Tag Archive: HỒ


 
Học giả Stephen M. Walt là giáo sư chuyên về các vấn đề quốc tế tại trường Quản lý Nhà nước Kennedy thuộc Đại học Havard. Ông từng làm quản lý ở trường Kennedy này từ năm 2002 đến 2006. Ngoài ra ông còn từng tham gia giảng dạy ở một số trường đại học khác và tư vấn cho Viện Phân tích Quốc phòng và Trung tâm Phân tích Hải quân.
Hôm 28/1, Walt cho đăng 1 bài viết trên tạp chí Chính sách Đối ngoại (Foreign Policy) của Mỹ. Trong bài viết này, ông đã đưa ra tình huống giả định, đó là các quan chức cấp cao về đối ngoại của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ uống nhầm phải “huyết thanh sự thật” trước khi ra điều trần hoặc dự họp báo và sẽ nói thẳng đuột những gì họ cất giữ trong lòng. Walt đã nghiền ngầm, phân tích và lựa ra 5 “sự thật” mà theo ông, bình thường sẽ không có quan chức Mỹ nào chịu thừa nhận cả.
1. “Chúng ta không đời nào từ bỏ kho vũ khí hạt nhân”
Theo Stephen M. Walt, các đời Tổng thống Mỹ luôn nói về việc giải trừ vũ khí hạt nhân. Ông đề cập đến Hiệp ước Không Phổ biến Vũ khí Hạt nhân ký năm 1968, trong đó Mỹ cam kết theo đuổi đàm phán để tìm ra các giải pháp hiệu quả nhằm hạ nhiệt cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân thời đó và hướng tới việc giải giáp hạt nhân triệt để và rộng rãi 

Lầu Năm Góc cho biết, đó là số đầu đạn hạt nhân mà Mỹ có tính đến ngày 30/9/2009, giảm 84% kể từ thời kỳ đỉnh điểm là năm 1967 với 31.225 đầu đạn. Kho vũ khí của Mỹ có 22.217 đầu đạn hạt nhân khi Bức tưởng Berlin đổ vào 1989.
Số đầu đạn trên gồm cả những cái đã được triển khai, cất trong kho dự trữ chủ động và cất trong kho tích trữ. Tuy nhiên, nó không bao gồm hàng nghìn đầu đạn hạt nhân hiện không còn được sử dụng và chờ hủy, Lầu Năm Góc nói.
“Mỹ muốn chứng tỏ nước này ngày càng minh bạch”, một quan chức quốc phòng Mỹ cho biết. “Đó là một phần cam kết của chúng tôi…ấn định cơ sở cho nỗ lực không phổ biến và kiểm soát vũ khí”.
Bằng việc công bố dữ liệu tại hội nghị xem xét lại Hiệp ước không phổ biến hạt nhân, các nhà phân tích cho rằng Mỹ đang cố gắng thể hiện quyết tâm cắt giảm vũ khí để giúp thuyết phục các quốc gia khác siết chặt thể chế không phổ biến vũ khí hạt nhân toàn cầu.
“Việc làm đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng để Mỹ có thể lên tiếng rằng: Hãy nhìn xem, chúng tôi tuân thủ đúng nghĩa vụ của mình theo Hiệp ước không phổ biến hạt nhân”, giám đốc dự án thông tin hạ nhân của Liên minh các nhà khoa học Mỹ Hans Kristensen nói.
Mỹ công khai quy mô kho vũ khí hạt nhân chưa đầy một tháng sau khi Tổng thống Obama công bố một chính sách mới, giới hạn việc sử dụng vũ khí hạt nhân của Mỹ và ký kết một thỏa thuận mang tính bước ngoặt về cắt giảm vũ khí với Nga. .
Walt cho biết, thậm chí các chuyên gia kỳ cựu về đối ngoại như William Perry, Sam Nunn và Henry Kissinger cũng có “mốt” kêu gọi loại bỏ vũ khí hạt nhân. Và tất nhiên, ngay đầu nhiệm kỳ tổng thống của mình, ngài Barack Obama cũng đã có vài bài phát biểu về vấn đề này.
Đấy là bề nổi. Tuy nhiên, thực tế thì như thế nào? Học giả Walt phân tích tiếp: Cho dù Hoa Kỳ đã giảm đáng kể kho vũ khí hạt nhân từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, nước này vẫn sở hữu hàng ngàn đầu đạn hạt nhân đang trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu hoặc được dự trữ. Ông Walt khẳng định, “không có vị nào đương chức lại nghiêm túc cổ xúy cho việc trừ bỏ tất cả vũ khí hạt nhân trong thời gian ngắn”. Theo Walt, những việc cắt giảm khiêm tốn theo hiệp ước ký với Nga chẳng qua chỉ là “đãi bôi” mà thôi, và 1 số ít lãnh đạo Mỹ tuy có mong muốn cắt giảm toàn bộ vũ khí hạt nhân nhưng vẫn thấy cần phải giữ chúng để làm phương tiện răn đe.
2. “Mỹ không quan tâm lắm đến nhân quyền”
Giáo sư Walt ghi nhận, các tổng thống, các nhà ngoại giao, và một số chính trị gia khác nữa của Mỹ luôn miệng nói đến nhân quyền, và “cả Quốc hội lẫn nhánh hành pháp hay bắt nạt các nước nhỏ về thành tích nhân quyền, đặc biệt là khi chúng ta có các khác biệt với họ”.
Thế nhưng, khi các quan ngại của Mỹ về nhân quyền mâu thuẫn với các lợi ích của nước này thì tiếng nói ‘lương tâm’ của Mỹ lại gần như luôn thụt lùi lại đằng sau, Stephen Walt viết.
Vị giáo sư quan hệ quốc tế dẫn ra một loạt dẫn chứng cho thấy tính 2 mặt của Mỹ trong vấn đề nhân quyền:
1- Hầu hết người Mỹ không mảy may quan tâm khi các chương trình trừng phạt mà Mỹ áp dụng với Iraq đã gây ra cái chết của hàng trăm ngàn người dân Iraq (bao gồm nhiều trẻ em).
2- Không có quan chức cao cấp nào ra lệnh tra tấn dưới thời chính quyền Bush là bị truy tố hay điều tra một cách nghiêm túc cả. (Về điều này, Walt đem đối lập với hình ảnh quen thuộc: Người Mỹ sẽ tru tréo lên nếu nghi ngờ chính quyền nước khác đem những người Mỹ bị bắt giữ ra tra tấn theo hình thức trấn nước, tức là giội nước vào mặt các nạn nhân bị trói trên ván để gây ra sự ngạt nước cục bộ).
3 Hoa Kỳ có vô số đồng minh mà thành tích nhân quyền cũng có vấn đề nếu không muốn nói là khủng khiếp.
Đến đây, Walt tiếp tục nhận xét một cách chua cay về bản chất vị lợi của Mỹ: Hiếm khi nước này sẵn lòng làm nhiều việc hay chi nhiều tiền cho tiến bộ nhân quyền, trừ phi điều này đồng thời mang lại các lợi ích chiến lược cho họ!
3. “Sẽ không có chuyện giải pháp 2 nhà nước cho vấn đề Palestine
Theo quan điểm chính thức, Mỹ luôn coi câu trả lời đúng đắn về chính trị cho xung đột Israel-Palestine là một giải pháp 2 nhà nước dựa trên đàm phán song phương, đặc biệt là dưới sự bảo trợ của Mỹ. Tuy nhiên, theo Walt, người Mỹ trong bụng lại nghĩ khác. Walt cho rằng, người Mỹ thực ra không đếm xỉa gì đến việc có ít sự ủng hộ dành cho việc thành lập nhà nước Palestine có thể trụ vững được bên cạnh Israel, cũng như sự chia rẽ trong bản thân người Palestine, hay kỳ bầu cử gần đây nhất của Israel mà trong đó không có tín hiệu gì tích cực cho phía Palestine. Stephen Walt viết, “Hoa Kỳ đã mất hơn 20 năm để kiến tạo ra 1 thỏa thuận [hòa bình] rồi lại dễ dàng đánh mất nó, chủ yếu vì Hoa Kỳ chưa bao giờ là một nhà trung gian thực thụ cả.”
4. “Mỹ phải là số 1”
 
Stephen M. Walt tiếp tục “bóc mẽ” giới lãnh đạo Mỹ khi cho rằng đừng bị đánh lừa bởi vẻ ngoài của họ. Theo Walt, đa phần các nhà lãnh đạo Mỹ thích nói về quan hệ đối tác toàn cầu và nhu cầu phối hợp với các đồng minh, đồng thời tiết giảm việc nói về vai trò chế ngự của nước Mỹ. Nhưng mặt khác, không ai tranh cử tổng thống lại cam kết “biến Mỹ thành số 2” cả. Và đó là lý do vì sao mà giới lãnh đạo Mỹ mập mờ về tính thống nhất của châu Âu. Họ vừa muốn châu Âu đủ thống nhất để không phát sinh rắc rối cho Mỹ, lại vừa không muốn châu Âu quá đoàn kết để thành 1 siêu nhà nước có đủ sức đối trọng với Washington.
Theo Walt, việc Washington mềm mỏng trong tuyên bố lập trường chẳng qua là để tránh gây khó chịu cho các chính phủ khác và tránh đẩy họ đến chỗ phải dè chừng và tìm cách kiềm chế Mỹ. Walt nói thẳng “tưng”: Tham vọng của Mỹ là không thay đổi – cả ông Clinton, Bush con, đến Obama đều không từ bỏ mục tiêu cơ bản là giữ Mỹ ở vị trí siêu cường số 1 thế giới.
5. “Mỹ đã mắc phải nhiều điều ngớ ngẩn trong đối ngoại”
Walt cho rằng, mọi người Mỹ đều biết chính sách của nước Mỹ đối với Cuba đã phá sản từ những năm 1960, nhưng chính sách này không thay đổi. Rồi nữa, ai cũng biết nỗ lực của Mỹ trong việc hỗ trợ cuộc chiến chống ma túy ngoài lãnh thổ Mỹ cũng không thành công hơn mấy so với chiến dịch chống ma túy ở trong nước. Vẫn theo Walt, nhiều người Mỹ cũng biết rằng cuộc chiến Afghanistan là một thất bại đối với nước Mỹ, nhưng phía Mỹ lại cứ giả vờ đó là 1 chiến thắng để có thể rút lui khỏi chiến trường này về mặt chính trị. Walt cũng cho rằng nước Mỹ đã có cách tiếp cận sai lầm đối với chương trình hạt nhân Iran và đã mất tới 2 thập kỷ chỉ để khiến cho Tehran có thêm lý do tin rằng họ cần đến khả năng hạt nhân./.
Amari tx

Với phong cách lịch lãm và duyên dáng trong các cuộc họp báo tại Hội nghị Paris, Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình được truyền thông Pháp đặt biệt hiệu “Madamee Bình”.

Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam Nguyễn Thị Bình và Trưởng đoàn đàm phán của chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Xuân Thủy trong những ngày đầu của Hòa đàm Paris, 1968.

Bà Nguyễn Thị Bình và ông Xuân Thủy tại Paris năm 1970.

“Madame” Nguyễn Thị Bình tại Paris tháng 12/1970.

Nét mặt vui tươi của Bộ trưởng Nguyễn Thị Bình được phóng viên ghi lại ngày 1/7/1971, sau vòng đàm phán thứ 119.

Sự thay đổi nét mặt của những người tham gia đàm phán từ năm 1969 (nửa bên trái bức ảnh) đến ngày 2/7/1971 (nửa bên phải bức ảnh), khi những tiến triển trong đàm phán được ghi nhận.

Những sắc thái khác nhau của bà Nguyễn Thị Bình khi trả lời báo chí tại vòng đàm phán thứ 123 vào ngày 29/7/1971.

Bà Nguyễn Thị Bình trong buổi trao đổi với phóng viên hãng thông tấn AP ngày 30/7/1971, khẳng định miền Bắc Việt Nam sẽ trao trả toàn bộ tù binh chiến tranh nếu Mỹ đưa ra được một thời hạn rút quân khỏi miền Nam Việt Nam.

Bà Nguyễn Thị Bình trả lời phỏng vấn tại phòng nghỉ của mình ở Paris ngày 24/10/1972.

Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Thị Bình trả lời phỏng vấn tại Paris ngày 31/3/1972.

Tại buổi đàm phá diễn ra ngày 17/8/1972, Bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Thị Bình đã lên án Nixon “bỏ lỡ cơ hội quý giá nhất để kết thúc cuộc chiến tranh”.

Hai bức ảnh của “Madame Bình” năm 1969 và 1972 được lưu trữ tại thư viện của hãng thông tấn AP.

Thời khắc lịch sử: Ký kết Hiệp định Hòa bình ngày 27/1/1973.

Theo KIẾN THỨC

Mời bạn xem video bên dưới. Công nghệ tiên tiến làm nên những cảnh quay tuyệt đẹp.

KHÔNG BIẾT XẤU HỔ THÌ… GAY!

Không biết xấu hổ thì có nghĩa là không bao giờ có thể tự mình tu tỉnh, rèn luyện, khắc phục những yếu kém, sai lầm của mình. Và cứ như vậy, họ như đôi giày đã giẫm bùn… Không cần gìn giữ nữa, cứ thế mà giẫm bạt mạng, bất kể là vào đâu.

1. Cách đây mấy năm, tôi sang Hàn Quốc. Trong một buổi gặp gỡ với Bộ trưởng Bộ Thông tin Hàn Quốc, chúng tôi có đặt câu hỏi rằng, tại sao Hàn Quốc lại có sự phát triển về kinh tế thần kỳ đến như vậy? Không cần suy nghĩ lâu, ngài Bộ trưởng nói: “Chúng tôi có được như ngày hôm nay chính là vì dân tộc chúng tôi cảm thấy rất nhục nhã, xấu hổ khi phải thua kém các nước khác, đặc biệt là với nước Nhật”.

Rồi ông kể cho chúng tôi nghe rằng, vào những năm 60, 70 thế kỷ trước khi người Nhật đã chế tạo ra được những chiếc đài bán dẫn chỉ to hơn bàn tay thì người Hàn Quốc mới làm ra chiếc đài bán dẫn nặng gần 2kg. Mặc dù hàng hóa mẫu mã xấu xí, chất lượng thua rất xa hàng Nhật, hàng Mỹ nhưng người Hàn Quốc vẫn dùng và kiên quyết không dùng hàng Nhật, hàng Mỹ. Họ coi việc sử dụng hàng nội địa là yêu nước. Và cho đến bây giờ, hàng điện tử của Hàn Quốc đã “đánh” cho hàng điện tử của Mỹ, Nhật và nhiều quốc gia khác “xất bất xang bang”.

Ở Hàn Quốc, rất hiếm thấy hàng Nhật, hàng Mỹ. Ôtô chạy trên đường có đến 99% là xe Hàn, còn hàng điện tử và hàng tiêu dùng thì khỏi phải nói đất Hàn không có chỗ đứng cho hàng Nhật. Đúng là sự “cảm thấy xấu hổ” khi thua kém bạn bè đã tạo động lực tinh thần cho người Hàn Quốc. Văn hóa Hàn Quốc đang xâm nhập một cách sâu rộng vào Nhật Bản, Trung Quốc. Còn ở Việt Nam này, người ta mê văn hóa Hàn Quốc đến mức độ đặt tên con cái theo các ngôi sao Hàn, rồi những fan hâm mộ đến hôn cả ghế mà ngôi sao Hàn Quốc vừa ngồi. Chỗ nào cũng thấy sự hiện diện của người Hàn Quốc, từ đồ điện tử, chăn ga gối đệm và đến cái món kim chi vốn khó ăn với người Việt, nay cũng ngự trị trên menu của rất nhiều nhà hàng.

2. Nhìn về nước Việt ta, bấy lâu nay cái dây thần kinh “xấu hổ” đã bị đứt ở rất nhiều người và thực sự đã phần nào làm triệt tiêu tinh thần sáng tạo và vươn lên trong xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa của người Việt.

Không ít cán bộ Việt Nam khi đi sang Cuba đã chê bai, dè bỉu rằng, Cuba nghèo quá, người dân sống khốn khổ quá, thiếu thốn quá và nhiều người đã thẳng thừng tuyên bố, một xã hội như Cuba thì không thể chấp nhận được. Nhưng họ lại không biết rằng, không một trẻ em nào ở Cuba dưới 6 tuổi thiếu sữa uống. Họ không biết rằng, Cuba không có một trẻ em nào thất học và họ càng không biết rằng, ở đất nước này trẻ em đi học không những không phải đóng học phí, mà còn được cấp sách vở, quần áo và một bữa ăn ở trường. Còn khám chữa bệnh cho người dân thì khỏi phải nói, chúng ta đừng bao giờ mơ thấy được như vậy.

Thế vận hội Olympic London vừa rồi, Cuba xếp hạng 15 về thành tích thể thao. Trong khi đó, Việt Nam tự hào vỗ ngực với đủ mọi thứ thành tựu thì đứng ở hàng 86, cùng với 20 quốc gia khác “đem quân” đi thi đấu mà trắng tay không được một mảnh huy chương nào. Ấy thế mà cấm thấy có một ai ở ngành thể dục thể thao có lời xin lỗi. Cũng rất nhiều người nghĩ rằng, CHDCND Triều Tiên đang kiệt quệ. Ấy vậy mà họ xếp thứ 20 về thành tích thể thao trên thế giới đấy.

Bao nhiêu năm nay, chúng ta tự vẽ ra một vòng hào quang cho mình và người ta lầm tưởng rằng, một quốc gia có thể đánh thắng các đế quốc sừng sỏ nhất trên thế giới thì có thể làm gì cũng được, kể cả trong xây dựng và phát triển kinh tế. Nhưng tất cả đều nhầm. Và thực tế cho thấy, nền kinh tế Việt Nam đang “đứng ở đâu”.

Chúng ta có rất nhiều đại gia mà về thói ăn chơi của họ thì có lẽ các tỷ phú trên thế giới cũng còn phải chào thua. Nhưng thử hỏi đã có bao nhiêu doanh nghiệp tư nhân vươn ra được thị trường thế giới? Hay là loanh quanh chỉ có vài ba doanh nghiệp cò con…

Bao nhiêu năm chúng ta đã sống trong những vầng hào quang giả tạo và không dám thừa nhận một thực tế rằng, trí tuệ Việt Nam ngày càng thấp đi trên bảng xếp hạng toàn cầu. Người Việt Nam ngày càng kém đi về sức lực (mặc dù tuổi thọ cao hơn); môi trường sống ngày càng bị tàn phá nặng nề; trật tự an toàn xã hội ngày một lộn xộn… Còn trong phát triển kinh tế thì khỏi phải bàn. Chúng ta chẳng có gì đáng tự hào ngoài việc là nước xuất khẩu nhiều gạo, nông sản nhiệt đới… Nhưng xuất khẩu lắm gạo, đứng vị trí cao mà giá thấp, khiến người nông dân vẫn cứ nghèo khó?

Tôi đã tiếp xúc với không ít doanh nhân Việt. Điều mà tôi nhận thấy nhất ở nhiều người đó là thói huênh hoang, vỗ ngực, nhìn thiên hạ bằng con mắt “mục hạ vô nhân” và nặng về thói làm ăn chộp giật. Rất hiếm người có những khát khao, trăn trở và có suy nghĩ xấu hổ rằng, tại sao chúng ta lại không vươn được ra thế giới?

3. Một sự không biết xấu hổ nữa, đó là người ta đã coi những kẻ tham nhũng, những kẻ phạm tội là… “rất bình thường”. Đã có không ít những trường hợp khi giám đốc bị bắt vì tội tham nhũng thì công đoàn, cấp ủy đơn vị vào tận trại giam tiếp tế thăm nuôi, động viên. Đã có không ít những kẻ khi được mãn hạn tù trở về được người ta tổ chức đón tiếp, thậm chí mang cả hoa đến cổng trại giam để tặng. Chao ôi! Thời bao cấp nhà nào có con hư đốn bị công an bắt; có người đảo ngũ, có người mắc vòng lao lý thì người thân trong gia đình khi ra đường chỉ cúi mặt, không muốn để thiên hạ nhìn thấy. Nhưng bây giờ, khái niệm “xấu hổ” trong rất nhiều, rất nhiều người khi mắc sai phạm hầu như không còn nữa. Một người không biết xấu hổ thì cũng có nghĩa rằng họ không còn liêm sỉ. Mà với kẻ không có liêm sỉ thì có thể làm bất cứ điều gì để đạt được mục đích cá nhân.

Cách đây ít hôm, tôi có dịp được trò chuyện với một Bí thư Tỉnh ủy. Ông đã cay đắng thốt lên rằng, cán bộ, đảng viên bây giờ nhiều người không còn biết xấu hổ nữa. Họ không biết xấu hổ khi đã không làm tròn chức trách được Đảng, nhân dân giao phó. Và vì không biết xấu hổ cho nên họ trở nên vô cảm đối với dân. Cái họa cũng chính từ đây mà ra. Tôi có hỏi ông rằng: Vậy tình hình như thế này thì phải làm thế nào? Ông cười như mếu và nói: Nghị quyết Trung ương IV có rồi, vấn đề bây giờ là làm thế nào để cho cán bộ thấy rằng cần phải biết xấu hổ với những việc làm của mình. Có xấu hổ thì mới biết tu tỉnh. Nhân dân ta vốn là một dân tộc rất rộng lòng tha thứ. Người dân cũng sẽ sẵn sàng bỏ qua cho những lỗi lầm của người khác nhưng vấn đề ở chỗ là người ấy phải biết xấu hổ và còn phải biết giữ liêm sỉ cho mình.

Không biết xấu hổ thì có nghĩa là không bao giờ có thể tự mình tu tỉnh, rèn luyện, khắc phục những yếu kém, sai lầm của mình. Và cứ như vậy, họ như đôi giày đã giẫm bùn… Không cần gìn giữ nữa, cứ thế mà giẫm bạt mạng, bất kể là vào đâu.

Theo : Petrotimes

(REDS.VN) các bài báo “sex” nhuốm màu sắc hư cấu đang đầy rẫy trên báo chí Việt Nam hiện nay có thể coi là một loại hình văn học khiêu dâm được hợp thức và công khai hoá dưới hình thức báo chí.

Bài viết của độc giả Lê Hùng (TP HCM) viết riêng cho REDS.VN. Bài cùng tác giả: BBC Việt ngữ rẻ tiền đến mức nào?)

Buổi tối nay, tôi lướt Facebook, thấy cả chục bạn trẻ trong Friendlist đồng loạt chia sẻ bài viết có tiêu đề “Thầy giáo yêu 20 cô gái không ai còn trinh trắng”.

Nội dung bài viết có thể tóm gọn trong phần giới thiệu đầu bài báo như sau: “Với kinh nghiệm yêu đương trong 2 năm, vào nhà nghỉ với khoảng 20 cô, tôi khẳng định 99% con gái bây giờ không còn trinh trắng, 1% còn lại không dở hơi, thần kinh thì cũng chả ra gì”, anh Nguyễn Trung Kiên (30 tuổi, giáo viên một trường tiểu học trên địa bàn quận Thanh Xuân, HN) chia sẻ.

Phía dưới bài viết, tôi thấy các bạn sôi nổi “ném đá” nhân vật giáo viên trong bài viết bằng những lời lẽ nặng nề nhất.

Và tôi cho rằng các bạn đã “ném đá” nhấm đối tượng.

Trong câu chuyện này, tôi không thể không đặt ra một số câu hỏi.

Thật sự có nhân vật như vậy, câu chuyện như vậy không, hay nhà báo “sáng tác” ra?

Với câu hỏi này, chỉ có người viết mới đưa ra được câu trả lời chính xác. Tôi không dám đưa ra kết luận, dù theo cảm tính, tôi thấy nó sặc mùi hư cấu, như rất nhiều bài báo tương tự xuất hiện trên chuyên mục “Đời sống”, “Tình yêu”, “Tâm sự” v..v của các trang mạng thời gian qua.

Điểm chung của các bài báo này là nhấn mạnh yếu tố “sex”, với những tình tiết rất “kích động”, thể hiện ngay ở cái title. Ví dụ như: “Chồng ngoại tình vì chê “cô bé” của tôi nhỏ”; “Vợ tôi thủ dâm bằng một bóng đèn quả nhót”; “Phát hiện chồng hiến tinh trùng… trực tiếp”; “Xin lỗi, em không cướp chồng chị!”; “Tôi lừa gạt tình để trả thù anh”; “Đừng bắt tôi phải ngoại tình!”; “Vào nhà nghỉ với bồ, bố gặp con đi cùng tình trẻ”; “Chồng tôi thề chỉ thử xem ôsin còn hay mất trinh”; “Lần đầu tiên tôi ăn vụng đã làm cô ấy có thai”; “Dân văn phòng gần như ai cũng… ngoại tình!”; “Thỏa mãn cùng lúc với 3 người, tôi ghê tởm chính mình”; “Kết cục bi thảm vì “quan hệ” với em vợ”; “Tôi đang mang thai đứa con của anh rể”; “Mẹ van xin con gái cho được ngoại tình”; “Hứng tình, mẹ mạnh tay chi tiền cho “trai bao””; “Em cứ sexy quá đà, anh chết mất!”; “Tôi bị con riêng của mẹ kế cưỡng hiếp… v..v

Những bài viết dạng này thường có nội dung lâm ly, bi đát, và không thể nào kiểm chứng được mức độ chân thực.

Liệu có bao nhiêu phần trăm trong số đó không phải là chuyện bịa? Tôi không nghĩ rằng có nhiều người rỗi hơi đến mức đi tâm sự hết những nỗi niềm sâu kín của mình với lều báo.

Báo chí chỉ là báo chí khi có người thật, việc thật, nếu không thì nhà báo chỉ là những kẻ dối trá, và sản phẩm của họ là rác rưởi văn hoá.

Đăng những bài viết kiểu như vậy để làm gì?

Tự đặt mình vào vị trí của người làm báo, tôi dễ dàng tìm ra câu trả lời muôn thuở: câu khách, tăng view, hút quảng cáo, làm phồng túi tiền.

Trong thời buổi khủng hoảng kinh tế, tôi hoàn toàn thông cảm cho điều này. Nhưng tôi chân thành khuyên quý toà soạn hay đăng các bài báo như vậy chớ có nhảy chồm chồm lên bày tỏ sự tự ái mỗi khi bị ai đó nói là báo lá cải.

Đã làm đĩ để kiếm tiền thì bị người đời thị phi là chuyện đương nhiên.

Những bài viết đó có gây hệ luỵ gì cho xã hội?

Như tôi đã đề cập, những bài viết trên chỉ xoáy vào ba chủ đề chính: sex, sex và sex. Sex được săm soi dưới đủ mọi khía cạnh sống sượng, thô tục, từ ngoại tình cho đến loạn luân, như muốn nhổ toẹt vào các giá trị đạo lý và văn hoá dân tộc mà chúng ta đang ngày đêm rao giảng.

Chúng không có bất cứ một giá trị gì khác ngoài tính “giải trí” đơn thuần. Ở điểm này, tôi thấy hoàn toàn có thể xếp chúng ngang hàng với các tác phẩm thuộc thể loại “cô giáo Thảo” (dòng văn học khiêu dâm ở miền Nam trước 1975) mà bọn học sinh chúng tôi chuyền tay nhau lén lút khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

Theo quan điểm cá nhân của tôi, các bài báo “sex” nhuốm màu sắc “sáng tác”, trên phương diện nào đó có thể coi là một loại hình văn học khiêu dâm được hợp thức và công khai hoá dưới hình thức báo chí. Và hệ luỵ mà nó gây ra còn lớn hơn là văn học khiêu dâm đích thực.

Đọc “cô giáo Thảo”, ai cũng biết đó chỉ là chuyện hư cấu. Nhưng khi đọc trên báo, độc giả sẽ mặc nhiên coi câu chuyện là “người thật việc thật”. Việc tràn lan những “chuyện thường ngày” như vậy sẽ vẽ nên một bức tranh dơ dáy về xã hội, cũng như khiến con người trở nên chai sạn trước những chuyện đáng kinh tởm. Đó chính là cánh cửa dẫn đến sự tha hoá.

Ngay cả khi những câu chuyện trong bài báo là có thật đi chăng nữa, thì việc phơi bày chúng trên mặt báo dưới những hình thức li kỳ, khêu gợi, gây khoái trá trong độc giả vẫn xứng đáng bị coi là việc làm tội lỗi.

Trong mối quan hệ tương tác với báo chí, mỗi độc giả cũng cần phải tỉnh táo để không trở thành dạng độc giả “tò mò và rỗi hơi”, để lều báo dắt mũi vào những câu chuyện phản nhân văn (và có thể là hoàn toàn là bịa đặt).

LÊ HÙNG [ REDS.vn]

NGƯỜI NẮM TRONG TAY CHÍNH NGHĨA THÌ KHÔNG CẦN PHẢI HÒ HÉT !

Ảnh : Ảnh chụp màn hình game “Hành động liên hợp biển Đông” trên trang… kongzhong.com với đầy đủ thể lệ chơi, hình thức quy đổi, quyên góp và rất nhiều thông tin sai trái nhằm tuyên bố cái gọi là “chủ quyền” của Trung Quốc đối với biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Ngày 21.6.2012, Quốc hội Việt Nam thông qua 13 luật, trong đó có Luật Biển Việt Nam.

Việc xây dựng và ban hành Luật Biển là hoạt động lập pháp cần thiết đối với Việt Nam – một quốc gia ven biển, một thành viên luôn tôn trọng Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS 1982), để hoàn thiện khuôn khổ pháp lý của Việt Nam, phục vụ cho việc sử dụng, quản lý, bảo vệ các vùng biển, đảo và phát triển kinh tế biển của Việt Nam, phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi cho tiến trình hội nhập quốc tế và hợp tác với các nước vì hòa bình, ổn định trong khu vực và trên thế giới.Dư luận rộng rãi đều hiểu rõ điều này để việc khai thác, quản lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong các vùng biển của mình, thực thi quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với các vùng biển của mình một cách có hiệu quả nhất, các quốc gia ven biển cần phải có luật về biển của mình.

Các nước ven biển Đông khác đã lần lượt thông qua các luật về biển. Trung Quốc có luật năm 1992 về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải, luật năm 1996 về đường cơ sở, luật năm 1998 về thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế và luật năm 2009 về bảo vệ hải đảo. Indonesia có luật năm 1983 về vùng đặc quyền kinh tế và luật năm 1996 về lãnh hải, vùng nước quần đảo và nội thủy. Malaysia có luật năm 1966 về thềm lục địa (sau đó được sửa đổi vào các năm 2000, 2008) và luật năm 1984 về vùng đặc quyền kinh tế. Philippines có luật năm 2009 về đường cơ sở.

Vậy mà, trước và sau khi Luật Biển Việt Nam được thông qua, báo chí Trung Quốc, kể cả một vài báo lớn, chính thống, đã đăng tải nhiều bài viết công kích, xuyên tạc việc Quốc hội Việt Nam thông qua Luật Biển Việt Nam với những lời lẽ xúc phạm, làm tổn thương lòng tự tôn dân tộc của nhân dân Việt Nam, gây bức xúc trong dư luận Việt Nam. Với tất cả sự kiềm chế, hết sức tránh để không làm tổn hại tới quan hệ Việt – Trung và tình hữu nghị mà các thế hệ nhân dân hai nước đã dày công vun đắp, chúng ta cũng không thể không lên tiếng để những người có lương tri hiểu rõ về bản chất vấn đề và tính chất sai trái của những lời lẽ trong nhiều bài viết trên báo chí Trung Quốc những ngày qua.

Thứ nhất, một vài tờ báo Trung Quốc vu cáo Việt Nam “âm mưu giành những gì không phải của mình” khi Luật Biển Việt Nam khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cần làm rõ rằng mặc dù luôn nói hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là “của Trung Quốc”, nhưng phía Trung Quốc không thể đưa ra các bằng chứng về việc Nhà nước Trung Quốc đã thực hiện chủ quyền đối với hai quần đảo một cách hòa bình, thường xuyên và liên tục – một điều kiện tiên quyết để có thể yêu cầu công nhận chủ quyền theo luật pháp quốc tế. Sử sách và bản đồ cổ của Trung Quốc đến đầu thế kỷ XX đều thể hiện đảo Hải Nam là điểm cực Nam của Trung Quốc. Trong khi đó, Việt Nam có các bằng chứng chỉ rõ ít nhất từ thế kỷ XVII, Nhà nước Việt Nam đã thực hiện các hoạt động chủ quyền với tư cách nhà nước đối với hai quần đảo và Nhà nước Việt Nam đã thực hiện chủ quyền đối với hai quần đảo một cách hòa bình, thường xuyên và liên tục. Luật Biên giới quốc gia của Việt Nam năm 2003 đã khẳng định chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc Luật Biển Việt Nam khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo này là thể hiện lập trường nhất quán của Việt Nam. Một thực tế mà mọi người đều rõ là Trung Quốc đã dùng vũ lực để xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa và một số bãi đá trong quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Vậy thì ai mới là người thực sự “âm mưu giành lấy thứ thuộc về người khác”?

Thứ hai, một vài tờ báo Trung Quốc cho đăng những bài báo cho rằng, “Việt Nam làm trái thỏa thuận của lãnh đạo cấp cao hai nước, Công ước Luật Biển năm 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở biển Đông năm 2002” và “làm phức tạp tình hình biển Đông”. Đây là những ý kiến hoàn toàn vô căn cứ. Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc nhân chuyến thăm chính thức Trung Quốc của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng (tháng 10.2011) nêu rõ, trước khi tranh chấp được giải quyết dứt điểm, hai bên cùng gìn giữ hòa bình, ổn định trên biển Đông, không có hành động làm phức tạp hóa, mở rộng tranh chấp, đồng thời hai bên nỗ lực thực hiện thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc. Nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới đều thấy rõ tình hình biển Đông đang trở nên phức tạp và căng thẳng hơn là do Trung Quốc tăng cường các hoạt động nhằm thực hiện yêu sách “đường lưỡi bò” phi lý. Trung Quốc cản trở và bắt giữ ngư dân Việt Nam đánh cá ở vùng biển quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam – nơi hàng trăm năm nay, ngư dân Việt Nam vẫn hoạt động nghề cá bình thường. Nghiêm trọng hơn, bất chấp lẽ phải, bất chấp các cam kết và quy định của Công ước Luật Biển năm 1982, ngày 21.6.2012, phía Trung Quốc công bố thành lập thành phố Tam Sa với phạm vi quản lý bao gồm hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Ngày 23.6.2012, phía Trung Quốc lại mời thầu quốc tế thăm dò ở 9 lô dầu khí hoàn toàn thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Việt Nam. Những việc làm đó của Trung Quốc là minh chứng cho thấy chính phía Trung Quốc mới là bên vi phạm thỏa thuận cấp cao Việt Nam – Trung Quốc, Công ước Luật Biển năm 1982 và Tuyên bố ứng xử của các bên ở biển Đông, làm cho tình hình biển Đông căng thẳng hơn, phức tạp hơn.

Một số cơ quan báo chí của Trung Quốc lớn tiếng: “Việt Nam cực kỳ lố bịch khi phản đối ngược lại Trung Quốc”, “các đại biểu Quốc hội Việt Nam không quan tâm tới hòa bình, thịnh vượng”, “Việt Nam tạo sóng ở biển Đông” và đe dọa “mũi giáo và đối tượng chính cần nhằm vào là Việt Nam”, “Hải quân Trung Quốc đã sẵn sàng chờ lệnh”, “Trung Quốc sẵn sàng áp dụng những biện pháp cứng rắn hơn, bao gồm bảo vệ chủ quyền bằng vũ lực khi cần thiết”… Việt Nam là một dân tộc yêu chuộng hòa bình, tự do và công lý, sống hòa hiếu với láng giềng, với bạn bè. Chúng ta luôn trân trọng tình hữu nghị lâu đời và mong muốn thúc đẩy quan hệ hợp tác đối tác chiến lược toàn diện với Trung Quốc. Nhưng nhân dân Việt Nam từ ngàn đời nay luôn kiên cường bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của đất nước. Giọng điệu dù hung hăng cũng không thể đe dọa được nhân dân ta, trở nên lạc lõng trước xu thế chung của thế giới là phấn đấu vì hòa bình, phát triển, vì sự thịnh vượng chung, tôn trọng chủ quyền của các quốc gia, thậm chí còn làm tổn hại, càng gây ra nghi ngờ về chủ trương “trỗi dậy hòa bình” mà Trung Quốc đang cố công thuyết phục cộng đồng các quốc gia trong khu vực và trên thế giới.

Người nắm trong tay chính nghĩa thì không cần phải hò hét!

Nhân dân Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị truyền thống lâu đời giữa nhân dân hai nước Việt Nam – Trung Quốc và mong muốn phát triển mối quan hệ hợp tác đối tác chiến lược toàn diện Việt – Trung vì hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực. Cho nên, hai bên cần thực hiện nghiêm túc thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết các vấn đề trên biển Việt Nam – Trung Quốc, giải quyết những vấn đề tồn tại, bất đồng bằng biện pháp hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế, không chấp nhận những việc làm và lời nói mang tính chất đe dọa.

50 CÂU NÓI NỔI TIẾNG NHẤT CỦA BÁC HỒ (10/50)

1. Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” là ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước. Đồng chí ta nhiều người đã làm được, nhưng vẫn có những người hủ hóa. Đảng có trách nhiệm gột rửa cho những đồng chí đó.

2. Cách dạy trẻ: cần làm cho chúng biết yêu Tổ quốc, thương đồng bào, yêu lao động, biết vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hóa. Đồng thời phải giữ toàn vẹn tính vui vẻ, hoạt bát, tự nhiên, tự động, trẻ trung của chúng, chớ làm cho chúng trở nên già cả.”
…….

3. Ưu điểm của thanh niên ta là hăng hái, giàu tinh thần xung phong. Khuyết điểm là ham chuộng hình thức, thiếu thực tế, bệnh cá nhân, bệnh anh hùng. Rất mong toàn thể thanh niên ta ra sức phát triển những ưu điểm và tẩy sạch những khuyết điểm ấy. Huy hiệu của thanh niên ta là “tay cầm cờ đỏ sao vàng tiến lên”. Ý nghĩa của nó là: phải xung phong làm gương mẫu trong công tác, trong học hỏi, trong tiến bộ, trong đạo đức cách mạng. Thanh niên phải thành một lực lượng to lớn và vững chắc trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Đồng thời phải vui vẻ, hoạt bát. Bác mong mỗi cháu và toàn thề các cháu nam nữ thanh niên cố gắng làm tṛn nhiệm vụ, để xứng đáng với cái huy hiệu tươi đẹp và vẻ vang ấy.

4. Trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, phụ nữ vô cùng đảm đang, đă đóng góp rất nhiều trong chiến đấu và sản xuất. Đảng, Chính phủ cần có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày càng thêm nhiều phụ nữ phụ trách nhiều công việc kể cả lănh đạo. Phụ nữ phải phấn đấu vươn lên, đây là thực sự là một cuộc cách mạng.

5. Đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ trung thành của nhân dân.

6. Ví không có cảnh đông tàn/ Thì đâu có cảnh huy hoàng ngày xuân/ Nghĩ mình trong bước gian truân/ Tai ương rèn luyện, tinh thần thêm hăng.

7. Muốn cho dân yêu, muốn được lòng dân, việc gì có lợi cho dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh. Phải chú ý giải quyết hết các vấn đề quan hệ tới đời sống của dân, dầu khó đến đâu. Hết thảy những việc có thể nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của dân phải được đặc biệt chú ý…

8.Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta đã nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa. Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Giờ cứu nước đã đến. Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước.

9. Nước Việt Nam là một. Dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi.

10. Viết để nêu những cái hay, cái tốt của dân tộc ta, của bộ đội ta, của cán bộ ta, của bạn bè ta. Đồng thời viết để phê bình những khuyết điểm của chúng ta, của cán bộ, của nhân dân, của bộ đội. Không nên chỉ viết về cái tốt mà giấu cái xấu. Nhưng phê bình phải đúng đắn, nêu cái hay, cái tốt phải có chừng mực, chớ có phóng đại. Có thế nào, nói thế ấy.

(Bài nói chuyện với cán bộ báo chí, 17-8-1952
Hồ Chí Minh toàn tập)
—————————————-
Bài do thành viên Trương Đình Thông cung cấp

Nguồn: HỘI NHỮNG NGƯỜI GHÉT BỌN PHẢN ĐỘNG