Tag Archive: được


Họ là những người Việt Nam nhưng những cống hiến, thành tựu của họ đã mang tầm quốc tế, đặc biệt là khiến người Pháp cảm phục.

Bà Tôn Nữ Thị Ninh

Đại sứ Pháp tại Việt Nam Jean-Noël Poirier hôm 26/2 vừa qua trao huân chươngBắc đẩu Bội tinh, huân hương cao quý nhất của Cộng hòa Pháp, cho bà Tôn Nữ Thị Ninh, tại TP.HCM.

“Bà là một “người phụ nữ của Ánh sáng”, một phụ nữ của văn hóa, đồng thời là một nhà ngoại giao và một nữ chính khách, và bà hết sức coi trọng việc truyền bá kiến thức cho các thế hệ trẻ”, ông Poirier dành những lời tốt đẹp nhất ca ngợi bàTôn Nữ Thị Ninh, trong lễ trao huân chương.

“Bà vừa là hiện thân cho gương mặt thời nay của các nhà nho lớn thời xưa của Việt Nam, vừa là hiện thân của các nhà trí thức dấn thân của Pháp của thế kỷ XX. Bà đã có những đóng góp lớn cho mối quan hệ lâu bền và tin tưởng giữa Việt Nam, Pháp và các nước Pháp ngữ”, ông nói.

Bà Ninh từng được trao huân chương Bắc đẩu Bội tinh hạng Nhì (cao nhất là hạng Năm) sau Hội nghị Thượng đỉnh Pháp ngữ Hà Nội 1997. Lần này, bà được đại sứ Pháp trao huân chương Bắc đẩu Bội tinh hạng Ba.

Đại sứ quán Pháp cho rằng với vai trò là giáo viên, nhà ngoại giao, chính khách, bà Ninh đã không ngừng đóng góp cho sự phát triển của Việt Nam và cho sự hội nhập của đất nước vào cộng đồng quốc tế, qua đó duy trì mối quan hệ bền chặt của bà với nước Pháp.

Bà Nguyễn Thị Kim Tiến

Chiều 20/3/2009, Phó Giáo sư – Tiến sĩ, Thầy thuốc ưu tú Nguyễn Thị Kim Tiếnđã được trao tặng huân chương Bắc đẩu Bộitinh – huân chương cao quý nhất của nước Pháp.

Bà Nguyễn Thị Kim Tiến là cán bộ y tế Việt Nam đầu tiên nhận huân chương Bắc đẩu Bội tinh.

Đây là sự ghi nhận của nước Pháp với những đóng góp to lớn của bà Kim Tiến trong việc phát triển quan hệ hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực khoa học ở trình độ cao.

Bà Kim Tiến cho biết, ngành y tế hai nước Việt Nam và Pháp đã có mối quan hệ truyền thống từ xưa. ĐH Y Hà Nội, bệnh viện Bạch Mai, Việt – Đức ở phía Bắc, bệnh viện Chợ Rẫy ở phía Nam đều do Chính phủ Pháp xây dựng. Nhiều giáo sư y học đầu ngành của nước nhà như Giáo sư Hồ Đắc Di, Giáo sư Tôn Thất Tùng, Giáo sư Trần Hữu Tước, Giáo sư Đặng Văn Chung, cố Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch… đã được đào tạo từ Pháp.

Viện Pasteur Paris có mối quan hệ khăng khít với hệ thống hơn 20 viện Pasteur trên thế giới. Đây là niềm tự hào của nước Pháp về nghiên cứu và ứng dụng trong lĩnh vực Y sinh học. Viện Pasteur TP.HCM là được thành lập sau Viện Pasteur Paris và là Viện Pasteur đầu tiên được xây dựng ngoài nước Pháp – nơi Phó Giáo sư, Tiến sĩ Nguyễn Thị Kim Tiến đã công tác liên tục trong suốt 20 năm. Bà làm Viện trưởng Viện Pasteur TP.HCM từ năm 2001 và là người Viện trưởng trẻ nhất trong số hơn 20 Viện trưởng Pasteur trên thế giới.

Bà Nguyễn Thị Xuân Phượng

Tối 12/10/2011, tại Tổng lãnh sự quán Pháp ở TP.HCM, Đại sứ Pháp tại Việt Nam đã trao huân chương Bắc đẩu Bội tinh của Chính phủ Pháp cho bà Nguyễn Thị Xuân Phượng. Trong lễ trao huân chương, Đại sứ Jean-François Girault nhận xét, bà Phượng có những đóng góp tích cực cho xã hội và đất nước Việt Nam thông qua những việc mà bà đã làm, cả trong thời chiến và thời bình.

Bà Nguyễn Thị Xuân Phượng (sinh năm 1924) là cựu phóng viên chiến trường, đạo diễn phim tài liệu của Đài Truyền hình Việt Nam. Năm 1989, bà về hưu. Bà Phượng đã từng viết báo, dịch nhiều tài liệu và viết sách giới thiệu về Việt Nam với độc giả Pháp suốt 30 năm qua.

Với những hoạt động tích cực, bà Phượng đã đưa 28 đoàn điện ảnh Pháp sang thăm Việt Nam để làm phim cả trong thời gian chiến tranh lẫn thời bình. Từ năm 1991 đến nay, bà Phượng liên tục đưa nhiều đoàn họa sĩ Việt Nam sang Pháp triển lãm tranh tại nhiều thành phố. Bà trở thành một nhà sưu tập, chủ nhân của phòng tranh Lotus.

Ông Ngô Bảo Châu

Ngày 27/1/2012, GS Ngô Bảo Châu đã được đích thân Tổng thổng Pháp Nicolas Sarkozy trao tặng huân chương Bắc đẩu Bội tinh tại điện Élysée.

Trước đó, ngày 19/8/2010, tại Đại hội Toán học thế giới tổ chức ở Hyderabad, Ấn Độ, GS Ngô Bảo Châu đã được trao huy chương Fields – giải thưởng cao quý nhất trong lĩnh vực toán học. Đây là lần đầu tiên giải thưởng này được trao cho một người Việt Nam.

Ngày 9/3/2011, Bộ GD-ĐT đã tổ chức công bố Quyết định thành lập Viện Nghiên cứu cao cấp về toán trực thuộc Bộ GD-ĐT và Quyết định bổ nhiệm GS. Ngô Bảo Châu giữ chức Giám đốc khoa học của Viện. GS Châu cho biết, sẽ cố gắng để bảo đảm hoạt động khoa học của Viện đúng với tinh thần, mục tiêu đã đề ra trong việc tác động cụ thể lên khả năng nghiên cứu, giảng dạy toán học tại các trường ĐH Việt Nam, thu hút và tạo điều kiện cho các nhà toán học trẻ Việt Nam cũng như của nước ngoài đạt được hướng nghiên cứu mới về toán học.

Hiện GS Ngô Bảo Châu đang giảng dạy tại ĐH Chicago (Mỹ) và vừa qua GS đã được bổ nhiệm vào vị trí giáo sư gắn danh, và được phong tặng danh hiệu giáo sư xuất sắc. Từ trước đến nay, có chưa đầy 1% GS đang giảng dạy ĐH tại Mỹ được trao tặng danh hiệu này.

GS Ngô Bảo Châu sinh năm 1972, từng học khối phổ thông chuyên toán của ĐH Khoa học Tự nhiên, ĐH Quốc gia Hà Nội và đoạt giải huy chương vàng Olympic toán quốc tế năm 1988 và 1989. GS Châu nhận được học vị tiến sĩ tại ĐH Paris-Sud năm 1997.

Năm 2004, GS Châu nhận giải thưởng nghiên cứu hàng năm của Viện Toán học Clay, Mỹ dành cho những người đạt thành tựu xuất sắc nhất trong năm nhờ giải quyết một trường hợp đặc biệt của “chương trình Langlands”. Mỗi năm chỉ có một hoặc hai người được trao giải và Ngô Bảo Châu là người Việt Nam đầu tiên nhận giải thưởng này.

Theo Kiến Thức

CUỘC ĐÀM LUẬN GIỮA CHỦ THỂ ĐỀ NGHỊ ĐA ĐẢNG (CT1) VỚI CHỦ THỂ ỦNG HỘ ĐỘC ĐẢNG LÃNH ĐẠO (CT2) TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

            – CT1: Montesquieu có bàn trong “Tinh thần pháp luật”, ông cho rằng: Nguyên nhân của dân tha hoá là do quan tha hoá, mà nguyên nhân của quan tha hoá là do độc quyền. Bạn có thể không đồng ý với quan điểm trên. Vậy nên, tôi đề cập đến quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin – Chủ nghĩa được xác định là hệ tư tưởng chỉ đường ở Việt Nam hiện nay: Triết học Mác – Lênin có lý luận về 03 quy luật của phép biện chứng duy vật, thì có “Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập – quy luật mâu thuẫn”. Nội dung của nó thừa nhận “mâu thuẫn” là động lực của sự phát triển. Trong điều kiện hiện tại, Việt Nam thừa nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có tận dụng “quy luật cạnh tranh” làm động lực phát triển kinh tế đất nước. Vậy tại sao Việt Nam lại không thừa nhận quan điểm đa đảng, vừa tận dụng và phát huy được giá trị của “quy luật cạnh tranh” trong chính trị, vừa phù hợp với quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin tạo động lực để làm trong sạch, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng? Như vậy, Việt Nam phải chăng đang đi trái với quy luật được đưa ra trong hệ tư tưởng của mình!
            – CT2: Chủ nghĩa khai sáng ở Pháp thế kỷ XVIII đã để lại những thành quả to lớn cho nhân loại, với những tư tưởng tiến bộ và có giá trị  nhân văn sâu sắc cho đến thời điểm hiện nay, và có thể cả nhiều thập kỷ hay thế kỷ về sau; và không thể phủ nhận việc Chủ nghĩa Mác – Lênin có kế thừa những quan điểm, tư tưởng tiến bộ từ các học thuyết trong giai đoạn này. Riêng với quan điểm của chúng tôi, người phương Đông từ xưa đã có câu “Xà trên không thẳng, xà dưới ắt cong”, tục ngữ Việt Nam cũng đã dạy rằng “Nhà dột từ nóc”.
            Và cho rằng độc quyền là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự tha hoá của “xà trên” theo chúng tôi cũng là một quan điểm phù hợp trong tính tương đối và biện chứng, nhưng điều này không mang tính hiển nhiên. Bởi vì, Độc quyền không sẵn mang trong nó bản chất tiêu cực. Độc quyền – duy nhất một chủ thể nắm quyền – khác hoàn toàn với khái niệm độc tài. Độc tài hay là sự độc đoán, chuyên quyền mới là yếu tố tiểu cực về bản chất. Có thể thừa nhận, sự độc tài có nguồn gốc từ sự độc quyền, nhưng không phải sự độc quyền nào cũng dẫn đến độc đài – độc đoán chuyên quyền.
             Đồng thời, không có một điều gì chứng minh rằng: một nhóm gồm nhiều người hiển nhiên là một nhóm biết lắng nghe; và cũng không có điều gì chứng minh rằng: một con người hiển nhiên là không biết lắng nghe. Không có điều gì chứng minh rằng: nhiều hơn một thì hiển nhiên vì tất cả mọi người; và cũng không có điều gì chứng minh rằng: một thì hiển nhiên không vì tất cả mọi người. Tôi thấy trong thực tiễn thế giới, rất nhiều, rất nhiều trường hợp “một” nhưng vì nhân loại, vì cả loài người. Nhưng trường hợp “nhiều hơn một” mà vì nhân loại thì không nhiều như thế. Nước Anh có Robert Owen vì nhân loại và lòng bình đẳng, bác ái, nhưng cả nước anh lúc đó đâu như vậy; tương tự như Xanh Xi – mông ở Pháp; Abraham Lincohn ỡ Mỹ. Bạn nghĩ để một mà vì tất cả mọi người lãnh đạo tốt, hay để nhiều hơn một nhưng cái nhiều hơn một trong cái “hỗn tạp” lãnh đạo tốt!?
            Aristole đã từng nói: Không phải bản chất của độc quyền hay cộng hoà đã mang sẵn trong nó tính tốt hoặc xấu; mà tuỳ thuộc vào từng điều kiện cụ thể nhất định. Tất cả mọi vấn đề đều có tính hai mặt của nó. Trong thời kỳ chiến tranh, sự độc quyền chỉ huy tập trung vào tay một chủ thể là vấn đề tất yếu và tích cực. Trong khoa học quản lý kinh doanh, người ta thường đề nghị “tập quyền” trong giai đoạn mới thành lập; nhưng vào giai đoạn ổn định và phát triển thì cần phát huy tính “cộng hoà”. Chúng ta cũng không thể phủ nhận tính “độc quyền tự nhiên” trong nền kinh tế. Những dạng độc quyền như thế là những độc quyền tích cực. Aristole cũng cho rằng, sẽ rất hiếm tìm được một chủ thể thật sự tài năng và đức độ để trao cho “độc quyền”, vì vậy, để tránh rũi ro, thì khi không có được chủ thể như vậy, chúng ta nên “cộng hoà”. Nhưng khi có một chủ thể xứng đáng để được trao sự “độc quyền”, thì sự độc quyền sẽ là một động lực lớn để phát triển đất nước, tốc độ trong việc đưa ra quyết sách và sự triệt để trong việc thực thi chiến lược từ sự độc quyền lúc này sẽ lớn hơn nhiều sự “cộng hoà”, nhất là khi cộng hoà đó là một “cộng hoà hỗn tạp”.
               Có thể nhìn thấy điều này trong lịch sử nước ta, từ sự “độc quyền” của Lê Thánh Tôn đã tạo nên một thời ký thái bình, thịnh trị; hay thời kỳ “Trinh Quán” mà Lý Thế Dân đã xây dựng trong lịch sử Trung Hoa (là những chủ thế bãi bó chức Tể tướng, Thái sư, “hư danh hoá” chức Thái phó, tập trung tối đa và trực tiếp điều hành quyền lực vào tay mình); là thực tiễn trong 40 năm làm Thủ tướng Singapore của Lý Quang Diệu với Đảng PAD của ông tồn tại duy nhất tại Singapore trong 38 năm ông làm Thủ tướng, đã đưa Singapore hoá rồng. Và người dân Mỹ hiểu sự độc quyền của Flanklin Roosevelt đã đem lại cho nước Mỹ và những tên trùm tài phiệt tại nước này nhiều lợi ích như thế nào trong thế chiến thứ hai; và sự độc quyền của Marcaret Thactcher đã vựt dậy nền kinh tế Anh như thế nào, và sự “không độc quyền” của các vị thủ tướng kế nhiệm bà sau này đã đưa nước Anh thụt lùi như thế nào. Và sự độc quyền của MITI (Bộ Thương mại Nhật Bản) trước đây đã đưa Nhật Bản đứng lên một cách mạnh mẽ sau thế chiến thứ hai như thế nào; và ai có thể phủ nhận công lao của Tổng thống Park Chung Hee với sự độc quyền đến độc tài (và ra trường bắn) đã thúc đẩy và tạo nền móng vững chắc cho nền công nghiệp Hàn quốc hiện nay!
               Với những điều kiện khách quan nhất định, có thể thấy rằng, độc quyền là điều kiện tất yếu, là nguồn gốc và là động lực của sự phát triển.
               Vậy có thể thấy được, độc quyền không mang bản chất đã sẵn tiêu cực, mà phụ thuộc vào chủ thể “độc quyền” và điều kiện, tính hình khách quan cụ thể.
               Độc quyền hay cộng hoà, trong trường hợp này là một hay nhiều đảng lãnh đạo đơn giản chỉ là cách thức lựa chọn mô hình lãnh đạo đất nước, điều đó hiển nhiên gắn với lịch sử, điều kiện của từng quốc gia cụ thể. Và thực tiễn lịch sử trong giai đoạn 28 – 30, 30 -45, 45 – 54, 54 -75, năm 1989 (Đảng Xã hội ở Việt nam tự tuyên bố giải tán)  đến nay, đã chứng minh, ở Việt Nam, độc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là điều phù hợp.
               Vấn đề thứ hai mà bạn đề cập, về “Quy luật mâu thuẫn”. Chúng tôi là những người thấu hiểu, tuân theo và vận dụng sáng tạo Triết học Mác, trong Quy luật mâu thuẫn có chỉ rõ: mâu thuẫn có nhiều loại mâu thuẫn, có mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài. Trong đó, mâu thuẫn bên trong là cái trọng yếu và mấu chốt; giải quyết mâu thuẫn bên trong mới thật sự là động lực của sự phát triển, vì sự phát triển là sự phát triển mang tính tự thân. Trong tất cả mọi vấn đề, trong tu thân (chiến thắng chính mình), trong quân sự “nội bộ phải vững chắc, đoàn kết”, trong kinh doanh “phải nắm được thị trường nội địa trước khi tiến hành vươn ra biển lớn quốc tế”. Vậy nên, mâu thuẫn bên ngoài chỉ mang tính xúc tác, điều kiện.
                Chúng tôi xin nhắc lại, mọi vấn đề đều có tính hai mặt. Chúng tôi hiểu rằng, khi chúng tôi không thừa nhận vấn đề đa đảng, chúng tôi sẽ mất đi một chất xúc tác rất quan trọng, đó là tạo áp lực để từng Đảng viên, và toàn Đảng phải tự ý thức, tự nỗ lực do tính “cạn tranh” giữa các Đảng. Nhưng “cạnh tranh” chỉ là một trong rất nhiều chất xúc tác, điều kiện khác nhau. Bên cạnh xúc tác “cạnh tranh”, còn nhiều xúc tác khác mà chúng tôi có thể tận dụng để làm động lực cho quá trình giải quyết mâu thuẫn bên trong. Nhưng nếu chúng tôi dùng chất xúc tác “cạnh tranh” giữa các đảng, thì hệ luỵ thật khôn lường với mặt trái của nó. Một loại thuốc có chất có thể gây tác dụng phụ chết người đối với người này, nhưng có thể không có hoặc có nhưng không đáng kể đối với người khác. Một loại thuốc có thể gây bớt bệnh đối với người này, nhưng chưa hẵn chữa lành bệnh cho người khác. Và bạn hãy nhìn thực tiễn chiến tranh, xung độc sắc tộc, bất ỗn chính trị liên miên tại các quốc gia châu Phi, hay Thái Lan đã tàng phá những nước này như thế nào từ vấn đề đa đảng.
                Vậy nên, đứng trên quan điểm biện chứng, xác định đúng chất xúc tác phù hợp, đặc trọng tâm vào giải quyết tốt mâu thuẫn nội bộ, nghiên cứu lịch sử và hiện thực khánh quan của Việt Nam, việc Việt Nam lựa chọn mô hình “độc đảng lãnh đạo” là phù hợp.
                 CT1: Nhưng tôi nghĩ rằng, Triết học Mác đã từng nói: “Vận động và biến đổi là thuộc tính cố hữu của vật chất”. Bên cạnh đó, như anh đã đề cập ở trên, sự phù hợp của yếu tố độc quyền tuỳ thuộc vào chủ thể, điều kiện lịch sử mang tính giai đoạn nhất định. Xã hội là một dạng vật chất, và nó luôn biến đổi, vận động, xã hội Việt Nam hiện tại đã khác xưa; Việt nam cũng không nằm trong điều kiện có chiến tranh như xưa; Đảng Cộng sản Việt nam cũng không còn trong sạch và vững mạnh như thời của cụ Hồ còn sống, Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay đã bị vướng vào một vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói và lo ngại, với đại ý: Một đảng, một con người, ngày hôm qua là vĩ đại, được mọi người ca tụng, không nhất thiết ngày hôm nay còn giữ được ánh hào quang, nếu không còn trong sạch nữa, nếu rơi vào chủ nghĩa cá nhân. Vậy, tôi thấy rằng, ở Việt Nam hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam không còn là chủ thể xứng đáng để trao cho sự độc quyền như xưa; điều kiện khách quan và tình hình Việt Nam hiện nay đã không còn như xưa. Tôi tự hỏi, hoặc là Đảng Cộng sản Việt nam không nhận thức được điều này, hoặc là Đảng Cộng sản Việt nam muốn giữ mãi vị trí độc tôn và lo sợ, thiếu tự tin trong cạnh tranh khi tiến hành đa đảng – bởi tình trạng xuống cấp nghiêm trọng của một bộ phận “không nhỏ” đảng viên, hoặc là chưa được học về câu chuyện vua Nghiêu, vua Thuấn, nên còn giữ mãi vấn đề độc đảng!?
               CT2: Thứ nhất, tôi muốn nói với bạn, xã hội Việt Nam đã vận động, biến đổi, nhưng sự vận động và biến đổi đó không “tạo ra chất mới” trong yêu cầu phải độc quyền để tồn tại và phát triển ở Việt Nam. Việt Nam hiện tại vẫn còn đó rất nhiều kẻ thù; Việt Nam hiện tại công nhân và bà con nông dân vẫn còn nghèo; và con người Việt Nam hiện tại vẫn còn đó tinh thần đoàn kết và yêu nước lớn lao; con người Việt Nam vẫn còn đó tinh thần yêu chuộng hoà bình; con người Việt Nam vẫn còn đó tư tưởng an phận; con người Việt Nam vẫn còn đó trình độ dân trí của đại bộ phận nông dân và công nhân rất thấp; con người Việt Nam vẫn còn đó trong tim hai chữ: “Đảng ta”.
                   + Việt Nam phải độc quyền lãnh đạo trong hiện tại: để đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị nội bộ, tránh tối đa sự len lõi, chia rẽ của kẻ thù, sự xáo trộn nội bộ làm mãnh đất màu mỡ, cơ hội cho những kẻ đang dòm ngó.
                    + Việt Nam phải độc quyền lãnh đạo trong hiện tại để tạo sự đi lên tương đối đồng bộ, tránh tối đa sự “vênh” trong việc phát huy các nguồn lực để phát triển đất nước, để đem lại sự ấm no cho công nhân và nông dân Việt Nam, không để xãy ra tình trạng nghèo khổ cho công nhân và nông dân như tại các nước thế giới thứ ba, các nước đang phát triển khác, nhất là trong điều kiện tiềm lực kinh tế Việt Nam còn tương tự như các nước này. Không thể đem so sánh Việt Nam với các nước tư bản đã phát triển từ rất lâu về chính trị, khi tiềm lực kinh tế là không thể so sánh. Với tiềm lực kinh tế như hiện nay, nông dân và công nhân Việt Nam sẽ gánh lấy hậu quả như nông dân và công nhân các nước thế giới thứ ba nếu Việt Nam tiến hành đa đảng. Còn vệ việc đãi ngộ, giàu có, an sinh xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay có nguồn gốc từ đâu thì tôi đã đề cập trong bài viết “Các hình thức bóc lột của chủ nghĩa tư bản trong thế giới hiện đại”, chứ không hề có được từ sự đa đảng. Nếu các nước tư bản phát triển do Đảng Cộng sản lãnh đạo, thì nhân loại đã không có một châu Phi chết đói, không có một Mỹ la tinh bất bình đẵng và nợ nầng chồng chất; không có “chiến tranh tiền tệ”; và người dân tại nước họ còn có cuộc sống tốt đẹp hơn hiện tại rất nhiều lần, chứ không phải đang dần biến thành con nợ cho những tên trùm tài phiệt như hiện nay.
                 + Việt Nam hiện nay phải độc đảng để giữ lấy tinh thần đoàn kết và yêu nước lớn lao; không thể để cho ra đời những tên cơ hội, sẵn sàng chia rẽ dân tộc và bán dân mình thành nô lệ vì lợi ích cá nhân. Hãy nhớ câu nói của Dương Văn Minh khi quyết định đầu hàng hay chấp nhận cho Trung Quốc nhãy vào năm 1975 của Chính phủ Cộng hoà Nam Việt Nam trước đây: “Chúng ta đã bán nước hai lần, không thể bán nước thêm một lần nữa”; để cả dân tộc cùng nắm tay nhau tiến đến một xã hội tốt đẹp chứ không phải là một xã hội chia rẽ, xáo trộn, nô lệ, làm con chốt thí, vật thí nghiệm, làm cái sân sau cho các nước lớn
                  + Việt Nam hiện tại phải độc đảng để những khiếm khuyết về dân trí không bị kẻ thù lợi dụng, không bị coi khinh, không bị đem ra làm cơ hội để xõ mũi, bị bóc lột; độc đảng để những khiếm khuyết đó được yêu thương, được bổ khuyết, được xoá bỏ, được tạo điều kiện phát triển đồng bộ, hài hoà; để dù chưa loại bỏ được hết những khiếm khuyết, người nông dân và công nhân Việt Nam vẫn có được cuộc sống tốt đẹp hơn rất nhiều người nông dân và công nhân ở những nước thế giới thứ ba có trình độ dân trí như họ.
                  + Việt Nam phải độc đảng, vì người dân Việt Nam không hề muốn đa đảng, họ chỉ muốn Đảng phải sữa sai triệt để, mạnh mẽ để Đảng ngày càng trong sạch và vững mạnh hơn, xứng đáng với niềm tin của nhân dân. Vì tôi hiểu, nhiều người Việt Nam yêu nước, yêu Đảng ta lắm, nhưng họ vẫn đề nghị đa đảng. Họ đề nghị đa đảng không phải vì ghét Đảng, mà vì quá yêu Đảng, không muốn thấy Đảng “đánh mất mình”, không muốn thấy những kẻ cơ hội, ích kỹ, xấu xa, thối nát cứ tồn tại nhơn nhỡn, nhơn nhỡn trong Đảng; không muốn thấy tình trạng Đảng ngày càng mất niềm tin ở nhân dân, không muốn thấy cảnh “chệch hướng XHCN”. Họ quá yêu quý Đảng, nên ngày đêm ray rứt tìm cách thức để Đảng ta trong sạch, vững mạnh, để Đảng ta được tốt đẹp như thời còn Chủ tịch Hồ Chí Minh (họ mới là người đáng quý, người yêu Đảng; chứ không phải những kẻ miệng cứ đòi một đảng, nhưng lại tham ô, tham nhũng, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, truỵ lạc, bê tha, coi khinh dân, đè đầu cửi cổ dân mà đáng quý, mà yêu Đảng đâu – những kẻ này hiện nay thì miệng nói trung thành với Đảng lắm, nhưng nếu như có biến cố xãy ra, họ sẵn sàng bỏ rơi Đảng ngay, mà nói thế cũng không đúng, phải nói hiện tại họ đã “bỏ rơi” Đảng rồi, họ mới là kẻ thù và là những kẻ phản bội Đảng đáng kinh tởm nhất; Đảng ta hiểu điều này bạn ạ! Tất nhiên, Đảng cũng hiểu trong số những người đề nghị đa Đảng có rất nhiều kẻ cơ hội, phản bội dân tộc vì lợi ích riêng); và họ nghị đến cách đa đảng, vì họ tin rằng, như thế Đảng ta sẽ có động lực lớn lao để ngày càng tốt đẹp hơn, ngày càng xứng đáng với niềm tin của nhân dân hơn; nhưng những người yêu nước và yêu Đảng vô bờ này chưa lường hết được tính hai mặt của vấn đề đa đảng, chưa thấy hết được khả năng và sự sâu hiểm của kẻ thù; và quan trọng nhất, những người đáng quý biết bao này vẫn chưa tìm ra được cách nào, phương thức nào khác theo họ là hiệu quả, mạnh mẽ và triệt để. Và tôi nghĩ, bạn cũng cao quý như họ!
                + Cuối cùng, Việt Nam phải độc đảng để vững tin theo một con đường và nhất quán thực hiện triệt để chính sách phát triển toàn dân tộc.
            Bây giờ đến vấn đề Đảng ta liệu có còn xứng đáng để được trao cho “độc quyền” hay không! Đảng ta hiểu rõ và thừa nhận hiện nay vì một lượng không nhỏ những tên mang nhãn “đảng viên” thoái hoá, biến chất đã làm cho Đảng giảm sút niềm tin nơi nhân dân, làm cho nước nhà chậm phát triển, làm cho nhân dân ta vẫn còn nghèo, còn cực khổ. Không thể phủ nhận những thành quả mà Đảng ta đã làm được trong thời kỳ xây dựng đất nước sau đổi mới, những cũng không thể phủ nhận chúng ta có thể đạt được những thành quả vinh quang hơn, đáng tự hào hơn rất nhiều và rất nhiều nếu Đảng ta có được sự trong sạch, vững mạnh thư thời còn Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhưng Đảng ta bản chất vẫn là Đảng tốt bạn à! Cái này trong bóng đá người ta gọi: phong độ là nhất thời, nhưng đẳng cấp là mãi mãi. Nhưng Đảng ta hiểu rằng, nếu lượng thay đổi đến một độ nào đó, nó sẽ biến thành chất mới.    Do đó, Đảng hiện nay xem vấn đề làm trong sạch Đảng là nhiệm vụ hàng đầu. Đảng hiểu sự kiên nhẫn của người dân là có giới hạn, niềm tin yêu của người dân vào Đảng là có điều kiện, nếu Đảng không nhanh chóng và triệt để trong thời gian tới, để cái hiện tượng thành cái bản chất, thì Đảng thật sự không còn xứng đáng với niềm tin của nhân dân nữa; lúc đó Đảng sẽ phụ biết bao nhiêu tấm lòng của người dân Việt Nam yêu nước, yêu Đảng, phụ biết bao xương máu, nỗi hy sinh của bao lớp người, thế hệ Việt Nam, phụ và phản bội dân tộc, Chủ tịch Hồ. Bạn ạ! Với những gì Đảng ta đã làm được, hãy kiên nhẫn thêm một tí nữa, và hãy thêm tin một tý nữa vào “đẳng cấp” của Đảng ta, dù tôi hiểu điều này có giới hạn và điều kiện.
                 CT1: Được, tôi tạm đồng ý với bạn! Nhưng bạn phải chỉ ra cho chúng tôi cách thức nào khác thật sự hiệu quả, mạnh mẽ và triệt để trong điều kiện hiện nay! Và tôi muốn nhắt với bạn rằng: thực tiễn là cái để kiểm tra chân lý; đối với người phương Đông của chúng ta, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Một trăm bài diễn thuyết không bằng một tấm gương”; và: người dân Việt Nam mình đang dần bắt đầu đánh giá vấn đề qua thực tiễn hành vi chứ không phải bằng lời nói rồi đấy bạn ạ!
                 CT2: Bạn hãy cho tôi được chắp tay, cúi người để tỏ lòng biết ơn, tôn kính với bạn và những con người như bạn! Đảng ta hạnh phúc và vinh dự làm sao! Nhân dân ta hạnh phúc và vinh dự làm sao khi có được những người con yêu nước như bạn, ngày đêm lo nghĩ cho cái hưng vong của quốc gia, với một niềm thuỷ chung son sắc.
                 Bạn ạ ! Cho tôi được chia sẽ điều này, mình không nguỵ biện đâu, thực tiễn được dùng để kiểm tra chân lý phải là cái thực tiễn được nhìn với con mắt biện chứng và quan điểm toàn diện; thực tiễn không là thực tiễn của hôm nay, mà còn là thực tiễn trong ngày mai; điều gì cũng cần phải có thời gian, cần phải có một sự kiên nhẫn có giới hạn nhất định! Mình không thể nói nữa! Vì dù sao cũng chỉ là lời nói. Đúng! thực tiễn đang đặt ra cho Đảng ta nhiệm vụ là phải dùng thực tiễn để chứng minh chân lý. Điều này hoàn toàn phụ thuộc trực tiếp và trước hết vào Đảng. Không có điều gì có thể biện minh nếu như Đảng thất bại trong việc làm trong sạch nội bộ Đảng, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong thời gian tới! Nhân dân đã tin, và đã cho Đảng cơ hội!
               Còn về cách thức khác hiệu quả, triệt để, mạnh mẽ, thì mình xin được nói thế này:
               Ngày xưa khi Jean Jacquen Rouseau viết “Khế ước xã hội”, có người hỏi ông: Anh có phải là một chính trị gia hay một nhà lập pháp không mà viết những điều này?! J.J. Rouseau trã lời: Vì tôi không phải là một chính trị gia hay một nhà lập pháp tôi mới phải viết những điều này! Nếu tôi là một chính trị gia hay một nhà lập pháp, với quyền lực trong tay, tôi sẽ dùng quyền lực để triển khai thực hiện ngay, không cần phải viết bạn ạ!
               Vì chúng ta không có được cái động lực “cạnh tranh” mạnh mẽ và đầy mặt tiêu cực bất trắc, nên chúng ta phải kết hợp nhiều biện pháp quyết liệt khác nhau với sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau, và của sự chung tay, quyết tâm của cả dân tộc.
               Trước hết, toàn dân, từng Đảng viên yêu nước, yêu Đảng phải hành động quyết liệt, triệt để, đầy trách nhiệm, không thể nói đổng mà phải bằng hành vi cụ thể, làm cách mạng thì phải chấp nhận hi sinh, không thể an phận được nữa, phải dám chiến đấu quên mình để có được một Tổng Bí thư Đảng xứng đáng! Vì theo Chủ nghĩa Mác, cá nhân lãnh đạo hay lãnh tụ là một “xúc tác” làm biến đổi và thúc đẩy nhanh lịch sử (hãy nhìn vào V.I. Lenin, Chủ tịch Hồ Chí Minh). Vì theo khoa học lãnh đạo, Maxell đã từng nói: “Mọi sự thành bại đều do lãnh đạo!”.
               Nhưng có người xứng đáng thôi thì chưa đủ, mà phải có thật nhiều, thật nhiều những con người dám xã thân để thực hiện chiến lược, con đường của cá nhân xứng đáng đó!
               Bạn có đồng ý với tôi chăng! Hiện nay Nhân dân ta, Đảng ta đang có một Tổng Bí thư tuyệt vời. Bác Nguyễn Phú Trọng đang cần ở nhân dân ta, mỗi người, từng người một, hãy ý thức lấy trách nhiệm của mình, hãy dám hành động vì công lý, vỳ lẽ phải, để cùng bác, cùng Đảng, cùng nhân dân ta làm nên những điều kỳ diệu, làm trong sạch Đảng. Một mình bác không thể nào làm nỗi. Và nhiệm vụ của chúng ta là làm gì đây? Làm những điều nhỏ thôi, nhưng có ý nghĩa! Nhưng những điều nhỏ, đời thường nhưng cao quý thì vẫn chưa đủ! Mà từng người chúng ta phải là từng con người cách mạng, tức là từng con người dám hi sinh. Hãy ý thức đầy đủ với từng lời nhận xét, từng lá phiếu bầu của chúng ta. Hãy cho đi sự an phận của bản thân để cùng nhau chiến đấu không khoan nhượng với những tên gắn mác “đảng viên” mà thoái hoá, biến chất. Hãy đứng lên và công khai tuyên chiến, phản đối, không khoan nhượng với những kẻ ích kỹ, cục bộ, bè phái, quan liêu, cơ hội, hách dịch, cửa quyền; đừng ngồi đó và giữ mãi nỗi bất bình ở trong lòng. Không có cách mạng diễn ra thuần tuý trong tư tưởng, quan điểm và lới nói. Không có cách mạng nào là cách mạng không phải hi sinh, ngay cả cách mạng “Bất bạo động” của Ganhdi cũng phải hi sinh và hi sinh rất nhiều. Dù bạn có đang thực hiện chiến lược hay đang đấu tranh bước ngắn, cũng hãy đừng khoan nhượng với tiêu cực.
              Bạ ạ! Đảng là người đầy tớ trung thành, và nhân dân là chủ. Nên bạn phải nhớ rằng: “Cha không ra cha, con không ra con; vua không ra vua, tôi không ra tôi là cái gốc của loạn”. Nếu bạn làm chủ mà không ý thức, không dám hành động, không dám dùng quyền như một người chủ, thì hiển nhiên “đầy tớ” sẽ lộng hành. Nếu “đầy tớ” tha hoá, thì trách nhiệm chính thuộc về “ông chủ” không ra ông chủ, để “đầy tớ” qua mặt. Bạn hãy luôn luôn để trong vô thức, tiềm thức, ý thức và trong ngay từng hành động: TA LÀ CHỦ, VÀ NGƯỜI CHỦ NÀY QUYẾT KHÔNG ĐỂ ĐẦY TỚ QUA MẶT, MUỐN LÀM GÌ THÌ LÀM. HÃY XEM TA LÀM MỘT ÔNG CHỦ ĐỘ LƯỢNG, CÔNG MINH NHƯNG ĐẦY TRÁCH NHIỆM VÀ NGHIÊM KHẮC NHƯ THẾ NÀO!
             Chủ tịch Hồ Chí Minh, những anh hùng đã hi sinh, bác Nguyễn Phú Trọng đang mong mõi biết bao sự thức tỉnh và hành động của từng con người “chủ” của dân tộc Việt Nam!
             Thứ hai: phải có pháp luật về biểu tình. Toàn dân tộc Việt Nam, phải đem cả trí tuệ của mình để xây dựng nên một pháp luật về biểu tình, mà ở đó, gần như tất cả mặt tiêu cực của nó (Nói như Hitler: “…, nhưng đám dân ngu dốt đó còn là một con rồng, và với những cuộc biểu tình, con rồng đó sẽ phun lữa thiêu rụi cái thế giới dân chủ giả tạo, để chế độ độc tài của ta trở nên bá chủ và mãi mãi trường tồn!), đồng thời phát huy tối đa mọi mặt tích cực của nó, tạo thành một động lực thật sự mạnh mẽ để Đảng ta thực hiện triệt để vấn đề làm trong sạch đảng. Những để “con mèo bắt chuột giỏi nhưng cũng ăn vụng giỏi” này “chỉ có thể bắt chuột” thì cần có tầm trí tuệ của cả dân tộc. Nếu không, nó có thể không chịu “bắt chuột” mà chỉ lo “ăn vụng” là giỏi. Nhất là khi trình độ dân trí của ta còn thấp như hiện nay.
            Điều này khó, nhưng có thể làm được và làm tốt bạn ạ! Miễn là chúng ta có được trí tuệ của cả dân tộc để xây dựng nên pháp luật đó. Chương trình xây dựng Luật Biểu tình đã được Quốc hội khoá XIII đưa vào chương trình nghị sự chính thức; khi có dự thảo và xin ý kiến đóng góp của nhân dân, lúc đó, hãy hành động để tập trung tất cả trí tuệ của dân tộc!
            Thứ ba: phải pháp luật hoá Điều lệ Đảng; pháp luật hoá các vấn đề về phương thức lãnh đạo của Đảng; pháp luật hoá các vấn đề về kiểm tra, giám sát, bình, bầu, kỷ luật, đánh giá, phân loại đảng viên của Đảng, và nhân dân là chủ thể phải hiện diện một cách bắt buộc, tất yếu trong quá trình này. Hiện nay, nhân dân đã tham gia, nhưng chỉ tham gia bằng nghị quyết của Đảng mà chưa bằng pháp luật, nhân dân phải được chính thức hoá bằng pháp luật bằng quyền này!
            Đảng ta là đảng của toàn thể nhân dân, vì vậy cho nên: Đảng phải chịu sự kiểm tra, giám sát theo luật của toàn thể nhân dân; Đảng phải vận hành và hoạt động theo ý chí của toàn thể nhân nhân, tức là bằng những văn bản quy phạm pháp luật cụ thể.
            Nào, các bạn, chúng ta hãy cùng nắm tay nhau, cùng tiến lên với một tinh thần sẵn sàng hi sinh, bằng những hành động dù nhỏ hay “to” nhưng triệt để, mạnh mẽ, quyết không khoan nhượng. Để Đảng ta ngày càng trong sạch hơn, ngày càng vững mạnh hơn, ngày càng xứng đáng với niềm tin của nhân dân hơn!
           “Không có từng con suối nhỏ, làm sao hình thành được dòng sông lớn; không có từng hạt cát nhỏ, làm sao có được cả sa mạc!”
Thứ tư: phải tiến hành công nhân hoá Đảng ta thật mạnh mẽ. Đảng ta đã có chủ trương này, nhưng trong thời gian tới cần phải làm quyết liệt và mạnh mẽ hơn nữa. Bởi vì trí thức dù có thấm nhuần lý tưởng cách mạng của giai cấp công nhân đến mấy đi chẳng nữa, thì chất của họ vẫn là chất tri thức; tri thức không thể nào thay thế và có được bản chất đích thực của giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân là giai cấp mà quyền và lợi ích của họ tỷ lệ thuận với quyền và lợi ích của các giai cấp tiến bộ khác và với cả dân tộc. Kết nạp công nhân vào Đảng, cần nhất và trước hết hiện nay là phẩm chất đạo đức thông thường (chưa cần đạo đức cách mạng), vì đạo đức thông thường là cái tiền đề, cơ sở, điều kiện để hình thành đạo đức cách mạng. Chỉ cần có tinh thần yêu nước, lòng thương người, bản tính trung thực, thẳng thắn, biết đấu tranh bên vực kẻ yếu, biết lo nghĩ về lợi ích cho quốc gia, dân tộc là được. Lý tưởng cách mạng sẽ được bồi dưỡng sau. Trong cái trước mắt, nếu trình độ còn hạn chế thì đảng viên trí thức bù khuyết; cài cần ở đảng viên công nhân là tính triệt để, tính vị lợi ích chung, rất kiên quyết trong những trường hợp xử lý những chủ thể tha hoá, đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc. Chất công nhân từ những công nhân Đảng viên sẽ là động lực để làm trong sạch Đảng. Đảng hãy tin rằng, số lượng đảng viên công nhân (phải thoả mãn yếu tố tối thiểu trên) trong Đảng càng cao bao nhiêu, thì: tính triệt để trong thực hiện các chính sách làm trong sạch Đảng, vững mạnh Đảng càng cao bấy nhiêu; các chính sách của nhà nước về cải cách hành chính, phát huy dân chủ, chống tham nhũng, quan liêu, thực hiện an sinh xã hội, phát triển bềnh vững, chống bất bình đẳng, xoá đói giảm nghèo sẽ được thực hiện một cách triệt để bấy nhiêu.
            HÃY VỮNG MỘT NIỀM TIN VÀO CÔNG LÝ! VÌ CÔNG LÝ NẰM TRONG ĐÔI TAY CỦA CHÚNG TA! Lẽ nào chúng ta chịu thua và để những tên mang nhãn đảng viên thoái hoá, biến chất, hại dân, hại nước , hại Đảng cứ mãi cười hả hê hay sao, cứ mãi nhỡn nhơ, vui chơi hưỡng lạch trên sự nhọc nhằn, mồ hôi, nước mắt, sự tủi nhục của những người công nhân làm thuê, của những người nông dân chân lấm, tay bùn, mồ hôi đổ lộn nước mắt hay sao! Không! Vì những con người đã hi sinh cho dân tộc, vì tất cả, chúng ta không thể thua lũ sâu bọ, lũ sâu dân mọt nước đó được!
TẤT CẢ! HÃY CÙNG TIẾN LÊN!
Đăng 9th February 2012 bởi 

Anh còn bảo “Vì cô đã dễ dãi với một thằng, nên cô cũng dễ dãi được với ti tỉ thằng khác”. Không biết cái thứ logic vớ vẩn đó, anh lấy ở đâu ra? Tôi “mất”, nhưng tôi không quan hệ vô tội vạ.

“Gửi người đàn ông tôi đã từng yêu thương nhất!

Em sẽ không xưng là em mà xưng là tôi với anh trong thư này. Bởi vì khi xác định viết lá thư cuối cùng này cho anh, tôi đã suy nghĩ rất kỹ. Có thể nói, chưa khi nào tôi bình tâm, thanh thản và tự tin như lúc này.

Nói thực, suốt gần 1 tuần nay, cứ hình dung khuôn mặt bất ngờ và đầy thất vọng của anh, ánh mắt khinh thường của anh, thái độ không muốn chạm vào người tôi của anh, tôi đã hiểu ra tất cả.

Tất cả chỉ vì tôi đã thú nhận đến thật thà, dại dột mà anh có thái độ lạnh lùng, ích kỷ và khó hiểu đó. Anh đã hỏi “Nếu chúng mình ‘yêu thật sự’, anh sẽ là người đàn ông đầu tiên của em chứ?”. Câu trả lời của tôi là “Em xin lỗi nhưng anh không phải người đầu tiên của em!”.

Và thế là, anh tránh mặt tôi, anh nhắn tin nói cần phải suy nghĩ lại về mối quan hệ này. Bạn bè thân nói sao tôi dại thế. Sao không nói với anh vẫn còn trinh dù thực tế đã mất rồi và sau đó âm thầm đến bệnh viện mà vá lại tấm màng kia.

Ảnh minh họa.

Tôi biết nếu làm như vậy, anh sẽ vui mừng, sẽ yêu tôi nhiều hơn. Nhưng tôi không bao giờ muốn nói dối cũng như tiếc nuối về những gì đã nói, đã làm. Và cả lí do quan trọng hơn, bản thân tôi không thấy tôi mất cái ngàn vàng là lỗi lầm gì to lớn để phải che giấu.

Đúng vậy, tôi không còn trong trắng nhưng anh và tất cả mọi người không có quyền khinh tôi dù viện bất cứ lý do nào.

Người tôi đã dâng hiến là người yêu đầu tiên của tôi. Khi ấy, tôi yêu hết mình, yêu không toan tính thiệt hơn cho bản thân. Người đó hỏi tôi: “Có yêu không? Yêu thì việc gì phải tiếc!”. Và cuối cùng tôi đã chẳng tiếc thật.

Anh không chấp nhận được chuyện đó, anh nói rằng “Không ngờ còn trẻ mà cô đã sa đọa như thế!”. Tôi không cho rằng làm chuyện ấy trước hôn nhân là sa đọa. Chẳng phải anh cũng đang rủ tôi quan hệ trước hôn nhân đó sao? Tức là anh đang rủ tôi sa đọa cùng anh đấy!

Tôi chỉ nghĩ đơn giản là yêu thì phải hết mình. Tôi không đắn đo nhiều khi trao thân cho người mà tôi tin tưởng là một nửa cuộc đời mình. Và sau này, khi tình cảm thay đổi, tôi và người đó không đến được với nhau, tôi cũng chẳng hối hận. Tại sao tôi phải hối hận vì đã yêu hết lòng cơ chứ?

Tôi đã nghĩ khi biết chuyện, anh sẽ chẳng giận tôi đâu. Bởi vì anh hiểu tôi, anh trân trọng tình yêu của chúng ta nên anh sẽ không coi cái màng trinh đó như là vương miện. Có nó, tôi là nữ hoàng của anh. Không có nó, tôi trở thành “đồ rẻ tiền”.

Anh còn bảo tôi là “Vì cô dễ dãi với một thằng, nên cô cũng dễ dãi được với ti tỉ thằng khác!”. Không biết cái thứ logic vớ vẩn đó, anh lấy ở đâu ra? Tôi “mất”, nhưng tôi không quan hệ vô tội vạ, không phải cứ có đàn ông rủ rê là tôi nhảy ngay lên giường với họ.

Tôi không phải là người con gái dễ dãi. Tôi chỉ thân mật với người đàn ông mà tôi có tình cảm, người tôi yêu thương. Còn những kẻ khác, đến nắm tay tôi cũng chẳng cho nữa là quan hệ thể xác.

Tôi không đáng bị anh sỉ nhục rằng “Mất trinh rồi, biết khoái cảm rồi, sẽ tìm đến đàn ông để thỏa mãn”. Tôi cũng có ham muốn, có thất tình lục dục như ai. Nhưng tôi biết kiềm chế, biết sống sao cho đúng là một con người chứ không phải một con vật chỉ biết tìm giống đực khi lên cơn thèm khát.

Tôi vẫn còn nhớ nụ cười khẩy của anh khi ấy. Anh thì thào “Thảo nào cô không cho tôi quan hệ, hóa ra là để che giấu chuyện đã mất…”.

Anh nhầm! Chẳng qua, tôi cảm thấy quan hệ giữa tôi và anh chưa đến mức tiến tới bước ấy. Chúng ta mới yêu nhau được vài tháng. Cho dù tôi yêu anh rất nhiều nhưng chúng ta vẫn chưa tìm hiểu nhau kĩ, tôi chưa tin tưởng anh đến mức để đi đến cái giường.

Tôi muốn cuộc yêu giữa chúng ta sẽ là sự thăng hoa về cảm xúc, sự kết hợp của hai tâm hồn đồng điệu. Tôi không muốn chúng ta quan hệ chỉ vì bị thứ nhục dục tầm thường kia xô đẩy.

Sao anh có thể cho rằng tôi chưa tiến đến “bước cuối” với anh chỉ vì không muốn bị phát hiện bản thân không còn trinh trắng. Nếu tôi thủ đoạn như vậy, tôi chỉ cần bỏ dăm ba triệu đi “vá” rồi lừa dối anh. Thế chẳng đơn giản hơn nhiều ấy chứ!

Tất cả chỉ vì tôi không trong trắng mà anh khinh thường tôi. Nhưng này, liệu anh có còn zin không mà bắt tôi phải nguyên vẹn? Nếu anh không còn trong trắng thì anh dựa vào cái gì mà bắt tôi phải còn trắng trong chứ? Dựa vào anh là đàn ông, còn tôi là phụ nữ sao?

Tôi coi thường suy nghĩ ngu ngốc đó. Tại sao phụ nữ cứ phải giữ chữ “trinh”, còn đàn ông thì được lăng nhăng thoải mái. Tôi nói cho anh biết, cái thời trinh tiết là tất cả đối với phụ nữ qua lâu rồi. Nếu anh chỉ nhìn vào cái màng trinh mà không nhìn được vào tâm hồn tôi, anh chẳng xứng đáng được ở bên tôi đâu.

Mà kể cả nếu anh còn trong trắng, anh cũng chẳng có quyền khinh tôi. Nếu anh cay cú chỉ vì “tôi còn trinh mà cô không trinh”, thì anh là 1 thằng đàn ông quá trẻ con, quá so đo thiệt hơn. Người đàn ông như thế cũng chẳng xứng để bước vào cuộc đời tôi.

Anh bảo “Đàn ông ai cũng vậy thôi, cũng muốn mình là người độc chiếm, muốn mình là người đầu tiên và người cuối cùng của người phụ nữ mình yêu thương”. Ừ thì cũng buồn đấy. Nhưng nếu yêu thật sự, người ta sẽ chỉ buồn giây lát và bỏ qua tất cả. Đáng gì vài giọt máu trong lần đầu yêu nhau. Những thứ đó sao có thể sánh bằng tình cảm con người, bằng tương lai hạnh phúc.

Sẽ chẳng có ai dằn vặt người yêu, hành hạ người yêu chỉ vì cô ấy không còn tấm màng sinh học ấy. Thế mà, anh lại còn xách mé tôi “Đã sai còn không chịu xin lỗi” (?!).

Anh có đang nằm mơ không đấy? Tôi sẽ chẳng xin lỗi, van nài anh vì tôi đã mất “cái ngàn vàng”. Nếu làm như vậy, chẳng khác nào tôi đánh mất đi bản chất thật của mình – một người con gái yêu không toan tính và không bao giờ hối tiếc vì điều đó.

Giờ tôi hiểu rằng, anh chỉ yêu cái màng của tôi chứ đâu yêu con người tôi. Mà tôi thì đâu còn cái tấm màng đó để anh yêu nữa.

Tôi nhất định sẽ không cầu xin tình yêu của anh đâu. Giờ tôi hiểu rằng, anh chỉ yêu cái màng của tôi chứ đâu yêu con người tôi. Mà tôi thì đâu còn tấm màng ấy để anh yêu nữa. Vậy thì chúng ta còn gì mà nói nữa, chúng ta nên dừng ở đây là được rồi.

Màng trinh của tôi có thể mất, nhưng danh dự thì không anh ạ. Tiếp tục ở bên anh, tôi sẽ là đứa con gái nhục nhã, hèn mọn, quanh năm bị anh sỉ vả và phải van lơn tình yêu rẻ mạt của anh. Không bao giờ tôi làm thế vì không ai có quyền khinh rẻ tôi, kể cả anh!

Cảm ơn anh vì đã vô tình hỏi đến cái màng của tôi. Cũng may vì nhờ đó mà tôi biết bộ mặt ích kỉ, gia trưởng, giả dối của anh. Và nói thẳng, tôi cũng không còn coi trọng anh một mi-li-mét nào.

Anh không xứng đáng để làm chú rể của tôi trong ngày cưới. Anh không xứng đáng trở thành người bố của các con tôi sau này. Nhất là anh không xứng đáng là người đàn ông để tôi tin tưởng, yêu thương, chia sẻ nỗi đau cũng như cuộc sống tuyệt vời này.

Vĩnh biệt anh!”.

Theo TTVN

Vì sao ‘nhân dân’ không được làm chiến sĩ thi đua?

Có tới… 59 quan chức trong danh sách 60 người được đề nghị phong tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc của Ban thi đua khen thưởng Trung ương năm nay.

Duy nhất người mang hơi hướng “nhân dân”, đó là ông Nguyễn Viết Đức, giáo viên Tổng phụ trách Đội Trường Tiểu học Tân Lợi, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước. Chức vụ nhỏ nhất cũng tầm hiệu trưởng, còn lại toàn cỡ bộ trưởng (Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình), thứ trưởng (Nguyễn Thanh Long, Thứ trưởng Bộ Y tế; Ngô Văn Khánh, Phó Tổng thanh tra Chính phủ), cục trưởng, viện trưởng, giám đốc, phó giám đốc sở, bí thư tỉnh, chủ tịch huyện…

Có thể hiểu, 60 cá nhân trong danh sách được đề nghị phong tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc đợt này đều là những người ưu tú, có thành tích đặc biệt xuất sắc trong công tác chuyên môn, là tấm gương sáng về tài năng và nhân cách, tiêu biểu cho phong trào thi đua của cả nước.

Nhưng vì sao danh sách chỉ toàn những người có chức vụ cao mà vắng bóng những người công nhân đang lăn lộn trên công trường, xây dựng những công trình đưa đất nước lên tầm cao mới? Đâu rồi những người nông dân dãi nắng dầm sương, đối mặt với vô vàn thiên tai để trực tiếp làm ra hạt gạo, nuôi sống cả nước và mang đi xuất khẩu? Đâu rồi những chiến sĩ không tiếc tuổi thanh xuân, ngày đêm chắc tay súng bảo vệ vững chắc biên cương, hải đảo Tổ quốc?…

Vậy thì có không muốn cũng không thể không đặt câu hỏi: chẳng lẽ, chỉ có “quan” mới thi đua, còn công nhân và nông dân thì không? Và một khi người lao động đã đứng ngoài thì thử hỏi làm sao thúc đẩy được phong trào thi đua? Liệu có sự thiếu minh bạch, nể nang nào đó hay không?

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng phát biểu, thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua và thi đua trên tinh thần yêu nước. Khi thi đua đã trở thành phong trào thì tác dụng của nó đến lao động – sản xuất và sự phát triển xã hội là rất lớn. Nhưng khó ở chỗ là làm thế nào để thi đua trở thành phong trào.

Trước đây, trong thời kỳ chiến tranh cứu nước, mọi người đều ra sức thi đua lao động, sản xuất, chiến đấu, bởi họ thấy được tiền đồ tươi sáng của dân tộc khi đánh đuổi xong quân thù. Đó chính là những động lực để mọi người ra sức thi đua. Ngày nay, đất nước đã bước ra khỏi cuộc chiến tranh cứu nước và đi vào xây dựng, phát triển. Quy luật phát triển đòi hỏi cả tầng lớp lao động chân tay và lao động trí óc càng phải ra sức thi đua, cống hiến.

Muốn đẩy mạnh phong trào này, không gì khác là phải tạo ra những động cơ, động lực thi đua tương tự như thời kỳ trước.

Phát động thi đua ở mỗi một cơ quan, đơn vị cụ thể, thì người thủ trưởng, người đứng đầu không những phải gương mẫu, trong sạch mà còn phải làm cho từng người trong cơ quan, đơn vị đó thấy được tiền đồ phát triển của cơ quan cũng như của mỗi cá nhân.

Mỗi cá nhân đều phải được hưởng công bằng về cả chất lượng lẫn số lượng của những thành quả lao động. Khi được quan tâm tới đời sống vật chất, đời sống tinh thần cũng như thấy được tương lai tươi sáng của bản thân, có lẽ mỗi người sẽ tự bảo nhau thi đua chứ có khi không cần chờ phát động.

Liệu có thể kêu gọi được ai đó thi đua khi mà họ biết trước được rằng, dù có thi đua đến mấy thì đời sống vật chất và tinh thần của mình vẫn không được cải thiện, tương lai của mình vẫn bấp bênh; có thi đua đến mấy rồi các danh hiệu cuối cùng cũng về tay lãnh đạo, cấp trên?

TUẤN DŨNG (ĐẤT VIỆT ONLINE)

[nguồn: reds.vn]

 

Mozilla Firefox 16 chính thức được phát hành

Sau 6 tuần thử nghiệm ở giai đoạn Beta, cuối cùng phiên bản chính thức của trình duyệt Mozilla Firefox đã chính thức được phát hành, mặc dù người dùng đang chú tâm đến Firefox Modern UI dành cho Windows 8 hay phiên bản Firefox 18 beta với sự cải tiến về giao diện chủ đề Australis, nhưng vẫn không thể bỏ qua những cải tiến đáng chú ý.

Một số cải tiến và tính năng mới của Firefox 16.0 so với bản 15.0:

– Hỗ trợ cài đặt ứng dụng web viết bằng ngôn ngữ HTML5, CSS3, JavaScript từ kho Mozilla Market Place https://marketplace.mozilla.org

– Bật sẵn tính năng VoiceOver, cho phép chuyển đổi văn bản thành giọng nói đối với người dùng MAC.

– Cập nhật một số tính năng mới cho các lập trình viên.

– Thông báo lượng bộ nhớ chiếm dụng của mỗi thẻ trong trang about:memory.

Đặc biệt phiển bản Firefox 16 cũng là phiên bản cuối cùng hỗ trợ cho hệ điều hành MAC Snow Leopard.

Nếu bạn là fan của “Cáo lửa” thì hãy nhanh tay cập nhật ngay cho trình duyệt của mình.

Download: Firefox 16.0 for Windows | 17.4 MB (Freeware)
Download: Firefox 16.0 for Linux | 18.9 MB
Download: Firefox 16.0 for MacOS | 33.3 MB


Tham khảo XHTT, Mozilla

Có một điều gần như là chân lý: Sự tử tế, lòng tốt của người ta là hữu hạn nhưng sự khốn nạn, xấu xa, bỉ ổi là vô hạn. Có thể thấy sự “vô hạn” đó trong bản chất của lũ Vichoco vong bản trên mặt trận “văn hóa sủa” của chúng. Những rác rưởi của lũ tâm lý chiến từ nửa thế kỷ trước vẫn được chúng coi là những “bảo bối”, lén lút xả ra làm ô nhiễm dòng sông internet, tạo thành những vệt dầu loang trên đại dương thông tin. Với những người có chút tư duy, chịu khó động não cùng cái tâm trong sáng thì không khó khăn gì để nhận ra cái mùi thối đặc trưng của chúng và cười khẩy bỏ qua, xem như vừa đạp nhầm một đống phân. Nhưng vì không phải ai cũng trang bị được cho bản thân mình một “bộ lọc thông tin” nên hy vọng bài viết này sẽ góp phần giúp bạn đọc “tẩy uế” khi lỡ chân bước nhầm những đống phân như vậy…

***

“Bảy thằng Việt Cộng bám vào một cọng đu đủ không gãy” hay “Việt Cộng có đuôi” là hai trong số những “tuyệt chiêu tâm lý chiến” nổi tiếng nhất của bầy đàn bán nước “sáng tạo” ra từ nửa thế kỷ trước. Những điều ngây ngô, hài hước đến như vậy mà vẫn có thể đầu độc được không ít người dân miền Nam thuở trước thì thử hỏi tác động của những đòn thâm độc, tinh vi hơn còn lớn đến thế nào? Hiển nhiên rằng những “tuyệt chiêu” trên giờ đã yên nghỉ trong kho tàng truyện tiếu lâm Việt Nam nhưng đám sâu bọ lúc nhúc trong hộp sọ của tụi Vichoco và tụi cơ hội theo đóm ăn tàn đâu có chịu ngồi yên. Chúng tập trung vào đánh phá hình ảnh các lãnh tụ cách mạng bằng tất cả những gì bẩn thỉu nhất mà những kẻ có tâm địa hẹp hòi, hèn hạ có thể nghĩ ra được, thông qua phương pháp đê tiện nhất: bôi nhọ cá nhân.

Những chủ đề được đám ngợm này ra sức thêu dệt, nhai đi nhai lại là:
– Chuyện vợ con của Bác Hồ.
– Chuyện TBT Lê Duẩn “tiếm quyền” đẩy Hồ Chủ Tịch và ĐT Võ Nguyên Giáp vào “cánh gà”.

Bỏ qua những nghiên cứu của các học giả, sử gia ở Việt Nam và thế giới về những vấn đề này, bỏ qua lời xác nhận của Bác rằng “Tôi chưa có gia đình riêng, gia đình của tôi là đại gia đình các dân tộc Việt Nam”, bỏ qua phủ nhận của Đại tướng Võ Nguyên Giáp về mẫu thuẫn giữa ông và TBT Lê Duẩn (hay chuyện “đấu đá quyền lực” gì đó trong nội bộ Đảng CSVN),… đứng trên vai trò của một phó thường dân chẳng có nguồn thông tin ghê gớm nào, chẳng có mối quan hệ nào với “thâm cung bí sử” của Đảng CSVN và bộ máy nhà nước, tôi cũng có thể thấy được sự đê tiện của tụi sâu bọ trong việc đơm điều đặt chuyện cũng như sự ngu xuẩn của đám vô lại vuốt đuôi, chỉ biết sử dụng cái mõm để nhai lại mà không biết sử dụng não để nghĩ suy.

Âm mưu đê tiện của đám mãi quốc cầu vinh trong quá khứ nhằm bôi nhọ hình ảnh Bác và các vị lãnh đạo Đảng – Nhà nước thiết nghĩ cũng không cần phải đề cập đến nữa. Ở đây tôi chỉ nói đến hành vi của tụi quái thai chính trị, vong bản và một bộ phận không nhỏ những kẻ bản chất lưu manh nhưng mang danh trí thức đã góp phần xả cái thứ rác rưởi đó ra cộng đồng. Nguy hiểm hơn, chúng khiến nhiều người (nhất là trong giới thanh niên trí thức) vốn ngây thơ đến mức xem tất cả những gì đăng tải trên internet là sự thật, Wikipedia là chân lý, BBC – RFA là khách quan,… bị ngộ độc về tư tưởng, nhiễu loạn về thông tin (Than ôi, đến con cá voi to là vậy nhưng khi nó hút hàng khối nước biển vào người còn biết chọn lọc để giữ cái gì lại và phun cái gì ra đấy !).

I

Quay lại những thông tin thất thiệt về đời tư của Bác Hồ và sự “đấu đá” trong nội bộ Đảng CSVN thời kháng chiến chống Mỹ. Một người có lý chí thì trước những thông tin kiểu như vậy thì câu hỏi đầu tiên phải đặt ra là “nguồn thông tin từ đâu ?”. Có phải tất cả đều xuất phát từ bộ máy tuyên truyền của đám cướp nước, từ bè lũ tay sai, từ những kẻ quay lưng lại với dân tộc mà ngay cả cái tư cách làm người của chúng cũng chẳng ai dám thừa nhận ? Tôi thách chúng nó đưa ra được một công trình nghiên cứu, một tài liệu của một người, một tổ chức đáng tin cậy nào đó để chứng minh cho những lời lẽ bẩn thỉu ấy.

Tôi nhớ không nhầm thì tôi đã thoáng xem ở đâu đó những thông tin về việc Bác có “con rơi” với một cô nhân viên nào đó, rồi cô này bị thủ tiêu,… được viết bởi Bùi Tín, một kẻ cơ hội quay lưng lại với đất nước , với một chế độ đã đãi ngộ y và gia đình để ôm theo cuồng vọng trở thành một Boris Eltsin Việt Nam đến nỗi hiện giờ đang cầu bơ cầu bất “chửi mướn kiếm cháo” nơi xứ người. Y cũng là minh chứng rõ nét nhất cho những kẻ thích “bắn vào quá khứ bằng súng lục”… Vậy thì nguồn tin từ những kẻ như vậy là đáng tin cậy ?!

Là con người bình thường thì không mấy ai thoát khỏi những ham muốn cá nhân (lục dục). Nhưng lấy những tiêu chuẩn tầm thường của bản thân mình để áp đặt cho các bậc vĩ nhân thì đúng là ngu xuẩn. Lũ phàm phu tục tử được sống trong một đất nước yên bình, độc lập để được cơm no ấm cật, dậm dật khắp nơi nên lú lẫn hết đầu óc mà cho rằng Người đem lại cho gia đình, dòng tộc chúng cuộc sống như thế ắt hẳn cũng phải có những nhu cầu như chúng. Chắc chúng nó cho rằng một chàng trai nghèo khổ mới 21 tuổi đầu đã tự mình đi khắp năm châu bốn biển, ròng rã 30 năm trời để tìm ra con đường giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị của thực dân phong kiến cũng đơn giản như chúng vung tiền đi du lịch, ăn chơi nhảy múa khắp nơi nên dứt khoát phải có “đào”. Hay chúng nghĩ vị lãnh tụ đã đoàn kết, lãnh đạo một dân tộc bị bóc lột cùng xương tận tủy suốt 100 năm nô lệ và đội quân khởi đầu với vỏn vẹn 34 người đánh bại 2 đế quốc lớn nhất thế giới cũng dễ dàng như việc chúng kéo bầy nhậu nhẹt, ăn tục nói phét, đuổi ong bắt bướm,… ? Với bản chất đớn hèn, ti tiện, tranh giành từng miếng ăn lẫn nhau như bầy chó giành cục xương thì làm sao chúng hiểu được hai chữ “HY SINH” của một người đã bỏ qua mọi mưu cầu hạnh phúc cá nhân để tạo dựng cái phúc chung cho toàn dân tộc ?

[IMG]

Tóm lại, về vấn đề tình cảm riêng tư của Bác, chẳng có gì chính xác hơn nhận định của nhà sử học MỹJosephine StensonNgười ta thấy Bác Hồ là một người cũng như mọi người: cũng có khát vọng tình yêu, cũng mong muốn có mái ấm gia đình. Nếu ai đó cho rằng những điều nhỏ bé này làm Bác Hồ kém vĩ đại đi là không đúng, vì chính những cái đó làm cho Bác càng thêm vĩ đại!“.

II

Nói đến vấn đề nội bộ Đảng CSVN trong những năm chống Mỹ mà chúng rêu rao rằng “TBT Lê Duẩn cô lập Hồ Chí Minh và Võ Nguyên Giáp để thiết lập quyền lực tuyệt đối cho bản thân mình” thì tôi càng thấy cái não trạng dặt dẹo, tư duy lý luận nghèo nàn và sự hiểu biết thiếu chất xám của chúng.

Thứ nhất, xét về năng lực chuyên môn thì TBT Lê Duẩn là người trình độ lý luận, am hiểu chủ nghĩa Mác và kinh nghiệm 9 năm là bí thư xứ ủy Nam Kỳ (1946 – 1954). Bên cạnh đó, ông là người có tầm nhìn chiến lược và khả năng lãnh đạo các cuộc đấu tranh vũ trang cách mạng. Bằng thực tiễn hoạt động chính trị, lãnh đạo và chiến đấu tại miền Nam, ông đã đưa ra “Đề cương cách mạng miền Nam” (1956), sau được thể hiện đầy đủ trong Nghị quyết 15 của Đảng (1959).

Thứ hai, xét về bối cảnh lịch sử thì sau năm 1956, hiệp định Geneve đã bị chính quyền Mỹ – Diệm trắng trợn xé bỏ, mục tiêu lớn nhất của Cách mạng Việt Nam bấy giờ là thống nhất đất nước, đánh đuổi Mỹ – ngụy bằng con đường đấu tranh vũ trang tại miền Nam. Chính vì vậy, năm 1957, Bác Hồ và Trung Ương đã cho gọi ông, người am hiểu địa thế và lòng dân phía nam ra Hà Nội để cùng trực tiếp điều hành. Nhiệm vụ cách mạng bấy giờ cùng với năng lực phù hợp của mình thì việc ông Lê Duẩn được bầu làm Bí Thư thứ nhất năm 1960 rõ ràng thể hiện cách dùng người đúng đắn của Bác Hồ và Trung Ương.

[IMG]

Thứ ba, ngoài nhiệm vụ cách mạng tại miền Nam, sứ mệnh của Đảng CSVN là xây dựng XHCN tại miền Bắc để làm hậu phương vững chắc chi viện miền Nam. Rõ ràng bộ máy Đảng và Nhà nước phải có sự phân công nhiệm vụ cho từng cá nhân lãnh đạo. Người tiền phương về như TBT Lê Duẩn sẽ nắm trọng trách lớn trong việc đối đầu trực tiếp với Mỹ ngụy trong khi Hồ Chủ tịch và cách lãnh đạo phù hợp khác tập trung vào xây dựng nền kinh tế – chính trị – xã hội và sức mạnh quân sự cho miền Bắc cũng như nâng cao vị thế của Việt Nam dân chủ cộng hòa trên trường quốc tế. Có thể thấy giai đoạn này Bác Hồ có nhiều chuyến công du nước ngoài, thiết lập mối quan hệ với các quốc gia khác và tranh thủ sự hỗ trợ của các nước bạn trong việc xây dựng và bảo vệ đất nước.

Thứ tư, Bác Hồ không phải là một biểu tượng quyền lực (như kiểu tổng thống Mỹ), mặc dù Người đóng vai trò tối cao trong tổ chức Đảng và Nhà nước. Các chức danh của Người thời kỳ này đều mang tính chất Danh dự (chủ tịch nước, chủ tịch Đảng) mặc dù với uy tín của Người đối với nhân dân và thế giới thì không quyền lực nào sánh bằng. Hồ Chí Minh là biểu tượng của sự đoàn kết toàn dân, của tinh thần dân tộc, của tình bằng hữu quốc tế, của khát vọng Độc lập – tự do,… chứ không phải của quyền lực!

Thứ năm, về góc độ con người thì khi ấy Bác đã hơn 70 tuổi rồi. Ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước, mười năm rừng rú kháng chiến dù không làm nhụt chí vĩ nhân nhưng cũng làm xác phàm phải chồn chân mỏi gối. Nhân dân, Đảng, Nhà nước đâu thể yêu cầu Bác phải tham gia vào tất cả công việc của một đất nước non trẻ đang ngổn ngang thù trong giặc ngoài như một giám đốc điều hành đối với doanh nghiệp của mình được ?

[IMG]

Thứ sáu, về mối quan hệ giữa TBT Lê Duẩn và Đại tướng Võ Nguyên Giáp thì chẳng có gì chân thực hơn bằng chính những lời bộc bạch của Đại tướng: “Với tôi, những năm công tác trong Bộ Chính trị, Anh (Lê Duẩn) đã thường xuyên trao đổi ý kiến, thường là nhanh chóng đi đến nhất trí trong những vấn đề lớn; khi có ý kiến khác nhau thì tranh luận thẳng thắn, những điều chưa nhất trí thì chờ thực tiễn kiểm nghiệm. Lúc mới ra Bắc, Anh thường tâm sự với tôi những khó khăn trong công việc… Từ sau Đại hội III và Đại hội IV, tôi đã ba lần đề nghị Anh là Tổng Bí thư kiêm luôn Bí thư Quân ủy Trung ương, nhưng Anh nói: “Anh là Tổng chỉ huy lâu năm nên tiếp tục làm Bí thư Quân ủy Trung ương, như vậy có lợi cho lãnh đạo”.
Và thực tế thì Đại tướng vẫn giữ cương vị Ủy viên Bộ Chính trị (đến 1982) – Bí thư Quân ủy Trung ương (đến 1977), Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam (đến 1975), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng (đến 1980).

***

Nói tóm lại, với cái não trạng của loài sâu bọ cùng cái tư duy nô lệ của chúng thì làm sao có thể hiểu được tầm vóc của các bậc vĩ nhân! Chỉ tiếc rằng không ít người, thậm chí cả các “trí thức già”, đã quá dễ dãi với việc tiếp nhận và tiêu hóa thông tin, dẫn đến việc hộp sọ họ vô tình trở thành nơi ấp trứng cho loài sâu bọ.

Với cá nhân tôi, nếu có chút gì đó làm cho Bác chưa được “toàn bích” là việc Người không bỏ được thuốc, điều làm hại sức khỏe của Người. Nhưng cũng chính hình ảnh Hồ Chủ Tịch và điếu thuốc rê ấy càng làm Người trở nên gần gũi, thân thương hơn và khiến cho những điều Người làm được cho dân tộc, cho đất nước và cho thế giới càng trở nên vĩ đại hơn. Điều quan trọng hơn nữa, Bác Hồ không phải là thần, là thánh, là Phật từ một cõi xa xăm, huyền ảo nào đó mà Người là hiện thân của những tinh hoa dân tộc Việt.

nguồn: http://www.doimat.cuanhcuem.net/2012/10/oc-sau-bo-sao-hieu-duoc-vi-nhan.html#.UHLL2ZgxrXh

Kiếm sống được ở Sài Gòn là người Sài Gòn rồi

Tôi hỏi: ‘Anh thấy người Sài Gòn thế nào?’, mặt anh ngạc nhiên như người từ sao Hỏa xuống.

Sài Gòn miền dất hứa….

Khi có ý đi tìm người Sài Gòn, không hiểu sao chưa ra khỏi nhà, tôi đã biết có đi phỏng vấn đến Tết Congo cũng không người nào tự nhận mình là người Sài Gòn gốc ba đời hoặc mấy chục đời cả. Chắc rằng mọi người sẽ hỏi lại tôi: “Sao hỏi chi cái chuyện tào lao, tầm phào hết sức vậy cha nội, kiếm sống được ở Sài Gòn, là người Sài Gòn rồi?”.

Thật ra trên khắp thế giới, phần căn cước của một người ít ai phân biệt dân tỉnh lẻ hay dân thủ đô và đó là văn minh căn bản nhất. Riêng ở Việt Nam thì khác. Việc phân biệt dân thủ đô, dân thành phố lớn hay dân tỉnh lẻ, nông thôn, dân kinh tế mới… là chuyện căn bản. Ai cũng biết sự phân biệt đối xử của chế độ hộ khẩu là khắc nghiệt, vấn nạn đó lâu ngày tạo nên cả một gói “tự hào” về địa vị chính trị, kinh tế, văn hóa… dành cho dân có hộ khẩu thủ đô, thành phố trước phần dân cư còn lại của cả nước.

Khi nền kinh tế mở cửa, dù chế độ hộ khẩu vẫn không thay đổi nhưng những yếu tố kinh tế thị trường đã phá vỡ toàn bộ những công dụng chuyên chế của chế độ hộ khẩu. Theo nhu cầu mưu sinh và nhân lực của kinh tế thị trường, dân tỉnh lẻ, nông thôn tràn về đô thị bất chấp chuyện họ sống đời không hộ khẩu hoặc chỉ có cái gọi là chứng nhận tạm trú. Theo thời gian, “đội quân” nhập cư tăng theo cấp số nhân và cả người nhập cư thành đạt, người kiếm sống qua ngày trở thành nguồn dân số bá chủ. Chính nguồn dân số và chất lượng dân số bùng nổ này đã dồn những ai tự huyễn hoặc cho mình dân thủ đô gốc, dân thành phố cố cựu vào hội chứng yếu đề kháng, trở thành những kẻ thất bại.

Nếu ai còn tự cho mình là dân Hà Nội gốc, thật ra đó là lối nghĩ của dân được bảo hộ bởi chế độ hộ khẩu. Họ có thể trưng ra lý do là ông bà, cha mẹ sống ở Hà Nội và họ thừa kế cái gốc người Hà Nội. Cơ sở lý lẽ này là không minh bạch vì trong lịch sử cận đại Việt Nam, theo tìm hiểu, thời Hà Nội cổ, không có chuyện độc đoán, khoanh tròn mực đỏ dân Hà Nội điểm tối ưu và phần dân còn lại chỉ có điểm trung bình kém.

Người Hà Nội trước đây đủ khỏe mạnh, tinh thần và trí thức để rộng tay đón nhận tất cả các nguồn dân cư như đón nhận dòng máu mới, cũng như đủ ứng xử văn minh để biết rằng cực đoan địa phương là ngớ ngẩn. Chuyện dân thủ đô được tôn trọng kính nể, đó là do phẩm chất người, chất lượng từ những công việc phục vụ cộng đồng, quốc gia và được cộng đồng xác nhận trong chuẩn giá trị văn hóa chung, chứ không phải một dạng đặc quyền, đặc lợi.

Ảnh: Bestcoolasia.
Người Hà Nội đủ văn hóa để nhìn thấu rằng hiện trạng hư hỏng của xã hội có nguyên nhân. Cả dân tộc, không phân biệt bất kỳ ai, vùng miền nào đều phải gánh chịu hiện trạng hư hỏng tệ hại này. Một giáo sư sinh ra ở Hà Nội di cư vào Nam muốn giấu tên đã nói thật với chúng tôi rằng: “Chỉ thời đại này mới có kiểu tự tôn bệnh hoạn địa phương thượng đẳng”.

Mỗi tháng tôi đều đến một tiệm hớt tóc của một ông chủ trẻ trên đường Hồ Bá Kiện. Tuổi chưa đến bốn mươi, anh có tổng cộng ba tiệm hớt tóc. Lần này anh mời tôi hớt tóc, lấy ráy tai ở một tiệm mới khai trương. Cô gái lấy ráy tai cho tôi nói: ‘Ổng vài bữa nữa là sắm thêm xe hơi”. Tôi hỏi thẳng ông chủ tiệm là anh có mấy chiếc xe hơi rồi, anh chàng nói giọng miền Nam lơ lớ: “Tính mua thêm một chiếc nữa là bốn. Xe tôi mua cho cơ quan, công ty thuê, hợp đồng tính theo năm”.

Rồi anh kể: Năm 1980, anh từ Huế vào Sài Gòn làm phụ hồ, khổ “trơ xương”, ba năm không biết mùi bún bò, mỳ Quảng là gì”. Tôi hỏi anh: “Anh thấy người Sài Gòn thế nào?”. Mặt anh ngạc nhiên như người từ sao hỏa xuống: “Rứa, lúc mới vào tôi cũng có nghĩ người trong này ăn ngon, chơi bạo khác người quê tôi nhưng ở vài tháng là tôi thấy chỉ người có tiền là khác”. Cái anh chàng chủ tiệm hớt tóc này cũng như hàng triệu người từ nhiều thế hệ đã nhìn thấy Sài Gòn là một nơi kiếm sống, kiềm tiền, làm giàu. Đối với mọi người Việt, tính cả dân thủ đô, Sài Gòn là vùng đất hứa, là một kiểu giấc mơ Mỹ của người Việt Nam.

Một trí thức người Bắc di cư kết luận: “Sài Gòn là đất Phật”. Nhiều người bạn ông bàn thêm: “Giá trị rõ nhất của đất Phật, trước tiên, đây là nơi chốn bình yên, bình yên cả trong chiến tranh, thiên tai và những vấn nạn đáng sợ khác có nguyên nhân từ con người. Sài Gòn không có chuyện phân biệt đối xử vùng miền, văn hóa và chủng tộc…”.

Nhà báo TG. có lần nói: “Chỉ cần vô Sài Gòn, có một cái bơm xe, ngồi ở vỉa hè Sài Gòn cũng sống được, cũng thoát khổ mà tính chuyện khởi nghiệp”. Mỗi người, trong hàng triệu người từ nhiều thế hệ đều có riêng cho mình những kỷ niệm sâu sắc về sự rộng lòng của đất và người Sài Gòn. Có người còn nói nửa đùa nửa thật rằng: “Nếu ai có chí, dám đứng lè lưỡi cho người ta dán tem ở bưu điện thành phố, chắc chắn không thiếu khách hàng”.

Tuy nhiên, Sài Gòn cũng có bất công. Điều bất công này không phải do Sài Gòn gây ra mà chính là do không ít người đến với Sài Gòn gây ra. Có thể thông cảm hiện trạng lúc nào họ cũng thương nhớ, ca ngợi nguyên quán xuất thân của họ. Và Sài Gòn cũng dễ quên, không chấp khi có những người nhập cư thành đạt, nên cơ nghiệp, chỉ nhận họ là người thành phố này, tỉnh nọ. Sài Gòn không hề chỉ là Sài Gòn của nơi kiếm tiền, chỉ là một nơi tạm trú bởi đa phần người nhập cư đã hoặc sẽ có khoảng đời sống ở thành phố này dài hơn so với lúc họ sống ở nguyên quán sinh ra. Hãy đến các nghĩa trang, các chùa có để cốt mà xem, hàng triệu người tứ xứ thuộc nhiều dân tộc, nhiều thế hệ đã chọn gởi lại cho Sài Gòn nắm xương tàn.

Một cô bạn của chúng tôi sinh ra ở một nhà bảo sanh trên đường Gò Công, quận 6, có ông bà nội là người Hoa Minh Hương, ông bà ngoại là dân sinh ra ở bến Mễ Cốc, quận 8. Cô nói: “Nếu muốn biết ai là người Sài Gòn thì chỉ cần nhìn cách họ đón tiếp, đối xử với bà con cô bác ở quê lên thăm hoặc lên kiếm việc làm. Bà ngoại tôi mỗi lần gặp bà con là mừng lắm, tấm lòng của người tha hương mà. Ai cũng có họ hàng dây mơ rễ má, chớ có phải ở đất nẻ chui lên đâu”.

Theo một ông già chạy xe ôm ở quận Tân Bình, “đất Sài Gòn trước tiên là đất của những tay hảo hớn, bởi chỉ có những người mạnh mẽ từ tâm hồn đến thể xác mới quyết định bỏ xứ ra đi đến đất mới, cũng chính họ mở đường cho con cháu mưu cầu sự sống mới và tự do. Tánh hảo hớn và phóng khoáng là máu huyết căn cơ của người Sài Gòn”.

Ở góc đường Cao Thắng và Phan Thanh Giản cũ (nay là Điện Biên Phủ) có một cái miếu lớn gọi là Thành Hoàng Bổn Cảnh. Nơi đây hàng ngày hàng đêm vẫn nghi ngút hương khói tưởng nhớ những vong linh của tướng quân Lê Văn Khôi (con nuôi Tả quân Lê Văn Duyệt) và các nghĩa binh bị xử chém, vùi xác ở quanh khu Kỳ Hòa, thành Gia Định dưới thời vua Minh Mạng. Một nhà nghiên cứu lịch sử miền Nam có lần nói với tôi: “Không rõ lắm những nghĩa quân này có phải là người Sài Gòn không nhưng tôi tin chắc khi họ chết, họ là người Sài Gòn”.

Gia đình bên ngoại tôi có một người anh họ, anh tên là Ba V. Sài Gòn với anh là một thiên đường tại thế, có lần anh nói với tôi: “Tao phục mày quá, sống được ở Sài Gòn”. Lời anh đơn giản nhưng chí lý, người Sài Gòn thời nào cũng rất bảnh trong cách nhìn của người địa phương khác. Có người sẽ phản bác tôi rằng: “Người Sài Gòn ngày nay không còn sang trọng nữa”. Nhưng trường hợp gia đình anh họ tôi thì lại đồng ý với tôi. Sau 1975 cả bảy đứa con của anh họ tôi đều không đủ ăn đến xanh mặt. Khi Sài Gòn vào thời kinh tế thị trường, cả năm đứa con trai, con gái của anh đều trở thành người Sài Gòn, anh chỉ giữ lại được đứa con gái và đứa con trai út làm người Gò Công cày cấy trên nửa mẫu ruộng hương hỏa. Điều đáng nói là những người con Sài Gòn của anh, dù chỉ làm thợ hồ và nấu bếp ở Sài Gòn nhưng đã đem lại một cuộc cách mạng kinh tế, lối sống văn minh cho cả gia đình anh. Chất nông dân cố cựu của anh không còn như trước, ở anh ngày càng rõ ra cái chất thị dân Sài Gòn do con anh truyền bá.

Tôi có dịp nói chuyện với cô gái người Hà Nội, cô vào Sài Gòn làm nghề báo. Tôi không biết cô có phải là người Hà Nội gốc hay không, cô nói: “Khi mắng cái dân thiếu văn minh ngoài đấy, em có Sài Gòn để chứng minh là trong này người ta không ai làm việc xấu hổ thế”. Tất nhiên, không có vùng rộng của lối sống văn minh nào lại không có mặt tệ nạn nhưng cộng đồng thị dân Sài Gòn không có kiểu hí hởn cả tập thể hùa nhau hái hoa Anh Đào của Nhật Bản triển lãm về làm của riêng, cũng không có những vấn nạn không thể tưởng tượng được như chiếm thang máy chung cư, cho thang máy chạy lên chạy xuống liên tục để dỗ con và đút cơm cho con mình ăn ngon miệng.

Không có cái kiểu nghĩ và hành xử như một cô ca sĩ trẻ mà tôi quen. Cô này từ Hà Nội vào Sài Gòn tìm cơ hội thành “sao”. Trong thời điểm Hà Đông có quyết định sáp nhập vào Hà Nội, cô luôn miệng tục tằn, gay gắt với những người “đời đời kiếp kiếp” cô không nhận là người Hà Nội dù hàng ngày đang cùng thở, cùng sống ở không gian Hà Nội mở rộng với cô. Chính từ những cách nhìn kỳ thị kiểu này đã xác lập một thứ ranh giới mà ở đó, người ta tự cho Hà Nội như mình đây là tốt đẹp, phần còn lại là tệ hại vì không phải là Hà Nội. Có gì đáng buồn cười và xấu hổ cho bằng kiểu kỳ thị “địa phương thượng đẳng” đó. Và chính đó mới là mầm mống, là nguyên nhân của vô số vấn nạn xã hội.

Vấn đề không phải Sài Gòn không có người nhập cư quê mùa, kém cỏi nhưng cái chính là văn minh Sài Gòn đủ mạnh để hướng mọi người đến phẩm chất tôn trọng lợi ích cộng đồng và tự trọng trong lối sống cá nhân. Hơn 30 năm qua, những ai công tâm sẽ nhìn thấy những dòng người không thể thống kê hết từ miền Bắc vào Sài Gòn để mưu cầu cuộc sống tốt hơn, qua từng cá nhân, họ hàng, thôn làng vào Sài Gòn, vào miền Nam rồi về thăm quê đã đưa về, đã truyền bá lối sống văn minh, vật chất và tinh thần Sài Gòn.

Bạn tôi – nhà thơ, là một người Hà Nội sang trọng, anh vào và chọn Sài Gòn để sống, cũng có thể coi anh là người tị nạn văn hóa ở Sài Gòn. Anh có những kỷ niệm vui buồn sâu sắc dành cho Hà Nội nên mỗi lần về quê trở vào là anh nói: “Mình đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất là thấy nhẹ người”.

Trần Tiến Dũng

http://ngoisao.net/tin-tuc/choi-blog/2012/09/kiem-song-duoc-o-sai-gon-la-nguoi-sai-gon-roi-211913/

“TÌNH HUỐNG MẤT CHÂU VIÊN VÀ GIỮ ĐƯỢC ĐÁ ĐÔNG”…(Thiềm Thừ)

Đầu năm 1988, Trung Quốc đưa nhiều tàu hộ vệ tên lửa, tuần dương, tàu đổ bộ… đến khu vực quần đảo Trường Sa. Lãnh đạo Quân chủng Hải quân xác định: “Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ quan trọng nhất, khẩn trương nhất và vinh quang nhất của Quân chủng”.

Nhà cao cẳng trên Đá Đông – 5/1988 – Nguyễn Viết Thái.

Toàn Quân chủng bước vào Chiến dịch CQ88 (Bảo vệ Chủ quyền 1988). Tháng 2/1988, Trung tá Nguyễn Văn Dân (nay đã nghỉ hưu với cấp hàm Đại tá, Phó Tham mưu trưởng Vùng 4 Hải quân) được giao làm Phó Trưởng đoàn, phụ trách chỉ huy đi biển của Đoàn Công tác ra tiếp tục đóng giữ các đảo, bãi ngầm. Hướng chính là Đá Đông, Châu Viên, Đá Lát…

Những sự kiện dưới đây được ghi theo lời kể của ông

___________

Tàu HQ-614 là loại tàu Nhật Lệ do Trung Quốc đóng, trọng tải chỉ 200 tấn. Trung Quốc đưa một tàu khu trục, một tàu pháo đến chặn, không cho mình lên đảo, kéo cờ hiệu trên tàu và nói: Nếu mình không rút nó sẽ nổ súng.

Hai bên hằm hè nhau…

Sáng 18/2/1988 là mùng 2 Tết, tàu HQ-614 của chúng tôi đưa 9 anh em lên cắm cờ ở Châu Viên. Mang theo 1 lá cờ, 2 khẩu AK, dụng cụ xà beng để thăm dò độ sâu, chuẩn bị làm nhà.

Khi lên cắm được cờ rồi thì gió mùa Đông bắc về rất mạnh, nước lớn, tàu bị đánh ra khỏi đảo, trôi neo. Lúc đó trời tối, tàu phải nổ máy chạy cạnh đảo, tìm cách kéo 9 anh em trên đảo ra tàu.
7 người ra được trước, còn 2 người ở lại đứng giữ cờ. Nhưng nước triều cứ lên, ngập đến cổ, phải đưa nốt hai anh em ra.

Lúc đó 1 tàu của Trung Quốc, có hai số sau là 31 chạy tới uy hiếp.

Đến nửa đêm, lệnh của Tư lệnh Hải quân: Sáng mai bằng mọi giá phải lên Châu Viên.

Nhưng Trung Quốc kéo đến 4 tàu chiến: 208, 209, 164…, quay pháo về phía mình đe dọa nổ súng. Ta không lên được Châu Viên nữa.

Không phải mình không quyết tâm. Nhưng thực ra, cũng có mất cảnh giác, nghĩ là bãi ngầm nhỏ. Trung Quốc đã thả một bia làm dấu của họ lên đó, khi mình đến đã thấy.

Mình nghĩ Châu Viên là đảo nhỏ, không chú ý giữ bằng giữ Đá Đông, Đá Tây, Đá Lớn, Tốc Tan… – Những đảo lớn trên ba chục cây số, hai mấy cây số.
Lực lượng mình còn mỏng, phải tập trung vào các đảo lớn, không thể triển khai đến tất cả các đảo, bãi ngầm nhỏ.

Tối 18/2/1988 có dông lớn, tàu của cả nó cả mình đều bị trôi neo.

Tàu chúng tôi cấp tốc về Đá Đông, làm căn nhà cao chân đầu tiên ở mỏm Đông của Đá Đông, kéo cờ lên khẳng định chủ quyền.

Nhưng Trung Quốc cũng định đổ bộ lên phía bên kia, mỏm Tây của Đá Đông.

Tàu HQ-641 của mình lao lên đó, nên bên kia thôi. HQ-614 lao lên đó, nhưng chỉ kẹt, không hỏng tàu, sau cứu ra được. Tàu chiến của nó cứ quần liên tục ở bên ngoài.

Khi làm xong nhà cao chân ở Đá Đông, không có gì ăn, tôi phải đưa người ra tàu. Chuyến đầu ra được trót lọt, nhưng chuyến sau không được, sóng to.
Đành lội bộ về lại cái chòi cao chân đó, không có gì ăn, không có gì mặc. Ngày đó là 20/2/1988. Đó là mùng 4 Tết, cứ nghĩ có khi mình chết ở đây.

Nếu mình không nhanh ngày 19/2, có khi Trung Quốc lấy mất Đá Đông.

Nó định lên đầu Tây, tôi lệnh tàu HQ-614 lao lên để giữ đầu Tây.

Khi nó đưa pháo định bắn tàu mình, tôi bảo: “Thôi!. Đưa HQ-614 về để làm nhà trên Đá Đông ngay!”.

Lên đó dựng 8 cái cột, tàu nó cũng về theo, nhưng thấy mình làm nhà cắm cờ trên đó rồi, nó lại thôi, không gây sự nữa. Nhưng mình mới cắm được cọc, dựng tạm nhà, chưa tiếp tế được thì sóng đánh tàu HQ-614 bật neo trôi ra, tôi phải nằm một đêm trên Đá Đông.

Ở Việt Nam mình thì sao? Trên 30 phút hay 1 tiếng ?… thì mới bị nói là trễ hẹn. Cặp danh hài Quang Minh và Hồng Đào có nói một câu cười châm biếm như sau: “Không đi trễ không phải là người Việt Nam”. Thật thấm thía vô cùng, không biết vui hay buồn đây?

Xã hội phát triển thì ý niệm về giờ giấc cũng phải thay đổi để thích ứng với hoàn cảnh mới. Giữ đúng giờ hẹn là một đức tính công nghiệp rất cần thiết trong xã hội văn minh, nó nói lên độ tin cậy và tinh thần tôn trọng những người chung quanh ta.

Người có tính đúng giờ là người biết xếp đặt công việc cho cuộc sống của mình, là người không lười biếng, là người có trách nhiệm và tôn trọng người khác. Có thể nói đức tính tôn trọng giờ hẹn nói lên trình độ văn minh của người đó.

So với nhiều dân tộc khác, người Nhật rất tôn trọng giờ hẹn, đi làm đúng giờ, đến dự tiệc hay tham dự 1 buổi họp cũng rất đúng giờ. Bởi vì người Nhật rất nghiêm khắc với việc trễ giờ.

Được biết 80 năm trước đây, vào những năm đầu thời vua Minh Trị (1867 – 1912), khi mà người Nhật phải thuê mướn kỹ sư ngoại quốc đến Nhật để dạy nghề cho kỹ sư và công nhân của mình. Người Nhật cũng đã từng bị chê bai là làm việc không tôn trọng tính đúng giờ.

Vào thời đó xã hội Âu châu đã sớm phát triển, đã hình thành ra những quy tắc đúng giờ và được coi như là một giá trị đạo đức của xã hội. Ông Jean Calvin, nhà thần học người Pháp nổi tiếng, đã tạo ra ý tưởng giáo dục này, gây ảnh hưởng sâu đậm và loan rộng ra khắp nơi bên Âu châu, đặc biệt là tại Thụy Sỹ, nơi mà ông đã dành gần hết cuộc đời của mình sống tại Geneva (1536-1538 và 1541-1564).

Thế nhưng, người Nhật đã khắc phục được tính đúng giờ là nhờ:

– Sớm áp dụng hệ thống thời gian hiện đại của Tây phương.

– Phổ biến đồng hồ và áp dụng luật đúng giờ.

– Áp dụng phương pháp quản lý khoa học của Mỹ.

– Quy định “Ngày kỷ niệm của Giờ”

– Bản tính dân tộc của người Nhật: điềm tĩnh

Ở Nhật, kể từ khi xe điên Shinkasen (Đường sắt cao tốc “Tân Cán Tuyến”) xuất hiện vào năm 1964 đến nay, nếu trễ hẹn trên 1 phút thôi là bị khiển trách ngay. Trong khi đó ở các nước khác như: ở Ý là trên 15 phút, ở Anh là trên 10 phút, ở Đức là trên 5 phút.

Còn ở Việt Nam mình thì sao? Trên 30 phút hay 1 tiếng ?… thì mới bị nói là trễ hẹn. Cặp danh hài Quang Minh và Hồng Đào có nói một câu cười châm biếm như sau: “Không đi trễ không phải là người Việt Nam”. Thật thấm thía vô cùng, không biết vui hay buồn đây?.

Chắc hẳn chúng ta ai cũng biết về tính không tôn trọng giờ giấc trong những buổi tiệc cưới hay những buổi sinh hoạt văn hóa của người Việt Nam mình. Đi trễ đã trở thành một thói quen, nhiều người nghĩ rằng đến trễ nói lên sự quan trọng của mình, để được những người đến trước chú ý đến mình hơn.

Một số người thành công trong cuộc sống, trở nên giàu có, bằng cấp cao, tự hào là người văn minh nhưng vẫn giữ nguyên thói xấu này là không tôn trọng tính đúng giờ. Đó là một trong những tính xấu mà con cái của chúng ta không kính phục, chúng cảm thấy xấu hổ khi mời bạn bè ngoại quốc tới tham dự các buổi tiệc hay các buổi sinh hoạt văn hóa của người Việt Nam mình.

Nếu có cơ hội sinh sống ở Nhật lâu, chúng ta đều thấy rằng người Nhật rất khiêm nhường, lễ độ, thành thật, có trách nhiệm, sạch sẽ và rất đúng giờ. Người Nhật luôn khiêm nhường khi làm việc chung, nghiêm túc về giờ giấc, làm tròn nhiệm vụ được giao phó và có trách nhiệm với việc làm của mình.

Theo KHÔN NGÔ TRÍ (VNEXPRESS)

DK1 23 tuổi: Còn nhà giàn là còn biển

TT – Ngày 5-7-2012 là ngày kỷ niệm 23 năm thành lập cụm nhà giàn DK1. “Sinh nhật” nhưng mọi sinh hoạt của các cán bộ, chiến sĩ tại nhà giàn cũng như ban chỉ huy vẫn diễn ra bình thường.

Đoàn đại biểu TP.HCM đến thăm cán bộ, chiến sĩ trên nhà giàn DK1/15 vào tháng 4-2012 – Ảnh: MINH ĐỨC

“Vì là năm lẻ mà” – thiếu tá Nghiêm Xuân Thái, chính trị viên phó tiểu đoàn DK1, cười nói khi tiếp đoàn đại diện báo Tuổi Trẻ đến thăm hỏi, chúc mừng.

Món quà lần này báo Tuổi Trẻ đại diện bạn đọc ở đất liền mang đến DK1 là những chiếc tủ đông. Trong đợt thăm nhà giàn gần nhất vào tháng 5-2012, các chiến sĩ nhà giàn đã thổ lộ mong muốn có được chiếc tủ đông để trữ thức ăn tươi, sau khi những tấm pin mặt trời đã cung cấp đủ điện cho các sinh hoạt thường ngày.

“Trước khi có chương trình Thắp sáng nhà giàn của Tuổi Trẻ, chúng tôi thật là trăm bề khổ” – trung tá Dương Thế Đường, tiểu đoàn trưởng tiểu đoàn DK1, nhắc. Những câu chuyện cũ ùa về: những ngày không đủ điện, không ánh sáng, không phương tiện giải trí, để duy trì liên lạc có khi tàu phải chở máy phát điện đi từ nhà giàn này sang nhà giàn kia, lại có khi tàu đi rồi phải quay lại vì máy phát thiếu tay quay…

Chuyện như từ ngày xưa nhưng thật ra chỉ mới đây thôi, trước tháng 5-2009, trước sinh nhật lần thứ 20 của nhà giàn, trước khi Tuổi Trẻ phát động chương trình Chung tay thắp sáng nhà giàn DK1.

15 nhà giàn DK1, những căn nhà treo trên cọc thép đang lần lượt được sửa chữa, nâng cấp để tiếp tục trụ vững với nhiệm vụ làm cột mốc chủ quyền của Việt Nam giữa biển Đông. 23 năm, đã có chín cán bộ, chiến sĩ hi sinh khi bảo vệ nhà giàn và hàng trăm cán bộ, chiến sĩ khác vẫn đang ngày đêm bám trụ giữa nắng gió, mưa bão và những căng thẳng chính trị.

“Hôm rồi đổi quân, có nhiều anh em xung phong ở lại không về” – trung tá Đường kể trong câu chuyện. Hết chuyện cũ đến chuyện mới, không thể không nhắc về những bất ổn trên biển Đông những ngày gần đây, các sĩ quan chỉ huy tiểu đoàn DK1 khẳng định: “Các chiến sĩ của chúng tôi trên nhà giàn coi như treo trên biển, chân không đạp đất nhưng đầu đội trời Việt Nam. Dù có việc gì xảy ra, chúng tôi không có chọn lựa nào khác ngoài việc bảo vệ nhà giàn, bảo vệ biển Việt Nam. Còn người là còn nhà giàn, còn nhà giàn là còn biển”.

Những khẳng định mạnh mẽ dường như đối lập với những thiếu thốn mà các chiến sĩ đã và vẫn đang phải kiên trì chịu đựng, khắc phục. Thiếu nước, thiếu điện, thiếu tiện nghi, thiếu tình cảm. Chỉ có sự hi sinh là dư thừa. Và vì vậy, càng biết rằng món quà nhỏ mà chúng tôi mang đến hôm nay thật nhỏ bé, càng biết rằng đất liền còn quá nhiều việc phải làm để góp phần gìn giữ biển Đông.

P.VŨ [Tuổi trẻ]