Tag Archive: hà lan


‘MÀU” CỦA CÁCH MẠNG
(Lạm bàn về cách mạng màu sắc)
———————————

Những năm cuối của thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, loài người chứng kiến thật lắm những đổi thay, trong đó có những biến thái của “tư tưởng” và hành động chính trị. Từ “cách mạng” bị lạm dụng và cơ hội, lạm bàn và cực đoan đến mức không kể xiết. Trong cái “trào lưu” chung đó, có các xu hướng thoái hoá “ăn theo” của một số người tự xưng là những “nhà cách mạng” Việt Nam(!).

Xuất xứ tên gọi Cách mạng “Màu sắc”

Năm 1566, cuộc cách mạng Hà Lan bùng nổ. Sự bất phân thắng bại của hai thế lực cũ và mới đã đưa đến kết quả dung hoà: Quận công Vin-hem O-ran ( Winhelm Ogange – cam, màu da cam), đại diện cho tầng lớp quý tộc mới, ở nước ngoài, về Hà Lan nắm quyền. Kết quả của cách mạng Hà Lan quả thật là sự phối tải của mọi sắc màu: mãi đến 1609, Tây Ban Nha mới công nhận nền độc lập trong vòng 12 năm và sau nhiều cuộc đấu tranh, đến năm 1648, tức là 90 năm sau, Tây Ban Nha mới công nhận độc lập thực sự của Hà Lan. Thành quả độc đáo của cuộc cách mạng này là chỉ có 0,2% dân số có quyền bầu cử(!).

Bắt đầu từ đó, trong lịch sử thế giới hay có khái niệm về “màu” của một cuộc cách mạng. Các nhà hội hoạ nói rằng pha lẫn màu đỏ và màu vàng sẽ cho chúng ta màu cam, “dung hoà” màu đen và màu trắng sẽ cho kết quả màu xám; và, khi chúng ta trộn lẫn cả 7 màu, lại sẽ có màu trắng. Thì ra, “màu sắc” của cuộc đời chỉ là kết quả của những sự pha tạp không rõ ràng các chính kiến, thiên kiến; cái mập mờ giữa cơ hội riêng và lợi ích chung. Đây cũng là một trong những lý do chính để từ thập niên 90 của thế kỷ trước, người Trung Quốc thay cụm từ “mang màu sắc Trung Quốc” thành cụm từ “mang đặc sắc Trung Quốc”. Cách mạng với nghĩa đen “làm lại/thay đổi toàn bộ tiến trình phát triển” (cách mạng – Revolution; tiến trình – evolution), có nghĩa là một cuộc đảo lộn dữ dội, triệt để về kinh tế, xã hội lại là một vấn đề hoàn toàn khác. Trong khi đó, nếu cuộc cách mạng này khác với cuộc cách mạng kia chỉ ở màu sắc thì đó là một cuộc cách mạng vô nghĩa.

Sai lầm của những phần tử Cách mạng màu đô la (màu rêu)
Những năm gần đây ở Việt Nam, có một số người tự ngộ nhận hai từ “cách mạng” (bao gồm cả một vài phần tử lưu vong). Họ đã sai lầm rất nhiều – nhiều nhất là ở chỗ cứ ngỡ rằng màu sắc mà họ vẽ ra là cách mạng!

Một, một số cứ đoan quyết rằng văn minh phương Tây là cơ sở, là nền tảng mà mọi dân tộc khác phải bắt chước. Logic tư duy bị đánh tráo, 5.000 năm nay Đông và Tây luôn khác nhau. Do vậy, không thể áp đặt bất kỳ một sự duy ý chí nào để cho trong một sớm một chiều hoà tan các giá trị cơ bản của phương Đông trong cái áo khoác dân chủ của phương Tây.

Hai, khái niệm dân chủ phương Tây có cái “màu sắc” hay cái áo khoác cực kỳ hấp dẫn, nhưng nếu nhìn kỹ một chút, lĩnh vực đảng phái của Hoa Kỳ chẳng hạn, chỉ là “hai trong một” mà thôi. Hàng trăm năm nay, chỉ có đại biểu của giai cấp tư sản cầm quyền, dù là đảng Cộng hoà hay Dân chủ. Đó là chưa nói chuyện nước Mỹ có nhà nước từ năm 1789, nhưng phải đến…1920 mới cho phụ nữ quyền bầu cử; đến năm 1965 mới trao cho người da đen quyền công dân đầy đủ(!)?

Ba, những nhân vật đang chống phá điên cuồng sự nghiệp cách mạng của Đảng và nhân dân ta, họ là ai? Có người sai lầm, mất chức vị lớn từ năm 1967, trước đổi mới những 20 năm, lại lên giọng để nhận tiền tài trợ của nước ngoài. “Căn cứ” mà cái gọi là “đảng dân chủ” dựng lên là để kích động tôn giáo, đòi Mỹ không cho Việt Nam vào WTO, kích động, chia rẽ khối đoàn kết các dân tộc. Ba cái sai căn bản ấy chứng tỏ họ không hề đại diện cho lợi ích của nhân dân. Cái mà nhân dân ta cần nhất lúc này là ổn định, phát triển. 30 năm chiến tranh, một trăm năm nô lệ, chẳng lẽ lại vẫn là chưa đủ đối với những người đó?. Tại sao lại bắt đầu “dân chủ” bàng kích động bạo loạn?. Đã có kẻ cũng mượn màu sắc dân chủ để hoạt động khủng bố và bị chính quyền các nước tư bản là Hàn Quốc, Thái Lan, bắt như Nguyễn Hữu Chánh, Lý Tống. Việc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam gần đây liên tục đưa ra xét xử những phần tử phản động mà điển hình là vụ Nguyễn Văn Lý, chứng tỏ chính nghĩa đang đứng về phía Đảng và nhân dân ta. Chính ông Lý đã công khai thừa nhận bằng giấy trắng mực đen rằng “ở Việt Nam không có đàn áp tôn giáo”, vậy tại sao vẫn luôn dùng tôn giáo như một “màu sắc” cần thiết của con bài kích động?

Bốn, như đã nói ở trên, những người nhân danh “dân chủ” biết rõ chuyện một nước có “ngọn cờ đầu” về dân chủ như Hoa Kỳ nhưng phải mất 131 năm mới trao quyền dân chủ cho phụ nữ; tại sao lại đòi đất nước ta phải thay đổi thật nhanh, một lần và tất cả? Việc đòi hỏi đó thể hiện sự thiếu hiểu biết về tính biện chứng của lịch sử của những kẻ cơ hội, thích đốt cháy giai đoạn. Sự thật là đất nước ta đang ngày càng tự do, dân chủ hơn, nhưng như thế không có nghĩa là ngay lập tức cho phép mọi người mua súng(!)

Năm, một bác sĩ mới đây bị toà án xử về tội chống phá chế độ khai rằng do “bức xúc vì không nhập được hộ khẩu thành phố nên quậy phá”(?) Câu trả lời đó thật đủ nghĩa, đúng ý về chủ nghĩa cơ hội của cá nhân chứ không hề có lý tưởng, tinh thần “vì dân, vì nước” nào hết. Những động cơ tương tự quả thực chỉ là màu sắc chân xác của cái vỏ nhợt nhạt vô hồn. Người cách mạng hay hành động cách mạng không bao giờ lại bắt đầu từ việc nhận tiền tài trợ của nước ngoài. Ngay cả một người như Ngô Đình Diệm mà khi đại sứ Mỹ Hen-ri Ca-bốt-lốt (Henry Cabot Lodge) ví von về chuyện “một con chim có dòng dõi rất quý nhưng không chịu hót thì để xử lý, có 3 công đoạn: chờ cho nó hót, bắt nó hót và giết nó”, Ngô Đình Diệm vẫn không chịu “hót” theo lệnh Mỹ, dù biết chắc kết cục sẽ diễn ra. Vậy thì, một khi chỉ cần vài ngàn USD, không ít kẻ đã hót theo giọng của ngôn ngữ từ bên ngoài, đích thị đó là những “nhà cách mạng màu rêu” (màu của tờ dollar) không hơn không kém.

… Đất nước Việt Nam vẫn đi lên Kinh nghiệm lịch sử của nhiều nước trên thế giới cho thấy, sự thay đổi đột ngột một trạng thái xã hội tất yếu sẽ dẫn đến nhiều biến động, khủng hoảng, thậm chí là bạo loạn. Bài học về nền dân chủ Mỹ được áp dụng ở I-rắc hay Áp-ga-ni-xtan là những dẫn chứng nhãn tiền. Những cuộc “cách mạng nhung”, “cách mạng cam” ở các nước Liên Xô cũ, hay “cách mạng” bằng đảo chính không đổ máu ở một nước láng giềng còn đưa đến nhiều bất ổn hơn nữa. Nói thẳng ra, đó không phải là cách mạng mà chỉ là cuộc lật đổ phi bạo lực. Do vậy, không thể gọi đó là cách mạng cho dẫu chúng có màu gì đi nữa. Đất nước ta đang trải qua những tháng năm vất vả để đi tới tự do, dân chủ và giàu mạnh hơn nữa. Những sai lầm, tệ nạn, tội lỗi là không thể tránh khỏi. Nhớ, Chế lan Viên từng viết: Ta đẻ ra đời sao khỏi những cơn đau. Chúng ta không cần đến các loại cách mạng màu sắc, dù rực rỡ đến đâu. Thực chất của vấn đề là bản chất của xã hội. Nếu xã hội hiện nay chưa thực sự như mong muốn đó là vì không ít người còn hiểu sai, làm sai. Chế Lan Viên còn có một câu tuyệt hay nữa: Khi cây đã hoá trầm trong ruột. Lá đủ rồi, phải đợi gì hoa…
—————————————
Tác giả: Hà Văn Thịnh (ĐH Khoa học Huế)

Kỳ 4: “Bằng chứng khảo cổ” mập mờ và thiếu chính xác của Trung Quốc

 

Để củng cố lý lẽ về chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa, người TQ sử dụng cả các luận cứ về khảo cổ. Người TQ cho là đã tìm thấy vết tích tiền cổ và vật dụng cổ có từ thời Vương Mãng (năm thứ ba trước Công nguyên cho đến năm 23 sau Công nguyên) trên các quần đảo.

>> Kỳ 3: Sử liệu Trung Quốc nói gì?

Chang The-Kuang và S.Yeh viết rằng các đảo này có chứa “các tàn tích của khu dân cư, các vật dùng sành sứ, các dao sắt, các nồi gang và các vật dụng hằng ngày khác có niên đại từ thời Đường, Tống”. Báo cáo sơ bộ của chuyến khảo cổ học thứ hai trên quần đảo Tây Sa của tỉnh Quảng Đông ghi rằng “qua hai cuộc khảo sát, các nhà khảo cổ học đã khảo sát hầu hết các đảo, đá, bãi ngầm, các vũng của quần đảo Tây Sa và hầu như ở đâu họ cũng tìm thấy các đồ vật cổ và các lịch sử của quần đảo Tây Sa, bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc chúng ta từ ngàn đời nay”.

Vấn đề đặt ra ở đây là trong luật quốc tế không tồn tại một quy tắc nào cho phép tự quy thuộc chủ quyền cho một quốc gia trên một vùng đất mà tại đó các cổ vật thuộc nền văn minh của nước đó được tìm thấy. Các cổ vật này có thể thuộc các ngư dân TQ đi lại và bị đắm thuyền trong vùng biển này, cũng như có thể thuộc các ngư dân Philippines, Malaysia hoặc của các tàu thuyền Ả Rập, Bồ Đào Nha, Hà Lan bị trôi dạt mắc nạn vào đây. Không có gì chứng minh được rằng các ngư dân TQ là những người duy nhất có các hoạt động định cư thường xuyên trên các đảo không có nước ngọt này.

Trong khi đó, năm 2001, trong khuôn khổ dự án 10 năm điều tra cơ bản khảo cổ học Trường Sa – Tây Nguyên – Nam Bộ, các nhà khoa học Việt Nam đã khai quật và phát hiện nhiều di tích khảo cổ có giá trị trên quần đảo Trường Sa. Trên chứng chỉ khảo cổ học, các nhà sử học đã xác định được các cư dân người Việt sinh sống ở Trường Sa là rất sớm, chí ít cũng phải từ thời nhà Trần và liên tục định cư, sinh sống ở đây trong các giai đoạn thời kỳ sau. Qua các hiện vật thu được, dựa trên căn cứ sử học và văn hóa học, rất rõ ràng để nhận ra có một sợi dây liên kết chặt chẽ giữa cư dân trên đảo với cư dân đất liền từ thuở sơ khai đến nay. Có thể những cư dân đầu tiên Trường Sa là kết quả của các cuộc di dân, tìm đất mới thời cổ xưa. Hoặc là các ngư dân Việt đi biển ghé vào và ở lại lâu dài, khai phá đất đai, tạo lập cuộc sống mới.

 
Một trang trong cuốn Hải ngoại kỷ sự (1695) của Thích Đại Sán, một nhà sư Trung Quốc đời Khang Hy, thuật lại chuyến du hành tới xứ Đàng Trong, thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Đại Việt – Ảnh: biengioilanhtho.gov.vn

Chủ quyền quốc gia đã được luật quốc tế định nghĩa về mặt pháp lý. Trương Hồng Tăng và các tác giả TQ khác lập luận rằng: “Dưới thời nhà Tống, nhiều sách vở đã ghi nhận rằng những ngư dân TQ thường tới đây bắt cá và thu lượm san hô (…). Theo Chư phiên chí (ghi chép về các nước chư hầu) của Zhao Rushi (Triệu Nhữ Quát) sống dưới thời nhà Tống cách đây 700 – 800 năm, người TQ đã biết rằng các quần đảo Tây Sa và Nam Sa là những vùng nguy hiểm cho hàng hải (…). Vào thế kỷ trước, chỉ có người TQ đã sống và khai thác một cách liên tục các quần đảo Tây Sa và Nam Sa (…)”.

Sau khi đã nghiên cứu sâu sắc các tài liệu TQ, ông Heinzig, một luật gia Đức đã rút ra kết luận chỉ bắt đầu từ thời nhà Tống (960) người TQ mới có thể tiếp cận với quần đảo Paracels (Hoàng Sa). Còn về việc hiện diện của người TQ trong khu vực Spratlys (Trường Sa) không có gì ghi nhận trước 1867, thời điểm một tàu nghiên cứu Anh gặp những ngư dân TQ tới từ đảo Hải Nam. Theo Heinzig, chỉ từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất người TQ mới bắt đầu gọi quần đảo Spratlys là “Đoàn Sa Trung Đảo”. ([1])

Sự tiếp xúc riêng rẽ của những cư dân TQ cá thể đối với Paracels liệu có đủ để thiết lập chủ quyền TQ tại đó không theo luật quốc tế? Các tác giả TQ khẳng định rằng TQ phát hiện ra Tây Sa và Nam Sa cách nay 2.100 năm, vào thời Hán Vũ Đế. Đối với họ, theo luật quốc tế và tập quán quốc tế thời kỳ đó: “Chủ quyền thuộc về người phát hiện” (Who discovers the territory, holds its sovereignty), đó là ngư dân TQ, và vì vậy TQ phải có chủ quyền trên đó”.

So sánh với các tiêu chuẩn thụ đắc lãnh thổ, các ghi chép mà TQ viện dẫn không đủ chứng minh rằng quyền phát hiện đã được xác lập. Một đảo hoặc một quần đảo có thể là đối tượng nhận biết từ lâu đời của các nhà hàng hải, các ngư dân, các nhà địa lý… nhưng chúng vẫn chỉ được coi là lãnh thổ vô chủ

res nullius một khi quốc gia của họ chưa tiến hành một hành động nhà nước nào tại đó. Phan Thạch Anh cố chứng minh rằng vào thế kỷ XV, XVI chỉ cần quyền phát hiện là đủ để tạo nên quyền sở hữu đất vô chủ. Sở dĩ ông ta lập luận như vậy là để chứng minh rằng các hoạt động của tư nhân TQ là đủ để tạo ra quyền phát hiện ([2]). Thế nhưng các hoạt động tư nhân của các ngư dân TQ không thể mang lại hiệu lực pháp lý của “quyền phát hiện” và nó không thể được đánh đồng với quyền chiếm hữu.

Các bằng chứng của quyền phát hiện các đảo này như đã nêu trên rất mập mờ và thiếu chính xác. Chúng ta có thể đồng ý rằng các hoạt động của ngư dân có thể kéo theo sự chú ý và ý định của nhà nước trên lãnh thổ vô chủ. Tuy nhiên, yếu tố ý chí này không đủ khi còn thiếu yếu tố vật chất của các hoạt động nhà nước trên thực địa. Người TQ sẽ chứng minh như thế nào đòi hỏi này của luật quốc tế vào thời kỳ đó?

TS Nguyễn Hồng Thao

_________

[1] Theo Nguyễn Quang Ngọc, Sđd, tr 41. Trước khi Lý Chuẩn ra Hoàng Sa năm 1909, bản đồ TQ vẫn thể hiện đảo Hải Nam là cực nam lãnh thổ TQ. Năm 1928 trường Đại học Trung Sơn tổ chức điều tra quần đảo Tây Sa, được coi là mốc đánh dấu sự hiểu biết của người TQ về quần đảo Tây Sa. Tuy nhiên, cho đến năm 1934, bản đồ TQ vẫn chưa vượt quá quần đảo Tây Sa và đảo Triton, cực nam của quần đảo, ở sát phía dưới vĩ tuyến 16 được gọi là đảo cực nam với lời giải thích đảo là cột mốc đánh dấu lãnh thổ cực nam của TQ. Trong khoảng năm 1935-1936 địa danh Nam Sa và Đoàn Sa xuất hiện trên bản đồ TQ. Nam Sa được đặt tên cho bãi ngầm Maccelesfield Bank còn Đoàn Sa để chỉ Spratleys. Từ năm 1939 tên Nam Sa mới được dùng để chỉ Trường Sa của Việt Nam, tên Đoàn Sa mất đi, còn Maccelesfield Bank được đặt tên là Trung Sa.

[2] Phan Thạch Anh, The ptropolitics of the Nansha islands-China’s indisputable legal case, Beijing, December 1995.

>> Kỳ 5: Độ chênh của lịch sử trong Sách trắng Trung Quốc