sa, Lẽ phải thuộc về chúng ta
>> Tủ sách biển Đông: Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông
>> Tủ sách biển Đông: Hoàng Sa – Trường Sa, luận cứ & sự kiện
>> Tủ sách biển Đông: Biển Đông và hải đảo Việt Nam
>> Tủ sách biển Đông: Tôi kể em nghe chuyện Trường Sa

Đài Trang thực hiện

– Những người cầm lá phiếu bỏ phiếu tín nhiệm vì lợi ích cá nhân hay vì cái ghế mình đang ngồi thì chế độ sẽ suy vong – Chủ tịch nước Trương Tấn Sang khẳng định. 

Ngày 26/11, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cùng tổ đại biểu Quốc hội số 1 đã có buổi tiếp xúc cử tri quận 1, TP.HCM.

Đừng để dân mất lòng tin 

Tháng 6 năm sau, Quốc hội sẽ tiến hành bỏ phiếu tín nhiệm đối với các nhân sự cấp cao của Chính phủ và Quốc hội. Hầu hết các ý kiến của cử tri đều bày tỏ vui mừng trước thông tin Quốc hội thực hiện lấy phiếu tín nhiệm đối với những người giữ chức vụ do Quốc hội hoặc HĐND bầu hoặc phê chuẩn.

Tuy nhiên, họ cho rằng, trong 3 mức độ để đánh giá cán bộ là “tín nhiệm”, “tín nhiệm cao” và “tín nhiệm thấp” thì những người bỏ phiếu thường có tư tưởng “dĩ hòa vi quý” sẽ bỏ phiếu ở mức độ “tín nhiệm” vì không ảnh hưởng đến ai. Cử tri yêu cầu người bỏ phiếu tín nhiệm cần tập trung và thể hiện rõ quan điểm của mình, không bị chi phối bởi người khác và không thiên vị cho bất cứ ai.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Không ai có quyền đoán cấm báo chí chống tham nhũng. Ảnh: Tá Lâm

Cử tri Phạm Thị Nga (phường Bến Thành) cho rằng, việc bỏ phiếu tín nhiệm rất được lòng tin của người dân. Tuy nhiên, bà băn khoăn, trong thực tế bỏ phiếu tín nhiệm còn thể hiện sự vận động, có thể xảy ra mua chuộc, tiêu cực, mua lá phiếu tín nhiệm.

Trả lời cử tri, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho biết, việc lấy phiếu tín nhiệm hàng năm đối với các nhân sự cấp cao là một việc làm cụ thể trong tổng thể những giải pháp chống tham nhũng. “Việc này nếu làm tốt, đúng đắn, hiệu quả thì chắc chắn sẽ xoay chuyển tình thế”, ông Trương Tấn Sang nói.

Chủ tịch nước nhấn mạnh, mỗi người cầm lá phiếu phải có trách nhiệm đầy đủ, khách quan, công tâm, vì sự nghiệp của đất nước chứ không phải vì lợi ích cá nhân hay vì cái ghế của mình đang ngồi.

“Nếu vì cái ghế mình đang ngồi thì chế độ sẽ suy vong. Muốn chế độ vững bền thì người cầm lá phiếu phải đầy trọng trách”, ông khẳng định.

Theo Chủ tịch nước, chất lượng lá phiếu phụ thuộc vào người đại biểu Quốc hội.

“Cử tri là những người bầu ra đại biểu Quốc hội nên cử tri cũng phải có trách nhiệm đòi hỏi đại biểu làm đúng ý chí của mình. Còn nếu không thực hiện ý chí đó là không còn tư cách đại biểu nữa. Tôi hy vọng rằng, các vị đại biểu Quốc hội, đại biểu HĐND trên cả nước đừng để mất lòng tin của dân khi họ đã bỏ phiếu cho mình”, ông nói.

Không ai có quyền cấm báo chí chống tham nhũng 

Ngoài bỏ phiếu tín nhiệm, vấn đề chống tham nhũng một lần nữa được cử tri quận 1 bức xúc gay gắt. Họ cho rằng, Quốc hội đã nhất trí thành lập Ban chỉ đạo TƯ về phòng chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị, do Tổng bí thư đứng đầu, liệu có làm an lòng dân không, bởi vì từ trước đến nay “nói hoài, nói mãi” mà vẫn không đẩy lùi được.

Cử tri Nguyễn Thị Hiệp (phường Bến Thành) nhắc lại lời Chủ tịch nước khi trả lời cử tri quận 1 trong một lần tiếp xúc trước đây rằng, vấn nạn tham nhũng chỉ là “con sâu làm rầu nồi canh”. “Nhưng hôm nay, vấn nạn này đã phổ biến, không còn là con sâu làm rầu nồi canh nữa mà là nồi canh sâu. Chủ tịch nước có biện pháp gì để giải quyết vấn đề này?”, cử tri Hiệp nói.

Hay như cử tri Trần Văn Lân cho rằng, “nhóm lợi ích” cũng là biểu hiện của tham nhũng. Tuy nhiên, cách xác định “nhóm lợi ích” này chưa được cụ thể hóa. “Tôi đề nghị, khoa học hóa nhóm lợi ích để bắt bệnh”, ông Lân nói.

Còn cử tri Phạm Thị Nga (phường Bến Thành) đề nghị, nên rộng mở quyền cho báo chí viết bài về chống tham nhũng. “Nếu phát hiện thấy tham nhũng, tiêu cực thì Đảng và Nhà nước phải tiếp thu và có biện pháp xử lý ngay”, bà Nga nói.

Trả lời cử tri, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho biết, kênh thông tin báo chí rất quan trọng trong việc phát hiện những vụ tham nhũng, lãng phí. “Gần đây, tôi nghe anh em than vãn là kênh này không được coi trọng lắm và cũng nghe nói, đồn thổi ông A, ông B, ông C ra lệnh cấm đoán. Không ai có quyền. Nếu cấm là phải nhân danh cái gì và phải căn cứ đạo luật nào đã quy định thì mới được quyền”, Chủ tịch nước khẳng định.

Còn những trường hợp đấu tranh, tố cáo tham nhũng bị trù úm, trù dập, ức hiếp, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho rằng, trong trường hợp đó phải đấu tranh lại. “Người ta có thể trù úm một người, một nhóm người chứ không thể trù úm cả dân tộc này”, Chủ tịch nước nhắc lại.

Tá Lâm

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/98526/-bo-phieu-vi-cai-ghe–che-do-se-suy-vong-.html