Tag Archive: giá cao


Lợi dụng tự do ngôn luận để chống phá là không thể chấp nhận

(VOV) -Hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận để vi phạm pháp luật, không chỉ Việt Nam mà bất kỳ quốc gia nào cũng không thể chấp nhận.
Gần đây, một số cơ quan, tổ chức nước ngoài đua nhau lên án việc Việt Nam xét xử 3 blogger Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần với luận điệu rằng bản án này “quá nặng” và “không nhất quán” với một số thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Đây là những cáo buộc không chính xác khi mà quyền tự do ngôn luận được ba blogger này lợi dụng nhằm chống phá nhà nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Trước hết phải khẳng định rằng, quyền tự do ngôn luận được pháp luật Việt Nam công nhận và được ghi tại Điều 69 của Hiếp pháp.
Trên thực tế, quyền này được đảm bảo và thực thi ở Việt Nam. Nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế và nhân dân trên thế giới ghi nhận và đánh giá cao thành tựu của Việt Nam trong việc thực hiện quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí. Chính vì vậy, những cáo buộc về việc Việt Nam không đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, đặc biệt là trong vụ xét xử 3 blogger là không có căn cứ.
Điều 19 Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền khẳng định: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm… và bày tỏ qua mọi phương tiện truyền thông”.
Tuy nhiên, cũng trong chính văn bản này, tại Điều 29 cũng khẳng định rõ rằng “trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người phải chịu những hạn chế do luật định… nhằm thỏa mãn… những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng và nền an sinh chung”.
Như vậy rõ ràng, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là bị giới hạn bởi các quy định của luật pháp.
Đối chiếu vào trường hợp ba blogger Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần thì rõ ràng là ba đối tượng này đã lợi dụng quyền tự do ngôn luận, chính sách phát triển công nghệ thông tin và việc tạo điều kiện để người dân được bày tỏ quan điểm cũng như tiếp cận thông tin một cách đa dạng của nhà nước Việt Nam.
Ba blogger này còn thể hiện rõ sự thiếu thiện chí trước chính sách tích cực và cởi mở của Nhà nước.
Mới đây, phản ứng trước bộ phim của một người Mỹ nhạo báng Đạo Hồi, Tổng thư ký LHQ Ban Ki moon đã chỉ rõ rằng: Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí chỉ được bảo vệ khi nó được dùng vào các mục đích công lý và phục vụ cộng đồng. Còn các bằng chứng về hành vi của ba blogger này đã cho thấy họ đã xuyên tạc, châm biếm nhằm chống lại các cá nhân và cơ quan, tổ chức của Việt Nam. Do đó, các hành vi này đáng bị lên án.
Hàng trăm trang tài liệu có nội dung tuyên truyền chống nhà nước Việt Nam đã được ba đối tượng này phát tán trên mạng.
Hành vi này rõ ràng là đã vi phạm pháp luật của Việt Nam mà cụ thể là Điều 88 của Bộ Luật hình sự.
Trên cơ sở đó, việc đưa ba blogger này ra xét xử là hoàn toàn dựa trên căn cứ của pháp luật. Quá trình điều tra, xét xử ba blogger này cũng được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục của pháp luật Việt Nam. Vì thế việc cho rằng bản án “quá nặng” là cáo buộc không có cơ sở, không dựa trên căn cứ pháp luật.
Cũng giống nhiều quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam công nhận và đảm bảo việc thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Những hành vi lợi dụng các quyền này mà vi phạm pháp luật thì không chỉ Việt Nam mà bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều không thể chấp nhận.
Điều 18 Hiến pháp CHLB Đức ghi rõ: “Ai lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, đặc biệt là tự do báo chí, tự do tuyên truyền… làm công cụ chống lại trật tự của xã hội tự do dân chủ sẽ bị tước bỏ quyền công dân”.
Chính vì vậy, việc Việt Nam xét xử 3 blogger Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần là hoàn toàn phù hợp với pháp luật Việt Nam, tập quán cũng như các quy định quốc tế.
Việc phản đối vụ xét xử này là sự cố tình can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, can thiệp vào quá trình tư pháp vốn dĩ cần phải được tôn trọng và tiến hành một cách độc lập. Vì thế, các hành động này không được hoan nghênh./.

Theo Việt Nga/VOV1/http://vov.vn/Binh-luan/Loi-dung-tu-do-ngon-luan-de-chong-pha-la-khong-the-chap-nhan/228536.vov

Kiểu mua bán quái đản của Trung Quốc

Cách đây hơn 10 năm, phong trào “giết trâu lấy móng” diễn ra rầm rộ vì lúc bấy giờ giá của bốn cái móng bằng giá… của cả một con trâu khi bán cho thương lái Trung Quốc. Tuy nhiên, việc mua bán bất thường đó vẫn tiếp diễn với đủ các mặt hàng từ tăm tre, gỗ sưa, đỉa…

Đầu tháng 9, hàng loạt người dân tại huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn bất ngờ đổ xô lên rừng đào rễ cây sim về bán “giá cao” và người mua không ai khác chính là thương lái Trung Quốc. Ban đầu chỉ những người thường xuyên đi rừng tiện thì đào về, còn hiện nay việc đào rễ sim đã trở thành “phong trào”.

Hiện nay, thương lái Trung Quốc đang mua rễ sim với mức giá “khá hời” là 2.500đ/kg. Với mức giá đó cộng với “năng suất” đạt gần 100kg/ngày, nhiều người dân có thể bỏ túi gần 250.000đ/ngày mà không tốn quá nhiều sức.

Bị hấp dẫn bởi công việc “làm chơi – ăn thật”, việc càng có nhiều người dân tham gia đào rễ cây sim là điều dễ hiểu. Ước tính mỗi ngày thương lái Trung Quốc “gom” hàng chục tấn rễ sim.

Theo kỹ sư Hoàng Lê Minh (Công ty CP Giống lâm nghiệp vùng Đông Bắc), để có một cây sim trưởng thành phải mất trên 10 năm, vậy mà trong vòng một tháng, hàng vạn cây sim bị tận diệt. Chưa dừng ở đó, việc đua nhau đào rễ cây sim còn gây thiệt hại môi trường sinh thái cho cả một vùng.

Ông Lương Văn Lượng, Phó bí thư Đảng ủy xã Tĩnh Bắc, cho biết: “Do cái lợi trước mắt, nhiều nhà huy động con cháu tham gia lên đồi đào rễ sim làm tan hoang núi đồi, để lại những, đổ ngã kèm theo đó là các hố sâu chi chít, nối dài đến tận biên giới”.

Cửa khẩu Móng Cái
Việc phá hủy các rừng sim trên diện rộng còn dẫn đến tình trạng xói mòn đất, giảm khả năng ngăn nước từ thượng nguồn đổ về, làm tăng nguy cơ xảy ra lũ quét. Ngoài ra, còn ảnh hưởng gián tiếp đến các hoạt động kinh tế – xã hội, môi trường, an ninh, trật tự.

Ngoài tác dụng giữ đất, chống xói mòn, và giữ nguồn nước, cây sim còn có giá trị rất lớn về y học. Sim là một loại dược liệu quý, rễ, lá, quả, đều chữa được các bệnh viêm dạ dày, viêm gan, phong thấp, đau khớp.

Cửa khẩu Tân Thanh
Trong khi đó, thương lái Trung Quốc chỉ thu mua rễ cây sim, còn thân, quả và lá thì bỏ. Đáng nói hơn, việc mua rễ sim nhắc Việt Nam về bài học “tăm tre” Trung Quốc.

Năm 2010, thương lái Trung Quốc thu mua hàng ngàn tấn tre Việt Nam để làm “tăm tre giá rẻ” rồi xuất khẩu sang Việt Nam. Thế nên, chưa ai biết trước được liệu rễ sim sẽ được thương lái Trung Quốc thu mua như nguồn nguyên liệu, rồi xuất khẩu “thảo dược từ rễ sim vào lại Việt Nam?

Việc thu mua rễ sim chỉ là một mắt xích nhỏ trong chuỗi thương mại “bất thường” của thương lái Trung Quốc như: mua mèo, móng trâu, râu ngô, hay gần đây nhất là vụ mua đỉa với một số lượng lớn, giá cao. Điểm chung từ các thương vụ này là thương lái Trung Quốc dùng giá “trên trời”, thậm chí mua những sản phẩm mà không ai nghĩ có thể bán được.

Kích thích đúng “điểm yếu” của người dân là giá cả, thương lái Trung Quốc vận động được nguồn cung “khổng lồ” từ làn sóng người khai thác ngày càng cao. Khi lượng cung ồ ạt chuyển về thì thương lái Trung Quốc đồng loạt bỏ về nước, để lại hậu quả về bất ổn kinh tế, xã hội mà chỉ người dân Việt Nam gánh.

Việc các thương lái Trung Quốc tung hoành tại các tỉnh phía Đông Bắc cho thấy rõ sự yếu kém trong công tác quản lý lao động nước ngoài tại Việt Nam.

Theo Mục a, Khoản 1, Điều 9 của Nghị định 34 Chính phủ quy định về tuyển dụng và quản lý người nước ngoài làm việc tại Việt Nam: “Người nước ngoài làm việc tại Việt Nam với thời hạn dưới 3 (ba) tháng thì không cần giấy phép”.

Đối chiếu thực tại, những chiêu trò thương lái Trung Quốc tung ra chỉ trong “tích tắc” và 3 tháng đã là quá đủ. Thế nên khâu quản lý đầu vào các thương lái Trung Quốc cần phải xử lý mạnh tay.

 

(Theo Doanh nhân Sài Gòn)

http://vietnamnet.vn/vn/kinh-te/92909/kieu-mua-ban-quai-dan-cua-trung-quoc.html

Trung Quốc rất giỏi trong việc xâm chiếm bằng cách làm đường. Làm đường đến đâu xâm chiếm đến đấy, di dân đến đấy. Họ mưu tính làm một con đường suốt từ Vân Nam đi dọc Lào xuống tới tận Tây Nguyên, mà ở đoạn cuối Tây Nguyên thì Campuchia và Lào cho họ thuê đất tới 55 năm. Như vậy cả khu vực sẽ gần như là đất của họ…

Con đường bành trướng xuống phía nam của Trung Quốc được thực hiện cả trên bộ lẫn trên biển. Nếu quá bị cuốn vào chuyện biển Đông, chúng ta có thể rơi vào bẫy của Trung Quốc.

“Cần phải nhìn nhận quá trình nam tiến của Trung Quốc một cách toàn diện, trong đó không chỉ có khu vực biển Đông và hình thức xung đột quân sự. Đó còn là quá trình diễn ra trên đất liền với những hình thức chiến tranh kinh tế, chiến tranh tiền tệ, chiến tranh mạng, là bành trướng văn hóa, là áp lực chính trị, là quá trình di dân…” – Đại tá Quách Hải Lượng, nguyên Tùy viên quân sự Đại sứ quán Việt Nam tại Bắc Kinh, nhận định.

Phân tích vị trí địa lý của Trung Quốc, ông Quách Hải Lượng không đánh giá cao cơ hội của Trung Quốc ở phía bắc (giáp với Nga), phía đông (bị Nhật Bản, Hàn Quốc án ngữ, mà đó là những đồng minh thân cận của Mỹ) và phía tây (giáp vùng Trung Á, vốn bất ổn với sự cạnh tranh của nhiều cường quốc). Hướng mở rộng của Trung Quốc gần như chỉ có một.

Nhận định này cũng trùng với ý kiến của TS chính trị học Đinh Hoàng Thắng. Trong một cuộc trao đổi với Pháp Luật TP.HCM, ông Thắng nói: “Phải thấy là Trung Quốc chỉ còn phía nam để phát triển xuống. Thế kỷ 21 là thế kỷ của đại dương, nếu chỉ dừng chân trong lục địa Trung Hoa thì không được, mà các ngả khác thì bị chặn hết rồi”.

Biểu hiện rõ ràng nhất của tư tưởng “nam tiến” có lẽ đã xuất hiện từ thời Chu Ân Lai, Thủ tướng Trung Quốc từ năm 1949 đến năm 1976. Tháng 9-1963, Chu Ân Lai phát biểu trong cuộc gặp gỡ với các đại diện của Đảng Lao động Việt Nam, Đảng Nhân dân Cách mạng Lào và Đảng Cộng sản Indonesia tại Quảng Đông: “Nước chúng tôi thì lớn nhưng không có đường ra, cho nên rất mong Đảng Lao động Việt Nam mở cho một con đường mới xuống Đông Nam châu Á” (Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm, NXB Sự thật, năm 1979).

Đồng tiền đi trước

Hiếm khi nào trong lịch sử sự hiện diện của Trung Quốc ở Đông Nam Á lại mạnh mẽ trên tất cả lĩnh vực như từ một thập kỷ trở lại đây. Việt Nam, Lào, Campuchia và Myanmar, với sự gắn kết chặt chẽ về địa lý và văn hóa với Trung Quốc, với những yếu kém nội tại của mình, là mắt xích yếu nhất dọc biên giới mà người láng giềng phương bắc của họ có thể khai thác. Đồng tiền đi trước, con đường đầu tư kinh tế có lẽ là lối đi nhanh và hiệu quả nhất. Trong một bài viết mới đây, nhà nghiên cứu Trung Quốc Bonnie S. Glaser (Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS, Mỹ) cho biết: “Trong hơn một thập kỷ qua, Trung Quốc đã theo đuổi một chiến lược ở Đông Nam Á với nội dung căn bản là sử dụng “củ cà rốt” kinh tế để làm tăng lợi ích của các nước Đông Nam Á trong việc gìn giữ quan hệ tốt với Trung Quốc”.

Năm 2010, với những khoản đầu tư trị giá 2,9 tỉ USD, Trung Quốc trở thành nhà đầu tư lớn nhất tại Lào và có trong tay khoảng 10.000 km2 đất dự án, tương đương với 4% diện tích của cả nước Lào. Người Trung Quốc kiểm soát phần lớn nền kinh tế Lào, từ khai thác mỏ, thủy điện đến cao su, hay cả ngành bán lẻ và dịch vụ khách sạn.

Tình trạng tương tự cũng xảy ra ở Campuchia: Trong năm năm qua, Campuchia đã nhận được khoảng 2 tỉ USD tiền viện trợ từ Bắc Kinh với những điều kiện hết sức hào phóng.

Tại Myanmar, 8,7 tỉ USD đã được Trung Quốc rót vào các dự án đầu tư trong năm 2010, chưa kể khoản vay không lãi trị giá 4,2 tỉ USD. Tính đến tháng 7-2011, 800 dự án của các nhà đầu tư Trung Quốc cũng đang hoạt động tại Việt Nam với số vốn đăng ký 3,2 tỉ USD, đứng thứ năm trong các nhà đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.

“Làm đường đến đâu xâm chiếm đến đấy”

Đầu tháng 7-2012, lần đầu tiên Hội nghị các ngoại trưởng ASEAN với lịch sử 45 năm không thể đưa ra được thông cáo chung mà lý do là sự bất đồng của nước chủ nhà Campuchia với các nước có liên quan đến tranh chấp trên biển Đông. Nguyên nhân sâu xa này nhanh chóng được lý giải khi ngay sau hội nghị, Bộ Ngoại giao Trung Quốc cảm ơn Campuchia về sự hợp tác chặt chẽ của chủ nhà trong tiến trình hội nghị.

Nhà phân tích Bonnie S. Glaser nhận định: “Việc Trung Quốc gây ảnh hưởng khống chế lên Campuchia không phải điều đáng ngạc nhiên. Bắc Kinh đã cung cấp tới hơn 10 tỉ USD đầu tư trực tiếp cho Campuchia. Chỉ tính riêng trong năm 2011, lượng đầu tư mà Trung Quốc cam kết với Phnom Penh cao gấp 10 lần con số Mỹ cam kết. Sự phụ thuộc của Campuchia vào Trung Quốc, về mặt kinh tế, thể hiện rõ ở Cung điện Hòa Bình – công trình được xây bằng tiền tài trợ của Trung Quốc – là nơi họp hội nghị thượng đỉnh ASEAN vừa qua”.

Tháng 6-2011, thủ tướng Campuchia công khai khẳng định Trung Quốc là nhà đầu tư lớn nhất, đồng thời là nhà tài trợ lớn nhất trong việc giúp đỡ Campuchia xây dựng cơ sở hạ tầng, gồm đường sá, cầu cống… Vấn đề ở đây, theo các nhà phân tích, là các thỏa thuận kinh tế luôn kéo theo những hệ quả chính trị, xã hội, quân sự đã được hoạch định từ trước đó.

Đại tá Quách Hải Lượng nói: “Trung Quốc rất giỏi trong việc xâm chiếm bằng cách làm đường. Làm đường đến đâu xâm chiếm đến đấy, di dân đến đấy. Họ mưu tính làm một con đường suốt từ Vân Nam đi dọc Lào xuống tới tận Tây Nguyên, mà ở đoạn cuối Tây Nguyên thì Campuchia và Lào cho họ thuê đất tới 55 năm. Như vậy cả khu vực sẽ gần như là đất của họ”.

“Đứng về chiến lược quân sự, đó là những con đường cơ động chiến lược và cơ động chiến dịch. Về kinh tế thì có thể khống chế được toàn bộ các hành lang quan trọng của bán đảo Đông Dương. Họ xây dựng cơ sở hạ tầng là nhằm như thế” – ông Lượng giải thích.

Trung Quốc đang nắn dần đường biên giới quốc gia không theo cách thức tấn công quân sự truyền thống mà bằng cách di dân. Số liệu thống kê chưa đầy đủ cho thấy có khoảng 2,5 triệu người Hoa đến Đông Nam Á làm ăn sinh sống trong vòng 30 năm qua. Khoảng 1 triệu người Trung Quốc cũng đã di dân đến Myanmar trong giai đoạn 1995-2005, theo báo cáo của nhà nghiên cứu độc lập Sudha Ramachandran (Ấn Độ) và khoảng 300.000 người Trung Quốc đang sinh sống rải rác khắp nơi ở Campuchia. Đây hầu hết là lao động Trung Quốc tìm cách ở lại khu vực bản địa sau khi hết hợp đồng với các dự án. Họ thậm chí hình thành nên các khu “phố Tàu” như ở Mandalay (Myanmar) hay Viêng Chăn (Lào).

Tại Lào, một doanh nghiệp Trung Quốc đã thuê cả một thị trấn nằm sát biên giới hai nước và biến nơi đây gần như thành khu vực của riêng người Trung Quốc. Thị trấn rộng 21 km2 được đặt tên là Bò Thèn này có ngôn ngữ chính là tiếng Trung, thanh toán bằng nhân dân tệ và sử dụng giờ Bắc Kinh thay vì giờ Viêng Chăn. Hệ thống điện, viễn thông và ngay cả các lực lượng chức năng như công an cũng đều được “kéo” từ Trung Quốc sang. Lực lượng hải quan đã dời từ biên giới Lào-Trung xuống phía nam của thị trấn này. (Trung Quốc tăng cường di dân sang Lào, website nghiencuubiendong.vn, Học viện Ngoại giao, 29-3-2010).

Nói đến sự hiện diện của người Trung Quốc ở các khu Hoa kiều và nhiều khu vực có dự án đầu tư ở Việt Nam, Đại tá Quách Hải Lượng nói: “Nếu chấm trên bản đồ Việt Nam những khu vực có người Trung Quốc sinh sống, chúng ta sẽ có một tấm bản đồ da báo”.

ĐOAN TRANG (BLOGSPOT)

4. Việt Nam và Công ước luật Biển năm 1982 của LHQ

a. Là một quốc gia ven biển, Việt Nam đã tích cực tham gia vào quá trình thương lượng về dự thảo Công ước luật Biển năm 1982. Việt Nam đánh giá cao việc hội nghị lần thứ III của LHQ về luật Biển thông qua Công ước luật Biển năm 1982. Trong quá trình thương lượng tại hội nghị, sự tập hợp lực lượng và sự đấu tranh về nội dung của dự thảo công ước diễn ra từ góc độ các nhóm nước khác nhau: nhóm nước ven biển và nhóm nước không có biển, nhóm nước đang phát triển và nhóm nước phát triển, nhóm nước nghèo và nhóm nước có tiềm lực hải quân hùng mạnh… Lợi ích và quan tâm của các nhóm nước đối với quy chế pháp lý các vùng biển rất khác nhau và nhiều lúc rất mâu thuẫn. Vì vậy, các quy định của Công ước luật Biển năm 1982 không thể thỏa mãn tất cả các yêu sách mà các nhóm nước đặt ra, nhưng về tổng thể đã dung hòa yêu cầu và quan tâm của các nhóm.

Sau khi Công ước luật Biển năm 1982 được thông qua, Việt Nam là một trong những quốc gia đầu tiên ký công ước và ngày 23.6.1994, Quốc hội nước ta đã quyết định phê chuẩn văn kiện pháp lý quan trọng này. Từ khi trở thành thành viên của Công ước luật Biển năm 1982, nước ta đã tích cực tham gia các hoạt động trong khuôn khổ các cơ chế quốc tế theo công ước. Việt Nam đã được bầu làm Phó chủ tịch Đại hội đồng Cơ quan Quyền lực quốc tế về đáy đại dương và thành viên của Hội đồng Cơ quan Quyền lực. Tại các diễn đàn liên quan, Nhà nước ta luôn khẳng định trong hoạt động sử dụng biển các quốc gia phải tuân thủ đúng các quy định trong công ước, thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo công ước. Là một quốc gia ven biển Đông, Nhà nước ta triển khai nhiều hoạt động khai thác các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền của mình để xây dựng và phát triển đất nước. Trong khi tiến hành các hoạt động ở biển Đông, Việt Nam luôn tuân thủ các quy định của công ước, tôn trọng quyền của các quốc gia khác ven biển Đông cũng như các quốc gia khác theo đúng các quy định của công ước. Đồng thời Nhà nước ta cũng yêu cầu các quốc gia ven biển Đông và các quốc gia khác tôn trọng các quyền lợi chính đáng của Việt Nam ở biển Đông. Trong thực tế, có lúc đã xảy ra một số vụ việc xâm hại nghiêm trọng quyền chủ quyền của Việt Nam đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của mình. Nhà nước ta đã kiên quyết đấu tranh ở các cấp qua đường ngoại giao và dư luận cũng như trên thực địa để bảo vệ quyền chủ quyền của Việt Nam đối với thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam.

b.Việt Nam nhận thức rõ ràng rằng trong việc sử dụng biển và áp dụng Công ước luật Biển năm 1982 việc nảy sinh các bất đồng và tranh chấp giữa các quốc gia là điều khó tránh. Cách thức duy nhất để giải quyết những sự khác biệt và các tranh chấp giữa các quốc gia liên quan đến giải thích và thực hiện các quy định của công ước chính là sử dụng các biện pháp hòa bình theo pháp luật quốc tế quy định. Giải quyết các tranh chấp biển bằng các biện pháp hòa bình vừa là nghĩa vụ của các thành viên LHQ theo quy định của Hiến chương và vừa là nghĩa vụ theo Công ước luật Biển năm 1982.

Chính vì vậy, Nghị quyết của Quốc hội nước ta về việc phê chuẩn Công ước luật Biển năm 1982 tuyên bố rõ Nhà nước Việt Nam chủ trương giải quyết các bất đồng liên quan đến biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế, đặc biệt là Công ước luật Biển năm 1982 của LHQ, tôn trọng chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các nước ven biển Đông đối với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa; trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản lâu dài, các bên liên quan cần duy trì hòa bình, ổn định trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.

Với chủ trương nhất quán và xuyên suốt đó, Nhà nước ta đã căn cứ vào các quy định của Công ước luật Biển năm 1982 tiến hành đàm phán với các nước láng giềng về các vấn đề liên quan biển Đông. Thời gian qua ta và một số nước láng giềng liên quan như Thái Lan, Trung Quốc và Indonesia đã giải quyết một số tranh chấp về vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa chồng lấn. Năm 1997, ta và Thái Lan ký Hiệp định phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong vịnh Thái Lan. Năm 2000, ta và Trung Quốc ký Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong vịnh Bắc bộ. Năm 2003, ta và Indonesia ký Hiệp định phân định thềm lục địa của hai nước ở phía nam biển Đông. Sau khi có hiệu lực, các hiệp định này đã được lưu chiểu tại LHQ theo đúng quy định của Hiến chương LHQ. Phù hợp với nghĩa vụ theo Công ước luật Biển năm 1982 và các cam kết theo Tuyên bố năm 2002 giữa ASEAN và Trung Quốc về ứng xử của các bên ở biển Đông, Nhà nước Việt Nam đã, đang và sẽ tiếp tục hành động theo chủ trương tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Công ước luật Biển năm 1982; đồng thời yêu cầu kêu gọi các quốc gia khác tuân thủ nghĩa vụ này. Lập trường đó của Nhà nước Việt Nam đang nhận được sự ủng hộ rộng rãi của cộng đồng quốc tế.

Luật gia Hạnh Duy

Người nhà quê ở Sài Gòn

(VEF.VN) – Sài Gòn bây giờ có bao nhiêu người nhà quê? Một câu hỏi thuộc lĩnh vực xã hội học cực kỳ phiền toái. Số người nhà quê như thế ở Sài Gòn phải cả triệu.

Tạm hiểu người nhà quê ở Sài Gòn là người không có nhà và hộ khẩu Sài Gòn, là người làm ruộng, tới Sài Gòn kiếm sống mỗi vụ nông nhàn, hoặc tá túc làm thuê đôi ba năm, gặp cơ may thì đổi đời quê thành đời phố, nếu không, gom ít vốn liếng rồi “ta về ta tắm ao ta”.

Góc riêng của nhà quê

Đa số người nhà quê ở Sài Gòn làm thuê trong các khu công nghiệp, khu chế xuất như Hiệp Phước, Tân Tạo, Linh Trung, Vĩnh Lộc…Đó là những công dân nhà quê còn rất trẻ, phần lớn trong biên độ từ mười sáu đến ba mươi. Láu cá một chút là nhận ra những người nhà quê lần đầu tiên đến Sài Gòn ngay từ bến xe Miền Đông , bến xe Miền Tây, hay ga Hòa Hưng. Vừa chạm đất Sài Gòn là họ phải trả giá cao sự ngơ ngác và hau hắn tìm việc quá lộ liễu.

Đầu tiên là cuốc xe ôm mua đường. Từ bến xe Miền Đông đến khu công nghiệp Vĩnh Lộc, lẽ ra thẳng Phan Đăng Lưu, qua lăng Cha Cả tới mũi tàu Cộng Hòa, rẽ Tân Kỳ Tân Qúy hết Lê Trọng Tấn băng qua Gò Mây là đến. Tiết kiệm đường như thế chỉ nỡ lấy bảy chục nghìn . Nhưng chịu khó hao xăng vòng ra An Sương rẽ lên Bà Điểm rồi mới tới Vĩnh Lộc vô tư đòi trăm ngàn mà chỉ tốn thêm năm ngàn tiền xăng cùng với ánh mắt phân ưu, can cớ gì không tính.

Việc thứ hai người nhà quê cần làm ngay là đến văn phòng giới thiệu việc làm. Tùy theo công việc và mức lương đăng ký, người nhà quê phải nộp khoản phí từ một đến năm trăm ngàn cho một cái hẹn có địa chỉ nhưng rất mơ hồ đạt đích. Không thể hàm hồ mà phán xét những văn phòng việc làm nhè vào đối tượng nai non này để kiếm chác. Nhưng một sự thật hiển nhiên là đa số người nhà quê tìm việc qua con đường từ văn phòng giới thiệu việc làm, mất vài ba lần mua giấy hẹn, việc thì có nhưng làm thì không thể.

Rốt cuộc thất nghiệp lại hoàn thất nghiệp. Vì nhân viên văn phòng giới thiệu việc làm rất giỏi kỹ năng giao tiếp nên giả sử có phát hiện ra trò liên minh ma quỷ giữa văn phòng giới thiệu việc làm và các công ty xí nghiệp thì người nha quê cũng chỉ biết ngậm bồ hòn làm ngọt!

Nhưng rồi đa số người nhà quê cũng lọt lưới xuống giỏ, kín mít các khu công nghiệp, chế xuất. Có việc làm rồi, người nhà quê phải kiếm chỗ ăn ngủ thuận với công việc hàng ngày. Kiếm phòng trọ không khó chỉ khó kiếm phòng trọ hợp với túi tiền. Không sao, ông chủ bà chủ các khu nhà trọ ý tứ lắm. Muốn rẻ có rẻ . Ngõ hẹp, cửa nhỏ, tường thấp, điện giá cao, đặt cọc nhiều tháng …

Một phòng diện tích từ mười đến mười hai mét vuông , không bao điện nước ở khu vực quận ven thời giá hiện nay khoảng một triệu hai, có thể ở năm người , bình quân mỗi người hai trăm ngàn một tháng, chỉ bằng tiền bốn giờ thuê khách sạn mini, giá vậy không thể bèo hơn. Nếu người nào đã từng ngủ một đêm, một đêm thôi ở những phòng trọ như thế ắt phải mủi lòng hoặc thương hại hoặc khâm phục nhưng người nhà quê đã hàng tháng, hàng năm khổ luyện trong những lò bát quái như thế. Ngủ mà cựa mình là đụng, mồ hôi ra như tắm, thiếu dưỡng khí đến nỗi phải chờ nhau để thở thì ngay cả giấc mơ cũng héo nói gì đến da thịt. Nếu chẳng may hôm nào cúp điện thì chỉ còn cách bơi ra đường , chờ sáng!

“Ăn được ngủ được là tiên” . Người nhà quê ở Sài Gòn ngủ không ngon , nhưng ăn thì rất khỏe, bất kể là cơm, phở, bún, bánh ướt hay gỏi cuốn… Chỉ có điều ăn chủ yếu cho bõ thèm và no bụng còn thực hư chất lượng món ăn, trời biết. Một đĩa cơm mười lăm nghìn. Một tô bún mười hai nghìn. Một gỏi cuốn năm nghìn. Một xị rượu chuối hột hoặc rượu thuốc mười nghìn …Đó là giá nhà quê. Ở Sài Gòn mà được ăn uống với giá nhà quê như thế thì còn mong gì hơn .

Không phải vơ đũa cả nắm nhưng thực phẩm gia vị để chế biến món ăn bình dân với giá nhà quê như thế may ra chỉ có muối hạt là có thể tin được. Đồng ý rằng xã hội văn minh thì ẩm thực phải có văn hóa. Nhưng người nhà quê làm thuê ở các khu công nghiệp có muốn văn hóa ẩm thực cũng không thể. Một là do tiền, ít tiền nên lúc nào cũng chỉ mục đích hạ nhiệt cái đói. Hai là thời gian, thiếu thời gian, tăng ca liên tục nên phải nhai nhanh nuốt gọn. Bởi vậy văn hóa ẩm thực của họ vỏn vẹn trong bốn từ : Tiện , ngon , nhanh , rẻ .

Nói như vậy không có nghĩa là bức tranh toàn cảnh về người nhà quê làm thuê ở khu công nghiệp , khu chế xuất Sài Gòn chỉ một màu xám xịt. Có nơi, có lúc, có người vui tươi, sáng sủa vụt lóe như tia chớp trong đê . Nếu qui ra thóc với giá năm nghìn một ký thì lương hai triệu rưỡi một tháng bằng một nửa tấn lúa.

Cũng không ít công ty xí nghiệp ăn ra làm nên, gặp ông chủ bà chủ khôn ngoan chia sớt thêm cho người làm thuê một phần thành quả vào dịp lễ, tết thì cuộc sống của người nhà quê ở Sài Gòn bỗng trở thành giấc mơ của nhiều miền lam lũ. Thử hỏi, ở vùng Năm Căn , Tháp Mười … miền Tây hay vùng Ba Tơ, Nghĩa Thành … miền Trung, làm gì có được cái cảnh, sau giờ tan ca, nam thanh nữ tú xúng xính trong bộ đồ nhái hàng hiệu hoặc diễn ngoài chợ chồm hổm hoặc ngó ngơ trong siêu thị CoopMak…

Đẳng cấp hơn nữa là lướt phím trong tiệm nét, du ngoạn trên cầu Phú Mỹ, chui hầm Thủ Thiêm tận hưởng giây phút khuyến mãi của âm thanh sắc màu chốn thị thành. Cao hứng chụp một vài tấm ảnh kỹ thuật số lấy liền, chỉ mất mấy chục nghìn mà ký gửi cả đời mình vào được cái hình nền giàu sang của Sài Gòn hoa lệ!

Nét quê tô sắc Sài Gòn

Có một bộ phận dân nhà quê không sinh sống thành cộng đồng như ở các khu công nghiệp hay khu chế xuất mà chia nhỏ từng nhóm vài ba người phong tỏa hầu hết ở các công viên xép, ga tàu, bến xe,bùngbinh,đầu đường, cuối hẻm…. Một chiến thuật kinh doanh du kích, lấy ít địch nhiều,lấy thô sơ thay hiện đại mà hiệu quả không ngờ. Phải nói rằng,hầu hết các người nhà quê chưa hề biết Makétting là gì nhưng năng khiếu tiếp thị và dự báo thị trường khá nhạy.

Lực lượng người nhà quê phục vụ thức ăn nhanh sáng, chiều và ăn dặm ở Sài Gòn khá đông đảo. Một đôi quang gánh, một chiếc xe đẩy một cái ghế đẩu… là thành quán hàng rong, ngụp lặn suốt ngày giữa dòng xe cộ, giữa nắng mưa,gió bụi, giữa lo sợ bị dân phòng hoặc cảnh sát 113 hốt gọn.

Bữa sáng thường là xôi, bánh ướt, bắp luộc, bánh mì…Bữa  chiều hủ tiếu,bánh xèo,hột vịt lộn,gỏi cuốn…. Bữa dặm bánh lăng, sữa đậu nành, bột chiên… Dễ tới hàng trăm món cho sáng, chiều, dặm để thực khách lựa chọn, và mỗi mùa lại thêm món mới, món lạ. Lạ nhất, hót nhất là món bánh tráng trộn. Bánh tráng mỏng, khô, xé vụn, trộn sa tế, muối tôm ăn với rau răm. Lúc đầu món này chỉ dành cho phái nữ lứa tuổi xì tin sau lam tỏa ra cả cộng đồng. Đỉnh điểm của cơn sốt bánh tráng trộn là vào năm 2010. Bánh tráng trộn thời điểm 2010 chỉ  một bịch năm trăm một bịch nhỏ, một ngàn một bịch lớn. Người ta thích ăn không phải vì nó rẻ bởi người ăn đa số thuộc gia cảnh trung lưu. Thời của bánh tráng trộn cũng là thời dễ thở của người nhà quê ở sài gòn. Vốn ít, bán chạy,hoa hồng cao ít hư hao luôn là những câu thần chú mà người nhà quê buôn bán ở sài gòn ngày,đêm tụng niệm.

Những năm đầu của thế kỷ hai mốt, Thảo Cầm Viên, Kỳ Hòa, Đầm Sen,Suối Tiên…xuất hiện khá nhiều nghệ nhân bán Tò He. Tò He là nghề cổ truyền ở vùng Thường Tín, Chương Mỹ Hà Nội. Tò He được nặn từ bột gạo chín,chế màu thực phẩm, Tò He là những con Gà, con Chim, con Lợn, Con Ngựa hay các nhân vật trong truyện như Chú Tễu, Thằng Bờm,Tôn Ngộ Không… được bàn tay nghệ nhân vê, véo, chắp, nặn… mà thành.

Tò He ngộ nghĩnh sắc màu, ngô nghê đường nét…..làm rung rinh thời quá vãng của mỗi đời người. Tò He là thứ hàng hóa thơm thảo ẩn chứa nụ cười hôn nhiên con trẻ. Tò He vừa được để chơi  và cũng có thể ăn.Tò He là giấc mơ xuân của trẻ nghèo trong những phiên chợ tết ở xứ Bắc ngày xưa…. Chỉ bấy nhiêu về Tò He thôi cũng đủ thấy người  nhà quê nặng lòng toan tính cho cuộc mưu sinh ở Sài gòn như thế  nào.

Những nghề mà người nhà quê tha phương cầu thực ở đường phố Sài Gòn có đến hàng trăm. Bán dạo cá cảnh,cây cảnh, tôm, gà, cua, ghẹ… Rồi ép dẻo, xỏ lỗ tai, cân sức khỏe, vé số…. Có nghề phải lông nhông, oang oang ngoài đường như bán keo dính chuột.

Ở Sài Gòn, cái bang cũng gọi là một nghề. Gọi là nghề vì cái bang Sài Gòn không nghiệp dư như cái bang thời xưa chỉ duy nhất một màn ca cẩm “con lạy bà, lạy ông, cho con xin…” mà là thông qua đàn hát, gia cảnh, dung nhan rồi chỉ ngửa mũ,  ngửa nón…chứ không nói gì cả. Có những cái bang xịn hơn gắn bốn bánh xe đẩy vào miếng ván gỗ có gắn loa, nằm ngửa lên sao cho lộ hết khuyết tật của cơ thể, mở băng tụng kinh niệm phật, lăn lóc dưới lòng đường phố.

Người ta đồn rằng cái bang Sài Gòn không lấy tiền lẻ. Đúng vậy, cầm tờ hai trăm đồng hay năm trăm đồng mà cho những con người cùng bất đắc dĩ phải chìa tay ra thì người cho cũng thấy ngượng!

Cứ tưởng tượng đến một ngày nào đó Sài Gòn không còn người nhà quê nữa thì buồn lắm. Buồn vì không còn được ăn những món khoái khẩu trên những chiếc xe đẩy, những quang gánh hàng rong. Buồn vì không còn được nghe những tiếng rao khuya “bánh giò, bánh chưng…”, “bánh mỳ…”.

Buồn vì thành phố không còn phảng phất mùi khoai nướng, bắp xào, chuối chiên… Buồn vì không còn được sẻ chia niềm vui nỗi buồn của những người mẹ, người cha quê mùa nghèo khó, hàng ngày chắt chiu, nâng niu từng đồng từng cắc nuôi con ăn học như thể những dòng sông gầy còm gom nhặt phù sa bồi đắp cho bãi bờ…

Nhưng có lẽ buồn nhất là chỉ còn được ngắm bức tranh phố với những gương mặt mà thần sắc nhang nhác như nhau, những gương mặt dễ bị tổn thương, đổi màu nếu thiếu son phấn, hàng hiệu, tiện nghi và tiền bạc!

Sài Gòn, Tháng 3 – 2012

NGÔ QUỐC TÚY