Tag Archive: ĐÓI


Mấy ngày gần đây dư luận lại xôn xao về đề xuất phương án đổi tên nước trở lại thành Việt Nam dân chủ cộng hòa thay cho tên hiện hành. Đề xuất này vốn không hề mới, nhưng nó nóng lên vì gắn với đợt tổng kết 3 tháng lấy ý kiến sửa đổi hiến pháp của ủy ban dự thảo sửa đổi hiến pháp. Tôi không rõ số liệu cụ thể mà Ủy ban tổng kết thế nào nhưng qua những gì báo chí thể hiện thì tôi rất lấy làm ngạc nhiên khi Ủy ban lại cho rằng đây là một đề xuất có tính nghiêm túc. Tôi dẫn nguồn như sau:

Báo Pháp luật TP.HCM: Thêm phương án về tên nước: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Điều 1 dự thảo tiếp thu, bên cạnh cách viết cũ (tên nước là CHXHCN Việt Nam), xuất hiện phương án mới, phản ánh chính xác hình thức chính thể và chủ quyền quốc gia về lãnh thổ: “(1) Nước VN là một nước dân chủ cộng hòa, độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời. (2) Tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (VNDCCH)”.
Phương án này thể hiện ý kiến nhiều tầng lớp nhân dân, cho rằng VNDCCH là tên gọi gắn liền với sự ra đời của chính thể cộng hòa đầu tiên ở nước ta, là thành quả của Cách mạng Tháng Tám, đã được long trọng tuyên bố với nhân dân và toàn thế giới qua bản tuyên ngôn độc lập do Hồ Chủ tịch tuyên đọc ngày 2-9-1945 lịch sử. Tên gọi ấy được khẳng định trong HP 1946, 1959 và chỉ chính thức được thay đổi bởi HP 1980.Tên nước ấy gắn với hai cuộc kháng chiến, hai cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc và Tây Nam và công cuộc xây dựng đất nướcVề mặt pháp lý, tính đến thời điểm này, tên gọi ấy được sử dụng nhiều hơn so với tên nước hiện nay.

Trở lại với VNDCCH tạo ra sức lôi cuốn, tập hợp đoàn kết dân tộc, tạo đồng thuận toàn xã hội, thuận lợi hơn trong quan hệ quốc tế, góp phần phát huy, tranh thủ các nguồn lực kiến thiết, phát triển đất nước, vượt qua tình trạng khó khăn hiện nay. Trở lại với tên gọi ấy không phải là phủ nhận định hướng XHCN. Định hướng ấy nằm trong nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước và cả ở những nội dung cần thiết trong HP mới.

Báo Dân trí: Đề xuất phương án mới về tên nước: Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Tên gọi này cũng được cho là phản ánh đúng trình độ phát triển của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, phù hợp với tính chất của nền kinh tế định hướng XHCN. Tên gọi này có khả năng lôi cuốn, tập hợp đoàn kết toàn dân tộc, tạo sự đồng thuận chung trong xã hội, đồng thời thuận lợi hơn trong quan hệ hợp tác với các nước khác trên thế giới…

Việc lựa chọn tên nước theo phương án này, UB dự thảo nhận định, không làm ảnh hưởng đến việc tiếp tục phát triển đất nước theo định hướng XHCN bởi chủ trương, đường lối, pháp luật của nhà nước cũng như bản thân các quy định của Hiến pháp vẫn đang khẳng định mục tiêu nàyThực tế, trong giai đoạn từ 1954 đến 1976, với tên gọi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nhà nước vẫn khẳng định và thực hiện công cuộc xây dựng CNXH.

Từ những lập luận đó, UB Dự thảo thể hiện lại Điều 1 để làm rõ hơn hình thức chính thể và chủ quyền của Nhà nước, đồng thời đề xuất phương án quy định tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Trong những vấn đề mà tôi gạch chân ở trên, điều đầu tiên mà tôi đặt dấu hỏi là cụm từ “Phương án này thể hiện ý kiến nhiều tầng lớp nhân dân” của báo Pháp luật TPHCM. Không hiểu đây là nguyên văn thông báo kết quả của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp hay là của tác giả bài báo (Nghĩa Nhân) sáng tác ra? “Nhiều tầng lớp nhân dân” ở đây là những tầng lớp nào? mỗi tầng lớp có bao nhiêu “nhân dân”? Những “ný nuận” khác tôi gom lại như dưới đây:
1. Tên gọi gắn liền với Tuyên ngôn độc lập, với chính thể cộng hòa đầu tiên, do Bác Hồ đặt.
2. Tạo sức lôi cuốn, đoàn kết dân tộc, thuận lợi trong quan hệ quốc tế…
3. Phản ánh đúng trình độ phát triển của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Thứ nhất, tại sao tên gọi đầu tiên của nước ta là Việt Nam Dân chủ cộng hòa?

Chữ Cộng hòa trong tên nước thể hiện chế độ nghị viện (quốc hội) và có trong hầu hết tên các nước trên thế giới nên không bàn tới nữa. Chữ “dân chủ” vốn là một thuộc tính của các cuộc cách mạng tư sản chống lại sự thống trị của chế độ phong kiến, giai cấp quý tộc và đối lập với “quân chủ”. “Dân chủ” ở đây cũng không có nghĩa là toàn bộ nhân dân lao động được làm chủ đất nước mà chỉ dành cho giai cấp tư sản, chủ thể của cuộc cách mạng tư sản.

Cách mạng Việt Nam những năm đầu thế kỷ 20 có 2 nhiệm vụ chính là: “phản đế, phản phong”, tức lật đổ chế độ phong kiến và ách thống trị của thực dân Pháp (“đế” là “đế quốc”, “phong” là “phong kiến”). Năm 1945, cách mạng tháng 8 thành công nhưng mới chỉ lật đổ được chế độ phong kiến chứ gốc rễ của thực dân vẫn bám chặt trên mảnh đất hình chữ S này (mục tiêu “dân chủ”). Mặt trận Việt Minh do Đảng Cộng sản Đông Dương thành lập năm 1941 với mục đích Liên hiệp tất cả các tầng lớp nhân dân, các đảng phái cách mạng, các đoàn thể dân chúng yêu nước, đang cùng nhau đánh đuổi Nhật – Pháp, làm cho Việt Nam hoàn toàn độc lập, dựng lên một nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa”. Tức là  trong thời điểm bấy giờ, việc giành độc lập dân tộc là mục tiêu tối thượng, không phân biệt tầng lớp nhân dân, quan điểm chính trị, tôn giáo,… miễn là “người yêu nước”. Ngoài ra, để tránh việc trở thành quân cờ trong tình hình đối đầu ý thức hệ nóng bỏng của thế giới bấy giờ, cần thiết phải có một cái tên nước trung dung, không ngả nghiêng theo phe nào cả. Có được điều đó là nhờ con mắt tinh tường và kinh nghiệm của Bác Hồ sau bao năm lăn lộn ở chính trường quốc tế. Vì vậy tên gọi “Việt Nam dân chủ cộng hòa” bấy giờ là hoàn toàn hợp lý.

Bác Hồ đọc tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa – 2/9/1945

Những năm gần đây, các vị “bất đồng chính kiến” rất hay lợi dụng những câu nói của Bác để làm bình phong cho ý đồ của mình, hòng “lòe” thiên hạ vốn tin yêu tuyệt đối vào Người. Nhưng khi lợi dụng hình ảnh Bác, họ đã không biết, không hiểu hoặc cố tình quên rằng những điều Bác nói, Bác làm (hay bất kỳ nhân vật lịch sử nào khác) là thuận theo hoàn cảnh lịch sử, điều kiện cụ thể bấy giờ chứ không nhất thiết là phải áp dụng cho muôn đời sau (trừ những thứ đã là chân lý). Các thế hệ sau phải biết kế thừa và phát huy những thành tựu, di sản của Bác và thế hệ đi trước lên những tầm vóc cao hơn chứ không phải chăm chăm đòi quay trở lại “xuất phát điểm” như thế. Đó là suy nghĩ của những kẻ bất tài hoặc những kẻ âm mưu phá hoại sự nghiệp cách mạng của dân tộc.

Thứ hai, tại sao nước ta đổi tên thành Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam?

Sau khi hoàn thành nhiệm vụ thống nhất đất nước (cách mạng dân tộc, dân chủ), nhân dân ta đã đạt được một cột mốc mới trong sự nghiệp cách mạng của mình. Để đánh dấu chặng đường này và vạch ra phương hướng cho chặng đường tiếp theo, Quốc hội khóa VI ngày 2/7/1976 đã quyết định đổi tên nước thành nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Những lý do chính khác của việc thay đổi này là:

  • Khẳng định với thế giới và nhân dân rằng nước Việt Nam chúng ta kiên định xây dựng đất nước tiến lên theo con đường CNXH.
  • Thực trạng bấy giờ là đất nước ta đang tồn tại 2 tên nước: Việt Nam dân chủ cộng hòa và Cộng hòa miền nam Việt Nam. Do đó, tất yếu phải có một cái tên chung vừa thể hiện được bản chất, mục tiêu của chế độ vừa“tạo sự đoàn kết dân tộc” (chắc chắn không thể lấy tên CHMNVN đặt tên nước còn dùng VNDCCH thì có vẻ “áp đặt” đối với những người dân miền Nam, nhất là những người trung dung hoặc có liên quan đến chế độ cũ).

Như vậy, ngay việc đổi tên nước năm 1976 đã bao hàm ý nghĩa “đoàn kết dân tộc”rồi. Vậy mà bây giờ lại có những kẻ cố tình lộn ngược cái ý nghĩa đó rồi rêu rao rằng nhằm mục đích bảo vệ cho điều ấy! Ngu xuẩn hay lố bịch?

Quốc hội khóa VI – 1976. Thủ tướng Phạm Văn Đồng đang phát biểu.

Họ còn nặn ra những “lợi ích” mơ hồ như: tạo ra sự lôi cuốn (?), tạo đồng thuận toàn xã hội (?), thuận lợi hơn trong quan hệ quốc tế (?),…
Đây thực sự chỉ là những cái lý lẽ vu vơ của những kẻ mồm loe mép dãi, vung vít những từ ngữ sáo rỗng để lòe bịp thiên hạ mà chẳng có một cơ sở khoa học, thực tế nào cả.

  • “Tạo sự lôi cuốn”: phải chăng các vị này học tập mấy đứa trẻ chơi Facebook, kiếm cái nick thật kêu và cái avatar thật gợi để “lôi cuốn”người khác? Thế nào là cái tên nước “lôi cuốn”? Tên “Cu Ba”, “Hai ti”, “Séc”, “Ê-cu-anh-đó (Ecuador)” có lôi cuốn không nhỉ? Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng đã “lôi cuốn” hai đế quốc Pháp, Mỹ sống chết nhảy vào tranh giành đó. Quý vị muốn “lôi cuốn” kiểu đó nữa hay không? Khuyến mãi cho quý vị một cách giải thích mang “tầm quốc tế” về cái tên Việt Nam để quý vị xem nó có “hấp dẫn” không nhé: V.I.E.T.N.A.M = Viagra In Every Time. Night And Morning. 
  • “Tạo sự đồng thuận xã hội”: Ối giời, vậy ra bấy lâu nay xã hội Việt Nam đang rất chia rẽ về cái tên nước à? Thông tin này ở đâu ra? Số liệu thống kê thế nào? Ai đảm bảo rằng sau khi đổi tên thành VNDCCH thì toàn xã hội lại đồng thuận cả? Dân Việt Nam bấy lâu nay ngoài việc lo “cơm áo gạo tiền” lại còn thừa thời gian để đi tranh cãi đến mức chia rẽ về cái tên nước nữa cơ đấy!
  • “Thuận lợi hơn trong quan hệ quốc tế”: nhảm nhí! Cái tên CHXHCN Việt Nam gặp bất lợi gì khi gia nhập Liên Hợp Quốc (20/09/1977), ASEAN (28/07/1995), WTO (07/01/2007) à? Hay do cái tên CHXHCN Việt Nam sẽ gặp bất lợi nếu chịu cúi đầu làm chư hầu cho Mỹ, Nato? Hay do cái tên CHXHCNVN viết dài hơn, tốn nhiều mực in hơn VNDCCH? Chẳng biết thuận lợi hơn cái gì chứ trước mắt là cả đống bất lợi cho các nước, doanh nghiệp quốc tế có quan hệ với Việt Nam khi phải thay đổi chứng từ có liên quan.. Muốn thuận lợi, muốn kêu gọi người ta đến hợp tác làm ăn với mình thì cái cần thay đổi là cung cách làm việc, môi trường đầu tư, thủ tục hành chính,.. chứ nào phải thay đổi cái tên? Một chuyện giản đơn như thế mà các vị “lật pháp” há chăng không hiểu?

Chưa hết, bên cạnh đó còn có những lý lẽ thể hiện sự thiếu hiểu biết hoặc cố tình bóp méo lịch sử như: Tên nước ấy gắn với hai cuộc kháng chiến, hai cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc và Tây Nam và công cuộc xây dựng đất nước; Về mặt pháp lý, tính đến thời điểm này, tên gọi ấy được sử dụng nhiều hơn so với tên nước hiện nay; Tên gọi ấy được khẳng định trong HP 1946, 1959 và chỉ chính thức được thay đổi bởi HP 1980.

Tên nước CHXHCN Việt Nam đã được Quốc Hội thông qua từ ngày 2/7/1976, cùng với đó là Quốc kỳ, Quốc huy, Thủ đô, Quốc ca. Vậy thì các vị cho ý kiến này lấy tư cách gì mà nói rằng khoảng thời gian từ lúc đó đến khi hiến pháp 1980 ra đời thì tên nước CHXHCNVN là không có tính pháp lý? Không có pháp lý mà tên nướcCHXHCNVN được ghi nhận là thành viên thứ 149 của Liên Hiệp Quốc (1977) trong khi VNDCCH không có một giây phút nào là thành viên của tổ chức này? Không có pháp lý mà tên nước, quốc huy được sử dụng trong mọi văn bản pháp luật, công hàm quốc tế trong giai đoạn này à? Giả sử mà Quốc hội bấy giờ không cảm thấy cần thiết phải sửa đổi hiến pháp năm 1980 mà duy trì hiến pháp 1959 đến ngày nay thì 37 năm qua nước CHXHCNVN là không có tính pháp lý à?

Rồi từ cái lý luận củ chuối ấy mà họ cho rằng hai cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc và Tây Nam gắn với cái tên VNDCCH chứ không phải CHXHCNVN. Trên Đôi Mắt có tài liệu “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc 30 năm qua“, xuất bản tháng 10/1979, được coi là “Sách trắng” của Bộ ngoại giao nước CHXHCN Việt Nam, mời quý vị tham khảo. Rồi “Về mặt pháp lý, tính đến thời điểm này, tên gọi ấy được sử dụng nhiều hơn so với tên nước hiện nay” (?!). Câu này không ngu ngơ thì cũng tối tăm vô cùng. Sử dụng nhiều hơn là thế nào? Có ai đã thống kê bao nhiêu văn bản pháp luật, công văn, chứng từ,.. sử dụng VNDCCH và CHXHCNVN để so sánh tên nào được dùng nhiều hơn chưa? Còn nếu tính theo năm thì VNDCCH được sử dụng 31 năm trong khi CHXHCNVN tính đến nay là 37 năm. Mà trẻ con tiểu học cũng biết rằng 37 lớn hơn 31 nhé! Thật ra thì việc so sánh ít – nhiều kiểu này chẳng khác gì trò trẻ con?!

Thứ ba, phải chăng tên gọi là phải phản ánh chính xác thực trạng đất nước?

Theo quan niệm của người Việt Nam, việc đặt tên cho con cái là một vấn đề hệ trọng, bởi nó thể hiện mong muốn, ước nguyện của bậc cha mẹ đối với tương lai của con cái. Cái tên cũng chính là lời nhắc nhở cho người con ghi nhớ điều mà cha mẹ mong đợi ở mình để từ đó cố gắng hoàn thành ước nguyện ấy. Như vậy, cái tên có trước khi nguyện ước của đấng sinh thành trở thành hiện thực. Ví dụ như một đứa bé mới sinh được đặt tên là Trung Hậu thì không có nghĩa rằng người ta thấy nó trung hậu ngay từ lúc lọt lòng mà đặt tên như vậy. Hay như ông Nguyễn Phước Tương cố mãi mà không được công nhận hàm giáo sư nên tự đổi tên mình thành Tương Lai với mong ước sẽ thành giáo sư trong tương lai. Có điều ông này cố mãi, cố quá đến giờ, ở cái tuổi có thể “quá cố” bất cứ lúc nào nhưng vẫn chẳng được ai công nhận hàm giáo sư nên đành cố đấm ăn xôi tự gọi mình là giáo sư Tương Lai.

Quay trở lại tên gọi CHXHCNVN, như trên đã phân tích, đó là lời khẳng định nguyện vọng của nhân dân Việt Nam xây dựng đất nước tiến lên theo con đường XHCN. Bây giờ các vị ấy lại lấy lý do rằng ngày trước với tên VNDCCH, nước ta cũng đi theo con đường XHCN nên giờ có đổi tên cũng chẳng ảnh hưởng gì đến “con đường đã chọn”. Tên nào cũng chẳng thay đổi bản chất của vấn đề thì đổi để làm gì? Làm một cái việc vô nghĩa như thế với đủ loại tốn kém và phiền hà kèm theo, tưởng đâu chỉ là chuyện của những kẻ có vấn đề về thần kinh mới nghĩ ra.

Quốc huy nước VNDCCH và CHXHCNVN

Nhìn ra thế giới thì thế nào? Liên Xô ngay từ thời kỳ đầu thành lập đã mang tên làLiên bang CHXHCN Xô Viết mà như Lê Nin giải thích rằng “CHXHCN” có nghĩa là chính quyền Xô viết quyết tâm thực hiện bước chuyển lên chủ nghĩa xã hội chứ hoàn toàn không có nghĩa là đã thừa nhận chế độ kinh tế hiện nay là chế độ xã hội chủ nghĩa. Điều đó giống như nước ta hiện nay: tên nước phản ánh mục tiêu, nhiệm vụ và quyết tâm chính trị của giai cấp cầm quyền. Nếu hiểu một cách trụi lủi như các vị “lật pháp” rằng tên nước cần phải “thể hiện đúng trình độ phát triển hiện nay của đất nước” thì không lẽ vài năm sau trình độ của đất nước lên 1 mức mới thì lại phải đổi tên nước lần nữa và cứ thế cứ thế đổi? Các nước phát triển trên thế giới hiện nay danh xưng chỉ có chữ Cộng hòa và tên nước như: Cộng hòa Pháp, Cộng hòa liên bang Đức, Cộng hòa Ý, Liên bang Nga, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ,… chẳng nước nào có chữ Dân chủ cả. Vậy phải chăng ở những nước đó không có Dân chủ? Hay những nước như vậy đương nhiên là có dân chủ rồi nên không cần viết vào tên nước nữa? Nếu hiểu theo ý thứ hai này thì Việt Nam chẳng hề có dân chủ nên phải đặt tên là Việt Nam dân chủ cộng hòa? Rồi sau khi đổi tên nước thành VNDCCH được vài năm, các nhà “lật pháp” lại kiến nghị rằng nước ta hiện giờ đã thừa dân chủ rồi nên bỏ cái chữ dân chủ đi cho thành Việt Nam Cộng hòa? Ôi… tư duy các nhà “lật pháp”!!!!

Một vấn đề nhỏ nữa là trong cách hành văn tiếng Việt, danh xưng, tước hiệu, họ, chức vụ,.. đứng trước tên của đối tượng. Đầu thế kỷ 20, ảnh hưởng của Nho giáo Trung Quốc còn nặng nề nên cách gọi thường hơi hướng kiểu Tàu. Ví dụ: Tương Lai tiên sinh chứ không gọi tiên sinh Tương Lai… Theo cách đó, tên nước Việt Nam đã được đặt là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tương tự Trung Hoa Dân quốc, Đại Hàn dân quốc,… Ngày nay, tôn ti trật tự trong tiếng Việt đã ổn định, đi vào khuôn khổ, nề nếp nên danh xưng nước CHXHCN Việt Nam là “chuẩn men” chứ đổi lại thành VNDCCH thế nào cũng có bạn rận rành tiếng Việt lại lu loa lên rằng Nam Trung Hải đã thò tay vào sâu đến nỗi chỉnh sửa cả cái tên quốc gia!

Nói thêm chút về cấu trúc tiếng Việt ở đây:
Trong tiếng Việt thì danh từ đi trước và tính từ bổ nghĩa theo sau. Do đó một số ý kiến cho rằng đúng ngữ pháp thì phải là “Việt Nam Cộng hòa xã hội chủ nghĩa” (Việt Nam là danh từ, CHXHCN là tính từ theo sau) và do đó “Việt Nam dân chủ cộng hòa” là đúng ngữ pháp. Theo quan điểm của tôi, CHXHCN Việt Nam là đúng ngữ pháp vì: Cộng hòa là một danh từ (đầy đủ là “Nền cộng hòa”) còn XHCN là một tính từ bổ nghĩa cho danh từ “cộng hòa” trước nó. Hai từ này ghép lại là một cụm danh từ “CHXHCN”, nghĩa là “nền cộng hòa theo chủ nghĩa xã hội” và là danh xưng đứng trước danh từ Việt Nam. Tương tự vậy, “Việt Nam Dân chủ cộng hòa” đổi đúng theo ngữ pháp Việt Nam phải là “Cộng hòa dân chủ Việt Nam” (2 chữ “cộng hòa” và “dân chủ” đổi chỗ cho nhau). Nhìn sang tiếng Anh thì có thể thấy rõ hơn: Socialist Republic of Viet Nam, trong đó: Socialist (XHCN) là tính từ của Republic (Cộng hòa) of (của) nước Việt Nam.

Thứ tư, những hệ lụy trước mắt nếu đổi tên nước theo ý kiến của các nhà lật pháp

Trước bất kỳ sự thay đổi nào, một vấn đề luôn luôn được đặt ra là: làm điều đó chúng ta được gì và mất cái gì? Ví dụ khi bạn muốn đổi một cái điện thoại thì bạn phải trả lời được câu hỏi: mua nó bạn được trải nghiệm tính năng gì mới và khả năng tài chính của bạn có đáp ứng nổi điều đó một cách thoải mái không? Đôi khi chỉ vì “lỡ yêu rồi” nên cũng ráng “bóp mồm bóp miệng” để “rước được em nó về rinh”. Nhưng danh xưng một quốc gia thì đâu thể tùy hứng thế được! Đổi tên nước là một sự kiện trọng đại của quốc gia và chỉ xảy ra khi có những biến động chính trị to lớn và kéo theo nó là những thay đổi có hệ thống, phức tạp, phiền hà và tốn kém.

Chẳng phải quá thông minh để hình dung ra những phiền hà và tốn kém như sau:Thay đổi toàn bộ quốc huy, quốc danh trên các con dấu, biểu mẫu, tài khoản quốc tế, chứng từ quốc tế, sổ sách, ĐỔI TIỀN,.. Một con số khổng lồ, chưa kể đến khoảng thời gian mất cho những việc đó và những trục trặc, gián đoạn mà các công dân phải gánh chịu trong quá trình chuyển giao này. Tôi còn nhớ, sau khi “xứ Đoài” vinh dự được “nhập hộ khẩu Thủ đô” không bao lâu, tôi đi làm lại chứng minh nhân dân. Khi khai báo nguyên quán Hà Tây, cô nàng cán bộ lạnh lùng phán một câu: làm gì có tỉnh nào là tỉnh Hà Tây? Chợt rùng mình nghĩ giả sử các nhà “lật pháp” thành công, không biết bao nhiêu sương Sa Pa, Đà Lạt có đủ để bọc những câu tương tự: làm gì có nước nào là nước CHXHCN Việt Nam?

Mới chỉ là “kiến nghị” vu vơ mà đã có “hệ lụy” thế này đây!

Vậy đất nước này đánh đổi một khối lượng khổng lồ ngân sách, thời gian, sức lực cùng bao hệ lụy kèm theo để được cái gì? Chẳng được gì cả ngoài những cái “bánh vẽ” (đã chứng minh ở trên) và một cái tên nước “mới”, “tái chế” từ cái tên đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử của chính mình, đồng thời chứng minh cho thiên hạ thấy rằng mình vừa dốt lịch sử, vừa dốt tiếng Việt lại thích … đi giật lùi! Chuyện này còn hài hước hơn việc ta có một cái áo đã sử dụng chán chê, vứt đâu đó và lãng quên đi, cho đến một ngày ta gặp nó trong một tiệm quần áo cũ, lúc này kiểu áo đó đang “mốt” lại và ta phải bỏ ra một khoản tiền kha khá để mua lại nó.

Thế thì kẻ nào thực sự được hưởng lợi từ câu chuyện hài hước trên nếu nó thành sự thật? Đương nhiên, dễ thấy nhất và cụ thể nhất là các nhà máy in, các cửa hàng khắc dấu, băng rôn cờ hiệu,…- những con kiến cặm cụi đi tha những mảnh vụn lợi ích rơi vãi từ cái mỏ của đàn kền kền quốc tế, của đám sâu đang đục khoét rường cột chế độ – và sự hí hửng, thỏa mãn của lũ rận khi chúng nhấm nháp chút hoa hồng của hợp đồng bán nước mà quan thầy ban cho. Và chắc chắn một điều, biên lai của “bữa tiệc mừng tên mới” này sẽ do nhân dân Việt Nam thanh toán!

Vậy thì… có ai quen biết với các vị trong Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp không nhỉ? Hãy nhắc họ rằng ngày cá tháng tư đã qua được nửa tháng rồi trừ phi họ muốn bán món cá ươn khi cho rằng đề xuất đổi tên nước này là một điều nghiêm túc!

CẬP NHẬT 1:
Vậy là không phải chuyện cá ươn tháng tư nữa rồi. Hôm nay vnexpress.net phỏng vấn nhà “lật pháp” Nguyễn Minh Thuyết tại đây. Tôi đọc qua thì chẳng thấy có điều gì mới mẻ ngoài ba cái luận điệu cũ rích, rẻ tiền mà tôi đã phân tích ở trên. Xin điểm qua vài vấn đề mà ông “Giáo xư” này đưa ra:
NMT: Theo tôi, chúng ta nên trở lại với tên đầu tiên đã đặt khi mới giành được độc lập. Tên gọi này thể hiện đúng bản chất của chế độ là Cộng hòa Dân chủ. Thể chế Xã hội chủ nghĩa cũng là một kiểu nhà nước dân chủ, tuy nhiên tên Cộng hòa Dân chủ khái quát và phổ biến hơn.
Đôi mắt: Về “tên gọi” và “bản chất chế độ” thì tôi đã phân tích ở trên. Nhưng nếu nói “thể chế Cộng hòa Dân chủ là khái quát hơn và phổ biến hơn” thì không hiểu ông này muốn nói cái gì? Nếu phổ biến hơn nữa thì bỏ chữ Dân chủ đi cho thành Việt Nam cộng hòa đi. Bản chất chế độ “Cộng hòa dân chủ” là bản chất như thế nào? Cộng hòa Pháp, Hợp chúng quốc Hoa Kỳ,… không có chữ dân chủ thì bản chất nó như thế nào? Không hiểu ông GS này nói mà có hiểu những gì mình nói hay không?

NMT: Đối với đông đảo kiều bào nước ngoài, kể cả những người đã ra đi trước năm 1945 thì cái tên Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vẫn là một tên gọi quen thuộc, gần gũi. Nó cũng sẽ tạo điều kiện để nhiều kiều bào xích lại gần hơn với đất nước.
Đôi mắt: Ông này lấy cái gì chứng minh rằng tên gọi VNDCCH là “một tên gọi quen thuộc, gần gũi” với kiều bào hơn để “tạo điều kiện để nhiều kiều bào xích lại gần hơn với đất nước”? Kiều bào trước ra đi do sự kiện 30/04/1975 thì thấy tên gọi VNDCCH “quen thuộc” với “nỗi ám ảnh bị xâm lược”, nên đến tận bây giờ vẫn có những “kiều bào” kêu gọi “báo thù”, “quốc hận”,… Giáo với chẳng sư!

NMT: Cái tên cũng giống như bức tượng Phật trong nhà. Có tượng hay không có tượng, tượng gỗ hay tượng đồng thì thế gian vẫn có Phật. Cái tên không phải là chỉ dấu cho một sự đổi hướng nào. Lấy tên nào thì mục tiêu của chúng ta vẫn là xây dựng một nước Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Đương nhiên, đổi tên nước sẽ dẫn đến việc chi tiêu một khoản tiền nhất định để đổi con dấu, biển hiệu của cơ quan nhà nước, giấy tờ giao dịch… Tốn kém là có, nhưng cũng không lớn đến nỗi không nên làm. Nếu so sánh thì lợi ích đem lại lớn hơn nhiều. Và cũng phải cân nhắc, những gì không nhất thiết phải đổi như đồng tiền chẳng hạn thì không nên đổi.

Đôi mắt: ông này đúng là “miệng nam mô bụng một bồ dao găm”! Miệng thì leo lẻo có tượng hay không có tượng (có đổi tên hay không đổi tên) thì bản chất sự việc không đổi, vậy thì đòi đổi tên nước làm cái gì? Ông ta căn cứ vào đâu mà nói là “tốn kém không đến nỗi lớn”? “Ích lợi đem lại” là những cái bánh vẽ mà tôi đã phân tích trong bài. Cái ông giáo sư này có thấy trên thế giới này có nước nào mà tên nước trên đồng tiền khác với tên nước thực hay không?
Lạy trời cho đất nước này bớt đi cái đám “giáo sư” như vậy!

CẬP NHẬT 2:Liên quan đến bài viết này có một số bạn như Phạm Như Ý có ý kiến rằng: “Mỗi người một quan điểm, ai cũng có lý lẽ riêng và có quyền bày tỏ chính kiến của mình. Một số người ủng hộ có vị trí cao trong xã hội như nguyên Chủ nhiệm VPQH Vũ Mão”. Bên cạnh đó, tôi lên Facebook cũng có nhiều người ủng hộ tên “VNDCCH” nhưng sau khi “đấu lý” không được, họ vẫn bảo lưu quan điểm của họ nhưng với lý lẽ “dù sao thì tôi vẫn thích cái tên VNDCCH hơn”!Thưa các bạn đọc!Việc đòi đổi tên nước thật ra không phải là vấn đề mới mà đã âm ỉ hàng chục năm nay, giờ bất chợt “bùng lên” cùng sự kiện nhà nước lấy kiến nghị sửa đổi hiến pháp. Nếu chỉ là một quan điểm đơn thuần thì không nói làm gì, nhưng đây là một trong những mục tiêu của “diễn biến hòa bình”: đổi tên nước, rồi đòi bỏ quyền lãnh đạo của ĐCS, rồi trung lập quân đội,…Nhưng cho dù biết là thế, tôi cũng không phản đối nếu như lý do họ đưa ra là đúng, là thuyết phục và có lợi ích cho đất nước này. Vậy như tôi phân tích ở trên, các bạn xem họ đúng chỗ nào và dân lợi chỗ nào?Về đối tượng, tôi không lên án ai nếu chưa biết rõ về họ (thông qua các hành động phá hoại hoặc âm mưu phá hoại sự yên ổn của đất nước) mà “đánh” vào cái tư tưởng mà tôi cho rằng sai trái. Do vậy, tôi có thể hiểu và thông cảm cho từng CON NGƯỜI cụ thể chứ không chấp nhận thỏa hiệp với TƯ TƯỞNG sai trái.Về vấn đề tên nước này, tôi chia thành phần ủng hộ ra thành các loại sau:

  1. Thành phần cố tình cổ vũ cho việc này nhằm mục đích phá hoại sự ổn định chính trị của đất nước (rận chủ, lật pháp và đám giật dây sau lưng).
  2. Thành phần thích cái tên VNDCCH một cách tự nhiên, cảm tính, vì nhiều lý do như: tên đầu tiên của đất nước, tên Bác Hồ đặt, tên nghe hay,…
  3. Thành phần có vai vế trong XH mà tôi không chứng minh được nằm trong loại 1 (coi như họ theo loại 2), tích cực ủng hộ phương án đổi tên nước, phát biểu cổ vũ trên báo chí mà không đưa ra được một lý luận hợp lý nào, như ông Vũ Mão.

Thành phần 1 thì đã nói trong bài. Thành phần 2 nếu là những người hiểu lý lẽ thì khi được “tư vấn” sẽ biết cân đối nặng nhẹ mà thay đổi ý kiến của mình. Nếu họ vẫn thích theo sở thích cá nhân, còn thiệt hại của đất nước thì “sống chết mặc bay”, tôi cũng tôn trọng ý kiến của họ (làm gì có cái gì hoàn hảo được đâu!). Riêng đối với loại thứ 3, một số bạn đưa ra làm “lá chắn” (ông ấy to thế, quan trọng thế mà còn ủng hộ,..), tôi lấy trường hợp ông Vũ Mão làm ví dụ để trình bày như sau:1. Với cá nhân ông Vũ Mão (và các ông bà tương tự), tôi tôn trọng và biết ơn ông về những gì đã làm cho đất nước. Tuy nhiên, thành tích trong quá khứ chỉ có giá trị tham khảo đối với những vấn đề hiện tại. Không thể lấy huy chương vàng mà 1 VĐV đoạt được năm ngoái ra làm cơ sở chắc chắn rằng anh ta sẽ đoạt HCV năm nay! Ông Hoàng Văn Hoan đã từng là một “cây đa cây đề” của cách mạng Việt Nam nhưng điều đó không đảm bảo rằng ông ta đã không sai lầm khi bắt tay với Trung Quốc để chống lại dân tộc mình. Đối với một vấn đề cần tranh luận, tôi tin vào lý lẽ chứ không thể tin vào “cái tên” được. Ví dụ bây giờ, ông Lê Đức Anh nói không thể đổi tên nước thì các bạn nghe ai hay chỉ cân đong đo đếm xem “tên tuổi” ông nào to hơn? Do đó, nếu ông Vũ Mão nhận định sai thì tôi có thể thông cảm cho cá nhân ông ấy chứ không thể “thông cảm” cho cái tư tưởng, cái lý lẽ sai được.2. Về những điều ông Vũ Mão phát biểu trên báo Dân trí, tôi thấy chẳng có gì khác mấy so với lý lẽ của ông Nguyễn Minh Thuyết mà tôi đã phân tích ở trên. Tôi lược qua vài lý luận hơi “tươi mới” của ông ấy cho mọi người cùng đánh giá:- “Cho rằng việc này thực sự hợp lòng dân”: câu này rất vô bổ, sáo rỗng. Đã ai thống kê bao nhiêu người đồng ý, bao nhiêu người không đồng ý mà ông ấy nói vậy? Đây là bệnh chung của các quan chức thì phải, cái gì cũng rất chung chung, khái quát, kiểu: “tham nhũng những năm gần đây đã giảm nhiều rồi” mà chẳng đưa ra được số liệu giảm thế nào, nhiều là bao nhiêu,..- “Đảng ta phát động phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Việc lấy lại tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một việc làm rất thiết thực. Tên nước là Việt Nam dân chủ cộng hoà được Bác Hồ đặt ra, được quy định trong Hiến pháp 1946 và Hiến pháp 1959.”: Lý này thì chẳng hề mới, vẫn dựa vào cái bóng của Bác. Ngoài việc tôi phân tích lý do tên nước là VNDCCH ở phần trên, xin hỏi thêm một câu cho những người có cùng quan điểm với ông Vũ Mão: các vị lấy cơ sở gì để nói rằng nếu Bác còn ở lại với chúng ta và vẫn tham gia chính sự đến hết năm 1976 thì Bác lại không đồng ý đổi tên nước thành CHXHCN Việt Nam? hay thậm chí rất có thể Bác lại là người tiên phong trong việc đề nghị điều đó?- “Trong nhiều năm qua, tôi đã nhiều lần được gặp gỡ, “tiếp xúc với các cử tri Việt Kiều”. Tôi hiểu được nguyện vọng của bà con. Tôi tin rằng việc đổi lại tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ được bà con hoan nghênh. Như thế, càng có lợi cho sự nghiệp Đại đoàn kết toàn dân tộc.”: lại là con bài “đoàn kết dân tộc”, lại chủ quan khi cho rằng “tôi tin rằng việc đổi lại tên nước là Việt Nam Dân chủ Cộng hoà sẽ được bà con hoan nghênh”. Như đã nói ở trên, tên VNDCCH gắn liền với chiến tranh, đặc biệt là cuộc kháng chiến chống Mỹ, dẫn đến nỗi “ám ảnh” ăn sâu trong đầu của không ít kiều bào là “VNDCCH xâm lược VNCH”. 1976 đổi tên nước cũng một phần là xóa bỏ cái nỗi “ám ảnh” đó. Còn muốn xem kiều bào “hoan nghênh” thế nào thì mời mọi người xem ý kiến của độc giả hải ngoại đối với bài viết của tôi trên KBCHN.- “Tôi nghĩ bạn bè quốc tế cũng rất vui đón nhận tên gọi nói trên”: Vâng, lại nghĩ giùm cho cả thế giới! Có thể họ “vui vẻ” đó nhưng các bạn có bao giờ không đặt dấu hỏi cho một công ty đang làm ăn với mình bỗng dưng đổi tên, đổi dấu không? Chí ít là phải cảnh giác thế này: chắc nó gặp khó khăn nên đổi tên cho hợp phong thủy chăng? Vậy có ai mà “vui vẻ” tiếp tục làm ăn với 1 công ty như vậy không? Đổi tên nước thì một thằng nước ngoài vô tư nhất cũng phải đặt dấu hỏi về tình hình chính trị của nước này: cái gì biến động? có ảnh hưởng gì đến “nồi cơm” của mình không? chuẩn bị “đảo chính” à?.v.v… Vậy họ có “ngãng ra” để nghe ngóng một thời gian không? Ở đó mà “vui vẻ đón nhận”, trừ những thằng đã “biết trước” điều này!- “Các nước cùng thể chế chính trị như nước ta thì hầu như không nước nào đổi tên để có cụm từ xã hội chủ nghĩa như nước ta. Trung Quốc từ năm 1949 đến nay vẫn giữ nguyên gọi là nước cộng hoà nhân dân Trung Hoa”: Chẳng có nước nào trong các nước này trải qua cảnh bị chia đôi đất nước và chiến đấu sát nhập lại được như nước ta. Vậy thì họ đâu cần đổi tên nước làm gì vì một trong những lý do đổi tên nước là có 1 cái tên chung? Một chuyện nữa là nếu nói cùng thể chế chính trị, sao ông ấy không nói về các nước thuộc Liên bang Xô Viết ngày trước cũng đều là CHXHCN? Mà tại sao chúng ta cứ phải nhìn xem thế giới họ đặt tên thế nào thì mình bắt chước? Nước Cu Ba theo CNXH nhưng tên chỉ là Cộng hòa Cu Ba, giống như các nước đại tư bản vậy!- Nói về “tốn kém” thì lại giống như ông Nguyễn Minh Thuyết, ông Vũ Mão cũng ý rằng “không đáng bao nhiêu so với đại cuộc” dù cái “đại cuộc” được gì mất gì thì tôi đã phân tích ở trên (phải chăng phần lớn các ông “quan” đều có cái suy nghĩ tiêu tiền nhà nước như vậy?). Xin hỏi đã có ai hình dung (chưa cần thống kê) là sẽ tốn bao nhiêu tiền (chưa tính phiền toái) cho việc này chưa mà các ông ấy cứ nói nhẹ tênh vậy nhỉ? Một cây cầu, một con đường bị “ngắt nhéo” thì ít ra người dân còn có cầu, có đường mà đi nhưng tốn kém để đổi tên nước thì người dân được gì ngoài việc đọc tên nước nó hay, nó sướng? Những câu dạy thuộc dạng “chân lý” của Bác Hồ như về “tiết kiệm”, “chống lãng phí” thì ai cũng thuộc và đọc rất to nhưng cái việc mà các ông đang ủng hộ làm này là “lãng phí” hay “tiết kiệm”? Phải chăng các ông ấy chỉ thích “vận dụng” lời Bác theo ý của mình? 3. Mỗi cá nhân đương nhiên là sẽ có quan điểm riêng của mình. Nhưng khi đã là người gánh vách trọng trách của xã hội thì bắt buộc người ta phải biết cân nhắc, biết đắn đo lợi – hại đối với đất nước, với nhân dân trước khi đưa ra ý kiến của mình. Với vai trò như ông Vũ Mão, ông Nguyễn Minh Thuyết thì những phát biểu một cách tùy tiện như thế thậtvô trách nhiệm, bởi lẽ đến một dân đen như tôi còn hình dung ra những tiêu cực của việc mà các ông ấy đang ủng hộ, thì chẳng có lý gì các ông ấy lại không nghĩ đến được. Giả sử nước ta đổi tên thật, mất một đống tiền và công sức (trong thời buổi “thóc cao gạo kém” hiện nay), sau cơn hoan hỉ của những người thích cái tên VNDCCH, mà nước ta vẫn không thể “đi lên” như ước nguyện thì những ông như Vũ Mão, Nguyễn Minh Thuyết,.. cũng nào phải gánh vác trách nhiệm gì ngoài việc mang tiếng “dự sai”!? Không lẽ lúc đó lại quay về CHXHCN Việt Nam? Năm rồi nước ta cũng có khối cái luật, quy định được “đưa vào rồi lại đưa ra” đó thôi! Không lẽ đất nước này đã đến mức cần phải nghe theo lời của các “thầy phong thủy” đổi tên nước đặng mong đổi vận để phát triển?! Ôi cái sự đời!!!Nói tóm lại, mỗi người có một ý thích đối với cái tên nước nhưng nếu là một người có lòng với đất nước thì cần phải tỉnh táo nhìn nhận vấn đề một cách khoa học, cân nhắc thiệt hơn chứ đừng để mình ngã vào “đám đông”.

Nguồn: Đôi Mắt

Chiều 20/5, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý trình bày trước Quốc hội “Báo cáo về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trên cơ sở ý kiến nhân dân”.

Cột cờ Hà Nội
“Báo cáo về việc giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 trên cơ sở ý kiến nhân dân” đề nghị giữ tên nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Báo cáo cho biết, về tên nước qua tổng hợp, có nhiều ý kiến nhân dân đóng góp về vấn đề này. Nhìn chung các ý kiến cho rằng Điều 1 của Dự thảo đã thể hiện rõ những tiêu chí cơ bản của Nhà nước như tên nước, hình thức chính thể, chủ quyền quốc gia. Riêng về tên nước, còn có các loại ý kiến như sau:

Loại ý kiến thứ nhất đa số ý kiến đề nghị tiếp tục quy định tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Tên gọi này ra đời trong bối cảnh nước ta vừa hoàn thành cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, thống nhất đất nước, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, khẳng định rõ con đường, mục tiêu xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta. Tên gọi này đã được sử dụng ổn định từ tháng 7 năm 1976 đến nay, đã được chính thức ghi nhận trong Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992. Hơn nữa, việc thay đổi tên nước trong thời điểm hiện nay sẽ dẫn đến những hệ quả không có lợi, thậm chí có thể bị xuyên tạc là ta đang xa rời mục tiêu, con đường lên chủ nghĩa xã hội và làm phát sinh nhiều thủ tục hành chính, gây tốn kém, phức tạp.

Loại ý kiến thứ hai đề nghị lấy lại tên gọi Việt Nam dân chủ cộng hòa vì tên gọi này gắn liền với sự ra đời của chính thể cộng hòa đầu tiên ở nước ta, là thành quả của cuộc cách mạng giành độc lập tháng Tám năm 1945. Tên gọi này đã được chính thức ghi nhận trong Bản tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên đọc ngày 02 tháng 9 năm 1945 và tiếp tục được khẳng định trong Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, thể hiện rõ thể chế chính trị của nước ta là cộng hòa, bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ.

Ý kiến này cho rằng, việc lựa chọn tên nước là Việt Nam dân chủ cộng hòa không làm ảnh hưởng đến mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội của nước ta vì Lời nói đầu cũng như các quy định khác của Dự thảo đều khẳng định con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Ngoài ra, cũng có ý kiến đề nghị một số tên gọi khác.

Trên cơ sở nghiên cứu các ý kiến nêu trên, Ủy ban DTSĐHP nhận thấy, tên nước là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc Việt Nam dân chủ cộng hòa đều thể hiện rõ chính thể của nước ta là cộng hòa, bản chất của Nhà nước ta là Nhà nước dân chủ.

Tuy nhiên, việc giữ nguyên tên nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhằm tiếp tục khẳng định mục tiêu, con đường xây dựng và phát triển đất nước lên chủ nghĩa xã hội, bảo đảm tính ổn định, tránh việc phải thay đổi về quốc huy, con dấu, quốc hiệu trên các văn bản, giấy tờ. Hơn nữa, trải qua 37 năm, tên gọi này đã trở nên quen thuộc đối với nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế.

Giữ Điều 4

Báo cáo cho biết về cơ bản, ý kiến nhân dân tán thành việc khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, tán thành bổ sung quy định Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình. Qua tổng hợp, nhân dân tập trung góp nhiều ý kiến về cách thể hiện Điều 4, cụ thể như sau:

 

Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và là người phát ngôn của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 Phan Trung Lý
Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật và là người phát ngôn của Ủy ban dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 Phan Trung Lý.

 

Loại ý kiến thứ nhất tán thành với nội dung Điều 4 như trong Dự thảo đã công bố vì đã thể hiện một cách đầy đủ các nội dung và tinh thần của Cương lĩnh, Điều lệ Đảng về bản chất giai cấp, nền tảng tư tưởng của Đảng.

Loại ý kiến thứ hai đề nghị viết lại một cách khái quát, cô đọng tránh trùng lặp; chỉ cần khẳng định vai trò của Đảng trong Hiến pháp là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, còn những nội dung quy định về bản chất, nền tảng tư tưởng của Đảng đã được khẳng định trong Cương lĩnh và Điều lệ Đảng, không cần thiết phải quy định lại trong Hiến pháp. Bên cạnh đó, cũng có ý kiến đề nghị không quy định Điều 4 vì Đảng là tổ chức chính trị, được tổ chức và hoạt động theo Cương lĩnh và Điều lệ.

Ủy ban DTSĐHP báo cáo Quốc hội về vấn đề này như sau: Trước hết, cần khẳng định rằng, việc giữ Điều 4 quy định về vai trò lãnh đạo của Đảng là cần thiết. Quy định này là kế thừa quy định tại Điều 4 của Hiến pháp hiện hành, khẳng định tính lịch sử, tính tất yếu khách quan sự lãnh đạo của Đảng đối với quá trình cách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nước ta. Dự thảo đã bổ sung quy định về bản chất của Đảng theo tinh thần mới của Cương lĩnh, đó là: “Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng”. Chính do bản chất và nền tảng tư tưởng của Đảng như vậy nên nhân dân ta mới thừa nhận vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội của Đảng và ghi nhận vào Hiến pháp – đạo luật cơ bản của Nhà nước.

Do vậy, Ủy ban DTSĐHP đề nghị Quốc hội cho giữ Điều 4 như Dự thảo đã công bố.

Không đưa vấn đề ban hành luật về Đảng

Có ý kiến đề nghị làm rõ hơn cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội, cơ chế chịu trách nhiệm của Đảng và cơ chế để nhân dân giám sát Đảng. Ý kiến này đề nghị cần có Luật về Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm tạo cơ sở pháp lý cho Đảng thực thi vai trò, sứ mệnh lịch sử của mình đối với Nhà nước và xã hội, tạo sự minh bạch trong hoạt động của Đảng, tạo cơ sở cho nhân dân giám sát hoạt động của tổ chức Đảng và đảng viên.

Về vấn đề này, Ủy ban DTSĐHP nhận thấy, Đảng ta là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo thông qua Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng và chính sách, chủ trương lớn của mình… Cách thức, nội dung lãnh đạo được thể hiện linh hoạt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của từng giai đoạn, từng thời kỳ. Bên cạnh đó, quy định mọi tổ chức Đảng, đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật hiện đã là một bảo đảm quan trọng để nhân dân có điều kiện giám sát, giúp cho Đảng ta ngày càng trong sạch, vững mạnh hơn, xứng đáng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.

Hơn nữa, việc đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng cũng là vấn đề đang được tổng kết, nghiên cứu. Vì vậy, Ủy ban DTSĐHP đề nghị Quốc hội không đưa vấn đề ban hành luật về Đảng vào Dự thảo Hiến pháp.

“Sở hữu toàn dân” về đất đai

Báo cáo cho biết qua tổng hợp, có 3 loại ý kiến về sở hữu đất đai như sau:

Loại ý kiến thứ nhất đa số ý kiến tán thành với quy định của Dự thảo. Loại ý kiến này cho rằng quy định đất đai, các tài nguyên thiên thiên, các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý… thuộc sở hữu toàn dân là phù hợp.

Loại ý kiến thứ hai đề nghị đa dạng hóa sở hữu đất đai, trong đó có sở hữu tập thể, sở hữu cộng đồng và sở hữu tư nhân về đất ở. Ý kiến này cho rằng quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân là không rõ về chủ thể sở hữu.

Loại ý kiến thứ ba đề nghị tách thành hai điều, một điều quy định về sở hữu toàn dân, một điều quy định về sở hữu nhà nước. Ý kiến này cho rằng, cần có sự phân biệt rạch ròi giữa đất đai là tài nguyên quốc gia – thuộc sở hữu toàn dân với những đất đai mà toàn dân đã giao cho Nhà nước – một chủ thể cụ thể quản lý, sở hữu.

Ủy ban DTSĐHP báo cáo Quốc hội vấn đề này như sau: Quy định đất đai, các tài nguyên thiên thiên, các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý… thuộc sở hữu toàn dân là quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đã được xác định từ năm 1980 đến nay.

Vấn đề sở hữu về đất đai không chỉ là vấn đề kinh tế mà còn là vấn đề chính trị – xã hội. Để làm rõ hơn nội dung này, Dự thảo đã xác định đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, thềm lục địa, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Vì vậy, đề nghị giữ nguyên cách dùng khái niệm “sở hữu toàn dân” và không quy định đa sở hữu về đất đai.

N.C.KHANH

Đại hội Đảng lần thứ XI tiếp tục khẳng định nguyên tắc Đảng lãnh đạo QĐND Việt Nam tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt. Đây là một vấn đề chiến lược không chỉ có ý nghĩa quyết định đối với sức mạnh chiến đấu của quân đội, mà còn liên quan trực tiếp đến sự an nguy của đất nước, sự sống còn của chế độ XHCN.

Theo dòng lịch sử cho thấy, trong quá trình lãnh đạo công cuộc xây dựng và bảo vệ nước Cộng hòa Xô-viết còn non trẻ, V.I.Lê-nin rất quan tâm xây dựng Hồng quân vững mạnh làm nòng cốt bảo vệ Tổ quốc, trong đó Người đặc biệt chú trọng việc Đảng Cộng sản (ĐCS) nắm vững quyền lãnh đạo đối với quân đội, coi đó là nguyên tắc quan trọng hàng đầu trong xây dựng quân đội kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Nhờ kiên định nguyên tắc đó, Hồng quân và nước Cộng hòa Xô-viết đã vượt qua những thử thách nghiệt ngã của thời kỳ nội chiến chống các thế lực phản cách mạng cùng sự can thiệp của 14 nước đế quốc, tiếp tục vượt qua những gian khổ hy sinh to lớn trong Đại chiến Thế giới lần thứ II, làm nên những chiến thắng vĩ đại, khẳng định sức mạnh vô địch của quân đội kiểu mới và sức sống mãnh liệt của Tổ quốc XHCN, tác động to lớn đến sự phát triển của phong trào cách mạng trên thế giới…. Vào những năm 1986-1991 M.Goóc-ba-chốp làm Tổng bí thư ĐCS Liên Xô, những người lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô đã xa rời các nguyên tắc xây dựng quân đội kiểu mới, mắc sai lầm rất nghiêm trọng về chiến lược, nhất là xóa bỏ cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, thực hiện chủ trương “Quốc gia hóa quân đội”, làm cho quân đội bị “Phi chính trị hóa” và bị vô hiệu hóa. Đó là một nguyên nhân rất quan trọng dẫn tới sự sụp đổ và tan rã của Liên bang Cộng hòa XHCN Xô-viết vào cuối năm 1991. Dù lúc đó Quân đội Liên Xô có 3,9 triệu quân thường trực, trang bị rất hiện đại, vượt xa các nước về lực lượng chiến đấu thông thường và lực lượng hạt nhân chiến lược, nhưng bị tha hóa về chính trị nên mất sức chiến đấu, không thể bảo vệ được Tổ quốc XHCN… Thực tế ở Liên Xô để lại nhiều bài học.

 

Kiên định nguyên tắc Đảng lãnh đạo quân đội. Ảnh: Internet

Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” chống phá cách mạng nước ta, các thế lực thù địch tăng cường những âm mưu, thủ đoạn nhằm “phi chính trị hóa” quân đội, tập trung bài xích cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, kích động khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò của chỉ huy, hạ thấp vai trò của hệ thống tổ chức đảng, hệ thống chính ủy (chính trị viên), cơ quan chính trị và chế độ công tác Đảng, công tác chính trị (CTĐ, CTCT) trong quân đội. Chúng ra sức truyền bá quan điểm và thúc đẩy xu hướng đòi “Quốc gia hóa quân đội”, yêu cầu “Luật hóa mọi vấn đề về tổ chức và hoạt động của quân đội” theo kịch bản “Cách mạng pháp luật” của phương Tây tư bản chủ nghĩa. Một số cán bộ, đảng viên và nhân dân ta cũng ngộ nhận đối với quan điểm này, có lập luận cho rằng, trong kháng chiến chống Pháp quân đội ta đã từng là “Quân đội quốc gia”.

Đúng là khi Đảng ta rút vào hoạt động bí mật (11-1945/2-1951), trong tình thế hiểm nghèo phải thực hiện sách lược nhân nhượng để thêm bạn bớt thù, bộ máy Nhà nước có người của lực lượng Việt quốc, Việt cách và người không đảng phái, quân đội ta có lúc mang tên Quân đội quốc gia Việt Nam (1946-1950), nhưng Đảng ta vẫn giữ vững sự lãnh đạo đối với quân đội. Tháng 1-1946, Ban Chấp hành Trung ương (BCHTW) Đảng quyết định thành lập Trung ương Quân ủy nhằm tăng cường sự lãnh đạo đối với quân đội và cuộc kháng chiến. Tháng 5-1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký một số sắc lệnh quan trọng như Sắc lệnh số 71/SL, Sắc lệnh số 47/SL, Sắc lệnh số 60/SL. Theo các sắc lệnh đó, đồng chí Võ Nguyên Giáp (khi ấy là Ủy viên Thường vụ Trung ương Đảng, Bí thư Trung ương Quân ủy) được giao trọng trách là Tổng chỉ huy quân đội và dân quân toàn quốc, Chủ tịch Quân sự ủy viên hội là cơ quan quân sự tối cao có nhiệm vụ điều khiển quân đội toàn quốc; trong quân đội từ cấp trung đội đến cấp trung đoàn có Chính trị viên, cấp chiến khu có Chính trị ủy viên do Chủ tịch nước ký quyết định bổ nhiệm. Điều này thể hiện sâu sắc bản lĩnh, trí tuệ của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa kiên định nguyên tắc chiến lược, vừa mềm dẻo về sách lược để lãnh đạo dân tộc vượt qua hiểm nguy, giành thắng lợi vẻ vang.

Trong bối cảnh đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc diễn ra rất gay go và phức tạp, thực chất của quan điểm “Quốc gia hóa quân đội” là nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, làm cho quân đội mất định hướng chính trị, hiệu lực lãnh đạo, chỉ huy bị suy yếu, bị tha hóa biến chất và không đủ sức bảo vệ Tổ quốc XHCN; đồng thời làm cho Đảng không nắm được quân đội, dẫn đến mất vai trò đảng cầm quyền, đưa đất nước lâm vào tình trạng mất ổn định và nguy cơ suy thoái… Với lẽ đó, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội không chỉ có ý nghĩa chiến lược, mà còn mang tính cấp thiết.

Để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong thời kỳ mới, trước hết cần tập trung cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghiêm túc cơ chế, hệ thống định chế và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Cần nhận thức sâu sắc hơn về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của quân đội trong thời kỳ mới; kiên quyết khắc phục nếp nghĩ “nuôi quân ba năm dùng một giờ”, coi việc xây dựng quân đội chỉ để dùng trong chiến tranh và lo đối phó với chiến tranh. Tư duy mới về bảo vệ Tổ quốc XHCN đòi hỏi phải sử dụng hợp lý và phát huy tối ưu vai trò của quân đội trong đấu tranh phòng, chống “diễn biến hòa bình” và “cách mạng màu” của các thế lực thù địch, trong xử trí các tình huống an ninh phi truyền thống và các hoạt động quân sự phi chiến tranh, trong thực hiện các nhiệm vụ của đội quân công tác, đội quân lao động sản xuất, sẵn sàng đối phó thắng lợi với mọi tình huống phức tạp có thể xảy ra, bảo đảm cho đất nước luôn chủ động về chiến lược. Để thực hiện điều này cần có những quy định thật rõ ràng, cụ thể về trách nhiệm và thẩm quyền của BCHTW, Bộ Chính trị (BCT), Ban Bí thư (BBT) và Quân ủy Trung ương (QUTƯ), của Tổng bí thư đồng thời là Bí thư QUTƯ, của Chủ tịch nước đồng thời là Thống lĩnh các LLVT đối với các vấn đề tổ chức và hoạt động của quân đội.

Cần thấy rõ sự thống nhất nhưng không đồng nhất trong cơ chế lãnh đạo, điều hành của Đảng và Nhà nước đối với QĐND Việt Nam và Bộ Quốc phòng, trong đó đáng chú ý là cơ chế lãnh đạo, điều hành đối với Bộ Tổng tham mưu và Tổng cục Chính trị khác với các cơ quan Bộ Quốc phòng. Cần có những định chế cụ thể để BCT, BBT, QUTƯ và Tổng bí thư trực tiếp, thường xuyên chỉ đạo, điều hành đối với tổ chức và hoạt động của hai cơ quan này như đối với các ban của Đảng ở Trung ương, bảo đảm cho Đảng luôn nắm vững quyền lãnh đạo đối với quân đội và kiểm soát toàn diện đối với chỉ huy quân đội.

Mặt khác cần phát triển và vận hành thống nhất, đồng bộ, có hiệu quả các yếu tố hợp thành cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội. Đảng thực hiện sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội thông qua hệ thống tổ chức đảng, hệ thống chỉ huy, hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị các cấp và các tổ chức quần chúng ở cơ sở. Do đó, cần tăng cường bồi dưỡng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, chú trọng cấp ủy đảng ở cơ sở và cơ quan tham mưu chiến dịch – chiến lược; tập trung nâng cao năng lực quán triệt, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghị quyết, chất lượng sinh hoạt của cấp ủy, chi bộ. Cùng với đẩy mạnh Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” có chiều sâu và độ bền vững, cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát trong Đảng, nhất là việc chấp hành nghị quyết và Điều lệ Đảng, chấp hành các nguyên tắc tổ chức và hoạt động, chế độ công tác, quy chế và quy trình làm việc trên các lĩnh vực hệ trọng, nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực. Xử lý nghiêm túc những trường hợp vi phạm nguyên tắc, mất đoàn kết nội bộ, kém tính đảng, thiếu trách nhiệm trong công tác.

Một trong những đặc trưng bản chất đồng thời là yếu tố vượt trội của quân đội ta là sự thống nhất, đồng bộ cơ chế lãnh đạo, chỉ huy, trong đó tổ chức và hoạt động chỉ huy phục tùng tổ chức và hoạt động lãnh đạo, đồng thời hiệu lực lãnh đạo thể hiện tập trung rõ nét trong phát huy có hiệu quả tính chủ động, sáng tạo của tổ chức chỉ huy. Do đó, cần chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ chỉ huy và cơ quan chỉ huy tham mưu có tính đảng cao và bản lĩnh chính trị vững vàng, có năng lực trí tuệ và trình độ tổ chức hoạt động thực tiễn tốt, nắm vững và thực hiện nghiêm túc các nguyên tắc, nội dung, quy trình và chế độ công tác chỉ huy tham mưu đồng thời am hiểu CTĐ, CTCT trong quân đội, có phương pháp, tác phong làm việc khoa học đáp ứng chức trách, nhiệm vụ được giao, thực sự là những “chỉ huy đỏ” gương mẫu, trung thành và tin cậy của Đảng.

Trong cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, hệ thống cơ quan chính trị và đội ngũ cán bộ chính trị là lực lượng nòng cốt tiến hành CTĐ, CTCT nhằm giữ vững sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Do đó, cần coi trọng kiện toàn và bồi dưỡng, nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan chính trị, cán bộ chính trị, nhất là những chính ủy, chính trị viên trong quân đội thật sự tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, năng lực trí tuệ, tính tiền phong gương mẫu, năng lực tư duy lý luận và trình độ tổ chức hoạt động thực tiễn, nắm vững và thực hiện tốt các nguyên tắc, nội dung, chế độ công tác và quy trình, phương pháp tiến hành CTĐ, CTCT, đồng thời am hiểu khoa học nghệ thuật quân sự và nghệ thuật tổ chức chỉ huy theo chức trách, nhiệm vụ được giao, thực sự là người đại diện mang tinh thần và kỷ luật của Đảng vào trong tổ chức và hoạt động của quân đội…

Đồng thời phải xây dựng và thực hiện có hiệu quả chiến lược cán bộ đúng đắn trong quá trình chuyển tiếp các thế hệ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy của quân đội, nhất là cấp chiến dịch – chiến lược. Những năm gần đây, hầu hết tướng lĩnh, sĩ quan dạn dày trận mạc, được tôi luyện và kiểm nghiệm nghiêm ngặt cả về bản lĩnh và trí tuệ, đạo đức và lối sống, phong cách lãnh đạo, chỉ huy và năng lực tổ chức thực tiễn trong những năm chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh từng bước chuyển giao trọng trách cho lớp cán bộ lớn lên trong thời bình, được đào tạo cơ bản nhưng còn ít trải nghiệm thực tiễn, nhất là trong xử trí các tình huống chính trị – quân sự phức tạp. Trong chiến lược “Diễn biến hòa bình”, các thế lực thù địch tăng cường “can dự” sâu hơn vào quá trình chuyển tiếp các thế hệ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy của quân đội ta, ra sức mua chuộc, lôi kéo những cán bộ có biểu hiện tha hóa về đạo đức và lối sống để thúc đẩy “tự chuyển hóa” về chính trị, nhằm tạo ra lớp cán bộ “đỏ vỏ, xanh lòng” làm nhân cốt thực hiện “phi chính trị hóa quân đội”. Do đó, để tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội, vấn đề then chốt có ý nghĩa quyết định là xây dựng, thực hiện tốt chiến lược cán bộ lãnh đạo, chỉ huy của quân đội, nhất là cán bộ cấp chiến dịch – chiến lược.

Cần quán triệt sâu sắc, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện nghiêm túc nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ. Tập thể cấp ủy đảng trực tiếp quyết định mọi vấn đề về cán bộ theo phân cấp quản lý, tránh tình trạng người đứng đầu độc đoán, gia trưởng áp đặt theo ý chí cá nhân, nhất là khi người đứng đầu nắm giữ các cương vị chủ chốt cả về đảng và chính quyền. Kiên quyết không để các “tập đoàn lợi ích đặc biệt” thông qua vận động hành lang để can dự, thậm chí thao túng các vấn đề nhân sự cán bộ. Đồng thời phải thực sự phát huy dân chủ trong công tác cán bộ. Cần bổ sung, hoàn thiện và tổ chức thực hiện nghiêm túc cơ chế, quy chế, quy trình và chế độ công tác cán bộ nhằm phát huy trách nhiệm, trí tuệ của cấp ủy đảng, của chính ủy (chính trị viên) và người chỉ huy, cơ quan chính trị và các tổ chức quần chúng trong công tác cán bộ.

Cùng với đó, không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả CTĐ, CTCT trong quân đội. Đây là hoạt động nhằm trực tiếp tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với quân đội và xây dựng quân đội vững mạnh về chính trị. Cần quán triệt sâu sắc các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, bám sát thực tiễn, hướng mạnh về cơ sở, tập trung bồi dưỡng nâng cao chất lượng chính trị – tư tưởng của quân đội, làm cho cán bộ, chiến sĩ có bản lĩnh chính trị vững vàng, nhận thức đúng về đối tượng và đối tác, về hợp tác và đấu tranh, kiên định nền tảng tư tưởng, đường lối quan điểm và nguyên tắc của Đảng, lý tưởng chiến đấu vì độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước XHCN và nhân dân, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Xây dựng các tổ chức đảng trong quân đội thực sự trong sạch vững mạnh, có năng lực lãnh đạo toàn diện và sức chiến đấu cao, là hạt nhân lãnh đạo hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ. Xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội có số lượng và cơ cấu hợp lý, đồng bộ và chất lượng cao, làm nòng cốt trong tổ chức thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ và xây dựng đơn vị. Nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác bảo vệ chính trị nội bộ, phòng giam giữ bí mật, xây dựng đơn vị an toàn gắn với địa bàn an toàn, chủ động đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn xâm nhập, cài cắm, móc nối để phá hoại của các thế lực thù địch. Làm tốt công tác dân vận, tăng cường đoàn kết quân dân, tích cực góp phần xây dựng hệ thống chính trị ở cơ sở và giữ vững ổn định chính trị của đất nước, đồng thời xây dựng vững chắc nền tảng chính trị – xã hội của quân đội. Giữ vững và phát huy bản chất, truyền thống tốt đẹp Bộ đội Cụ Hồ, tạo chuyển biến mạnh mẽ, có chiều sâu và độ vững chắc về đoàn kết, dân chủ và kỷ luật trong quân đội.

Thực hiện nguyên tắc Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với quân đội là vấn đề chiến lược có tính khoa học cao, chúng ta cần tích cực tổng kết thực tiễn kết hợp với nghiên cứu lý luận để nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về vấn đề này, không ngừng bổ sung, hoàn thiện và nâng cao hiệu lực cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với quân đội trong thời kỳ mới./.

Trung tướng PGS, TS Nguyễn Tiến Bình

Quân đội Nhân dân

CHÍNH PHỦ
——–

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————-

Số: 71/2012/NĐ-CP

Hà Nội, ngày 19 tháng 09 năm 2012

 

NGHỊ ĐỊNH

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 34/2010/NĐ-CP NGÀY 02 THÁNG 4 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật giao thông đường bộ ngày 13 tháng 11 năm 2008;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải;

Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ,

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ cụ thể như sau:

1. Sửa đổi, bổ sung Điều 8 như sau:

“Điều 8. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe ô tô và các loại xe tương tự ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm a, Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 2; Điểm a, Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm a, Điểm c, Điểm d Khoản 5; Điểm a Khoản 6; Điểm a Khoản 7 Điều này;

b) Chuyển hướng không nhường quyền đi trước cho: Người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ; xe thô sơ đang đi trên phần đường dành cho xe thô sơ;

c) Chuyển hướng không nhường đường cho: Các xe đi ngược chiều; người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đường tại nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ;

d) Khi dừng xe, đỗ xe không có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết;

đ) Khi đỗ xe chiếm một phần đường xe chạy không đặt ngay báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe theo quy định, trừ trường hợp đỗ xe tại vị trí quy định được phép đỗ xe;

e) Không gắn biển báo hiệu ở phía trước xe kéo, phía sau xe được kéo; không nối chắc chắn, an toàn giữa xe kéo và xe được kéo khi kéo nhau; xe kéo rơ moóc không có biển báo hiệu theo quy định;

g) Không giữ khoảng cách an toàn để xảy ra va chạm với xe chạy liền trước hoặc không giữ khoảng cách theo quy định của biển báo hiệu “Cự ly tối thiểu giữa hai xe”, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm i Khoản 4 Điều này;

h) Không tuân thủ các quy định về nhường đường tại nơi đường bộ giao nhau, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm d, Điểm đ Khoản 2 Điều này;

i) Bấm còi hoặc gây ồn ào, tiếng động lớn làm ảnh hưởng đến sự yên tĩnh trong đô thị và khu đông dân cư trong thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 5 giờ ngày hôm sau, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định;

k) Người điều khiển, người ngồi hàng ghế phía trước trong xe ô tô có trang bị dây an toàn mà không thắt dây an toàn khi xe đang chạy;

l) Chở người ngồi hàng ghế phía trước trong xe ô tô có trang bị dây an toàn mà không thắt dây an toàn khi xe đang chạy.

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Chuyển làn đường không đúng nơi cho phép hoặc không có tín hiệu báo trước, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm i Khoản 4 Điều này;

b) Điều khiển xe chạy tốc độ thấp mà không đi về bên phải phần đường xe chạy;

c) Để người ngồi trên buồng lái quá số lượng quy định;

d) Không giảm tốc độ và nhường đường khi điều khiển xe chạy từ trong ngõ, đường nhánh ra đường chính;

đ) Không nhường đường cho xe xin vượt khi có đủ điều kiện an toàn; không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, đường chính từ bất kỳ hướng nào tới tại nơi đường giao nhau;

e) Xe được quyền ưu tiên khi đi làm nhiệm vụ không có tín hiệu còi, cờ, đèn theo đúng quy định;

g) Dừng xe, đỗ xe trên phần đường xe chạy ở đoạn đường ngoài đô thị nơi có lề đường rộng; dừng xe, đỗ xe không sát mép đường phía bên phải theo chiều đi ở nơi đường có lề đường hẹp hoặc không có lề đường; đỗ xe trên dốc không chèn bánh; mở cửa xe, để cửa xe mở không bảo đảm an toàn;

h) Dừng xe không sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi hoặc bánh xe gần nhất cách lề đường, hè phố quá 0,25 mét; dừng xe trên đường xe điện, đường dành riêng cho xe buýt; dừng xe trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước, nơi có biển cấm dừng; rời vị trí lái, tắt máy khi dừng xe; dừng xe, đỗ xe không đúng vị trí quy định ở những đoạn có bố trí nơi dừng xe, đỗ xe; dừng xe, đỗ xe trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường;

i) Quay đầu xe trái quy định trong khu dân cư;

k) Quay đầu xe ở phần đường dành cho người đi bộ qua đường, trên cầu, đầu cầu, gầm cầu vượt, ngầm, đường hẹp, đường dốc, đoạn đường cong tầm nhìn bị che khuất, nơi có biển báo “cấm quay đầu xe”;

l) Lùi xe ở đường một chiều, ở khu vực cấm dừng, trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường, nơi đường bộ giao nhau, nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt, nơi tầm nhìn bị che khuất; lùi xe không quan sát hoặc không có tín hiệu báo trước.

3. Phạt tiền từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 05 km/h đến dưới 10 km/h;

b) Bấm còi, rú ga liên tục; bấm còi hơi, sử dụng đèn chiếu xa trong đô thị, khu đông dân cư, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định;

c) Chuyển hướng không giảm tốc độ hoặc không có tín hiệu báo hướng rẽ;

d) Quay đầu xe tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; không tuân thủ các quy định về dừng xe, đỗ xe tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; dừng xe, đỗ xe trong phạm vi an toàn của đường sắt;

đ) Dừng xe, đỗ xe tại vị trí: Bên trái đường một chiều; trên đoạn đường cong hoặc gần đầu dốc nơi tầm nhìn bị che khuất; trên cầu, gầm cầu vượt, song song với một xe khác đang dừng, đỗ; nơi đường bộ giao nhau hoặc trong phạm vi 05 mét tính từ mép đường giao nhau; điểm dừng đón, trả khách của xe buýt; trước cổng hoặc trong phạm vi 05 mét hai bên cổng trụ sở cơ quan, tổ chức có bố trí đường cho xe ô tô ra vào; nơi phần đường có bề rộng chỉ đủ cho một làn xe; che khuất biển báo hiệu đường bộ;

e) Đỗ xe không sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi hoặc bánh xe gần nhất cách lề đường, hè phố quá 0,25 mét; đỗ xe trên đường xe điện, đường dành riêng cho xe buýt; đỗ xe trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước; đỗ xe nơi có biển cấm dừng hoặc biển cấm đỗ; đỗ, để xe ở hè phố trái quy định của pháp luật;

g) Không sử dụng đủ đèn chiếu sáng về ban đêm hoặc khi sương mù, thời tiết xấu hạn chế tầm nhìn; sử dụng đèn chiếu xa khi tránh nhau;

h) Xe không được quyền ưu tiên sử dụng tín hiệu còi, cờ, đèn của xe ưu tiên;

i) Xe ô tô kéo theo từ hai xe ô tô khác trở lên; xe ô tô đẩy xe khác; xe ô tô kéo xe thô sơ, mô tô, xe gắn máy hoặc kéo lê vật trên đường; xe kéo rơ moóc, sơ mi rơ moóc kéo theo rơ moóc hoặc xe khác;

k) Chở người trên xe được kéo, trừ người điều khiển.

4. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Chạy trong hầm đường bộ không sử dụng đèn chiếu sáng gần; lùi xe, quay đầu xe trong hầm đường bộ; dừng xe, đỗ xe, vượt xe trong hầm đường bộ không đúng nơi quy định;

b) Đi vào đường cấm, khu vực cấm, đi ngược chiều của đường một chiều; trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định;

c) Điều khiển xe không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường hoặc làn đường quy định;

d) Điều khiển xe chạy dưới tốc độ tối thiểu trên những đoạn đường bộ có quy định tốc độ tối thiểu cho phép;

đ) Dừng xe, đỗ xe, quay đầu xe trái quy định gây ùn tắc giao thông;

e) Dừng xe, đỗ xe, mở cửa xe không bảo đảm an toàn gây tai nạn;

g) Không nhường đường hoặc gây cản trở xe ưu tiên;

h) Không thực hiện biện pháp bảo đảm an toàn theo quy định khi xe ô tô bị hư hỏng ngay tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt;

i) Không tuân thủ các quy định khi vào hoặc ra đường cao tốc; điều khiển xe chạy ở làn dừng xe khẩn cấp hoặc phần lề đường của đường cao tốc; dừng xe, đỗ xe trên phần đường xe chạy trên đường cao tốc; quay đầu xe, lùi xe trên đường cao tốc; chuyển làn đường không đúng nơi cho phép hoặc không có tín hiệu báo trước khi chạy trên đường cao tốc; không tuân thủ quy định ghi trên biển báo hiệu về khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước khi chạy trên đường cao tốc;

k) Không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông.

5. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến 20 km/h;

b) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa tới mức vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 1, Điểm a Khoản 8 Điều này;

c) Vượt trong các trường hợp cấm vượt; vượt bên phải xe khác trong trường hợp không được phép; không có báo hiệu trước khi vượt;

d) Tránh xe không đúng quy định; không nhường đường cho xe đi ngược chiều theo quy định tại nơi đường hẹp, đường dốc, nơi có chướng ngại vật;

đ) Không tuân thủ hướng dẫn của người điều khiển giao thông khi qua phà, cầu phao hoặc nơi ùn tắc giao thông; không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông.

6. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20 km/h đến 35 km/h;

b) Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường; bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn.

7. Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 35 km/h; điều khiển xe đi ngược chiều trên đường cao tốc, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định;

b) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở;

c) Điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy;

d) Điều khiển xe lạng lách, đánh võng; chạy quá tốc độ đuổi nhau trên đường bộ;

đ) Không chú ý quan sát, điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định gây tai nạn giao thông; tránh, vượt không đúng; quy định gây tai nạn giao thông hoặc không giữ khoảng cách an toàn giữa hai xe theo quy định gây tai nạn giao thông.

8. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở;

b) Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người kiểm soát giao thông hoặc người thi hành công vụ.

9. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm d Khoản 7 Điều này mà gây tai nạn hoặc không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của người thi hành công vụ hoặc chống người thi hành công vụ.

10. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

a) Vi phạm Điểm h Khoản 3 Điều này bị tịch thu còi, cờ, đèn sử dụng trái quy định;

b) Vi phạm Điểm h Khoản 3; Điểm b, Điểm c, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm b Khoản 5; Điểm a Khoản 6 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

c) Vi phạm Điểm i Khoản 3; Điểm a, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 4; Điểm c, Điểm đ Khoản 5; Điểm b Khoản 6; Điểm a, Điểm b, Điểm d, Điểm đ Khoản 7; Khoản 8 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày. Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều này mà gây tai nạn giao thông nhưng chưa tới mức nghiêm trọng thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày: Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 1; Điểm a, Điểm b, Điểm d, Điểm g, Điểm h, Điểm i, Điểm k, Điểm l Khoản 2; Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 3; Điểm b, Điểm c, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm b Khoản 5;

d) Vi phạm Điểm c Khoản 7, Khoản 9 Điều này hoặc tái phạm Điểm d Khoản 7 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn. Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều này mà gây tai nạn giao thông từ mức nghiêm trọng trở lên thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn: Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 1; Điểm a, Điểm b, Điểm d, Điểm g, Điểm h, Điểm i, Điểm k, Điểm l Khoản 2; Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h, Điểm i Khoản 3; Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm e, Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm b, Điểm đ Khoản 5; Điểm b, Điểm đ Khoản 7; Khoản 8.”

2. Sửa đổi, bổ sung Điều 9 như sau:

“Điều 9. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ

1. Phạt tiền từ 60.000 đồng đến 80.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm a, Điểm đ, Điểm h Khoản 2; Điểm c, Điểm đ, Điểm h Khoản 3; Điểm c, Điểm d, Điểm e, Điểm g, Điểm i Khoản 4; Điểm a, Điểm c, Điểm d Khoản 5; Điểm đ Khoản 6; Điểm d Khoản 7 Điều này;

b) Không có báo hiệu xin vượt trước khi vượt;

c) Không giữ khoảng cách an toàn để xảy ra va chạm với xe chạy liền trước hoặc không giữ khoảng cách theo quy định của biển báo hiệu “Cự ly tối thiểu giữa hai xe”;

đ) Chuyển hướng không nhường quyền đi trước cho: Người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ; xe thô sơ đang đi trên phần đường dành cho xe thô sơ;

đ) Chuyển hướng không nhường đường cho: Các xe đi ngược chiều; người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đường tại nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ;

e) Lùi xe mô tô ba bánh không quan sát hoặc không có tín hiệu báo trước;

g) Dùng đèn chiếu xa khi tránh nhau;

h) Người đang điều khiển xe sử dụng ô, điện thoại di động, thiết bị âm thanh, trừ thiết bị trợ thính; người ngồi trên xe sử dụng ô.

2. Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Chuyển làn đường không đúng nơi được phép hoặc không có tín hiệu báo trước;

b) Điều khiển xe chạy dàn hàng ngang từ 3 (ba) xe trở lên;

c) Không sử dụng đèn chiếu sáng về ban đêm hoặc khi sương mù, thời tiết xấu hạn chế tầm nhìn;

d) Không nhường đường cho xe xin vượt khi có đủ điều kiện an toàn; không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, đường chính từ bất kỳ hướng nào tới tại nơi đường giao nhau;

đ) Tránh xe không đúng quy định; không nhường đường cho xe đi ngược chiều theo quy định tại nơi đường hẹp, đường dốc, nơi có chướng ngại vật;

e) Bấm còi trong thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 5 giờ ngày hôm sau, sử dụng đèn chiếu xa trong đô thị, khu đông dân cư, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định;

g) Xe được quyền ưu tiên khi đi làm nhiệm vụ không có tín hiệu còi, cờ, đèn theo đúng quy định;

h) Quay đầu xe tại nơi cấm quay đầu xe.

3. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Dừng xe, đỗ xe trên phần đường xe chạy ở đoạn đường ngoài đô thị nơi có lề đường;

b) Không giảm tốc độ hoặc không nhường đường khi điều khiển xe chạy từ trong ngõ, đường nhánh ra đường chính;

c) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 05 km/h đến dưới 10 km/h;

d) Điều khiển xe chạy tốc độ thấp mà không đi bên phải phần đường xe chạy gây cản trở giao thông;

đ) Dừng xe, đỗ xe ở lòng đường đô thị gây cản trở giao thông; tụ tập từ 3 (ba) xe trở lên ở lòng đường, trên cầu, trong hầm đường bộ; đỗ, để xe ở lòng đường đô thị, hè phố trái quy định của pháp luật;

e) Bấm còi, rú ga liên tục trong đô thị, khu đông dân cư, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định;

g) Xe không được quyền ưu tiên sử dụng tín hiệu còi, cờ, đèn của xe ưu tiên;

h) Không thực hiện đúng các quy định về dừng xe, đỗ xe tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; dừng xe, đỗ xe trong phạm vi an toàn của đường sắt; dừng xe, đỗ xe trên đường xe điện, điểm dừng đón trả khách của xe buýt, trên cầu, nơi đường bộ giao nhau, trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường; dừng xe nơi có biển cấm dừng; đỗ xe tại nơi có biển cấm dừng hoặc biển cấm đỗ;

i) Người điều khiển, người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm hoặc đội mũ bảo hiểm không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ;

k) Chở người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm hoặc đội mũ bảo hiểm không cài quai đúng quy cách, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 06 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật;

l) Chở theo 2 (hai) người trên xe, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 14 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật.

4. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Chuyển hướng không giảm tốc độ hoặc không có tín hiệu báo hướng rẽ;

b) Chở theo từ 3 (ba) người trở lên trên xe;

c) Không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông;

d) Điều khiển xe chạy dưới tốc độ tối thiểu trên những đoạn đường bộ có quy định tốc độ tối thiểu cho phép;

đ) Điều khiển xe thành đoàn gây cản trở giao thông;

e) Điều khiển xe đi vào đường cao tốc, trừ xe phục vụ việc quản lý, bảo trì đường cao tốc;

g) Điều khiển xe không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường, làn đường quy định hoặc điều khiển xe đi trên hè phố;

h) Vượt bên phải trong các trường hợp không được phép;

i) Đi vào đường cấm, khu vực cấm; đi ngược chiều của đường một chiều, trừ trường hợp xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định;

k) Người điều khiển xe hoặc người ngồi trên xe bám, kéo, đẩy xe khác, vật khác, dẫn dắt súc vật, mang vác vật cồng kềnh; người ngồi trên xe đứng trên yên, giá đèo hàng hoặc ngồi trên tay lái; xếp hàng hóa trên xe vượt quá giới hạn quy định; điều khiển xe kéo theo xe khác, vật khác;

l) Chở hàng vượt trọng tải thiết kế được ghi trong Giấy đăng ký xe đối với loại xe có quy định về trọng tải thiết kế.

5. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến 20 km/h;

b) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở;

c) Vượt xe trong những trường hợp cấm vượt, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm h Khoản 4 Điều này;

d) Chạy trong hầm đường bộ không sử dụng đèn chiếu sáng gần; dừng xe, đỗ xe, vượt xe trong hầm đường bộ không đúng nơi quy định; quay đầu xe trong hầm đường bộ;

đ) Không tuân thủ hướng dẫn của người điều khiển giao thông khi qua phà, cầu phao hoặc nơi ùn tắc giao thông; không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông; không nhường đường hoặc gây cản trở xe ưu tiên.

6. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Sử dụng chân chống hoặc vật khác quệt xuống đường khi xe đang chạy;

b) Điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy;

c) Không chú ý quan sát, điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định gây tai nạn giao thông; vượt xe hoặc chuyển làn đường trái quy định gây tai nạn giao thông;

d) Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn;

đ) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20 km/h;

e) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở;

g) Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người kiểm soát giao thông hoặc người thi hành công vụ.

7. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Buông cả hai tay khi đang điều khiển xe; dùng chân điều khiển xe; ngồi về một bên điều khiển xe; nằm trên yên xe điều khiển xe; thay người điều khiển khi xe đang chạy;

b) Điều khiển xe lạng lách hoặc đánh võng trên đường bộ trong, ngoài đô thị;

c) Điều khiển xe chạy bằng một bánh đối với xe hai bánh, chạy bằng hai bánh đối với xe ba bánh;

d) Điều khiển xe thành nhóm từ 2 (hai) xe trở lên chạy quá tốc độ quy định.

8. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 14.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm Khoản 7 Điều này mà gây tai nạn hoặc không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của người thi hành công vụ hoặc chống người thi hành công vụ.

9. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

a) Vi phạm Điểm g Khoản 3 Điều này bị tịch thu còi, cờ, đèn sử dụng trái quy định;

b) Vi phạm Điểm b, Điểm c, Điểm i Khoản 4; Điểm b Khoản 5; Điểm đ Khoản 6 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

c) Vi phạm Điểm đ Khoản 5; Điểm a, Điểm c, Điểm đ, Điểm e, Điểm g Khoản 6; Khoản 7 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày; tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần Khoản 7 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn, tịch thu xe. Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều này mà gây tai nạn giao thông nhưng chưa tới mức nghiêm trọng thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày: Điểm a, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 1; Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm h Khoản 2; Điểm a, Điểm b, Điểm đ, Điểm g, Điểm h Khoản 3; Điểm a; Điểm b, Điểm c, Điểm e, Điểm g, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm b, Điểm đ Khoản 5;

d) Vi phạm Điểm b Khoản 6, Khoản 8 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn. Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều này mà gây tai nạn giao thông từ mức nghiêm trọng trở lên thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn: Điểm a, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 1; Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm h Khoản 2; Điểm a, Điểm b, Điểm đ, Điểm g, Điểm h Khoản 3; Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm e, Điểm g, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm b, Điểm d, Điểm đ Khoản 5; Điểm a, Điểm c, Điểm e, Điểm g Khoản 6.”

3. Sửa đổi, bổ sung Điều 15 như sau:

“Điều 15. Xử phạt cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm về sử dụng, khai thác trong phạm vi đất dành cho đường bộ

1. Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với người bán hàng rong hoặc bán hàng hóa nhỏ lẻ khác trên lòng đường đô thị, trên vỉa hè các tuyến phố có quy định cấm bán hàng, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm c Khoản 3, Điểm e Khoản 4 Điều này;

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Sử dụng, khai thác tạm thời trên đất hành lang an toàn đường bộ vào mục đích canh tác nông nghiệp làm ảnh hưởng đến an toàn công trình và an toàn giao thông;

b) Trồng cây trong phạm vi đất dành cho đường bộ ở đoạn đường ngoài đô thị làm che khuất tầm nhìn của người điều khiển phương tiện giao thông.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Xây dựng nhà ở trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ ở đoạn đường ngoài đô thị;

b) Dựng lều quán, cổng ra vào, tường rào các loại, công trình tạm thời khác trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm đ Khoản 4, Điểm a Khoản 5 Điều này;

c) Họp chợ, kinh doanh dịch vụ ăn uống, bày, bán hàng hóa, sửa chữa xe, rửa xe, đặt, treo biển hiệu, biển quảng cáo, làm mái che trên lòng đường đô thị, hè phố hoặc thực hiện các hoạt động, dịch vụ khác trái phép trên lòng đường đô thị, hè phố gây cản trở giao thông, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g Khoản 4, Điểm c Khoản 5, Điểm a Khoản 6 Điều này;

d) Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố dưới 05 m2 làm nơi trông, giữ xe.

4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Đổ, để trái phép vật liệu, chất phế thải trong phạm vi đất dành cho đường bộ ở đoạn đường ngoài đô thị;

b) Tự ý đào, đắp, san, lấp mặt bằng trong hành lang an toàn đường bộ;

c) Tự ý gắn vào công trình báo hiệu đường bộ các nội dung không liên quan tới ý nghĩa, mục đích của công trình đường bộ;

d) Sử dụng trái phép đất của đường bộ hoặc hành lang an toàn đường bộ làm nơi tập kết hoặc trung chuyển hàng hóa, vật tư, vật liệu xây dựng, máy móc, thiết bị, các loại vật dụng khác;

đ) Dựng lều quán, công trình tạm thời khác trái phép trong khu vực đô thị tại hầm đường bộ, cầu vượt, hầm cho người đi bộ;

e) Bày, bán máy móc, thiết bị, vật tư, vật liệu xây dựng hoặc sản xuất, gia công hàng hóa trên lòng đường đô thị, hè phố;

c) Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố từ 05 m2 đến dưới 10 m2 làm nơi trông, giữ xe.

6. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Xây dựng nhà ở trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ ở đoạn đường trong đô thị;

b) Trồng cây xanh trên đường phố không đúng quy định;

c) Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố từ 10 m2 đến dưới 20 m2 làm nơi trông, giữ xe.

6. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố từ 20 m2 trở lên làm nơi trông, giữ xe;

b) Dựng biển quảng cáo trên đất hành lang an toàn đường bộ không được cơ quan quản lý đường bộ có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản;

c) Mở đường nhánh đấu nối trái phép vào đường chính.

7. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng công trình kiên cố khác trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ.

8. Ngoài việc bị phạt tiền, cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm quy định tại các Khoản 2, 3, 4, 5, 6 và Khoản 7 Điều này còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây: Buộc phải dỡ bỏ các công trình xây dựng, biển quảng cáo, di dời cây trồng trái phép, thu dọn vật liệu, chất phế thải, hàng hóa và khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra.”

4. Sửa đổi, bổ sung Điều 19 như sau:

“Điều 19. Xử phạt người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự ô tô vi phạm quy định về điều kiện của phương tiện khi tham gia giao thông

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với hành vi điều khiển xe không có kính chắn gió hoặc có nhưng vỡ, không có tác dụng (đối với xe có thiết kế lắp kính chắn gió).

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Điều khiển xe không có đủ đèn chiếu sáng, đèn soi biển số đèn báo hãm, đèn tín hiệu, cần gạt nước, gương chiếu hậu, dụng cụ thoát hiểm, thiết bị chữa cháy, đồng hồ báo áp lực hơi, đồng hồ báo tốc độ của xe hoặc có những thiết bị đó nhưng không có tác dụng, không đúng tiêu chuẩn thiết kế (nếu có quy định phải có những thiết bị đó);

b) Điều khiển xe không có còi hoặc có nhưng còi không có tác dụng;

c) Điều khiển xe không có bộ phận giảm thanh hoặc có nhưng không đúng quy chuẩn kỹ thuật.

3. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Điều khiển xe không đủ hệ thống hãm hoặc có nhưng không đúng tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật;

b) Hệ thống chuyển hướng của xe không đúng tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật;

c) Điều khiển xe không gắn đủ biển số hoặc gắn biển số không đúng vị trí; biển số không rõ chữ, số; biển số bị bẻ cong, bị che lấp, bị hỏng;

d) Điều khiển xe không lắp đủ bánh lốp hoặc lắp bánh lốp không đúng kích cỡ hoặc không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật;

đ) Tự ý thay đổi kích thước thành thùng xe; tự ý lắp thêm ghế trên xe vận chuyển khách.

4. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không có Giấy đăng ký xe, đăng ký rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc theo quy định;

b) Không gắn biển số (nếu có quy định phải gắn biển số);

c) Không có Giấy chứng nhận hoặc tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (nếu có quy định phải kiểm định) hoặc có nhưng đã hết hạn (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc);

d) Điều khiển xe lắp đặt, sử dụng còi vượt quá âm lượng theo quy định;

đ) Điều khiển xe lắp thêm đèn chiếu sáng về phía sau xe.

5. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Xe đăng ký tạm hoạt động quá phạm vi, thời hạn cho phép;

b) Điều khiển xe quá niên hạn sử dụng tham gia giao thông (nếu có quy định về niên hạn sử dụng);

c) Điều khiển loại xe tự sản xuất, lắp ráp (bao gồm cả xe công nông thuộc diện bị đình chỉ tham gia giao thông);

d) Điều khiển xe gắn biển số không đúng với Giấy đăng ký xe hoặc biển số không do cơ quan có thẩm quyền cấp;

đ) Sử dụng Sổ chứng nhận kiểm định, Giấy chứng nhận, tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, Giấy đăng ký xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc sử dụng Giấy đăng ký xe không đúng số khung, số máy (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc).

6. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Vi phạm Khoản 1; Khoản 2; Điểm c, Điểm d, Điểm đ Khoản 3 Điều này bị buộc phải lắp đầy đủ hoặc thay thế thiết bị đủ tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật, tháo bỏ những thiết bị lắp thêm không đúng quy định;

b) Vi phạm Điểm a, Điểm b Khoản 3 Điều này buộc phải khôi phục lại tính năng kỹ thuật của thiết bị hoặc thay thế thiết bị đủ tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật; bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

c) Vi phạm Điểm d, Điểm đ Khoản 4 Điều này bị tịch thu đèn lắp thêm, còi vượt quá âm lượng và buộc phải lắp còi có âm lượng đúng quy chuẩn kỹ thuật;

d) Vi phạm Khoản 4 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

đ) Vi phạm Điểm d, Điểm đ Khoản 5 Điều này bị tịch thu Sổ chứng nhận kiểm định, Giấy chứng nhận, tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, Giấy đăng ký xe, biển số không do cơ quan có thẩm quyền cấp; bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

e) Vi phạm Điểm b, Điểm c Khoản 5 Điều này bị tịch thu phương tiện và bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày.”

5. Sửa đổi, bổ sung Điều 24 như sau:

“Điều 24. Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về điều kiện của người điều khiển xe cơ giới

1. Phạt cảnh cáo người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự mô tô hoặc điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô.

2. Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 120.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy không có hoặc không mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực;

b) Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy không mang theo Giấy đăng ký xe, Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (nếu có quy định phải kiểm định);

c) Người điều khiển xe mô tô không mang theo Giấy phép lái xe.

3. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Người điều khiển xe mô tô, các loại xe tương tự mô tô không có Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (nếu có quy định phải kiểm định) hoặc có nhưng đã hết hạn;

b) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo không mang theo Giấy đăng ký xe, Giấy phép lái xe, Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (nếu có quy định phải kiểm định).

4. Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50 cm3 trở lên;

b) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô không có hoặc không mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực;

c) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô có Giấy phép lái xe nhưng đã hết hạn sử dụng dưới 6 (sáu) tháng.

5. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô không có Giấy phép lái xe hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 7 Điều này.

6. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô.

7. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 175 cm3 trở lên, xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Có Giấy phép lái xe nhưng không phù hợp với loại xe đang điều khiển hoặc đã hết hạn sử dụng từ 6 (sáu) tháng trở lên;

b) Không có Giấy phép lái xe hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa.

8. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển phương tiện vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây: Vi phạm Khoản 5, Điểm b Khoản 7 Điều này bị tịch thu Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa.”

6. Sửa đổi, bổ sung Điều 26 như sau:

“Điều 26. Xử phạt người điều khiển xe ô tô chở hành khách, ô tô chở người vi phạm quy định về vận tải đường bộ

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không hướng dẫn hành khách ngồi đúng vị trí quy định trong xe;

b) Không thực hiện đúng quy định về tắt, bật sáng hộp đèn “TAXI”.

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng trên mỗi người vượt quá quy định được phép chở của phương tiện đối với người điều khiển xe ô tô chở hành khách, ô tô chở người (trừ xe buýt) vi phạm hành vi: Chở quá từ 02 người trở lên trên xe đến 9 chỗ ngồi, chở quá từ 03 người trở lên trên xe 10 chỗ ngồi đến xe 15 chỗ ngồi, chở quá từ 04 người trở lên trên xe 16 chỗ ngồi đến xe 30 chỗ ngồi, chở quá từ 05 người trở lên trên xe trên 30 chỗ ngồi, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 4 Điều này.

3. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 800.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không đóng cửa lên xuống khi xe đang chạy;

b) Để người ngồi trên xe khi xe lên, xuống phà, cầu phao hoặc khi xe đang ở trên phà (trừ người già yếu, người bệnh, người khuyết tật);

c) Không chạy đúng tuyến đường, lịch trình, hành trình vận tải quy định;

d) Để người mắc võng nằm trên xe hoặc đu bám ở cửa xe, bên ngoài thành xe khi xe đang chạy;

đ) Sắp xếp chằng buộc hành lý, hàng hóa không bảo đảm an toàn; để rơi hành lý, hàng hóa trên xe xuống đường;

e) Chở hành lý, hàng hóa vượt quá trọng tải theo thiết kế của xe hoặc quá kích thước bao ngoài của xe; để hàng hóa trong khoang chở hành khách;

g) Vận chuyển hàng có mùi hôi thối trên xe chở hành khách;

h) Xe vận chuyển khách du lịch, xe vận chuyển hành khách theo hợp đồng không có danh sách hành khách, hợp đồng vận chuyển theo quy định;

i) Vận chuyển hành khách theo tuyến cố định không đúng tuyến xe chạy, không có “Sổ nhật trình chạy xe” hoặc có nhưng không có xác nhận của bến xe hai đầu tuyến theo quy định;

k) Xe vận chuyển hành khách không có nhân viên phục vụ trên xe đối với những xe quy định phải có nhân viên phục vụ;

l) Xe vận chuyển khách du lịch, xe vận chuyển hành khách theo hợp đồng bán vé cho hành khách;

m) Không sử dụng đồng hồ tính tiền cước hoặc sử dụng đồng hồ tính tiền cước không đúng theo quy định khi chở khách.

4. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng trên mỗi người vượt quá quy định được phép chở của phương tiện đối với người điều khiển xe ô tô chở hành khách chạy tuyến có cự ly lớn hơn 300 km vi phạm hành vi: Chở quá từ 02 người trở lên trên xe đến 9 chỗ ngồi, chở quá từ 03 người trở lên trên xe 10 chỗ ngồi đến xe 15 chỗ ngồi, chở quá từ 04 người trở lên trên xe 16 chỗ ngồi đến xe 30 chỗ ngồi, chở quá từ 05 người trở lên trên xe trên 30 chỗ ngồi.

5. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Để người lên, xuống xe khi xe đang chạy;

b) Sang nhượng hành khách dọc đường cho xe khác mà không được hành khách đồng ý; đe dọa, xúc phạm, tranh giành, lôi kéo hành khách; bắt ép hành khách sử dụng dịch vụ ngoài ý muốn;

c) Xuống khách để trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của người có thẩm quyền;

d) Xếp hàng trên xe làm lệch xe;

đ) Đón, trả hành khách không đúng nơi quy định trên những tuyến đường đã xác định nơi đón trả khách;

e) Đón, trả hành khách tại nơi cấm dừng, cấm đỗ, nơi đường cong tầm nhìn bị che khuất.

6. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Điều khiển xe tham gia kinh doanh vận tải không gắn thiết bị giám sát hành trình của xe (nếu có quy định phải gắn thiết bị) hoặc gắn thiết bị nhưng thiết bị không hoạt động, không đúng quy chuẩn theo quy định;

b) Chở hàng cấm lưu thông,

7. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Vận chuyển hàng nguy hiểm, hàng độc hại, dễ cháy, dễ nổ hoặc động vật, hàng hóa khác có ảnh hưởng đến sức khỏe của hành khách trên xe chở hành khách;

b) Chở người trên mui xe, nóc xe, trong khoang chở hành lý của xe;

c) Hành hung hành khách;

d) Điều khiển xe ô tô liên tục quá thời gian quy định;

đ) Xe chở hành khách không có hoặc không gắn phù hiệu (biển hiệu) theo quy định hoặc có nhưng đã hết hạn.

8. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển phương tiện vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Vi phạm Khoản 2, Khoản 4 (trường hợp vượt trên 50% đến 100% số người quy định được phép chở của phương tiện); Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h, Điểm i Khoản 3; Khoản 5; Khoản 6 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày. Vi phạm Điểm b Khoản 6 Điều này bị tịch thu hàng hóa cấm lưu thông;

b) Vi phạm Khoản 7 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày; vi phạm Khoản 2, Khoản 4 Điều này (trường hợp vượt trên 100% số người quy định được phép chở của phương tiện) bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn;

c) Vi phạm Khoản 2, Khoản 4 Điều này (trường hợp chở hành khách) phải bố trí phương tiện khác để chở số hành khách vượt quá quy định được phép chở của phương tiện.”

7. Sửa đổi, bổ sung Điều 27 như sau:

“Điều 27. Xử phạt người điều khiển xe ô tô tải, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô vận chuyển hàng hóa

1. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Vận chuyển hàng trên xe phải chằng buộc mà không được chằng buộc chắc chắn; xếp hàng trên nóc buồng lái; xếp hàng làm lệch xe;

b) Chở hàng vượt quá trọng tải thiết kế được ghi trong Giấy đăng ký xe hoặc Sổ chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường mà chưa đến mức vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 2, Điểm a Khoản 4 Điều này.

2. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Chở hàng vượt trọng tải thiết kế được ghi trong Giấy đăng ký xe hoặc Sổ chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường từ 10% đến 40% đối với xe có trọng tải dưới 5 tấn và từ 5% đến 30% đối với xe có trọng tải từ 5 tấn trở lên (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc);

b) Xếp hàng trên nóc thùng xe; xếp hàng vượt quá bề rộng thùng xe; xếp hàng vượt phía trước, phía sau thùng xe trên 10% chiều dài xe;

c) Chở người trên thùng xe trái quy định; để người ngồi trên mui xe, đu bám bên ngoài xe khi xe đang chạy;

d) Điều khiển xe tham gia kinh doanh vận tải hàng hóa không mang theo hợp đồng vận tải hoặc giấy vận chuyển theo quy định, trừ xe taxi tải.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Điều khiển xe taxi tải không lắp đồng hồ tính tiền cước hoặc lắp đồng hồ tính tiền cước không đúng quy định;

b) Điều khiển xe tham gia kinh doanh vận tải hàng hóa không gắn thiết bị giám sát hành trình của xe (nếu có quy định phải gắn thiết bị) hoặc gắn thiết bị nhưng thiết bị không hoạt động, không đúng quy chuẩn theo quy định;

c) Chở hàng cấm lưu thông; vận chuyển trái phép hoặc không thực hiện đầy đủ các quy định về vận chuyển động vật hoang dã;

d) Chở hàng vượt quá chiều cao xếp hàng cho phép đối với xe ô tô tải thùng hở (không mui); chở hàng vượt quá chiều cao theo thiết kế của xe hoặc thiết kế cải tạo đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt đối với xe ô tô tải thùng kín (có mui).

4. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Chở hàng vượt trọng tải thiết kế được ghi trong Giấy đăng ký xe hoặc Số chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trên 40% đối với xe có trọng tải dưới 5 tấn và trên 30% đối với xe có trọng tải từ 5 tấn trở lên (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc);

b) Điều khiển xe liên tục quá thời gian quy định;

c) Điều khiển xe không có phù hiệu hoặc có nhưng đã hết hạn đối với loại xe quy định phải có phù hiệu.

5. Ngoài việc bị phạt tiền, người có hành vi vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Vi phạm Điểm a, Điểm b Khoản 2; Điểm d Khoản 3; Điểm a Khoản 4 Điều này bị buộc phải hạ phần hàng quá tải, dỡ phần hàng vượt quá kích thước quy định; vi phạm Điểm c Khoản 3 Điều này bị tịch thu hàng hóa cấm lưu thông, động vật hoang dã vận chuyển trái phép;

b) Vi phạm Điểm a, Điểm b Khoản 2; Điểm a, Điểm b Khoản 3 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

c) Vi phạm Điểm c Khoản 2; Điểm c, Điểm d Khoản 3; Khoản 4 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày.”

8. Sửa đổi, bổ sung Điều 33 như sau:

“Điều 33. Xử phạt chủ phương tiện vi phạm quy định liên quan đến giao thông đường bộ

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự mô tô tự ý thay đổi nhãn hiệu, màu sơn của xe không đúng với Giấy đăng ký xe.

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự ô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Lắp kính chắn gió, kính cửa của xe không phải là loại kính an toàn;

b) Tự ý thay đổi màu sơn của xe không đúng với màu sơn ghi trong Giấy đăng ký xe; không thực hiện đúng quy định về biển số, quy định về kẻ chữ trên thành xe và cửa xe; trừ hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 41 của Nghị định này.

3. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với chủ xe mô tô, xe gắn máy; các loại xe tương tự mô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Tự ý đục lại số khung, số máy;

b) Tẩy xóa, sửa chữa hoặc giả mạo hồ sơ đăng ký xe;

c) Tự ý thay đổi khung, máy, hình dáng, kích thước của xe;

d) Khai báo không đúng sự thật hoặc sử dụng các giấy tờ, tài liệu giả để được cấp lại biển số, Giấy đăng ký xe;

đ) Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật điều khiển xe tham gia giao thông;

e) Không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định;

g) Không mua hoặc nộp phí cho phương tiện khi tham gia giao thông theo quy định.

4. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự ô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Tự ý đục lại số khung, số máy;

b) Tẩy xóa hoặc sửa chữa Giấy đăng ký xe, hồ sơ đăng ký xe, Giấy chứng nhận hoặc tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường hoặc các loại giấy tờ khác về phương tiện;

c) Không chấp hành việc thu hồi Giấy đăng ký xe; biển số xe; sổ chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ theo quy định;

d) Vẽ, dán quảng cáo trên xe không đúng quy định;

đ) Không làm thủ tục đổi lại Giấy đăng ký xe khi xe đã được cải tạo;

e) Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật điều khiển xe tham gia giao thông;

g) Khai báo không đúng sự thật hoặc sử dụng các giấy tờ, tài liệu giả để được cấp lại biển số, Giấy đăng ký xe.

5. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Thuê, mượn linh kiện, phụ kiện của xe ô tô khi kiểm định;

b) Đưa xe cơ giới, xe máy chuyên dùng không có Giấy chứng nhận hoặc tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo quy định ra tham gia giao thông.

6. Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự ô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Tự ý thay đổi tổng thành khung; tổng thành máy; hệ thống phanh; hệ thống truyền động; hệ thống chuyển động hoặc tự ý cải tạo kết cấu, hình dáng, kích thước của xe không đúng thiết kế của nhà chế tạo hoặc thiết kế cải tạo đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; tự ý thay đổi tính năng sử dụng của xe;

b) Cải tạo các loại xe ô tô khác thành xe ô tô chở khách;

c) Không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định;

d) Không mua hoặc nộp phí cho phương tiện khi tham gia giao thông theo quy định.

7. Ngoài việc bị phạt tiền, người có hành vi vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Vi phạm Khoản 1, Điểm b Khoản 2 Điều này buộc phải khôi phục lại nhãn hiệu, màu sơn ghi trong Giấy đăng ký xe hoặc thực hiện đúng quy định về biển số, quy định về kẻ chữ trên thành xe và cửa xe;

b) Vi phạm Điểm b, Điểm d Khoản 3; Điểm b, Điểm g Khoản 4 Điều này bị thu hồi biển số, Giấy đăng ký xe (trường hợp đã được cấp lại), tịch thu hồ sơ, các loại giấy tờ, tài liệu giả mạo;

c) Vi phạm Điểm a Khoản 2, Điểm a Khoản 6 Điều này buộc phải khôi phục lại hình dáng, kích thước hoặc tình trạng an toàn kỹ thuật ban đầu của xe; vi phạm Điểm b Khoản 6 Điều này bị tịch thu phương tiện;

d) Vi phạm Điểm g Khoản 3, Điểm d Khoản 6 Điều này bị buộc phải mua hoặc nộp phí theo quy định.”

9. Sửa đổi, bổ sung Điều 36 như sau:

“Điều 36. Xử phạt người điều khiển xe bánh xích; xe quá tải trọng, quá khổ giới hạn của cầu, đường (kể cả xe ô tô chở hành khách)

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đúng quy định trong Giấy phép lưu hành, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm b, Điểm d, Điểm đ Khoản 3 Điều này.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi điều khiển xe mà tổng trọng lượng của xe hoặc tải trọng trục xe (bao gồm cả hàng hóa xếp trên xe, người đuợc chở trên xe) vượt quá tải trọng cho phép của cầu, đường từ 10% đến 20%, trừ trường hợp có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng.

3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không chấp hành việc kiểm tra tải trọng, khổ giới hạn xe khi có tín hiệu, hiệu lệnh yêu cầu kiểm tra tải trọng, khổ giới hạn xe; chuyển tải hoặc dùng các thủ đoạn khác để trốn tránh việc phát hiện xe chở quá tải, quá khổ;

b) Điều khiển xe có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng nhưng tổng trọng lượng của xe hoặc tải trọng trục xe (bao gồm cả hàng hóa xếp trên xe nếu có) vượt quá quy định trong Giấy phép lưu hành;

c) Điều khiển xe mà tổng trọng lượng của xe hoặc tải trọng trục xe (bao gồm cả hàng hóa xếp trên xe, người được chở trên xe) vượt quá tải trọng cho phép của cầu, đường trên 20%, trừ trường hợp có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng;

d) Chở hàng vượt khổ giới hạn của cầu, đường ghi trong Giấy phép lưu hành;

đ) Điều khiển xe bánh xích tham gia giao thông không có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng theo quy định hoặc lưu thông trực tiếp trên đường;

e) Điều khiển xe vượt quá khổ giới hạn của cầu, đường hoặc chở hàng vượt khổ giới hạn của cầu, đường tham gia giao thông, trừ trường hợp có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng.

4. Ngoài việc bị phạt tiền, người điền khiển phương tiện vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Vi phạm Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3 Điều này bị đình chỉ lưu hành cho đến khi thực hiện đúng quy định hoặc bị buộc phải hạ tải ngay phần quá tải, dỡ phần quá khổ; nếu gây hư hại cầu, đường phải khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra;

b) Vi phạm Khoản 1, Khoản 2 Điều này còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) 30 (ba mươi) ngày;

c) Vi phạm Khoản 3 Điều này còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) 60 (sáu mươi) ngày.”

10. Sửa đổi, bổ sung Điều 37 như sau:

‘‘Điều 37. Xử phạt người đua xe trái phép, cổ vũ đua xe trái phép

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Tụ tập để cổ vũ, kích động hành vi điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định, lạng lách, đánh võng, đuổi nhau trên đường hoặc đua xe trái phép;

b) Đua xe đạp, đua xe đạp máy, đua xe xích lô, đua xe súc vật kéo, cưỡi súc vật chạy đua trái phép trên đường giao thông.

2. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với người cổ vũ, kích động đua xe trái phép mà cản trở hoặc chống người thi hành công vụ.

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với người đua xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện trái phép.

4. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với người đua xe ô tô trái phép.

5. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Người đua xe ô tô, xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện, xe đạp máy mà chống người thi hành công vụ;

b) Tổ chức đua xe trái phép.

6. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển phương tiện vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây: Vi phạm Điểm b Khoản 1 Điều này bị tịch thu xe (trừ xe bị chiếm đoạt, súc vật kéo, cưỡi); vi phạm Khoản 3, Khoản 4, Điểm a Khoản 5 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn và tịch thu xe (trừ xe bị chiếm đoạt).”

11. Sửa đổi, bổ sung Điều 38 như sau:

“Điều 38. Xử phạt người có hành vi cản trở việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ hoặc đưa hối lộ người thi hành công vụ

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi môi giới, tiếp tay, chỉ dẫn cho người điều khiển phương tiện trốn tránh việc kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ.

2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Cản trở hoặc không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ về: Các giấy tờ liên quan đến người và phương tiện, điều kiện hoạt động của phương tiện, hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải, đào tạo, sát hạch lái xe, đăng kiểm phương tiện;

b) Có lời nói, hành động đe dọa, lăng mạ, xúc phạm danh dự hoặc chống lại người thi hành công vụ, xúi giục người khác không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ, sử dụng uy tín của cá nhân, tổ chức để gây áp lực, cản trở người thi hành công vụ, trừ các hành vi vi phạm quy định tại: Điểm b Khoản 8, Khoản 9 Điều 8; Điểm g Khoản 6, Khoản 8 Điều 9; Khoản 2, Điểm a Khoản 5 Điều 37 của Nghị định này;

c) Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người kiểm soát giao thông hoặc người thi hành công vụ, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 8 Điều 8, Điểm g Khoản 6 Điều 9 của Nghị định này;

d) Đưa tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác cho người thi hành công vụ để trốn tránh việc xử lý vi phạm hành chính.

3. Ngoài việc bị phạt tiền, người vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp sau đây:

a) Vi phạm Điểm d Khoản 2 Điều này còn bị tịch thu số tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;

b) Vi phạm Khoản 2 Điều này nếu người vi phạm là người điều khiển phương tiện thì còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển ô tô, mô tô, máy kéo, các loại xe tương tự ô tô, các loại xe tương tự mô tô), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) 60 (sáu mươi) ngày.”

12. Sửa đổi, bổ sung Điều 41 như sau:

“Điều 41. Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về đào tạo, sát hạch lái xe

1. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với giáo viên dạy lái xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Giáo viên dạy thực hành để học viên không có phù hiệu “Học viên tập lái xe” lái xe tập lái hoặc có phù hiệu nhưng không đeo khi lái xe tập lái;

b) Giáo viên dạy thực hành chở người, hàng trên xe tập lái trái quy định;

c) Giáo viên dạy thực hành chạy sai tuyến đường, thời gian quy định trong Giấy phép xe tập lái; không ngồi bên cạnh để bảo trợ tay lái cho học viên thực hành lái xe;

d) Không đeo phù hiệu “Giáo viên dạy lái xe” khi giảng dạy;

đ) Không có giáo án của môn học được phân công giảng dạy theo quy định.

2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Cơ sở đào tạo lái xe không bố trí giáo viên dạy thực hành ngồi bên cạnh để bảo trợ tay lái cho học viên thực hành lái xe; bố trí giáo viên không đủ tiêu chuẩn để giảng dạy;

b) Cơ sở đào tạo lái xe sử dụng xe tập lái không có “Giấy phép xe tập lái”, biển xe “Tập lái”, không ghi tên cơ sở đào tạo, cơ quan quản lý trực tiếp ở mặt ngoài hai bên cánh cửa hoặc hai bên thành xe theo quy định;

c) Cơ sở đào tạo lái xe sử dụng xe tập lái không trang bị thêm bộ phận hãm phụ hoặc có nhưng không có tác dụng;

d) Cơ sở đào tạo lái xe tuyển sinh học viên không đủ điều kiện quy định về độ tuổi, sức khỏe, thâm niên, số Km lái xe an toàn tương ứng với từng hạng đào tạo;

đ) Cơ sở đào tạo lái xe không có đủ số lượng giáo viên dạy thực hành lái xe các hạng để đáp ứng với lưu lượng đào tạo ghi trong Giấy phép đào tạo lái xe;

e) Cơ sở đào tạo lái xe không lưu trữ đầy đủ hồ sơ các khóa đào tạo theo quy định;

g) Khai báo không đúng sự thật hoặc sử dụng các giấy tờ, tài liệu giả để được học, kiểm tra, sát hạch cấp mới, cấp lại Giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ hoặc nhận lại Giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ khi bị tước quyền sử dụng.

3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với cơ sở đào tạo lái xe, trung tâm sát hạch lái xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Cơ sở đào tạo lái xe tổ chức tuyển sinh, đào tạo không đúng hạng Giấy phép lái xe được phép đào tạo; đào tạo vượt quá lưu lượng quy định trong Giấy phép đào tạo lái xe;

b) Cơ sở đào tạo lái xe tổ chức đào tạo lái xe ngoài địa điểm được ghi trong Giấy phép đào tạo lái xe;

c) Cơ sở đào tạo lái xe tuyển sinh, đào tạo lái xe mà không có Giấy phép đào tạo lái xe hoặc có Giấy phép đào tạo lái xe nhưng đã hết hạn;

d) Cơ sở đào tạo lái xe đào tạo không đúng chương trình, giáo trình theo quy định; bố trí số lượng học viên tập lái trên xe tập lái vượt quá quy định;

đ) Cơ sở đào tạo lái xe không có đủ hệ thống phòng học; phòng học không đủ trang thiết bị, mô hình học cụ;

e) Cơ sở đào tạo lái xe không có sân tập lái hoặc sân tập lái không đủ điều kiện theo quy định;

g) Cơ sở đào tạo lái xe không có đủ số lượng xe tập lái các hạng để đáp ứng với lưu lượng đào tạo ghi trong Giấy phép đào tạo lái xe;

h) Cơ sở đào tạo lái xe cấp Giấy chứng nhận tốt nghiệp hoặc chứng chỉ sơ cấp nghề cho học viên sai quy định;

i) Trung tâm sát hạch lái xe không đủ điều kiện, quy chuẩn theo quy định;

k) Trung tâm sát hạch lái xe tự ý thay đổi hoặc sử dụng phần mềm sát hạch, thiết bị chấm điểm, chủng loại xe ô tô sát hạch khi chưa được sự chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;

l) Trung tâm sát hạch lái xe để phương tiện, trang thiết bị chấm điểm hoạt động không chính xác trong kỳ sát hạch; để các dấu hiệu, ký hiệu trái quy định trên sân sát hạch trong kỳ sát hạch;

m) Trung tâm sát hạch lái xe không niêm yết mức thu phí sát hạch, phí các dịch vụ khác theo quy định; thu phí sát hạch, phí các dịch vụ khác trái quy định.

4. Giáo viên dạy thực hành để học viên thực hành lái xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại Điều 8 của Nghị định này, bị xử phạt theo quy định đối với hành vi đó.

5. Ngoài việc bị phạt tiền, cá nhân, tổ chức vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Cơ sở đào tạo lái xe vi phạm Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 2; Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 3 Điều này bị đình chỉ tuyển sinh cho đến khi có đủ điều kiện theo quy định hoặc khắc phục xong vi phạm;

b) Trung tâm sát hạch lái xe vi phạm Điểm i, Điểm k, Điểm l Khoản 3 Điều này bị đình chỉ tổ chức sát hạch lái xe cho đến khi có đủ điều kiện theo quy định hoặc khắc phục xong vi phạm;

c) Vi phạm Điểm g Khoản 2 Điều này bị tịch thu các giấy tờ, tài liệu giả mạo.”

13. Sửa đổi, bổ sung Mục 7 Chương II như sau:

“Mục 7. ÁP DỤNG THÍ ĐIỂM ĐỐI VỚI MỘT SỐ VI PHẠM TRONG KHU VỰC NỘI THÀNH CỦA CÁC THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG

Điều 43. Xử phạt người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự ô tô vi phạm một số hành vi áp dụng riêng trong khu vực nội thành của các thành phố trực thuộc Trung ương

1. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm a, Điểm h Khoản 1 Điều 8 Nghị định này.

2. Phạt tiền từ 600.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 2 Điều 8 Nghị định này.

3. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.400.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 3 Điều 8 Nghị định này.

4. Phạt tiền từ 1.400.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm k Khoản 4 Điều 8 Nghị định này.

5. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm đ, Điểm e Khoản 5 Điều 26 Nghị định này.

6. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Vi phạm Điểm h Khoản 2; Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm a, Khoản 4 Điều 8 Nghị định này (trong trường hợp dừng xe, đỗ xe trái quy định) bị buộc phải đưa phương tiện ra khỏi nơi vi phạm;

b) Vi phạm Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 2; Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm b, Điểm c, Điểm đ, Điểm k Khoản 4 Điều 8 Nghị định này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

c) Vi phạm Điểm đ, Điểm e Khoản 5 Điều 26 Nghị định này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

d) Vi phạm Điểm a, Điểm e, Điểm g Khoản 4 Điều 8 Nghị định này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày. Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều 8 Nghị định này mà gây tai nạn giao thông nhưng chưa tới mức nghiêm trọng thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày: Điểm a, Điểm h Khoản 1; Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 2; Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm b, Điểm c, Điểm k Khoản 4;

đ) Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều 8 Nghị định này mà gây tai nạn giao thông từ mức nghiêm trọng trở lên thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn: Điểm a, Điểm h Khoản 1; Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 2; Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm e, Điểm k Khoản 4.

Điều 44. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm một số hành vi áp dụng riêng trong khu vực nội thành của các thành phố trực thuộc Trung ương

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm a Khoản 1; Điểm a Khoản 2 Điều 9 Nghị định này.

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm đ, Điểm h Khoản 3 Điều 9 Nghị định này.

3. Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 800.000 đồng đối với người điều khiển, người ngồi trên xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm c, Điểm g, Điểm i, Điểm k, Điểm l Khoản 4 Điều 9 Nghị định này.

4. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

a) Vi phạm Điểm c, Điểm i Khoản 4 Điều 9 Nghị định này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

b) Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều 9 Nghị định này mà gây tai nạn giao thông nhưng chưa tới mức nghiêm trọng thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày: Điểm a Khoản 1; Điểm đ, Điểm h Khoản 3; Điểm c, Điểm g, Điểm i, Điểm k Khoản 4;

c) Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều 9 Nghị định này mà gây tai nạn giao thông từ mức nghiêm trọng trở lên thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn: Điểm a Khoản 1; Điểm đ, Điểm h Khoản 3; Điểm c, Điểm g, Điểm i, Điểm k Khoản 4,

Điều 45. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe đạp, xe đạp máy, xe thô sơ khác vi phạm một số hành vi áp dụng riêng trong khu vực nội thành của các thành phố trực thuộc Trung ương

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với người điều khiển, người ngồi trên xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại:

a) Điểm a, Điểm c, Điểm d, Điểm g Khoản 1; Điểm a, Điểm b, Điểm d, Điểm g Khoản 2; Điểm b, Điểm c Khoản 3 Điều 11 Nghị định này;

b) Khoản 1 Điều 21 Nghị định này.

2. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều 21 Nghị định này còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu xe.

Điều 46. Xử phạt người đi bộ vi phạm một số hành vi áp dụng riêng trong khu vực nội thành của các thành phố trực thuộc Trung ương

1. Phạt tiền từ 60.000 đồng đến 80.000 đồng đối với người đi bộ vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm b, Điểm c Khoản 1 Điều 12 Nghị định này.

2. Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 120.000 đồng đối với người đi bộ vi phạm một trong các hành vi quy định tại Khoản 2 Điều 12 Nghị định này.”

14. Sửa đổi, bổ sung Khoản 3, Khoản 4 Điều 47 như sau:

“3. Cảnh sát trật tự, Cảnh sát phản ứng nhanh, Cảnh sát cơ động, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng Công an cấp xã trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao có liên quan đến trật tự an toàn giao thông đường bộ có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định tại các Điểm, Khoản, Điều của Nghị định này như sau:

a) Điểm đ, Điểm i Khoản 1; Điểm g, Điểm h Khoản 2; Điểm b, Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm a, Điểm b, Điểm d, Điểm đ, Điểm h Khoản 4; Điểm b, Điểm đ Khoản 5; Điểm b, Điểm c, Điểm d Khoản 7; Khoản 8; Khoản 9 Điều 8;

b) Điểm e Khoản 2; Điểm a, Điểm đ, Điểm e, Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 3; Điểm b, Điểm c, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm b, Điểm d, Điểm đ Khoản 5; Điểm b, Điểm e, Điểm g Khoản 6; Khoản 7; Khoản 8 Điều 9;

c) Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm h, Điểm i Khoản 2; Điểm b, Điểm đ, Điểm h Khoản 3; Điểm d, Điểm e, Điểm g Khoản 4; Điểm b, Điểm c Khoản 5; Điểm a Khoản 6; Khoản 7 Điều 10;

d) Điểm c, Điểm g, Điểm h, Điểm i Khoản 1; Khoản 2; Khoản 3; Khoản 4 Điều 11;

đ) Điều 12, Điều 13, Điều 14, Điều 15;

e) Khoản 1, Khoản 2, Khoản 4, Khoản 5 Điều 18;

g) Điều 21, Điều 23;

h) Điểm b Khoản 3; Điểm b, Điểm c, Điểm đ, Điểm e Khoản 5; Điểm c Khoản 7 Điều 26;

i) Điều 29, Điều 32;

k) Khoản 3, Khoản 4 Điều 34; Điều 35, Điều 37, Điều 38.

4. Thanh tra đường bộ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định về hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải tại các điểm dừng xe, đỗ xe trên đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ, trạm kiểm tra tải trọng xe, trạm thu phí, cơ sở kinh doanh vận tải đường bộ, khi phương tiện (có hành vi vi phạm) dừng, đỗ trên đường bộ; hành vi vi phạm quy định về đào tạo sát hạch, cấp Giấy phép lái xe, hoạt động kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật của công trình đường bộ và một số hành vi vi phạm khác quy định tại các Điểm, Khoản, Điều của Nghị định này như sau:

a) Điểm đ Khoản 1; Điểm g, Điểm h Khoản 2; Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm a, Điểm b, Điểm đ, Điểm h Khoản 4; Điểm b, Điểm đ Khoản 5; Điểm b Khoản 7; Khoản 8 Điều 8;

b) Điểm a, Điểm đ, Điểm h Khoản 3; Điểm d, Điểm đ Khoản 5 Điều 9;

c) Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h, Điểm i Khoản 2; Điểm b Khoản 3; Điểm e, Điểm g Khoản 4; Điểm b, Điểm c Khoản 5 Điều 10;

d) Điểm c, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 1; Điểm a, Điểm b Khoản 2; Điểm b Khoản 3 Điều 11;

đ) Điểm a Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4, Điểm b Khoản 5 Điều 14;

e) Điều 15, Điều 16, Điều 17, Điều 18;

g) Khoản 1; Khoản 2; Khoản 3; Khoản 4; Điểm b, Điểm đ Khoản 5 Điều 19;

h) Điều 22, Điều 23;

i) Điểm b Khoản 3; Điểm b, Điểm c Khoản 4; Khoản 6; Khoản 7 Điều 24;

k) Điều 25; Điều 26;

l) Khoản 1; Điểm a, Điểm b, Điểm d Khoản 2; Khoản 3; Khoản 4 Điều 27;

m) Điều 28, Điều 30, Điều 31;

n) Khoản 2; Điểm a, Điểm d, Điểm e Khoản 4; Khoản 5; Điểm a, Điểm b Khoản 6 Điều 33;

o) Điều 34, Điều 36, Điều 38, Điều 41, Điều 42.”

15. Sửa đổi, bổ sung Điều 54 như sau:

“Điều 54. Tạm giữ phương tiện, giấy tờ có liên quan đến người điều khiển và phương tiện vi phạm

1. Để ngăn chặn ngay vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt được phép tạm giữ phương tiện đến 10 (mười) ngày trước khi ra quyết định xử phạt đối với những hành vi vi phạm được quy định tại các Điều, Khoản, Điểm sau đây của Nghị định này:

a) Vi phạm Điểm g, Điểm k Khoản 4; Điểm b, Điểm đ Khoản 5; Điểm b, Điểm c, Điểm d Khoản 7; Khoản 8 Điều 8;

b) Vi phạm Điểm b, Điểm đ Khoản 5; Điểm b, Điểm e, Điểm g Khoản 6; Khoản 7; Khoản 8 Điều 9;

c) Vi phạm Điểm đ Khoản 3; Điểm d, Điểm g Khoản 4; Điểm a Khoản 6; Khoản 7 Điều 10;

d) Vi phạm Điểm d, Điểm đ Khoản 4 Điều 11 trong trường hợp người vi phạm là người dưới 16 tuổi và điều khiển phương tiện;

đ) Vi phạm Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d Khoản 4; Điểm d, Điểm đ Khoản 5 Điều 19;

e) Vi phạm Khoản 3 Điều 20;

g) Vi phạm Điểm a, Điểm đ Khoản 1 Điều 22;

h) Vi phạm Khoản 1; Điểm a, Điểm c Khoản 4; Khoản 5; Khoản 6; Khoản 7 Điều 24;

i) Khoản 2, Khoản 4 Điều 26 trong trường hợp xe kinh doanh vận chuyển hành khách chở vượt trên 50% số người quy định được phép chở của phương tiện; Điểm đ Khoản 7 Điều 26;

k) Khoản 3 Điều 36;

l) Vi phạm Điểm a, Điểm b, Điểm c Khoản 2 Điều 38 trong trường hợp người vi phạm là người điều khiển phương tiện.

2. Để bảo đảm việc xử phạt vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt còn có thể quyết định tạm giữ phương tiện, giấy tờ có liên quan đến người điều khiển và phương tiện vi phạm một trong các hành vi quy định tại Nghị định này theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Khi bị tạm giữ giấy tờ theo quy định tại Khoản này, nếu quá thời hạn hẹn đến giải quyết vụ việc vi phạm ghi trong biên bản vi phạm hành chính, người vi phạm chưa đến trụ sở của người có thẩm quyền xử phạt để giải quyết vụ việc vi phạm mà vẫn tiếp tục điều khiển phương tiện hoặc đưa phương tiện ra tham gia giao thông, sẽ bị áp dụng xử phạt như hành vi không có giấy tờ.

3. Khi phương tiện bị tạm giữ theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này, chủ phương tiện phải chịu mọi chi phí (nếu có) cho việc sử dụng phương tiện khác thay thế để vận chuyển người, hàng hóa được chở trên phương tiện bị tạm giữ.

4. Bộ Công an hướng dẫn cụ thể việc áp dụng biện pháp tạm giữ phương tiện quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này.”

16. Sửa đổi, bổ sung Khoản 4, Khoản 6, Khoản 7 Điều 57 như sau:

“4. Đối với người điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 8, Điểm h Khoản 2 Điều 10 Nghị định này, trong trường hợp đặt báo hiệu nguy hiểm không đúng quy định bị xử phạt kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013.

6. Quy định tại Mục 7 Chương II Nghị định này được thực hiện thí điểm trong thời gian 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày Nghị định có hiệu lực thi hành, Ủy ban nhân dân các thành phố trực thuộc Trung ương quy định cụ thể phạm vi khu vực nội thành để thực hiện việc thí điểm. Hàng năm, Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Ủy ban nhân dân các thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện thí điểm; kết thúc thời hạn thí điểm, tổ chức tổng kết đánh giá việc thực hiện thí điểm và báo cáo Chính phủ đề xuất chủ trương thực hiện tiếp theo.

7. Về việc xử phạt đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành vi quy định tại Điểm a Khoản 6 Điều 26, Điểm b Khoản 3 Điều 27 Nghị định này được thực hiện từ ngày 01 tháng 7 năm 2013.”

Điều 2. Hiệu lực thi hành

1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 11 năm 2012.

2. Bãi bỏ Nghị định số 33/2011/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.

3. Các hành vi vi phạm quy định tại Nghị định này được phát hiện và lập biên bản trước ngày Nghị định này có hiệu lực, vẫn thực hiện theo quy định của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 và Nghị định số 33/2011/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2011.

Điều 3. Trách nhiệm thi hành

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

 Nơi nhận:
– Ban Bí thư Trung ương Đảng;
– Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;
– VP BCĐ TW về phòng, chống tham nhũng;
– HĐND, UBND các tỉnh, TP trực thuộc TW;
– Văn phòng TW và các Ban của Đảng;
– Văn phòng Tổng Bí thư;
– Văn phòng Chủ tịch nước;
– Hội đồng Dân tộc và các UB của Quốc hội;
– Văn phòng Quốc hội;
– Tòa án nhân dân tối cao;
– Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
– Kiểm toán Nhà nước;
– UB Giám sát tài chính Quốc gia;
– Ngân hàng Chính sách Xã hội;
– Ngân hàng Phát triển Việt Nam;
– Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
– Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
– VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTCP, Cổng TTĐT, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
– Lưu: Văn thư, KTN (5b).

http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?_page=1&class_id=1&document_id=163786&mode=detail

 

 

Nói không với giả dối

“Công nghệ” sao chép

TT – Điển hình là trường hợp lập bản báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) của dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A. Dự án thủy điện này nằm trong vườn quốc gia Cát Tiên (Lâm Đồng) – một khu vực thuộc loại cấm “đụng chạm”.

 

Loài chà vá chân đen được ghi nhận trong đợt khảo sát tại nơi dự kiến xây dựng thủy điện Đồng Nai 6 (ảnh chụp tháng 7-2011) – Ảnh: Đ.tuyên

 

Sau khi bản ĐTM của Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam về dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A bị báo chí lật tẩy những “đường nét” sao chép, chủ đầu tư dự án là Công ty cổ phần Tập đoàn Đức Long Gia Lai lại phải thuê một đơn vị khác lập bản ĐTM mới. Tuy nhiên, ngay cả bản ĐTM thứ hai cũng bộc lộ không ít điều rất đáng ngờ.

Lòi đuôi

 

45

Đó là số ý kiến cũng như bài viết của bạn đọc gửi về trong ngày đầu tiên Tuổi Trẻ mở diễn đàn “Nói không với giả dối”.

Đơn vị đầu tiên lập ĐTM dự án thủy điện 6, 6A là Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam. Trong bản báo cáo này có đoạn khẳng định ảnh hưởng đến môi trường sinh thái dự án là “do việc chặt bỏ cây cối ven bờ kênh trong quá trình giải phóng mặt bằng xây dựng các hạng mục, đặc biệt là dừa nước hai bên bờ”. Nhưng thực tế là sông Đồng Nai chỉ có những thác ghềnh và dòng nước ào ào cuộn chảy, không hiền hòa như kênh rạch miền Tây. Đặc biệt khu vực này chẳng có một cây dừa nước nào.

 

Bản ĐTM này còn nêu: “Việc đào bới lòng hồ và kênh dẫn qua vùng đất chua, lầy úng đọng sinh phèn, nước mang chất phèn muối, axit, chất độc… lan truyền rộng”. Thế nhưng dọc sông Đồng Nai, cụ thể là vùng đất dự kiến xây dựng thủy điện Đồng Nai 6, 6A là vùng đất rừng bazan, đồi núi nối tiếp nhau cùng những con suối với nước ngọt mát lịm, không hề có “chua, lầy úng đọng sinh phèn”.

Trong phần kết luận về các lợi ích của hai dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A, Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam còn nâng cao hơn nữa “công nghệ” sao chép: “Các lợi ích kinh tế – xã hội do hai công trình thủy điện đem lại là thúc đẩy sự phát triển kinh tế khu vực, đặc biệt là các huyện vùng sâu vùng xa của tỉnh Quảng Nam”.

Dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A dự kiến được xây dựng trên sông Đồng Nai, nằm trên địa phận tỉnh Lâm Đồng, Đắk Nông và một phần nhỏ tỉnh Bình Phước, chẳng hề dính dáng gì đến tỉnh “Quảng Nam”?

Theo ông Trần Ký – một thành viên tham gia soạn thảo bản ĐTM, đoàn khảo sát của Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam chỉ đi thực tế khu vực vườn quốc gia Cát Tiên có bảy ngày, trong đó có ba ngày đi lạc. Cái giá mà chủ đầu tư phải trả cho bản ĐTM này là 420 triệu đồng. Đúng là làm giả mà ăn tiền thật.

Nói lấy được

Do xài “công nghệ” sao chép nên ĐTM của Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam bị bỏ. Thay vào đó, Viện Môi trường và tài nguyên (ĐHQG TP.HCM) được chủ đầu tư thuê lập lại bản ĐTM lần hai cho hai dự án thủy điện Đồng Nai 6, 6A. Bản ĐTM mới này vẫn thực hiện theo mong muốn của chủ đầu tư, cho rằng khu vực xây dựng thủy điện Đồng Nai 6, 6A có hệ sinh thái rừng nghèo nàn, nên có thể triển khai dự án.

Tại bản ĐTM này người ta kết luận: “Hầu hết là rừng tái sinh, rừng tre, nứa, lồ ô, rừng sản xuất, ruộng lúa, rừng nguyên sinh hầu như không có…”. Kết luận trên giống y chang kết luận của các cán bộ thuộc Bộ TN&MT, Bộ NN&PTNT, Bộ Công thương… sau khi đi khảo sát (cuối tháng 8-2012) khu vực dự kiến xây dựng thủy điện Đồng Nai 6, 6A. Kết luận này còn khẳng định “không phát hiện dấu hiệu của các loài động vật quý hiếm…”.

Nhiều cán bộ vườn quốc gia Cát Tiên cùng đi với đoàn khảo sát của các bộ cho biết đoàn chỉ làm việc trong hai ngày 24 và 25-8. “Đáng lẽ phải xuống đến tận khu vực dự kiến xây dựng đập thủy điện, nhưng họ chỉ đi tới khu vườn điều, ruộng lúa của bà con dân tộc – nơi cách xa địa điểm xây dựng đập hàng cây số”, một cán bộ vườn quốc gia Cát Tiên cùng đi với đoàn khảo sát thuật lại.

Dù còn nhiều thiếu sót, cắt dán, làm ẩu… nhưng cũng có một điều đáng chú ý là trong bản ĐTM đầu tiên do Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam lập có ghi nhận trong khu vực dự kiến xây dựng thủy điện Đồng Nai 6, 6A còn hiện diện rất nhiều loài động, thực vật quý hiếm. Trong khi đi khảo sát, đoàn cán bộ của Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam ghi nhận có gặp rất nhiều loài động, thực vật quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam và danh mục đỏ của Quỹ Bảo tồn thiên nhiên quốc tế (IUCN).

Trong lần tiến hành khảo sát độc lập (phóng viên Tuổi Trẻ có tham gia) hồi tháng 7-2011, TS Vũ Ngọc Long, phó viện trưởng Viện Sinh thái học Việt Nam (Viện Khoa học và công nghệ Việt Nam) và nhóm chuyên gia cũng ghi nhận tại khu vực dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A có 98 loài chim, trong đó năm loài quý hiếm có tên trong Sách đỏ. Riêng hệ thú có 14 loài và có những loài quý hiếm nằm trong Sách đỏ Việt Nam và quốc tế. Đặc biệt, đoàn của TS Long cũng phát hiện một loài thực vật mới – hoa trà Cát Lộc Camellia sp và mới đây loài này đã được công bố quốc tế về loài mới phát hiện và mang tên Camellia longgi.

Vậy là chỉ trong một khoảng thời gian ngắn, những loài động, thực vật quý hiếm nêu trên bỗng nhiên biến khỏi bản ĐTM của Viện Môi trường và tài nguyên (ĐHQG TP.HCM) và cũng biến luôn khỏi kết luận của đoàn khảo sát của các bộ, ngành. Thật không thể hiểu nổi!

ĐỨC TUYÊN

 

“Lợi thì có lợi, hàm răng chẳng còn”

Theo số liệu thống kê, đến nay đã có không dưới 200 dự án thủy điện đã được xây dựng hoặc nằm trong quy hoạch ở miền Trung – Tây nguyên, trong đó Quảng Nam là nơi dẫn đầu về số lượng với 68 dự án nằm trải rộng trên tất cả các sông suối của địa phương này.

Lợi ích kinh tế tất nhiên là có và người hưởng thụ không ai khác chính là các nhà đầu tư. Nhưng hậu quả về môi trường phải trả giá do việc ngăn sông phá rừng để làm thủy điện thì địa phương phải “chịu trận”.

Còn nhớ đầu tháng 10-2010, cả huyện Đại Lộc của tỉnh Quảng Nam bất ngờ chìm trong lũ dữ, nhiều gia đình bỏ hết của nả chạy lũ trối chết trong đêm… Khi bình tĩnh trở lại, người dân ven sông Thu Bồn mới nghiệm ra rằng chính thủy điện A Vương nằm ở đầu nguồn con nước là thủ phạm gây ra trận lũ bất thường và kinh hoàng ấy. Tưởng câu chuyện “xả lũ A Vương” đã được ngành điện rút kinh nghiệm, nhưng rồi chỉ một thời gian ngắn sau đó người dân vùng hạ lưu của thủy điện An Khê Kanat ở Gia Lai đã phải kêu trời vì trâu chết, hoa màu trôi sạch chỉ trong một đêm.

Tiếp theo đó là TP Tuy Hòa (Phú Yên) cũng “trắng trời” vì nước lũ của thủy điện Sông Ba Hạ… Liên tiếp các bộ ngành kéo nhau vào miền Trung họp bàn để rồi một quy trình xả lũ liên hồ cuối cùng cũng đã được xây dựng, hình thành.

Sự hủy hoại về môi trường của thủy điện cũng thể hiện rất rõ. Vì lợi ích kinh tế, khi lập báo cáo nghiên cứu khả thi, nhà đầu tư thủy điện Đak Mi 4 là Tổng công ty Đầu tư phát triển đô thị và khu công nghiệp VN – IDICO (Bộ Xây dựng) quyết định chuyển toàn bộ nguồn nước từ sông Đak Mi cho đổ về sông Thu Bồn để phát điện. Với cách tính toán này, hơn 80km sông Đak Mi trở thành con sông chết và hậu quả cuối cùng là cả một vùng hạ lưu rộng lớn bao gồm cả Đà Nẵng và Hội An rơi vào cảnh khát nước trong mùa khô hạn.

“Cuộc chiến” đòi lại nước từng diễn ra giữa địa phương và chủ đầu tư, cuối cùng Chính phủ phải buộc IDICO hoàn trả một phần nước cho hạ lưu Đak Mi… Tương tự, sông Ba Hạ (Phú Yên) cũng bị chuyển mất nước, khiến cánh đồng Cam – vựa lúa chính của Phú Yên – nhiều năm rơi vào cảnh khô hạn chưa từng có.

Vì thủy điện mà hàng nghìn hecta rừng bị biến mất. Hình ảnh cả một dòng sông gỗ lậu nổi lên sau trận lũ kinh hoàng vào tháng 10-2010, hay những bè gỗ dài tít tắp nằm ở lòng hồ thủy điện A Vương tại Quảng Nam là minh chứng không thể chối cãi cho nạn phá rừng khi làm thủy điện.

ĐĂNG NAM

Nguồn: http://tuoitre.vn/Ban-doc/514139/%E2%80%9CCong-nghe%E2%80%9D-sao-chep.html

Ký ức phía sau “cánh gà” trường bắn

Ông trùm phu mộ Ba Son bao năm qua vẫn thế, bất cứ có vị khách  nào đến nhà tìm kiếm đều hết sức dè chừng, cảnh giác. Những va chạm giữa cuộc sống đời thường buộc người đàn ông ngoài 60 tuổi này phải đề phòng bất trắc. Ngay cả chúng tôi, lúc đầu tìm đến căn nhà có tường vây lưới B40, chiếc khóa cổng lách cách, cửa kéo kèn kẹt, Ba Son nhìn qua đầy ngờ vực, mãi lúc sau mới dám tin tưởng mời vào nhà trò chuyện.

Trong căn nhà hẹp, xây theo kiểu phòng trọ, phòng nhỏ, không gian tối, cảm giác lành lạnh cảm giác thâm u, bụi, mạng nhện bám đầy, mọi vật dụng hoặc là cũ, hoặc là hỏng hay bị vỡ một phần… tất cả được ông sắp xếp không theo bố cục nhất định nào. Dưới nền đất vài con chó Nhật xuề xòa cáu bẩn nằm vạ vật.

Phút trầm tư của Ba Son khi nghĩ về ký ức nơi trường bắn Long Bình

Ba Son ở trần, dáng người rọm rẹm, da nhăn nheo, mấy vết xăm trên mình, phải tưởng tượng mãi tôi mới hình dung đó là một vài con hổ, con rồng phượng gì đó, đại loại là biểu tượng cho uy quyền. Khuôn mặt ông xương xẩu, dữ tợn, mấy chiếc răng rụng không đều, khiến nụ cười ông thêm nham nhở.

Điểm đặc biệt nhất ở con người Ba Son  là mái tóc dài. Hàng chục năm nay không cắt, mà để thõng, thắt củ tỏi phía sau lưng, tay đeo hay chiếc nhẫn, cổ 1 chiếc dây chuyền lớn. Tất cả bằng inox, ông ưa trang sức ngay cả lúc tuổi bóng xế. Người ta bảo ông khá lập dị là như thế.

Ba Son mang phong thái của một gã lãng tử, pha chất bụi giang hồ. Giờ rửa tay gác kiếm, ông bảo, tất cả những bí mật của cái nghề kỳ quái của mình ông tung hê hết, chẳng giấu thứ gì.

Lý do để ông không muốn bo bo giữ kín sau hàng chục năm, là vì bây giờ không còn cảnh tử tù bị trói tay, bịt mắt, tựa cột nữa. Và, ông cũng chẳng còn sung sức để làm cái nghề “đêm đêm móc xác chạy phăng phăng”. Ông bộc bạch để thấy nhẹ nhõm hơn, đó cũng là dịp Ba Son xả những ký ức nặng nề ở thế giới đầy tà khí.

Hơn 30 năm ngụp lặn nơi trường bắn, Ba Son giờ đã rửa tay gác kiếm

Làm cái nghề kinh dị này gần nửa cuộc đời, chừng ấy cũng đủ để ông trở thành “từ điển” pháp trường mà không ai vượt  qua. Cảnh vòng trong tử tù gục xuống, vòng ngoài pháp trường chộn rộn tiếng bước chân. Đôi lúc cảnh đó bẽ bàng như lũ cú diều chực chờ xác chết đến móc rỉa, ông không lạ gì.

Ở đâu có công việc được tôn vị lợi, ở đó có lưu manh, trong hơn 30 năm hành nghề bốc mộ, từ một kẻ tinh thần thượng võ, Ba Son nhận mình đã biến thành kẻ cơ hội, với nhiều mánh khóe. Vì gần như đó là con đường không thể khác hơn, ởtrường bắn, người ta có thế bất chấp tất cả, miễn là có được tiền.

Theo như Ba Son thổ lộ, kiếp người “ký sinh” bên xác chết thì chẳng ai kết thúc có hậu cả. Nhiều người đi bốc mộ, hít nhiều tử khí, một thời gian xơ gan, phềnh bụng, ung thư chết tiệt. Người không bị chết thì cũng điên điên, khùng khùng, sống lập dị, bị người đời xa lánh. Và, như một mặc định, ăn của người chết, sống cũng chắc phúc phận gì.

Cuối đời lẻ bóng

Bây giờ trường bắn ngừng hoạt động trên phạm vi cả nước, hình thức tử hình bằng thuốc độc thay thế, được xem là bước hoàn thiện của pháp luật. Tất nhiên, người làm nghề hốt xác ở trường bắn cũng không thể mưu sinh bằng nghề này nữa. Rồi đây những câu chuyện buồn “sau tiếng súng” cùng những phận người sẽ dần đi vào dĩ vãng, khép lại những ký ức một thời không muốn kể.

Một thời sống “ký sinh” bên xác chết, giờ ông lui về nhà cô quạnh với nỗi cô đơn giày xéo. Vợ chết sớm, con cái không ai chịu ở chung, tiền kiếm được thì “vào lỗ hà, ra lỗ hốc”, ông ném tất cả vào những cuộc ăn chơi, cuối cùng trắng tay.

Thú vui lớn nhất của Ba Son lúc này là ôm cần câu đi rong ruổi các kênh rạch, ao hồ ngồi giết thời gian. Ông cũng thuộc loại “sát cá”, cả ngày ngồi lì bên cần câu, ông có thể thu về cả chục cân cá. Số cá ấy, ông không đem bán, cũng chẳng mang về ăn, tất cả được đem cho hàng xóm.

Ông bảo, đó chính là khoảng thời gian mình được tĩnh tâm nhiều hơn, nghĩ suy lại cuộc đời chìm nổi. Chẳng biết lời nói của một kẻ phu mộ có đáng tin hay không, và ông có thật sự day dứt với bản thân khi những năm tháng ngụp lặn, quật mộ, bốc thuê hay” ăn xác”, với đủ các kiểu làm luật ngay trên thể xác tử tù. Nhưng giờ theo hàng xóm nhìn nhận thì ông đã thay đổi rất nhiều, không có chất máu giang hồ thuở nào nữa.

Mỗi tối, ông vẫn một mình ngồi cà phê vỉa hè ở các ngóc ngách xung quanh gần khu dân cư ở trường bắn, ngắm nhìn dòng người ngược xuôi đi qua…..

 

GIANG UYÊN

Theo Infonet

Người dân, binh lính Trung Quốc là những con cừu bị lừa dối

“Tháng 6 vừa rồi, Quốc hội Việt Nam thông qua luật Biển. Trên hành tinh này, thử hỏi Trung Quốc xem có quốc gia ven biển nào không có luật Biển không? Trung Quốc không có luật Biển thì họ có bảy đạo luật khác để chi phối, bảo vệ chủ quyền trên biển: Luật Hàng hải, luật Đường cơ sở, luật Hải dương… Giờ Việt Nam làm luật Biển cũng giống như nhà có vườn, người ta phải rào chứ” – Thiếu tướng Lê Văn Cương nói.

Hệ thống nói dối lớn nhất hành tinh

– Trong thời gian căng thẳng vừa qua, báo chí Trung Quốc đã đưa những thông tin rất sai lệch về Việt Nam. Dường như họ đang cố dùng bộ máy truyền thông do nhà nước kiểm soát để kích động dân chúng của họ?

– Thiếu tướng Lê Văn Cương: Một số nhà báo, học giả Trung Quốc viết trên tờ Hoàn Cầu – một ấn phẩm của nhật báo Nhân Dân – kêu gọi phát động chiến tranh, chỉ có đánh Việt Nam mới giải quyết được vấn đề biển Đông, rằng trên thế giới này duy nhất Việt Nam là nước đi xâm lược, là hung hăng nhất, hiếu chiến nhất. Họ vẽ ra một hình ảnh đất nước Việt Nam như một tội đồ, để lừa dối nhân dân họ, lừa dối quân đội họ và lừa dối cả thế giới.

Trong gần ba triệu quân nhân, sĩ quan, binh lính Trung Quốc, tôi tin tưởng tuyệt đại đa số không muốn gây hấn. Họ cũng muốn giao hảo. Ngay cả 1,3 tỉ người dân Trung Quốc cũng là người tốt, nhân hậu lắm, họ muốn bang giao, còn chuyện gây chiến họ không được gì cả. Họ là những con bài bị thí, bị lừa dối. Ngay cả hơn 20 ủy viên bộ Chính trị, mấy trăm ủy viên Trung ương đảng Cộng sản Trung Quốc không phải ai cũng muốn gây chiến, chỉ là số nhỏ thôi.

Trong cuộc chiến 1979 với Việt Nam cũng vậy, truyền thông Trung Quốc có hàng ngàn bài báo xuyên tạc, nhồi nhét vào đầu người Trung Quốc rằng đó là chiến công oanh liệt của quân giải phóng Trung Quốc phản công quân Việt Nam xâm lược. Đến giờ phút này, số người hiểu thực chất bản chất cuộc chiến chỉ có 1%.

Hôm 17.8 vừa rồi, khi nói chuyện với các nguyên thủ các quốc gia châu Phi tại Bắc Kinh, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào có nói rằng: Chúng ta kiên quyết phản đối nước giàu lấn lướt nước nghèo, kiên quyết phản đối nước lớn đàn áp nước nhỏ. Nói hay như thế nhưng làm thì ngược lại.

– Cũng đã từng có nhiều người nói về việc hệ thống truyền thông Trung Quốc đưa thông tin sai lệch, “làm hỏng dân”…

– Chuyện lừa dối của họ là truyền thống, từ thời Đông Chu liệt quốc đến giờ. Họ biến con người thành những con cừu, chỉ thực hiện mệnh lệnh của cấp trên. Đến giờ phút này, truyền thông Trung Quốc là hệ thống nói dối lớn nhất hành tinh, chỉ phục vụ ý đồ chính trị của giới chóp bu. Về khoản này, Mỹ thua Trung Quốc.

Hồi năm 1979, Trung Quốc xâm lược ban ngày ban mặt chứ có phải buổi tối đâu. Nhưng cứ đến kỷ niệm năm chẵn, báo chí Trung Quốc tung ra trung bình khoảng 700 – 800 bài báo kéo tít gần như nhau: Chiến công oanh liệt của quân giải phóng Trung Quốc phản công quân Việt Nam xâm lược; cuộc phản công chiến lược thắng lợi…

Sẵn sàng dùng thủ đoạn tàn bạo

– Chúng ta vẫn thường nhắc đến chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc. Ông đánh giá như thế nào về độ phổ biến của chủ nghĩa bành trướng trên thế giới?

– Về mặt khoa học, phàm các dân tộc lớn, nước lớn, đều có nhân tố bành trướng chứ không phải chỉ có Trung Quốc. Mỹ, Nga, Đức, Nhật, Ấn Độ đều như vậy. Đó là đặc điểm có tính phổ biến, như là người giàu, lớn, khỏe thì hay xem thường kẻ nghèo hèn. Một con người cũng thế, một cộng đồng cũng thế mà một dân tộc cũng thế.

Cho nên diễn biến hòa bình không phải chỉ có Mỹ. Tất nhiên gốc tích của diễn biến hòa bình thời hiện đại là từ Mỹ nhưng những thủ đoạn tác động vào các nước khác để đảm bảo có một chính quyền ở đó theo ý mình thì Trung Quốc là cha đẻ, là bậc thầy của thế giới. Cách đây 2.600 năm, chính ông Quản Trọng, người nước Tề thời Xuân Thu, là người đẻ ra diễn biến hòa bình với các thủ đoạn chia rẽ nội bộ, lũng đoạn kinh tế, khoét sâu mâu thuẫn, đưa thông tin vu khống để vua bạc đãi người trung thực, xung quanh nhà vua chỉ còn những loại nịnh thần, ngu dốt thôi. Từ đó đất nước họ suy yếu, ông ta thâu tóm năm nước xung quanh chỉ trong vài năm. Người Mỹ chỉ học mót người Trung Quốc về khoản này.

– Vậy chủ nghĩa bành trướng của Trung Quốc có gì khác biệt dẫn đến việc họ bị thế giới ghét bỏ như ông vừa đề cập?

– Trung Quốc có hai điểm đặc biệt. Một là máu bành trướng của họ dữ dội, quyết liệt hơn các nước khác.

Hai là về mặt thủ đoạn, họ sẵn sàng dùng mọi thủ đoạn bất kể tính chất. Người Mỹ, Nhật, EU không bao giờ làm cái trò cho người sang xui nông dân Việt Nam trộn bùn vào chè, đưa về Trung Quốc quay lên truyền hình, chụp ảnh cho cả thế giới xem; họ cũng không bao giờ mua móng trâu, mua rễ quế, mua đỉa, tuồn hàng chất lượng kém, có chất độc sang Việt Nam. Cho nên cả thế giới chăm chăm cảnh giác Trung Quốc. Họ là một cường quốc không có đồng minh.

– Khi nào Trung Quốc dùng vũ lực?

– Nghiên cứu các cuộc xung đột vũ trang của Trung Quốc từ năm 1949 đến nay, ông đánh giá thế nào về những yếu tố dẫn các nhà lãnh đạo Trung Quốc đến việc giải quyết các vấn đề quan hệ quốc tế bằng vũ lực?

Nó là hợp lưu cộng hưởng của hai dòng: Dòng bành trướng và dòng phục vụ cho lợi ích trước mắt. Cuộc chiến tranh năm 1969 với Liên Xô chính là vật tế thần để họ chứng tỏ với Mỹ rằng tôi không liên kết với Liên Xô. Đến tháng 2.1979, họ biến Việt Nam thành vật tế thần, một lần nữa chứng minh cho Mỹ thấy họ không đồng minh gì với Việt Nam cả. Trước khi đánh Việt Nam, Đặng Tiểu Bình còn đến Washington, đội mũ cao bồi, nói với Tổng thống Mỹ Carter rằng: “Chúng tôi là NATO phương Đông”. Việt Nam thành vật tế thần để Trung Quốc mua bán với Mỹ.

Suốt từ năm 1979 đến năm 1991, Trung Quốc câu kết với Mỹ và phản động quốc tế bóp nghẹt Việt Nam, bao vây cấm vận Việt Nam. Lịch sử Việt Nam lùi mất 30 năm. Đó là một thời kỳ đen tối của lịch sử Việt Nam, khi tất cả mọi lối ra thế giới đều bị Trung Quốc và Mỹ bịt hết.

Bành trướng là chiến lược lâu dài của họ nhưng khi cần sử dụng vũ lực để giải quyết lợi ích trước mắt và phù hợp với chiến lược đó, họ sẵn sàng.

– Chuyện nước lớn, với tư tưởng bành trướng, thỏa thuận với nhau trên lưng nước nhỏ, đã từng xảy ra nhiều trên thế giới. Trong quan hệ giữa Việt Nam, Trung Quốc và các nước khác thì sao, thưa ông?

– Tôi cho là Việt Nam từng năm lần bị bán đứng.

Lần thứ nhất tại Hội nghị Genève năm 1954. Trung Quốc đã có sự mặc cả với Mỹ, Pháp chứ đúng ra ranh giới hai miền không phải vĩ tuyến 17 mà có thể là 13, nếu không thì là 15. Nhưng để lấy lòng Mỹ và phương Tây, Trung Quốc đã nhân nhượng Mỹ và Pháp kéo lên vĩ tuyến 17. Sau này chính Pháp nói với ta điều ấy.

Lần thứ hai khi Việt Nam gần thắng Mỹ năm 1972, Henry Kissinger đã ký tắt với ông Lê Đức Thọ, hai bên báo cáo cấp cao để chuẩn bị ký Hiệp định Paris. Nhưng sau đó Mao Trạch Đông mời Tổng thống Mỹ Nixon sang ký Thông cáo chung Thượng Hải. Ngày 1.3.1972, Kissinger về Tokyo họp báo, nói một câu nổi tiếng: Bây giờ chúng tôi chỉ còn nhìn về Mạc Tư Khoa để nghiền nát Hà Nội! Sau khi ký xong, những việc tày trời trước đây các tổng thống Mỹ khác không làm được thì Nixon làm được, đó là phong tỏa cảng Hải Phòng, con đường biển duy nhất Việt Nam ra thế giới, cho máy bay đánh sát biên giới Trung Quốc, rồi sau đó là 12 ngày đêm Điện Biên Phủ trên không. Thiệt hại về người và tài sản trong cuộc không chiến của Mỹ ở miền Bắc từ 1.3.1972 đến khi ký Hiệp định Paris bằng cả sáu năm trước cộng lại. Ở miền Nam, ta cũng phải đổ xương máu nữa. Nên thông cáo Thượng Hải thực chất đã được viết bằng máu của người Việt Nam.

Lần thứ ba, họ đánh chiếm Hoàng Sa năm 1974. Không có sự đồng ý của Mỹ thì Trung Quốc không bao giờ dám đánh.

Lần thứ tư, chính Trung Quốc là kẻ chủ mưu gây nên vụ thảm sát hơn hai triệu người Campuchia. Trung Quốc cung cấp từ A đến Z, lương thực thực phẩm, vũ khí, đạn dược, thuốc men cho Khmer Đỏ. Chiến tranh biên giới Tây Nam 1976 – 1978 là Trung Quốc mượn Khmer Đỏ để đánh Việt Nam. Sau đấy, khi ta giải phóng Campuchia, Trung Quốc là kẻ lu loa trên thế giới rằng Việt Nam có âm mưu lập “Liên bang Đông Dương”. Kẻ gây ra họa diệt chủng lại vu cáo cho những người cứu người Campuchia khỏi họa diệt chủng.

Lần thứ năm là chiến tranh biên giới năm 1979. Năm lần họ buôn bán trên lưng mình.

HỮU LONG (PHÁP LUẬT TPHCM)

Hàng loạt ảnh vệ tinh vừa được công bố cho thấy những lá cờ Mỹ vẫn tung bay trên Mặt trăng. Tuy nhiên, các nhà khoa học cho rằng, khó có thể nhận ra đó từng là cờ Mỹ.

 

 

Theo phân tích của các chuyên gia nghiên cứu Mặt trăng, những màu sắc trên quốc kỳ Mỹ như đường sọc hay các ngôi sao khó có thể tồn tại sau khi chịu tác động trực tiếp của bức xạ Mặt trời. Những lá cờ vẫn tồn tại trênMặt trăng nhưng chúng hoàn toàn là màu trắng.

Quốc kỳ Mỹ được cắm trên Mặt trăng.

Ngay cả ở Trái đất, những lá cờ vẫn sẽ bị phai màu theo thời gian dù được tầng khí quyển bao bọc và hấp thụ tia bức xạ Mặt trời. Quá trình đó diễn ra với tốc độ nhanh hơn nhiều trên bề mặt Mặt trăng bởi vệ tinh duy nhất của Trái đất không có tầng khí quyển bao bọc.

Ngoài ra, bề mặt Mặt trăng không có bóng râm nên ánh nắng chiếu vào vào các lá cờ là không đổi trong suốt 43 năm qua. Chính vì lẽ đó, những lá cờ Mỹ do phi hành gia đội tàu Apollo cắm dưới bề mặt vệ tinh duy nhất của trái đất đang bị “tẩy trắng” với tốc độ cực nhanh.

Thêm vào đó, trong một tháng, 6 lá cờ được các phi hành gia Mỹ cắm trênMặt trăng phải trải qua 14 ngày thiêu đốt với nhiệt độ 150 độ C và 14 ngày còn lại chìm trong bóng tối với nhiệt độ -150 độ C. Như vậy, những lá cờ bằng nylon trị giá 5,5 USD do công ty sản xuất cờ Annin Flagmakers chế tạo phải tồn tại trong điều kiện nóng lạnh bất thường, chênh nhau 300 độ C trong 1 tháng, lặp lại đều đặn trong suốt 43 năm qua.

Với những điều kiện khắc nghiệt cộng với bức xạ tử ngoại từ ánh sáng mặt trời, biểu tượng của nước Mỹ trên Mặt trăng khó tránh khỏi khả năng bị tẩy trắng. Thậm chí, một trong số chúng có thể phân rã vì những tác động của điều kiện khắc nghiệt. Nếu được xác thực, đó sẽ là cú sốc đối với người Mỹ khi trên Mặt trăng không còn cờ của họ.

HỒNG DUY

Theo Infonet.vn

Vì sao voi mang thai lâu hơn gấp đôi người?

 

Nhờ sự tiến bộ của phương pháp siêu âm, các bác sĩ thú y đã khám phá được cơ chế sinh lý độc đáo trong quá trình mang thai kéo dài tới 22 tháng của voi. Nghiên cứu được đăng trên trên tạp chí y khoaProceedings of the Royal Society B.

Voi là động vật có vú dễ gần gũi với mức độ thông minh cao tương đương loài khỉ hay cá heo. Chúng có quá trính mang thai dài nhất trong thế giới động vật sống trên cạn, lên tới 22 tháng. Voi con được sinh ra với bộ não đã phát triển ở mức cao để chúng nhận biết hệ thống xã hội phức tạp trong đàn và tự kiếm ăn được với cái vòi rất khéo léo.

 

Voi có quá trình mang thai dài nhất trong số các động vật trên cạn

 

Các nhà nghiên cứu, phần lớn đến từ Viện Leibniz Institute (Đức) đã tiến hành phân tích quá trình sinh sản của 17 chú voi châu Phi và châu Á tại các vườn thú ở Anh, Mỹ, Canada, Úc và Đức. Kết quả cho thấy, các chú voi này có một cơ chế sản sinh hormone kỳ lạ chưa từng được mô tả ở bất kỳ loài vật nào.

Tiến sĩ Dennis Schmitt, thuộc Trung tâm bảo tồn voi, cho biết trên BBC: “Voi không chỉ có quá trình mang thai kéo dài lên đến 22 tháng, mà chu kỳ sinh đẻ cũng phải mất 4 đến 5 năm, cùng với khoảng cách giữa các thế hệ trong đàn trung bình hơn 20 năm”.

Quá trình rụng trứng được kích thích bởi sự gia tăng sản sinh hormone LH. Trong khi, quá trình mang thai lại được duy trì bởi hormone tiết ra từ nhiều hoàng thể. Thông thường, sau khi phóng noãn, phần vỏ nang còn lại trên buồng trứng sẽ biến thành một thể màu vàng gọi là hoàng thể. Hoàng thể tạo ra hormone progesterone, nội tiết tố hoài thai, dùng để duy trì sự sống của thai nhi trong giai đoạn đầu của thai kỳ.

Tuy nhiên, cơ chế hoạt động này khác nhau ở mỗi loài vật có vú. Ở người, chu kỳ kinh nguyệt là khoảng 4 tuần và mỗi em bé chỉ có một hoàng thể. Khi thai dần lớn lên, progesterone sẽ được tạo ra từ nhau thai, và hoàng thể từ từ teo dần rồi rụng.

Ở loài voi, chu kỳ kinh nguyệt kéo dài từ 12 đến 16 tuần. Trong quá trình mang thai, ngoài hoàng thể chính cho voi con thì còn có nhiều hoàng thể phụ trong buồng trứng của voi mẹ. Do không có nhau thai, những hoàng thể này tiếp tục cung cấp progesterone để duy trì lớp nội mạc tử cung trong suốt giai đoạn mang thai kéo dài của voi.

Theo tiến sĩ Imke Lueders, thuộc Trung tâm nghiên cứu đời sống hoang dã (Đức): “Việc nghiên cứu quá trình sinh sản của voi rất quan trọng. Những kiến thức mà chúng tôi có được thông qua nghiên cứu này có thể giúp ích cho việc sinh sản của voi trong tương lai.”

Phúc Nguyễn

Sau 3 năm, Microsoft tiếp tục giới thiệu gói ứng dụng văn phòng thế hệ mới với các cải tiến về đa chạm, hỗ trợ cả chuột, bàn phím lẫn cảm ứng và bút.

Ngày 16/7, hãng phần mềm Mỹ tổ chức sự kiện tại San Francisco (Mỹ) để công bố một trong những sản phẩm quan trọng nhất của họ. Office 2013 có thiết kế trực quan và có thể hoạt động trên một loạt thiết bị Windows, trong đó có cả máy tính bảng.

Office 2013 hỗ trợ cảm ứng đa chạm.
Office 2013 hỗ trợ cảm ứng đa chạm.

Điểm đặc biệt của phiên bản mới là được cung cấp qua dịch vụ đám mây, thường xuyên được cập nhật, mang tính xã hội cao và được thiết kế phù hợp với các ngữ cảnh hiện đại trong việc đọc, ghi chép, hội họp, truyền thông.

Steve Ballmer, CEO của Microsoft nhấn mạnh rằng việc phân phối qua đám mây sẽ mang đến sự linh loạt cho cả khách hàng cá nhân và doanh nghiệp, nhất là khi kết hợp cùng với Windows 8. Trước đó, Kurt DelBene, Chủ tịch bộ phận Office, cũng tuyên bố số lượng người dùng Microsoft Office đã cán mốc 1 tỷ. Trên thế giới, cứ mỗi giây lại có một người mua một phiên bản Office 2010.

Office 2013 RT gồm Word, Excel, PowerPoint và OneNote mới nhất sẽ có mặt trên thiết bị chạy trên nền tảng Windows 8 ARM, trong đó có tablet Microsoft Surface. Hiện Office 2013 mới có bản duyệt trước tại Office.com/preview còn gói đầy đủ và giá cả sẽ được công bố trong mùa thu.

Giống như Windows 8, Office tương tác cảm ứng một cách tự nhiên. Người dùng có thể lướt ngón tay trên màn hình hoặc kéo, thay đổi kích cỡ để đọc các văn bản và thuyết trình. Họ cũng có thể tạo ra nội dung mới và tiếp cận các tính năng bằng các chạm ngón tay.
Cài đặt qua web. Chỉ cần đăng ký, người dùng có thể truy cập vào Office ngay cả khi không có máy tính riêng nhờ khả năng tải đầy đủ ứng dụng về một máy tính bất kỳ trên nền Windows thông qua kết nối Internet.
Giao diện Office có màu trắng nhưng người dùng có thể trang trí bằng cách chọn một trong các kiểu thiết kế qua menu.
Người dùng có thể thêm các ứng dụng HTML5 và JavaScript vào trong tài liệu của họ và chúng sẽ hoạt động ngay bên trong Office hoặc Office Web Apps.
Các ứng dụng web mới dành cho Office có thể mua hoặc tải miễn phí qua Office Store.
Sản phẩm hỗ trợ SkyDrive và Office 365 nên người dùng có thể truy cập phiên bản mới của Office Web Apps cũng như lưu trữ file trên kho trực tuyến dung lượng 20 GB.
Khi mở Office 13, nó sẽ hiển thị màn hình Start mới để người dùng chọn một dạng mẫu cho tài liệu của họ.
Các công cụ trong Office được thiết kế lại hiện đại hơn.
Giao diện Metro đóng vai trò trung tâm.
OneNote và Lync là những ứng dụng Windows 8 đầu tiên dành cho Office, được thiết kế để mang lại trải nghiệm cảm ứng trên tablet. Thanh tùy chọn menu trên OneNote giúp tiếp cận các tính năng dễ dàng chỉ với một cú chạm.
Office 2013 mang tính xã hội cao, trong đó có Yammer là mạng xã hội có độ bảo mật cao dành cho doanh nghiệp và công cụ chat Skype. Khi đăng ký, người dùng sẽ được tặng 60 phút gọi toàn cầu mỗi tháng. Danh bạ Skype được tích hợp với Lync giúp gọi hoặc gửi tin nhắn tức thì tới bất kỳ ai trên Skype.

Châu An [ VNExpress]