Tag Archive: đoạn


Vắng phản biện, cạnh tranh dễ độc đoán, chuyên quyền

Không có sự phản biện, sự cạnh tranh, Đảng dễ chủ quan, duy ý chí. Đường lối chính trị dễ bị sai lầm, hành động độc đoán, chuyên quyền, làm mất dân chủ trong xã hội và không bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, không bảo đảm và phát huy vai trò quản lý của Nhà nước.

Câu chuyện đổi mới, nâng cao phương thức lãnh đạo của Đảng là một trong những vấn đề “cốt tử” được bàn tại hội thảo “Đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta” sáng 31/1 ở Hà Nội.

Không lực lượng nào phản biện đủ mạnh

Một trong những vấn đề được xem là “cốt tử” được bàn tại hội thảo là câu chuyện đổi mới, nâng cao phương thức lãnh đạo của Đảng.

Nói như PGS.TS Lê Quốc Lý, Phó giám đốc Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, hiện Đảng cũng đang gặp khó khăn, thách thức không nhỏ ảnh hưởng đến uy tín chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn tại của chế độ. Đó là tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên dễ lộng quyền, lạm quyền, coi thường pháp luật. Đảng cũng đã coi trọng và tích cực khắc phục để loại trừ tình trạng này bằng nhiều biện pháp kiểm tra, giám sát.

PGS.TS Mạch Quang Thắng cũng từ Học viện bổ sung thêm, do đặc trưng “duy nhất” đó nên dẫn đến một nguy cơ: không có lực lượng nào phản biện với tư cách một tổ chức chính trị đủ mạnh.

Ông Thắng phân tích, dùng Mặt trận để phản biện là cần thiết song chưa có cơ chế nào cho toàn thể nhân dân phản biện. Không có sự phản biện, sự cạnh tranh, Đảng dễ chủ quan, duy ý chí. Đường lối chính trị dễ bị sai lầm, hành động độc đoán, chuyên quyền, làm mất dân chủ trong xã hội và không bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, không bảo đảm và phát huy vai trò quản lý của Nhà nước. Đặc biệt, quan điểm, đường lối của Đảng ít được cọ xát.

Sau khi trích dẫn văn kiện Đại hội Đảng về nguy cơ thoái hóa, biến chất trong đội ngũ, ông Thắng phân tích, các cảnh báo đó phản ánh tình hình thực trạng nguy hiểm cho Đảng.

“Chỉ những người có chức có quyền, những cán bộ, công chức nắm trong tay quyền, tiền, của cải thì mới có khả năng tham nhũng. Mà tuyệt đại đa số trong đó là đảng viên”, ông Thắng kết luận.

Theo TS Mạch Quang Thắng, sự suy yếu đó còn biểu hiện ở chỗ lòng tin của nhân dân với Đảng đã bị suy giảm.

PGS.TS Trần Khắc Việt (Học viện Xây dựng Đảng) phân tích, hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng với cơ quan nhà nước chưa thường xuyên, hiệu quả còn thấp. Việc xử lý các sai phạm của cán bộ, công chức chưa thật kiên quyết, nghiêm minh. “Phương thức lãnh đạo của Đảng với công tác cán bộ chậm đổi mới, quy trình phức tạp nhưng vẫn để lọt cán bộ không thật sự xứng đáng tham gia vào bộ máy lãnh đạo, quản lý của cơ quan nhà nước”, ông Việt cho hay.

Cũng theo ông Việt, tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm còn diễn ra ở nhiều nơi. Càng xuống dưới cơ sở thì tình trạng cấp ủy bao biện, làm thay việc của chính quyền càng thể hiện rõ. Còn nhiều trường hợp cấp ủy can thiệp sâu vào hoạt động của cơ quan điều tra, tố tụng, xét xử.

Trong tham luận công phu gửi hội thảo, GS Nguyễn Văn Huyên (nguyên Viện trưởng Viện Chính trị học) cảnh báo, Đảng cần xem lại cả về tâm lẫn tầm để xem liệu Đảng có đạo đức, văn minh, là trí tuệ, thiên tài.

Ông Huyên phân tích, một nguy cơ của đảng cầm quyền là dễ đi đến chuyên quyền, độc đoán. Khi có quyền, cá nhân đảng viên, người lãnh đạo dễ dàng tự thỏa mãn, dùng quyền lực thay cho chân lý, cho pháp luật trong chỉ đạo. Đặc biệt, việc ít chịu học tập, rèn luyện làm không ít người có chức quyền bị tụt hậu, trì trệ. Tất cả dẫn đến hạn chế tầm tư duy chiến lược, hoạch định chính sách, không theo kịp xu thế vận động, thậm chí còn bảo thủ làm kìm hãm tốc độ phát triển của xã hội.

Tranh cử, cạnh tranh bình đẳng

Sau khi chỉ ra hàng loạt nguy cơ nói trên, rất nhiều đại biểu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát và giám sát quyền lực trong thể chế chính trị một đảng. Đặc biệt, cần xây dựng một cơ chế cụ thể để đảm bảo vai trò giám sát của nhân dân.

Theo TS Tống Đức Thảo (Viện Chính trị học), một trong các quyền quan trọng thể hiện quyền lực thuộc về nhân dân là quyền được quyết định chọn lựa các đại diện thể hiện cho ý chí của mình, đi đôi với nó là quyền phế truất khi người được ủy quyền không thi hành đúng ý nguyện của dân chúng.

Theo ông Thảo, Đảng nên giới thiệu cán bộ của mình ra tranh cử, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng và để dân được quyền lựa chọn người đại diện. “Làm như thế không những Đảng nâng cao uy tín, tính chính đáng cho quyền lãnh đạo của mình mà còn tăng thêm sức mạnh cho dân để cùng tham gia xây dựng bộ máy nhà nước”, ông Thảo nhận xét.

ĐB Trần Đình Nghiêm nói rõ hơn, vấn đề kiểm tra, giám sát của Đảng cần có sự phối hợp chặt chẽ với công tác thanh tra của Chính phủ, công tác giám sát của QH, với MTTQ và các đoàn thể xã hội.

“Nhân dân phải được giám sát quyền lực thông qua các hình thức phổ biến nhất như bầu người đại diện, bãi miễn người đại diện trong các cơ quan quyền lực. Người dân cũng phải có quyền phản biện với Hiến pháp, pháp luật cũng như các chủ trương lớn của nhà nước và phải được quyền bày tỏ chính kiến về những vấn đề quốc kế dân sinh”, ông Nghiêm cho hay.

Nhân cơ hội đang sửa đổi Hiến pháp 1992, một số đại biểu đề xuất xúc tiến xây dựng luật về Đảng để đảm bảo tổ chức Đảng hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.

LÊ NHUNG (VIETNAMNET)

Trong mấy ngày gần đây, dư luận xôn xao về nghi án chuyển giá, trốn thuế của Coca Cola nhưng Coca Cola không phải trường hợp duy nhất.

Ngoài Coca Cola, có rất nhiều doanh nghiệp lớn khác cũng bị nghi chuyển giá, trốn thuế như Pepsico, Bảo Long, Adidas, Metro,…

Uống Coca Cola “làm nghèo” đất nước

Số liệu của Cục thuế TP HCM cho biết, Coca-Cola lỗ dài dài kể từ khi chính thức hoạt động tại Việt Nam đến nay.10 năm qua, số lỗ của Coca-Cola luôn ở mức trên 100 tỷ đồng/năm, có năm số lỗ chiếm gần 1/3 doanh thu.Năm 2011, tình hình có vẻ khá hơn, công ty này ‘chỉ còn’ lỗ 39 tỷ đồng.

Tuy nhiên, tính đến ngày 30/9/2011, Coca-Cola đã lỗ lũy kế 3.768 tỷ đồng – một khoản ‘lỗ sụ’.Không chỉ lỗ lớn, tính đến thời điểm cuối tháng 9/2011, Coca-Cola thậm chí đã ‘âm’ vốn chủ sở hữu đến hơn 800 tỷ đồng.Có nghĩa rằng, công ty này hiện chỉ đang ‘sống nhờ’ vào các khoản vay, kể cả vốn vay từ công ty mẹ, hoặc tiền của khách hàng…

 

Ông Lê Duy Minh, trưởng phòng kiểm tra thuế số 1 Cục Thuế TP.HCM, cho biết “bí quyết” để doanh nghiệp này có thể liên tục kê khai lỗ nằm ở chi phí nguyên phụ liệu, trong đó chủ yếu là hương liệu được nhập trực tiếp từ công ty mẹ với giá rất cao.

Trung bình chi phí nguyên phụ liệu chiếm trên 70% giá vốn, cá biệt năm 2006-2007 chi phí nguyên phụ liệu lên đến 80-85% giá vốn. Như năm 2010 chi phí do nhập nguyên vật liệu từ công ty mẹ lên đến 1.671 tỉ đồng trên doanh thu 2.329 tỉ đồng. Năm 2009 chi phí này là 1.065 tỉ đồng.

Pepsico ít “làm nghèo” hơn?

Trong khi đó, tình hình từ phía PepsiCo có vẻ có khả quan hơn, mặc dù, kể từ khi thành lập cho tới năm 2007, PepsiCo cũng lỗ liên tục (tới năm 2006 vẫn lỗ 122 tỷ đồng). Lỗ kéo dài từ năm 1991, nên trên bảng cân đối tài sản của PepsiCo, lỗ lũy kế tính đến ngày 31/12/2010 là 1.206 tỷ đồng.

Thực tế, năm 2009, PepsiCo đạt doanh thu 3.840 tỷ đồng, còn năm 2011 là 6.915 tỷ đồng. Tức là, tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu rất thấp, chỉ trên 2%.

Mặc dù lời lãi chẳng được bao nhiêu nhưng cũng giống như Coca Cola, PepsiCo vẫn liên tục khai trương các nhà máy mới ở Đồng Nai (45 triệu USD), và mới đây nhất là Bắc Ninh (73 triệu USD). Tổng vốn đầu tư của đại gia này tại Việt Nam cũng vào khoảng 500 triệu USD.

 

Tất nhiên, PepsiCo có cái lý của mình, bởi thực tế, mấy năm gần đây, dù ít, dù nhiều, doanh nghiệp này đã báo cáo lãi và dù lỗ lũy kế cũng đã lên tới hơn 1.200 tỷ đồng, nhưng trên bảng cân đối tài sản, công ty này vẫn “dương” khoảng 700 tỷ đồng. Còn Coca-Cola, đã “cụt cả vốn”, vậy đâu là động lực để doanh nghiệp này tiếp tục đầu tư ở thị trường Việt Nam?

Tất nhiên, “miếng bánh hấp dẫn” của thị trường Việt Nam là điều dễ hiểu. Nhưng khó hiểu ở chỗ, lẽ thường, không nhà đầu tư nào muốn dốc vốn vào một thị trường mà ở đó, họ liên tục kinh doanh thua lỗ.

Mặc dù cũng bị nghi án chuyển giá, trốn thuế nhưng Pepsico ít gây ồn ào hơn Coca Cola vì doanh nghiệp này đang làm ăn có lãi, và tỷ trọng hương liệu trong giá bán thành phẩm của công ty này cũng không lớn như của Coca Cola.

Kinh doanh kém hiệu quả, Adidas vẫn rầm rập đầu tư

Tổng cục Thuế vừa yêu cầu cơ quan thuế TP.HCM rà soát quan hệ giữa Adidas Việt Nam và một số công ty trong cùng hệ thống toàn cầu để xác định lại các khoản chi phí mà doanh nghiệp này khai báo khi tính thuế.

Yêu cầu này được đưa ra sau khi Cục thuế TP.HCM có văn bản xin ý kiến Tổng cục về chính sách thuế đối với Công ty Adidas Việt Nam.

 

Việc mở cửa hàng thứ 50 tại VN vào cuối năm 2011 (tại TP.HCM) cho thấy Adidas đang ăn nên làm ra tại Việt Nam.
Căn cứ theo báo cáo của Cục thuế TP.HCM và các quy định hiện hành, Tổng cục Thuế cho rằng các giao dịch giữa Adidas Việt Nam và một số công ty khác trong hệ thống toàn cầu có thể là các giao dịch liên kết (giao dịch giữa các bên có quan hệ điều hành, kiểm soát, góp vốn và đầu tư với nhau).

Do chưa có đủ căn cứ để kết luận, Tổng cục yêu cầu cơ quan thuế TP.HCM kiểm tra cụ thể mối quan hệ, các hợp đồng thương mại giữa Adidas Việt Nam và một loạt công ty khác trong cùng hệ thống của Adidas toàn cầu, cũng như các nhà bán lẻ. Các công ty này bao gồm Adidas AG (công ty mẹ), Adidas Singapore, Adidas International Trading B.V…

Khách kéo đến ùn ùn, siêu thị Metro vẫn chưa nộp một đồng thuế

Công ty TNHH Metro Cash & Carry VN (người dân gọi là siêu thị Metro), sau 11 năm mở rộng đến 19 trung tâm bán sỉ trên cả nước nhưng do lỗ nên đến nay cũng không nộp một đồng thuế thu nhập doanh nghiệp nào.

Theo thống kê của Cục Thuế TP.HCM, dù doanh thu tăng liên tục qua các năm nhưng kết quả kinh doanh của công ty này lỗ triền miên. Cụ thể, năm 2007 doanh thu đạt hơn 6.607 tỉ đồng, nhưng số lỗ là 157 tỉ đồng. Năm 2008 doanh thu vọt lên 8.175 tỉ đồng, số lỗ lên đến hơn 190 tỉ đồng. Năm 2009 doanh thu đạt 8.728 tỉ đồng, số lỗ cũng rất ấn tượng: 160 tỉ đồng.

 

Từ khi thành lập (2001) đến nay, chỉ duy nhất năm 2010 công ty này khai có lãi 116 tỉ đồng, nhưng do được chuyển lỗ của những năm trước đó nên đến nay doanh nghiệp này cũng chưa đóng một đồng thuế thu nhập doanh nghiệp nào. Đến năm 2011 Metro lại khai lỗ 89 tỉ đồng.

Trả lời câu hỏi liên tục thua lỗ như vậy thì vốn ở đâu để doanh nghiệp này tiếp tục đầu tư mở rộng trong khi chi phí đầu tư một trung tâm bán sỉ không hề nhỏ, lãnh đạo Cục Thuế TP.HCM cho biết Metro Cash & Carry VN giải trình rằng việc đầu tư dựa trên nguồn vốn vay từ một ngân hàng châu Âu và một tổ chức tài chính của Đức.

Về nghi án kê đội giá trang thiết bị để nâng khống vốn đầu tư, Cục Thuế TP.HCM cho biết việc nhập thiết bị lạnh Metro ký hợp đồng trực tiếp với một đối tác ở Hong Kong, Singapore chứ không thông qua công ty mẹ và cũng không nhập khẩu từ công ty mẹ. Riêng việc có giao dịch liên kết với những đối tác này hay không thì Cục Thuế sẽ kiểm tra lại.

 

(Theo VTC News)

Bài xích Trung Quốc một cách cực đoan là thiếu hiểu biết

“Ứng xử tương xứng với phẩm giá”, điều mà thủ tướng Nhật nói với dân là một kinh nghiệm tốt dành cho giới trẻ Việt Nam trong cách hành xử trước vấn đề Trung Quốc.

TS kinh tế Lê Vĩnh Trương (Quỹ Nghiên cứu biển Đông) cho rằng những cuộc tranh luận nảy lửa của giới trẻ về lòng yêu nước là tín hiệu lạc quan của đất nước; song cần thiết phải giữ một cách tiếp cận chừng mực, toàn diện và đầy đủ với Trung Quốc để tránh rơi vào trạng thái cực đoan trong phát ngôn và hành xử.

– Phóng viên: Nhiều người Việt Nam hiện nay có xu hướng bài xích Trung Quốc (TQ), thể hiện ở việc không dùng hàng TQ, chửi bới TQ, miệt thị người TQ… Ông đánh giá như thế nào về hiện tượng này?

– TS Lê Vĩnh Trương: Ở góc nhìn kinh tế, hàng hóa và dịch vụ TQ, như dịch vụ phòng khám chẳng hạn, có một số không nhỏ gây quan ngại về phẩm chất làm cho người tiêu dùng nghi ngờ về sự cẩu thả trong quản lý. Đây là phản ứng tự nhiên của thị trường một cách công bằng và lành mạnh. Nếu giới thương mại và sản xuất TQ muốn cải thiện hình ảnh hàng hóa và dịch vụ TQ vào Việt Nam thì họ phải điều chỉnh chất lượng cho thị trường Việt Nam. Tôi không thấy có sự bài xích nào ở đây cả.

Người Việt Nam nói chung có một sự căm phẫn trước hình ảnh TQ tung hoành biển Đông, xâm chiếm đảo của VN. Năm 2005, họ giết ngư dân Hậu Lộc (Thanh Hóa) và thi thể ngư dân phải ướp nước đá chở về. Từ đó đến nay, lính liên tục quấy phá, xâm hại, bắt bớ, đánh đập, sỉ nhục ngư dân Việt Nam đến mức phải vái lạy ngay trên tàu. Và oái oăm là chính họ lại đưa lên các phương tiện thông tin để thị uy.

Đặc biệt, vài năm gần đây, có thể đọc dễ dàng trên mạng các câu chuyện giới cầm quyền TQ lợi dụng cuộc chiến tranh ở Việt Nam để thủ lợi. Thế nên cảnh giác với giới chức TQ là một tình cảm bình thường ở người Việt Nam.

– Đó là với giới chức, còn với người dân thường TQ thì sao?

– Theo tôi, nhân dân TQ đã bị giới chức TQ tẩy não về Hoàng Sa và Trường Sa đến một mức độ gây nguy hiểm cho chính TQ và những người tỉnh táo ở TQ đang tìm cách hạ nhiệt thông qua vụ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” được giới thiệu trên các phương tiện thông tin đại chúng TQ vào tháng 7-2012.

Theo tôi, có lẽ chưa chính xác khi cho rằng có sự miệt thị người TQ. Người Việt trong tinh thần bao dung và cùng chung sống hòa bình vẫn sống và làm việc với người Âu, Mỹ và người TQ. Tại Việt Nam, quảng cáo trường học Hoa ngữ và cả phòng khám bệnh vẫn có mặt trên báo chí, người Hoa vẫn thoải mái đi chùa chiền lễ bái của mình… Người Việt Nam vẫn cứu ngư dân TQ gặp nạn; vẫn treo tranh thủy mặc, đọc thơ Đường các dịp lễ tết, như mối giao lưu văn hóa xã hội bao năm qua giữa các cộng đồng dân tộc Việt Nam với nhau.

Dẫu vậy, tôi vững tin rằng nhân dân Việt Nam sẵn sàng đập tan âm mưu bành trướng nhiều kiểu của TQ từ thủ đoạn phân hóa nội bộ người Việt Nam đến lấn chiếm biển đảo, phá hoại kinh tế, kích động sắc tộc cho đến phá Việt Nam trên trường ngoại giao ASEAN gần đây.

Hiểu biết thì sẽ không cực đoan

– Quan điểm của ông thế nào về một ám ảnh nước lớn đè nặng lên VN?

– Ở thế hệ chúng tôi, công bằng mà nói, có sự khâm phục người TQ cần cù lao động và phát triển kinh tế, khâm phục trí thức TQ bảo tồn nền văn hóa của họ. Việc nhẫn nhịn TQ đã diễn ra từ ngàn xưa, khởi đầu từ các triều đại Việt Nam sau mỗi lần đánh tan quân xâm lược phương Bắc. Nhẫn nhịn để lo cho kế sách lâu dài của đất nước khác với buông xuôi đầu hàng. Nhưng nếu cho rằng hiện có một nỗi sợ TQ thì với quan sát của cá nhân, tôi cho rằng chưa bao giờ có. Giới làm chính sách có cách ứng xử của họ nhưng tôi tin họ biết và quý bức thông điệp rằng đại bộ phận người Việt Nam không sợ TQ.

Người TQ cũng không thiếu những trí thức như Lý Lệnh Hoa, Lưu Á Châu đã nhìn thấy được điều khiếm khuyết của chính nước họ. Không phải tất cả họ đều sẵn sàng cho một cuộc gây hấn với Việt Nam vốn là một bãi lầy quân sự, một bãi mìn chính trị mà kẻ gây hấn phải trả giá cao.

Khi có đầy đủ kiến thức, ý chí và ý thức về quan hệ Việt Nam-TQ không chỉ từ xưa mà cả thời cận đại từ 1954 đến nay, người Việt sẽ không còn ở hai thái cực – một là quá sợ và hai là quá căm giận người TQ mà mất khôn, dẫn đến ứng xử theo tinh thần dân tộc cực đoan.

TQ phản lại “văn hóa hài hòa”

– Dù thế nào chăng nữa, TQ sẽ mãi mãi là một người hàng xóm của chúng ta, bất chấp họ có thân thiện hay không. Nếu là ông, ông sẽ lựa chọn thái độ cá nhân đối với TQ như thế nào?

– Khi bàn về những giải pháp hàn gắn quan hệ, theo tôi, mỗi bên cần tìm những điều tích cực từ phía bên kia đã làm cho mình để chiêm nghiệm và thực hiện những điều tích cực trong mối quan hệ. Người Việt Nam với bản tính khoan hòa đã chủ động làm nhẹ nỗi đau trận đại bại 1979 của TQ và sự thảm hại của tội ác “chống lưng” diệt chủng Khmer Đỏ của họ.

Ngược dòng thời gian, tôi nhớ tới hình ảnh Tôn Thất Thuyết nghĩ về TQ như một nước bạn có thể giúp Việt Nam phục quốc chống Tây – hình ảnh ông ẩn náu ở TQ và ngày ngày chém đá, nhìn nước mất vào tay kẻ thù làm xúc động thế hệ chúng tôi. Những mối giao hảo của các chí sĩ Việt Nam-TQ trước và sau cách mạng Tân Hợi vẫn còn đó. Người Việt Nam chia sẻ nỗi đau của nhân dân TQ trong vòng lệ thuộc mãi về sau năm 1949.

Thế còn TQ thì sao? Người TQ chua xót với nỗi đau nô lệ của dân tộc mình nhưng tại sao lại để cho giới cầm quyền thản nhiên ức hiếp, sát hại ngư dân nghèo Việt Nam, ngụy tạo chứng cứ độc chiếm biển Đông, tuyên truyền một chiều cho hàng loạt hành động sai quấy, vụng về trong chính sách bên miệng hố chiến tranh, hống hách trên bàn hội nghị, cậy tiền trong các mối quan hệ? Chính họ đã phản lại “văn hóa hài hòa”, “cầu đồng tồn dị” do chính họ đưa ra trước đây không lâu.

“Kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân” – Không nên hành xử với kẻ khác điều mà mình không muốn kẻ khác ứng xử với mình. Họ quên cả lịch sử lẫn lời dạy của ông thầy nước họ hay sao?

Câu chuyện ngàn năm qua cho thấy: Bạn hay thù là do nước lớn TQ quyết định, nước nhỏ thì chỉ muốn yên ổn. Nói cách khác, TQ là một người hàng xóm có khuynh hướng giàu đổi bạn, có ký ức không bền về lịch sử TQ-Việt Nam và từ chối hiểu phẩm giá Việt Nam – vốn hiếu hòa nhưng thừa tinh thần bảo vệ đất nước. Việc thiếu ký ức này không phải lỗi của đại bộ phận nhân dân TQ.

Ứng xử với phẩm giá

– Về việc TQ chiếm đảo Trường Sa, ông nghĩ sao?

– TS Trần Vinh Dự có lần viết rằng Việt Nam – với tư cách là một quốc gia tồn tại – vẫn sẽ mãi tuyên bố chủ quyền tại Hoàng Sa và Trường Sa. Xin bổ sung: Việt Nam đã từng mất nước hàng ngàn năm và trong các cuộc chiến vẫn thường tạm rút ra khỏi thủ đô nhưng… những gì của Việt Nam theo sử sách và luật pháp quốc tế thì Việt Nam vẫn sẽ khôi phục lại, vẫn mãi là của Việt Nam. Dĩ nhiên, trong câu chuyện này, không thể chỉ nói suông mà mỗi người Việt Nam phải hành động cụ thể để bảo vệ và khôi phục chủ quyền này như cha ông Việt Nam đã làm hàng ngàn năm nay.

Chúng ta phải ôn hòa và kiên trì sử dụng Công ước LHQ về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) và Tuyên bố về ứng xử của các bên tại biển Đông (DOC) cũng như những chứng cứ chủ quyền về Trường Sa – Hoàng Sa từ trước đây, tạo nên cách thức chủ đạo để bảo vệ biển Đông và các đảo Việt Nam; thu thập đầy đủ chứng cứ pháp lý để khi cần Việt Nam sẽ có thể đấu tranh pháp lý với TQ trên mặt trận pháp lý quốc tế.

Bên cạnh đó, việc cần làm là ghi lại hình ảnh những hành vi xâm lấn để đề phòng TQ tạo cớ leo thang và chuẩn bị đầy đủ sức mạnh vũ trang để đáp trả khi bị tấn công và thông báo cho dư luận quốc tế.

“Ứng xử tương xứng với phẩm giá”, điều mà thủ tướng Nhật nói với dân, là một kinh nghiệm tốt.

HỮU LONG (PHÁP LUẬT TPHCM)

Nguồn: REDS.vn [http://reds.vn/index.php/chinh-tri/chu-quyen/2593-chong-trung-quoc-mot-cach-cuc-doan-la-thieu-hieu-biet]

 

CỜ VÀNG CỰC ĐOAN – THEO VOI HÍT BÃ MÍA

(Treonline) – Trần Hưng Đạo trong Hịch Tướng sĩ “Sông Đằng một dải dài ghê, Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông. Những phường bất nghĩa tiêu vong, Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh!”

Việt Nam từ thuở các Vua Hùng dựng nước đến nay đã viết nên bao trang sử vẻ vang dựng nước và giữ nước. Thiên anh hùng ca về giữ nước thật oai hùng, nhưng cũng thấm đẫm bao nhiêu máu và nước mắt. Dân tộc Việt Nam chúng ta hiểu điều đó, và bởi vậy không khi nào chúng ta muốn chiến tranh. Dân tộc chúng ta khát khaohoà bình, và có lẽ không có dân tộc nào muốn có hoà bình lại phải trải qua mất mát, hy sinh to lớn đến như thế! Nhưng chính giữ nước trong hoàn cảnh lịch sử ngàn năm ấy dạy chúng ta biết khoan dung, biết khép quá khứ, hướng tới tương lai, đồng thời cũng cho chúng ta bài học biết cầm vũ khí đánh giặc và thắng giặc, giữ gìn độc lập, tự do cho dân tộc.

Thời nào mà chẳng có “phường bất nghĩa”, “lũ bất trung”, phường “cõng rắn cắn gà nhà” “theo voi hít bã mía”. thời nào chẳng có kẻ “trung thần” ! Và lịch sử đã chứng minh, ai sẽ được “lưu danh” và kẻ nào sẽ bị “tiêu vong” điều đó đã rõ trong sử sách. Cờ vàng chống cộng cực đoan cũng đã đi vào lịch sử của dân tộc việt bằng con đường lưu danh một cách ô nhục nhất , nó đã trượt dài trên con đường ôm chân ngoại bang , “rước voi về dày mả tổ”, cờ vàng cực đoan là “đỉnh cao” nhất trong mọi thời đại của dân tộc Việt về sự phản phúc.
Sau mấy chục năm vác cờ, “chuyển lửa” về tổ quốc cờ vàng CCCĐ nhận thấy những phương pháp đó không mang lại mảy may kết quả nào, chỉ chuốc lấy sự phản ứng của dư luận nhân dân trong nước và người Việt ở hải ngoại . Dựa hơi BU (Mỹ), được sự chỉ bảo tận tình của các tổ chức không có thiện cảm đối với đất nước VN phương hướng chống phá đất nước cũng “uyển chuyển” cho phù hợp với trào lưu quốc tế, cờ vàng cũng “đầu tư” suy nghĩ tìm cách phát huy tối đa dã tâm bán nước đã ăn sâu vào não bộ nô lệ của cờ vàng.

 

 

Tư duy của cờ vàng CCCĐ
Cờ vàng CCCĐ sống được cho đến ngày hôm nay là nhờ luồng “sinh khí” lúc nào cũng được “hâm nóng” và “saochế” các sự kiện xảy ra ở trong nước, thiếu cái chiêu này thì chắc chắn cờ vàng sẽ lăn đùng ra chết giống như kẻ bị trúng gió độc vậy. Cũng bám vào những sự kiện và vấn đề thời sự trong nước, tập trung đào bới, cắt xén, chế biến làm sao cho “bốc mùi” chống cộng.
Thời gian qua, trên nhiều trang mạng và đài phát thanh của hải ngoại đã xuất hiện những bài viết, những cuộc phỏng vấn, “bình loạn” công kích, xuyên tạc, bóp méo, bôi đen… sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc VN, cờ vàng CCCĐ dựng chuyện bêu xấu nhằm làm mất uy tín của những người đang nắm giữ vận mệnh quốc gia, phủ nhận những thành tựu mà toàn dân tộc VN vươn lên từ hoang tàn của cuộc chiến tàn khốc nhất trong lịch sử dân tộc.
Trong cuộc chiến trước năm 1975 đòn “mã hồi thương” về chiến tranh chính trị đã làm cho cờ vàng ngấm đòn , bắt chước những người cộng sản cờ vàng cũng “tập trung” xoi mói vào cái gọi là “tử huyệt” của cộng sản . Rất dễ dàng nhận thấy chiêu thức mà cờ vành đưa ra là việc tuyên truyền, kích động của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị vẫn nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của chính phủ VN đối với công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc . Lợi dụng các vấn đề liên quan đến Biển Đông và chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam để bôi nhọ, hạ uy tín, kích động, chia rẽ mối quan hệ giữa nhà nước với dân, công kích chính sách đối ngoại của VN, đặc biệt những vấn đề liên quan đến quan hệ Việt Nam – Trung Quốc…
Cờ vàng CCCĐ có hiểu được rằng dân tộc Việt trải qua biết bao nhiêu cuộc chiến bảo vệ cương thổ quốc gia mà vũ khí bách chiến , bách thắng là gì không ? Xin thưa cho các vị được rõ đó là sự đoàn kết , điều thật dản dị mà các nền đệ nhất , đệ nhị cộng hoà không một chút hơi hướng gì trong những người lãnh đạo quốc gia của cờ vàng có được. Cờ vàng CCCĐ có hiểu được lịch sử cha ông không ? chắc sẽ không hiểu rõ được tại sao quân dân đời Trần có thể ba lần đánh tan những đạo quân xâm lược hung bạo, muốn lấy thịt đè người, nếu không hiểu được cội nguồn của thắng lợi kỳ diệu là tinh thần dân tộc được khởi động và dâng cao để do đó mà “vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức”.
Cờ vàng dùng thủ đoạn xuyên tạc sự thật, bóp méo, bôi đen nhằm mục đích lôi kéo, kích động những phần tử cực đoan, bất mãn, những người nhẹ dạ, cả tin… nghi ngờ vào đường lối, chủ trương, chính sách của Nhà nước VN , chiêu này cũng chẳng mới mẻ gì. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian này, sự tuyên truyền của họ diễn ra theo hệ thống từ trước, tạo nên một “chiến dịch” kích động, lôi kéo với mức độ ngày càng rầm rộ hơn.
Nếu
nhìn suốt những bước thăng trầm của lịch sử đất nước ta luôn nằm trong vị thế địa lý – chính trị “trứng chọi đá” thì khối đại đoàn kết dân tộc là sự đúc kết giữ nước của ông cha ta. Kể từ thời Khúc Hạo (năm 907-917) với cương lĩnh dựng nước “Chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui” . Trải qua các chặng đường giữ nước “từ Đinh, Lê, Lý,Trần gây nền độc lập; cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương”, thời nào cũng có những kẻ phản dân tộc, tìm mọi cách gây rối đến nền anh ninh xã tắc, họ không tiếp thu những tinh hoa về lòng yêu nước mà ngược lại là sự vọng ngoại ôm chân ngoại bang , bản chất cờ vàng là như vậy.
Ở trong nước, một số kẻ cơ hội chính trị lợi dụng biến động quốc tế cũng mưu toan lợi dụng vấn đề tranh chấp Biển Đông để dùng kế “Nhất tiễn song điêu” – vừa chia rẽ, phá hoại quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, vừa thực hiện chiến lược xóa bỏ chế độ chính trị, xóa bỏ Nhà nước CHXHCN Việt Nam do Đảng CS lãnh đạo.
Có những tên giặc lộng ngôn kêu gọi phải “đồng hành quân sự với Hoa Kỳ”, xem đây là “mệnh lệnh của thời đại”. “Táo tợn” hơn, họ còn đưa ra “ý tưởng” Đánh đổi Chế độ xã hội XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo lấy sự cam kết của của một số cường quốc phương Tây, làm đối trọng với Trung Quốc ??. Hỡi ơi ! những kẻ dốt nát về chính trị , hoang tưởng về đầu óc mới nghĩ như vậy ,thử hỏi cờ vàng vậy tại sao Hoa Kỳ phải bỏ Việt Nam để lại di chứng cuộc chiến cho đến tận ngày hôm nay ? Cờ vàng CCCĐ sau 37 năm vẫn hận BU, thế vì lẽ gì mà đã quên béng mất điều đó vậy?
Hội nghị Diên Hồng
Ta hãy nghe cờ vàng lập luận như sau: Việt Nam là một quốc gia nhỏ yếu, để có đủ khả năng chống lại sự xâm lược của Bắc Kinh, phải liên minh với một số nước lớn có tiềm lực về chính trị, quân sự, kinh tế đủ mạnh bằng cách có được “một cam kết chặt chẽ, trung thành với nhiều đồng minh song hoặc đa phương, vốn là cường quốc phát triển, văn minh và có tiềm lực như Mỹ, Nhật Bản, Đức, Anh và nhiều nước khác làm đối trọng”. Muốn vậy Việt Nam phải “chớp thời cơ, thực hiện cải cách chính trị, thay đổi thể chế, chuyển đổi tư tưởng… thì mới hy vọng tranh thủ được sự hậu thuẫn vững mạnh của phần còn lại của thế giới… nhằm thoát khỏi sự độc tài, sự hung hãn, lấy thịt đè người của láng giềng Trung Quốc”…?? .
Nghe đến đây thì chúng ta cũng hiểu được bản chất vong bản, ỉ lại và trốn tránh trách nhiệm mà nó hằn sâu vàotâm thức của các anh cờ vàng CCCĐ này, từ hai nền cộng hoà nó đã làm thối rữa lòng tự trọng và nhân cách của họ, có đời nào mà BU lại vì Việt Nam nã đạn vào Trung Quốc không ? Có bao giờ vì VN mà BU bỏ tất tật quyền lợi kinh tế sống còn của một cường quốc mà càng ngày càng gắn kết sống còn với nhau không ?? Xin thưa với các vị là không bao giờ. Về lịch sử cờ vàng cố tình lờ đi một điều rằng: sau mỗi chiến thắng quân xâm lược phương bắc thì cũng ngay lập tức các vị vua đất Việt phải nghĩ ngay đến việc cầu hoà , cống nạp , xin sắc phong không ? Vì sao vậy ? Cờ vàng có hiểu không ? Đó là kế sách cương nhu mà tổ tiên sử dụng nhuần nhuyễn để tránh cảnh binh đao kéo dài làm hoang tàn đất nước, để hồi phục sức dân.
Cờ vàng có biết mới ngày hôm qua (21/5/2012) Trung Quốc cảnh báo Philippin lôi kéo Mỹ vào việc tranh chấp về bãi đá cạn (Hoàng Nham) – scarborough. Tình hình nóng hổi từng ngày ở khu vực này . Hãy nghe BU nói với đồng minh này: Mỹ chỉ cung cấp cho Philippin một số vũ khí thôi, chứ không can thiệp nếu có đụng độ xảy ra. Nghe rõ chưa các “ngài” cờ vàng. Trong khi đó Manila là đồng minh đó nghe .Nghe cờ vàng nói “đồng hành” với BU sao mà dễ thế, các nhà lãnh đạo VN đâu đến nỗi không tiên liệu được chuyện gì xảy ra nếu liên kết với BU chống lại Trung Quốc, chỉ có đầu óc nô lệ của cờ vàng là chọn con đường huỷ diệt dân tộc đó .
Giữ chủ quyền quốc gia mà nhờ người khác hy sinh giùm cho mình khi có ngoại xâm thật là điều ngược đời, các vị cờ vàng CCCĐ hãy nghe chuyện trong cuộc khánh chiến chống Mỹ cứu nước , trong hoàn cảnh khó khăn nhất người “anh em” phương bắc đã đề nghị Chủ Tịch Hồ Chí Minh là hãy để cho họ đưa quân vào tham chiến cùng với bộ đội VN, nghe có sướng không ? nếu là người lãnh đạo của cờ vàng chắc một điều là các vị sẽ rú lên vì vui mừng, “hồ hởi” chào đón đội quân đó vì có kẻ chết thay cho mình, Ok- là giải pháp tối thượng phải không ?.
Cờ vàng chống cộng hãy nghe Chủ tịch Hồ chí Minh nói về vấn đề này “chúng ta có thể nợ cái gì rồi cũng có thể trả được chứ nợ máu thì không bao giờ trả được “, sự sáng suốt đó cho ta thấm thía được rằng nếu để cho “ông kẹ” tham lam ấy vào nhà thì làm sao mời ổng về khi mà dân tộc ta đang nợ cả tiền lẫn máu ? Cờ vàng có biết rằng chính các vị cũng đang là con nợ khủng khiếp đối với nhân dân Mỹ không ? Tiền và máu của 58 ngàn binh sĩ để xây dựng và bảo vệ cái VNCH của các vị đấy. Bây giờ các vị chỉ có cái mạng trành, ăn bám và phá rối đất nước mà cờ vàng đang là con nợ khủng khiếp, hay là hát bài “cùi không sợ lở”. Tầm chiến lược của các nhà lãnh đạo VNCH chỉ là nhằm vào cái túi của BU có bao nhiêu tiền rồi lên kế sách móc túi, thế thôi, chấm hết.
Cái cớ để cờ vàng CCCĐ bám vào “khai thác” nhiều nhất để thực hiện mưu đồ đen tối ”đục nước béo cò” đó là vấn đề Biển Đông và việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Chúng ta hãy nghe dàn hợp xướng của những kẻ khoác tấm áo “yêu nước” nói gì ? Họ rêu rao rằng, Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quân đội nhân dân Việt Nam “nhu nhược” trước các hành động gây hấn trên Biển Đông của Trung Quốc và kêu rú ầm lên “Tổ quốc lâm nguy”, kêu gọi, kích động người dân “Dậy mà đi”, xuống đường biểu tình quy mô lớn… Thậm chí một số cái loa của tổ chức phản động khủng bố Việt Tân còn coi đây là thời cơ “ngàn năm có một” để xuống đường đấu tranh lật đổ chế độ !!.
�”i! nghe đến đây sao mà cảm động về lòng “yêu nước” khí thế “hừng hực” của cờ vàng đến thế, Họ còn lớn tiếng kêu gọi nhà cầm quyền VN mở “hội nghị diên hồng”! điều này chỉ lừa gạt được một số người mà nhận thức về chính trị còn non kém, chưa nhìn rõ tâm địa ôm chân ngoại bang, “theo voi hít bã mía”, “rước voi về dày mả tổ” là bản chất của cờ vàng CCCĐ. các vị cờ vàng CCCĐ hãy nhìn vào lịch sử của của dân tộc VN trong thời gian gần nhất mà đảng CSVN lãnh đạo toàn dân đã làm nên lịch sử chói ngời chủ nghĩa anh hùng của dân tộc Việt. Và kết quả là gì ? các vị đương nhiên tự trả lời. Có muốn giở trò lấp liếm cũng không được .
Có dân tộc nào vừa thoát khỏi tay phát xít Nhật lại lọt vào tay thực dân Pháp để phải làm cuộc trường kỳ kháng chiến 9 năm mới có hoà bình trên một nửa nước như Việt Nam không?! Tưởng rằng, chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy địa cầu góp phần chấm dứt chủ nghĩa thực dân cũ sẽ đến ngày Tổng tuyển cử Bắc Nam thống nhất, Việt Nam hoà bình, độc lập tự do, nhưng chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ lại làm cho nhân dân Việt Nam phải trải qua một cuộc chiến tranh dài nhất, ác liệt nhất thế kỷ XX. nên tính huỷ diệt bởi vũ khí hiện đại của hai phe đã đẩy chiến tranh tàn khốc không kém chiến tranh thế giới lần thứ hai. Vậy thì Đảng , chính phủ , quân đội VN trong quá khứ có hèn nhát như các vị cờ vàng không ? Có tháo chạy bỏ mặc dân chúng hoảng loạn trên bom dưới đạn không ? Chính phủ cầm quyền ở Việt Nam có được lòng dân không ? nếu không có tại sao có kết quả chói lọi đó ? Cờ vàng CCCĐ có hiểu rằng lòng dân là động lực tiên quyết để làm nên sự thần kỳ đó.
Cờ vàng CCCĐ có biết trong lịch sử thời đoạn lịch sử thời vua Lê, chúa Trịnh báo hiệu sự khủng hoảng trầm trọng của chế độ phong kiến. Việt Nam Sử lược chép về thời Lê Chiêu Thống như sau : “Người bấy giờ bàn riêng với nhau rằng: “Nước Nam ta từ khi có đế vương đến giờ, không thấy vua nào hèn hạ đến thế. Tiếng là làm vua mà phải theo niên hiệu vua Tàu, việc gì cũng phải bẩm đến quan Tổng đốc, thế thì có khác gì là đã nội thuộc rồi không?”.
Đã vậy thì những “thần dân” của vua đã biết cách hưởng ứng lời kêu gọi của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đứng lên đánh giặc cứu nước là điều dễ hiểu. Sử chép: Ngày 29 tháng 11 năm Mậu Thân (26 tháng 12 năm 1788), dừng chân ở Nghệ An hơn 10 ngày để tuyển quân và củng cố lực lượng, nâng quân số lên tới 10 vạn ! Thử hỏi không có sức dân ấy, không có lòng dân theo về, thì làm sao có được chiến thắng thần tốc ấy!
Xung quanh vấn đề giải quyết tranh chấp trên Biển Đông và cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, cờ vàng CCCĐ phải hiểu được rằng lập trường, quan điểm và chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã rõ ràng, thế nhưng Họ lại xem đây là cơ hội để kiếm chác, hòng “đục nước, béo cò”, theo đuổi những toan tính chính trị. Cờ vàng CCCĐ trắng trợn vu cáo: “Cộng sản Việt Nam” chủ trương giải quyết tranh chấp Biển Đông “trên bàn đàm phán” là “một vụ dàn dựng của cả Bắc Kinh lẫn Hà Nội trong việc giúp cho Trung Quốc từng bước thôn tính Việt Nam”; rằng “Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam chỉ lên tiếng phản đối đơn giản, lấy lệ”, “không dám đối đầu với Bắc Kinh để bảo vệ đất nước”, “thông đồng với kẻ cướp” v.v…Thật nực cười vào cái suy nghĩ quái gỡ này, các vị cờ vàng CCCĐ hãy nghe tiếp tiền nhân đã nói :
Nếu “trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ, mà không biết căm” thì làm sao người người đủ dũng khí khắc trên cánh tay hai chữ “Sát Thát”? Trên cánh tay khắc hai chữ đó vì trong đầu đã hằn sâu một sự thật lịch sử: “Bởi giặc Nguyên cùng ta, là kẻ thù không đội trời chung”. Nếu “cứ điềm nhiên không nghĩ đến việc báo thù… khác nào như quay ngọn giáo mà đi theokẻ địch, giơ tay không mà chịu thua quân giặc”.
Thiên tài quân sự của vị Quốc công Tiết chế thống lĩnh toàn quân có ý nghĩa cực kỳ lớn lao, song thiên tài ấy chỉ có thể phát huy khi dưới trướng của Ngài là những “tướng sĩ một lòng phụ tử”. Nói về họ, những danh tướng như Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão… thì đã quá rõ, lịch sử còn đặc biệt nhắc lại lời Hưng Đạo nói về các gia thần dũng mãnh và trung thành của mình như Yết Kiêu, Dã Tượng : “chim hồng hộc muốn bay cao .
Cờ vàng CCCĐ có biết được vai trò của Đảng CSVN trong hai cuộc chiến tranh dành độc lập cho dân tộc không ? Họ đã làm rất tốt công việc của họ trong vai trò lãnh đạo , chưa có một đảng phái nào khác trong lịch sử VN làm tốt hơn , ngày nay và có thể vài chục năm nữa cũng không có một đảng nào khác làm tốt hơn họ , có đúng vậy không các “ngài” cờ vàng ? , cái đảng “phở bò” khủng bố Việt Tân chỉ có một việc cỏn con là tập hợp sự ủng hộ của một nhúm người cực đoan ở Bolsa mà bao năm nay làm không xong vậy mà đòi lớn tiếng thay thế Đảng CSVN ư ? thật là một lũ ngông cuồng và dốt nát .
Cơ sở của mọi cam kết với bất cứ quốc gia nào, dù là nước lớn hay nước nhỏ, dù đó là chế độ chính trị là gì… rút cuộc đều vì lợi ích của mỗi nước và của các bên. Nói cách khác, bất cứ cam kết quốc tế nào chỉ có thể dựa trên sự thống nhất về lợi ích của cả hai phía. Không được quên đã có không ít những cuộc “mặc cả, mua bán, đổi chác” giữa các nước lớn “trên lưng” các nước nhỏ. Điều này đã được lịch sử thế giới xác nhận. Và Việt Nam là một trong những nạn nhân đó.
Giả thử làm theo ý của cờ vàng là thay đổi thể chế chính trị để được sự ”ủng hộ”, nếu có sự đánh đổi đó thì điều gì sẽ diễn ra và ai là người được hưởng lợi? Cờ vàng sẽ được lợi có phải vậy không ? lúc đó vì quyền lợi giữa các bên sẽ biến cả dân tộc này thành những chiến binh tiên phong chết kẹt giữa hai làn đạn, tổ quốc trở thành bãi chiến trường thử nghiệm vũ khí tàn khốc.
Xưa nay chưa bao giờ có một tinh thần yêu nước nào, chủ nghĩa yêu nước nào lại không mang dấu ấn quan điểm chính trị, cũng như chưa bao giờ có ai thừa nhận mình là người bán nước. Cờ vàng CCCĐ với đầu óc của những kẻ thiểu năng trí tuệ làm sao hiểu được nghệ thuật dựng nước và giữ nước mà Đảng CSVN cùng toàn dân Việt tiếp thu được những tinh hoa của cha ông để lại.
Ta chiến thắng trước tiên bởi ta chính nghĩa. Một dân tộc mà theo đạo lý nhân sinh phải được sống trong hoà bình, độc lập và tự do! Một nước ” vốn xưng nền văn hiến đã lâu, núi sông bờ cõi đã chia”, biên giới, lãnh thổ “rành rành định phận tại sách Trời” đứng lên quyết giữ vững độc lập tự do của mình là điều chính nghĩa không thể chối cãi. Một dân tộc có truyền thống lâu đời với ý chí sắt đá ” thà làm quỷ nước Nam chứ không làm vương đất Bắc”; ” thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lê.”; ”Không có gì quý hơn độc lập tự do”! Dân tộc ấy không có sức mạnh nào khuất phục được.
Với những nguyên nhân khách quan và chủ quan như đã nói, nhân dân Việt Nam không tránh được các cuộc chiến tranh xâm lược, nhưng đã biết chiến đấu ngoan cường viết lên trang sử giữ nước vẻ vang của dân tộc. Từ phá Tống, bình Nguyên, kháng Minh, đạp Thanh đến đánh Pháp, đuổi Nhật, chống Mỹ để giải phóng dân tộc, những chiến công hiển hách đó kết lại thành truyền thống bất diệt của dân tộc Việt Nam. �”n lại truyền thống đó không chỉ nhắc nhở những ai còn mơ màng về bài học lịch sử ngàn năm nước Việt, mà còn để thế hệ Việt Nam hôm nay hiểu rõ kinh nghiệm xương máu của cha ông trong đấu tranh giữ nước.
Houston 5-22-2012
Amari Tx

Chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam giai đoạn 1975 – 1991

 

Kể từ tháng 4-1975, Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam đã tiếp quản toàn bộ quần đảo Trường Sa và các đảo khác trên Biển Đông.

Sau đó, nước Việt Nam thống nhất với tên gọi Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam (CHXHCNVN), với tư cách kế thừa quyền sở hữu các đảo và quần đảo từ các chính quyền trước theo luật pháp quốc tế và sự liên tục của lịch sử, có trách nhiệm tiếp tục khẳng định và duy trì việc bảo vệ chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Cùng với các bản Hiến pháp các năm 1980, 1992, Luật Biên giới quốc gia năm 2003, Tuyên bố của Chính phủ CHXHCN Việt Nam ngày 12-11-1977 về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam, Tuyên bố của Chính phủ CHXHCN Việt Nam ngày 12-11-1982 về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam trước sau như một đều khẳng định hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một bộ phận của lãnh thổ Việt Nam, có các vùng biển riêng sẽ được quy định cụ thể trong các văn bản tiếp theo. Trong các năm 1979, 1981 và 1988, Bộ Ngoại giao nước CNXHCN Việt Nam công bố các Sách Trắng về chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các tài liệu này đã chứng minh hết sức rõ ràng chủ quyền của Việt Nam trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa về tất cả các khía cạnh lịch sử, pháp lý và thực tiễn.

Xuất phát từ nhu cầu quản lý hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ngày 09-12-1982 Hội đồng Bộ trưởng nước CHXHCN Việt Nam ra Nghị định tổ chức quần đảo Hoàng Sa thành huyện đảo Hoàng Sa trực thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng và tổ chức quần đảo Trường Sa thành huyện đảo Trường Sa trực thuộc tỉnh Đồng Nai. Ngày 28-12-1982, trong kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa VII nước CHXHCN Việt Nam đã ra Nghị quyết tách huyện đảo Trường Sa ra khỏi tỉnh Đồng Nai để sáp nhập vào tỉnh Phú Khánh (nay là tỉnh Khánh Hòa). Nghị quyết ngày 06-11-1996 kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX nước CHXHCN Việt Nam tách huyện đảo Hoàng Sa ra khỏi tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng cũ, để sáp nhập vào thành phố Đà Nẵng trực thuộc trung ương. Các chính quyền tại hai huyện đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ đó đến nay vẫn liên tục thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ của mình.

Trong suốt thời gian thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ khi thống nhất đất nước đến nay, bên cạnh việc ban hành các văn bản hành chính để quản lý nhà nước về lãnh thổ trên hai quần đảo này, Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đã có nhiều hành động cụ thể, kịp thời nhằm khẳng định chủ quyền và kiến quyết đấu tranh với các thông tin xuyên tạc, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 30-12-1978, người phát ngôn Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam đã ra Tuyên bố bác bỏ luận điệu nêu trong Tuyên bố trước đó của người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc về vấn đề quần đảo Trường Sa, tiếp tục khẳng định chủ quyền lâu đời của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nhắc lại lập trường của Việt Nam chủ trương giải quyết mọi tranh chấp hoặc bất đồng bằng giải pháp thương lượng hòa bình. Ngày 17-2-1979, Trung Quốc đem quân tấn công Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía bắc, càng khiến cho quan hệ giữa hai nước thêm căng thẳng và tình hình trên Biển Đông càng gia tăng sự phức tạp. Mặc dù ngay sau đó, quân Trung Quốc đã gặp phải sự kháng cự quyết liệt của quân và dân Việt Nam buộc họ phải lui quân và chịu nhiều tổn thất, thế nhưng hậu quả lâu dài do cuộc chiến tranh và sự cắt đứt quan hệ ngoại giao giữa hai nước khiến cho các cuộc trao đổi thương lượng hòa bình về vấn đề biên giới và hải đảo bị gián đoạn trong một thời gian khá dài.

Trong thời gian đó, Trung Quốc liên tục đưa ra các tuyên bố và tài liệu xuyên tạc về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa và Nam Sa). Ngày 30-7-1979, Trung Quốc cho công bố tài liệu mà phía Trung Quốc cho là để chứng minh Việt Nam đã “thừa nhận” chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngay sau đó, Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam đã ra Tuyên bố ngày 7-8-1979 bác bỏ sự xuyên tạc trắng trợn của Trung Quốc đối với văn bản ngày 14-9-1958 của Thủ tướng nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tinh thần và ý nghĩa của văn bản này chỉ trong khuôn khổ công nhận giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc chứ không hề nói tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trên thực tế đang thuộc quyền quản lý tạm thời của chính quyền Việt Nam Cộng hòa phía Nam vĩ tuyến 17 theo Hiệp dịnh Genève năm 1954. Chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam một cách bất hợp pháp bằng vũ lực, Trung Quốc đã xâm phạm vào sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam và trái với tinh thần của Hiến chương Liên Hợp Quốc kêu gọi giải quyết tất cả các tranh chấp bằng thương lượng hoà bình. Sau khi phát động một cuộc chiến xâm lược Việt Nam trên quy mô lớn, phía Trung Quốc lại nêu ra vấn đề quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, tạo ra tình trạng càng ngày càng căng thẳng dọc theo biên giới phía bắc Việt Nam và từ chối việc thảo luận những giải pháp cấp thiết để bảo đảm hoà bình và ổn định trong khu vực biên giới giữa hai nước.

Ngày 28-9-1979, Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam công bố Sách Trắng đưa ra thêm nhiều tài liệu tiếp tục khẳng định chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngày 30-1-1980, Bộ Ngoại giao Trung Quốc công bố văn kiện đòi hỏi chủ quyền ở hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa (Tây Sa và Nam Sa) Ngày 5 tháng 2 năm 1980, Bộ Ngoại giao Việt Nam ra tuyên bố vạch trần thủ đoạn xuyên tạc của Trung Quốc trong văn kiện ngày 30 tháng 1 năm 1980 của họ về chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Tháng 6 năm 1980, tại Hội nghị Khí tượng Khu vực Châu Á II họp tại Genève, đại biểu Việt Nam tuyên bố trạm khí tượng của Trung Quốc tại Sanhudao (đảo Hoàng Sa của Việt Nam) là bất hợp pháp. Kết quả là trạm Hoàng Sa của Việt Nam được giữ nguyên trạng trong danh sách các trạm thuộc hệ thống quốc tế như cũ. Ngày 13 tháng 6 năm 1980, Việt Nam yêu cầu OMM (Tổ chức Khí tượng Thế giới) đăng ký trạm khí tượng Trường Sa vào mạng lưới OMM. Tháng 12 năm 1981, Tổng cục Bưu điện Việt Nam điện cho Chủ tịch Ủy ban đăng ký tần số tại Genève phản đối việc Trung Quốc được phát một số tần số trên vùng trời Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Tháng 12 năm 1981, Bộ Ngoại giao Việt Nam công bố Sách Trắng: “Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam”. Tháng 6 năm 1982, Tân Hoa Xã loan tin một hải cảng lớn được xây dựng tại đảo Hoàng Sa. Tháng 10, tại Hội nghị Toàn quyền của UIT (Hiệp hội Quốc tế Vô tuyến Viễn thông), Việt Nam tuyên bố không chấp nhận việc thay đổi phát sóng đã được phân chia năm 1978 tại Genève. Ngày 12 tháng 11 năm 1982 Việt Nam công bố đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải? Tháng 1-1983 Hội nghị Hành chính Thế giới về thông tin vô tuyến đồng ý sẽ xem xét đề nghị của Việt Nam về việc phát sóng trên vùng trời Hoàng Sa và Trường Sa tại hội nghị sắp tới. Cũng tháng 01 năm 1983 tại Hội nghị Hàng không Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương họp ở Singapore. Trung Quốc muốn mở rộng vùng thông báo bay (FIR) Quảng Châu lấn vào FIR Hà Nội và TP Hồ Chí Minh, nhưng Hội nghị quyết định duy trì nguyên trạng. Tại Hội nghị Tổ chức Thông tin Vũ trụ Quốc Tế (INTU SAT) lần thứ 13 họp tại Bangkok, đại biểu Việt Nam đã phản đối việc Trung Quốc sử dụng những bản đồ ghi Hoàng Sa, Trường Sa (mà Trung Quốc gọi là Tây Sa, Nam Sa) là của Trung Quốc. Việt Nam phản đối việc ngày 1 tháng 6 năm 1984 Quốc hội Trung Quốc tuyên bố việc thiết lập khu hành chính Hải Nam bao gồm cả hai quần đảo Tây Sa, Nam Sa. Đầu năm 1985, Đại tướng Văn Tiến Dũng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Việt Nam ra thăm quần đảo Trường Sa. Tháng 5 năm 1987, Đô đốc Giáp Văn Cương, Tư lệnh Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam ra thăm quần đảo Trường Sa.

Từ 16 tháng 5 đến tháng 10 năm 1987, Hải quân Trung Quốc liên tục diễn tập quân sự tại vùng nam Biển Đông và tây Thái Bình Dương. Ngày 10 tháng 11 năm 1987, Hải quân Trung Quốc đổ bộ lên bãi đá Louisa. Tháng 1 năm 1988, một lực lượng lớn tàu chiến, có nhiều tàu khu trục và tàu tên lửa của Trung Quốc, đi từ đảo Hải Nam xuống quần đảo Trường Sa, khiêu khích và cản trở hoạt động của các tàu vận tải Việt Nam trong khu vực bãi đá Chữ Thập và bãi đá Châu Viên. Quân lính Trung Quốc cắm cờ trên hai bãi đá trên, đồng thời cho tàu chiến thường xuyên ngăn cản, khiêu khích các tàu vận tải Việt Nam đang tiến hành những hoạt động tiếp tế bình thường giữa các đảo do Hải quân Việt Nam bảo vệ. Ngày 14 tháng 3 năm 1988, Trung Quốc sử dụng một biên đội tàu chiến đấu gồm sáu chiếc, trong đó có ba tàu hộ vệ số 502, 509 và 531 trang bị tên lửa và pháo cỡ 100mm, vô cớ tấn công bắn chìm ba tàu vận tải Việt Nam đang làm nhiệm vụ tiếp tế ở các bãi đá Len Đao, Cô Lin, Gạc Ma thuộc cụm đảo Sinh Tồn, quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Cuộc tấn công vào các tàu vận tải của Việt Nam từ các tàu chiến trang bị vũ khí hạng nặng của Trung Quốc đã làm cho 64 cán bộ, chiến sỹ Hải quân Việt Nam cùng 3 tàu vận tải đã vĩnh viễn nằm lại trong lòng biển của Tổ quốc. Các chiến sỹ Hải quân Quân đội Nhân dân Việt Nam đã anh dũng xiết chặt hàng ngũ, giữ vững lá cờ Tổ quốc biểu tượng chủ quyền của Việt Nam trên đảo cho đến giây phút cuối cùng. Từ đó đến ngày 6-4-1988, Trung Quốc đã chiếm đóng trái phép bằng vũ lực các đảo: Đá Chữ Thập, Đá Châu Viên, Đá Ga Ven, Đá Tư Nghĩa, Đá Gạc Ma, Đá Subi thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Trong năm 1988, Chính phủ CHXHCN Việt Nam đã thông báo cho Liên Hợp Quốc, gửi nhiều công hàm phản đối Trung Quốc và đặc biệt là các công hàm ngày 16, 17, 23 tháng 3 năm 1988 đề nghị hai bên thương lượng giải quyết vấn đề tranh chấp. Trung Quốc tiếp tục chiếm giữ trái phép các bãi đá đã chiếm được và khước từ thương lượng. Ngày 14 tháng 4 năm 1988, Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam phản đối việc Quốc hội Trung Quốc sáp nhập hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào tỉnh Hải Nam (ngày 13 tháng 4 năm 1988). Tháng 4-1988, Bộ Ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam công bố Sách Trắng khẳng định chủ quyền trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam theo luật pháp quốc tế. Ngày 14-8-1989, Chính phủ Việt Nam quyết định thành lập Cụm Kinh tế Khoa học Dịch vụ trên vùng bãi ngầm Tư Chính, Huyền Trân, Quế Đường, Phúc Tần, Phúc Nguyên thuộc thềm lục địa Việt Nam. Ngày 2-10-1989, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam tuyên bố bác bỏ luận điệu trong bản tuyên bố của Trung Quốc ngày 28-4-1989. Ngày 18-3-1990, nhiều tàu Trung Quốc đến đánh cá ở Trường Sa. Ngày 16-4-1990, Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi bản ghi nhớ cho Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, phản đối việc Trung Quốc cho nhiều tàu quân sự, tàu khảo sát, tàu đánh cá đến hoạt động trong vùng biển Việt Nam tại quần đảo Trường Sa. Ngày 28-4-1990, Bộ Ngoại giao Việt Nam gửi công hàm cho Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội, phản đối việc Trung Quốc đã cho quân lính xâm chiếm bãi Én Đất trên quần đảo Trường Sa của Việt Nam.

Ngày 10-11-1991, các nhà lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc ký Thông báo chung về bình thường hoá quan hệ giữa hai nước. Thông báo chung của hai nước khẳng định việc bình thường hoá quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc phù hợp với lợi ích cơ bản và lâu dài của nhân dân hai nước và cùng có lợi cho hoà bình, ổn định và sự phát triển của khu vực. Hai bên tuyên bố Việt Nam và Trung Quốc sẽ phát triển quan hệ hữu nghị và láng giềng thân thiện, trên cơ sở 5 nguyên tắc: tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không xâm phạm lẫn nhau, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng cùng có lợi và cùng tồn tại hoà bình. Hai bên đồng ý thông qua thương lượng giải quyết hoà bình vấn đề lãnh thổ, biên giới vv… tồn tại giữa hai nước.

Theo ĐẠI ĐOÀN KẾT

http://reds.vn/index.php/lich-su/hoang-sa-truong-sa/2424-chu-quyen-hoang-sa-truong-sa-1975-1991