Tag Archive: giới’


TT – Quân và dân VN ngày 17-2-1979 buộc phải cầm súng một lần nữa, chiến đấu kiên cường trước một đội quân đông hơn nhiều lần, trên một phòng tuyến biên giới dài gần 600km.

TS Nguyễn Mạnh Hà – Ảnh: V.Dũng

TS NGUYỄN MẠNH HÀ, viện trưởng Viện Lịch sử Đảng, nguyên đại tá, chính ủy sư đoàn 308 anh hùng, nhiều năm là viện phó Viện Lịch sử quân sự (Bộ Quốc phòng). Những ngày tháng 2 này, ông chia sẻ với Tuổi Trẻ về cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc từ ngày 17-2 đến 5-3-1979.

* Thưa ông, cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc xảy ra đến nay đã được 34 năm. Ông nói về sự kiện này như thế nào?

– Cuộc chiến tranh biên giới không chỉ bắt đầu từ ngày 17-2-1979, không chỉ bắt đầu sau câu chuyện “nạn kiều” 1978, cũng không chỉ bắt đầu từ những rạn nứt trong quan hệ Việt – Trung sau chiến thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ năm 1975, một chiến thắng mà một số nhà sử học trên thế giới đã cho rằng Trung Quốc không mong muốn. Cũng không phải hoàn toàn như vậy mà nó có gốc rễ sâu xa từ những tính toán trong lợi ích chiến lược của cả Liên Xô và Trung Quốc trên phạm vi toàn cầu chứ không chỉ với một nước nhỏ như VN.

Sai sót lớn là chúng ta đã nhận ra quá muộn bản chất của chế độ Pol Pot. Năm 1977, đồng chí Lê Trọng Tấn được Quân ủy Trung ương cử vào biên giới Tây Nam nghiên cứu tình hình xung đột biên giới với Campuchia trở về, khi trở ra Hà Nội đã bức xúc khẳng định: “Đây không còn là xung đột nữa. Đây là một cuộc chiến tranh biên giới thật sự”. Lúc đó, chúng ta mới tìm hiểu đằng sau Pol Pot là ai. Là rất nhiều cố vấn nước ngoài từng giúp chúng ta trong cuộc kháng chiến trước đó.

Khi chúng ta tổ chức phản kích, tiến vào giải phóng Phnom Penh ngày 7-1-1979, giúp dân tộc Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng, hồi sinh thì đúng 40 ngày sau, Trung Quốc phát động chiến tranh biên giới, với chiêu bài “dạy cho VN một bài học”. Quân chủ lực VN lúc đó đã tăng cường cho chiến trường Campuchia, Trung Quốc hi vọng VN sẽ gục ngã vì bất ngờ.

Lịch sử dân tộc ta có tới 17 cuộc chiến tranh chống xâm lược thì chúng ta đã chiến thắng 14, còn ba cuộc kháng chiến dai dẳng, hàng chục, thậm chí hàng trăm năm chúng ta bị nước ngoài đô hộ nhưng rồi dân tộc ta vẫn chiến thắng.Có thể trong lịch sử hiện đại, khái niệm biên giới quốc gia không còn được tính bằng các cột mốc nữa mà bằng “biên giới mềm”, “sức mạnh mềm”, bằng sự xuất hiện của hàng hóa, hình ảnh, văn hóa của quốc gia nào đó trên đất nước mình, nhưng tôi vẫn tin là chúng ta sẽ bảo vệ được nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của mình, một khi cả dân tộc kết thành một khối, dưới sự lãnh đạo của Đảng dày dạn kinh nghiệm cả trong chiến tranh và trong xây dựng, bảo vệ Tổ quốc

TS NGUYỄN MẠNH HÀ

Ông Trương Tấn Sang – khi là ủy viên Bộ Chính trị, thường trực Ban Bí thư – đến thắp hương tri ân các anh hùng liệt sĩ tại Pò Hèn (Quảng Ninh) ngày 26-5-2010 – Ảnh tư liệu

Quân và dân VN bị buộc phải cầm súng một lần nữa, đã chiến đấu kiên cường trước một đội quân đông hơn nhiều lần, trên một phòng tuyến biên giới dài gần 600km, và đã đánh bật được quân Trung Quốc về bên kia biên giới sau khi làm tổn thất đáng kể sinh lực đối phương.

* Liệu việc bình thường hóa quan hệ sau chiến tranh có làm chúng ta chịu những thiệt thòi nhất định như những điều kiện đi kèm thường thấy trong các hiệp định mà nước lớn thường áp đặt cho nước nhỏ?

– Cuộc chiến tranh biên giới chính thức kéo dài chỉ 17 ngày, từ 17-2 đến 5-3-1979. Nhưng những cuộc xung đột còn kéo dài đến tận năm 1988. Trong suốt chín năm, một phần đáng kể nhân tài vật lực của chúng ta đã phải dồn cho biên giới phía Bắc, trong khi Mỹ cấm vận, viện trợ của Liên Xô cắt giảm so với trước và Trung Quốc thì từ bạn thành thù. Có thể nói VN đã hao tốn nhiều sức lực vì cuộc chiến biên giới đó. Nếu căng thẳng tiếp tục kéo dài, VN càng ngày càng bất lợi. Chính vì vậy, năm 1988, khi VN chủ động rút quân chủ lực lùi xa biên giới 40km, tình hình biên giới lắng dịu ngay, và đến năm 1991 thì VN và Trung Quốc chính thức bình thường hóa quan hệ sau cuộc gặp giữa lãnh đạo hai nước ở Thành Đô, Trung Quốc.

Một người dân đến thắp hương tri ân các liệt sĩ tại đài tưởng niệm Pò Hèn (Quảng Ninh) tháng 2-2013 – Ảnh: Lê Đức Dục

Là một người nghiên cứu lịch sử, nhưng cũng là một người lính, tôi xin nói thẳng là dù bất cứ hoàn cảnh nào thì hòa bình vẫn là quý giá nhất. Chiến tranh biên giới kết thúc thật sự, chúng ta mới có thể tiếp tục sự nghiệp đổi mới, có những chính sách lâu dài và bền vững để phát triển kinh tế, ổn định cuộc sống nhân dân, để có một vị thế mới trong bản đồ ngoại giao thế giới như hôm nay.

Nhưng như vậy không có nghĩa là trang sử về chiến tranh biên giới đã khép lại. Lịch sử bản chất là sòng phẳng, khách quan, cái gì đã xảy ra rồi cũng có lúc sẽ được đặt lại trên bàn cân lịch sử để luận định. Chúng ta nhìn lại chiến tranh biên giới, trước hết là để học bài học cho chính mình: cái gì lẽ ra đã có thể tránh được, cái gì cần nhớ để nhắc lại cho thế hệ sau.

Chúng ta cần có những sự vinh danh và tri ân các liệt sĩ đã ngã xuống để bảo vệ Tổ quốc trong cuộc chiến tranh ngắn ngủi mà đằng đẵng đó. Chúng ta cũng cần rút kinh nghiệm xương máu từ thực tế lịch sử của dân tộc mình khi hoạch định đường lối đối ngoại trong một thế giới hiện đại đang thay đổi từng ngày, lợi ích các bên đan xen nhau cực kỳ phức tạp. Cần hiểu rõ bạn – thù và phải đặt quyền lợi của dân tộc lên trước hết và trên hết thì mới có chính sách đúng được.

TTO

THU HÀ THỰC HIỆN

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979

Đúng vào ngày này 34 năm trước (17.2.1979), Trung Quốc bất ngờ tung hơn 60 vạn quân nổ súng xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía bắc, nhưng đã phải rút quân sau hơn một tháng gặp sự kháng cự mãnh liệt của quân và dân ta, chịu nhiều tổn thất nặng nề.

Tuy vậy cuộc chiến tranh xâm lược này cũng mở màn cho cuộc xung đột vũ trang tại biên giới giữa VN và Trung Quốc (TQ) kéo dài suốt 10 năm sau đó. Theo thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược – Bộ Công an, với độ lùi về thời gian, việc nhìn nhận lại cuộc chiến tranh này là hoàn toàn cần thiết.

 

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Thiếu tướng Lê Văn Cương

 

Kể từ sau khi VN và TQ bình thường hóa quan hệ (1991), hai bên dường như đều không muốn nhắc lại cuộc chiến này. Từ hơn 30 năm qua, cuộc chiến chống quân xâm lược Trung Quốc gần như không được nhắc tới. Theo ông tại sao cuộc chiến lại bị rơi vào lãng quên như vậy?

Để trả lời câu hỏi này có lẽ cần cả một hội thảo khoa học. Tôi chỉ xin lưu ý như sau, vào những năm kỷ niệm chẵn 10, 15… hay gần đây nhất là 30 năm sau cuộc chiến tranh chống TQ xâm lược (2009), báo chí, truyền hình của VN gần như không đưa tin gì về sự kiện này. Đây là một sự thiếu sót lớn trên góc độ Nhà nước. Hơn thế nữa, đó là một sự xúc phạm đến linh hồn của những đồng bào, chiến sĩ đã bỏ mình để bảo vệ Tổ quốc trong cuộc chiến tháng 2.1979 và gần mười năm sau đó. Họ nằm dưới mộ có yên không? Gia đình vợ con bạn bè và những người thân thích của họ sẽ nghĩ gì về chuyện này?  Đã có ý kiến cho rằng nhắc đến những chuyện này cũng có nghĩa là kích động chủ nghĩa dân tộc. Tôi có thể khẳng định rằng nói như vậy là ngụy biện.

Trong khi chúng ta im lặng thì những dịp đó chúng tôi đã thống kê hệ thống phát thanh, truyền hình báo chí của TQ tung ra trung bình từ 600-800 tin, bài với những cái tít gần như có nội dung giống nhau về cái mà họ gọi là “cuộc chiến tranh đánh trả tự vệ trước VN”. Có thông tin cho rằng hiện tại có tới trên 90% người dân TQ vẫn quan niệm rằng năm 1979 Quân đội VN đã vượt biên giới sang tấn công TQ và bắt buộc TQ phải tự vệ đánh trả. Từ hàng chục năm nay, hệ thống tuyên truyền của TQ đã nhồi nhét vào đầu người dân TQ rằng cuộc chiến 1979 chỉ là cuộc phản công trước sự xâm lược của VN.

Theo tôi nghĩ, trong tuyên truyền đối nội và đối ngoại, cả ở kênh nhà nước, nhân dân và trên truyền thông, chúng ta phải làm rõ và góp phần làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ bản chất của cuộc chiến tranh Việt – Trung 1979. Đồng thời góp phần làm cho hơn 1,3 tỉ người TQ biết được sự thật rằng vào ngày đó hơn 60 vạn quân TQ đã vượt biên giới xâm lược VN. Việc chúng ta im lặng hàng chục năm qua, theo tôi là  không đúng. Việc nói ra cũng không liên quan gì chuyện kích động chủ nghĩa dân tộc. Hãy thử so sánh chuyện đó với việc TQ tung ra hàng nghìn bài báo xuyên tạc lịch sử từ hàng chục năm qua.

 

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Bộ đội Việt Nam đánh trả quân Trung Quốc xâm lược tại Lạng Sơn năm 1979

 

Với độ lùi về thời gian, theo ông chúng ta có thể rút ra những điều gì từ cuộc chiến tranh này? Những điều đó có ý nghĩa thế nào trong bối cảnh hiện tại ?

Theo tôi, khoảng thời gian 34 năm đã là khá đủ cho chúng ta nhận thức lại những vấn đề xung quanh cuộc chiến 1979. Thế nhưng đến giờ phút này tôi có cảm giác không phải lúc nào chúng ta cũng có được sự nhận thức thống nhất, nhất quán từ trên xuống dưới.

Vấn đề thứ nhất, phải xác định rõ về mặt khoa học, cuộc chiến 1979 là cuộc chiến tranh chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc. Đây là vấn đề phải nhận thức rõ từ cấp cao nhất. Sự nhận thức ấy cũng phải được thống nhất trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Đây là chuyện không được phép mơ hồ.

Không chỉ nhận thức mà Nhà nước có trách nhiệm đưa câu chuyện này vào sách giáo khoa. Thực tế cho thấy phần lớn học sinh tiểu học, trung học và thậm chí đa số trong 1,4 triệu sinh viên hầu như không biết gì về cuộc chiến tranh này. Nếu để tình trạng này kéo dài, trách nhiệm thuộc về Nhà nước. Chắc chắn chúng ta sẽ không tránh được sự phê phán của thế hệ sau này. Hàng vạn người con ưu tú của chúng ta đã bỏ mình để bảo vệ từng tấc đất biên giới phía bắc của Tổ quốc, tại sao không có một dòng nào nhắc đến họ? Bây giờ đã quá muộn. Nhưng không thể để muộn hơn được. Theo quan điểm của tôi, Nhà nước phải yêu cầu đưa phần này vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Chúng ta không thể mơ hồ được, không thể  lờ đi vấn đề lịch sử này được.

 

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Bệnh viện huyện Trùng Khánh, Cao Bằng bị quân Trung Quốc tàn phá tháng 2.1979 – Ảnh: Tư liệu

 

Tôi đã nhiều lần trao đổi với các học giả nước ngoài và họ đã thắc mắc khá nhiều chuyện tại sao sự kiện chiến tranh chống quân TQ xâm lược năm 1979 lại không được nhắc đến trong các giáo trình lịch sử của VN. Tôi đã phải chống chế với lý do rằng người VN muốn quên đi quá khứ và hướng đến tương lai. Nhiều học giả Hàn Quốc, Nhật Bản đã phản bác tôi vì “Lịch sử là lịch sử. Quá khứ là quá khứ. Tương lai là tương lai”. Họ nói rằng: “Chúng tôi biết người VN rất nhân hậu, muốn hòa hiếu với các dân tộc khác. Nhưng điều này không thể thay thế cho trang sử chống ngoại xâm này được”.

Thứ hai,  trong thế giới hiện đại toàn cầu hóa, các quốc gia đều phụ thuộc lẫn nhau. Không có quốc gia nào hoàn toàn độc lập tuyệt đối. Ngay cả Mỹ nhiều lúc cũng phải nhân nhượng các quốc gia khác. Chúng ta không có quan niệm về độc lập chủ quyền tuyệt đối trong thời đại toàn cầu hóa. Nhưng trong bối cảnh này, phải nhận thức rõ cái gì là trường tồn? Theo tôi có 3 thứ là chủ quyền quốc gia, ý thức dân tộc và lợi ích quốc gia. Ở đây chúng ta phân biệt chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, chủ nghĩa dân tộc nước lớn với lòng yêu nước chân chính, ý thức tự tôn tự hào dân tộc. Hai cái đó khác nhau. Người VN có truyền thống yêu nước, có tinh thần chống ngoại xâm bất khuất, đó là điều cần được phát huy trong 92 triệu người VN trong và ngoài nước.

Chủ quyền quốc gia, ý thức dân tộc và lợi ích quốc gia là những cái “dĩ bất biến”, những cái còn lại là “ứng vạn biến”. Những chuyện “16 chữ”, “bốn tốt” trong quan hệ với TQ là “ứng vạn biến”. Bài học từ cuộc chiến chống xâm lược năm 1979 cho thấy nếu không nhận thức được điều này thì rất nguy hiểm.

Thứ ba, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, tiêu chí để phân biệt người yêu nước hiện nay là anh có bảo vệ lợi ích quốc gia hay không. Trên thế giới này không có bạn bè vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia mới là vĩnh viễn. Năm nay chúng ta chuẩn bị tổng kết Nghị quyết T.Ư 8 (7.2003) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Tôi thấy có một quan điểm bây giờ vẫn đúng, đó là: “Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh”. Đồng thời, cũng phải có cách nhìn biện chứng về đối tượng và đối tác: trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong một số đối tác, có thể có mặt khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của ta, cần phải đấu tranh.

 

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Tù binh Trung Quốc bị bắt tại Cao Bằng

 

Nhìn lại từ câu chuyện của 34 năm trước đến những căng thẳng hiện tại trong vấn đề biển Đông, theo ông có thể hy vọng gì ở tương lai trong quan hệ giữa VN và TQ ?

Tạo ra lòng tin, sự hữu nghị chân thật giữa hai nước là con đường tất yếu nhưng đòi hỏi thời gian lâu dài và từ cả hai phía. Đây không phải là điều có thể hy vọng có được trong vài ba năm tới đây. Lịch sử mách bảo chúng ta muốn giữ được hòa bình, ổn định, giữ được độc lập tự chủ thì điều quan trọng nhất là giữ được lòng dân. Trên dưới một lòng, có được sự đoàn kết dân tộc thì chắc chắn không có kẻ xâm lược nào dám dại dột động đến chúng ta cả. Lịch sử VN đã cho thấy những lần mất nước đều bắt đầu từ việc chính quyền mất dân. Năm 179 trước CN An Dương Vương để mất nước là do mất dân. Một ông vua đứng đầu quốc gia mà tin vào kẻ thù thì chuyện mất nước là không thể tránh khỏi. Năm 1406, nhà Hồ mất nước cũng vì đã mất dân. Đến mức độ nhà Minh truy bắt cha con Hồ Quý Ly thì chính những người trong nước đã chỉ điểm cho quân Minh. Năm 1788 Lê Chiêu Thống sang cầu viện Mãn Thanh đưa 20 vạn quân sang giày xéo quê cha đất tổ cũng là ông vua đã mất dân. Đó là bài học muôn đời để bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Ng.Phong
(thực hiện)
nguồn: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130217/nhin-lai-chien-tranh-bien-gioi-1979.aspx

Nhận bằng đại học chỉ sau 3 năm

TT – Tháng 12, bốn sinh viên Trường ĐH Nông lâm TP.HCM sẽ nhận bằng ĐH chỉ sau ba năm học tại trường. Bí quyết của các bạn ở đâu?

“Tôi đã lên kế hoạch học tập cụ thể cho mình và đã tiết kiệm được một năm học”

NGUYỄN THỊ BÍCH HUỆ
– Ảnh: NHƯ HÙNG

“Lê Vũ cho rằng điều kiện kinh tế khó khăn là động lực để Vũ học vượt, ra trường sớm”

Ảnh: HÀ BÌNH

” Muốn học vượt, bạn cần xem xét đến sức khỏe, quỹ thời gian và năng lực học tập”

PHẠM THỊ TOÀN LANH
– Ảnh: HÀ BÌNH

Đầu năm học này, khi các bạn cùng khóa 2009-2013 bước vào năm học cuối thì Nguyễn Thị Bích Huệ (ngành quản trị kinh doanh thương mại Trường ĐH Nông lâm TP.HCM) đã tốt nghiệp và đang làm việc toàn thời gian cho một công ty chuyên về marketing online.

Tiết kiệm một năm

Cô SV quê Cẩm Mỹ, Đồng Nai kể khi vào năm nhất, bạn chưa biết về tín chỉ và có thể ra trường trước thời hạn. Khi nghe giảng viên nói SV tích lũy đủ tín chỉ sẽ được ra trường sớm, Huệ quyết định thử sức. “Biết tôi ấp ủ dự định học ĐH trong ba năm, anh của tôi đang học ĐH và bạn bè đều cho rằng tôi viển vông. Nhưng sau khi tham khảo ý kiến từ thầy cô cố vấn học tập, cách lựa chọn, đăng ký môn học, tôi đã lập kế hoạch học tập để đi đến mục tiêu của mình” – Huệ nhớ lại.

Để hoàn thành 135 tín chỉ cho chương trình ĐH, Huệ cho biết mỗi học kỳ bạn đăng ký 25 tín chỉ. Nghỉ hè, khi bạn bè cùng lớp về quê thăm gia đình thì Huệ ở lại trường đăng ký học thêm.

Huệ cho biết: “Trước khi đến lớp, tôi tranh thủ coi bài ở nhà và dành toàn bộ thời gian để nghe giảng. Tôi thấy điều SV cần nhất ở giảng viên là kiến thức thực tế chứ lý thuyết đã có trong sách rồi.

Chính những đề thi mở, đòi hỏi SV phải tìm hiểu kiến thức từ thực tế đã cuốn hút tôi vào bài học nên tôi luôn học một cách thoải mái nhất”.

Sau hai năm rưỡi “vừa học vừa chơi”, vừa đi dạy kèm, tham gia câu lạc bộ phát thanh… Huệ đã hoàn thành chương trình ĐH. Sáu tháng sau đó, Huệ làm khóa luận tốt nghiệp và ra trường. “Tôi đã lên kế hoạch học tập cụ thể cho mình và nay đã tiết kiệm được một năm học. Tôi có thể đi làm sớm và thực hiện tiếp những dự định khác” – Huệ nói.

Kết hợp nhiều yếu tố

Trong khi đó, điều kiện kinh tế khó khăn là động lực lớn nhất để bạn Lê Vũ – sinh viên ngành kinh tế Trường ĐH Nông lâm TP.HCM – quyết tâm phải ra trường sớm để tiết kiệm chi phí ăn học. Sau ba năm học, hiện Vũ đã đi làm công việc kinh doanh cho một công ty và chuẩn bị học thêm văn bằng hai về công nghệ sinh học.

Học nhiều hơn bình thường, Vũ còn đi làm bảo vệ buổi tối trong dịp hè để trang trải việc học. Vừa học vừa làm nhưng Vũ đã tốt nghiệp loại giỏi và luận văn tốt nghiệp của bạn đạt 8,7 điểm. Chàng SV quê Sơn Tịnh, Quảng Ngãi cho biết: “Học kỳ đầu tiên mình đăng ký 16 tín chỉ, thấy còn dư nhiều thời gian nên đăng ký lên 19, rồi 25 tín chỉ.

Ở năm nhất, năm hai việc học vẫn nhẹ nhàng nhưng cực nhất là năm ba. Nhiều môn học mà môn nào cũng làm tiểu luận nên nhiều đêm phải thức trắng làm cho kịp”. Theo Vũ, khi quyết định học vượt, SV phải xác định năng lực học tập, quỹ thời gian của mình xem có theo nổi hay không. “Quan trọng nhất là phải có động lực để cố gắng” – Vũ kết luận.

Được tốt nghiệp khi tích lũy đủ học phần

Quy chế 43 về đào tạo theo học chế tín chỉ của Bộ GD-ĐT quy định: “Điều kiện xét tốt nghiệp, công nhận tốt nghiệp khi SV tích lũy đủ số học phần quy định cho chương trình đào tạo với: khối lượng không dưới 180 tín chỉ đối với khóa đại học 6 năm, 150 tín chỉ đối với khóa đại học 5 năm, 120 tín chỉ đối với khóa đại học 4 năm.

Hiệu trưởng quy định cụ thể khối lượng kiến thức tối thiểu cho từng chương trình được triển khai đào tạo trong phạm vi trường mình”. Theo đó, tùy theo sức học của mình, SV có thể đăng ký học vượt để tốt nghiệp trước thời hạn.

Cùng lớp với Vũ, bạn Phạm Thị Toàn Lanh cũng đã tốt nghiệp sau ba năm học. Lanh cho rằng khi quyết định học vượt, bạn xem xét đến những khía cạnh như sức khỏe, quỹ thời gian, năng lực học tập của mình.

“Phải có kế hoạch học tập ngay từ đầu thì mới có thể hoàn thành việc học trước thời hạn – Lanh nói – Ngoài ra, cần phải có sự tư vấn thêm từ thầy cô, cố vấn học tập. Học vượt phải đi học, thực tập với anh chị khóa trên. Phải làm việc nhóm thường xuyên với lớp mới nên nhiều khi có những xung đột rất khó hòa giải”.

Theo Lanh, khó khăn lớn nhất là sắp xếp thời gian hợp lý để có thể học tốt. Bạn nói thêm: “Dù đã chuẩn bị kỹ kiến thức cơ bản để vào chuyên ngành nhưng đôi khi vẫn bị quên, phải tìm tài liệu xem lại.

Vào lớp, mình thường xuyên “xí” chỗ ngồi đầu bàn để chăm chú lắng nghe thầy cô giảng bài. Buổi sáng mình đến trường học đến khi nào thư viện đóng cửa mới về. Mùa hè mình cũng ở lại trường để học thêm”. Ngoài giờ học, Lanh còn tranh thủ đi phục vụ suất ăn công nghiệp để kiếm tiền trang trải việc học.

Tạo điều kiện cho SV giỏi

TS Trần Đình Lý – trưởng phòng đào tạo Trường ĐH Nông lâm TP.HCM – cho rằng đào tạo theo học chế tín chỉ thể hiện sự phân hóa rất cao trong SV, tạo cơ hội cho SV giỏi thể hiện và khẳng định năng lực của họ.

Số SV học vượt trong thời gian 3-3,5 năm tại trường nhiều hơn trước nhưng đồng thời số SV bị buộc thôi học cũng không ít.

Chính từ sự phân hóa ấy, TS Lý cho rằng SV phải biết lượng sức mình, đưa ra kế hoạch học tập toàn khóa học và lên kế hoạch học vượt.

Trong khi đó, TS Nguyễn Kim Quang – Trường ĐH Khoa học tự nhiên (ĐHQG TP.HCM) – lưu ý SV học vượt phải học nhiều môn trong mỗi học kỳ so với bình thường nên đòi hỏi SV phải thật sự có năng lực.

Với SV có sức học trung bình, nếu đăng ký học vượt sẽ gặp nhiều khó khăn và kết quả có thể không cao. “SV cần cân nhắc xác định tốc độ học tập của mình. Nếu không có nhu cầu ra trường sớm thì không nên chọn việc học với tốc độ cao vì rất dễ đuối sức và sẽ không hoàn thành tốt kế hoạch học tập. Ngược lại những SV giỏi cần được khuyến khích học vượt để họ đạt được trình độ cao ở lứa tuổi còn trẻ…” – TS Quang nói.

TRẦN HUỲNH – HÀ BÌNH

[TTO]

Nguyễn Thanh Phượng (Chủ tịch Viet Capital): ‘Nữ doanh nhân phải cố gắng gấp bội nam giới’

 

Chị Nguyễn Thanh Phượng, Chủ tịch Hội đồng quản trị Viet Capital chia sẻ: “Tôi đã quen với áp lực vì hoàn cảnh xuất thân của mình”.

Hẹn chị để phỏng vấn vào những ngày này quả thật không dễ. Bên cạnh những bộn bề lo toan cho công việc kinh doanh, chị ngại đăng đàn phát biểu vì liên quan đến chị đang có quá nhiều tin đồn. Thuyết phục mãi, cuối cùng chị cũng đồng ý lên tiếng để giải tỏa các câu chuyện đồn thổi, đeo bám dai dẳng bấy lâu nay.

– Bản thân có nhiều lợi thế, sao chị không chọn theo đường chính trị mà chấp nhận dấn thân vào nghiệp kinh doanh tài chính khô khan và nhiều thách thức, áp lực?

– Từ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường, tôi đã bắt đầu quan tâm đến những câu chuyện kinh doanh, cũng như ngưỡng mộ nhiều tấm gương doanh nhân tự thân lập nghiệp. Ý niệm kinh doanh và các mục tiêu ngày càng định hình rõ nét hơn khi tôi thi đậu vào Khoa Tài chính – Ngân hàng, Đại học Kinh tế Quốc dân Hà Nội. Sự lựa chọn này hoàn toàn theo sở thích cá nhân. Từ những kiến thức nền tảng lĩnh hội trong nước, sau này, tôi có điều kiện học tiếp chương trình MBA chuyên ngành Quản trị tài chính tại Thụy Sĩ.

Ra trường dù thời gian đầu đi làm thuê, hay sau này lập công ty riêng cùng với những anh em khác, tôi vẫn giữ quyết tâm xây dựng một thương hiệu dịch vụ tài chính mang bản sắc Việt Nam. Thương hiệu Bản Việt (Viet Capital) manh nha ý tưởng từ những ngày tháng tôi còn miệt mài ở Geneva. “Bản” là bản làng, bản sắc riêng của Việt Nam mà cũng mang ý nghĩa là vốn (tư bản), còn “Việt” đương nhiên là từ quê hương Việt Nam.

Chủ tịch Ngân hàng Bản Việt hiện đang nắm 4,9% cổ phần, là cổ đông cá nhân lớn nhất của nhà băng này.

– Chị thành đạt khá sớm nên dư luận cho rằng, chị lồng ghép những lợi thế riêng của mình vào công việc kinh doanh?

– Tôi chưa bao giờ nghĩ là mình đã thành đạt trong sự nghiệp. Cảm nhận cá nhân tôi là khi xuất thân từ gia đình chính khách lớn thường không được nhìn nhận như một người bình thường, mặc dù thực tế chỉ là một khoảng thời gian cụ thể, gắn với những nhiệm kỳ chính trị nhất định, đâu phải là mãi mãi. Sự quan tâm của số đông luôn gắn với những quan điểm và dư luận có phần khắt khe, thậm chí là cầu toàn. Điều này không chỉ tạo ra áp lực lớn mà đôi khi còn phủ nhận tất cả những nỗ lực phấn đấu của một cá nhân.

Từ lúc bắt đầu đi học, tôi đã quen với áp lực vì hoàn cảnh xuất thân của mình. Được điểm tốt thì có tiếng xì xào là vì “con ông lớn” nên được nâng đỡ. Cũng có lúc bị điểm xấu thì bị nói sau lưng là vì “con quan” nên mới ỷ lại, chẳng lo học hành. Tôi không phủ nhận mình có những lợi thế nhất định, nhưng chắc chắn những ai làm kinh doanh ở xứ sở này sẽ hiểu là có phải con nhà quan chức là dễ dàng hơn hay không.

Tôi phải khẳng định là tôi cũng gặp nhiều khó khăn lắm, thậm chí là có những bất lợi hơn và tôi cũng phải hết sức kiên nhẫn để có thể theo đuổi sự nghiệp này. Một người hay được dư luận chú ý thì phải cố gắng giữ mình để tránh điều tiếng không hay cho cá nhân và cả gia đình. Thời gian qua, đã có những lúc tôi mệt mỏi cùng cực khi phải chịu quá nhiều những điều tiếng, thị phi từ những việc mà mình không hề liên quan gì cả.

– Chị nói gì trước nhiều tin đồn nói rằng, chị có liên quan đến Dự án Ecopark và thâu tóm Sacombank?

Dự án Ecopark ở Văn Giang (Hưng Yên) là do một chủ đầu tư phía Bắc thực hiện. Đó là Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển đô thị Việt Hưng (Vihajico), đăng ký kinh doanh tại Hưng Yên từ năm 2003. Tuy nhiên, câu chuyện được dàn dựng bịa đặt hoàn toàn bởi một vài blog phản động, tự gán ghép sự liên quan của tôi khi thấy tôi có đại diện cho Viet Capital cùng Công ty Bất động sản Refico tham gia thành lập Công ty cổ phần Bất động sản Việt Hưng năm 2009 tại TP. HCM để tham gia một dự án cũng tại TP. HCM. Sự trùng hợp chỉ là cái đuôi công ty cùng có tên “Việt Hưng” thôi, nhưng hàng loạt diễn đàn không chính thống trên mạng đã cố tình biến tôi thành một tội đồ với những gì diễn ra tại dự án ở Văn Giang.

Sự lan truyền câu chuyện sai sự thật này nhanh đến mức khó tin, chỉ trong một thời gian ngắn, mọi người bắt đầu đồn thổi và nói như thật về nó, mặc dù tôi đã khẳng định là cá nhân tôi và Bản Việt không liên quan, không quen biết, không tham gia đầu tư cũng như không tài trợ tín dụng gì liên quan đến dự án Ecopark này… Thực tế là chính Vihajico, chủ đầu tư của dự án, đã từng gửi thông cáo báo chí để khẳng định là hai công ty Việt Hưng này hoàn toàn khác nhau và cá nhân tôi hoàn toàn không liên quan gì với dự án ầm ĩ đó cả. Tuy nhiên, rất tiếc thông tin này rất ít được báo chí đăng tải.

– Vậy thông tin về việc chị đứng sau vụ thâu tóm Sacombank thì sao?

Như mọi người đều biết, bản thân Sacombank là một ngân hàng lớn, vốn lớn, cổ đông lớn, hệ thống lớn… Bởi vậy, khi nói đến việc chi phối hay thâu tóm Sacombank, người ta nghĩ rằng phải là nhóm có thế lực tài chính lớn và có sự ảnh hưởng lớn trong xã hội mới làm được. Từ quan điểm đó, cộng với việc họ biết tôi là người đang hoạt động trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, có nhiều mối quan hệ quen biết, họ dựng lên việc tôi đứng đằng sau điều khiến vụ thâu tóm này.

Nhưng tôi xin khẳng định rằng, cá nhân tôi và Ngân hàng Bản Việt không tham gia vào thương vụ này, cũng không sở hữu bất kỳ một cổ phiếu Sacombank dưới bất kỳ hình thức nào, trực tiếp hay gián tiếp, ngay cả chuyện hỗ trợ về mặt quan hệ cũng không. Tôi cho rằng, việc này không khó để xác minh. Bản thân anh Lê Hùng Dũng, Chủ tịch HĐQT của Eximbank, với tư cách là “người trong cuộc” của thương vụ này, đã không dưới một lần khẳng định rằng, tôi và Bản Việt hoàn toàn không liên quan trong toàn bộ câu chuyện này dưới bất cứ hình thức nào…

Tôi nghĩ rồi một thời gian ngắn nữa thôi, mọi người cũng sẽ biết rõ nhiều sự việc liên quan đến Sacombank… Nhưng nói thật, cái quan niệm cứ thấy phi vụ nào “hoành tráng” là mọi người cho rằng, phải có tên tuổi “hoành tráng” tham gia hoặc “chống lưng” đằng sau thì mới thực hiện được đã vô tình tạo ra biết bao điều tiếng không có thực cho rất nhiều người. Điều này đang dần trở thành định kiến và trường hợp của tôi không là ngoại lệ. Nhưng tôi tin rằng, rồi thời gian sẽ “giải oan” cho tôi và sự thật sẽ nói lên tất cả…

– Chị có thể công khai về sở hữu tại Ngân hàng Bản Việt?

Tôi hiện đang là cổ đông cá nhân nắm tỷ lệ cổ phần lớn nhất tại Ngân hàng với 4,9%. Thông tin về sở hữu và hoạt động đều được báo cáo định kỳ theo quy định với Ngân hàng Nhà nước. Tôi được ĐHCĐ bầu vào HĐQT, được phân công làm Chủ tịch và được Ngân hàng Nhà nước phê chuẩn từ cuối năm 2011. Hiện tại, Ngân hàng Bản Việt (Viet Capital Bank – VCCB) là ngân hàng đại chúng đa sở hữu với gần 2.000 cổ đông.

– Trên cương vị Chủ tịch HĐQT Ngân hàng Bản Việt, chị hoạch định chiến lược phát triển và mục tiêu của ngân hàng vài năm tới như thế nào?

VCCB mới ở giai đoạn đầu của quá trình tái cơ cấu toàn diện. Do Công ty Chứng khoán và Công ty Quản lý quỹ Bản Việt ra đời trước nên hiện nay, VCCB cũng nhận được nhiều sự hỗ trợ từ hai đơn vị này, đặc biệt là khả năng tiếp cận một số khách hàng là định chế tài chính, doanh nghiệp mà hai đơn vị này đã thiết lập quan hệ từ trước. HĐQT VCCB xác định, trước mắt Ngân hàng tận dụng lợi thế này như một sự ưu tiên cho các nghiệp vụ bán buôn đối với những khách hàng quy mô vừa và nhỏ; và khi củng cố được nguồn lực đủ mạnh, chúng tôi sẽ dần mở rộng mạng lưới, đa dạng hóa sản phẩm bán lẻ.

Do xuất phát điểm của ngân hàng khá thấp và đang củng cố từng bước mọi mặt, cùng với thực trạng vận hành và phát triển của hệ thống ngân hàng hiện nay, quan điểm đều hành của chúng tôi là an toàn rồi mới đến hiệu quả, chiến lược phát triển không đặt ra quá dài hơi, mà phải linh hoạt theo nguồn lực phù hợp của ngân hàng trong từng giai đoạn và chu kỳ biến động của kinh tế vĩ mô.

– Cảm giác của chị khi đón nhận những tin đồn và gia đình chị chia sẻ áp lực như thế nào?

– Tôi nghĩ dù tôi có theo đuổi nghiệp gì đi nữa, ngay cả không phải là kinh doanh, thì cũng phải chịu áp lực bởi sự khắt khe và giám sát của xã hội mà thôi. Thử hình dung xem, nếu tôi theo nghiệp chính trị chẳng hạn, có ai nghĩ tôi sẽ ít bị quan tâm hơn không? Vì vậy, chọn con đường kinh doanh lập nghiệp là tôi đã sẵn sàng chấp nhận những điều này rồi.

Trước áp lực tin đồn thất thiệt, một người bình thường đã có thể điêu đứng và mệt mỏi, các tin đồn gắn với gia đình chính khách thường áp lực tăng lên gấp nhiều lần. Tôi không làm gì sai trái với pháp luật hay với chính lương tâm của mình, có lẽ đấy là điều cơ bản giúp tôi luôn vững vàng trước mọi tin đồn không hay. Và cũng có lẽ, do tôi đã có một cuộc sống với nhiều loại áp lực khá lâu rồi nên cũng quen dần. Về phía gia đình, từ gia đình lớn đến gia đình nhỏ, từ trước đến giờ luôn tràn ngập sự tin tưởng và yêu thương.

– Nhân Ngày Phụ nữ Việt Nam 20/10, chị có thể chia sẻ đôi điều về nghiệp kinh doanh và cuộc sống?

– Chặng đường hoạt động kinh doanh của tôi chưa dài và những gì tôi tạo dựng được cùng với những anh em trong gia đình Bản Việt còn quá khiêm tốn để có thể chia sẻ với cộng đồng. Tôi chỉ có thể nói ngắn gọn rằng, qua trải nghiệm từ bản thân thì làm một nữ doanh nhân luôn phải cố gắng gấp bội nhiều hơn nam giới. Bên cạnh sự nghiệp, phụ nữ còn có những thiên chức của mình, phải là người tổ chức cuộc sống cho gia đình, phụ nữ luôn là người con gần gũi với cha mẹ mình hơn… Trong công việc và cuộc sống, ý thức thượng tôn pháp luật phải luôn được duy trì. Tôi nghĩ sự minh bạch và kiên trì mới hy vọng gây dựng được sự nghiệp vững bền.

Theo Đầu tư chứng khoán