Tag Archive: giáo


Đặc trưng cơ bản của tâm lý học Phật giáo

Mục đích chủ yếu của Tâm lý học Phật giáo là nhằm giải đáp rốt ráo nguyên nhân khổ đau mà nhân loại phải tiếp nhận, và, vấn đề là làm thế nào để giải thoát sự thống khổ đó. Triết học và Tâm lý học của Phật giáo đều có một thứ “Thủ hướng trị liệu” (Therapy oriented).

Mục đích chủ yếu của Tâm lý học Phật giáo là nhằm giải đáp rốt ráo nguyên nhân khổ đau mà nhân loại phải tiếp nhận, và, vấn đề là làm thế nào để giải thoát sự thống khổ đó. Triết học và Tâm lý học của Phật giáo đều có một thứ “Thủ hướng trị liệu” (Therapy oriented).

Một cách rõ ràng, Phật giáo đã kết hợp hành vi tâm lý và luân lý để luận cập. Luân lý học Phật giáo đã không chỉ giới ở quan niệm luân lý và phân tích lý luận, mà xa hơn, còn chỉ dạy những phương thức sinh hoạt và chuẩn tắc cho mọi hành vi. Luân lý học của Phật giáo đã dạy con người không làm những điều ác, bồi dưỡng thiện tâm và thanh tịnh tâm ý. Chỉ cần hành vi phù hợp với chuẩn mực, thước đo quy phạm của văn hóa xã hội thì đó là tâm lý lành mạnh.

LUÂN LÝ HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN TÍNH

Đức Phật dạy rằng, sự hài hòa của thế giới nhân loại được đặt trên nền tảng tâm lý. Vì vậy hành vi xã hội phải được nối kết với tâm lý học của Phật giáo để phân tích. Nếu vấn đề cá nhân đã được giải quyết thì sự khẩn trương và xung đột của xã hội sẽ giảm thiểu. Tạo ra những cảm tính như tham lam, kiêu mạn, sân hận v.v… đều có thể ảnh hưởng đến sự quan hệ của nhân tế. Đức Phật dạy : “Bảo hộ chính mình là bảo hộ người khác; bảo hộ người khác cũng chính là bảo hộ tự thân.” Đức Phật lại nhấn mạnh, bồi dưỡng tố chất tâm lý đã được nhìn nhận là có giá trị văn hóa xã hội, như tự tiết chế, tâm lý an bình thanh tịnh, tự răn buộc v.v..

Tóm lại, luân lý xã hội gồm có hai mặt tích cực và tiêu cực : Đứng trên mặt tiêu cực để nói thì sự tiết chế trên phương tiện nhân cách và thực tiễn luân lý chuẩn tắc sẽ có thể làm giảm thiểu sự xung đột của xã hội; đứng trên mặt tích cực để luận cập thì, bồi dưỡng, phát triển nhân cách lành mạnh, có thể kiến lập được một xã hội lương thiện. Đức Phật ví dụ nhân tính như một mỏ vàng, có những lúc bề ngoài tuy bị vô minh làm mê hoặc, nhưng sự huấn luyện của nội tại khả dĩ chuyển hoá và biến nó thành lương thiện.

LÝ LUẬN CỦA TRI THỨC

Ý nghĩa của tri thức, nếu nói trên một nghĩa rộng thì gồm có hai loại, đó là lý tính và kinh nghiệm. Kinh nghiệm có thể được chia thành kinh nghiệm cảm quan (sense experience) và kinh nghiệm trực quan (intutive experience). Thông thường thì con người biết sử dụng cả kinh nghiệm lý tính lẫn cảm quan; nhưng, chỉ có những người phát huy kỹ xảo trực quan mới có thể đạt đến phương pháp sử dụng tri thức một cách đầy đủ. Loại sử dụng phương pháp tri thức đầy đủ nầy, đã chẳng phải là một loa/i thần bí; trong Phật giáo, những ai có sự huấn luyện đặc biệt đều có thể đạt đến mục đích nầy.

Những kẻ ở cõi thế tục đều ràng buộc kinh nghiệm trên khái niệm của một loại kinh nghiệm nào đó, nhưng, Phật giáo thì vượt qua phạm vi cục hạn nầy. Lý do là vì khi chúng ta truy tầm tri thức thường bị chấp trước (craving), và vô minh (ignorance) dụ phát, còn Phật giáo khi phân tích về khái niệm đã không dừng lại ở ngôn ngữ hoặc trên tầng thức của luận lý học mà tiến thêm một bước, Phật giáo có thể tiềm nhận vào cảnh giới tâm lý chân thật. Đối với phương diện nầy, Phật giáo có thể tầm cầu được một loại mô thức mới của nhận thức luận (a new model of epistemology).

LÝ LUẬN THỰC TẠI (THE THEORY OF REALITY)

Khi thảo luận đến vấn đề con người và vũ trụ. Phật giáo cho rằng hành động của con người là do ý chí tự do của chúng ta đối với sự phải trái và không bị quyết định bởi bất cứ hình thức nào khác; Khi Đức Phật biện luận với sáu nhà tư tưởng nổi tiếng đương thời, Ngài đã nắm lấy chủ trương nầy.

CƠ SỞ TRỊ LIỆU CỦA TÂM LÝ HỌC PHẬT GIÁO

Mục đích chủ yếu của Tâm lý học Phật giáo là nhằm giải đáp rốt ráo nguyên nhân khổ đau mà nhân loại phải tiếp nhận, và, vấn đề là làm thế nào để giải thoát sự thống khổ đó. Triết học và Tâm lý học của Phật giáo đều có một thứ “Thủ hướng trị liệu” (Therapy oriented). Triết học Phật giáo cung cấp một loại giải trừ khốn hoặc của tri tánh; còn tâm lý học Phật giáo thì cung cấp phương pháp trị liệu về sự nhiễu loạn của tình cảm.

Erich Fromm bảo rằng Sigmund Freud không thể trị liệu tật bệnh tâm lý mà Sigmund Freud chỉ muốn giải trừ sự lo âu, nóng nảy không hợp lý và tánh cưỡng bức của nhân loại mà thôi. Phương thức trị liệu của những nhà tâm lý học hiện nay đó là mô thức điều chỉnh vấn đề và bệnh lý xã hội một cách rộng rãi hơn. Trên thực tế, những quốc gia có nền công nghiệp hóa và đã đang phát triển cao độ thì những tâm trạng như hoang vắng trống rỗng, lãnh cảm, sự thiếu sót về mặt hướng đạo nhân sinh trong lòng nhân loại, đều là khái niệm và mục tiêu của tâm lý trị liệu ngày nay. Phật giáo thuyết minh rằng tâm cảnh khó khăn, xung đột, bất mãn, nóng nảy, lo lắng, tham lam, ghét hận, mê chấp v.v… của nhân sinh đều có thể cho là phù hợp với thông bệnh của con người hiện đại; nhưng, Phật giáo còn có khả năng chỉ dạy cho mọi người hướng đến con đường lớn huy hoàng đại giải thoát, tối cực phúc lạc, đó là cảnh giới Niết Bàn.

LÃNH VỰC CHỦ YẾU CỦA TÂM LÝ HỌC PHẬT GIÁO

Những lãnh vực nghiên cứu của Tâm lý học Tây phương đều có chủ đề trung tâm của nó, như tâm lý học Hoàn Hình Phái (Gestlat Psychology) chủ yếu là nghiên cứu về tri giác (Perception); Phân tích tâm lý của Sigmund Freud thì nhắm vào sự nghiên cứu động cơ và nhân cách. Và tâm lý học Hành vi phái (Behaviourism) thì chủ yếu nghiên cứu về lý luận học tập (learning) v.v…

Nhưng, vấn đề quan thiết nhất của tâm lý học Phật giáo đó là căn nguyên khổ đau của nhân loại và con đường giải thoát; vì thế, động cơ thúc đẩy (motivation) và cảm xúc (emotion) chính là giáo nghĩa chủ yếu; Tri nhận (cognition) là điều kiện tiên quyết phải được nghiên cứu thêm; ngoài ra, như tính tình, nhân cách (personality) kể cả sự kết cấu trị liệu của tâm lý học Phật giáo; giảo nghiệm trên phương diện tâm lý học, như phân tích tâm lý của Sigmund Freud, tâm lý học nhân tính của Carl Rogers và A. Maslow có thể thấy một cách thấu triệt về cách trị liệu của chủ nghĩa tồn tại và cách trị liệu của chủ nghĩa hành vi đều là lãnh vực chủ yếu của sự nghiên cứu tâm lý học Phật giáo.

NGUỒN TƯ LIỆU TÂM LÝ HỌC PHẬT GIÁO

Dùng văn Pàli để tập thành kinh điển Phật giáo nguyên thủy (đều có dịch sang Anh Văn) làm gốc, kinh điển được chia thành 3 loại : Một là lời dạy của đức Phật được gọi là Kinh tạng (Sutta Pitaka), hai là những điều mục huấn luyện, răn chế của Tỳ Kheo và Tỳ Kheo Ni gọi là Luật tạng (Vinaya Pitaka) và ba là Luận tạng (abhidhamma pitaka), trong đó gồm có phân tích tâm lý của tri thức. Nhưng, Kinh tạng lại có thể được chia thành 5 loại :

Trường Bộ 
(The Digha Nikaya or Dialogues of the Buddha) :
Đối thoại trường thiên của đức Phật, bao gồm 34 kinh điển trường thiên, trong đó có thể trùng kiến sự tích bình sanh của đức Phật và thật sử về chánh trị, xã hội và tôn giáo Ấn Độ đương thời. Trong đó Sigalovada Sutra đã đưa ra những chỉ dẫn về quan điểm luân lý học Phật giáo thực dụng.

Trung Bộ A Hàm Kinh 
(The Majjhina Nikaya of Middle Langth Saying)
Bao gồm 152 kinh. Giá trị của nó ở chỗ là có thể làm cho chúng ta biết được tình hình tiến hóa ở thời kỳ bắt đầu của Phật giáo và những giáo pháp của đức Phật cũng như tình huống khái quát của những đệ tử thân cận và những sinh hoạt của xã hội Ấn Độ đương thời. Kinh Trung A Hàm cũng chứa đựng một số tài liệu về Luật tạng.

Tạp Bộ A Hàm Kinh
(The Samyutta Nikaya of Kindred Sayings)
Gồm 2889 kinh do 56 chương tiết hợp thành, trong ấy có rất nhiều chỗ lập lại, trùng phúc.

Tăng Chi Bộ A Hàm Kinh 
(The Anguttara Nikaya of Gradual Sayings)
Thâu tập 2308 kinh, chia thành 11 chương tiết và có thêm phần thảo luận. Đặc điểm chủ yếu là sự đơn giản, thanh khiết và gồm rất nhiều câu thức tỉnh nhân sinh.

Tiểu Bộ A Hàm Kinh 
(The Khuddaka Nikaya of Division of Small Works)
Là một loại đoản thiên danh ngôn sử dụng tán văn hoặc hình thức thi ca viết nên, thường được dùng để kỳ đảo, vịnh thi, ca xướng v.v… Đứng trên quan điểm văn học, Phật giáo sử và Triết học để nhận xét thì Tiểu Bộ A Hàm Kinh là một bộ kinh rất có giá trị.

Ngoài những sự kiện nầy, những tác phẩm nổi tiếng của Đại Thừa kinh điển đã dùng Phạn văn, Hán văn, Nhựt văn và Tạng văn để viết thành, cũng có thể tìm được những tư liệu liên quan như Kinh Dược Sư (Bhaisajya – Guru – Sutra of the Lapis Lazuli Radiance Tathagata). Kinh Diệu Pháp Liên Hoa, kinh Duy Ma Cật v.v… Truyền thống của Đại Thừa Phật giáo đặc biệt nhấn mạnh đến sự thành Phật hoặc những hành hoạt của các bậc Bồ Tát. Còn Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thì được miêu tả trong kinh điển Pàli, như là một bậc có khả năng trị liệu vĩ đại, phương thức trị liệu của Ngài gồm có hai loại : Trị liệu trên giáo nghĩa và tâm lý hoặc thần tích.

Đem kinh Phật và một số nguyên lý của tâm lý học Tây phương hiện đại, nhất là một số học lý của các loại học phái y liệu để so sánh tìm hiểu trên tinh thần nghiên cứu thì mới có thể nhận thức một cách sâu sắc về Tâm lý học Phật giáo.

VẤN ĐỀ THUỘC TRÊN PHƯƠNG PHÁP LUẬN

Trên phương diện hiện tượng tâm lý, đức Phật chủ trương do kinh nghiệm mà chứng thực lý luận. Nhưng kinh nghiệm đã không chỉ là kinh nghiệm cảm quan mà còn là công phu của trực quan (intuition) và nội tỉnh. Bởi lẽ đức Phật nhận thức rằng truyền thống nhân tập, hoặc sử dụng luận lý học và lý tánh đều có sự giới hạn của nó và, chỉ có kinh nghiệm mới được sự bảo hiểm tốt nhất. Kinh nghiệm của đức Phật ngoài việc căn cứ vào ngũ quan còn tái dụng Nội Tỉnh Pháp (Introspection) như là một giá trị cao độ để đạt được kỹ thuật tri thức và phát huy thấu thị (quán sát một cách thấu triệt). Trực quan pháp là một loại kỹ thuật “Phân tích tự ngã” (Self-analysis). Ở Tây Phương người ta sử dụng trực quan pháp để nghiên cứu hiện tương tâm lý và đã được cho là kỹ thuật không đáng được tin cậy, bởi vì kinh nghiệm của riêng mình không thể làm cho người khác giác sát được. Nhưng, Phật giáo cho rằng do công phu thiền định cao độ mà có thể đạt đến năng lực vượt qua cảm quan, và chính vì thế mà nó là phương thức khảo nghiệm khách quan. Nếu có thể đạt đến kỹ thuật thiền định một cách nhất định thì không bị vô minh làm trở ngại và do vậy mà tâm lý có khả năng đạt đến giai đoạn của sự an bình và thanh tịnh.

KHÁI NIỆM VỀ TÂM (MIND)

Đức Phật phủ định bất cứ thực thể nào có tánh vĩnh cửu tức Tâm hoặc Ý Thức (Mind or Consciousness). Phật dạy : cái được gọi là tâm là một loại phức tạp thể của nhân thể (a psycho-physical complex of nama-rupa), nama là chỉ cho 4 loại quần thể phi vật chất tức là cảm giác, ấn tượng của cảm giác (tưởng tượng, quan niệm, khái niệm), ý chí hoạt động (conative activity) và ý thức; rupa là nói về 4 nguyên tố lớn, tức là khuếch đại (extention), ngưng tụ lực (cohesion), nhiệt (heat) và hình trạng vật chất (materialshape) có được từ những nguyên tố nầy. Vì vậy, có thể nói, nó là một phúc hạp thể được tổ thành bởi những thành phần tâm lý và vật chất và có tính chất tâm thể (hoặc thể tâm) nương tựa lẫn nhau. Muốn liễu giải một cách rốt ráo về hiện tượng tâm lý thì cần phải xuyên qua luật nhân quả, bởi vì chúng cùng làm nhân và quả cho nhau.

Nhân duyên giả hợp là sự biểu thị của điều kiện hỗ vi của tâm lý và vật chất. Giáo nghĩa vô ngã (egolessness) cũng còn chỉ dạy rằng cả nội lẫn ngoại đều không có cái gọi là thực thể tồn tại. Vì thế, hai giáo nghĩa nhân duyên giả hợp và vô ngã là tâm lý học Phật giáo giải thích về tâm (có thể dùng phương pháp tổng hợp và phương pháp phân tích để phân biệt giải thích hai loại hiện tượng nầy). Căn cứ theo tâm lý học Phật giáo, chúng ta có thể bảo rằng Tâm là một thể loại liên tục động thái (dynamic continuum), có thể khuếch đại đến khởi nguyên và khó mà tính đếm được, vả lại, nó còn có thể phát triển bên ngoài của sự kết liễu của thọ mạng.

Loại thuyết pháp nầy hiện vẫn chưa được sự thừa nhận của tâm lý học Tây Phương. Nhưng, “Tính chất di truyền nguyên thủy của người” (Archaic heritage of mind) của Sigmund Freud và quan niệm về “Tập thể vô ý thức” (Collective Unconsciousness) của Carl Jung đều muốn thăm dò vào một lãnh vực sâu xa khác, trong tương lai, rất có thể sự khám phá mới sẽ hội tụ cùng chủ trương tâm lý học của Phật giáo.

Theo Phật giáo và Tâm lý học hiện đại

Advertisements
CHÍNH PHỦ
——–

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
—————-

Số: 71/2012/NĐ-CP

Hà Nội, ngày 19 tháng 09 năm 2012

 

NGHỊ ĐỊNH

SỬA ĐỔI, BỔ SUNG MỘT SỐ ĐIỀU CỦA NGHỊ ĐỊNH SỐ 34/2010/NĐ-CP NGÀY 02 THÁNG 4 NĂM 2010 CỦA CHÍNH PHỦ QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ

Căn cứ Luật tổ chức Chính phủ ngày 25 tháng 12 năm 2001;

Căn cứ Luật giao thông đường bộ ngày 13 tháng 11 năm 2008;

Theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải;

Chính phủ ban hành Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ,

Điều 1. Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ cụ thể như sau:

1. Sửa đổi, bổ sung Điều 8 như sau:

“Điều 8. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe ô tô và các loại xe tương tự ô tô vi phạm quy tắc giao thông đường bộ

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm a, Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 2; Điểm a, Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm a, Điểm c, Điểm d Khoản 5; Điểm a Khoản 6; Điểm a Khoản 7 Điều này;

b) Chuyển hướng không nhường quyền đi trước cho: Người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ; xe thô sơ đang đi trên phần đường dành cho xe thô sơ;

c) Chuyển hướng không nhường đường cho: Các xe đi ngược chiều; người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đường tại nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ;

d) Khi dừng xe, đỗ xe không có tín hiệu báo cho người điều khiển phương tiện khác biết;

đ) Khi đỗ xe chiếm một phần đường xe chạy không đặt ngay báo hiệu nguy hiểm ở phía trước và phía sau xe theo quy định, trừ trường hợp đỗ xe tại vị trí quy định được phép đỗ xe;

e) Không gắn biển báo hiệu ở phía trước xe kéo, phía sau xe được kéo; không nối chắc chắn, an toàn giữa xe kéo và xe được kéo khi kéo nhau; xe kéo rơ moóc không có biển báo hiệu theo quy định;

g) Không giữ khoảng cách an toàn để xảy ra va chạm với xe chạy liền trước hoặc không giữ khoảng cách theo quy định của biển báo hiệu “Cự ly tối thiểu giữa hai xe”, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm i Khoản 4 Điều này;

h) Không tuân thủ các quy định về nhường đường tại nơi đường bộ giao nhau, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm d, Điểm đ Khoản 2 Điều này;

i) Bấm còi hoặc gây ồn ào, tiếng động lớn làm ảnh hưởng đến sự yên tĩnh trong đô thị và khu đông dân cư trong thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 5 giờ ngày hôm sau, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định;

k) Người điều khiển, người ngồi hàng ghế phía trước trong xe ô tô có trang bị dây an toàn mà không thắt dây an toàn khi xe đang chạy;

l) Chở người ngồi hàng ghế phía trước trong xe ô tô có trang bị dây an toàn mà không thắt dây an toàn khi xe đang chạy.

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Chuyển làn đường không đúng nơi cho phép hoặc không có tín hiệu báo trước, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm i Khoản 4 Điều này;

b) Điều khiển xe chạy tốc độ thấp mà không đi về bên phải phần đường xe chạy;

c) Để người ngồi trên buồng lái quá số lượng quy định;

d) Không giảm tốc độ và nhường đường khi điều khiển xe chạy từ trong ngõ, đường nhánh ra đường chính;

đ) Không nhường đường cho xe xin vượt khi có đủ điều kiện an toàn; không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, đường chính từ bất kỳ hướng nào tới tại nơi đường giao nhau;

e) Xe được quyền ưu tiên khi đi làm nhiệm vụ không có tín hiệu còi, cờ, đèn theo đúng quy định;

g) Dừng xe, đỗ xe trên phần đường xe chạy ở đoạn đường ngoài đô thị nơi có lề đường rộng; dừng xe, đỗ xe không sát mép đường phía bên phải theo chiều đi ở nơi đường có lề đường hẹp hoặc không có lề đường; đỗ xe trên dốc không chèn bánh; mở cửa xe, để cửa xe mở không bảo đảm an toàn;

h) Dừng xe không sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi hoặc bánh xe gần nhất cách lề đường, hè phố quá 0,25 mét; dừng xe trên đường xe điện, đường dành riêng cho xe buýt; dừng xe trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước, nơi có biển cấm dừng; rời vị trí lái, tắt máy khi dừng xe; dừng xe, đỗ xe không đúng vị trí quy định ở những đoạn có bố trí nơi dừng xe, đỗ xe; dừng xe, đỗ xe trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường;

i) Quay đầu xe trái quy định trong khu dân cư;

k) Quay đầu xe ở phần đường dành cho người đi bộ qua đường, trên cầu, đầu cầu, gầm cầu vượt, ngầm, đường hẹp, đường dốc, đoạn đường cong tầm nhìn bị che khuất, nơi có biển báo “cấm quay đầu xe”;

l) Lùi xe ở đường một chiều, ở khu vực cấm dừng, trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường, nơi đường bộ giao nhau, nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt, nơi tầm nhìn bị che khuất; lùi xe không quan sát hoặc không có tín hiệu báo trước.

3. Phạt tiền từ 600.000 đồng đến 800.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 05 km/h đến dưới 10 km/h;

b) Bấm còi, rú ga liên tục; bấm còi hơi, sử dụng đèn chiếu xa trong đô thị, khu đông dân cư, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định;

c) Chuyển hướng không giảm tốc độ hoặc không có tín hiệu báo hướng rẽ;

d) Quay đầu xe tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; không tuân thủ các quy định về dừng xe, đỗ xe tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; dừng xe, đỗ xe trong phạm vi an toàn của đường sắt;

đ) Dừng xe, đỗ xe tại vị trí: Bên trái đường một chiều; trên đoạn đường cong hoặc gần đầu dốc nơi tầm nhìn bị che khuất; trên cầu, gầm cầu vượt, song song với một xe khác đang dừng, đỗ; nơi đường bộ giao nhau hoặc trong phạm vi 05 mét tính từ mép đường giao nhau; điểm dừng đón, trả khách của xe buýt; trước cổng hoặc trong phạm vi 05 mét hai bên cổng trụ sở cơ quan, tổ chức có bố trí đường cho xe ô tô ra vào; nơi phần đường có bề rộng chỉ đủ cho một làn xe; che khuất biển báo hiệu đường bộ;

e) Đỗ xe không sát theo lề đường, hè phố phía bên phải theo chiều đi hoặc bánh xe gần nhất cách lề đường, hè phố quá 0,25 mét; đỗ xe trên đường xe điện, đường dành riêng cho xe buýt; đỗ xe trên miệng cống thoát nước, miệng hầm của đường điện thoại, điện cao thế, chỗ dành riêng cho xe chữa cháy lấy nước; đỗ xe nơi có biển cấm dừng hoặc biển cấm đỗ; đỗ, để xe ở hè phố trái quy định của pháp luật;

g) Không sử dụng đủ đèn chiếu sáng về ban đêm hoặc khi sương mù, thời tiết xấu hạn chế tầm nhìn; sử dụng đèn chiếu xa khi tránh nhau;

h) Xe không được quyền ưu tiên sử dụng tín hiệu còi, cờ, đèn của xe ưu tiên;

i) Xe ô tô kéo theo từ hai xe ô tô khác trở lên; xe ô tô đẩy xe khác; xe ô tô kéo xe thô sơ, mô tô, xe gắn máy hoặc kéo lê vật trên đường; xe kéo rơ moóc, sơ mi rơ moóc kéo theo rơ moóc hoặc xe khác;

k) Chở người trên xe được kéo, trừ người điều khiển.

4. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Chạy trong hầm đường bộ không sử dụng đèn chiếu sáng gần; lùi xe, quay đầu xe trong hầm đường bộ; dừng xe, đỗ xe, vượt xe trong hầm đường bộ không đúng nơi quy định;

b) Đi vào đường cấm, khu vực cấm, đi ngược chiều của đường một chiều; trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định;

c) Điều khiển xe không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường hoặc làn đường quy định;

d) Điều khiển xe chạy dưới tốc độ tối thiểu trên những đoạn đường bộ có quy định tốc độ tối thiểu cho phép;

đ) Dừng xe, đỗ xe, quay đầu xe trái quy định gây ùn tắc giao thông;

e) Dừng xe, đỗ xe, mở cửa xe không bảo đảm an toàn gây tai nạn;

g) Không nhường đường hoặc gây cản trở xe ưu tiên;

h) Không thực hiện biện pháp bảo đảm an toàn theo quy định khi xe ô tô bị hư hỏng ngay tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt;

i) Không tuân thủ các quy định khi vào hoặc ra đường cao tốc; điều khiển xe chạy ở làn dừng xe khẩn cấp hoặc phần lề đường của đường cao tốc; dừng xe, đỗ xe trên phần đường xe chạy trên đường cao tốc; quay đầu xe, lùi xe trên đường cao tốc; chuyển làn đường không đúng nơi cho phép hoặc không có tín hiệu báo trước khi chạy trên đường cao tốc; không tuân thủ quy định ghi trên biển báo hiệu về khoảng cách an toàn đối với xe chạy liền trước khi chạy trên đường cao tốc;

k) Không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông.

5. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến 20 km/h;

b) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn nhưng chưa tới mức vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 1, Điểm a Khoản 8 Điều này;

c) Vượt trong các trường hợp cấm vượt; vượt bên phải xe khác trong trường hợp không được phép; không có báo hiệu trước khi vượt;

d) Tránh xe không đúng quy định; không nhường đường cho xe đi ngược chiều theo quy định tại nơi đường hẹp, đường dốc, nơi có chướng ngại vật;

đ) Không tuân thủ hướng dẫn của người điều khiển giao thông khi qua phà, cầu phao hoặc nơi ùn tắc giao thông; không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông.

6. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20 km/h đến 35 km/h;

b) Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường; bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn.

7. Phạt tiền từ 8.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 35 km/h; điều khiển xe đi ngược chiều trên đường cao tốc, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định;

b) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở;

c) Điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy;

d) Điều khiển xe lạng lách, đánh võng; chạy quá tốc độ đuổi nhau trên đường bộ;

đ) Không chú ý quan sát, điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định gây tai nạn giao thông; tránh, vượt không đúng; quy định gây tai nạn giao thông hoặc không giữ khoảng cách an toàn giữa hai xe theo quy định gây tai nạn giao thông.

8. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở;

b) Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người kiểm soát giao thông hoặc người thi hành công vụ.

9. Phạt tiền từ 15.000.000 đồng đến 25.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm quy định tại Điểm d Khoản 7 Điều này mà gây tai nạn hoặc không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của người thi hành công vụ hoặc chống người thi hành công vụ.

10. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

a) Vi phạm Điểm h Khoản 3 Điều này bị tịch thu còi, cờ, đèn sử dụng trái quy định;

b) Vi phạm Điểm h Khoản 3; Điểm b, Điểm c, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm b Khoản 5; Điểm a Khoản 6 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

c) Vi phạm Điểm i Khoản 3; Điểm a, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 4; Điểm c, Điểm đ Khoản 5; Điểm b Khoản 6; Điểm a, Điểm b, Điểm d, Điểm đ Khoản 7; Khoản 8 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày. Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều này mà gây tai nạn giao thông nhưng chưa tới mức nghiêm trọng thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày: Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 1; Điểm a, Điểm b, Điểm d, Điểm g, Điểm h, Điểm i, Điểm k, Điểm l Khoản 2; Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 3; Điểm b, Điểm c, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm b Khoản 5;

d) Vi phạm Điểm c Khoản 7, Khoản 9 Điều này hoặc tái phạm Điểm d Khoản 7 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn. Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều này mà gây tai nạn giao thông từ mức nghiêm trọng trở lên thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn: Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 1; Điểm a, Điểm b, Điểm d, Điểm g, Điểm h, Điểm i, Điểm k, Điểm l Khoản 2; Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h, Điểm i Khoản 3; Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm e, Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm b, Điểm đ Khoản 5; Điểm b, Điểm đ Khoản 7; Khoản 8.”

2. Sửa đổi, bổ sung Điều 9 như sau:

“Điều 9. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm quy tắc giao thông đường bộ

1. Phạt tiền từ 60.000 đồng đến 80.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không chấp hành hiệu lệnh, chỉ dẫn của biển báo hiệu, vạch kẻ đường, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm a, Điểm đ, Điểm h Khoản 2; Điểm c, Điểm đ, Điểm h Khoản 3; Điểm c, Điểm d, Điểm e, Điểm g, Điểm i Khoản 4; Điểm a, Điểm c, Điểm d Khoản 5; Điểm đ Khoản 6; Điểm d Khoản 7 Điều này;

b) Không có báo hiệu xin vượt trước khi vượt;

c) Không giữ khoảng cách an toàn để xảy ra va chạm với xe chạy liền trước hoặc không giữ khoảng cách theo quy định của biển báo hiệu “Cự ly tối thiểu giữa hai xe”;

đ) Chuyển hướng không nhường quyền đi trước cho: Người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật qua đường tại nơi có vạch kẻ đường dành cho người đi bộ; xe thô sơ đang đi trên phần đường dành cho xe thô sơ;

đ) Chuyển hướng không nhường đường cho: Các xe đi ngược chiều; người đi bộ, xe lăn của người khuyết tật đang qua đường tại nơi không có vạch kẻ đường cho người đi bộ;

e) Lùi xe mô tô ba bánh không quan sát hoặc không có tín hiệu báo trước;

g) Dùng đèn chiếu xa khi tránh nhau;

h) Người đang điều khiển xe sử dụng ô, điện thoại di động, thiết bị âm thanh, trừ thiết bị trợ thính; người ngồi trên xe sử dụng ô.

2. Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Chuyển làn đường không đúng nơi được phép hoặc không có tín hiệu báo trước;

b) Điều khiển xe chạy dàn hàng ngang từ 3 (ba) xe trở lên;

c) Không sử dụng đèn chiếu sáng về ban đêm hoặc khi sương mù, thời tiết xấu hạn chế tầm nhìn;

d) Không nhường đường cho xe xin vượt khi có đủ điều kiện an toàn; không nhường đường cho xe đi trên đường ưu tiên, đường chính từ bất kỳ hướng nào tới tại nơi đường giao nhau;

đ) Tránh xe không đúng quy định; không nhường đường cho xe đi ngược chiều theo quy định tại nơi đường hẹp, đường dốc, nơi có chướng ngại vật;

e) Bấm còi trong thời gian từ 22 giờ ngày hôm trước đến 5 giờ ngày hôm sau, sử dụng đèn chiếu xa trong đô thị, khu đông dân cư, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định;

g) Xe được quyền ưu tiên khi đi làm nhiệm vụ không có tín hiệu còi, cờ, đèn theo đúng quy định;

h) Quay đầu xe tại nơi cấm quay đầu xe.

3. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Dừng xe, đỗ xe trên phần đường xe chạy ở đoạn đường ngoài đô thị nơi có lề đường;

b) Không giảm tốc độ hoặc không nhường đường khi điều khiển xe chạy từ trong ngõ, đường nhánh ra đường chính;

c) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 05 km/h đến dưới 10 km/h;

d) Điều khiển xe chạy tốc độ thấp mà không đi bên phải phần đường xe chạy gây cản trở giao thông;

đ) Dừng xe, đỗ xe ở lòng đường đô thị gây cản trở giao thông; tụ tập từ 3 (ba) xe trở lên ở lòng đường, trên cầu, trong hầm đường bộ; đỗ, để xe ở lòng đường đô thị, hè phố trái quy định của pháp luật;

e) Bấm còi, rú ga liên tục trong đô thị, khu đông dân cư, trừ các xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ theo quy định;

g) Xe không được quyền ưu tiên sử dụng tín hiệu còi, cờ, đèn của xe ưu tiên;

h) Không thực hiện đúng các quy định về dừng xe, đỗ xe tại nơi đường bộ giao nhau cùng mức với đường sắt; dừng xe, đỗ xe trong phạm vi an toàn của đường sắt; dừng xe, đỗ xe trên đường xe điện, điểm dừng đón trả khách của xe buýt, trên cầu, nơi đường bộ giao nhau, trên phần đường dành cho người đi bộ qua đường; dừng xe nơi có biển cấm dừng; đỗ xe tại nơi có biển cấm dừng hoặc biển cấm đỗ;

i) Người điều khiển, người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm hoặc đội mũ bảo hiểm không cài quai đúng quy cách khi tham gia giao thông trên đường bộ;

k) Chở người ngồi trên xe không đội mũ bảo hiểm hoặc đội mũ bảo hiểm không cài quai đúng quy cách, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 06 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật;

l) Chở theo 2 (hai) người trên xe, trừ trường hợp chở người bệnh đi cấp cứu, trẻ em dưới 14 tuổi, áp giải người có hành vi vi phạm pháp luật.

4. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Chuyển hướng không giảm tốc độ hoặc không có tín hiệu báo hướng rẽ;

b) Chở theo từ 3 (ba) người trở lên trên xe;

c) Không chấp hành hiệu lệnh của đèn tín hiệu giao thông;

d) Điều khiển xe chạy dưới tốc độ tối thiểu trên những đoạn đường bộ có quy định tốc độ tối thiểu cho phép;

đ) Điều khiển xe thành đoàn gây cản trở giao thông;

e) Điều khiển xe đi vào đường cao tốc, trừ xe phục vụ việc quản lý, bảo trì đường cao tốc;

g) Điều khiển xe không đi bên phải theo chiều đi của mình; đi không đúng phần đường, làn đường quy định hoặc điều khiển xe đi trên hè phố;

h) Vượt bên phải trong các trường hợp không được phép;

i) Đi vào đường cấm, khu vực cấm; đi ngược chiều của đường một chiều, trừ trường hợp xe ưu tiên đang đi làm nhiệm vụ khẩn cấp theo quy định;

k) Người điều khiển xe hoặc người ngồi trên xe bám, kéo, đẩy xe khác, vật khác, dẫn dắt súc vật, mang vác vật cồng kềnh; người ngồi trên xe đứng trên yên, giá đèo hàng hoặc ngồi trên tay lái; xếp hàng hóa trên xe vượt quá giới hạn quy định; điều khiển xe kéo theo xe khác, vật khác;

l) Chở hàng vượt trọng tải thiết kế được ghi trong Giấy đăng ký xe đối với loại xe có quy định về trọng tải thiết kế.

5. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định từ 10 km/h đến 20 km/h;

b) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở;

c) Vượt xe trong những trường hợp cấm vượt, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm h Khoản 4 Điều này;

d) Chạy trong hầm đường bộ không sử dụng đèn chiếu sáng gần; dừng xe, đỗ xe, vượt xe trong hầm đường bộ không đúng nơi quy định; quay đầu xe trong hầm đường bộ;

đ) Không tuân thủ hướng dẫn của người điều khiển giao thông khi qua phà, cầu phao hoặc nơi ùn tắc giao thông; không chấp hành hiệu lệnh của người điều khiển giao thông hoặc người kiểm soát giao thông; không nhường đường hoặc gây cản trở xe ưu tiên.

6. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Sử dụng chân chống hoặc vật khác quệt xuống đường khi xe đang chạy;

b) Điều khiển xe trên đường mà trong cơ thể có chất ma túy;

c) Không chú ý quan sát, điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định gây tai nạn giao thông; vượt xe hoặc chuyển làn đường trái quy định gây tai nạn giao thông;

d) Gây tai nạn giao thông không dừng lại, không giữ nguyên hiện trường, bỏ trốn không đến trình báo với cơ quan có thẩm quyền, không tham gia cấp cứu người bị nạn;

đ) Điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định trên 20 km/h;

e) Điều khiển xe trên đường mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80 miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở;

g) Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người kiểm soát giao thông hoặc người thi hành công vụ.

7. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Buông cả hai tay khi đang điều khiển xe; dùng chân điều khiển xe; ngồi về một bên điều khiển xe; nằm trên yên xe điều khiển xe; thay người điều khiển khi xe đang chạy;

b) Điều khiển xe lạng lách hoặc đánh võng trên đường bộ trong, ngoài đô thị;

c) Điều khiển xe chạy bằng một bánh đối với xe hai bánh, chạy bằng hai bánh đối với xe ba bánh;

d) Điều khiển xe thành nhóm từ 2 (hai) xe trở lên chạy quá tốc độ quy định.

8. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 14.000.000 đồng đối với hành vi vi phạm Khoản 7 Điều này mà gây tai nạn hoặc không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của người thi hành công vụ hoặc chống người thi hành công vụ.

9. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

a) Vi phạm Điểm g Khoản 3 Điều này bị tịch thu còi, cờ, đèn sử dụng trái quy định;

b) Vi phạm Điểm b, Điểm c, Điểm i Khoản 4; Điểm b Khoản 5; Điểm đ Khoản 6 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

c) Vi phạm Điểm đ Khoản 5; Điểm a, Điểm c, Điểm đ, Điểm e, Điểm g Khoản 6; Khoản 7 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày; tái phạm hoặc vi phạm nhiều lần Khoản 7 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn, tịch thu xe. Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều này mà gây tai nạn giao thông nhưng chưa tới mức nghiêm trọng thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày: Điểm a, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 1; Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm h Khoản 2; Điểm a, Điểm b, Điểm đ, Điểm g, Điểm h Khoản 3; Điểm a; Điểm b, Điểm c, Điểm e, Điểm g, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm b, Điểm đ Khoản 5;

d) Vi phạm Điểm b Khoản 6, Khoản 8 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn. Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều này mà gây tai nạn giao thông từ mức nghiêm trọng trở lên thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn: Điểm a, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 1; Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm h Khoản 2; Điểm a, Điểm b, Điểm đ, Điểm g, Điểm h Khoản 3; Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm e, Điểm g, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm b, Điểm d, Điểm đ Khoản 5; Điểm a, Điểm c, Điểm e, Điểm g Khoản 6.”

3. Sửa đổi, bổ sung Điều 15 như sau:

“Điều 15. Xử phạt cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm về sử dụng, khai thác trong phạm vi đất dành cho đường bộ

1. Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với người bán hàng rong hoặc bán hàng hóa nhỏ lẻ khác trên lòng đường đô thị, trên vỉa hè các tuyến phố có quy định cấm bán hàng, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm c Khoản 3, Điểm e Khoản 4 Điều này;

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Sử dụng, khai thác tạm thời trên đất hành lang an toàn đường bộ vào mục đích canh tác nông nghiệp làm ảnh hưởng đến an toàn công trình và an toàn giao thông;

b) Trồng cây trong phạm vi đất dành cho đường bộ ở đoạn đường ngoài đô thị làm che khuất tầm nhìn của người điều khiển phương tiện giao thông.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Xây dựng nhà ở trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ ở đoạn đường ngoài đô thị;

b) Dựng lều quán, cổng ra vào, tường rào các loại, công trình tạm thời khác trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm đ Khoản 4, Điểm a Khoản 5 Điều này;

c) Họp chợ, kinh doanh dịch vụ ăn uống, bày, bán hàng hóa, sửa chữa xe, rửa xe, đặt, treo biển hiệu, biển quảng cáo, làm mái che trên lòng đường đô thị, hè phố hoặc thực hiện các hoạt động, dịch vụ khác trái phép trên lòng đường đô thị, hè phố gây cản trở giao thông, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g Khoản 4, Điểm c Khoản 5, Điểm a Khoản 6 Điều này;

d) Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố dưới 05 m2 làm nơi trông, giữ xe.

4. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Đổ, để trái phép vật liệu, chất phế thải trong phạm vi đất dành cho đường bộ ở đoạn đường ngoài đô thị;

b) Tự ý đào, đắp, san, lấp mặt bằng trong hành lang an toàn đường bộ;

c) Tự ý gắn vào công trình báo hiệu đường bộ các nội dung không liên quan tới ý nghĩa, mục đích của công trình đường bộ;

d) Sử dụng trái phép đất của đường bộ hoặc hành lang an toàn đường bộ làm nơi tập kết hoặc trung chuyển hàng hóa, vật tư, vật liệu xây dựng, máy móc, thiết bị, các loại vật dụng khác;

đ) Dựng lều quán, công trình tạm thời khác trái phép trong khu vực đô thị tại hầm đường bộ, cầu vượt, hầm cho người đi bộ;

e) Bày, bán máy móc, thiết bị, vật tư, vật liệu xây dựng hoặc sản xuất, gia công hàng hóa trên lòng đường đô thị, hè phố;

c) Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố từ 05 m2 đến dưới 10 m2 làm nơi trông, giữ xe.

6. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Xây dựng nhà ở trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ ở đoạn đường trong đô thị;

b) Trồng cây xanh trên đường phố không đúng quy định;

c) Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố từ 10 m2 đến dưới 20 m2 làm nơi trông, giữ xe.

6. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Chiếm dụng lòng đường đô thị hoặc hè phố từ 20 m2 trở lên làm nơi trông, giữ xe;

b) Dựng biển quảng cáo trên đất hành lang an toàn đường bộ không được cơ quan quản lý đường bộ có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản;

c) Mở đường nhánh đấu nối trái phép vào đường chính.

7. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với hành vi xây dựng công trình kiên cố khác trái phép trong phạm vi đất dành cho đường bộ.

8. Ngoài việc bị phạt tiền, cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm quy định tại các Khoản 2, 3, 4, 5, 6 và Khoản 7 Điều này còn bị áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây: Buộc phải dỡ bỏ các công trình xây dựng, biển quảng cáo, di dời cây trồng trái phép, thu dọn vật liệu, chất phế thải, hàng hóa và khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra.”

4. Sửa đổi, bổ sung Điều 19 như sau:

“Điều 19. Xử phạt người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự ô tô vi phạm quy định về điều kiện của phương tiện khi tham gia giao thông

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với hành vi điều khiển xe không có kính chắn gió hoặc có nhưng vỡ, không có tác dụng (đối với xe có thiết kế lắp kính chắn gió).

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Điều khiển xe không có đủ đèn chiếu sáng, đèn soi biển số đèn báo hãm, đèn tín hiệu, cần gạt nước, gương chiếu hậu, dụng cụ thoát hiểm, thiết bị chữa cháy, đồng hồ báo áp lực hơi, đồng hồ báo tốc độ của xe hoặc có những thiết bị đó nhưng không có tác dụng, không đúng tiêu chuẩn thiết kế (nếu có quy định phải có những thiết bị đó);

b) Điều khiển xe không có còi hoặc có nhưng còi không có tác dụng;

c) Điều khiển xe không có bộ phận giảm thanh hoặc có nhưng không đúng quy chuẩn kỹ thuật.

3. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Điều khiển xe không đủ hệ thống hãm hoặc có nhưng không đúng tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật;

b) Hệ thống chuyển hướng của xe không đúng tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật;

c) Điều khiển xe không gắn đủ biển số hoặc gắn biển số không đúng vị trí; biển số không rõ chữ, số; biển số bị bẻ cong, bị che lấp, bị hỏng;

d) Điều khiển xe không lắp đủ bánh lốp hoặc lắp bánh lốp không đúng kích cỡ hoặc không bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật;

đ) Tự ý thay đổi kích thước thành thùng xe; tự ý lắp thêm ghế trên xe vận chuyển khách.

4. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không có Giấy đăng ký xe, đăng ký rơ moóc hoặc sơ mi rơ moóc theo quy định;

b) Không gắn biển số (nếu có quy định phải gắn biển số);

c) Không có Giấy chứng nhận hoặc tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (nếu có quy định phải kiểm định) hoặc có nhưng đã hết hạn (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc);

d) Điều khiển xe lắp đặt, sử dụng còi vượt quá âm lượng theo quy định;

đ) Điều khiển xe lắp thêm đèn chiếu sáng về phía sau xe.

5. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Xe đăng ký tạm hoạt động quá phạm vi, thời hạn cho phép;

b) Điều khiển xe quá niên hạn sử dụng tham gia giao thông (nếu có quy định về niên hạn sử dụng);

c) Điều khiển loại xe tự sản xuất, lắp ráp (bao gồm cả xe công nông thuộc diện bị đình chỉ tham gia giao thông);

d) Điều khiển xe gắn biển số không đúng với Giấy đăng ký xe hoặc biển số không do cơ quan có thẩm quyền cấp;

đ) Sử dụng Sổ chứng nhận kiểm định, Giấy chứng nhận, tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, Giấy đăng ký xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp hoặc sử dụng Giấy đăng ký xe không đúng số khung, số máy (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc).

6. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Vi phạm Khoản 1; Khoản 2; Điểm c, Điểm d, Điểm đ Khoản 3 Điều này bị buộc phải lắp đầy đủ hoặc thay thế thiết bị đủ tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật, tháo bỏ những thiết bị lắp thêm không đúng quy định;

b) Vi phạm Điểm a, Điểm b Khoản 3 Điều này buộc phải khôi phục lại tính năng kỹ thuật của thiết bị hoặc thay thế thiết bị đủ tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật; bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

c) Vi phạm Điểm d, Điểm đ Khoản 4 Điều này bị tịch thu đèn lắp thêm, còi vượt quá âm lượng và buộc phải lắp còi có âm lượng đúng quy chuẩn kỹ thuật;

d) Vi phạm Khoản 4 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

đ) Vi phạm Điểm d, Điểm đ Khoản 5 Điều này bị tịch thu Sổ chứng nhận kiểm định, Giấy chứng nhận, tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường, Giấy đăng ký xe, biển số không do cơ quan có thẩm quyền cấp; bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

e) Vi phạm Điểm b, Điểm c Khoản 5 Điều này bị tịch thu phương tiện và bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày.”

5. Sửa đổi, bổ sung Điều 24 như sau:

“Điều 24. Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về điều kiện của người điều khiển xe cơ giới

1. Phạt cảnh cáo người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi điều khiển xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện) và các loại xe tương tự mô tô hoặc điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô.

2. Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 120.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy không có hoặc không mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực;

b) Người điều khiển xe mô tô, xe gắn máy, các loại xe tương tự mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy không mang theo Giấy đăng ký xe, Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (nếu có quy định phải kiểm định);

c) Người điều khiển xe mô tô không mang theo Giấy phép lái xe.

3. Phạt tiền từ 200.000 đồng đến 400.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Người điều khiển xe mô tô, các loại xe tương tự mô tô không có Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (nếu có quy định phải kiểm định) hoặc có nhưng đã hết hạn;

b) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo không mang theo Giấy đăng ký xe, Giấy phép lái xe, Giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường (nếu có quy định phải kiểm định).

4. Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 600.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 50 cm3 trở lên;

b) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô không có hoặc không mang theo Giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự của chủ xe cơ giới còn hiệu lực;

c) Người điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô có Giấy phép lái xe nhưng đã hết hạn sử dụng dưới 6 (sáu) tháng.

5. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô không có Giấy phép lái xe hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 7 Điều này.

6. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi điều khiển xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô.

7. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với người điều khiển xe mô tô có dung tích xi lanh từ 175 cm3 trở lên, xe ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Có Giấy phép lái xe nhưng không phù hợp với loại xe đang điều khiển hoặc đã hết hạn sử dụng từ 6 (sáu) tháng trở lên;

b) Không có Giấy phép lái xe hoặc sử dụng Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa.

8. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển phương tiện vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây: Vi phạm Khoản 5, Điểm b Khoản 7 Điều này bị tịch thu Giấy phép lái xe không do cơ quan có thẩm quyền cấp, Giấy phép lái xe bị tẩy xóa.”

6. Sửa đổi, bổ sung Điều 26 như sau:

“Điều 26. Xử phạt người điều khiển xe ô tô chở hành khách, ô tô chở người vi phạm quy định về vận tải đường bộ

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không hướng dẫn hành khách ngồi đúng vị trí quy định trong xe;

b) Không thực hiện đúng quy định về tắt, bật sáng hộp đèn “TAXI”.

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng trên mỗi người vượt quá quy định được phép chở của phương tiện đối với người điều khiển xe ô tô chở hành khách, ô tô chở người (trừ xe buýt) vi phạm hành vi: Chở quá từ 02 người trở lên trên xe đến 9 chỗ ngồi, chở quá từ 03 người trở lên trên xe 10 chỗ ngồi đến xe 15 chỗ ngồi, chở quá từ 04 người trở lên trên xe 16 chỗ ngồi đến xe 30 chỗ ngồi, chở quá từ 05 người trở lên trên xe trên 30 chỗ ngồi, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Khoản 4 Điều này.

3. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 800.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không đóng cửa lên xuống khi xe đang chạy;

b) Để người ngồi trên xe khi xe lên, xuống phà, cầu phao hoặc khi xe đang ở trên phà (trừ người già yếu, người bệnh, người khuyết tật);

c) Không chạy đúng tuyến đường, lịch trình, hành trình vận tải quy định;

d) Để người mắc võng nằm trên xe hoặc đu bám ở cửa xe, bên ngoài thành xe khi xe đang chạy;

đ) Sắp xếp chằng buộc hành lý, hàng hóa không bảo đảm an toàn; để rơi hành lý, hàng hóa trên xe xuống đường;

e) Chở hành lý, hàng hóa vượt quá trọng tải theo thiết kế của xe hoặc quá kích thước bao ngoài của xe; để hàng hóa trong khoang chở hành khách;

g) Vận chuyển hàng có mùi hôi thối trên xe chở hành khách;

h) Xe vận chuyển khách du lịch, xe vận chuyển hành khách theo hợp đồng không có danh sách hành khách, hợp đồng vận chuyển theo quy định;

i) Vận chuyển hành khách theo tuyến cố định không đúng tuyến xe chạy, không có “Sổ nhật trình chạy xe” hoặc có nhưng không có xác nhận của bến xe hai đầu tuyến theo quy định;

k) Xe vận chuyển hành khách không có nhân viên phục vụ trên xe đối với những xe quy định phải có nhân viên phục vụ;

l) Xe vận chuyển khách du lịch, xe vận chuyển hành khách theo hợp đồng bán vé cho hành khách;

m) Không sử dụng đồng hồ tính tiền cước hoặc sử dụng đồng hồ tính tiền cước không đúng theo quy định khi chở khách.

4. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.000.000 đồng trên mỗi người vượt quá quy định được phép chở của phương tiện đối với người điều khiển xe ô tô chở hành khách chạy tuyến có cự ly lớn hơn 300 km vi phạm hành vi: Chở quá từ 02 người trở lên trên xe đến 9 chỗ ngồi, chở quá từ 03 người trở lên trên xe 10 chỗ ngồi đến xe 15 chỗ ngồi, chở quá từ 04 người trở lên trên xe 16 chỗ ngồi đến xe 30 chỗ ngồi, chở quá từ 05 người trở lên trên xe trên 30 chỗ ngồi.

5. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Để người lên, xuống xe khi xe đang chạy;

b) Sang nhượng hành khách dọc đường cho xe khác mà không được hành khách đồng ý; đe dọa, xúc phạm, tranh giành, lôi kéo hành khách; bắt ép hành khách sử dụng dịch vụ ngoài ý muốn;

c) Xuống khách để trốn tránh sự kiểm tra, kiểm soát của người có thẩm quyền;

d) Xếp hàng trên xe làm lệch xe;

đ) Đón, trả hành khách không đúng nơi quy định trên những tuyến đường đã xác định nơi đón trả khách;

e) Đón, trả hành khách tại nơi cấm dừng, cấm đỗ, nơi đường cong tầm nhìn bị che khuất.

6. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Điều khiển xe tham gia kinh doanh vận tải không gắn thiết bị giám sát hành trình của xe (nếu có quy định phải gắn thiết bị) hoặc gắn thiết bị nhưng thiết bị không hoạt động, không đúng quy chuẩn theo quy định;

b) Chở hàng cấm lưu thông,

7. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Vận chuyển hàng nguy hiểm, hàng độc hại, dễ cháy, dễ nổ hoặc động vật, hàng hóa khác có ảnh hưởng đến sức khỏe của hành khách trên xe chở hành khách;

b) Chở người trên mui xe, nóc xe, trong khoang chở hành lý của xe;

c) Hành hung hành khách;

d) Điều khiển xe ô tô liên tục quá thời gian quy định;

đ) Xe chở hành khách không có hoặc không gắn phù hiệu (biển hiệu) theo quy định hoặc có nhưng đã hết hạn.

8. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển phương tiện vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Vi phạm Khoản 2, Khoản 4 (trường hợp vượt trên 50% đến 100% số người quy định được phép chở của phương tiện); Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h, Điểm i Khoản 3; Khoản 5; Khoản 6 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày. Vi phạm Điểm b Khoản 6 Điều này bị tịch thu hàng hóa cấm lưu thông;

b) Vi phạm Khoản 7 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày; vi phạm Khoản 2, Khoản 4 Điều này (trường hợp vượt trên 100% số người quy định được phép chở của phương tiện) bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn;

c) Vi phạm Khoản 2, Khoản 4 Điều này (trường hợp chở hành khách) phải bố trí phương tiện khác để chở số hành khách vượt quá quy định được phép chở của phương tiện.”

7. Sửa đổi, bổ sung Điều 27 như sau:

“Điều 27. Xử phạt người điều khiển xe ô tô tải, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô vận chuyển hàng hóa

1. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Vận chuyển hàng trên xe phải chằng buộc mà không được chằng buộc chắc chắn; xếp hàng trên nóc buồng lái; xếp hàng làm lệch xe;

b) Chở hàng vượt quá trọng tải thiết kế được ghi trong Giấy đăng ký xe hoặc Sổ chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường mà chưa đến mức vi phạm quy định tại Điểm a Khoản 2, Điểm a Khoản 4 Điều này.

2. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Chở hàng vượt trọng tải thiết kế được ghi trong Giấy đăng ký xe hoặc Sổ chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường từ 10% đến 40% đối với xe có trọng tải dưới 5 tấn và từ 5% đến 30% đối với xe có trọng tải từ 5 tấn trở lên (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc);

b) Xếp hàng trên nóc thùng xe; xếp hàng vượt quá bề rộng thùng xe; xếp hàng vượt phía trước, phía sau thùng xe trên 10% chiều dài xe;

c) Chở người trên thùng xe trái quy định; để người ngồi trên mui xe, đu bám bên ngoài xe khi xe đang chạy;

d) Điều khiển xe tham gia kinh doanh vận tải hàng hóa không mang theo hợp đồng vận tải hoặc giấy vận chuyển theo quy định, trừ xe taxi tải.

3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Điều khiển xe taxi tải không lắp đồng hồ tính tiền cước hoặc lắp đồng hồ tính tiền cước không đúng quy định;

b) Điều khiển xe tham gia kinh doanh vận tải hàng hóa không gắn thiết bị giám sát hành trình của xe (nếu có quy định phải gắn thiết bị) hoặc gắn thiết bị nhưng thiết bị không hoạt động, không đúng quy chuẩn theo quy định;

c) Chở hàng cấm lưu thông; vận chuyển trái phép hoặc không thực hiện đầy đủ các quy định về vận chuyển động vật hoang dã;

d) Chở hàng vượt quá chiều cao xếp hàng cho phép đối với xe ô tô tải thùng hở (không mui); chở hàng vượt quá chiều cao theo thiết kế của xe hoặc thiết kế cải tạo đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt đối với xe ô tô tải thùng kín (có mui).

4. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Chở hàng vượt trọng tải thiết kế được ghi trong Giấy đăng ký xe hoặc Số chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường trên 40% đối với xe có trọng tải dưới 5 tấn và trên 30% đối với xe có trọng tải từ 5 tấn trở lên (kể cả rơ moóc và sơ mi rơ moóc);

b) Điều khiển xe liên tục quá thời gian quy định;

c) Điều khiển xe không có phù hiệu hoặc có nhưng đã hết hạn đối với loại xe quy định phải có phù hiệu.

5. Ngoài việc bị phạt tiền, người có hành vi vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Vi phạm Điểm a, Điểm b Khoản 2; Điểm d Khoản 3; Điểm a Khoản 4 Điều này bị buộc phải hạ phần hàng quá tải, dỡ phần hàng vượt quá kích thước quy định; vi phạm Điểm c Khoản 3 Điều này bị tịch thu hàng hóa cấm lưu thông, động vật hoang dã vận chuyển trái phép;

b) Vi phạm Điểm a, Điểm b Khoản 2; Điểm a, Điểm b Khoản 3 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

c) Vi phạm Điểm c Khoản 2; Điểm c, Điểm d Khoản 3; Khoản 4 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày.”

8. Sửa đổi, bổ sung Điều 33 như sau:

“Điều 33. Xử phạt chủ phương tiện vi phạm quy định liên quan đến giao thông đường bộ

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với chủ xe mô tô, xe gắn máy và các loại xe tương tự mô tô tự ý thay đổi nhãn hiệu, màu sơn của xe không đúng với Giấy đăng ký xe.

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự ô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Lắp kính chắn gió, kính cửa của xe không phải là loại kính an toàn;

b) Tự ý thay đổi màu sơn của xe không đúng với màu sơn ghi trong Giấy đăng ký xe; không thực hiện đúng quy định về biển số, quy định về kẻ chữ trên thành xe và cửa xe; trừ hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 41 của Nghị định này.

3. Phạt tiền từ 800.000 đồng đến 1.200.000 đồng đối với chủ xe mô tô, xe gắn máy; các loại xe tương tự mô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Tự ý đục lại số khung, số máy;

b) Tẩy xóa, sửa chữa hoặc giả mạo hồ sơ đăng ký xe;

c) Tự ý thay đổi khung, máy, hình dáng, kích thước của xe;

d) Khai báo không đúng sự thật hoặc sử dụng các giấy tờ, tài liệu giả để được cấp lại biển số, Giấy đăng ký xe;

đ) Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật điều khiển xe tham gia giao thông;

e) Không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định;

g) Không mua hoặc nộp phí cho phương tiện khi tham gia giao thông theo quy định.

4. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự ô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Tự ý đục lại số khung, số máy;

b) Tẩy xóa hoặc sửa chữa Giấy đăng ký xe, hồ sơ đăng ký xe, Giấy chứng nhận hoặc tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường hoặc các loại giấy tờ khác về phương tiện;

c) Không chấp hành việc thu hồi Giấy đăng ký xe; biển số xe; sổ chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ theo quy định;

d) Vẽ, dán quảng cáo trên xe không đúng quy định;

đ) Không làm thủ tục đổi lại Giấy đăng ký xe khi xe đã được cải tạo;

e) Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện theo quy định của pháp luật điều khiển xe tham gia giao thông;

g) Khai báo không đúng sự thật hoặc sử dụng các giấy tờ, tài liệu giả để được cấp lại biển số, Giấy đăng ký xe.

5. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Thuê, mượn linh kiện, phụ kiện của xe ô tô khi kiểm định;

b) Đưa xe cơ giới, xe máy chuyên dùng không có Giấy chứng nhận hoặc tem kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo quy định ra tham gia giao thông.

6. Phạt tiền từ 6.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với chủ xe ô tô, máy kéo, xe máy chuyên dùng và các loại xe tương tự ô tô vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Tự ý thay đổi tổng thành khung; tổng thành máy; hệ thống phanh; hệ thống truyền động; hệ thống chuyển động hoặc tự ý cải tạo kết cấu, hình dáng, kích thước của xe không đúng thiết kế của nhà chế tạo hoặc thiết kế cải tạo đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; tự ý thay đổi tính năng sử dụng của xe;

b) Cải tạo các loại xe ô tô khác thành xe ô tô chở khách;

c) Không chuyển quyền sở hữu phương tiện theo quy định;

d) Không mua hoặc nộp phí cho phương tiện khi tham gia giao thông theo quy định.

7. Ngoài việc bị phạt tiền, người có hành vi vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Vi phạm Khoản 1, Điểm b Khoản 2 Điều này buộc phải khôi phục lại nhãn hiệu, màu sơn ghi trong Giấy đăng ký xe hoặc thực hiện đúng quy định về biển số, quy định về kẻ chữ trên thành xe và cửa xe;

b) Vi phạm Điểm b, Điểm d Khoản 3; Điểm b, Điểm g Khoản 4 Điều này bị thu hồi biển số, Giấy đăng ký xe (trường hợp đã được cấp lại), tịch thu hồ sơ, các loại giấy tờ, tài liệu giả mạo;

c) Vi phạm Điểm a Khoản 2, Điểm a Khoản 6 Điều này buộc phải khôi phục lại hình dáng, kích thước hoặc tình trạng an toàn kỹ thuật ban đầu của xe; vi phạm Điểm b Khoản 6 Điều này bị tịch thu phương tiện;

d) Vi phạm Điểm g Khoản 3, Điểm d Khoản 6 Điều này bị buộc phải mua hoặc nộp phí theo quy định.”

9. Sửa đổi, bổ sung Điều 36 như sau:

“Điều 36. Xử phạt người điều khiển xe bánh xích; xe quá tải trọng, quá khổ giới hạn của cầu, đường (kể cả xe ô tô chở hành khách)

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện đúng quy định trong Giấy phép lưu hành, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm b, Điểm d, Điểm đ Khoản 3 Điều này.

2. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi điều khiển xe mà tổng trọng lượng của xe hoặc tải trọng trục xe (bao gồm cả hàng hóa xếp trên xe, người đuợc chở trên xe) vượt quá tải trọng cho phép của cầu, đường từ 10% đến 20%, trừ trường hợp có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng.

3. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Không chấp hành việc kiểm tra tải trọng, khổ giới hạn xe khi có tín hiệu, hiệu lệnh yêu cầu kiểm tra tải trọng, khổ giới hạn xe; chuyển tải hoặc dùng các thủ đoạn khác để trốn tránh việc phát hiện xe chở quá tải, quá khổ;

b) Điều khiển xe có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng nhưng tổng trọng lượng của xe hoặc tải trọng trục xe (bao gồm cả hàng hóa xếp trên xe nếu có) vượt quá quy định trong Giấy phép lưu hành;

c) Điều khiển xe mà tổng trọng lượng của xe hoặc tải trọng trục xe (bao gồm cả hàng hóa xếp trên xe, người được chở trên xe) vượt quá tải trọng cho phép của cầu, đường trên 20%, trừ trường hợp có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng;

d) Chở hàng vượt khổ giới hạn của cầu, đường ghi trong Giấy phép lưu hành;

đ) Điều khiển xe bánh xích tham gia giao thông không có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng theo quy định hoặc lưu thông trực tiếp trên đường;

e) Điều khiển xe vượt quá khổ giới hạn của cầu, đường hoặc chở hàng vượt khổ giới hạn của cầu, đường tham gia giao thông, trừ trường hợp có Giấy phép lưu hành còn giá trị sử dụng.

4. Ngoài việc bị phạt tiền, người điền khiển phương tiện vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Vi phạm Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3 Điều này bị đình chỉ lưu hành cho đến khi thực hiện đúng quy định hoặc bị buộc phải hạ tải ngay phần quá tải, dỡ phần quá khổ; nếu gây hư hại cầu, đường phải khôi phục lại tình trạng ban đầu đã bị thay đổi do vi phạm hành chính gây ra;

b) Vi phạm Khoản 1, Khoản 2 Điều này còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) 30 (ba mươi) ngày;

c) Vi phạm Khoản 3 Điều này còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển ô tô, máy kéo và các loại xe tương tự ô tô), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) 60 (sáu mươi) ngày.”

10. Sửa đổi, bổ sung Điều 37 như sau:

‘‘Điều 37. Xử phạt người đua xe trái phép, cổ vũ đua xe trái phép

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Tụ tập để cổ vũ, kích động hành vi điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định, lạng lách, đánh võng, đuổi nhau trên đường hoặc đua xe trái phép;

b) Đua xe đạp, đua xe đạp máy, đua xe xích lô, đua xe súc vật kéo, cưỡi súc vật chạy đua trái phép trên đường giao thông.

2. Phạt tiền từ 4.000.000 đồng đến 6.000.000 đồng đối với người cổ vũ, kích động đua xe trái phép mà cản trở hoặc chống người thi hành công vụ.

3. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với người đua xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện trái phép.

4. Phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với người đua xe ô tô trái phép.

5. Phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Người đua xe ô tô, xe mô tô, xe gắn máy, xe máy điện, xe đạp máy mà chống người thi hành công vụ;

b) Tổ chức đua xe trái phép.

6. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển phương tiện vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây: Vi phạm Điểm b Khoản 1 Điều này bị tịch thu xe (trừ xe bị chiếm đoạt, súc vật kéo, cưỡi); vi phạm Khoản 3, Khoản 4, Điểm a Khoản 5 Điều này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn và tịch thu xe (trừ xe bị chiếm đoạt).”

11. Sửa đổi, bổ sung Điều 38 như sau:

“Điều 38. Xử phạt người có hành vi cản trở việc thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ hoặc đưa hối lộ người thi hành công vụ

1. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với hành vi môi giới, tiếp tay, chỉ dẫn cho người điều khiển phương tiện trốn tránh việc kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ.

2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây:

a) Cản trở hoặc không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ về: Các giấy tờ liên quan đến người và phương tiện, điều kiện hoạt động của phương tiện, hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải, đào tạo, sát hạch lái xe, đăng kiểm phương tiện;

b) Có lời nói, hành động đe dọa, lăng mạ, xúc phạm danh dự hoặc chống lại người thi hành công vụ, xúi giục người khác không chấp hành yêu cầu thanh tra, kiểm tra, kiểm soát của người thi hành công vụ, sử dụng uy tín của cá nhân, tổ chức để gây áp lực, cản trở người thi hành công vụ, trừ các hành vi vi phạm quy định tại: Điểm b Khoản 8, Khoản 9 Điều 8; Điểm g Khoản 6, Khoản 8 Điều 9; Khoản 2, Điểm a Khoản 5 Điều 37 của Nghị định này;

c) Không chấp hành yêu cầu kiểm tra về chất ma túy, nồng độ cồn của người kiểm soát giao thông hoặc người thi hành công vụ, trừ các hành vi vi phạm quy định tại Điểm b Khoản 8 Điều 8, Điểm g Khoản 6 Điều 9 của Nghị định này;

d) Đưa tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác cho người thi hành công vụ để trốn tránh việc xử lý vi phạm hành chính.

3. Ngoài việc bị phạt tiền, người vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp sau đây:

a) Vi phạm Điểm d Khoản 2 Điều này còn bị tịch thu số tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác;

b) Vi phạm Khoản 2 Điều này nếu người vi phạm là người điều khiển phương tiện thì còn bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe (khi điều khiển ô tô, mô tô, máy kéo, các loại xe tương tự ô tô, các loại xe tương tự mô tô), chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ (khi điều khiển xe máy chuyên dùng) 60 (sáu mươi) ngày.”

12. Sửa đổi, bổ sung Điều 41 như sau:

“Điều 41. Xử phạt các hành vi vi phạm quy định về đào tạo, sát hạch lái xe

1. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với giáo viên dạy lái xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Giáo viên dạy thực hành để học viên không có phù hiệu “Học viên tập lái xe” lái xe tập lái hoặc có phù hiệu nhưng không đeo khi lái xe tập lái;

b) Giáo viên dạy thực hành chở người, hàng trên xe tập lái trái quy định;

c) Giáo viên dạy thực hành chạy sai tuyến đường, thời gian quy định trong Giấy phép xe tập lái; không ngồi bên cạnh để bảo trợ tay lái cho học viên thực hành lái xe;

d) Không đeo phù hiệu “Giáo viên dạy lái xe” khi giảng dạy;

đ) Không có giáo án của môn học được phân công giảng dạy theo quy định.

2. Phạt tiền từ 3.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Cơ sở đào tạo lái xe không bố trí giáo viên dạy thực hành ngồi bên cạnh để bảo trợ tay lái cho học viên thực hành lái xe; bố trí giáo viên không đủ tiêu chuẩn để giảng dạy;

b) Cơ sở đào tạo lái xe sử dụng xe tập lái không có “Giấy phép xe tập lái”, biển xe “Tập lái”, không ghi tên cơ sở đào tạo, cơ quan quản lý trực tiếp ở mặt ngoài hai bên cánh cửa hoặc hai bên thành xe theo quy định;

c) Cơ sở đào tạo lái xe sử dụng xe tập lái không trang bị thêm bộ phận hãm phụ hoặc có nhưng không có tác dụng;

d) Cơ sở đào tạo lái xe tuyển sinh học viên không đủ điều kiện quy định về độ tuổi, sức khỏe, thâm niên, số Km lái xe an toàn tương ứng với từng hạng đào tạo;

đ) Cơ sở đào tạo lái xe không có đủ số lượng giáo viên dạy thực hành lái xe các hạng để đáp ứng với lưu lượng đào tạo ghi trong Giấy phép đào tạo lái xe;

e) Cơ sở đào tạo lái xe không lưu trữ đầy đủ hồ sơ các khóa đào tạo theo quy định;

g) Khai báo không đúng sự thật hoặc sử dụng các giấy tờ, tài liệu giả để được học, kiểm tra, sát hạch cấp mới, cấp lại Giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ hoặc nhận lại Giấy phép lái xe, chứng chỉ bồi dưỡng kiến thức pháp luật về giao thông đường bộ khi bị tước quyền sử dụng.

3. Phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 10.000.000 đồng đối với cơ sở đào tạo lái xe, trung tâm sát hạch lái xe vi phạm một trong các hành vi sau đây:

a) Cơ sở đào tạo lái xe tổ chức tuyển sinh, đào tạo không đúng hạng Giấy phép lái xe được phép đào tạo; đào tạo vượt quá lưu lượng quy định trong Giấy phép đào tạo lái xe;

b) Cơ sở đào tạo lái xe tổ chức đào tạo lái xe ngoài địa điểm được ghi trong Giấy phép đào tạo lái xe;

c) Cơ sở đào tạo lái xe tuyển sinh, đào tạo lái xe mà không có Giấy phép đào tạo lái xe hoặc có Giấy phép đào tạo lái xe nhưng đã hết hạn;

d) Cơ sở đào tạo lái xe đào tạo không đúng chương trình, giáo trình theo quy định; bố trí số lượng học viên tập lái trên xe tập lái vượt quá quy định;

đ) Cơ sở đào tạo lái xe không có đủ hệ thống phòng học; phòng học không đủ trang thiết bị, mô hình học cụ;

e) Cơ sở đào tạo lái xe không có sân tập lái hoặc sân tập lái không đủ điều kiện theo quy định;

g) Cơ sở đào tạo lái xe không có đủ số lượng xe tập lái các hạng để đáp ứng với lưu lượng đào tạo ghi trong Giấy phép đào tạo lái xe;

h) Cơ sở đào tạo lái xe cấp Giấy chứng nhận tốt nghiệp hoặc chứng chỉ sơ cấp nghề cho học viên sai quy định;

i) Trung tâm sát hạch lái xe không đủ điều kiện, quy chuẩn theo quy định;

k) Trung tâm sát hạch lái xe tự ý thay đổi hoặc sử dụng phần mềm sát hạch, thiết bị chấm điểm, chủng loại xe ô tô sát hạch khi chưa được sự chấp thuận của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền;

l) Trung tâm sát hạch lái xe để phương tiện, trang thiết bị chấm điểm hoạt động không chính xác trong kỳ sát hạch; để các dấu hiệu, ký hiệu trái quy định trên sân sát hạch trong kỳ sát hạch;

m) Trung tâm sát hạch lái xe không niêm yết mức thu phí sát hạch, phí các dịch vụ khác theo quy định; thu phí sát hạch, phí các dịch vụ khác trái quy định.

4. Giáo viên dạy thực hành để học viên thực hành lái xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại Điều 8 của Nghị định này, bị xử phạt theo quy định đối với hành vi đó.

5. Ngoài việc bị phạt tiền, cá nhân, tổ chức vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Cơ sở đào tạo lái xe vi phạm Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 2; Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 3 Điều này bị đình chỉ tuyển sinh cho đến khi có đủ điều kiện theo quy định hoặc khắc phục xong vi phạm;

b) Trung tâm sát hạch lái xe vi phạm Điểm i, Điểm k, Điểm l Khoản 3 Điều này bị đình chỉ tổ chức sát hạch lái xe cho đến khi có đủ điều kiện theo quy định hoặc khắc phục xong vi phạm;

c) Vi phạm Điểm g Khoản 2 Điều này bị tịch thu các giấy tờ, tài liệu giả mạo.”

13. Sửa đổi, bổ sung Mục 7 Chương II như sau:

“Mục 7. ÁP DỤNG THÍ ĐIỂM ĐỐI VỚI MỘT SỐ VI PHẠM TRONG KHU VỰC NỘI THÀNH CỦA CÁC THÀNH PHỐ TRỰC THUỘC TRUNG ƯƠNG

Điều 43. Xử phạt người điều khiển xe ô tô và các loại xe tương tự ô tô vi phạm một số hành vi áp dụng riêng trong khu vực nội thành của các thành phố trực thuộc Trung ương

1. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm a, Điểm h Khoản 1 Điều 8 Nghị định này.

2. Phạt tiền từ 600.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 2 Điều 8 Nghị định này.

3. Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 1.400.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 3 Điều 8 Nghị định này.

4. Phạt tiền từ 1.400.000 đồng đến 2.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm k Khoản 4 Điều 8 Nghị định này.

5. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm đ, Điểm e Khoản 5 Điều 26 Nghị định này.

6. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung và các biện pháp khắc phục hậu quả sau đây:

a) Vi phạm Điểm h Khoản 2; Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm a, Khoản 4 Điều 8 Nghị định này (trong trường hợp dừng xe, đỗ xe trái quy định) bị buộc phải đưa phương tiện ra khỏi nơi vi phạm;

b) Vi phạm Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 2; Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm b, Điểm c, Điểm đ, Điểm k Khoản 4 Điều 8 Nghị định này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

c) Vi phạm Điểm đ, Điểm e Khoản 5 Điều 26 Nghị định này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

d) Vi phạm Điểm a, Điểm e, Điểm g Khoản 4 Điều 8 Nghị định này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày. Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều 8 Nghị định này mà gây tai nạn giao thông nhưng chưa tới mức nghiêm trọng thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày: Điểm a, Điểm h Khoản 1; Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 2; Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm b, Điểm c, Điểm k Khoản 4;

đ) Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều 8 Nghị định này mà gây tai nạn giao thông từ mức nghiêm trọng trở lên thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn: Điểm a, Điểm h Khoản 1; Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 2; Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm e, Điểm k Khoản 4.

Điều 44. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe mô tô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương tự mô tô và các loại xe tương tự xe gắn máy vi phạm một số hành vi áp dụng riêng trong khu vực nội thành của các thành phố trực thuộc Trung ương

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm a Khoản 1; Điểm a Khoản 2 Điều 9 Nghị định này.

2. Phạt tiền từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng đối với người điều khiển xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm đ, Điểm h Khoản 3 Điều 9 Nghị định này.

3. Phạt tiền từ 400.000 đồng đến 800.000 đồng đối với người điều khiển, người ngồi trên xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm c, Điểm g, Điểm i, Điểm k, Điểm l Khoản 4 Điều 9 Nghị định này.

4. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe vi phạm còn bị áp dụng các hình thức xử phạt bổ sung sau đây:

a) Vi phạm Điểm c, Điểm i Khoản 4 Điều 9 Nghị định này bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 30 (ba mươi) ngày;

b) Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều 9 Nghị định này mà gây tai nạn giao thông nhưng chưa tới mức nghiêm trọng thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe 60 (sáu mươi) ngày: Điểm a Khoản 1; Điểm đ, Điểm h Khoản 3; Điểm c, Điểm g, Điểm i, Điểm k Khoản 4;

c) Vi phạm một trong các Điểm, Khoản sau của Điều 9 Nghị định này mà gây tai nạn giao thông từ mức nghiêm trọng trở lên thì bị tước quyền sử dụng Giấy phép lái xe không thời hạn: Điểm a Khoản 1; Điểm đ, Điểm h Khoản 3; Điểm c, Điểm g, Điểm i, Điểm k Khoản 4,

Điều 45. Xử phạt người điều khiển, người ngồi trên xe đạp, xe đạp máy, xe thô sơ khác vi phạm một số hành vi áp dụng riêng trong khu vực nội thành của các thành phố trực thuộc Trung ương

1. Phạt tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng đối với người điều khiển, người ngồi trên xe vi phạm một trong các hành vi quy định tại:

a) Điểm a, Điểm c, Điểm d, Điểm g Khoản 1; Điểm a, Điểm b, Điểm d, Điểm g Khoản 2; Điểm b, Điểm c Khoản 3 Điều 11 Nghị định này;

b) Khoản 1 Điều 21 Nghị định này.

2. Ngoài việc bị phạt tiền, người điều khiển xe vi phạm quy định tại Khoản 1 Điều 21 Nghị định này còn bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung tịch thu xe.

Điều 46. Xử phạt người đi bộ vi phạm một số hành vi áp dụng riêng trong khu vực nội thành của các thành phố trực thuộc Trung ương

1. Phạt tiền từ 60.000 đồng đến 80.000 đồng đối với người đi bộ vi phạm một trong các hành vi quy định tại: Điểm b, Điểm c Khoản 1 Điều 12 Nghị định này.

2. Phạt tiền từ 80.000 đồng đến 120.000 đồng đối với người đi bộ vi phạm một trong các hành vi quy định tại Khoản 2 Điều 12 Nghị định này.”

14. Sửa đổi, bổ sung Khoản 3, Khoản 4 Điều 47 như sau:

“3. Cảnh sát trật tự, Cảnh sát phản ứng nhanh, Cảnh sát cơ động, Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Trưởng Công an cấp xã trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao có liên quan đến trật tự an toàn giao thông đường bộ có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định tại các Điểm, Khoản, Điều của Nghị định này như sau:

a) Điểm đ, Điểm i Khoản 1; Điểm g, Điểm h Khoản 2; Điểm b, Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm a, Điểm b, Điểm d, Điểm đ, Điểm h Khoản 4; Điểm b, Điểm đ Khoản 5; Điểm b, Điểm c, Điểm d Khoản 7; Khoản 8; Khoản 9 Điều 8;

b) Điểm e Khoản 2; Điểm a, Điểm đ, Điểm e, Điểm h, Điểm i, Điểm k Khoản 3; Điểm b, Điểm c, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm i, Điểm k Khoản 4; Điểm b, Điểm d, Điểm đ Khoản 5; Điểm b, Điểm e, Điểm g Khoản 6; Khoản 7; Khoản 8 Điều 9;

c) Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm h, Điểm i Khoản 2; Điểm b, Điểm đ, Điểm h Khoản 3; Điểm d, Điểm e, Điểm g Khoản 4; Điểm b, Điểm c Khoản 5; Điểm a Khoản 6; Khoản 7 Điều 10;

d) Điểm c, Điểm g, Điểm h, Điểm i Khoản 1; Khoản 2; Khoản 3; Khoản 4 Điều 11;

đ) Điều 12, Điều 13, Điều 14, Điều 15;

e) Khoản 1, Khoản 2, Khoản 4, Khoản 5 Điều 18;

g) Điều 21, Điều 23;

h) Điểm b Khoản 3; Điểm b, Điểm c, Điểm đ, Điểm e Khoản 5; Điểm c Khoản 7 Điều 26;

i) Điều 29, Điều 32;

k) Khoản 3, Khoản 4 Điều 34; Điều 35, Điều 37, Điều 38.

4. Thanh tra đường bộ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao có thẩm quyền xử phạt đối với các hành vi vi phạm quy định về hoạt động vận tải và dịch vụ hỗ trợ vận tải tại các điểm dừng xe, đỗ xe trên đường bộ, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ, trạm kiểm tra tải trọng xe, trạm thu phí, cơ sở kinh doanh vận tải đường bộ, khi phương tiện (có hành vi vi phạm) dừng, đỗ trên đường bộ; hành vi vi phạm quy định về đào tạo sát hạch, cấp Giấy phép lái xe, hoạt động kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường xe cơ giới, bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, bảo đảm tiêu chuẩn kỹ thuật của công trình đường bộ và một số hành vi vi phạm khác quy định tại các Điểm, Khoản, Điều của Nghị định này như sau:

a) Điểm đ Khoản 1; Điểm g, Điểm h Khoản 2; Điểm d, Điểm đ, Điểm e Khoản 3; Điểm a, Điểm b, Điểm đ, Điểm h Khoản 4; Điểm b, Điểm đ Khoản 5; Điểm b Khoản 7; Khoản 8 Điều 8;

b) Điểm a, Điểm đ, Điểm h Khoản 3; Điểm d, Điểm đ Khoản 5 Điều 9;

c) Điểm d, Điểm đ, Điểm e, Điểm g, Điểm h, Điểm i Khoản 2; Điểm b Khoản 3; Điểm e, Điểm g Khoản 4; Điểm b, Điểm c Khoản 5 Điều 10;

d) Điểm c, Điểm e, Điểm g, Điểm h Khoản 1; Điểm a, Điểm b Khoản 2; Điểm b Khoản 3 Điều 11;

đ) Điểm a Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4, Điểm b Khoản 5 Điều 14;

e) Điều 15, Điều 16, Điều 17, Điều 18;

g) Khoản 1; Khoản 2; Khoản 3; Khoản 4; Điểm b, Điểm đ Khoản 5 Điều 19;

h) Điều 22, Điều 23;

i) Điểm b Khoản 3; Điểm b, Điểm c Khoản 4; Khoản 6; Khoản 7 Điều 24;

k) Điều 25; Điều 26;

l) Khoản 1; Điểm a, Điểm b, Điểm d Khoản 2; Khoản 3; Khoản 4 Điều 27;

m) Điều 28, Điều 30, Điều 31;

n) Khoản 2; Điểm a, Điểm d, Điểm e Khoản 4; Khoản 5; Điểm a, Điểm b Khoản 6 Điều 33;

o) Điều 34, Điều 36, Điều 38, Điều 41, Điều 42.”

15. Sửa đổi, bổ sung Điều 54 như sau:

“Điều 54. Tạm giữ phương tiện, giấy tờ có liên quan đến người điều khiển và phương tiện vi phạm

1. Để ngăn chặn ngay vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt được phép tạm giữ phương tiện đến 10 (mười) ngày trước khi ra quyết định xử phạt đối với những hành vi vi phạm được quy định tại các Điều, Khoản, Điểm sau đây của Nghị định này:

a) Vi phạm Điểm g, Điểm k Khoản 4; Điểm b, Điểm đ Khoản 5; Điểm b, Điểm c, Điểm d Khoản 7; Khoản 8 Điều 8;

b) Vi phạm Điểm b, Điểm đ Khoản 5; Điểm b, Điểm e, Điểm g Khoản 6; Khoản 7; Khoản 8 Điều 9;

c) Vi phạm Điểm đ Khoản 3; Điểm d, Điểm g Khoản 4; Điểm a Khoản 6; Khoản 7 Điều 10;

d) Vi phạm Điểm d, Điểm đ Khoản 4 Điều 11 trong trường hợp người vi phạm là người dưới 16 tuổi và điều khiển phương tiện;

đ) Vi phạm Điểm a, Điểm b, Điểm c, Điểm d Khoản 4; Điểm d, Điểm đ Khoản 5 Điều 19;

e) Vi phạm Khoản 3 Điều 20;

g) Vi phạm Điểm a, Điểm đ Khoản 1 Điều 22;

h) Vi phạm Khoản 1; Điểm a, Điểm c Khoản 4; Khoản 5; Khoản 6; Khoản 7 Điều 24;

i) Khoản 2, Khoản 4 Điều 26 trong trường hợp xe kinh doanh vận chuyển hành khách chở vượt trên 50% số người quy định được phép chở của phương tiện; Điểm đ Khoản 7 Điều 26;

k) Khoản 3 Điều 36;

l) Vi phạm Điểm a, Điểm b, Điểm c Khoản 2 Điều 38 trong trường hợp người vi phạm là người điều khiển phương tiện.

2. Để bảo đảm việc xử phạt vi phạm hành chính, người có thẩm quyền xử phạt còn có thể quyết định tạm giữ phương tiện, giấy tờ có liên quan đến người điều khiển và phương tiện vi phạm một trong các hành vi quy định tại Nghị định này theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính. Khi bị tạm giữ giấy tờ theo quy định tại Khoản này, nếu quá thời hạn hẹn đến giải quyết vụ việc vi phạm ghi trong biên bản vi phạm hành chính, người vi phạm chưa đến trụ sở của người có thẩm quyền xử phạt để giải quyết vụ việc vi phạm mà vẫn tiếp tục điều khiển phương tiện hoặc đưa phương tiện ra tham gia giao thông, sẽ bị áp dụng xử phạt như hành vi không có giấy tờ.

3. Khi phương tiện bị tạm giữ theo quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này, chủ phương tiện phải chịu mọi chi phí (nếu có) cho việc sử dụng phương tiện khác thay thế để vận chuyển người, hàng hóa được chở trên phương tiện bị tạm giữ.

4. Bộ Công an hướng dẫn cụ thể việc áp dụng biện pháp tạm giữ phương tiện quy định tại Khoản 1, Khoản 2 Điều này.”

16. Sửa đổi, bổ sung Khoản 4, Khoản 6, Khoản 7 Điều 57 như sau:

“4. Đối với người điều khiển phương tiện thực hiện hành vi vi phạm quy định tại Điểm đ Khoản 1 Điều 8, Điểm h Khoản 2 Điều 10 Nghị định này, trong trường hợp đặt báo hiệu nguy hiểm không đúng quy định bị xử phạt kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2013.

6. Quy định tại Mục 7 Chương II Nghị định này được thực hiện thí điểm trong thời gian 36 (ba mươi sáu) tháng kể từ ngày Nghị định có hiệu lực thi hành, Ủy ban nhân dân các thành phố trực thuộc Trung ương quy định cụ thể phạm vi khu vực nội thành để thực hiện việc thí điểm. Hàng năm, Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với Bộ Công an, Ủy ban nhân dân các thành phố trực thuộc Trung ương báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện thí điểm; kết thúc thời hạn thí điểm, tổ chức tổng kết đánh giá việc thực hiện thí điểm và báo cáo Chính phủ đề xuất chủ trương thực hiện tiếp theo.

7. Về việc xử phạt đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành vi quy định tại Điểm a Khoản 6 Điều 26, Điểm b Khoản 3 Điều 27 Nghị định này được thực hiện từ ngày 01 tháng 7 năm 2013.”

Điều 2. Hiệu lực thi hành

1. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10 tháng 11 năm 2012.

2. Bãi bỏ Nghị định số 33/2011/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.

3. Các hành vi vi phạm quy định tại Nghị định này được phát hiện và lập biên bản trước ngày Nghị định này có hiệu lực, vẫn thực hiện theo quy định của Nghị định số 34/2010/NĐ-CP ngày 02 tháng 4 năm 2010 và Nghị định số 33/2011/NĐ-CP ngày 16 tháng 5 năm 2011.

Điều 3. Trách nhiệm thi hành

Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chịu trách nhiệm thi hành Nghị định này./.

 Nơi nhận:
– Ban Bí thư Trung ương Đảng;
– Thủ tướng, các Phó Thủ tướng Chính phủ;
– Các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc CP;
– VP BCĐ TW về phòng, chống tham nhũng;
– HĐND, UBND các tỉnh, TP trực thuộc TW;
– Văn phòng TW và các Ban của Đảng;
– Văn phòng Tổng Bí thư;
– Văn phòng Chủ tịch nước;
– Hội đồng Dân tộc và các UB của Quốc hội;
– Văn phòng Quốc hội;
– Tòa án nhân dân tối cao;
– Viện Kiểm sát nhân dân tối cao;
– Kiểm toán Nhà nước;
– UB Giám sát tài chính Quốc gia;
– Ngân hàng Chính sách Xã hội;
– Ngân hàng Phát triển Việt Nam;
– Ủy ban TW Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;
– Cơ quan Trung ương của các đoàn thể;
– VPCP: BTCN, các PCN, Trợ lý TTCP, Cổng TTĐT, các Vụ, Cục, đơn vị trực thuộc, Công báo;
– Lưu: Văn thư, KTN (5b).

http://vanban.chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/hethongvanban?_page=1&class_id=1&document_id=163786&mode=detail

 

 

Mới đây, tác giả bộ truyện tranh Sát thủ đầu mưng mủ từng gây xôn xao dư luận – Nguyễn Thành Phong đã cho ra mắt loạt sản phẩm mới về văn hóa giao thông.

Vẫn giữ nguyên cái “chất” của bộ truyện trước, Thành Phong khéo léo chỉ ra những vấn đề bức xúc trong giao thông ở nước ta hiện nay như: tình trạng tắc đường, phóng nhanh vượt ẩu, phố ngập thành sông.. qua các bức vẽ sinh động kèm “ranh ngôn”, “thơ con cóc” dí dỏm. Người xem tranh khi đọc được những câu từ: “chồng lái lụa, vợ góa bụa”, “còi to, máy rú là thú lái xe”… khó ai có thể nín nổi cười.

Tranh Thanh Phong

Tôn giáo nào không làm bạn trở nên mù quáng?

Theo tôn giáo một cách mù quáng không có chút hiểu biết nào cả sẽ tước đọat giá trị tâm linh của tôn giáo và phẩm giá của mình.

Nhiều người trên thế giới này đi theo tôn giáo, và tôn giáo đó phù hợp với tâm trí của họ. Một người phạm các giới điều của tôn giáo sẽ trở thành người nguy hiểm cho xã hội. Điều không có nghi ngờ rằng các nhà khoa học, tâm lý có thể mở rộng phạm vi trí thức, nhưng họ không thể nói với chúng ta mục đích cuộc sống, những điều mà một tôn giáo đúng đắn có thể nói được.

Con người chọn một tôn giáo có ý nghĩa và dựa trên lý trí tùy theo niềm tin của người đó chứ không chỉ đơn thuần dựa vào đức tin truyền thống tập quán và giáo điều. Không ai có quyền buộc tội một người phải chấp nhận đi theo một tôn giáo, không ai được lợi dụng sự nghèo khổ, nạn thất học, hoặc kêu gọi lòng xúc cảm để khiến người vào đạo. Tôn giáo phải được tự do lựa chọn.

Người ta nên được tự do để lựa chọn tôn giáo của riêng mình tùy theo sở thích và khả năng hiểu biết. Theo tôn giáo một cách mù quáng không có chút hiểu biết nào cả sẽ tước đọat giá trị tâm linh của tôn giáo và phẩm giá của mình. Nhân loại có khả năng hiểu biết và ý thức sẳn có để có thể phân biệt những gì là đúng và những gì là sai. Họ có thể thích nghi với hòan cảnh, do đó nên chọn một tôn giáo mà thích hợp với họ và phù hợp với hiểu biết nhân sinh của họ. Họ phải được hướng dẫn một cách đúng đắn và cho họ một cơ hội để quyết định tùy thích mà không có sự ép buộc nào cả.

1. Con đường trung đạo

Tôn giáo được giới thiệu ở đây là một hệ thống giáo dục thực tiển cho việc tu dưỡng tâm trí mà việc tu dưỡng đó được phát hiện trên thế giới cách đây 25 thế kỷ bởi một bậc đạo sư đầy lòng từ bi và trí tuệ. Tôn giáo này được biết là “Trung đạo, một cách sống chân chánh, một hệ thống triết học đạo đức, một tôn giáo của tự do và lý trí”. Tôn giáo này dạy chúng ta thực hành 3 điều chính, đó là: tránh làm các điều ác, vâng giữ các điều lành,và giữ tâm ý thanh tịnh.

Thông điệp này rất giản dị, đầy ý nghĩa và thực tiển, nhưng người ta gặp phải những khó khăn khi họ bắt tay vào tu tập do tính chất non kém vốn có của con người. Đức hạnh của con người đóng vai trò quan trọng trong tôn giáo này. Có lần Đức Thế tôn nói rằng: “giáo pháp của ta không phải đến để tin, mà đến để thấy và tu tập “. Điều này khuyến khích chúng ta nghiên cứu giáo lý của Đức Phật một cách đầy đủ và do đó cho phép chúng ta dùng trí phán xét của chính mình để quyết định về việc liệu chúng ta có nên chấp nhận giáo pháp này hay không. Không ai được yêu cầu đến và chấp nhận đi theo tôn giáo này mà chưa có chút hiểu biết nào về giáo lý của nó. Nghi lễ và cầu nguyện rườm rà sẽ không có giá trị hay ý nghĩa tôn giáo đích thực. Không có đức tin và tu tập mù quáng hoặc các giáo lý bí truyền trong phật giáo. Tất cả mọi thứ đều được mở ra cho sự lựa chọn của những người đi theo mà họ được quyền tự do xem xét các giáo lý và đặt vấn đề bất cứ lúc nào họ muốn làm sáng tỏ nghi ngờ của mình. Theo Đức Phật , một người không nên tin bất cứ điều gì chỉ vì do bậc thánh nói ra hoặc chỉ vì nó được chấp nhận bởi truyền thống, hoặc được chấp nhận bởi nhiều người, nhưng một người nên vận dụng ý thức và trí tuệ của mình cũng như chấp nhận nó chỉ khi nào nó có giá trị trong khi thực hiện điều đó.

Đức Phật dạy về con đường tám ngành bao gồm: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm va chánh định. Con đường trung đao độc nhất vô nhị này dẫn chúng ta đến cuộc sống thánh thiện và an lạc.

Trung đạo không phải là con đường siêu hình hoặc lễ nghi, cũng không phải là chủ nghĩa giáo điều hoặc chủ nghĩa hoài nghi, cũng không phải là tham đắm dục lạc hoặc ép xác khổ hạnh, cũng không phải là thuyết trường tồn hoặc thuyết đọan diệt, cũng không phải là chủ nghĩa bi quan hoặc lạc quan mà là con đường gíac ngộ, một phương pháp giải thóat khỏi khổ đau. Tôn giáo này không đồng ý rằng nhân loại đau khổ ngày nay bởi vì những tội lỗi do tổ tiên của con người đã gây ra. Trái lại, mỗi con người tự chiêu cảm cho chính mình phước đức hoặc tội lỗi. Chính con người có trách nhiệm đối với khổ đau hoặc hạnh phúc của chính mình. Một người đi theo con đường trung đạo sẽ tìm ra an lạc và hạnh phúc đích thực và có thể dẫn đến một đời sống cao quý mà không làm nô lệ cho các căn của chính mình, vì sự đóng góp cho hòa bình, hòa hợp của thế giới .

2. Gieo gì gặp nấy

Tôn giáo này đáp ứng cho những khát vọng cao quý và sâu sắc nhất của con người và có thể xoa dịu những căng thẳng trong đời sống hàng ngày và trong giao tiếp với những người khác; ngoài ra, phật giáo còn gợi ra một cuộc sống có ý nghĩa.Nó không đem đến sợ hãi trong lòng người. “Ở hiền gặp lành” , ” Gieo gió gặt bão”. Đó là những quy luật phổ quát. Tôn giáo này hòan tòan đồng ý với quy luật này, từ đó người ta phải “gặt hái những gì người ta gieo trồng “. A飠nghiệp mà con người gây ra là do bởi tham, sân, si của họ. Khuyết điểm này chỉ có thể vượt qua bằng chính sự chứng ngộ của mình. Hạnh phúc và khổ đau mà con người thụ hưởng trên thế gian này không phải do các tác động bên ngòai mà do chính những hành động thân khẩu ý thiện hay ác mà họ đã tạo ra. Vì lý do này, phật giáo nói rằng : “Hiện tại là kết quả của quá khứ và tương lai là kết quả của hiện tại “.

Theo lời dạy này, nguyên nhân và kết quả đóng vai trò quan trọng trong đời sống chúng ta. Trong vòng nhân quả, nguyên nhân đầu tiên thì không thể thấy vì nguyên nhân đó đã trở thành kết quả và kết quả này lần lượt trở thành nguyên nhân.

3. Bậc đại đạo sư

Người sáng lập tôn giáo này không phải là một nhân vật thần thoại mà là một bậc đại đạo sư thật sự đã sống trong cuộc đời này. Ngài chưa từng coi mình như một bậc siêu nhân mà coi mình như là một con người gíac ngộ chân lý tối thượng, đó là biết được bí mật cuộc đời, nguyên nhân đích thực của khổ đau và hạnh phúc. Ngày nay, bậc đạo sư này không chỉ được kính ngưỡng bởi hàng trăm triệu tín đồ của Ngài mà còn bởi giới trí thức và có văn hóa trên khắp thế giới. Bậc thánh thiện, bậc giải thóat, bậc cải cách xã hội, bậc có tư tưởng dân chủ, và bậc nâng cao đời sống con người, đã nhập diệt ở tuổi 80 để lại đằng sau một đạo lý cao thượng cho nhân loại tu tập như là một phương tiện cho việc giải thóat khỏi đau khổ, sợ hãi và lo âu của con người. Đạo lý này cũng có thể giúp con người đạt được hạnh phúc trong cuộc đời tại thế gian này và cuộc đời mai sau và đưa đến giải thóat hòan tòan mọi khổ đau của nhân loại.

Bậc đạo sư này đã an ủi gia quyến của những người quá cố và đã giúp những người nghèo bị bỏ quên bên lề xã hội, làm thanh cao những cuộc đời bị lừa gạt, làm trong sáng những người lầm lạc tội lỗi. Người khuyến khích những người yếu đuối, đòan kết những người bị chia rẽ, gíac ngộ những người vô minh, sáng tỏ những người thần bí, nâng cao những người thấp hèn, và tán dương những người cao thượng. Cả giàu lẫn nghèo, thánh nhân hoặc người phạm tội đều kính mến Ngài như nhau. Các vua anh minh hoặc hôn quân, các công tôn vương tử nổi danh hoặc vô danh, những trưởng giả hào phóng hoặc keo kiệt,các học giả kiêu căng hoặc khiêm tốn, người nghèo túng thiếu thốn, người bị áp bức, người làm công việc hạ tiện, kẻ giết người độc ác, gái điếm bị khinh rẽ…Tất cả nghe lời dạy trí tuệ và từ bi của Đức Phật đều được lợi ích và sống đời sống an lạc thánh thiện.

Tấm gương cao quý của Ngài là một nguồn truyền cảm cho tất cả . Vẻ mặt đầy đặn và sáng rỡ của Ngài thật sự tạo những cảm giác êm dịu trong ánh mắt của những người sầu muộn. Thông điệp an lạc và độ lượng của ngài được chào đón với tràn đầy hỉ lạc và làm lợi ích bất tận cho tất cả mọi người có cơ duyên được nghe và thực tập. Ý chí sắt đá của Ngài, trí tuệ thậm thâm, lòng từ bi bao la vô bờ bến, vị tha, cuộc xuất thế có tính chất lịch sử, sự thanh tịnh hòan tòan, nhân cách vĩ đại, những phương pháp mẫu mực của Ngài đều được vận dụng để tuyên bày giáo pháp của Ngài – tất cả những yếu tố này truyền cảm cho khỏang 1/5 dân số thế giới ngày nay đã hoan nghênh và tôn thờ Ngài như một bậc vô thượng sư.

Bậc đạo sư cao thượng này đã hy sinh các dục lạc trần gian vì lợi ích của nhân lọai khổ đau mà tìm cầu chân lý để chỉ dạy con đường giải thóat khỏi khổ đau. Ngài thăm viếng những người nghèo trong khi các vua chúa đều viếng thăm Ngài. 45 năm sau khi thành đạo, Ngài đã cống hiến đời mình cho sự gíac ngộ chúng sanh lầm đường lạc lối.

Bậc đạo sư này không làm ai sợ hãi và cũng không bị sợ hãi bởi bất cứ ai. Đây là một trong những nguyên lý mà cần nên được trau giồi trong thế giới do chiến tranh tàn phá- nơi mà những điều quý giá nhất là mạng sống thì bị cúng tế ở bàn thờ bạo lực hung ác và là nơi mà các lọai vũ khí đang gây ra sự sợ hãi, căng thẳng và hận thù.

Ngài là một nhà khoa học hoàn hảo trong lãnh vực của đời sống. Ngài là một nhà tâm lý học tòan thiện, người có thể phân tích bản chất đích thực của tâm – lời dạy của Ngài được hoan nghênh được tán dương như là một tôn giáo khoa học duy nhất. Đối với các đại triết gia và những nhà tư tưởng không thành kiến, Ngài là một bậc thầy đã thấu hiểu các pháp hữu vi trong bối cảnh thích ứng của nó. Đối với những nhà đạo đức, Ngài có quy tắc giới luật cao nhất và biểu tượng cho sự hòan thiện nhất. Ngài là một gương mẫu hòan hảo của tất cả giới đức mà Ngài tuyên thuyết. Đối với các nhà duy lý, Ngài là một bậc đạo sư có tâm hồn rộng rãi nhất, đã nhận thức đúng các vấn đề tranh cải của con người. Đối với những nhà tư tưởng tự do, Ngài là một bậc đạo sư luôn khuyến khích mọi người tư duy tự do mà không có dựa vào các giáo điều tôn giáo. Đối với những nhà theo thuyết bất khả tri, Ngài là một con người đầy trí tuệ hiểu biết và từ bi.

Không còn nghi ngờ gì nữa, Ngài là một trong những bậc đạo sư có sức thuyết phục nhất. Ngài không bao giờ sử dụng sự ép buộc hoặc gây sợ hãi như là một phương tiện để đạt mục dích giáo hóa. Ngài đã giới thiệu một cách sống có ý thức cho mọi người để được an tịnh mà không lưu tâm đến nhãn hiệu tôn giáo.

Ngài là một người phục vụ khiêm tốn của nhân loại, bình thản trước những lời khen hoặc chê, không nao núng ngay cả lúc bịnh tình nguy ngập nhất.

4. An lạc, hạnh phúc và giải thóat

Bậc đạo sư này đã chỉ con đường đi tới an lạc, hạnh phúc và giải thóat. Phương pháp hướng dẫn của Ngài là phóng khóang, hợp lý, khoa học và có thể hiểu được đưa đến gíac ngộ .

Ngày nay thông điệp an lạc của bậc đạo sư này quan trọng và đặc biệt cho con người đang bị cuốn vào hận thù, tham lam, hiềm tỵ, kiêu mạn, tham muốn nắm giữ thế giới này.

Bậc đạo sư này đã sanh ra trong thế gian này, đã xua tan màn đêm vô minh và cứu độ thế gian khỏi những tai ách của nó. Khắp nơi trên thế giới nhiều người sống không có niềm tin hoặc không có tu tập bất kỳ hình thức của tôn giáo nào. Tuy nhiên, nếu họ chỉ lấy một chút vấn đề rắc rối để nghiên cứu và những gì bậc đạo sư này đã dạy, họ có thể dể dàng làm trong sáng những nghi ngờ của mình nếu có và được thuyết phục theo tôn giáo mà tôn giáo đó có thể đóng góp tốt đẹp nhất cho hạnh phúc của con người.

Liệu người ta có tin vào Ngài hay không , tuy nhiên giáo pháp của Ngài đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với tất cả mọi người. Thông điệp của Ngài trao tặng cho thế giới không có bất kỳ bạo lực, cũng không làm rơi một giọt máu nào. Đây là một điều đáng nhớ trong lịch sử thế giới mà đã được ấn dấu vào bằng hàng chữ vàng. Giáo pháp này minh họa lộ trình mà theo đó nhân loại có thể vượt thóat từ một thế giới của bất mãn đến một thế giới mới của ánh sáng từ bi, an lạc, hạnh phúc và thỏa mãn. Giáo pháp 2500 tuổi của bậc đạo sư này có đầy đủ năng lực để đối đầu với bất kỳ thách thức nào mà không thể đảo lộn hoăphải đưa ra một lời diễn dịch mới cho giáo lý nguồn gốc của nó. Gíao lý này có thể được chấp nhận mà không sợ mâu thuẫn với những khám phá và phát minh khoa học hiện đại. Giáo lý này coi trọng giới đức như là một trong những yếu tố cần thiết cho việc đạt đến giải thóat. Yếu tố khác là trí tuệ. Giới đức và trí tuệ có thể được so sánh như đôi mắt và đôi chân của một người. Giới đức giống như cổ xe có thể mang con người đi tới cổng giải thóat nhưng chìa khóa thật sự để mở cổng đó là trí tuệ.

5. Hạnh phúc tối thượng

Những người theo tôn giáo này không coi chính mình như là những người được cho duy nhất có thể có được cơ hội để đến hạnh phúc tối thượng. Họ tin rằng con người tạo ra địa ngục hoặc thiên đường của chính mình tùy theo cách sống và đau khổ trong địa ngục hoặc chứng nghiệm an lạc tối thượng có thể được thực nghiệm ngay trên cuộc đời này, thay vì trong cuộc sống kế tiếp, như phần đông người ta đã tin tưởng. Bậc đạo sư này không bao giờ nỗ lực thuyết giảng giáo pháp của mình bằng sự đe dọa người ngang qua hỏa ngục, hoặc bằng sự ấn chứng cho họ có đời sống trên thiên đường vĩnh hằng, mà bằng sự phơi bày chân lý. Theo những lời dạy này, bất cứ ai cũng có thể thọ hưởng hạnh phúc tối thượng miễn là người đó có cách sống chân chánh. Thiên đàng không phải giành riêng hoặc độc quyền cho một giáo phái hoặc cộng đồng tôn giáo đặc biệt nào cả mà nó nên được mở rộng cho tất cả bất cứ ai sống đời sống cao thượng.Khoan dung, nhẫn nhục và sự hiểu biết là đức hạnh đáng kính mà những người theo tôn giáo tán thành giữ gìn. Từ bi, bác ái và cảm thông không chỉ đối với con người mà còn mở rộng ra cho tất cả các lòai có tình thức – Vì sự phá họai đời sống con người và sinh vật, là sự độc ác và phi lý và tương phản lại với giáo lý của tôn giáo này.

Tôn giáo này của khiến những tín đồ của mình tôn trọng quan điểm của những người khác để sống đời sống hòa hợp.

6. Phương thức sống

Tôn giáo này trong sáng hợp lý và đưa ra những câu trả lời hoàn thiện cho tất cả mọi khía cạnh và những vấn đề quan trọng của đời sống chúng ta. Tôn giáo đã cung cấp một nền tảng vững chắc để giúp nhân loại hướng đến một đời sống tốt đẹp và tích cực hơn.

Tôn giáo này không phân chia con người thành 2 nhóm: “được cứu rỗi” và “bị ruồng bỏ” mà là một tôn giáo có hiểu biết văn minh và dạy chúng ta phương cách chế ngự cũng như thanh lọc tâm.

Những người theo tôn giáo này không nên cầu nguyện van xin. Họ tin vào tầm quan trọng của tự lực và trong hiệu năng của thiền định mà đưa con người đến tự chinh phục, tự điều ngự, tự thanh tịnh, khinh an và gíac ngộ bản chất thiền định có công năng như là một liều thuốc bổ cho thân và tâm.

7. Con người có thể họach định cuộc đời của mình

Tôn giáo này cho rằng tâm là có sức mạnh lớn – là đấng sáng tạo, kẻ hủy diệt con người và cũng là kiến trúc sư cho số phận của mỗi con người. Do đó, con người có khả năng hoạnh định bất kỳ điều gì nếu vị ấy biết cách phát triển và sử dụng tâm mình một cách đúng đắn.

Thật ra, tôn giáo này là ngọn hải đăng tuyệt vời cho việc hướng dẩn nhân loại đi đến an lạc, hạnh phúc vĩnh viễn. Sự thật là thế giới ngày nay đang bị rối rắm với sự hiểu lầm về chủng tộc, chính trị, tôn giáo, các nhóm đối lập và ý thức hệ. Để giải quyết những vấn đề phức tạp này, con người cần phải rèn luyện tinh thần vị tha và độ lượng lẫn nhau và điều này có thể được trau giồi dưới sự hướng dẫn của tôn giáo này mà đã in đậm tính chất đạo đức cho lợi ích rộng lớn.

Con người phải đến để thấy rằng sự phát triển tâm linh là quan trọng hơn trong việc đạt được tiến bộ vật chất vì hạnh phúc và an lạc đích thực của nhân loại. Con người cũng nên tu tập chân lý, phụng sự, bố thí và yêu thương nếu muốn thế giới này trở thành một nơi tốt đẹp hơn để sống còn.

8. Thực tại

Bậc đạo sư ngang qua sự gíac ngộ của mình đã tuyên bố rằng :

  1. Đạo đức cao cả nhất có thể đạt được trong việc trau giồi lòng từ bi bao la.
  2. Hạnh phúc tối thượng là hạnh phúc xuất phát từ định tĩnh của tâm hồn.
  3. Chân lý cứu cánh là chân lý được đòi hỏi ngang qua sự hiểu biết các nguyên nhân đau khổ của con người.
  4. Tôn giáo cao thượng nhất là tôn giáo chỉ dạy về phát triển trí thức, đạo đức và sự thanh tịnh tâm.
  5. Triết lý vĩ đại nhất là triết lý giới thiệu phương cách sống thực tiễn có thể khả thi mà không chỉ dựa vào giáo điều và niềm tin.

Tôn giáo này không cản trở bất kỳ ai đọc và học giáo lý của tôn giáo khác và không cho phép sự cuồng tín. Một kẻ cuồng tin không thể cho phép chính mình được hướng dẫn vì lý trí hoặc ngay cả vì nguyên lý quan sát và phân tích khoa học. Do đó, người theo tôn giáo này là một người tự do với tâm mở rộng và không có phụ thuộc vào bất cứ ai trong việc phát triển tâm linh của mình.

Nếu bạn chú ý học ít nhiều về các nguyên lý tôn giáo hoặc những nguyên tắc đạo đức và tu tập tâm theo tôn giáo này thì bạn sẽ vứt bỏ những sự hiểu lầm trước đây mà bạn đã có về nó. Một người không chỉ nên phán xét giá trị của một tôn giáo chỉ bởi sự xem xét một số các điều tu tập nào đó do những người lầm đường, thay vì vậy bạn nên cố gắng để hiểu giáo lý nền tảng của tôn giáo đó.

9. Tin vào trí tuệ của mình

Thay vì đặt con người và số mệnh của mình dưới sự kiểm sóat tùy tiện của những thế lực vô danh bên ngòai và buộc mình quỵ lụy trước năng lực siêu nhiên như vậy, tôn giáo này đã nâng cao vị trí con người và ban cho con người lòng tự tin vào trí tuệ của chính mình. Trí tuệ dạy con người các cách tu tập và phát huy tiềm năng con người .

Tôn giáo này của dạy chúng ta có lòng vị tha đối với những người khác. Những người theo tôn giáo này tránh xa các điều ác không chỉ bởi vì sợ quả báo từ một vài nguyên nhân không thấy mà còn bởi vì chứng nghiệm các ác nghiệp gây ra đau khổ cho chúng sanh.

Động cơ làm thiện của họ giúp cho những người khác không phải là để làm hài lòng đấng tối thượng để được ban ơn mà vì lòng từ bi và giải thóat họ khỏi khổ đau.

Ở đây trong tôn giáo này chúng ta có thể tìm ra con đường đi tới trí tuệ và sự thánh thiện hoàn tòan mà không dựa vào bất kỳ năng lực bên ngòai nào. Chúng ta có thể đạt được trí tuệ cao nhất ngang qua sự thực chứng mà không ngang qua sự “mặc khải”. Chúng ta có thể rửa sạch tội lỗi mà không cần sự trợ giúp của người đại diện đấng cứu rỗi nào. Chúng ta có thể đạt được giải thóat trong chính đời này bởi sự tu tập chân chánh với khả năng của chúng ta mà không mong đợi nó xuất hiện trong kiếp tới. Tôn giáo này dạy rằng con người không phải vì tôn giáo mà tôn giáo phải vì con người. Điều đó có nghĩa là không trở thành nô lệ cho bất kỳ tôn giáo nào, con người phải tự nỗ lực để áp dụng tôn giáo cho sự giải thóat và tốt đẹp hơn của mình.

10. Điều gì có thể thực hiện

  1. Không có dục lạc trần gian thì cuộc đời có thể tồn tại được không ?
  2. Không có đức tin vào sự bất tử thì con người có thể có đạo đức không?
  3. Không có dựa vào sự trợ giúp từ những năng lực bên ngòai thì con người có thể hướng đến sự chân chánh không ?
  4. Không có lễ nghi cúng kiến, con người có thể sống đời sống tôn giáo không ?
  5. Không có đức tin và lòng trung thành, con người có thể tu tập không ?
  6. Không có khổ đau ngang qua sự trừng phạt tôn giáo nào đó, con người có thể đạt đến giải thóat không ?
  7. Không có tạo sự sợ hãi trong tâm, con người có thể đi theo các nguyên lý tôn giáo nào đó không ?
  8. Không có cưỡng bách và đe dọa người khác chúng ta có thể giới thiệu một tôn giáo đúng đắn không ?
  9. Không có những đức tin mù quáng và tư tưởng giáo điều trong danh xưng tôn giáo thì tôn giáo có thể thuyết phục quần chúng sống đời sống đúng đắn không ?
  10. Một người có thể truyền bá tôn giáo mà không phải là bậc huyền bí hay tu sĩ không ?

” Vâng! ” nhà sáng lập tôn giáo đã trả lời như vậy. Những mục đích này có thể đạt được bởi sự giúp đở, thanh tịnh, giới đức và trí tuệ.

Việc nhận thức quy luật nhân quả như đã được giải thích trong tôn giáo này đã làm sáng tỏa và giải quyết những vấn đề khổ đau của con người, bí mật về vận mệnh và trên hết là sự bất bình đẳng của con người. Hiểu được quy luật này sẽ đưa chúng ta sự khuây khỏa, niềm hy vọng, sự tự tin và quả cảm.

11. Tôn giáo hiện đại

Đây không phải là một lý thuyết hay một tôn giáo chỉ để tin mà là một phương thức sống thánh thiện và thực tiễn. Đây là một trong những tôn giáo cổ xưa nhất trong lịch sử mà đã đem đến sự tu dưỡng tốt đẹp nhất cho nhân loại. Giờ đây tôn giáo này là hiện đại nhất trên mọi phương diện khi chúng ta so sánh với những thành quả hiện đại. Tôn giáo khuyên bảo mọi người không nên trở thành nô lệ cho bất kỳ năng lực ngọai lai nào mà nên trau giồi tiềm năng đang tiềm ẩn trong chính mình và dùng nỗ lực cũng như trí tuệ của chính mình để hóa giải những vấn đề của chính mình.

Tôn giáo này có tất cả những phẩm chất mà đòi hỏi một tôn giáo chân chánh phải có và những phẩm chất đó luôn luôn thích hợp trong thế giới hiện tại và tương lai. Đó là lý trí tiến bộ và hợp lý. Thật là một điều lợi ích cho bất cứ ai nghiên cứu và chứng nghiệm giá trị của tôn giáo này trong thế giới hiện đại . Tôn giáo này được công nhận là khoa học hơn khoa học, tiến bộ hơn mọi tiến bộ trong lãnh vực tâm linh. Nó là một trong những phương tiện hữu hiệu nhất để ứng dụng cho việc duy trì hòa bình, hòa hợp và hiểu biết của thế giới.

12. Vô phân biệt

Chính tôn giáo này, lần đầu tiên trong lịch sử thế giới đã nổi lên cuộc cách mạng chống lại hệ thống phân chia giai cấp và đem đến sự bình đẳng cho con người, tùy theo, cơ hội bình đẳng đối với tất cả mà chia họ thành mỗi tầng lớp xã hội. Cũng chính tôn giáo này, lần đầu tiên đã giải phóng phụ nữ bằng sự khuyến khích họ tu tập tôn giáo mà tôn giáo đó ban cho sự bình đẳng xã hội. Bậc đạo sư đã tuyên bố rằng các cửa thành công và thịnh vượng được mở ra cho tất cả trong mọi hòan cảnh sống dù cao hay thấp, thánh hay phàm, bất cứ người nào mà quan tâm, truy tìm và khát vọng về sự hoàn thiện.Ngài đã không ép buộc đệ tử của mình làm nô lệ cho chính Ngài hoặc lời dạy của ngài nhưng ban cho họ sự tự do tư tưởng hoàn tòan để họ có thể đạt đến sự tự tin.

Tôn giáo này phân lọai chúng sanh thành danh và sắc trong một trạng thái biến đổi liên tục trong từng sát năm. Danh và sắc sanh diệt tương tục như một vòng xoay liên tục.

Do đó không có gì tồn tại vĩnh viễn hoặc trong thế giới này hoặc cảnh giới khác. Vì mọi vật tồn tại ở bất kỳ nơi nào trong vũ trụ cũng đều là trống không, chỉ là sự kết hợp của các yếu tố và năng lực. Đó chính là bản chất của các pháp mà ngày nào đó sẽ tan rã và các pháp sẽ biến mất hòan tòan. Tôn giáo này cũng đã dạy chúng ta rằng các pháp do nhân duyên cấu thành đều bị chi phối bởi sự thay đổi và xung đột theo các quy luật chung của vũ trụ.

Những nguyên lý mà do tôn giáo này quán sát thì không phải là giáo điều. Do sự trì giữ các giới như : không sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối và uống rượu thì hành giả có thể thanh tịnh chính mình và có khả năng làm người khác sống an lạc.

13. Mục đích

Mục đích của chúng tôi trong việc xuất bản quyển sách này là không phải giáo hóa những người khác đi theo niềm tin của chúng tôi mà là để gíac ngộ họ làm thế nào để tìm kiếm an lạc và hạnh phúc cũng như tu tập sự nhận thức đúng đắn mà không dựa vào niềm tin mù quáng. Chúng tôi khuyến khích mọi người thực hành tôn giáo riêng của họ một cách đúng đắn nếu họ có thể tìm thấy một cách đúng đắn, cao quý mà không làm giảm chân giá trị con người của mình.

Tuy nhiên tôn giáo này có thể là lời giải đáp cho những vấn đề nhân sinh, tâm lý và tôn giáo của bạn. Hoặc có thể gợi ra một hướng đi trong sáng cho suy nghĩ của bạn về các vấn đề tôn giáo và triết học. Tôn giáo cũng có thể giúp bạn hiểu biết cách sống và di sản văn hóa Châu Á. Bạn có thể tìm thấy trong tôn giáo này sự hướng dẫn tâm linh cho các nhu cầu thế giới hiện đại.

Tôn giáo này đem lại cho thế giới một tinh thần, một hy vọng mới, một hướng đi mới, chân lý của nó và sự cần thiết của nó được tìm thấy và cảm nhận trong hôm nay cũng như ngày xưa. Tôn giáo vĩ đại này được nói ở đây là “Phật giáo” và người sáng lập tôn giáo giáo này không ai khác hơn là “Đức Phật Cồ Đàm”.

Cái đó cũng có thể là mục đích của các bạn, chúng tôi mời các bạn hãy đến gần hơn để nhìn tôn giáo và ý tưởng của người sáng lập tôn giáo này. Chúng tôi sẳn sàng giúp đỡ các bạn trong việc tìm cầu chân lý. Vì vậy, phải không có thành kiến, tránh định kiến giáo điều tôn giáo và cố gắng tim cầu chân lý.

Thích Nữ Diệu Hương dịch từ nguyên tác tiếng Anh “What is this Religion ” của Đại lão HT. K. Sri Dhammananda, trong tác phẩm “Các Viên Ngọc Trí Tuệ của phật giáo” (Gems of Buddhist Wisdom), CBBEF, Taiwan, 1996, trang 17-33.

S.T

[Nguồn: REDS.vn]

Ngày tận thế trong quan điểm một số tôn giáo lớn

Thuyết Tận thế của các tôn giáo lớn có một mẫu số chung là ngày tận thế thường được báo trước bằng một thời kỳ suy sụp đạo đức kéo dài. Thế cân bằng giữa trời, đất và con người bị phá hoại bởi những hành vi phi đạo đức của con người. Sự vận hành của trời, đất bị rối loạn, thiên tai liên tiếp xảy ra với tầm cỡ phá hoại ngày càng lớn…

1. Ba Tư giáo và ngày tận thế:

Zoroastre, cũng gọi là Zarathoustra, là vị tiên tri người Ba Tư, sống vào khoảng năm 1300 trước Tây lịch, lập ra Ba Tư giáo, cũng gọi là Hỏa giáo, cũng là người đầu tiên đề xướng thuyết tận thế sau này có ảnh hưởng đến Do Thái giáo và Thiên chúa giáo. Giáo sư James Russell, thuộc Trường Đại Học Mỹ Harvard, viết rằng, theo tín đồ ba Tư giáo thì “thế giới có điểm khởi đầu và điểm tận cùng, và là một chiến trường lớn giữa cái Thiện và Ác, tức là giữa Ahura Mazda, vị thần đại biểu cho sự minh triết và cái thiện và Ahriman, là quỷ Satan đại biểu cho cái ác”.

Tiên tri Zoroastre tuy tuyên bố là ngày tận thế sẽ xảy ra vào một ngày của năm thứ 1200, kể từ ngày sáng thế ; nhưng đáng tiếc là Zoroastre lại không tuyên bố ngày sáng thế cụ thể là ngày nào, cho nên người ta cũng không thể tính ra được cụ thể ngày tận thế là ngày nào. Zoroastre chỉ nói là ngày tận thế trùng với ngày xuất hiện của Đấng Cứu Thế, và cũng là ngày phán xử cuối cùng, sau đó những người thiện được lên Thiên đàng, còn bọn ác thì bị đọa xuống địa ngục.

2. Do Thái giáo và Thiên chúa giáo với thuyết tận thế:

Văn chương về chủ đề ngày tận thế (Apocalypse) rất là phổ biến trong các giới Do Thái giáo và Thiên chúa giáo vào những thế kỷ đầu Tây lịch, mô tả cảnh tượng hãi hùng của ngày tận thế, như có thể thấy trong các bài tập văn của các bậc tiên tri Do thái Ezechiel, Zarachie, Daniel. Cuốn sách cuối cùng của kinh Tân Ước cũng mang đầu đề Apocalypse (tận thế) theo truyền thuyết là một tác phẩm của thánh Jean, có thể được viết vào khoảng năm 94-95 của Triều đại Hoàng đế La Mã Domitien, và có nói tới các cuộc khủng bố của Hoàng đế Néron đối với tín đồ Thiên chúa giáo. Nội dung cuốn sách Tận thế trong kinh Tân Ước nhất là đoạn báo trước sự hủy diệt của thành Roma, bị tố cáo là thành phố đẫm máu và là “con đĩ” của toàn cầu, rõ rằng là nhằm an ủi những thế hệ các tín đồ Thiên chúa giáo từng bị các hoàng đế La Mã khủng bố, đặc biệt là hoàng đế Néron.

Văn chương tận thế của đạo Do Thái và Thiên chúa đã có ảnh hưởng rất sâu sắc đến quần chúng tín đồ của hai tôn giáo này, chứng cớ là một mô típ phổ biến của nghệ thuật điêu khắc và hội họa của Thiên chúa giáo là những cảnh hãi hùng của ngày tận thế. Chủ đề ngày tận thế cũng được đề cập trong tác phẩm văn chương nổi tiếng như cuốn “Hài kịch thiêng liêng của Dante, nhiều đoạn trong cuốn “Huyền thoại thế kỷ” (Legende des sieclès) của đại văn hào Pháp Victor Hugo…

3. Hồi giáo và ngày tận thế :

Đạo Hồi cũng cho rằng ngày tận thế trùng với ngày phục sinh của Jésus được xem như là một bậc tiên tri, như Mahomết vậy. Kinh Coran viết : “Đó là ngày tiếng kèn đồng vang lên và bọn ác xanh mắt lên vì kinh hoàng”. Tuy nhiên, hình như đạo Hồi không quan tâm mấy đến ngày tận thế . Vì theo họ, chỉ có Thượng Đế Allah mới biết được cụ thể là ngày nào. Họ chỉ nói ngày tận thế sẽ được báo trước bởi một thời kỳ suy sụp của mọi giá trị đạo đức. Hai con quỷ Gog và Magog sẽ băng qua con sông nước đồng chảy của địa ngục, và cùng với ác thần Dajjal, sẽ đem lại tang thương, chết chóc và khổ đau trên thế gian này. Thế nhưng tiên tri Jésus sẽ phục sinh và giết chết ác thần Dajjal, mở cửa vườn Thiên đàng cho những tín đồ sống thiện lành và xua hết bọn ác xuống địa ngục.

4. Bài học đạo đức của thuyết Tận thế các tôn giáo lớn:

Ít nhất, thuyết Tận thế của các tôn giáo lớn có một mẫu số chung là ngày tận thế thường được báo trước bằng một thời kỳ suy sụp đạo đức kéo dài. Thế cân bằng giữa trời, đất và con người bị phá hoại bởi những hành vi phi đạo đức của con người ; sự vận hành của trời, đất bị rối loạn, thiên tai liên tiếp xảy ra với tầm cỡ phá hoại ngày càng lớn. Theo tôi, những biện pháp bảo vệ môi trường thôi cấp thiết và cần thiết, nhưng vẫn là tạm bợ. Chiến lược gốc là khôi phục lại thế cân bằng giữa ba yếu tố trời, đất và con người, nhờ khắc phục ba ngọn lửa tham, sân, si đang thiêu cháy không những thế giới mà cả bản thân con người nữa. Quan hệ giữa con người với nhau phải là quan hệ thắm đượm tình người, phải là quan hệ được điều phối bởi lý trí, chứ không phải bởi quyền lực và đồng tiền. Các tôn giáo lớn sẽ không chỉ làm công việc rửa tội bằng thánh lễ hay bằng lễ cầu an, mà chủ yếu bằng một nếp sống đạo đức đích thực, nhân bản đích thực.

Theo Nguyệt san GIÁC NGỘ

Làn sóng từ bỏ Thiên chúa giáo ở châu Âu

 

Các giáo hội Thiên chúa giáo ở châu Âu đang chứng kiến những đợt tín đồ Công giáo và Tin lành xin rút tên ra khỏi sổ rửa tội hoặc sổ đăng ký lễ Báp-têm ngày càng tăng. Thông tín viên VOA Lisa Bryant từ Paris cho biết hiện tượng này phản ánh tình hình các xã hội châu Âu, có truyền thống Thiên chúa giáo, đang chuyển sang tính thế tục nhiều hơn.

Giáo Hoàng Benedict XVI (trái) làm lễ rửa tội 1 trẻ sơ sinh ở Vatican, 9/1/2011

Nhà thờ Saint-Germain-des-Pres tại thủ đô Paris của Pháp tràn ngập các tín đồ tại thánh lễ dành cho thanh niên vào tối Chủ Nhật. Nhiều người đứng hai bên cánh hay ngồi tréo chân trong các góc của ngôi thánh đường sâu hun hút được xây vào thế kỷ thứ 6.

Linh mục Benoist de Sinety là cha sở của giáo xứ Saint Germain trong 3 năm qua:

“Tôi lúc nào cũng mừng khi thấy giáo dân đi xem lễ đông. Có nhiều người trẻ đang tự định hướng hay có đức tin trở lại, nhưng không phải nhà thờ nào cũng đông giáo dân như vậy.”

Các nhà thờ tại Pháp và các nơi khác ở châu Âu đang gặp cảnh số tín đồ giảm sút, một xu hướng không phải chỉ được thể hiện bằng các hàng ghế trống trong nhà thờ, mà còn bằng sự giảm mạnh các buổi lễ mà người Công giáo gọi là lễ rửa tội, còn người Tin lành gọi là lễ Báp-têm.

Hiện tượng mới nhất, là cả các tín đồ Công giáo lẫn Tin lành đều xin xóa tên của mình khỏi các tài liệu chứng nhận đã rửa tội hoặc có lễ Báp-têm.

Không có các con số thống kê chính thức, nhưng các chuyên viên và các nhà hoạt động nói con số những người thuộc thành phần này lên đến hàng chục ngàn người. Những trang mạng sẵn sàng cấp chứng nhận đã xóa sổ rửa tội hoặc xóa lễ Báp-têm mọc lên như nấm, dù đây chỉ là những chứng từ không chính thức.

Bà Anne Morelli, người đứng đầu một trung tâm nghiên cứu tôn giáo và thế tục tại trường đại học Free ở Brussels cho biết:

“Xin xóa sổ chính thức và không chính thức đang xảy ra trên toàn châu Âu. Con số này tăng lên trong năm 2011, đặc biệt là tại Hà Lan, Đức, Bỉ và Austria. Việc này phản ánh sự bất bình của công chúng đối với những vụ tai tiếng về tình dục trẻ em tại những nhà thờ ở các nước này.”

Cách đây một thập niên, Hội Thế tục Quốc gia của bà Terry Sanderson công bố trên trang mạng của hội một chứng chỉ “hủy bỏ lễ Báp-têm” để mọi người có thể tải xuống sử dụng. Cho đến nay có hơn 100.000 người đã làm việc này. Bà nói:

“Lúc đầu chỉ là một trò đùa, nhưng hiện nay việc này đã có một ý nghĩa mới vì có quá nhiều người nôn nóng muốn rời khỏi nhà thờ nên họ xem việc này như là một điều nghiêm chỉnh, họ muốn có phương cách để giúp họ từ bỏ nhà thờ một cách chính thức, và thông thường nhà thờ sẽ không công nhận mong ước của họ.”

Một số người Công giáo chống lại lập trường bảo thủ của Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô về những vấn đề như phá thai, đồng tính luyến ái, và tu sĩ lập gia đình.

Những tín đồ Thiên chúa giáo khác cắt đứt quan hệ với nhà thờ bằng quyết định hợp pháp là không trả thuế của quốc gia cho nhà thờ, thay vì bằng cách hủy bỏ lễ Báp-têm.

Đó là trường hợp của nước Đức, nơi có 181.000 người Công giáo tách rời khỏi nhà thờ trong năm 2011, một con số kỷ lục.

Tại Pháp, ông Rene Lebouvier, 71 tuổi, đã quyết định từ bỏ nhà thờ cách đây cả chục năm. Ông cho biết:

“Tôi đã đi kiện để tên tôi được xóa khỏi sổ rửa tội một cách hợp pháp. Tháng 10 năm ngoái, một toà án sơ thẩm tại Normandy ra quyết định có lợi cho tôi, nhưng vị giám mục ở đó đã kháng cáo bản án này.”

Giáo sư về tôn giáo Philippe Portier tại Paris nói không có nhiều người Pháp xin xóa tên khỏi sổ rửa tội, nhưng trường hợp của ông Lebouvier có thể tạo ra một tiền lệ pháp lý. Giáo sư Portier nói:

“Đây sẽ là lần đầu tiên tại châu Âu và đặc biệt tại Pháp, nhà thờ bị buộc phải xoá tên khỏi sổ rửa tội cho những giáo dân bây giờ không muốn được xem là giáo dân nữa. Tôi nghĩ là toà phúc thẩm sẽ phán quyết có lợi cho ông Lebouvier.”

Giáo hội Công giáo Pháp sẽ không bình luận về vụ án này. Tuy nhiên. ông Bernard Podvin, Phát ngôn viên của Hội đồng Giám mục Pháp nói:

“Quan điểm của giáo hội đối với việc xin xóa sổ rửa tội là thận trọng và mong muốn có đối thoại. Hiện tượng này không nên thổi phồng lên.”

Điều làm giáo hội Pháp lo ngại hơn nữa, là số người chịu phép rửa tội đang giảm sút. Theo thống kê của giáo hội, chỉ có 1 trong 3 trẻ em Pháp chịu phép rửa tội, so với 90% cách đây 50 năm.

Giáo hội Công giáo Pháp đang thi hành một chiến lược truyền giảng phúc âm mới để khuyến khích các gia đình làm lễ rửa tội cho con cháu. Chiến lược này rất năng động.

Tại nhà thờ Saint-Germain-des-Pres, truyền bá phúc âm dường như có tác dụng. Nhà thờ đề ra nhiều sinh hoạt, từ trượt tuyết ngoài trời đến tổ chức các mạng lưới giúp đỡ nghề nghiệp để lôi kéo giới trẻ Công giáo.

Linh mục Benoist tại nhà thờ này vẫn giữ vững đức tin:

“Hiện nay có ít tín đồ Công giáo hơn trước nhưng số người còn lại ý thức sứ mạng của họ một cách mạnh mẽ hơn, đó là phục vụ cho con người, cho Chúa, và cho tình thương.”

LISA BRIANT (VOA)

Source

Hồi giáo và chủ nghĩa khủng bố

Đại đa số các tín đồ Hồi Giáo là những phần tử ôn hòa chứ không phải là những kẻ bảo thủ cực đoan (fundamentalists). Đại đa số các phần tử bảo thủ cực đoan cũng không phải là những kẻ khủng bố. Tuy nhiên hầu hết những kẻ khủng bố hiện nay trên thế giới đều là những tín đồ Hồi Giáo.

Thế giới Hồi Giáo có xu hướng chấp nhận thánh chiến với Mỹ

Sau biến cố 11-9-2001, Tổng Thống Mỹ và một số chính khách Tây Phương đã công khai tuyên chiến với chủ nghĩa khủng bố – nhưng đồng thời xác định đây không phải là cuộc chiến chống người Ả Rập hoặc chống những người Hồi Giáo. Đối với Osama Bin Ladin và những người theo ông ta thì đây là cuộc chiến tranh tôn giáo – một cuộc chiến tranh của đạo Hồi chống lại những kẻ ngoại đạo (infidels, unbelievers). Và vì thế đương nhiên Hồi Giáo phải chống Hoa Kỳ vì Hoa Kỳ là nước lớn nhất trong thế giới ngoại đạo.

Trong một cuốn băng video được phổ biến trên đài truyền hình ngày 7.10.2001, Osama Bin Ladin nói đến “những điều sỉ nhục mà Hồi Giáo phải chịu trong hơn 80 năm qua”. Đó là vào năm 1918, đế quốc Ottoman là đế quốc lớn nhất của Hồi Giáo đã bị Tây Phương đánh bại. Thủ đô Constantinople bị chiếm đóng. Toàn lãnh thổ của đế quốc Ottoman bị Anh và Pháp chia nhau thống trị. Anh chiếm Iraq và Palestine. Pháp chiếm Syria. Anh chia Palestine thành hai nước là Jordan và Palestine. Pháp cũng chia Syria thành hai nước là Lebanon và Syria.

Trong khi đó tại Thổ Nhĩ Kỳ, nơi xuất phát của đế quốc Ottoman – người hùng Mustapha Kemal lãnh đạo thành công một cuộc cách mạng của “phong trào quốc gia thế tục” (a secular nationalit movement) giải phóng Thổ Nhĩ Kỳ khỏi ách thống trị của Tây Phương nhưng đồng thời cũng loại bỏ vai trò quốc giáo của Hồi Giáo ra khỏi chính quyền.

Đế quốc Ottoman được thành lập từ thế kỷ 13 và bị suy tàn vào đầu thế kỷ 20. Trong suốt 7 thế kỷ hưng thịnh, vị hoàng đế của đế quốc Ottoman cũng là người đứng đầu giáo phái Sunni của toàn thế giới Hồi Giáo (chiếm 80% tổng số tín đồ Hồi Giáo). Vua Hồi Giáo (Sultan) cũng là người kế vị giáo chủ Mohammad trong vai trò lãnh đạo cộng đồng Hồi Giáo, được gọi là Caliph. Nhưng cuộc cách mạng của Mustapha Kemal đã chính thức hủy bỏ “chế độ Caliph” (caliphage) trong tháng 3-1924.

Nhiều người Hồi Giáo cảm thấy đau đớn về điều này vì “chế độ calyph” tượng trưng cho sự thống nhất của Hồi Giáo từ nay không còn nữa.

Ngày 23-2-1998, tờ nhật báo bằng tiếng Ả Rập xuất bản tại Luân Đôn đã đăng “Bản Tuyên Ngôn của Mặt Trận Thế Giới Hồi Giáo kêu gọi Thánh Chiến chống Do Thái và Thập Tự Quân” có chữ ký của Osama Bin Ladin và những người lãnh đạo các nhóm Thánh chiến ở Ai Cập, Pakistan và Bangladesh. Bản tuyên ngôn mở đầu bằng các lời trích dẫn từ kinh Koran hoặc lời của tiên tri Muhammad. Bản tuyên ngôn kể ra ba tội chính của Hoa Kỳ:

Thứ nhất: Trong hơn 7 năm qua, Hoa Kỳ đã chiếm đóng đất thánh thiêng liêng nhất của Hồi giáo là Arabia, cướp phá tài nguyên và sỉ nhục nhân dân nước này. Hơn nữa, Hoa Kỳ xử dụng Arabia làm nơi xuất phát các cuộc chiến tranh chống các nước láng giềng Hồi Giáo.

Thứ hai: Hợp tác với đồng minh Do Thái, Hoa Kỳ đã gây chiến với Iraq làm thiệt mạng trên một triệu người. Sau đó Hoa Kỳ còn bao vây kinh tế nước này một thời gian lâu dài.

Thứ ba: Mục tiêu chính của Hoa Kỳ là chiến tranh tôn giáo và kinh tế. Rõ rệt nhất là quyết tâm của Hoa Kỳ hủy diệt Iraq là nước lớn nhất trong các nước Ả Rập. Hoa Kỳ âm mưu gây chia rẽ và làm suy yếu các nước Saudi Arabia, Ai Cập, Sudan để tạo điều kiện sống còn cho Israel và sự tiếp tục chiếm đóng của Thập Tự Quân tại các vùng đất của Hồi Giáo.

Bản tuyên ngôn kết luận: Rõ ràng Hoa Kỳ là kẻ đã chống lại Allah, chống lại tiên tri của Ngài và các tín đồ Hồi Giáo. Do đó, Thánh chiến đã trở thành một bổn phận cá nhân (a personal duty) của mọi người Hồi Giáo.

Phần cuối cùng, cũng là phần quan trọng nhất của bản tuyên ngôn, kêu gọi toàn thể tín đồ Hồi Giáo “hãy giết người Mỹ và đồng minh, kể cả dân sự lẫn quân sự, là nghĩa vụ cá nhân của mọi tín đồ Hồi Giáo tại mọi quốc gia” (to kill Americans and their allies, both civil and military, is an individual duty of every Muslim who is able, in any country where there is possible).

Sau khi nêu lên nhiều câu thơ trong kinh Koran, bản tuyên ngôn kêu gọi tiếp như sau: “Do được Thiên Chúa cho phép, chúng tôi kêu gọi mọi tín đồ Hồi Giáo có lòng tin nơi Thiên Chúa và sẵn sàng tuân lệnh của Ngài hãy giết bọn Mỹ và cướp phá tài sản của chúng ở bất cứ nơi nào họ thấy và bất cứ khi nào có thể làm được. Chúng tôi cũng kêu gọi các học sĩ và các vị lãnh đạo, các thanh niên và các chiến sĩ hãy tấn công quân đội Mỹ và đồng minh của chúng”. (By God’s leave, we call on every Muslim who believes in God and hopes for reward to obey God’s command to kill the Americans and plunder their possessions wherever he finds them and wherever he can. Likewise we call on the Muslim ulema and leaders and youth and soldiers to launch attacks against the armies of the American devils and against those who are allied with them…)

Điều bất lợi cho Hoa Kỳ là dư luận rộng rãi trong thế giới Hồi Giáo chấp nhận quan niệm cho rằng Hoa Kỳ là kẻ chủ mưu xâm lấn Iraq. Trước khi kết thúc, bản tuyên ngôn còn trích dẫn nhiều câu thơ trong kinh Koran và nhiều lời nói của tiên tri Muhammad kêu gọi Thánh chiến bằng những hành vi bạo động hoặc quân sự. Phần đông các tín đồ Hồi Giáo ngày nay có xu hướng tán thành bản tuyên ngôn kêu gọi Thánh chiến chống Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, hiện nay Hoa Kỳ là một siêu cường về nhiều mặt trên thế giới. Các đồng minh của Hoa Kỳ như Anh Quốc và Israel cũng là những cường quốc quân sự. Trong khi đó, tuyệt đại đa số các tín đồ Hồi Giáo đều thuộc thế giới thứ ba gồm các nước nghèo như Bangladesh, Pakistan, Ấn Độ, các nước Ả Rập, Phi Châu và Trung Á. Nạn nghèo đói và thất học là hai căn bệnh trầm kha của thế giới đạo Hồi. Do đó, để thực hiện cuộc thánh chiến chống Hoa Kỳ và đồng minh, thế giới Hồi Giáo không thể chọn con đường nào khác hơn là chủ nghĩa khủng bố. Chủ nghĩa khủng bố là một hình thức chiến tranh của kẻ yếu chống lại kẻ thù lớn mạnh hơn mình để tồn tại.

Chủ nghĩa khủng bố có liên hệ mật thiết với giáo lý đạo Hồi

Đại đa số các tín đồ Hồi Giáo là những phần tử ôn hòa chứ không phải là những kẻ bảo thủ cực đoan (fundamentalists). Đại đa số các phần tử bảo thủ cực đoan cũng không phải là những kẻ khủng bố. Tuy nhiên hầu hết những kẻ khủng bố hiện nay trên thế giới đều là những tín đồ Hồi Giáo! Đó là một sự thật không ai có thể phủ nhận. Do đó, vấn đề được đặt ra là: Phải chăng chủ nghĩa khủng bố có liên hệ với giáo lý đạo Hồi?

Từ các tổ chức khủng bố nhỏ ở Saudi Arabia, Ai Cập, Nam Dương, Philippines, Palestine cho đến tổ chức khủng bố lớn như Al-Qaida có tầm hoạt động quốc tế, tất cả đều tự xưng là những tín đồ của đạo Hồi chính thống (authentic Islam). Tất cả đều “thánh hóa” các hành vi khủng bố của mình bằng cách dẫn chứng những câu thơ trong kinh Koran hoặc những lời nói của giáo chủ Muhammad trong các sách Hadiths.

Ngày 14.2.1989, giáo chủ Khomenei tuyên án tử hình nhà văn Anh Quốc gốc Ấn Độ, tác giả cuốn tiểu thuyết “The Satanic Verses” có nội dung phỉ báng tiên tri Muhammad và treo giải thưởng 3 triệu đô la cho ai giết được nhà văn này.

Cả thế giới Tây Phương đều lên án hành động của giáo chủ Khomenei. Trong khi đó, thế giới Hồi Giáo cho hành động của Khomenei là hợp với tiêu chuẩn của đạo Hồi. (a standard Islamic practice) vì trong sách Hadith có chép lời tiên tri Muhammad như sau: “Nếu có kẻ nào nhục mạ ta mà tín đồ nghe thấy thì hãy giết nó ngay lập tức” (If anyone insults me, then any Muslim who hears this must kill him immediately” (The Crisis of Islamn, by Bernard Lewis – The Modern Library 2003 – page 141)

Các tổ chức khủng bố của đạo Hồi không phải mới xuất hiện trong thời gian gần đây mà thực sự đã xuất hiện từ thế kỷ 11 tại Iran và Syria. Đó là tổ chức Assassins, bắt nguồn từ tiếng Ả Rập Hashishiyya – có nghĩa là những kẻ hút ma túy (hashish takers). Tổ chức khủng bố Assassins đã gây kinh hoàng khắp Trung Đông trong hai thế kỷ, từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 13, với chủ trương tiêu diệt bất cứ ai muốn cải tổ xã hội Hồi Giáo. Có thể nói tổ chức khủng bố Assassins là tiền thân và là khuôn mẫu cho các tổ chức khủng bố của Hồi Giáo hiện nay.

Tuy nhiên, khác với các tổ chức khủng bố thời xưa, các tổ chức khủng bố ngày nay rất coi thường sự sát hại các thường dân vô tội. Hơn thế nữa, dường như họ coi các thường dân vô tội là mục tiêu chính bởi lẽ càng có nhiều nạn nhân chết trong một vụ khủng bố họ càng đạt được tiếng vang lớn trong dư luận quần chúng và càng gây được sự sợ hãi cho đối phương. Họ coi đó là một chiến thắng về tâm lý (apsychological victory). Điển hình là vụ tổ chức Al-Qaida cho nổ bom tại Tòa Đại Sứ Mỹ ở Đông Phi năm 1998 nhằm giết hại 12 nhà ngoại giao Mỹ, nhưng vụ khủng bố này đã làm thiệt mạng trên 200 người vô tội gồm hầu hết là người Hồi Giáo Phi Châu. Ngay sau đó, các báo Hồi Giáo bằng tiếng Ả Rập đều gọi các nạn nhân vô tội này là “các thánh tử đạo” và tán tụng rằng: “Allah đã tập họp các thánh tử đạo trên nước thiên đàng!”

Bắt đầu từ thập niên 1980, các vụ khủng bố leo thang dưới hình thức ôm bom tự sát (suicide bombing). Các vụ khủng bố tự sát được khởi đầu từ năm 1982 với nhóm khủng bố Hamas và Hizbulla ở Palestine và Li Băng nhằm chống Israel. Các phần tử khủng bố tự sát thường được tuyển mộ trong số các thanh niên trẻ tuổi và nghèo, sống vất vưởng trong các trại tỵ nạn. Họ được hứa hẹn hai điều: một là được lên thiên đàng hưởng thú nhục dục với 72 cô gái đẹp đến muôn đời. Hai là thân nhân của họ được trợ cấp một số tiền lớn.

Các thiếu nữ khủng bố tự sát đầu tiên được tuyển lựa trong số những người Kurk ở Thổ Nhĩ Kỳ trong các năm 1996-1999 và tại Palestine trong năm 2002.

Giáo lý Hồi Giáo từ xa xưa vốn coi hành đông tự sát là một trọng tội và kẻ tự sát sẽ bị phạt bằng lửa hỏa ngục. Nhưng ngày nay, hành vi ôm bom tự sát lại được các giáo sĩ Hồi Giáo giải thích là sự hy sinh trong cuộc Thánh chiến nên người tự sát phải được coi là “thánh tử đạo”! Giáo chủ Hồi Giáo Ai Cập Yousef Quaradawi tuyên bố: Mọi người chết vì tham gia thánh chiến đều là tử đạo vì thánh chiến là một bổn phận và là một điều răn tôn giáo (a religious commandment).

Sau biến cố 9-11, giới trí thức Hoa Kỳ không xét đoán Hồi Giáo qua hành động của các nhóm khủng bố, nhưng xét đoán Hồi Giáo qua những điều được thuyết giảng trong kinh Koran, trong truyền thống Hồi Giáo (Islamic tradition) và trong các học thuyết của các nhóm Hồi Giáo cực đoan:

1. Kinh Koran: Nếu hình ảnh Thiên Chúa trong Cựu Ước của đạo Do Thái là một vị thần Chiến Tranh (God of War) thì hình ảnh Thiên Chúa Allah trong kinh Koran là một vị thần của sự kinh hoàng (God of Terror) vì thiên chúa Allah công khai ra lệnh cho các tín đồ Hồi Giáo phải giết hại những người ngoại đạo:

“Ta sẽ gieo kinh hoàng nơi trái tim của những kẻ ngoại đạo. Các con hãy chặt đầu chúng và hãy cắt rời tất cả các đầu ngón tay của chúng”. (I will cast terrors into the hearts of those who disbelieve. Therefore, trike of their heads and strike off every fingertips of them – Koran 8:12).

Kinh Koran của đạo Hồi cũng như Cựu Ước của đạo Do Thái và Tân Ước của đạo Ki Tô đều qui các kẻ thù của đạo mình thành kẻ thù của Thiên Chúa (enemies of God). Nói chung, các tôn giáo độc thần đều có ý tưởng cho rằng Thiên Chúa có kẻ thù và Ngài cần có sự giúp đỡ của các tín đồ để chống lại những kẻ thù đó. Do đó, chiến đấu chống kẻ thù của tôn giáo mình là chiến đấu cho Thiên Chúa hoặc chiến đấu theo con đường của Ngài (fighting in the path of God).

Điều nguy hiểm đáng chú ý là kinh Koran xúi giục các tín đồ Hồi Giáo giết người ngoại đạo (kẻ thù của Thiên Chúa) mà không phải chịu trách nhiệm về hành vi sát nhân này vì đó là việc Thiên Chúa làm. Kinh Koran xác nhận: “Không phải các con đã giết chúng mà Thiên Chúa mới là đấng đã giết chúng và không phải các con đã đập tan kẻ thù mà Thiên Chúa mới là đấng đã dẹp tan chúng” (You did not slay them but it was God who slew them. You did not smite when you smote the enemy but it was God who smote – Koran 8:17).

2. Truyền thống Hồi Giáo (Islamic Tradition). Truyền thống Hồi Giáo được tạo thành do các sách Hadiths và các sách Sunnas. Hadiths ghi chép các lời nói và hành động của Muhammad. Sunna là sách sưu tầm các bài giảng nổi tiếng của các giáo sĩ Hồi Giáo qua nhiều thế kỷ. Truyền thống Hồi Giáo đã hình thành những quan niệm đặc biệt trong đời sống của các tín đồ.

Một trong những quan niệm đặc biệt mang tính chất cực đoan nguy hiểm của đạo Hồi là Đạo Hồi chia thế giới thành hai khu vực:

– Khu vực Hồi Giáo (Dar al-Islam/Land of Islam), còn được gọi là Nền Hòa Bình Hồi Giáo (Pax Islamica). Các nước Hồi Giáo đều trở thành anh em nên không được đánh phá lẫn nhau. Khu vực Hồi Giáo phải được sống trong hòa bình.

– Khu vực ngoại đạo (Dar al-Harb/Land of unbelievers) được kinh Koran định nghĩa là khu vực của những kẻ “theo sự sai lầm”. Tất cả những kẻ ngoại đạo đều đáng bị chặt đầu hoặc bị bỏ tù! (The unbelievers follow falsehood. When you meet the unbelievers in the battlefield, strike off their heads or make them prisoners – Koran 47: 4).

Nhiệm vụ của thế giới Hồi Giáo là phải truyền bá đạo Hồi đến toàn thể nhân loại bằng mọi phương tiện kể cả chiến tranh. Mục tiêu của đạo Hồi là sự nhận biết về Thiên Chúa Allah bao trùm trái đất như nước bao trùm đại dương (Islam’s aime is that the knowledge of God should cover the earth as the waters cover the ocean).

Các nước Hồi Giáo quan niệm tôn giáo và chính trị là một, do đó luật pháp Hồi Giáo (sharia) luôn luôn chi phối mọi khía cạnh của đời sống toàn dân. Các ý niệm về “dân chủ” và “nhân quyền” là những điều xa lạ trong các nước Hồi Giáo. Hầu hết các nước Hồi Giáo đều ngăn cấm dân của họ đổi đạo với những hình phá hết sức nặng nề.

– Tại Maroc: Ai bỏ đạo Hồi để theo đạo khác sẽ bị phạt tử hình. Kẻ dụ dỗ tín đồ Hồi Giáo bỏ đạo bị phạt từ 6 tháng đến 3 năm tù.

– Luật Pháp của xứ Saudi Arabia khẳng định: Không thể có hai tôn giáo trên bán đảo Ả Rập. Do đó, việc thiết lập bất cứ một tôn giáo nào khác ngoài đạo Hồi đều bị cấm chỉ tại Saudi Arabia.

– Tại xứ Hồi Giáo Sudan, trong thập niên 1990, hơn hai triệu người Ki Tô Giáo da đen đã bị sát hại.

– Luật pháp Iran qui định hình phạt tử hình đối với ai bỏ đạo Hồi để theo đạo Ki Tô.

Quả thật thần học Hồi Giáo đã mang lại những hậu quả nguy hiểm chết người (the lethal consequences) cho những người ngoại đạo. Vì thế nhiều người đã coi Hồi Giáo như một tôn giáo của sự khủng bố (a religion of terror) và kinh Koran như một cuốn sách của tử thần (the book of Death). Theo sự ước lượng của các chuyên viên chống khủng bố thì các thành phần cực đoan chỉ chiếm 15% trong tổng số các tín đồ Hồi Giáo mà thôi. Tuy nhiên, tổng số tín đồ 15% có nghĩa là trong thế giới Hồi Giáo hiện có 200 triệu kẻ sát nhân sẵn sàng phạm tội ác chống lại nhân loại!

CHARLIE NGUYỄN (SACHHIEM.NET)

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao nói về luật Biển

 – Ngày 21/6, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lương Thanh Nghị đã ra tuyên bố xung quanh việc Quốc hội chính thức thông qua luật Biển Việt Nam.

Người phát ngôn Bộ ngoại giao Lương Thanh Nghị. Ảnh: Minh Thăng


Toàn văn tuyên bố như sau: 

Ngày 21/6/2012, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật Biển Việt Nam. Đây là một hoạt động lập pháp bình thường nhằm hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của Việt Nam, phục vụ cho việc sử dụng, quản lý, bảo vệ các vùng biển, đảo và phát triển kinh tế biển của Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hội nhập quốc tế và tăng cường hợp tác với các nước, vì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.

Đáng tiếc là Trung Quốc đã có những chỉ trích vô lý đối với việc làm chính đáng của Việt Nam.

Nghiêm trọng hơn là Trung Quốc đã phê chuẩn thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa” với phạm vi quản lý bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Việt Nam kiên quyết bác bỏ sự chỉ trích vô lý của phía Trung Quốc; đồng thời phản đối mạnh mẽ việc Trung Quốc thành lập cái gọi là “thành phố Tam Sa”.

Cần khẳng định lại rằng Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và chứng cứ lịch sử để khẳng định chủ quyền không thể tranh cãi đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Việc luật Biển Việt Nam đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là sự tiếp nối một số quy định trong các luật đã có trước đây của Việt Nam.

Đây không phải là vấn đề gì mới và không ảnh hưởng đến quá trình tìm kiếm giải pháp cơ bản, lâu dài cho các tranh chấp ở Biển Đông.

Việt Nam trước sau như một chủ trương giải quyết các bất đồng, tranh chấp ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC).

Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với Trung Quốc, sẵn sàng cùng Trung Quốc thúc đẩy mối quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện theo phương châm “16 chữ” và tinh thần “4 tốt” vì lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định và hợp tác trong khu vực và trên thế giới.

Linh Thư

Đan Mạch: Nền giáo dục vì trẻ em ‘vô điều kiện’

 

Một đất nước như vậy mới đích thực là một đất nước hạnh phúc, bất chấp nó từ đâu tới, bất chấp quá khứ, truyền thống của nó là thế nào.

Sự ra đời của nhà trường và giáo dục quốc dân là một tất yếu lịch sử. Tính chất tất yếu này không chỉ bao hàm nhu cầu truyền dạy tri thức ngày càng lớn tới mức đòi hỏi phải có một phương thức GD hoàn toàn mới mẻ, gắn liền với sự hình thành nhà nước- dân tộc.

Không bắt buộc dùng chung một bộ SGK

Khó lòng phân định rành mạch thời điểm ra đời này, song nhà trường xét như là một thiết chế nghiêm chỉnh, độc lập đã ra đời khi việc GD trẻ em được giao hẳn cho một tầng lớp chuyên trách.

Sự xuất hiện của nhà trường và tầng lớp được gọi  là “giáo viên” đã làm thay đổi hoàn toàn khái niệm “thầy” và cũng phần nào làm chạnh lòng ông thầy đạo mạo kiểu “thầy đồ” của những ngày tháng xa xưa êm đềm, tưởng như có “tôn ti trật tự” chỉ bởi một điều đơn giản, đó là những thời đại có rất ít sự thay đổi!

Câu hỏi không phải là nhà nước chịu trách nhiệm đến đâu về GD quốc dân. Câu hỏi là nhà nước chịu trách nhiệm theo cách nào.

Câu hỏi không phải là các bậc cha mẹ có nên cho con cái họ đến trường hay không dù họ thấy nhà trường là vô ích. Câu hỏi nằm ở chỗ: Họ có được phép làm như thế không?

GD quốc dân sẽ vĩnh viễn tồn tại đối với mỗi dân tộc và mãi mãi dứt khoát thuộc trách nhiệm của nhà nước. Trẻ em đi học là một sự tất yếu. Nhưng hạnh phúc của trẻ em cũng là điều tất yếu. Trường học của đất nước Đan Mạch là một bài học đáng để suy ngẫm.

Đạo luật GD của Đan Mạch được phê chuẩn năm 1814 và cho tới nay chỉ được sửa đổi có năm lần (vào các năm 1903, 1937, 1958, 1975, 1993) ghi rằng GD đối với trẻ em là mang tính cưỡng bách (compulsory).

Song cha mẹ có quyền tự do lựa chọn hình thức trường học cho con cái của mình. Các bậc cha mẹ có ba quyền lựa chọn: Trường công (miễn phí hoàn toàn). Trường tư (được nhà nước tài trợ gần như hoàn toàn, điều này đã được luật hóa từ năm 1899!). Và học ở nhà.

GD phổ thông ở Đan Mạch thuộc thẩm quyền của Bộ Trẻ em và GD (Ministry of Children and Education) còn GD đại học thuộc thẩm quyền của bộ Khoa học, Công nghệ và Phát triển (Ministry of Science, Technology àn Development).

Tất cả các loại hình trường học, dù công lập, tư thục hay học tại nhà, đều phải tuân thủ văn bản hướng dẫn do Bộ Trẻ em và GD ban hành.

Dựa trên văn bản này, mỗi trường học (hoặc mỗi gia đình, nếu con mình học tại nhà) có quyền điều chỉnh, bổ sung thêm các mục tiêu miễn sao đáp ứng được các yêu cầu của văn bản hướng dẫn này.

Tính chất “quốc dân” của nền giáo dục nằm ở chỗ đó. Tính chất quốc dân không nằm ở sự bắt buộc toàn bộ nền GD phải dùng chung một bộ sách giáo khoa duy nhất!

Đạo luật GD của Đan Mạch ghi rằng GD đối với trẻ em là mang tính cưỡng bách

Trường công ở Đan Mạch (tiếng Đan Mạch gọi là folkskole) gồm: 1) Một năm mẫu giáo; 2) 10 năm giáo dục cơ bản (basic education); 3) Một năm lớp 10; hoặc hai năm THPT (Gymnasium) dành cho những em muốn học lên đại học; hoặc 2-3 năm GD nghề nghiệp và kỹ thuật đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động.

Ở Đan Mạch muốn làm thợ nề thì một em học sinh sau khi kết thúc 10 năm GD cơ bản phải học nghề ba năm và trên thực tế thu nhập của một thợ nề đôi khi còn cao hơn một kỹ sư bình thường!

GD cơ bản cho tất cả trẻ em của đất nước gồm các môn học bắt buộc sau: Tiếng Đan Mạch; tiếng Anh (từ lớp 3-9); môn Lịch sử (từ lớp 3-9); các môn học Xã hội (social studies) cho lớp 8-9.

Các môn học mang tính thực hành/sáng tạo (practical/creative) gồm Thể dục, Âm nhạc, các môn nghệ thuật thị giác (visual arts), thiết kế (design), mộc, kinh tế gia đình (home economics) cho lớp 4-7.

Các môn khoa học gồm Toán, Khoa học Tự nhiên/Công nghệ cho lớp 1-6, Địa lý cho lớp 7-9, Sinh vật cho lớp 7-9, Vật lý/Hóa học cho lớp 7-9. Các môn học không bắt buộc bao gồm luật giao thông đường bộ, giáo dục giới tính.

Trường tư không phải để thu lợi nhuận

Trường tư ở Đan Mạch có truyền thống rất lâu đời. Trường Herlfsholm chẳng hạn, tọa lạc trên khu vực rộng hơn 100 hec ta nằm cách Thủ đô Copenhagen khoảng 100 km nơi người viết bài này có hai cô cháu gái đang theo học, được thành lập từ năm 1565.

Điểm đáng chú ý là tất cả các trường tư ở Đan Mạch đều được hưởng sự tài trợ của nhà nước. Việc tài trợ được thực hiện như sau: Tài trợ cho chi phí hoạt động tính trên mỗi học sinh mỗi năm (per pupil per year).

Khoản tài trợ này nhằm đảm bảo sao cho tất cả trẻ em Đan Mạch dù học ở bất cứ loại trường nào cũng đều được hưởng sự giúp đỡ tài chính như nhau của nhà nước. Tài trợ chi phí hoạt động, trong đó bao gồm cả thuê, xây dựng, bảo trì cơ sở vật chất trường học. Các khoản tài trợ khác, chẳng hạn, tài trợ cho các trường có những trẻ em tật nguyền.

Tài trợ được thực hiện theo cách trọn gói và không ràng buộc điều kiện (block grant), tức là các trường có toàn quyền sử dụng tiền tài trợ miễn là cho mục đích và nhu cầu hoạt động giáo dục chứ không phải dùng để kinh doanh vì mục đích kiếm lợi nhuận.

Tác dụng của tài trợ nhà nước được thể hiện rất rõ ngay ở mức đóng học phí. Học sinh ở các trường tư chỉ phải đóng học phí ở mức 30% mức chi phí thực tế bởi vì 70% chi phí là do nhà nước tài trợ cho trường. Trường Herlufsholm được nói tới ở trên, hàng năm còn dành ra một khoản tiền cho Quỹ Herlufsholm để giảm học phí cho một số trường hợp.

Như một gia đình có hai con cùng học ở trường này (con thứ hai được giảm học phí tới 35%), giảm 70% tiền học phí cho những gia đình có thu nhập dưới mức thu nhập bình quân đầu người ở Đan Mạch (dưới 35.000 đôla/năm theo mức năm 2011) và những gia đình gặp những điều kiện khó khăn khác.

Trên thực tế tỉ lệ tiền học phí đúng nghĩa trên tổng số tiền phải đóng, do được nhà nước tài trợ, là không đáng kể bởi hầu hết số tiền phải đóng đều là để chi trả cho cuộc sống hàng ngày của em học sinh.

Một đất nước đáng yêu không hẳn vì ở đó có những phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp hùng vĩ được cả thế giới công nhận. Một đất nước đáng yêu còn bởi vì đất nước có những người trẻ tuổi đại diện cho ngày hôm nay nhờ được hưởng một nền GD quốc dân tuyệt đối vì trẻ em, và vì trẻ em một cách vô điều kiện.

Chẳng hạn, niên học 2011/2012 tiền phải đóng ở trường Herflusholm là khoảng 20.000 đôla Mỹ/năm đối với một em học sinh ở nội trú (đã bao gồm tiền sách vở, ăn, ở, giặt là, chăm sóc sức khỏe). Với số tiền này thì nếu em đi học ở một trường công và sống ở nhà thì cha mẹ cũng phải chi cho em một số tiền tương đương (với học sinh không ở nội trú thì là 42.300 krone, tương đương với gần 8.000 đôla Mỹ).

Tức là người mở trường tư không phải là để thu lợi nhuận “bỏ túi” cho mình. Mặt khác, luật pháp Đan Mạch cấm một người với tư cá nhân (private individual) mở trường tư.

Ngoài ra, tất cả trẻ em Đan Mạch bất kể học ở trường nào hoặc học ở nhà sau tuổi 18 đều có quyền nộp đơn xin cấp học bổng của nhà nước. Nguồn tiền này được lấy từ Quỹ Giáo dục Nhà nước (State Education Fund).

Trên thực tế, hầu hết các đơn đều được chấp nhận. Mức cơ bản (theo số liệu năm 2010) dành cho mọi học sinh là 1.192 krone /tháng (tương đương 200 đôla Mỹ). Mức tối đa có thể lên tới hơn 5.000 krone/tháng (tương đương 1000 đôla Mỹ).

Nền GD vì trẻ em “vô điều kiện”

Một điểm độc đáo nữa của hệ thống giáo dục phổ thông của Đan Mạch là hệ thống các trường được gọi là efterskole (dịch sang tiếng Anh là afterschool). Sau 10 năm giáo dục cơ bản, các gia đình Đan Mạch (chủ yếu là các gia đình có con học ở trường công lập) thường cho con cái họ “nghỉ ngơi” một năm.

“Efterskole” là các trường tư thục và cũng được nhà nước tài trợ, phụ huynh chỉ phải đóng 30% chi phí. Sau 10 năm học tập mệt mỏi, thậm chí buồn tẻ, các bậc cha mẹ muốn con cái họ đổi gió để có những trải nghiệm mới và có thời gian để suy ngẫm về quãng đời đã qua và quãng đời sắp tới.

Học sinh vào học efterskole phải ở nội trú xa gia đình nhưng ở đó chúng có dịp được làm quen, kết bạn và học hỏi lẫn nhau. Chương trình học chủ yếu là các hoạt động tập thể, vui chơi, thể thao, đi dã ngoại.

Sau một năm ở efterskole, các em có thể tiếp tục học nốt mấy năm trung học. Người viết bài này có biết trường hợp một em sau khi rời efterskole thì không muốn tiếp tục học lên cao nữa. Em xin vào làm nhân viên thiện nguyện của một tổ chức nhân đạo hoạt động ở tít tận châu Phi. Rốt cuộc, em đã tìm thấy mục đích sống hữu ích cho mình, như thế chẳng phải là đủ hay sao?

Đan Mạch, nơi tổ tiên là những người Viking giỏi nghề đi biển mà cũng nổi tiếng vì nghề cướp biển, nay là một đất nước vô cùng yên bình, hiền hòa, như một câu trong quốc ca Đan Mạch, “Der er et yndigt land” (There is a lovely country – có một đất nước đáng yêu).

Một đất nước đáng yêu không hẳn vì ở đó có những phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp hùng vĩ được cả thế giới công nhận. Một đất nước đáng yêu còn bởi vì đất nước có những người trẻ tuổi đại diện cho ngày hôm nay nhờ được hưởng một nền GD quốc dân tuyệt đối vì trẻ em, và vì trẻ em một cách vô điều kiện.

PHẠM ANH TUẤN (TUẦN VIỆT NAM)