Tag Archive: ghi


Nancy Rica Schiff – một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp đã dành rất nhiều thời gian của mình để ghi lại hình ảnh của những ngành nghề mới lạ và độc đáo. Schiff đã từng xuất bản một cuốn sách ảnh về chân dung những người có công việc kì lạ vào năm 2002.

Đa số mọi người sẽ nghĩ rằng những người làm công việc kỳ lạ chắc hẳn sẽ có tính cách lập dị. Tuy nhiên, Schiff cho biết, điều này không đúng. Nhiếp ảnh gia mô tả nhân vật của mình là những người nhạy cảm, tinh tế và làm việc một cách vui vẻ.

Nhiều người trong số các “đối tượng” của Schiff đã liên lạc với nhiếp ảnh gia và kể lại về tác động mà những hình ảnh tạo nên với cuộc sống của họ. Họ chia sẻ rằng trước đây, bạn bè và hàng xóm biết nơi họ làm việc, nhưng không thực sự biết họ làm gì ở đó. Giờ đây, công việc của họ không những được biết đến nhiều hơn mà còn nhận được nhiều sự cảm thông và khích lệ.

Dưới đây là những nghề nghiệp “quái dị” đã được xuất bản trong cuốn sách:

 

1

Chuyên gia… kiểm tra mùi cơ thể.

2

Người nuôi đỉa.

3

Người sản xuất gà cao su.

4

Người thử nghiệm… thức ăn cho chó.

5

Nhân viên trị liệu… ruột già.

6

Người thiết kế… underwear cho nam giới.

7

Trợ lý cho… nghệ sỹ phi dao.

8

Trị liệu âm nhạc cho những người đang hấp hối.

9

Người làm sạch… xương khủng long.

10

Nhân viên… chữa vết nứt trên các vách đá.

11

Và cả người… thử nghiệm băng vệ sinh.

[sưu tầm]

Advertisements

Hồi ức về anh đại úy Nguyễn Tấn Dũng

Viên đại úy mặt mũi đầy bùn, nhoẻn một nụ cười rất hồn nhiên. Nhà báo lão thành Ba Dân nhìn viên đại úy, nói với chúng tôi: “Người cán bộ phải dấn thân như thế !”.

Trích đăng bài viết của nhà báo Minh Diện, cựu phóng viên báo Tiền Phong

___________________________________

CHẮC THỦ TƯỚNG CHƯA QUÊN!

Trong cuốn sổ tay phóng viên của tôi còn ghi lại một chuyện xảy ra cách đây 34 năm.

Hôm ấy là ngày 21-8-1978, một đoàn cán bộ Trung ương Đoàn do Bí thư Trung ương Đoàn, Anh hùng quân đội Lê Thanh Đạo, dẫn đầu đến xã Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang sau vụ thảm sát của Khmer đỏ. Đại tá Lê Thanh Đạo, sĩ quan không quân, phi công dũng cảm tham gia 8 trận đánh, tiêu diệt 6 máy bay F4 của giặc Mỹ. Cùng đi có nhà báo lão thành Ba Dân, nguyên Phó Tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam, cùng các nhà báo Việt Thảo, Đình Khuyến, Phạm Hậu…

Từ sáng sớm, đoàn chúng tôi khởi hành từ Sài Gòn bằng hai chiếc xe U-OÁT cũ kỹ, theo quốc lộ 4 về miền Tây. Con đường bị tàn phá trong chiến tranh, lại bị lũ lớn xói lở, ổ gà ổ trâu lổn nhổn, thỉnh thoảng phải tránh những hố bom hố pháo chưa kịp lấp. Hai bên đường làng xóm xác xơ. Cứ cách vài cây số lại gặp một trạm Ba-rie chắn ngang đường, đó là những trạm kiểm soát liên hợp, kiểm tra tất cà các phương tiện giao thông chống buôn lậu, vượt biên, đặc biệt là ngăn người lên biên giới vì chiến sự đang hết sức căng thẳng.

Càng đến gần biên giới không khí càng ngột ngạt. Người dân bồng bế con, gồng gánh chạy từ biên giới về, bộ đội hành quân lên biên giới thanh niên nam nữ vác chông tre đi rào làng.

Đất nước mới hòa bình chưa bao lâu, hố bom chưa kịp lấp, vết thương trên da thịt chưa kịp lành, đang phải ăn bo bo thay gạo, lại xảy ra chiến tranh, kẻ thù lại là người đồng chí từng môi hở răng lạnh, chung một chiến hào đánh Mỹ, từng hy sinh máu xương vì nhau! Đau quá!

Chúng tôi đến xã Ba Chúc, huyện Tri Tôn, An Giang, nơi bọn lính Pôn bốt mới tràn sang tàn sát đồng bào ta đêm 17 rạng 18 tháng 4. Không bao giờ tôi có thể quên được những gì mình nhìn thấy buổi chiều năm ấy. Những đống xác người chồng chất trong chùa, trong trường học, dưới chân núi Tượng, núi Dài, bên bờ kinh. Người bị chặt đầu , người bị cắt cổ , mổ bụng , trẻ em bị lưỡi lê đâm , phụ nữ bị lột hết quần áo lấy cọc tre đóng vào cửa mình . Không thể đếm xuể bao nhiêu xác chết. Bọn lính Pôn Pốt tràn sang lúc nửa đêm, khi bà con ta vẫn ngủ say. Chỉ bảy, tám tiếng đồng hồ, chúng đã giết hại hàng ngàn người dân vô tội.Hành quân lên biên giới

Bộ đội và dân quân lấy bao ni lông gói xác người đưa lên xe bò chở ra hố chôn tập thể . Người thân của các nạn nhân còn sống sót chạy tản cư hết , làng xóm bỏ hoang, điêu tàn. Cách chỗ chúng tôi chưa đầy một tầm đạn súng cối , bọn Khmer đỏ núp trong công sự dưới rặng thốt nốt vẫn thường xuyên bắn sang và rình rập , lừa phía ta sơ hở là tập kích bất ngờ gây thêm tội ác . Khắp xã Ba Chúc , từ núi Tượng đến ngôi chùa của người Miên , nồng nặc mùi tử khí , rải rác xác người chết, từng bầy chó hoang nháo nhác vục mõm vào xác chết đang phân hủy…

Từ Ba Chúc , An Giang , chúng tôi sang Kiên Giang, đến Trung đoàn 152 (Bộ đội địa phương Kiên Giang) đang chiến đấu bảo vệ biên giới. Đồng chí Chủ nhiệm chính trị ân cần đón tiếp chúng tôi. Đó là một đại úy rất trẻ . Anh nói những diễn biến trên tuyến biên giới do đơn vị mình phụ trách , và quyết tâm của anh em trong đơn vị đánh trả bọn Pôn bốt . Khi kể lại chuyện bọn Pôn bốt giết hại đồng bào mình, người đại úy trẻ nghẹn lời, lấy tay chùi nước mắt. Gương mặt anh quắt lại, mắt đỏ ngầu.

Chúng tôi đề nghị ra thăm bộ đội ngoài trận địa , chủ nhiệm chính trị hơi ngần ngừ vì cuộc chiến đấu đang hết sức căng thẳng , nhưng khi anh Lê Thanh Đạo nói, hầu hết thành viên trong đoàn đếu là người đã qua khói lửa , đồng chí đại úy trẻ kêu thêm hai chiến sỹ bảo vệ , cùng mình dẫn chúng tôi lên chốt.

Trên đường ra trân địa có một đoạn lầy , bánh xe bị lún sâu không lên được . Chủ nhiệm chính trị hô: “ Nào các đồng chí theo tôi !”. Anh nhảy xuống ghé lưng cõng nhà báo lão thành từ xe qua vũng lầy .Tiếp đến chị Hằng . Hai chiến sỹ cùng chúng tôi, cả anh Lê Thanh Đạo nhảy xuống làm theo đồng chí đại úy. Mọi người khiêng bổng hai chiếc xe qua bãi lầy. Khi xe tiếp tục lăn bánh, viên đại úy mặt mũi đầy bùn, nhoẻn một nụ cười rất hồn nhiên. Nhà báo lão thành Ba Dân nhìn viên đại úy, nói với chúng tôi: “Người cán bộ phải dấn thân như thế !”.

Lẽ thường vốn vậy, tốt-xấu do mình, khen chê là quyền của mọi người, ai cũng có cách nhìn nhận và chính kiến của họ, chặn miệng thế gian là việc làm ngược cách. Dư luận trong dân chúng (trừ những động cơ cá nhân nào đó của một vài người hay thiểu số) phần lớn thường khách quan, công bằng; việc đáng khen thì khen, việc đáng chê thì chê, khi cần phỉ nhổ thì cũng không ngán. Có điều, người bị chê phải biết tự nhận diện, tự xem xét lại mình, không nên chủ quan hoặc tìm cách khỏa lấp, chống chế vì những động cơ cá nhân thấp hèn.

Buổi tối hôm ấy, Ban chỉ huy trung đoàn 152 mời chúng tôi ăn cơm với thịt trâu luộc. Bấy giờ đang thời buổi đói kém, và đã trải qua một ngày vất vả , mệt nhọc , nhưng chúng tôi không tài nào nuốt nổi miếng cơm vì hình ảnh ghê rợn ở Ba Chúc vẫn còn lởn vởn trước mắt. Tôi kê cuốn sổ tay lên đầu gối ghi lại những việc xảy ra trong ngày , và tự nhiên bật ra những câu thơ không vần điệu. Trước khi tạm biệt Ban chỉ huy trung đoàn, tôi đọc bài thơ ấy cho mọi người nghe:

Ta lại hành quân về biên giới Tây Nam
Mộc Hóa, Tân Biên lửa ngút ngàn
Máu dân nhuộm đỏ đồng Ba Chúc
Sa Mát, Cà Tum …trắng khăn tang.

Những tên lính áo đen
Ném trẻ con vào lửa
Đập đầu , mổ bụng người già
Đâm cọc nhọn vào cửa mình phụ nữ
Miệng hô vạn tuế Ăng-ca

Những tên đập đầu dân Cam-pu-chia
Xây dựng “chính quyền năm không” quái dị
Chúng với ta từng là đồng chí
Thắm tình hữu nghị anh em

Đường hành quân về biên giới Tây Nam
Qua những hố bom chưa kịp lấp
Qua những chiếc cầu đổ sập
Gặp những mẹ già chua kịp xả khăn tang

Ta lại hành quân về biên giới Tây Nam
Thành phố sau lưng chập chờn ánh điện
Con khát sữa chụp bình cháo loãng
Mẹ đói lòng nhai tạm bo bo
Vợ ta còm cõi xác xơ
Đêm ngày lại đỏ mắt chờ đợi ta!

Mọi người lặng đi một lát . Đồng chí đại úy chủ nhiệm chính trị bắt tay tôi và xin bài thơ chép tay để đăng báo tường đơn vị.

Đồng chí đại úy trẻ ấy chính là Thủ tường Nguyễn Tấn Dũng bây giờ.

Hơn ba chục năm đã qua chưa một lần tôi gặp lại ông Nguyễn Tấn Dũng, nhưng tôi không quên hình ảnh người đại úy trẻ khóc khi kể về những người đồng bào của mình bị sát hại và nhảy xuống cõng nhà báo lão thành qua đầm lầy lên mặt trận biên giới năm ấy.

MINH DIỆN (BLOGPOST)

[nguồn: REDS.vn]

Trong quần đảo Trường Sa, so với các đảo khác, với vị trí chiến lược của mình, đảo Cô Lin được coi như “mắt thần” của biển.

Nằm ở vị trí quan trọng, nhiều năm trước, ra Cô Lin người ta thấy thiếu thốn cam go đủ bề.

Nhưng với sự quan tâm và đầu tư cũng như vượt lên khó khăn của người lính, để khẳng định chủ quyền biển, vị thế dân tộc Việt Nam trên biển, nay Cô Lin hiện ra bề thế, vững chãi trước biển. Là nơi bà con đi biển gửi gắm niềm tin, tìm đến neo đậu tránh trú bão, lấy thêm nước ngọt và lương thực cho mình.

Ảnh: Hoàng Long

Hoài niệm Cô Lin

Trên chuyến tàu ra đảo, thăm các chiến sỹ và tận mắt chứng kiến cuộc sống ngày một đổi thay của các đảo nằm trong quần đảo Trường Sa, Nhà báo Nguyễn Trọng Thiết, đang công tác ở Báo Hải Quân, người luôn được mệnh danh là “sói biển” của giới báo chí đã dành cho tôi nhiều ưu ái. Vì là “người của biển”, lại thêm cái nghề làm báo, tính đến nay anh là nhà báo duy nhất đã ra công tác nhiều nhất trên hầu hết các đảo thuộc quần đảo Trường Sa. Đi nhiều, ghi nhận nhiều, anh như “cuốn biên niên về đảo và các đảo” trong quần đảo Trường Sa. Từ thời gian khó nhất cho đến những ngày vinh quang nhất, đầy đủ nhất như ngày nay qua lời kể của anh.

Hiểu biết của tôi về các đảo hình thành và tỏ tường dần qua những tối hai anh em ngồi cạn đêm trên boong tàu. Ấy là những tấm gương, sự hy sinh cao cả của những người lính, thế hệ đàn anh đã không tiếc máu xương ra với các đảo từ ngày các đảo này còn bộn bề khó khăn và thiếu thốn. Với lính hải quân, những ngày ấy, ra với đảo ai cũng biết khó khăn, có thể một đi không trở về vì bão gió, vì những sự bất ổn trên biển. Nhưng lạ thế, không một ai từ chối cả. Cứ có lệnh, ai nấy vui vẻ lên đường. Vì họ biết, sự ra đi của họ là góp sức cho sự vững chắc của chủ quyền trên biển. Và đồng nghĩa như vậy là sự bình yên của đất liền, tôn vinh thêm sức mạnh và tinh thần Việt.

Trong các câu chuyện anh kể về đảo, ấn tượng nhất với tôi là cuộc “hải chiến năm 1988” đã xảy ra tại đây. Biết Cô Lin có vị trí quan trọng, dù vẫn biết đảo này là của dân Việt, đất Việt nhưng “người ta” vẫn cố tình định đoạt nó. Vì ngày ấy cơ sở vật chất của đảo Cô Lin chưa được đầu tư, đảo chưa kiên cố và nổi hẳn lên mặt nước như bây giờ. Vào lúc triều cường, anh em trên đảo vẫn phải lội biển ngang bụng mà giữ đảo. Lợi dụng lúc ta khó khăn lại cậy sự “lớn mạnh” của mình, “người ta” đã ngang nhiên đưa tầu ra khiêu chiến. Với văn hóa Việt, những người lính chúng ta ngày ấy đã bình tĩnh giải thích và tôn trọng họ, ngay cả những lúc họ ngang ngược nhất.

Thế rồi không dừng ở đấy, những “tàu lạ” kia đã lấn tới. Đảo và chủ quyền đảo của đất Việt lâm nguy. Nhận được chỉ đạo từ trên, không nề hà, những người lính của chúng ta đã có hành vi cao cả là “cho tàu ủi bãi”. Chính nhờ sự mưu trí và dũng cảm này, bên cạnh đau thương và mất mát, chúng ta đã làm chủ và giữ được đảo. Giữ bình yên và nguyên vẹn “con mắt thần” này cho đến ngày hôm nay.

Cũng theo anh Thiết, ngày những người lính hải quân của ta cho “tàu ủi bãi” – một cách bảo vệ đảo hết sức táo bạo và không ngờ tới này cũng như các năm tiếp theo – Cô Lin còn khó khắn lắm. Đảo chưa được xây cất hiện đại, mọi thứ đều không chủ động được. Rau thiếu, lương thực thiếu đến nước ngọt cũng thiếu. Vậy nên ca khúc “mưa, chúng tôi cần mưa” luôn là nỗi khát khao của các chiến sỹ và các đoàn công tác ra Cô Lin thời gian ấy.

Ở một nơi vô cùng khắc nghiệt, nhưng bằng sự chăm chỉ của mình, những người lính đảo Cô Lin đã trồng được những vườn rau mướt mát như thế này.

Xanh thắm “mắt thần”

Những ngày gian khó, những đau thương thầm lặng ngày nào ở Cô Lin đã nhanh chóng lùi vào quá khứ. Ngày nay nhiều người chỉ còn hình dung và biết được qua những lời kể. Cách đảo Sinh Tồn 9 hải lý, đảo Len Đao 7 hải lý và cách đảo Gạc Ma 4 hải lý, đảo Cô Lin là một đảo nằm trên một quần thể san hô khá rộng. Lướt trên những rặng san hô, chúng tôi nhẹ nhàng tiếp cận đảo, nước biển trong vắt, nhìn thấy cả những đàn cá tung tăng bơi lội.

Đảo trưởng, Thượng úy Hoàng Thanh Sơn cùng anh em trên đảo chỉnh tề quân phục đứng đón những đoàn khách từ đất liền ra thăm. Trên khuôn mặt dạn dầy gió biển và mặn mòi vị muối của các anh, chúng tôi “đã đọc” được những niềm vui và sự an tâm của các anh về một cuộc sống ngày một hiện đại hóa ở đây. Sóng điện thoại, điện thắp sáng bằng các nguồn năng lượng sạch cùng sóng ti vi đã ngày một đưa các anh “về gần” với đất liền hơn.

Từ một đảo chìm, bằng sự gia cố và đầu tư, hiện nay Cô Lin đã “ngoi lên” mặt nước và trở thành một trong những đảo kiên cố. Đảo có thể chịu sóng gió tới bất kỳ cấp độ nào và sẵn sàng có thể ứng chiến về quân sự ở mức độ quyết liệt nhất. Cũng như các đảo khác, nước và rau xanh luôn là chủ đề muôn thuở và là thách đố của biển cả với con người mỗi khi họ có ý định ra đây sinh sống với nó. Nhưng nay, bằng việc đầu tư hệ thống bể chứa và trữ nước mưa và nước do các tầu vận tải chở ra nên Cô Lin đã hoàn toàn chủ động về nguồn nước. Nếu biển cả “trở mình”, không có nguồn cung ứng nước cơ học và có thể không có mưa trong thời gian dài thì hệ thống bể chứa ở đây vẫn có thể đáp ứng nước sinh hoạt cho anh em.

Cái quan trọng, bằng sự tự thân vận động, sự cần cù chịu khó nên ngoài thời gian phải làm nghĩa vụ trong ngày của một người lính, anh em trên đảo Cô Lin đã dành quỹ thời gian của mình để cải tạo, đem lại mầu xanh cho đảo. Ngoài cây cảnh, thì mướt mát và thích thú nhất ở đây vẫn là mầu xanh của những vườn rau do những người lính tự trồng và chăm sóc nấy. Tôi quả quyết, nếu nhìn thấy những loại rau mà các chiến sỹ đã trồng bằng các loại đất được các tầu dày công chở ra từ đất liền trên các khay nhựa đặc chủng, bất kỳ một phụ nữ nào cũng phải thấy “chạnh lòng” trước sự khéo léo của lính đảo Cô Lin. Và ai trong họ cũng ước ao mình có những đôi bàn tay khéo léo như vậy.

Ngoài rau, thì lính đảo cũng nuôi được những chú “ỉn” béo mập thế này để cải thiện thêm khẩu phần ăn cho mình.

Từ một đảo luôn luôn ngóng trông và phụ thuộc vào các loại thực phẩm được chở ra từ đất liền thì nay các chiến sỹ trên đảo Cô Lin đã chủ động được rất nhiều thứ. Nhìn bảng khẩu phần ăn trong ngày, trong tuần, trong tháng chúng tôi rất yên tâm về sức khỏe của lính nơi đây. Đại diện anh em, Đảo trưởng Hoàng Thanh Sơn vui vẻ cho biết: “Bằng sự tự tăng gia sản xuất của mình, tổng năm 2010 và hết quý 1 năm 2011, anh em ở đảo đã “làm thêm” được 865 kg rau xanh, đánh bắt được 402 kg cá các loại, chăn nuôi được 60 kg thịt các loại… Tổng số tiền làm ra này đã đem lại nguồn thu trên 21 triệu đồng để chi ăn thường xuyên và mua sắm vật chất cho anh em”. Có ra Cô Lin, trước khó khăn về thời tiết, bốn phía là biển chúng ta mới thấy nguồn thu này nó quý hiếm đến mức nào. Và con số này đã khẳng định thêm sự chắt chiu, cần cù, bám biển, bám sóng đến quên mình của anh em lính trên đảo.

Từ một đảo vốn dĩ phụ thuộc vào đất liền, nay với sự nắm tay chiu chắt, chiến đấu, lao động không mệt mỏi mà Cô Lin đã trở thành điểm tìm đến neo đậu của nhiều ngư dân Việt Nam. Ngoài việc tạo thu, tạo chi, nay Cô Lin đã có điều kiện quay lại giúp đỡ ngư dân, đền đáp cho đất liền phần nào. Tổng kết trong thời gian qua, Đảo đã cung ứng cho ngư dân đến 2.000 m3 nước ngọt. Bên cạnh nước ngọt, Đảo cũng là nơi tìm đến của của hơn 200 lượt tầu thuyền và là chỗ neo đậu cho nhiều bà con ngư dân ra đây khai thác thủy hải sản bằng các loại tầu thuyền như: tầu câu, tầu xiên lặn và tầu đánh lưới.

Ngoài vị trí “mắt thần”, ngoài nơi tìm đến neo đậu tránh trú bão của bà con, đảo Cô Lin còn đang được mệnh danh là Trạm y tế tiền phương trên biển. Với sự chủ động, ngoài việc khám chữa bệnh cho cán bộ, chiến sỹ, Đảo còn tạo điều kiện chữa trị bệnh cho 13 lượt bà con ngư dân, nhập đón và đưa bà con rời đảo đúng quy định, an toàn.

Cô Lin một thời ngày xưa để nhớ và Cô Lin xứng tầm là con “mắt thần” trước biển như ngày nay. Ấy là những ghi nhận, những nỗi nhớ mà chúng tôi có được trong hành trình đến và chia tay cùng các chiến sỹ ở Đảo này!

Theo Đại Đoàn Kết

9 CÁI NGU MÀ CÁC NHÀ DÂN CHỦ CUỘI (RẬN CHỦ) KHÔNG THỂ THIẾU

1. Bác Hồ một đời hi sinh cho Dân Tộc, Bác được cả dân tộc kính ngưỡng, nhưng các nhà dân chủ cuội lại dày công xuyên tạc bội nhọ Bác, thậm chí còn sử dụng ngôn từ và biếm họa rất bênh hoạn. Đây là cái ngu kinh điển nhất.

2. Bom mìn thuốc nổ mà Mỹ tống vào một mình cái thành cổ Quảng Trị thôi đã bằng 6 lần đương lượng nổ của quả bom nguyên tử ném xuống Hiroshima, rồi thì ném bom Hà Nội, rải dioxin, băn giết người VN, thế nhưng các nhà dân chủ cuội luôn gân cổ lên mà rằng :”Mỹ không hề xâm lược Việt Nam”. Đây là cái ngu kinh tởm nhất.

3. Việt Nam Cộng Hòa là tay sai của Mỹ, do Mỹ dựng lên, đã khước từ nguyện vọng thống nhất của nhân dân, đã lê máy chém đi khắp miền Nam, đã đàn áp giết hại bao nhiêu đồng bào, nhưng các nhà dân chủ cuội luôn cho rằng đó là 1 nhà nước “đầy ắp dân chủ, căng tràn tự do”. Đây là cái ngu đáng phỉ nhổ nhất.

4. Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam, đã đặt nền móng đầu tiên cho thể chế dân chủ, lần đầu tiên ở Việt Nam, nam nữ được bình quyền, mọi công dân đều bình quyền, được hưởng các quyền tự do.

ĐCSVN đã lãnh đạo nhân dân, đuổi Pháp, đánh Mỹ, ngăn Ponpot, đạp tan âm mưu bành trướng của Trung Quốc, cùng nhân dân xây dựng đất nước. Dẫu họ có sai lầm, dẫu còn nhiều bất cập nhưng không thể không ghi nhân công lao của họ được.

Vậy mà các nhà dân chủ cuội phủ nhận sạch trơn. Đây là cái ngu tệ hại nhất.

5. Bất cập thậm chí là bất công ở Việt Nam là có, và không hề ít. Nhưng thay vì phản ánh những sự thật đó thì các nhà dân chủ cuội lại chọn cách bịa đặt và xuyên tạc. Còn nhớ năm nào đó, bộ đội ta đi giúp dân tránh lũ, các vị ấy xây dựng nên 1 clip gọi là “đảo chính ở Việt Nam”. Đây là cái ngu đáng kinh ngạc nhất.

6. Muốn được lòng dân, thì phải đủ tài lẫn đức, nhưng các nhà dân chủ cuội không cần điều đó, chỉ cần có ai đó chửi đảng, chửi nhà nước một câu thì suy tôn ngay thành anh hùng, thành nữ hào kiệt, thành người con của sông núi, thành nhân sỹ bất kể đó là thành phần bênh hoạn như Lý Tống hay giang hồ như Bùi Hằng. Đây là cái ngu phi phàm nhất.

7. “Ỉa chảy hay táo bón đều là tại Đảng và Nhà Nước” đó là lý lẽ của các nhà dân chủ cuội, bất kể là việc con trâu nó có sừng hay việc con voi nó có vòi thì họ đều quy cho trách nhiệm thuộc về đảng và nhà nước. Đây là cái ngu bệnh hoạn nhất.

8. Miệng nói dân chủ, nhưng thực tế chẳng hiểu dân chủ là gì, hỏi dân chủ là gì thì câu tra lời dâu có 1 vài câu hay dài dằng dặc thì chung quy cũng là “giống như Mỹ ấy”. Chẳng khác gì hỏi fan cuồng Kpop rằng nghệ thuật là gì thì nhận được câu trả lời “giống Kpop ấy”. Đây là cái ngu đáng cười vào mặt nhất.

9. Biểu tình phản đối VN gia nhập WTO, dâng thỉnh nguyện thư kiến nghị Hoa Kỳ cấm vận VN, kích động chiến tranh Việt – Trung và nhiều trò phản quốc tương tự. Đây là cái ngu đáng nguyền rủa nhất.

———

Vì sao ngu đến vậy ? Đơn giản thôi, vì họ không phải là những nhà dân chủ thực sự họ là những nhà dân chủ cuội (nhà dân chủ thực sự phải như Bác Hô, phải như Bác Võ Văn Kiệt hay như đại biểu Dương Trung Quốc ấy).

Mục đích của họ không phải là dân chủ, mục đích của họ là chống cộng, nên cái gì có thể chống cộng họ đều làm, bất chấp.

“TÌNH HUỐNG MẤT CHÂU VIÊN VÀ GIỮ ĐƯỢC ĐÁ ĐÔNG”…(Thiềm Thừ)

Đầu năm 1988, Trung Quốc đưa nhiều tàu hộ vệ tên lửa, tuần dương, tàu đổ bộ… đến khu vực quần đảo Trường Sa. Lãnh đạo Quân chủng Hải quân xác định: “Nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền vùng biển và quần đảo Trường Sa là nhiệm vụ quan trọng nhất, khẩn trương nhất và vinh quang nhất của Quân chủng”.

Nhà cao cẳng trên Đá Đông – 5/1988 – Nguyễn Viết Thái.

Toàn Quân chủng bước vào Chiến dịch CQ88 (Bảo vệ Chủ quyền 1988). Tháng 2/1988, Trung tá Nguyễn Văn Dân (nay đã nghỉ hưu với cấp hàm Đại tá, Phó Tham mưu trưởng Vùng 4 Hải quân) được giao làm Phó Trưởng đoàn, phụ trách chỉ huy đi biển của Đoàn Công tác ra tiếp tục đóng giữ các đảo, bãi ngầm. Hướng chính là Đá Đông, Châu Viên, Đá Lát…

Những sự kiện dưới đây được ghi theo lời kể của ông

___________

Tàu HQ-614 là loại tàu Nhật Lệ do Trung Quốc đóng, trọng tải chỉ 200 tấn. Trung Quốc đưa một tàu khu trục, một tàu pháo đến chặn, không cho mình lên đảo, kéo cờ hiệu trên tàu và nói: Nếu mình không rút nó sẽ nổ súng.

Hai bên hằm hè nhau…

Sáng 18/2/1988 là mùng 2 Tết, tàu HQ-614 của chúng tôi đưa 9 anh em lên cắm cờ ở Châu Viên. Mang theo 1 lá cờ, 2 khẩu AK, dụng cụ xà beng để thăm dò độ sâu, chuẩn bị làm nhà.

Khi lên cắm được cờ rồi thì gió mùa Đông bắc về rất mạnh, nước lớn, tàu bị đánh ra khỏi đảo, trôi neo. Lúc đó trời tối, tàu phải nổ máy chạy cạnh đảo, tìm cách kéo 9 anh em trên đảo ra tàu.
7 người ra được trước, còn 2 người ở lại đứng giữ cờ. Nhưng nước triều cứ lên, ngập đến cổ, phải đưa nốt hai anh em ra.

Lúc đó 1 tàu của Trung Quốc, có hai số sau là 31 chạy tới uy hiếp.

Đến nửa đêm, lệnh của Tư lệnh Hải quân: Sáng mai bằng mọi giá phải lên Châu Viên.

Nhưng Trung Quốc kéo đến 4 tàu chiến: 208, 209, 164…, quay pháo về phía mình đe dọa nổ súng. Ta không lên được Châu Viên nữa.

Không phải mình không quyết tâm. Nhưng thực ra, cũng có mất cảnh giác, nghĩ là bãi ngầm nhỏ. Trung Quốc đã thả một bia làm dấu của họ lên đó, khi mình đến đã thấy.

Mình nghĩ Châu Viên là đảo nhỏ, không chú ý giữ bằng giữ Đá Đông, Đá Tây, Đá Lớn, Tốc Tan… – Những đảo lớn trên ba chục cây số, hai mấy cây số.
Lực lượng mình còn mỏng, phải tập trung vào các đảo lớn, không thể triển khai đến tất cả các đảo, bãi ngầm nhỏ.

Tối 18/2/1988 có dông lớn, tàu của cả nó cả mình đều bị trôi neo.

Tàu chúng tôi cấp tốc về Đá Đông, làm căn nhà cao chân đầu tiên ở mỏm Đông của Đá Đông, kéo cờ lên khẳng định chủ quyền.

Nhưng Trung Quốc cũng định đổ bộ lên phía bên kia, mỏm Tây của Đá Đông.

Tàu HQ-641 của mình lao lên đó, nên bên kia thôi. HQ-614 lao lên đó, nhưng chỉ kẹt, không hỏng tàu, sau cứu ra được. Tàu chiến của nó cứ quần liên tục ở bên ngoài.

Khi làm xong nhà cao chân ở Đá Đông, không có gì ăn, tôi phải đưa người ra tàu. Chuyến đầu ra được trót lọt, nhưng chuyến sau không được, sóng to.
Đành lội bộ về lại cái chòi cao chân đó, không có gì ăn, không có gì mặc. Ngày đó là 20/2/1988. Đó là mùng 4 Tết, cứ nghĩ có khi mình chết ở đây.

Nếu mình không nhanh ngày 19/2, có khi Trung Quốc lấy mất Đá Đông.

Nó định lên đầu Tây, tôi lệnh tàu HQ-614 lao lên để giữ đầu Tây.

Khi nó đưa pháo định bắn tàu mình, tôi bảo: “Thôi!. Đưa HQ-614 về để làm nhà trên Đá Đông ngay!”.

Lên đó dựng 8 cái cột, tàu nó cũng về theo, nhưng thấy mình làm nhà cắm cờ trên đó rồi, nó lại thôi, không gây sự nữa. Nhưng mình mới cắm được cọc, dựng tạm nhà, chưa tiếp tế được thì sóng đánh tàu HQ-614 bật neo trôi ra, tôi phải nằm một đêm trên Đá Đông.

Microsoft Office 2013 ra mắt

Mang phong cách của Windows 8, nhiều tính năng mới và hỗ trợ cảm ứng, bộ ứng dụng văn phòng Office 2013 của Microsoft đã có màn trình diễn ấn tượng trong buổi ra mắt người dùng.

Office 2013 (hay còn gọi là Office 15) có thiết kế trực quan, hỗ trợ cá máy tính cá nhân lẫn máy tính bảng dùng Windows 7 và Windows 8. Phiên bản này không hỗ trợ Windows XP hay Vista.

Nhiều cải tiến trong Microsoft Office 2013 – Ảnh: Microsoft
Gói Office mới cũng đi kèm với phần mềm hội thoại Internet (VoIP) Skype. Người dùng sẽ được tặng 60 phút gọi toàn cầu mỗi tháng.

Thay đổi lớn nhất của Office 2013 chính là sự kết hợp chặt chẽ với dịch vụ lưu trữ đám mây SkyDrive. Văn bản của người dùng có thể được lưu trữ an toàn mà không lo sợ rủi ro mất mát dữ liệu. Đồng thời, người dùng có thể truy cập vào tài liệu của mình trên nhiều thiết bị khác nhau thông qua tính năng đồng bộ của SkyDrive.

Ngoài ra, với việc “đám mây” hóa Office 2013, bộ ứng dụng văn phòng này sẽ luôn được cập nhật, mang tính xã hội cao và được thiết kế sao cho thuận tiện nhất cho việc ghi chép trong các buổi họp nhóm, hội nghị.

Khung tài khoản hiển thị tất cả các dịch vụ bao gồm của Microsoft và các hãng khác như Flickr, YouTube và LinkedIn kết nối đến Office – Ảnh: InfoWorld
Người dùng có thể chèn nhanh ảnh từ dịch vụ lưu trữ ảnh Yahoo! Flickr hay Microsoft SkyDrive vào văn bản Word khi soạn thảo
Office 2013 có giao diện Metro theo phong cách Windows 8
Bạn có thể tải về bản dùng thử Office 2013 tại đây. Phiên bản này không dành cho Windows XP và Windows Vista.

“Microsoft đang có những bước tiến vững vàng. Phiên bản Office mới, hiện đại sẽ đưa đến tính năng suất mà vẫn giữ nguyên độ linh hoạt tuyệt vời cho không chỉ khách hàng cá nhân mà cả khách hàng doanh nghiệp. Đây là một dịch vụ đám mây, và dịch vụ này sẽ thực sự tỏa sáng khi kết hợp cùng Windows 8”, Steve Ballmer – CEO của Microsoft – đã chia sẻ trong phiên họp báo giới thiệu sản phẩm tại San Francisco ngày 16-7.

Ngoài việc kết hợp với Skydrive, Office 2013 còn hỗ trợ chuyển sang chế độ cảm ứng cho những thiết bị lai giữa laptop và máy tính bảng. Người dùng có thể lướt nhẹ ngón tay trên màn hình hoặc kéo hay thay đổi kích cỡ để đọc các văn bản và thuyết trình.

Video giới thiệu về Office 2013. Nguồn: Youtube
Video giới thiệu về Office 2013. Nguồn: Youtube

Người dùng cũng có thể soạn thảo văn trực tiếp bằng cách viết tay với bút điện tử (Stylus). Office 2013 sẽ chuyển đổi những gì bạn viết sang kí tự (text) và bảng biểu.

DUY NGUYỄN [TTO]

10 mẹo chụp ảnh phong cảnh thiên nhiên

TTO – Với dân “phó nháy”, mỗi chuyến du ngoạn hoà mình vào thiên nhiên để ghi lại những khoảnh khắc cao rộng của bầu trời và cảnh vật bao giờ cũng là một kỉ niệm đẹp. Bạn có thể tham khảo 10 lưu ý sau đây trước mỗi lần chụp phong cảnh để có được những tác phẩm ưng ý.

 

Chụp được các bức ảnh quang cảnh thiên nhiên kì vĩ, đẹp mắt luôn là mong muốn của các nhiếp ảnh gia. Ảnh Photoradar

 

1. Giờ “hoàng đạo”

Các bức ảnh phong cảnh đẹp mắt thường được đánh giá ở nhiều góc độ, trong đó đáng kể nhất là độ sáng ghi hình được. Thông thường, các thợ ảnh chuyên nghiệp thường chọn thời điểm ghi hình phong cảnh tốt nhất vào khoảnh khắc bình minh hoặc chiều tà, khi ánh sáng mặt trời nhè nhẹ, độ tương phản thấp. Thời điểm này, bầu trời cảnh vật thường được nhuộm những dải màu sắc tinh tế đầy tâm trạng! Đó cũng là lí do vì sao đây là những khoảnh khắc được coi là giờ “hoàng đạo” với các thợ ảnh muốn chụp cảnh thiên nhiên.

Tuy nhiên, nếu bạn không muốn chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thiên nhiên vào lúc bình minh vì…buồn ngủ thì vẫn còn rất nhiều những cơ hội khác trong ngày để chụp quang cảnh rộng.

2. Bố cục

Bố cục là chìa khoá thành công để chụp ảnh phong cảnh. Ngay cả khi bạn không biết phải bắt đầu từ đâu, hãy thử áp dụng “quy tắc 1/3”. Đây là quy tắc rất đơn giản, bạn chỉ cần chia khung ảnh thành ba chiều tưởng tượng ngang, dọc và thẳng đứng. Bức ảnh sẽ gồm 9 miếng ghép ảo tạo thành. Tiếp đến chọn điểm ảnh hấp dẫn nhất muốn ghi hình và “sắp xếp” vào một trong bốn điểm giao nhau giữa các đường kẻ tưởng tượng này.

Tuy nhiên, đừng sợ phải phá bỏ các quy tắc sách vở cứng nhắc cũng như cách bố cục thông thường vì chính những khi bạn bạn “làm sai”, có thể bạn lại có được những tác phẩm sáng tạo như ý. Hãy mạnh dạn thực hiện thử nghiệm của riêng mình.

 

Quy tắc 1/3 chia bức ảnh thành 9 phần với 4 giao điểm ảnh ảo – Ảnh Internet.

 

3. Khám phá thiên nhiên

Tìm kiếm và tìm được địa điểm tốt nhất là một trong số các việc cần làm trước khi tác nghiệp. Bạn có thể sử dụng bản đồ, la bàn để hỗ trợ và luôn nhớ có thể bạn phải tất tả đi lại để tìm được góc ảnh đẹp. Không có cách nào khác, bạn buộc phải chấp nhận thử thách, hoà mình vào thiên nhiên để có được tác phẩm ưng ý.

4. Sử dụng Kính lọc phân cực (Polarized filter)

Hầu hết các thợ ảnh chụp cảnh thiên nhiên đều có trong túi đựng phụ kiện các bộ kính lọc. Loại thiết bị này có thể dùng vào nhiều mục đích nhưng khi chụp cảnh thiên nhiên, bộ kính lọc phân cực có hai tác dụng chính là giảm độ phản chiếu và ánh sáng chói từ cảnh nền, đồng thời làm cho tông màu thêm đậm sắc, độ tương phản cao hơn. Bạn cũng có thể sử dụng tới hiệu ứng làm màu xanh thêm tươi hơn, khi chụp cảnh bầu trời hoặc biển.

 

Kính lọc phân cực giúp tăng chất lượng ảnh – Nguồn Internet.

 

5. Độ sâu của trường ảnh

Các thợ ảnh thường rất hài lòng khi chụp được bức ảnh quang cảnh có điểm nhấn. Đây là tiền cảnh tạo được sự chú ý xuyên suốt hậu cảnh, chẳng hạn giữa mặt hồ dài rộng có phiến đá nhô lên. Để có được bức ảnh kiểu này, bạn chỉ cần nắm được và áp dụng quy tắc độ sâu của trường ảnh (DOF), bằng cách sử dụng độ mở ống kính phù hợp. Chẳng hạn sử dụng độ mở thấp, như mức f/22, bạn sẽ lấy được cảnh trước và ngoài điểm nhấn.

Khi bạn chụp với độ mở ống kính lớn thì hậu cảnh sẽ mờ, điểm nhấn ảnh phía trước sẽ rõ. Ngược lại, sử dụng chế độ chụp với độ mở ống kính nhỏ, cảnh phía sau sẽ rõ hơn. Bạn nên có sẵn tripod (chân) để dễ dàng điều chỉnh thông số máy và chụp ảnh.

 

Không gian ảnh có chiều sâu nhờ vào việc tối ưu DOF – Nguồn Flickr.

 

6. Sử dụng kính ND Grads cân bằng ánh sáng

Một trong số những trở ngại đáng kể với các nhiếp ảnh gia chụp ngoại cảnh là sự khác biệt về ánh sáng giữa giữa bầu trời và mặt đất. Trong khi bình thường, mắt người có khả năng cảm nhận được một cách cụ thể sự khác biệt này thì cảm biến của máy chụp ảnh không thể ghi nhận được. Đó cũng là lí do mà các nhà sản xuất đã tạo ra bộ lọc quang ND Grands, rất hữu ích khi chụp cảnh thiên nhiên. Kính lọc ND có màu xám, hỗ trợ giảm ánh sáng vào cảm biến mà không làm đổi màu ảnh khi chụp. Nó còn giúp người chụp cân bằng độ phơi sáng giữa bầu trời và mặt đất, khi điều hoà ánh sáng giữa các vùng tối và sáng.

Bạn có thể sử dụng giải pháp thay thế bằng phần mềm xử lý hậu kì, nhằm cân bằng ánh sáng giữa các điểm, vùng ảnh đã chụp.

7. Tác phẩm nghệ thuật ở khắp mọi nơi

Bạn nên lưu ý, đôi khi, một bức ảnh phong cảnh đẹp lại không phải là cảnh gì hùng vĩ, thiên nhiên hoang dại lộng lẫy, trong những khoảnh khắc ánh sáng tràn ngập, đẹp nhất. Thực tế là, có những khoảnh khắc thời gian, trời đất đặc biệt mà bạn có thể may mắn ghi hình được cảnh đẹp, như khi trời mưa giông, hay những hoang mạc ngoại ô xa tít tắp…

Đừng bận tâm phải đến những nơi kì vĩ, xa ngái…Ngay ở nơi bạn đang sống, bên ngôi nhà quen thuộc, hoặc đâu đó quanh quẩn xa phố phường một chút, những tác phẩm nghệ thuật vẫn đợi bạn khám phá.

 

Các tác phẩm nghệ thuật ảnh ở khắp nơi và các quy tắc chụp ảnh luôn quan trọng nhưng bạn “đừng sợ phải phá bỏ các quy tắc sách vở cứng nhắc cũng như cách bố cục thông thường” –  Nguồn Flickr.

 

8. Định dạng tối ưu RAW

Để có được chất lượng ảnh tốt nhất và cho phép bạn chỉnh sửa về sau mà không làm ảnh hưởng tới ảnh gốc, bạn hãy luôn sử dụng định dạng RAW để lưu hình. Một số phần mềm xử lý ảnh RAW như Adobe Camera RAW hay Lightroom hiện có thể đáp ứng mọi nhu cầu chỉnh sửa hậu kì với các tập tin RAW.

9. Thời gian phơi sáng chậm

Các thợ ảnh chụp quang cảnh thường sử dụng khoảng thời gian phơi sáng chậm. Phương án ghi hình này sẽ tối ưu độ sâu trường ảnh với độ mở nhỏ và mang đến những hiệu ứng đặc biệt. Thời gian phơi sáng có thể chỉ trong giây lát , do đó bạn cần phải có một chiếc tripod (chân) cứng cáp. Để hạn chế tối đa tình trạng camera di chuyển khi chụp, trong thời gian phơi sáng, bạn có thể dùng dây cáp điều khiển hoặc đặt thời gian để máy tự chụp.

10. Tìm cảm hứng từ các nhiếp ảnh gia

Bạn có thể tham khảo tác phẩm của các nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp, tham gia vào diễn đàn về ảnh để tham khảo các kĩ thuật chụp ảnh, mẹo ghi hình, tạo cảm hứng để bạn tiếp tục theo đuổi những tác phẩm để đời của riêng mình.

NHẬT VƯƠNG tổng hợp

Bản đồ Trung Quốc 1904 không có Hoàng Sa, Trường Sa

TT – Bản đồ “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” (Địa dư toàn đồ tới các tỉnh của TQ được thực hiện dưới thời nhà Thanh) xuất bản năm 1904 ghi rõ cực nam TQ là đảo Hải Nam, không hề bao gồm Hoàng Sa, Trường Sa.

 

Dòng chữ Hán này đọc từ phải sang có nghĩa: Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ

 

 

Tiến sĩ Mai Hồng chỉ vào tấm toàn đồ Trung Quốc, dừng lại ở cực nam Trung Quốc là đảo Hải Nam. Không hề có Hoàng Sa, Trường Sa trong tấm bản đồ quý và chính thống này – Ảnh: Việt Dũng

 

Hơn 30 năm giữ trong tay tấm bản đồ quý, sau khi tra cứu, dịch lại nội dung in trên bản đồ, tiến sĩ Mai Hồng, nguyên trưởng phòng tư liệu thư viện – Viện Hán Nôm, quyết định chia sẻ bằng cứ lịch sử mình có.

* Ông có thể cho biết tấm bản đồ này đã tới tay ông như thế nào?

– Tôi có được bản đồ từ những năm 1977-1978, trong thời gian làm công tác quản lý một kho sách Hán Nôm. Thời gian đó, việc sưu tầm các tài liệu về bản đồ không thuộc chức năng bảo quản của nơi tôi công tác (giờ là Viện Hán Nôm). Không hiểu xui khiến thế nào, hôm ấy một cụ già chuyên bán sách cho cơ quan tên là Nguyễn Văn Cồng (Phú Xuyên) giới thiệu tấm bản đồ này và khuyên tôi nên mua nó. Tôi giấu gia đình trích hơn một tháng lương ra mua bản đồ về.

* Được biết đây là một tấm bản đồ quý, được làm một cách công phu và dài hơi…

– Đúng vậy, “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” của NXB Thượng Hải in năm 1904 có chất liệu bằng giấy, được in màu, có bìa cứng ở ngoài, gấp gọn lại như một cuốn sách. Bên trong là hơn 35 miếng ghép dán trên nền vải bố (cũng may nhờ chất liệu này nên bản đồ vẫn còn giữ được nguyên dạng sau một khoảng thời gian dài), kích cỡ mỗi miếng ghép khoảng 20x30cm. Do đọc được chữ Hán, sau khi có bản đồ, tôi dịch nghĩa lại khoảng 600 chữ cổ đã giải thích một cách rõ ràng xuất xứ, niên hiệu, thời gian thực hiện bản đồ.

Theo đó, đây là một công trình tiếp thu phông tư liệu từ đời Tần, đời Hán, rồi được viết liên tục trong gần hai thế kỷ (1708-1904), từ thời vua Khang Hi đến thời vua Quang Tự, một tấm bản đồ được đích thân các hoàng đế nhà Thanh huy động lực lượng giáo sĩ, những người tài giỏi về thiên văn và toán pháp điền dã thực hiện.

Cụ thể hơn, năm Mậu Tý Khang Hi 47 (1708), vua Khang Hi tuyển các giáo sĩ phương Tây như Bạch Tấn Lôi Hiếu, Tư Đỗ Đức Mỹ, ban đầu với mục đích chế tác Vạn lý thành đồ. Vào năm 1711, vua sai các giáo sĩ đi tới khắp 13 tỉnh đo đạc đất đai. Từ đấy, trong gần 200 năm, các nhân sĩ Trung Hoa và phương Tây sưu tập khảo cứu các dư đồ Trung Quốc, gia cố bồi tập thêm từ các nguyên cảo của các giáo sĩ đã soạn thảo trước đây. Có những vị giáo sĩ phương Tây rất uy tín đã giúp vua Khang Hi nhà Thanh lập bản đồ có thể kể tên như: Lợi Mã Đậu (Matteo Bicci), Thang Nhược Vọng (Joannes Adam Schall Von Bell.), Nam Hoài Nhân (Ferdinandus Verbiest)…

Năm 1904, NXB Thượng Hải chính thức xuất bản tấm bản đồ Địa dư toàn đồ tới các tỉnh của triều đình nhà Thanh với lời giới thiệu của Sái Thượng Chất, chủ biện (tương đương với giám đốc bây giờ) đài thiên văn ở Dư Sơn.

 

Giao lại bản đồ cho Bảo tàng Lịch sử quốc gia

Ngày 4-7, tiến sĩ Mai Hồng đã chủ động liên hệ, giao lại bản đồ cho Bảo tàng Lịch sử quốc gia bảo quản và trưng bày. Thông tin từ bảo tàng cho biết khi tiếp nhận, đây là một bản đồ nguyên vẹn, chiều ngang 115cm, chiều dọc 140cm. Bảo tàng đang làm các thủ tục bảo quản sơ bộ, hoàn thiện hồ sơ, làm thủ tục nhập kho (đăng ký giá trị pháp lý hiện vật) trước khi trưng bày. Buổi lễ tiếp nhận bản đồ sẽ được tổ chức tại Hà Nội vào sáng 24-7 với sự tham gia của một số nhà sử học.

 

Tiến sĩ Mai Hồng đã cất giữ tấm bản đồ quý chứng minh các quần đảo biển Đông không phải của Trung Quốc – Ảnh: Việt Dũng

 

 

* Những cứ liệu lịch sử hữu ích có từ tấm bản đồ này là gì, thưa ông?

– Trong tấm bản đồ này, chủ biện Sái Thượng Chất có lý lẽ rất khiêm tốn, đánh giá cao thành quả của các giáo sĩ phương Tây, những người vốn đi trước Trung Hoa về thiên văn và toán pháp. Chủ sự bản đồ cũng ghi nhận nhìn vào bản đồ “rõ ràng như trong lòng bàn tay”, đặc biệt “tại các cửa biển ở các miền duyên hải đều phỏng họa các đường thủy tàu thuyền ra khơi vào cảng”, trong đó không hề xuất hiện hình in, vẽ, tính toán, đo đạc tới các quần đảo ở biển Đông. Chính họ tự nhận đất đai mình tới cực nam Trung Quốc chỉ tính đến đảo Hải Nam.

* Ông suy nghĩ gì khi quyết định công bố tài liệu này?

– Theo tôi, tấm bản đồ gốc này cung cấp một số thông tin rất tốt cho việc tranh biện trên bàn quốc tế, một bằng cứ đến từ chính Trung Quốc sẽ tránh cho chúng ta việc bị lấn át. Đây cũng có thể là một tài liệu tốt để các học giả nghiên cứu chủ quyền biển đảo trong nước sử dụng.

NGA LINH thực hiện

 

 

Đại Nam nhất thống toàn đồ (bản đồ Việt Nam vẽ năm 1834) đã có Hoàng Sa, Vạn lý Trường Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam – Nguồn: NXB Bản Đồ

Địa đồ chính thống, giá trị cao 

Bức “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” này thuộc nhóm địa đồ độc lập in thành bức rời với kích thước khá lớn (115 x 140 cm), trong lịch sử hai triều Minh – Thanh của Trung Quốc, nhóm địa đồ in rời kích thước lớn loại này có gần 60 bức.

Về kỹ thuật trắc địa, “Hoàng triều trực tỉnh địa dư toàn đồ” ứng dụng kỹ thuật phương Tây với hệ kinh vĩ độ khá chuẩn xác, gần giống như các bản đồ ngày nay. Đây là địa đồ được thực hiện bởi quan chức chuyên môn ở đài thiên văn – một cơ quan nhà nước của triều Thanh. Vì vậy, có thể nói bức địa đồ này mang tính chính thống. Là loại địa đồ hành chính, bức địa đồ này có tầm quan trọng ngang với Đại Thanh đế quốc toàn đồ 1905 và có giá trị cao hơn bức địa đồ chuyên ngành bưu chính có trước đó là Đại Thanh bưu chính công thự bị dụng dư đồ (1903, Trung – Anh văn đối chiếu).

PHẠM HOÀNG QUÂN (nhà nghiên cứu Hán Nôm)

Dấu tích về chủ quyền Hoàng Sa của Việt Nam ở Lý Sơn

Bảo tàng Lý Sơn, Quảng Ngãi, đang lưu giữ nhiều hình ảnh, bản đồ từ thế kỷ thứ 16 đến 19, khẳng định chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa.

 
 Hiện tại bảo tàng Hoàng Sa (Lý Sơn, Quảng Ngãi) còn lưu giữ nhiều tài liệu quý về Hoàng Sa.
 
 Những bài báo và bản đồ chính trị (từ thời Việt Nam Cộng Hòa 1954 – 1975) nêu rõ quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam.
 
 Những dòng chữ được ghi trong Đại Nam Thực Lực Chính Biên (năm 1848) và Quảng Ngãi Tỉnh Chí (năm 1933) ghi chép về quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam.
 
 Những dấu tích, bản đồ, sắc phong còn được giữ nguyên vẹn tại bảo tàng.
 
 Dụng cụ trã đất nấu ăn của binh phu Hoàng Sa khi đi ra đảo.
 
 Những vật chứng của ngư dân và đội lính có mặt tại Hoàng Sa từ thời nhà Nguyễn.
Bia chủ quyền Việt Nam ở Hoàng San năm 1930.
Bản đồ phía Đông Ấn Độ và những vùng lân cận, xác định quần đảo Hoàng Sa thuộc lãnh thổ Việt Nam, bản đồ xuất bản tại London, Anh năm 1956.
Bản đồ Nam Việt ghi rõ, Hoàng Sa và Vạn lý Trường Sa trong sách Đại Nam Thống Nhất Toàn Đồ do quốc sử quán triều Nguyễn ấn hành thế kỷ 19.
 
 Bản dịch tài liệu châu bản của Tống Lý đại thần ngày 15/12 niên hiệu Bảo Đại thứ 15 (1939) về việc xin truy thưởng Tú hạng long tinh cho cai đội Hoàng Sa người Pháp M.Fontan.
 Bản đồ Việt Nam do người Hà Lan vẽ năm 1594, hiện đang lưu giữ tại Amsterdam (Hà Lan). Khi đó Hoàng Sa, Trường Sa đã là của Việt Nam.
Một góc đảo Đá Lát, quần đảo Trường Sa, tỉnh Khánh Hòa năm 2009.
Hải đăng Việt Nam trên quần đảo Trường Sa trước năm 1945.
 Cơ sở hành chính trên đảo Hoàng Sa trước năm 1945.
Ông Nguyên Giáo, nhân viên ty khí tượng Hoàng Sa, trước năm 1974 đang đo nhiệt độ, độ ẩm tại lều máy trạm khí tượng Hoàng Sa.
 
 Văn tế trong lễ khao lế thế lính Trường Sa năm Tự Đức thứ 20, Đinh Mão 1867.
 
 Bài vị các tướng quân, binh sĩ hy sinh tại Hoàng Sa.
 Thuyền nhỏ được đội quân Hoàng Sa kiêm Bắc Hải ra Hoàng Sa để bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ biển đảo.
Cho đến nay, lớp lớp người dân Lý Sơn vẫn tự hào về quá khứ hào hùng của cha ông. Các em nhỏ luôn được nhắc nhở về Hoàng Sa như một phần máu thịt của đất nước.

THÁI AN

theo infonet

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – Kỳ 9: Tư liệu khách quan thừa nhận chủ quyền Việt Nam

Để giải quyết cuộc tranh luận dai dẳng xung quanh danh nghĩa lịch sử, cách tốt nhất là nên tham khảo ý kiến bên thứ ba.

>> Kỳ 8: Đi đến luận cứ chắc chắn

Người phương Tây đã từng nói về sự quy thuộc của quần đảo Paracel vào An Nam. Các nhà truyền đạo Pháp trên tàu Amphitrite trên đường sang TQ đã ghi trong một bài tiếng Pháp năm 1701: “Paracel là một quần đảo thuộc Vương quốc An Nam. Đó là một bãi đá ngầm khủng khiếp có đến hàng trăm dặm, rất nhiều lần đã xảy ra các tai nạn đắm tàu ở đó” ([1]).

 
Một trong những bản đồ hàng hải của người Bồ Đào Nha thế kỷ XVI. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa được gộp làm một với tên “Paracel” vẽ ở biển Đông cách xa các đảo ven bờ biển miền Trung Việt Nam – Ảnh: tư liệu

Jean-Louis Taberd ghi nhận:

“Pracel hoặc Paracels (Bãi cát vàng), mặc dù quần đảo này không có gì ngoài các đá, bãi và độ sâu lớn hứa hẹn nhiều bất tiện lợi hơn, Vua Gia Long đã nghĩ tới việc mở rộng lãnh thổ của ngài bằng cách chiếm thêm vùng đất buồn bã này. Năm 1816, ngài đã tới đây long trọng cắm cờ, chính thức chiếm hữu các đảo đá này, mà không một ai tranh giành gì với ngài cả”([2]).

Về phần mình, J.B.Chaigneau, cố vấn của nhà vua An Nam, đã viết trong cuốn hồi ký về nước Cochinchine:

“Nước Cochinchine mà nhà vua bấy giờ đã lên ngôi Hoàng đế gồm xứ Cochinchine và xứ Đông Kinh… một vài đảo có dân cư không xa biển và quần đảo

Paracel do những đảo nhỏ, ghềnh và đá không có dân cư hợp thành. Chỉ tới năm 1816, Hoàng đế mới chiếm hữu quần đảo này”([3]).

Dubois de Jancigny trong Thế giới, lịch sử và mô tả các dân tộc Nhật, Đông Dương, Ceylan có viết: “Chúng tôi quan sát thấy rằng từ ba mươi tư năm nay, quần đảo Paracel (người An Nam gọi là Cát vàng), một ma hồn trận thật sự của các đảo nhỏ, các đá và các bãi cát đầy ngờ vực của các nhà hàng hải và có thể được coi là hoang dã và vô tích sự nhất trong số các điểm của quả địa cầu, đã được người An Nam (Cochinchine) chiếm hữu. Chúng tôi không để ý liệu họ có tạo nên một công trình nào trên đó không (nhằm mục đích, có thể, bảo vệ nghề cá); nhưng chắc chắn rằng Vua Gia Long đã gắn thêm vòng hoa này vào vương miện của người, bởi vì ngài đã thân chinh tới đó chiếm hữu, việc này xảy ra vào năm 1816 khi ngài long trọng kéo cờ của An Nam lên đó”([4]).

Gutzlaff trong bài Địa lý Vương quốc Cochinchine xuất bản năm 1849 tại London (Anh) cũng ghi Cát Vàng (để chỉ Paracel) thuộc Cochinchine. Gutzlaff viết:

“Không biết vì san hô hay vì lẽ khác mà các ghềnh đá ấy lớn dần, nhưng rõ ràng nhận thấy các đảo nhỏ ấy càng năm càng cao, và một vài cái bây giờ đã có người ở thường xuyên, thế mà chỉ mấy năm trước sóng đã vỗ dập qua. Những đảo ấy đáng lẽ không giá trị nếu nghề chài ở đó không phồn thịnh và không biết bù hết mọi nguy nan cho kẻ phiêu lưu. Từ lâu đời, những thuyền phần lớn từ đảo Hải Nam tới, đã hằng năm đến thăm các bãi nổi này và tiến hành cuộc viễn du xa xa tới tận bờ đảo Borneo. Tuy rằng hằng năm hơn phần mười bị đắm, nhưng cá đánh được rất nhiều, đến nỗi không những bù hết được mọi thiệt thòi, mà còn để lại món lợi rất to. Chính phủ An Nam thấy những lợi có thể mang lại nếu một ngạch thuế được đặt ra, bèn lập ra những trưng thuyền và một trại quân nhỏ ở chỗ này để thu thuế mà mọi người ngoài tới đây đều phải trả, và để bảo trợ người đánh cá bản quốc” ([5]).

Trong Địa lý tóm tắt của Ý (Compendio di Geografia) do Adriano Balbi soạn năm 1850, trang 641 mô tả về địa lý Vương quốc An Nam có ghi: Cũng thuộc vương quốc này còn có quần đảo Paracel, nhóm đảo Pirati và nhóm đảo Poulo Condor (tức Hoàng Sa, nhóm đảo Hải Tặc và Côn Đảo). Cũng trong tác phẩm này tr.644-648 về địa lý Trung Hoa không viết gì về Hoàng Sa và Trường Sa.

Ngay cả các sách TQ cũng công nhận việc quy thuộc các đảo này vào An Nam. Chúng ta có thể đọc được điều đó trong phần tựa cuốn Hải Lục năm 1842 trong đó Vương Bính Nam đã so sánh các điều mắt thấy tai nghe do Tạ Thanh Cao, một thủy thủ TQ từng đi nhiều nước nhiều vùng về kể lại:

“Vạn lý Trường Sa là đất nổi giữa biển, dài vài ngàn dặm, là phên giậu của An Nam”.

Hải ngoại ký sự của Thích Đại Sán (người TQ) năm 1696 ([6]) quyển III đoạn thuật lại chuyến đi về Quảng Đông bắt đầu đi từ Quảng Nam viết: “…bãi cát rộng cả trăm dặm, chiều dài thăm thẳm chẳng biết bao nhiêu mà kể, gọi là “Vạn lý Trường Sa”, mù tít chẳng thấy cỏ cây nhà cửa; nếu thuyền bị trái gió trái nước tấp vào dầu không tan nát cũng không gạo, không nước, trở thành ma đói mà thôi. Quãng ấy cách Đại Việt bảy ngày đường, chừng bảy trăm dặm ([7]). Các quốc vương thời trước, hằng năm sai thuyền đi đánh cá đi dọc theo bãi cát, lượm vàng bạc khí cụ của các tàu thuyền hư hỏng dạt vào”. Đoạn văn mô tả này đã xác nhận việc hành xử chủ quyền của thời Chúa Nguyễn qua hoạt động thu lượm hóa vật của Đội Hoàng Sa.

Các mô tả về Paracel từ các nguồn nước ngoài chứng tỏ Hoàng Sa không phải là các đảo ven bờ biển Trung VN. Trong khi có khá nhiều nguồn tài liệu trung gian chứng minh sự chiếm hữu Paracels của các Chúa và Vua Nguyễn, không có một nguồn tư liệu nước ngoài nào chỉ rõ sự chiếm hữu các đảo này của TQ.

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Trích dẫn theo P.B Lafont, Sđd, tr.248.

[2] J.L Taberd, Ghi chép về địa lý Nam Kỳ trong the Journal of Bengal, Calcutta, serie VI, September 1837, tr.737 – 745.

[3] Tập san của người bạn cũ của Huế, số 2,1923, tr.257.

[4] M.A Dubois de Jancigny, Thế giới, lịch sử và mô tả các dân tộc Nhật, Đông Dương, Xeylan, Paris éd, Firmin Didot Freres, 1850, tr. 555.

[5] Journal of the Geographical Society of London (Tạp chí Hội Địa lý London), quyển 19 (1849), London, John Murray, 1849, tr. 93-94.

[6] Hải ngoại ký sự là ghi chép chuyến đi của tác giả Đại Sán Hán Ông, tên là Thạch Liêm từ chùa Trường Thọ tỉnh Quảng Đông đến vùng Thuận Quảng nước Đại Việt vào năm Ất Hợi triều Vua Khang Hy (1695) và trở về Trung Quốc vào năm sau (1696). Sách nguyên bản chữ Hán gồm 6 quyển đã được Viện Đại học Huế dịch trọn bộ ra Quốc ngữ năm 1963. Sau này người TQ đã dựng nên một chiến dịch nói xấu tác giả, chứng minh ông là người không bình thường, là kẻ điên để giảm bớt tính chân thực của tác phẩm. Nguyễn Quang Ngọc, Sđd, tr. 43.

[7] Phạm Hoàng Quân cho rằng ở đây có lỗi dịch Hán-Nôm, thất canh lộ không phải là 7 ngày đêm, canh ở đây là đơn vị chiều dài. Tuy nhiên ông cũng công nhận một canh khoảng trăm dặm. Như vậy về khoảng cách Hải ngoại ký sự mô tả khá chính xác khoảng cách từ bờ đến quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Cách dịch đúng được đề xuất là: “Quãng ấy cách Đại Việt bảy canh đường, chừng bảy trăm dặm”.

>> Kỳ 10: Ý chí khẳng định chủ quyền Việt Nam