Tag Archive: hoa


Dân cả đời cày dưới ruộng, giữa đường, giữa chợ, bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Quan chức thì suốt ngày ở trong phòng lạnh, xe lạnh, trong nhà hàng, trên sân gôn. Trái tim họ nguội lạnh dần theo đồng tiền, theo lợi ích nhóm. Đó là nguyên nhân đẻ ra biết bao văn bản, chính sách làm nhân dân rối bời và khổ sở trong những ngày tháng qua.

Tiếp tục đọc

Máu Trường Sa vẫn chảy

Cuộc hải chiến bi hùng 25 năm trước trên đảo Gạc Ma vẫn chưa đi vào dĩ vãng. Những giọt máu Trường Sa vẫn chảy và những giọt nước mắt đất liền vẫn chảy để giữ chủ quyền dân tộc.

 

“Quê ơi! Về nhé”

Các liệt sĩ đang nằm trên đảo Nam Yết.

Những chiến sĩ hy sinh trên quần đảo Trường Sa đều được đưa về an nghỉ tại nghĩa trang trên đảo Nam Yết. Tại nghĩa trang này có 4 ngôi mộ còn nồng mùi vôi mới: Đinh Thanh Bình (quê Quảng Bình, hy sinh năm 2011); Nguyễn Văn Hà (quê Nghệ An, hy sinh năm 2010); Lại Huy Công (quê Thái Bình, hy sinh năm 2012) và Nguyễn Văn Cường (quê Hưng Yên, hy sinh năm 2012).

Chiều về trên Nam Yết, sắp đến giờ cơm mà bên 4 ngôi mộ này vẫn còn mấy tốp chiến sĩ ngồi nhặt cỏ và trò chuyện với mấy tấm bia mộ dựng vội bằng xi măng. Kẻng báo giờ cơm buổi chiều, tốp chiến sĩ ấy mới thì thầm với người nằm xuống: “Quê ơi! Về nhé”.

Mỗi khi đi qua đảo Gạc Ma, các tàu Hải quân ta luôn có lễ thả hoa tưởng niệm cho những người đã ngã xuống vì chủ quyền. Bây giờ những con tàu đánh cá Việt Nam khi ra khơi, khi qua vùng biển này, ngư dân cũng đã có thói quen thả hoa tưởng niệm những người anh hùng đã và đang bảo vệ bức tường Trường Sa.

Thì ra họ là những tốp đồng hương với các liệt sĩ, ngày mai họ lên tàu trở về đất liền, để lại bạn giữa muôn trùng sóng gió.

Trên Trường Sa, đồng hương với nhau khi nói chuyện không dùng đến các đại từ nhân xưng phức tạp như: Chú, bác, anh, em, họ chỉ thủ thỉ “Quê ơi”. Đêm ấy, những người bạn đồng hương của các liệt sĩ được chỉ huy đảo đặc cách cho ở cùng với bạn đến tận giờ đi ngủ.

Nguyễn Huy Chung – chiến sĩ cùng huyện Kim Động, Hưng Yên với liệt sĩ Nguyễn Văn Cường tay mân mê con ốc: “Mấy bữa nay biển động. Tớ chỉ kiếm được con ốc này thôi. Tớ sẽ mang đến cho em gái cậu. Mai tớ về, cậu ở lại rồi khi nào được về quê, tớ sẽ sang thăm”.

Về chuyện này, Chung kể: “Trước lúc hy sinh, em không biết Cường. Cường hy sinh bên đảo Chìm, lúc đưa về đây an táng được một tuần thì từ bên đảo Chìm điện sang hỏi thăm, khi biết em là đồng hương cùng huyện, các anh bên đó nhờ em chăm lo cho phần mộ của Cường và dặn: Cường viết thư về nhà có hứa mang về cho em gái mình con ốc biển. Vì thế, em thay bạn mang quà về quê”.

Giờ chia tay, trước những ngôi mộ nằm nghiêm trang giữa biển, đại tá Nguyễn Bá Ngọc – Phó Tư lệnh Vùng 4 Hải quân xúc động: “Xin các anh linh liệt sĩ thứ lỗi. Đất nước còn khó khăn, thiếu thốn, chưa có điều kiện đưa các đồng chí về nhà ngay với gia đình. Chúng tôi xin hứa, ngay khi có điều kiện sẽ đưa anh em về đất liền quê hương”.

Không thể có điều kiện để ngay sau khi hy sinh có thể đưa thi thể các liệt sĩ về đất liền nên những chiến sĩ ngã xuống trên Trường Sa phải chờ rất lâu để được về nhà. Cát biển, nước biển mặn chát khiến thời gian để hài cốt của họ được sạch sẽ rất lâu, có thể mất đến 7 – 8 năm.

Và nước mắt đất liền vẫn chảy

Trong các liệt sĩ tại Trường Sa, Lại Huy Công và Nguyễn Văn Cường là những người hy sinh gần đây nhất. Tại quê hương xã Hùng Cường, Kim Động, Hưng Yên, bà Hoàng Thị Tuyết – mẹ liệt sĩ Nguyễn Văn Cường lặng lẽ khóc khi chúng tôi hỏi thăm.

Cường là con trai lớn, dưới có cô em gái. Phút xúc động qua đi, bà Tuyết chỉ nói như tự an ủi mình: “Cũng may, em nó được nằm giữa bạn bè, có người thỉnh thoảng nói chuyện chắc nó cũng đỡ tủi”.

Bà kể, tháng 6.2012, sau khi Cường hy sinh được 4 tháng, Bộ Tư lệnh Hải quân có đưa bà ra Trường Sa thăm mộ con. Và đến giờ bà vẫn còn xót xa cho người cùng cảnh ngộ, bà kể: “Hai anh em Lại Huy Công, Nguyễn Văn Cường hy sinh cùng nhau nhưng tôi còn khỏe, còn ra thăm con được, mẹ anh Công yếu quá, không ra được thăm con, thật tội”.

Vào ngày 2.2.2012 định mệnh ấy, khi Cường gặp nguy hiểm, Lại Huy Công đã anh dũng lao tới cứu mạng cho Cường nhưng không thành, cả hai hy sinh cùng lúc và giờ họ lại nằm bên nhau giữa Trường Sa.

Dù vô cùng nuối tiếc khi cậu con trai duy nhất không còn nhưng bà Tuyết bảo: “Thôi thì Cường nhà tôi có một thân, một mình, mất đi còn đỡ, anh Công đã có vợ, con vẫn còn bé nên càng thấy xót xa. Hôm đi Trường Sa về, tôi có đến nhà Công báo tin cho bố mẹ anh ấy để họ yên tâm, nhưng bố Công đã yếu lắm rồi, không biết có chờ được ngày đón con về hay không”.

Vào dịp tháng 6 năm ngoái, trong đợt ra thăm Trường Sa, lúc ấy, ông Lại Vĩnh Thành, bố của Công đang ốm, con thì còn quá bé nên không ai đi được. Và đúng như bà Tuyết tiên liệu, ông Thành vừa mới ra đi mà không được chứng kiến ngày con mình được đưa về quê. Bà Nguyễn Thị Nhật (thị trấn Diêm Điền, huyện Diêm Điền, Thái Bình) – mẹ của liệt sĩ Lại Huy Công – trong vòng hơn một năm đón nhận luôn hai nỗi đau lớn nhất đời: Mất con, mất chồng…

Qua điện thoại, bà chỉ nghẹn ngào: “Tôi mong từng ngày để được đưa Công về quê nằm cùng cha nó”.

64 người ngã xuống ở Gạc Ma 25 năm trước đủ thấy cái giá của chủ quyền dân tộc là vô cùng lớn. Để có được cuộc sống thanh bình ta đang có, những giọt máu Trường Sa vẫn chảy và những giọt nước mắt đất liền vẫn chảy.

Nam Hải [danviet.vn]

Với những thông tin chính thức theo biên bản tốc ký các cuộc trao đổi của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với các phái đoàn Hoa Kỳ, hẳn bạn đọc có thể hình dung tác hại của sự “tam sao thất bản”.

>> Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ III)

>> Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ II)

>> Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ I)

Đại sứ Michalak:

Chúng tôi đã bày tỏ thái độ rất rõ ràng, cần duy trì khu vực này ở trạng thái mở đối với các hoạt động thông thường và cần phải làm như vậy. Chúng tôi cũng muốn hỏi xem Việt Nam khả năng đi xa đến mức nào, nếu như tôi đưa tàu sân bay vào khu vực tranh chấp đó thì liệu ngài có đi cùng tôi ra tàu sân bay tham quan không?

 Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Nếu ngài đưa tàu sân bay vào đó để nhằm mục đích răn đe, hay cảnh giới thì đó sẽ là một sai lầm lớn. Chúng tôi phải mời tàu sân bay của các ngài ra khỏi khu vực tranh chấp ngay lập tức. Chúng tôi nói về phương diện khác, phương diện về thái độ. Và nếu như ta thực sự tin tưởng lẫn nhau thì quan điểm phải có cái gì đó giải tỏa, có cái gì đó phù hợp. Thí dụ gần đây, cơ quan tình báo hai nước thường đặt vấn đề trao đổi tin về chống khủng bố và một số việc khác. Muốn vậy, quan điểm hai bên phải phù hợp. Về chủ quyền của mình tại một số hòn đảo ở biển Đông, Việt Nam có những dấu ấn lịch sử tại đó để minh chứng.

Những người chống đối Nhà nước trước đây, chúng tôi vẫn cho phép họ gặp những nhân viên nước ngoài trong đó có các nhân viên ngoại giao Mỹ. Thế nhưng những người nước ngoài sau khi đã được gặp mặt những nhân vật chống đối này thường đưa ra những thông tin không chính xác. Tôi thấy, tất cả những đại sứ hay những người mới đều vào Huế để gặp các nhân vật chống đối hay xin gặp Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân. Ngài giải thích với tôi, đó là những nhân vật mà phía Mỹ quan tâm.


Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng kiểm tra công tác bảo vệ ở một đơn vị an ninh

 

Nên ngài phải rút kinh nghiệm rằng, sau này có đi địa phương, cứ đi vào các trại mồ côi, người ta nhìn vào các ngài sẽ khác. Liên quan đến TLSQ tại TP Hồ Chí Minh, theo luật pháp Việt Nam cũng như quốc tế thì cơ quan lãnh sự chỉ thực hiện chức năng về lãnh sự chứ không giải quyết các vấn đề chính trị xã hội. Những người chống đối Chính phủ Việt Nam sau các cuộc gặp với nhân viên ngoại giao Mỹ đều cho rằng họ được Mỹ hỗ trợ. Lãnh đạo các địa phương cũng đã kiến nghị với chúng tôi rằng, nếu các ngài có đi địa phương thì nên báo trước lịch làm việc, sẽ gặp ai, cần thông tin gì, thì họ sẽ bố trí và chủ động cung cấp thông tin. Chính vì lãnh đạo địa phương luôn nghĩ rằng, nhân viên ngoại giao Mỹ gặp tức là sẽ hỗ trợ cho các cá nhân chống đối Chính phủ nên họ sẽ không muốn cho các ngài gặp lần sau nữa. Tôi thì chưa từ chối cho phép các ngài tiếp xúc với bất cứ trường hợp nào.

Đại sứ Michalak:

– Cảm ơn ngài Thứ trưởng, ngài đã rất có nhã ý tạo điều kiện cho tôi gặp những người chúng tôi cần và tôi đánh giá cao sự giúp đỡ của ngài. Và tôi vẫn cần phải gặp những nhân vật đó nữa, nhất là những người đang ngồi tù, vì nếu tôi không làm thế, tôi sẽ chịu áp lực rất lớn từ phía Mỹ và có thể tôi sẽ phải quay về nước. Tôi tin rằng bản thân mình đã làm được rất nhiều cho mối quan hệ hữu nghị Việt Nam – Mỹ và vấn đề nhân quyền cũng chỉ là một phần trong mối quan hệ song phương thôi nhưng lại là một phần rất quan trọng và tôi mong muốn sẽ có thể làm được nhiều hơn. Tôi muốn rằng các ngài sẽ phải tinh tế hơn trong phương thức xử lý vấn đề.

Ngài có nhận ra một điều rằng, năm ngoái không có một công dân Mỹ nào bị bắt vì tội xâm phạm nhân quyền. Năm ngoái cũng có trường hợp Việt Nam bắt quay về nước ngay tại sân bay, không cho nhập cảnh. Chúng tôi đã nói với những người dân của mình rằng, nếu bạn thuộc một tổ chức nào đó thì rất có thể khi nhập cảnh Việt Nam bạn sẽ bị bắt quay trở lại và không được nhập cảnh. Chúng tôi cũng nói với họ rằng, chúng tôi không nhất trí với các quy định của pháp luật Việt Nam và hai bên sẽ thảo luận thêm về vấn đề này. Cũng có những trường hợp rằng có những người ở khách sạn một thời gian sau đó bị thẩm vấn bởi các cán bộ Công an Việt Nam. Ít nhất một trường hợp có 2 phụ nữ khi vào Việt Nam giải quyết các vấn đề nhân đạo thì lãnh đạo trong nước đã yêu cầu một người ở lại trong nước còn một người phải xuất cảnh.

Về trường hợp đó, chúng tôi không thể nói rằng Việt Nam đã có những tiến bộ về nhân quyền. Các ngài đã cho phép Thượng nghị sĩ James Webb đến thăm 2 chủng viện phía Bắc và phía Nam. Tất cả những điều này đã có tác động rất tích cực đối với quan hệ song phương Việt – Mỹ. Tuy nhiên như vậy là chưa đủ. Và những điều chúng ta đang nói đây là để cùng nhau tìm ra một phương thức phù hợp. Chúng tôi muốn bố trí một chuyến thăm nữa của Ủy ban Tự do Tôn giáo Quốc tế (UB TDTG QT). Tại chuyến thăm lần trước, UB TDTG QT đã làm không được tốt lắm và lần này tôi biết họ sẽ làm thế nào.

Và tôi cho rằng, việc tạo điều kiện cho họ làm việc tại Việt Nam sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy quan hệ hữu nghị 2 nước. Chúng tôi đi bất cứ đâu cùng họ, họ nói lại những điều họ cảm nhận, chúng tôi nói lại những điều chúng tôi cảm nhận và đại diện Bộ Ngoại giao Mỹ đã không nhất trí với những gì mà  UB TDTG QT báo cáo lại. Hãy cứ để cho họ đến những nơi mà họ muốn, nói những gì mà họ muốn, còn chúng tôi sẽ nêu lên ý kiến riêng của bản thân. Tôi muốn nói rằng, trước đây Việt Nam đã đạt được những tiến bộ về tự do tôn giáo, nhưng Mỹ vẫn muốn đưa Việt Nam vào danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo. Và đó là điều không đúng. UB TDTG QT khuyến nghị đưa Việt Nam vào danh sách CPC nhưng Bộ Ngoại giao Mỹ đã nói: “Không, không có lý do để làm như vậy”.

Gần đây có một tổ chức quốc tế mà tôi không nhớ tên chính xác (nếu các ngài muốn tôi sẽ gửi lại sau) đã nói rằng Việt Nam đang thoát dần khỏi vị trí các nước đứng đầu trong việc ngăn cản người dân thực hành quyền tự do tín ngưỡng. Do vậy, tôi nghĩ rằng Việt Nam nên để đoàn UB TDTG QT phát biểu những gì họ muốn để nếu khi họ trở về Mỹ họ có đưa ra những báo cáo tiêu cực về tình hình tôn giáo Việt Nam thì các bạn có thể dẫn chứng từ báo cáo của tổ chức quốc tế kia và báo cáo từ Bộ Ngoại giao Mỹ về sự khác biệt. Và nói về niềm tin lẫn nhau, khi Việt Nam nói đã cải thiện được tình hình tự do tôn giáo và chúng tôi nhận thấy điều đó nên chúng tôi sẽ tiếp tục tin và đưa ra những tuyên bố về sự cải thiện tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Tôi tin rằng, ngài có rất nhiều ý kiến về những điều tôi vừa nói.

 Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Chúng tôi cần nói rằng, chúng tôi chưa từng phản đối những phái đoàn như vậy khi vào Việt Nam, chúng tôi rất hoan nghênh đoàn UB TDTG QT.

Đại sứ Michalak:

– Quan điểm của Bộ Công an là đồng ý phải không?

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Tất cả nhân viên ngoại giao mới phải hiểu pháp luật Việt Nam. Những người đang trong quá trình điều tra thì không được gặp bất cứ ai, kể cả công dân Việt Nam. Còn những người đang thụ án trong trại giam, nếu các ngài có nhu cầu, chúng tôi sẽ tạo điều kiện. Nghiêm cấm các hoạt động gặp gỡ để xúi giục phạm tội. Như chúng tôi đã cho phép các ngài gặp Lê Thị Công Nhân vào dịp tết vừa qua, nhưng đối với ông Hùng, người đang trong quá trình điều tra thì không gặp được. Mai tòa tuyên án ông Hùng, các ông đến mà xem.

Đại sứ Michalak:

– Tình hình sức khỏe của ông Hùng tốt chứ?

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Sức khỏe tốt.

Đại sứ Michalak:

– Chúng tôi cũng thấy Nhân rất khỏe mạnh.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Tôi là bạn của ông, bạn thân nữa là khác. Tôi còn là bạn của lãnh đạo FBI. Ông có nghĩ là bản thân Mỹ nên nhìn lại mình trong các hoạt động quốc tế, những gì Mỹ làm đều chỉ làm hình ảnh của Mỹ xấu đi. Đó là vì các hoạt động của Mỹ ở Iraq, Afghanistan, CHDCND Triều Tiên. Nên tôi nghĩ, Mỹ nên điều chỉnh lại mình trước. Mặc dù chúng tôi biết Mỹ đã giúp đỡ rất nhiều cho các thành viên quốc tế nhưng hình ảnh Mỹ đang bị ảnh hưởng tiêu cực hơn rất nhiều. Trái lại, Trung Quốc lại có thể làm tốt hơn. Nếu các ngài cứ tiếp tục chính sách của mình như hiện nay, sẽ bị coi là can thiệp vào công việc nội bộ của các nước. Tôi thấy trong bài phát biểu nhậm chức của ông Obama có cái mới đó là Mỹ muốn thay đổi vị thế trên trường quốc tế. Mỹ muốn thay đổi quan hệ của các nước đối với Mỹ. Tôi chỉ khuyên ngài rằng, quan hệ hữu nghị Mỹ – Việt đang ở mức tốt nhất từ trước tới giờ, thế nhưng về lịch sử mà nói rằng, cái gì mà Mỹ mang lại cho Việt Nam vẫn còn rất nặng nề đối với đa số người dân Việt Nam. Để có thể thoát khỏi quá khứ, Mỹ nên thúc đẩy quan hệ hữu nghị với Việt Nam hơn nữa, không những thế còn cải thiện được trong nhận thức và tăng sự tin tưởng lẫn nhau. Việc Tổng thống Bush hỗ trợ phòng chống HIV, rà phá bom mìn, giải quyết chất độc da cam là những bước tiến để tạo sự tin tưởng lẫn nhau. Và ông Obama cũng nói Mỹ sẽ giúp đỡ quốc tế về các vấn đề phòng chống bệnh dịch, môi trường hơn là việc sử dụng sức mạnh quân sự đối với các nước khác. Chúng tôi rất hoan nghênh đoàn UB TDTG QT Mỹ tới Việt Nam và hoan nghênh cả những đoàn khác đến thăm và làm việc tại Việt Nam để tạo điều kiện cho mối quan hệ hữu nghị trở nên tốt hơn. Chúng tôi đảm bảo không có hoạt động khủng bố ở Việt Nam.

Đại sứ Michalak:

– Vấn đề là khủng bố theo định nghĩa của ai?

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Không để bất cứ công dân Mỹ nào chết ở Việt Nam do tội phạm khủng bố. Đó là điều hy vọng nhất của tôi. Còn phải phân biệt rõ đâu là luật pháp. Chúng tôi có quyền cho hoặc không cho nhập cảnh Việt Nam dù việc đó không đảm bảo nhân quyền con người đó. Còn chúng tôi không cho phép ai, chúng tôi sẽ thông báo cho các ngài lý do cụ thể. Hôm nay chúng ta chấm dứt ở đây thôi.

Đại sứ Michalak:

– Lần tới tôi sẽ mời ngài tới nhà tôi và ăn một số món ăn Việt Nam.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Hiện nay, tình hình kinh tế đang trong giai đoạn khó khăn. Trong lãnh thổ Việt Nam có rất nhiều tội phạm từ các nước đến nên Việt Nam sẽ phải kiểm soát rất chặt về xuất nhập cảnh và sẽ xử lý rất kiên quyết. Tôi học được phương pháp này từ người Mỹ đấy. Tôi sẽ cho kiểm tra từ giày lên đầu.

Đại sứ Michalak:

– Tôi thấy, khi chúng ta chưa gặp nhau thì các chủ đề cuối buổi thường hay nhất cho nên lần sau cần bắt đầu từ các vấn đề còn bỏ dở ở các buổi trước đó. Nhưng những điều chúng ta thảo luận với nhau đều là không chính thức, nằm ngoài văn bản.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

-Vì chính thức hay không thì ông vẫn là Đại sứ, còn tôi vẫn là Thứ trưởng Bộ Công an.

Đại sứ Michalak:

– Tôi cũng mừng là ngài đã đề cập đến ông Obama cũng như ông đã nói Mỹ nên nhìn lại bản thân mình và đó cũng là những điều mà nhân dân chúng tôi nhìn lại trong toàn bộ quá trình tổng tuyển cử.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Để một dịp khác chúng tôi sẽ nói với ngài những gì chúng tôi nhìn nhận về Mỹ. Nếu chúng tôi áp dụng đường lối kinh tế như Mỹ, chúng tôi sẽ thất bại. Nếu chúng tôi có các hoạt động như của Mỹ đối với Lào, Campuchia, hình ảnh Việt Nam sẽ xấu đi rất nhiều. Tôi nói với ngài rất tâm huyết, như giúp người bạn thân nhìn lại mình.

Đại sứ Michalak:

–  Vậy cách nhìn của Việt Nam về Lào và Campuchia như thế nào?

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

–  Vậy xin hỏi quan điểm của các ngài?

Đại sứ Michalak:

– Theo tôi được biết thì quan hệ của Việt Nam với Lào và Campuchia là quan hệ anh em.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Lịch sử của chúng tôi có những giai đoạn gắn với nhau, để bảo vệ đất nước, chống lại kẻ thù chung. Tôi mong muốn họ có quan hệ quốc tế tốt, chỉ tiếc rằng Việt Nam quá nghèo không thể giúp nhiều cho họ. Mỹ chỉ cần bớt đi số tiền sản xuất vài quả tên lửa và đem giúp Lào thì Lào sẽ trở nên khá hơn. Chúng tôi coi Lào, Campuchia như anh em, thậm chí chúng tôi còn coi họ là anh.

Đại sứ Michalak:

– Ngài có biết hai nước này nhận được viện trợ ODA nhiều hơn Việt Nam không?

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

–  Tôi không biết nhưng chỉ biết rằng Trung Quốc giúp đỡ nhiều hơn Mỹ.

Đại sứ Michalak (cười):

– Nếu tôi nhập ngũ thì có lẽ giờ tôi cũng là tướng rồi và vẫn có thể gặp ông để nói hết những điều tôi muốn. Theo quy tắc lễ tân, vị trí của tôi ngang với vị trí của tướng 3 sao, thậm chí 4 sao.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

–  Đấy là ngài ước thế thôi. Ngài nên nhớ rằng, khi ngài nghỉ hưu ngài không được gọi là tướng nữa, nhưng chúng tôi vẫn được.

Đại sứ Michalak:

– Nhưng khi tôi nghỉ hưu vẫn được gọi là Đại sứ và Đại sứ quán vẫn nhớ đến tôi.

***

Cùng bạn đọc

Với những thông tin chính thức theo biên bản tốc ký các cuộc trao đổi của Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với các phái đoàn Hoa Kỳ, hẳn bạn đọc có thể hình dung tác hại của sự “tam sao thất bản”. Tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Hà Nội, báo cáo mật đã không phản ánh  thật trung thực đúng như nội dung cuộc trao đổi với Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng là một việc cần phê phán. Nhưng với  BBC, một cơ quan truyền thông Anh quốc thường tự nhận là khách quan, trung thực thì qua sự việc này càng lộ rõ thái độ của họ đối với Việt Nam là như thế nào. Cũng phải nói thêm rằng, bấy lâu nay, BBC thường xuyên có tin bài xuyên tạc về tình hình Việt Nam, và rất “chịu khó” đăng tải ý kiến của những người luôn có hành động, việc làm đi ngược lại lợi ích của dân tộc, của đa số người Việt.

BBC cần xin lỗi bạn đọc Việt ngữ 

Ngày 23/4, ông Đinh Kim Phúc, nghiên cứu viên của khoa Đông Nam Á học, Trường đại học Mở TP HCM, đã có thư ngỏ gửi Tổng giám đốc BBC Mark John Thompson. Trong thư, ông Phúc khẳng định việc BBC tiếng Việt ngày 17/4/2010 đăng tải bài “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc” của bà Đỗ Ngọc Bích đã xúc phạm đầy ác ý đến lịch sử Việt Nam. Vì vậy, ông Phúc đề nghị Tổng giám đốc Mark John Thompson có biện pháp thích đáng đối với người có trách nhiệm trong việc đưa bài viết này và BBC phải chính thức xin lỗi công khai đến tất cả bạn đọc và người Việt Nam về sai lầm nghiêm trọng này.

(Theo Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh ngày 24/4/2010)

Nguyễn Như Phong (thực hiện Petrotimes)

Buổi làm việc của  Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak bắt đầu bằng việc Đại sứ  hỏi Thượng tướng về tình hình biển Đông và nói muốn có vai trò tại khu vực này…

>> Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ I)

>> Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ II)


Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng gặp Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam ông Michael Michalak

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng làm việc với Đại sứ Michael Michalak

Dự buổi gặp, về phía Bộ Công an còn có: Thiếu tướng Tô Lâm, Phó tổng cục trưởng Tổng cục An ninh; Thiếu tướng Vũ Hùng Vương, Phó tổng cục trưởng Tổng cục Cảnh sát và một số cán bộ giúp việc.

Về phía Hoa Kỳ còn có Phó đại sứ Virginia Palme, ông Marc Owens cố vấn cao cấp của Đại sứ và Trưởng văn phòng chống ma túy Jeffrey Warner.

Cuộc gặp được tổ chức vào ngày 10/2/2010, tại trụ sở Vụ Hợp tác Quốc tế của Bộ Công an và sau đó hai bên đi ăn tối.

***

Mở đầu cuộc gặp, Đại sứ Michael Michalak hỏi Thượng tướng về tình hình biển Đông và nói muốn có vai trò tại khu vực này.

 Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Nếu Mỹ quan niệm rằng, Mỹ muốn đứng giữa mối quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc thì chúng tôi cho rằng đó là một hạn chế của Mỹ về khu vực. Chúng tôi chưa tin tưởng vào thái độ, chính sách của Mỹ đối với Việt Nam. Nếu chỉ nghĩ về quan hệ song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc thì đó sẽ rất hạn chế do chính sách này động đến 6 nước trong khu vực Đông Nam Á, đụng đến vùng biển của Nhật Bản, toàn bộ đường biển quốc tế.

Trong khi Mỹ nói rằng, Mỹ sẽ cùng các nước trong khu vực đảm bảo sự ổn định, hòa bình trong khu vực, trong đó có quyền lợi của Mỹ. Trong khi tôi làm việc với CIA và ngài Thứ trưởng Bộ Ngoại giao tại phòng làm việc của tôi đều nói rằng lợi ích của Việt Nam trong khu vực đều bị ảnh hưởng bởi chính sách biển Đông của Trung Quốc.

Đại sứ Michalak:

– Lợi ích và mối quan tâm của chúng tôi về biển Đông là những con đường hàng hải quốc tế và đã được quốc tế công nhận. Về phương diện cá nhân mà nói, nếu hỏi rằng chính sách biển Đông của Trung Quốc có phải thái quá không, thì đúng là thái quá. Nhưng theo quan điểm của Chính phủ mà nói thì chúng ta có nhiều vấn đề, nhiều nội dung, nhiều lợi ích chúng ta cần cân bằng.

Trước hết, về biển Đông và các tranh chấp ở biển Đông là của khu vực này, gắn liền với lợi ích các nước trong khu vực do vậy tại sao các nước trong khu vực không tự giải quyết, không quan tâm đúng mức mà lại đợi sự giúp đỡ từ bên ngoài.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Chúng tôi không cần Mỹ can thiệp. Tôi chỉ muốn hỏi rằng, những chính sách ấy có ảnh hưởng tới quyền lợi của Mỹ hay không. Còn tất nhiên về quan hệ song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc, thì chúng tôi phải tự  bàn bạc giải quyết với nhau…

(Còn tiếp)

Nguyễn Như Phong [Petrotimes]

“Chúng tôi không bao giờ theo đuổi mối quan hệ với Việt Nam mà phải hy sinh một quốc gia khác, chúng tôi sẽ không theo đuổi mối quan hệ với Trung Quốc mà hy sinh một quốc gia khác” Negroponte

>> Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ I)

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Tôi nhất trí với ngài. Tôi với ngài Đại sứ thì dường như lúc nào công việc nóng bỏng thì chúng tôi lại gặp nhau.

Negroponte (cười):

– Tôi nghĩ rằng ngài Thượng tướng và ông Đại sứ nên gặp nhau trước khi tất cả các sự việc đó xảy ra.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Ngài Đại sứ Hoa Kỳ, tôi coi như bạn bè. Tôi rất quý trọng ngài Đại sứ. Tôi cũng khẳng định với ngài rằng, trong quá trình quan hệ thì chúng ta cũng thấy được lợi ích của hai quốc gia ở khu vực này có những vấn đề tương đồng với nhau. Trong các cuộc trao đổi với những bạn đồng nghiệp với tôi ở Hoa Kỳ, chúng tôi hiểu rất rõ khu vực chúng tôi đang sinh sống cần phải đảm bảo sự ổn định và hòa bình.

Có người gợi ý với tôi rằng, nên quan hệ với Hoa Kỳ nhằm để chống một nước nào đó. Tôi hỏi họ rằng, tôi thấy nước các ngài cũng quan hệ với Hoa Kỳ, có phải là để chống nước chúng tôi không? Chính sách đối ngoại của Chính phủ Việt Nam là mong muốn làm bạn với tất cả các nước trên nguyên tắc tôn trọng độc lập chủ quyền của nhau và đôi bên cùng có lợi. Chúng tôi không có ý nghĩ là dựa vào nước này để chống lại một nước khác. Cho nên, thế giới này là thế giới mà các mối quan hệ cùng nhau tồn tại và cùng nhau phát triển.

Như ngài biết, chúng tôi cũng phải giải quyết rất nhiều vấn đề với các mối quan hệ với các nước trong khu vực. Chúng tôi muốn quan hệ tốt với họ, chứ không phải là chống họ. Đặc biệt như Trung Quốc, chúng tôi muốn quan hệ tốt với họ, chúng tôi không muốn gây nên mối bất hòa nào, dù là nhỏ nhất với Trung Quốc. Thời gian qua, Trung Quốc họ thực sự có những quan hệ thúc đẩy rất tốt trên nhiều mặt cho sự phát triển kinh tế hai nước. Nhưng việc biên giới đường lưỡi bò họ đưa ra là không thể chấp nhận được, vì nhiều phần trong đó là chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam. Vậy các nước nhìn nhận vấn đề này như thế nào.

Chúng tôi rất ủng hộ chương trình về cơ chế đối thoại chiến lược và cái đó chúng ta có thể trao đổi với nhau. Riêng mối quan hệ với đồng nghiệp chúng tôi, có sự cam kết là chúng tôi sẽ đi sâu về vấn đề này. Chúng tôi sẽ thúc đẩy quan hệ với các nước trong tình hình hiện nay. Trên lĩnh vực của chúng tôi, chúng tôi cũng thảo luận và sẽ đẩy mạnh hơn nữa trong thời gian sắp tới.


Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng tiếp ông John Hanford, Đại sứ lưu động về Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ.

 

Negroponte:

– Vâng, cảm ơn ngài. Tất cả những điều ngài phát biểu đều rất thú vị. Chúng tôi cũng vậy, chúng tôi không bao giờ theo đuổi mối quan hệ với Việt Nam mà phải hy sinh một quốc gia khác, chúng tôi sẽ không theo đuổi mối quan hệ giữa chúng tôi với Trung Quốc mà hy sinh một quốc gia khác. Nhưng mà tôi phải nói rằng, trong những năm vừa qua, nhất là những năm dưới chính quyền Tổng thống Bush thì mối quan hệ giữa Việt Nam với Hoa Kỳ rất tốt, chúng ta đã có nhiều sự hợp tác với nhau trên nhiều lĩnh vực như lĩnh vực an ninh, lĩnh vực giáo dục, lĩnh vực chiến tranh… cũng giống sự mong muốn của chính phủ ngài và chính phủ của chúng tôi muốn rằng sâu rộng thêm mối quan hệ giữa hai quốc gia chúng ta.

Vấn đề biển Đông giống như ngài đã nói, Chính phủ Hoa Kỳ không về một phía nào cả, nhưng chúng tôi tin tưởng rằng tất cả những công ty kinh doanh của Hoa Kỳ trong lĩnh vực này phải có quyền để thúc đẩy các hoạt động kinh doanh của họ tốt. Ngài nói tất cả những hợp tác giữa Bộ của ngài và rất nhiều bộ, ngành khác của Hoa Kỳ, nhất là trong lĩnh vực chống khủng bố, chúng tôi hoan nghênh điều đó. Sau này, nếu ngài có dịp sang Hoa Kỳ, hình như ngài sắp sang Hoa Kỳ thì phải, thì tôi chào đón ngài sang Hoa Kỳ.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Có lẽ sắp tới chúng tôi sẽ có một đoàn thăm Hoa Kỳ, Bộ trưởng của chúng tôi sẽ đi.

Negroponte:

– Vâng, điều đó rất tuyệt.


Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng gặp Thượng tọa Huyền Quang năm 2008.

 

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Tôi cũng nói với ngài rằng, qua chuyến đi của tôi sang Hoa Kỳ tháng 6 vừa qua thì tôi đã gặp được tất cả các cơ quan liên quan đến hợp tác với chúng tôi, tôi cũng đã đến cơ quan mà ngài đã từng phụ trách, nói tóm lại là chúng tôi đã tìm được tiếng nói chung. Chúng tôi đang xây dựng cơ chế hợp tác để đạt kết quả tốt. Điều đó tôi vẫn đang giấu ngài Đại sứ.

Hôm nay tôi rất vui mừng, ngài là một chuyên gia về Việt Nam, một nhà lãnh đạo biết tiếng Việt, đối với tôi đây là một điều lý thú. Tôi hy vọng ngài sẽ dẫn dắt quan hệ hai nước chúng ta đạt được nhiều thuận lợi. Chúng ta đang xây dựng lòng tin, lòng tin ấy đang ngày càng tăng lên. Chúng ta phải làm sao để cho người dân hai nước chúng ta hiểu rằng nếu mối quan hệ của chúng ta tốt thì mối quan hệ vật chất, tinh thần của họ cũng tốt lên; làm sao chúng ta để cho nhân dân Việt Nam cũng như trong khu vực thấy được vai trò của Hoa Kỳ, Hoa Kỳ đến để giữ gìn hòa bình chứ không phải mang đến chiến tranh.

Như ngài biết, nhân dân Việt Nam rất nhạy cảm về vấn đề này, họ chỉ cần nghe thấy tiếng “Mỹ” là đã hình dung có một vấn đề gì đó rất không bình thường?  Cho nên chúng ta phải thúc đẩy quan hệ hai nước để hai bên hiểu rõ về nhau. Ngài thông cảm rằng, đất nước chúng tôi đang trong quá trình đi lên và đang  hoàn chỉnh các mối quan hệ xã hội nên tôn giáo cũng có vấn đề. Đời sống người dân tộc cũng đã cải thiện hơn nhiều. Nếu ngài Đại sứ cùng các bộ, ngành khác của Hoa Kỳ giúp đỡ thì sẽ tạo thêm sự thúc đẩy. Tôi nói với ngài rằng, tôi rất ấn tượng với ngài Đại sứ, chúng tôi có những cuộc trao đổi rất thân thiện. Tôi hiểu rằng, nếu ngài Tổng thống Bush không làm xong nhiệm kỳ này, thì chính sách của Mỹ vẫn không có gì thay đổi. Qua các buổi gặp với các cơ quan của Hoa Kỳ, tôi tiên lượng được vấn đề này.

Nói chung, tương lai quan hệ giữa hai nước chúng ta sẽ tốt đẹp. Sau chuyến đi của ngài, ngài cũng sẽ khẳng định được rằng, quan hệ giữa hai nước chúng ta vẫn liên tục phát triển. Tôi đánh giá rất cao vai trò của ngài, trong việc xây dựng mối quan hệ, Bộ Ngoại giao là rất quan trọng.

Negroponte:

– Ý của ngài nói về vai trò của Bộ Ngoại giao là rất quan trọng thì tôi không dám đánh giá, nhưng tôi chia sẻ những ý kiến lạc quan mà ngài vừa phát biểu. Tôi còn nhớ, sau chuyến thăm Việt Nam của Tổng thống Bush, thì ngay ngày hôm sau, sau khi trở về nước, tôi và ngài Tổng thống có gặp nhau và lúc đó ngài Tổng thống đã tỏ ra rất hồ hởi đối với tất cả mối quan hệ giữa hai nhân dân chúng ta. Tôi nghĩ rằng chúng ta đã có nền tảng rất tốt để tiến lên phía trước. Tôi nghĩ rằng tất cả những điều đó không còn liên quan gì đến chiến tranh cả, nó hoàn toàn liên quan đến lĩnh vực kinh tế, lĩnh vực y tế hoặc lĩnh vực giáo dục. Cảm ơn ngài ngày hôm nay đã tiếp tôi và tôi mong sẽ trở lại trong tương lai. Sẽ có rất nhiều sự hợp tác với Bộ của ngài.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng:

– Có vấn đề gì ngài cứ nói với ngài Đại sứ, ngài Đại sứ sẽ nói với tôi. Tôi với ngài Đại sứ đã có cam kết rồi, hai bên sẽ hợp tác tốt với nhau để giải quyết, thúc đẩy mối quan hệ không chỉ riêng hai chúng tôi. Tôi thấy có nhiều cơ quan của Việt Nam cũng mến ngài Đại sứ. Tôi cũng phải nói với ngài rằng, tôi và Đại sứ đây có hứa ăn cơm với nhau một bữa nhưng vẫn chưa ăn với nhau được. Tôi sẽ xem xét lại ý kiến của ngài, không hiểu tại sao ngài Đại sứ, nhân viên từ Hà Nội vào tận các tỉnh mà không ủy quyền cho TLS, điều này tôi với ngài sẽ tìm hiểu sau.

Hôm nay chúng ta có thể kết thúc tại đây!

***

Ở phần tiếp, chúng tôi sẽ đăng tải những ghi chép về buổi làm việc của  Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng với Đại sứ Hoa Kỳ tại Việt Nam Michael Michalak.

Bạn đọc có thể theo dõi trên Petrotimes vào lúc 15h ngày 1/10/2011.

Buổi làm việc được bắt đầu bằng việc Đại sứ Michael Michalak hỏi Thượng tướng về tình hình biển Đông và nói muốn có vai trò tại khu vực này…

(Còn tiếp)

Nguyễn Như Phong (thực hiện)

BBC Việt ngữ: Một kiểu làm báo thấp tầm! 

Đó là tiêu đề của một bài viết đăng trên Báo Pháp luật thành phố Hồ Chí Minh số ra ngày 23/4/2010 của tác giả Ngọc Khánh liên quan tới bài “Một cách nhìn khác về tinh thần dân tộc” của một tác giả là nghiên cứu sinh người Việt ở Mỹ được trang mạng BBC Việt ngữ đăng tải ngày 17/4/2010.

Theo tác giả Ngọc Khánh, trong bản quy tắc biên tập của mình, BBC quy định: Đối với các chủ đề gây tranh cãi, “chúng ta (biên tập viên) phải luôn nhớ rằng phần lớn nội dung của BBC giờ đây đã hiện diện ở nhiều nước trên khắp thế giới… Khi vấn đề rất gây tranh cãi, chúng ta phải đảm bảo rằng tất cả các quan điểm chính đều được phản ánh trong những nội dung của BBC, có thể bằng một chương trình riêng, một bài viết riêng”.

Tác giả nhận định, có thể thấy các quan điểm sai trái, thiếu hiểu biết và ngụy biện trong các bài viết nêu trên của BBC Việt ngữ chắc chắn là quan điểm gây tranh cãi và khi được đăng tải nguyên vẹn trong một bài viết trên mạng thì nghĩa là chúng đã hiện diện ở nhiều nước trên khắp thế giới.

Ngọc Khánh cho rằng, cách hành xử của BBC Việt ngữ rõ ràng đang đi ngược lại quy tắc biên tập của chính họ. Thêm vào đó, cách xử lý của BBC Việt ngữ sau khi bị độc giả phản ứng dữ dội cũng đang đi ngược lại “truyền thống chuyên nghiệp” mà họ vẫn tự hào.

G.K

[Bài của Petrotimes]

Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ I)

Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ II)

Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ III)

Về bức điện tối mật của Đại sứ Hoa Kỳ báo cáo về Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng: Khi sự thật bị xuyên tạc (Kỳ cuối)

Dinh cơ cựu chủ tịch tỉnh và chuyện ‘hoa hồng’

 

Bức xúc trước vấn nạn tham nhũng ở nước ta, không ít bạn đọc đề xuất biểu tượng quốc hoa là… hoa hồng.

Từ lâu, các quốc gia trên thế giới đều có sự lựa chọn biểu tượng quốc hoa, mang ý nghĩa khí chất, khí phách quốc gia mình. Việt Nam cũng không ngoại lệ.

Điều bất ngờ nhất, và cũng thật đáng chú ý. Bức xúc trước vấn nạn tham nhũng ở nước ta, không ít bạn đọc đề xuất biểu tượng là… hoa hồng.

Hoa hồng “nở” trên giấy, sắt thép, bê tông…

Vì sao hoa hồng, vốn là biểu tượng lớn nhất về Tình yêu, cũng là biểu tượng quốc hoa từ lâu của đất nước Bungari- mệnh danh xứ sở Hoa hồng, giờ lại được đề xuất, trong một trạng thái cảm xúc trái ngược, bất bình, một trạng thái tâm lý bị tổn thương. Đó là sự Căm ghét?

Có hoa hồng tây- và có hoa hồng ta. Hoa hồng tây mập mạp, ăn khỏe, hoa hồng ta yếm thế hơn…., đều giống nhau ở chỗ, là loài hoa rất kiêu kỳ, khó tính, đòi hỏi sự chăm sóc  kỹ lưỡng.

Có điều, loại hoa hồng mà bạn đọc bình xét, lại là loại hoa hồng “phàm ăn” đến độ, có thể “nở” được ở bất cứ môi trường “chất đất” nào- trên giấy, trên bê tông…, như một bạn đọc báo Đời sống đã thốt lên. Bởi đó là loại hoa hồng mang tên % (phần trăm) do vấn nạn tham nhũng trồng và chăm bón.

Oái oăm, hoa hồng, mà chả phải… hoa hồng.

Hoa hồng nở giữa thiên nhiên có hình hài, có mầu sắc, có hương thơm.

Hoa hồng %, chỉ nở giữa hai bên “đối tác” làm ăn, có duy nhất- mùi “đồng”.

Thực ra, tiền hối lộ, và tiền hoa hồng có khác nhau. Tiến sĩ Nguyễn Vân Nam (TP. HCM) trong một lần trả lời phỏng vấn, từng phân biệt rất rõ:

Tiền hoa hồng là khoản tiền trả cho công sức môi giới một giao dịch. Người nhận khoản tiền đó, hoàn toàn không phải nằm trong vị trí có thể trực tiếp hay gián tiếp quyết định sự thành bại của mối giao dịch.

Còn tiền (ăn) hối lộ là người nhận tiền có một vị trí trực tiếp (hay gián tiếp) có thể quyết định được thành hay bại của một giao dịch. Hoặc chưa cần phải nhận, chỉ cần đưa ra lời hứa hẹn thôi, để quyết định cho giao dịch thành đạt. Như vậy, điểm quan trọng nhất để phân biệt tiền hoa hồng hay tiền hối lộ là vị trí của người nhận tiền.

Hoa hồng %, chỉ nở giữa hai bên “đối tác” làm ăn, có duy nhất- mùi “đồng”

Thế nhưng, từ lâu trong xã hội, khái niệm tiền hoa hồng (%) chỉ được dùng chung cho tất cả hành vi tham nhũng, ăn hối lộ.Và theo khái niệm chung đó, điều đáng lo ngại, các doanh nghiệp trong xã hội ta đang… hòa ca Triệu bông hồng.

Báo cáo xếp hạng năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI)  được công bố ngày 14/3 mới đây, cho thấy hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp sụt giảm chưa từng thấy. Các DN đều bi quan…

Nhưng hoa hồng % vẫn nở tưng bừng, khi môi trường kinh doanh khó khăn (năm 2012) càng tạo dư địa cho tham nhũng (biến tướng). Nếu như PCI 2011 nổi lên tham nhũng vặt, thì hiện tượng này đã giảm đi trong PCI 2012. Nhưng tham nhũng trong đấu thầu công lại tăng lên. Có 42% DN đã trả hoa hồng (%) cho cán bộ có liên quan để giành được hợp đồng với cơ quan Nhà nước, tăng rất mạnh so với mức 23% của năm 2011.

Cụ thể, so với năm 2011, ngành xây dựng cơ bản có 42,5% DN phải trả hoa hồng để có hợp đồng, tăng 12%, chiếm tỷ lệ cao nhất. Con số này ở ngành dịch vụ/ thương mại, là 35,4% DN, tăng gấp đôi.  Thấp nhất là ngành sản xuất, nhưng vẫn có 34% DN phải trả hoa hồng (tăng gần 4%). Báo cáo cũng cho biết, các DN có liên quan đến các cơ quan chính phủ thường có hành vi chi trả hoa hồng… cao hơn(?)

Còn ông Edmund Malesky, Trường ĐH Duke (Mỹ), Trưởng nhóm nghiên cứu PCI nhận xét: Các DN có vốn đầu tư nước ngoài cho rằng càng hoạt động lâu ở Việt Nam càng phải tăng hối lộ. Do đó, họ rất lo ngại mỗi khi Nhà nước ban hành giấy phép hoặc chính sách mới (Tăng tham nhũng, lo ngại hối lộ, ngày 14/3…)

Trong khi đó, vụ việc Vinakhủng vẫn đang để lại những hệ lụy đau xót, không biết sẽ đi về đâu.

Không phải ngẫu nhiên, ngày 19/3, Dân trí đưa tin, các thủy thủ Vinashinlines (Tổng Công ty Hàng hải VN Vinalines) trên tàu Hoa Sen bị bỏ rơi, một lần nữa lại gửi thư về tòa báo kêu cứu. Vì số phận của họ đang sống lay lắt, đủ thứ “không”: Không tiền, không nước ngọt, không điện…, phụ thuộc vào con tàu nát có bán được hay không? Con tàu nát đang bị chìm, còn số phận họ trôi nổi, lặn ngụp giữa biển… nợ, mà họ không hề là thủ phạm.

Không phải ngẫu nhiên, mà báo chí mới đây, rộ lên việc đưa hình ảnh trang trại- dinh cơ hoành tráng của một ông chủ tịch tỉnh từng bị cách chức vì lối sống sa đọa. Và so sánh với hình ảnh bà Tổng thống Hàn Quốc Park Geun- Hye khi đi chợ, cầm theo chiếc ví sờn nội địa hiệu Sosandang chỉ trị giá 4.000 won (khoảng 76.000 đồng VN), đã không còn sản xuất hai năm nay. Trong khi lương một tổng thống của Hàn Quốc, như dưới thời ông Lee Myung Bak, vào khoảng 226,38 triệu won, khoảng 4,1 tỷ đồng VN.

Có lẽ sự khác biệt là quan niệm về thang giá trị, lối sống,  và khác biệt cả cách kiếm ra đồng tiền chăng? Vì những đồng tiền mà bà Tổng thống Hàn Quốc kiếm được, hẳn nó tương xứng với lao động của bà, nên nó được tiêu dùng cũng …khiêm nhường, cần kiệm như cách bà dùng chiếc ví.

Dinh cơ hoành tráng của ông chủ tịch tỉnh từng bị cách chức. Ảnh: Song Nguyên/ Khám phá

Còn ở xã hội ta, Thứ trưởng Bộ Xây dựng Nguyễn Trần Nam từng có một tính toán rất đáng nghĩ: Nếu chỉ trông vào lương, người nghèo đừng nghĩ đến nhà thu nhập thấp, vì lương cỡ Bộ trưởng cũng phải 40 năm mới đủ tiền mua.

Không biết vị quan chức nọ làm chủ tịch tỉnh ở một tỉnh miền núi nghèo nhất, nhì nước đã được hơn… 40 năm chưa? Cũng không biết trong điền viên của ông, giữa bao nhiêu loài cây cảnh quý, hiếm, độc đáo, có loại hoa hồng nào không?

Hay với ông, hoa hồng chỉ “nở” giữa …quyền lực?

Và “nở” trên những số phận đáng thương

Sự phàm ăn của hoa hồng giờ không còn giới hạn, khiến cho hành vi của không ít kẻ trở nên quá bất nhẫn, tàn tệ.

Có hai câu chuyện thương tâm và xót xa, khiến người viết bài không thể không “chọn” là… điển hình. Bởi thứ hoa hồng này, giờ nó nhẫn tâm “nở” cả trên những số phận đặc biệt rất đáng thương, đáng ra phải được chăm sóc.

Câu chuyện thứ nhất: Quan xã ém tiền trợ cấp của người điên (Tiền phong online, ngày 14/3).

Có lẽ các cán bộ UBND xã Thanh Chi (Thanh Chương- Nghệ An) cũng mắc bệnh “điên” không kém, khi làm việc này.

Đó là từ năm 2007, anh Nguyễn Văn Đồng (bị mất trí, điên loạn từ năm 2000, đến mức gia đình phải dùng dây xích xích lại, kẻo gây hại cho dân làng), chỉ được nhận trợ cấp 120 nghìn đồng/ tháng. Năm 2004 được tăng lên 240 nghìn đồng. Bán tín bán nghi, ông Nguyễn Văn Mẫu, người cha khốn khổ lên tận UBND xã để hỏi.

Nhưng không, các cán bộ UBND xã không hề… điên. Như ông Chủ tịch xã này, rất tỉnh, khi trả lời ông Nguyễn Văn Mẫu rằng, chế độ chính sách cao nhất là vậy.

Khổ nỗi, cái kim trong bọc lâu ngày cũng lòi ra. Sự thật cuối cùng vẫn bị phơi bầy. Từ năm 2007, tiêu chuẩn cho “người điên” Nguyễn Văn Đồng là 240.000đồng/ tháng, xã chỉ trả 120.000đồng. Năm 2009, tăng lên 360.000đồng/tháng, xã chỉ trả 240.000 đồng.

Cuối cùng, hơn 2,8 triệu đồng, từng bị các cán bộ xã ỉm đi phải hoàn trả lại cho “người điên” Nguyễn Văn Đồng…

Hết người cha Nguyễn Văn Mẫu, đến lượt người mẹ Trần Thị Hóa (thôn Xuân Long, cũng thuộc xã Thanh Chi). Bà Trần Thị Hóa có đứa con gái Lê Thị Thùy Giang, 20 tuổi, bị u máu, rồi bại liệt. Cũng như ông Mẫu, bà phải “kiên trì” gõ cửa, vận động, cuối cùng, các cán bộ UBND xã Thanh Chi cũng mới chịu hoàn trả hơn 2,8 triệu đồng… không phải của họ.

Rõ ràng, các cán bộ UBND xã Thanh Chi không hề mất trí, chỉ lương tâm cán bộ, và lòng nhân tối thiểu của con người ở họ… bị mất, hay bị tê liệt thôi.

Người cha Nguyễn Văn Mẫu, bị đứa con điên loạn từng đánh chửi thậm tệ, ông không khóc. Nhưng lại khóc vì những cán bộ xã “tỉnh táo”, khi ông nghẹn ngào:Định ăn của ai chứ ăn của một đứa tâm thần như rứa, có tội không!?

Anh Nguyễn Văn Đồng bị mất trí, điên loạn từ năm 2000. Ảnh: Quang Long/ Tiền Phong

Câu chuyện thứ hai, là chuyện cơ quan chức năng huyện Tịnh Biên (An Giang) vừa khởi tố, bắt tạm giam năm cán bộ, nhân viên Trường THCS Cao Bá Quát để điều tra về hành vi ăn chặn hơn 1,3 tỷ đồng của học sinh dân tộc nội trú.

Đáng hổ thẹn nhất, họ lại là những người thầy, người cô, hàng ngày luôn dạy học sinh sống thật thà, trung thực. Đó là ông Hiệu trưởng Văn Công Hiển, bà Phó HT Nguyễn Thị Liễu, ông Lê Thanh Đủ (thủ quỹ 2009- 2010), Đỗ Văn Doanh (thủ quỹ từ 2011 đến nay), bà Trần Vy Vân- kế toán.

Ngoài việc chỉ phát cho học sinh số tiền học bổng theo quy định cũ (lẽ ra phải là số tiền học bổng mới theo thông tư mới), điều bất ngờ nữa, nhà trường còn “kê khống” cả số lượng học sinh được nhận thưởng; “kê khống” cả năng lực học sinh, đôn từ khá thành giỏi, hưởng chênh lệch tiền thưởng.

Bệnh dối trá của ngành giáo dục bị xã hội lên án lâu nay, có khi còn được tích tụ chỉ vì những đồng tiền “bẩn” kiểu này?

Số tiền tham nhũng, ăn chặn được của các đối tượng đặc biệt nói trên không lớn. Nhưng nó cho thấy, thứ hoa hồng nhiều “độc tính” này sẵn sàng len lỏi, sẵn sàng mọc ở bất cứ môi trường nào, kể cả môi trường cần nhân tính nhất.

Cho thấy, lương tâm, nhân cách của một số cán bộ chính quyền cơ sở đã bị hoa hồng “tha hóa” tồi tệ.

Bungari vốn là đất nước của hoa hồng, của loài hương hoa thơm ngát thanh bạch, thanh khiết, thanh nhã. Dù vậy, xin đừng để nước Việt cũng được gọi là “đất nước của hoa hồng”, nhưng là của thứ “hoa hồng” lại quả, của % trao tay, rất tủi hổ. Thậm chí, có ý kiến nghe đắng ngắt, khi đề nghị chọn hoa xấu hổ là biểu tượng quốc hoa. Một xã hội biết xấu hổ là một xã hội có lòng tự trọng cao. Có thế, xã hội đó mới khá được.

Xương máu của các bậc tiền nhân đã đổ xuống, đâu phải để cho hậu bối giờ đây “trồng” những thứ hoa hồng ma quái, bởi lòng tham. Hơn 300 năm trước đây, đại thi hào Nguyễn Du vô tình đã là một thầy thuốc, có “xét nghiệm” rất tinh tế :Máu tham hễ thấy hơi đồng là mê.

Nhưng ngược lại, nhiều ý kiến khác vẫn cho rằng, xét cho cùng, hoa hồng hay hoa xấu hổ, nếu thực sự là một biểu tượng kích thích lòng tự tôn, tự trọng của người Việt nhìn thẳng vào những khuyết tật, để tạo nên những đổi thay tích cực, từ những lỗ hổng, những khuyết tật của cơ chế, thì đều là những loài hoa đáng “ngưỡng mộ”.

Bởi đã qua lâu rồi, cái thời: Không tự ngắm mình/ Anh chẳng hay đâu/ Hỡi chàng dũng sĩ/ Cả năm châu, chân lý đang nhìn theo (*)

Nhưng có thể đổi thay tích cực được không?

Chắc chắn rất khó, chừng nào mà xã hội còn bị thao túng bởi các “nhóm lợi ích”.

Kỳ Duyên

—————-

Tham khảo:

http://phunutoday.vn/xi-nhan/trai-hay-phai/201303/Viet-Nam-hay-chon-hoa-xau-ho-la-quoc-hoa-2212084/

http://phunutoday.vn/xa-hoi/doi-song/201303/Buc-xuc-tham-nhung-doc-gia-de-xuat-chon-hoa-hong–2212134/

http://nld.com.vn/20130314100032280p0c1002/tang-tham-nhung-lo-ngai-hoi-lo.htm

http://phapluattp.vn/20130319010355846p0c1019/bat-nam-nguoi-an-chan-tien-cua-hoc-sinh.htm

(*) Chào xuân 68- Thơ Tố Hữu

 

 

 

 
Học giả Stephen M. Walt là giáo sư chuyên về các vấn đề quốc tế tại trường Quản lý Nhà nước Kennedy thuộc Đại học Havard. Ông từng làm quản lý ở trường Kennedy này từ năm 2002 đến 2006. Ngoài ra ông còn từng tham gia giảng dạy ở một số trường đại học khác và tư vấn cho Viện Phân tích Quốc phòng và Trung tâm Phân tích Hải quân.
Hôm 28/1, Walt cho đăng 1 bài viết trên tạp chí Chính sách Đối ngoại (Foreign Policy) của Mỹ. Trong bài viết này, ông đã đưa ra tình huống giả định, đó là các quan chức cấp cao về đối ngoại của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ uống nhầm phải “huyết thanh sự thật” trước khi ra điều trần hoặc dự họp báo và sẽ nói thẳng đuột những gì họ cất giữ trong lòng. Walt đã nghiền ngầm, phân tích và lựa ra 5 “sự thật” mà theo ông, bình thường sẽ không có quan chức Mỹ nào chịu thừa nhận cả.
1. “Chúng ta không đời nào từ bỏ kho vũ khí hạt nhân”
Theo Stephen M. Walt, các đời Tổng thống Mỹ luôn nói về việc giải trừ vũ khí hạt nhân. Ông đề cập đến Hiệp ước Không Phổ biến Vũ khí Hạt nhân ký năm 1968, trong đó Mỹ cam kết theo đuổi đàm phán để tìm ra các giải pháp hiệu quả nhằm hạ nhiệt cuộc chạy đua vũ trang hạt nhân thời đó và hướng tới việc giải giáp hạt nhân triệt để và rộng rãi 

Lầu Năm Góc cho biết, đó là số đầu đạn hạt nhân mà Mỹ có tính đến ngày 30/9/2009, giảm 84% kể từ thời kỳ đỉnh điểm là năm 1967 với 31.225 đầu đạn. Kho vũ khí của Mỹ có 22.217 đầu đạn hạt nhân khi Bức tưởng Berlin đổ vào 1989.
Số đầu đạn trên gồm cả những cái đã được triển khai, cất trong kho dự trữ chủ động và cất trong kho tích trữ. Tuy nhiên, nó không bao gồm hàng nghìn đầu đạn hạt nhân hiện không còn được sử dụng và chờ hủy, Lầu Năm Góc nói.
“Mỹ muốn chứng tỏ nước này ngày càng minh bạch”, một quan chức quốc phòng Mỹ cho biết. “Đó là một phần cam kết của chúng tôi…ấn định cơ sở cho nỗ lực không phổ biến và kiểm soát vũ khí”.
Bằng việc công bố dữ liệu tại hội nghị xem xét lại Hiệp ước không phổ biến hạt nhân, các nhà phân tích cho rằng Mỹ đang cố gắng thể hiện quyết tâm cắt giảm vũ khí để giúp thuyết phục các quốc gia khác siết chặt thể chế không phổ biến vũ khí hạt nhân toàn cầu.
“Việc làm đó có ý nghĩa vô cùng quan trọng để Mỹ có thể lên tiếng rằng: Hãy nhìn xem, chúng tôi tuân thủ đúng nghĩa vụ của mình theo Hiệp ước không phổ biến hạt nhân”, giám đốc dự án thông tin hạ nhân của Liên minh các nhà khoa học Mỹ Hans Kristensen nói.
Mỹ công khai quy mô kho vũ khí hạt nhân chưa đầy một tháng sau khi Tổng thống Obama công bố một chính sách mới, giới hạn việc sử dụng vũ khí hạt nhân của Mỹ và ký kết một thỏa thuận mang tính bước ngoặt về cắt giảm vũ khí với Nga. .
Walt cho biết, thậm chí các chuyên gia kỳ cựu về đối ngoại như William Perry, Sam Nunn và Henry Kissinger cũng có “mốt” kêu gọi loại bỏ vũ khí hạt nhân. Và tất nhiên, ngay đầu nhiệm kỳ tổng thống của mình, ngài Barack Obama cũng đã có vài bài phát biểu về vấn đề này.
Đấy là bề nổi. Tuy nhiên, thực tế thì như thế nào? Học giả Walt phân tích tiếp: Cho dù Hoa Kỳ đã giảm đáng kể kho vũ khí hạt nhân từ khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, nước này vẫn sở hữu hàng ngàn đầu đạn hạt nhân đang trong trạng thái sẵn sàng chiến đấu hoặc được dự trữ. Ông Walt khẳng định, “không có vị nào đương chức lại nghiêm túc cổ xúy cho việc trừ bỏ tất cả vũ khí hạt nhân trong thời gian ngắn”. Theo Walt, những việc cắt giảm khiêm tốn theo hiệp ước ký với Nga chẳng qua chỉ là “đãi bôi” mà thôi, và 1 số ít lãnh đạo Mỹ tuy có mong muốn cắt giảm toàn bộ vũ khí hạt nhân nhưng vẫn thấy cần phải giữ chúng để làm phương tiện răn đe.
2. “Mỹ không quan tâm lắm đến nhân quyền”
Giáo sư Walt ghi nhận, các tổng thống, các nhà ngoại giao, và một số chính trị gia khác nữa của Mỹ luôn miệng nói đến nhân quyền, và “cả Quốc hội lẫn nhánh hành pháp hay bắt nạt các nước nhỏ về thành tích nhân quyền, đặc biệt là khi chúng ta có các khác biệt với họ”.
Thế nhưng, khi các quan ngại của Mỹ về nhân quyền mâu thuẫn với các lợi ích của nước này thì tiếng nói ‘lương tâm’ của Mỹ lại gần như luôn thụt lùi lại đằng sau, Stephen Walt viết.
Vị giáo sư quan hệ quốc tế dẫn ra một loạt dẫn chứng cho thấy tính 2 mặt của Mỹ trong vấn đề nhân quyền:
1- Hầu hết người Mỹ không mảy may quan tâm khi các chương trình trừng phạt mà Mỹ áp dụng với Iraq đã gây ra cái chết của hàng trăm ngàn người dân Iraq (bao gồm nhiều trẻ em).
2- Không có quan chức cao cấp nào ra lệnh tra tấn dưới thời chính quyền Bush là bị truy tố hay điều tra một cách nghiêm túc cả. (Về điều này, Walt đem đối lập với hình ảnh quen thuộc: Người Mỹ sẽ tru tréo lên nếu nghi ngờ chính quyền nước khác đem những người Mỹ bị bắt giữ ra tra tấn theo hình thức trấn nước, tức là giội nước vào mặt các nạn nhân bị trói trên ván để gây ra sự ngạt nước cục bộ).
3 Hoa Kỳ có vô số đồng minh mà thành tích nhân quyền cũng có vấn đề nếu không muốn nói là khủng khiếp.
Đến đây, Walt tiếp tục nhận xét một cách chua cay về bản chất vị lợi của Mỹ: Hiếm khi nước này sẵn lòng làm nhiều việc hay chi nhiều tiền cho tiến bộ nhân quyền, trừ phi điều này đồng thời mang lại các lợi ích chiến lược cho họ!
3. “Sẽ không có chuyện giải pháp 2 nhà nước cho vấn đề Palestine
Theo quan điểm chính thức, Mỹ luôn coi câu trả lời đúng đắn về chính trị cho xung đột Israel-Palestine là một giải pháp 2 nhà nước dựa trên đàm phán song phương, đặc biệt là dưới sự bảo trợ của Mỹ. Tuy nhiên, theo Walt, người Mỹ trong bụng lại nghĩ khác. Walt cho rằng, người Mỹ thực ra không đếm xỉa gì đến việc có ít sự ủng hộ dành cho việc thành lập nhà nước Palestine có thể trụ vững được bên cạnh Israel, cũng như sự chia rẽ trong bản thân người Palestine, hay kỳ bầu cử gần đây nhất của Israel mà trong đó không có tín hiệu gì tích cực cho phía Palestine. Stephen Walt viết, “Hoa Kỳ đã mất hơn 20 năm để kiến tạo ra 1 thỏa thuận [hòa bình] rồi lại dễ dàng đánh mất nó, chủ yếu vì Hoa Kỳ chưa bao giờ là một nhà trung gian thực thụ cả.”
4. “Mỹ phải là số 1”
 
Stephen M. Walt tiếp tục “bóc mẽ” giới lãnh đạo Mỹ khi cho rằng đừng bị đánh lừa bởi vẻ ngoài của họ. Theo Walt, đa phần các nhà lãnh đạo Mỹ thích nói về quan hệ đối tác toàn cầu và nhu cầu phối hợp với các đồng minh, đồng thời tiết giảm việc nói về vai trò chế ngự của nước Mỹ. Nhưng mặt khác, không ai tranh cử tổng thống lại cam kết “biến Mỹ thành số 2” cả. Và đó là lý do vì sao mà giới lãnh đạo Mỹ mập mờ về tính thống nhất của châu Âu. Họ vừa muốn châu Âu đủ thống nhất để không phát sinh rắc rối cho Mỹ, lại vừa không muốn châu Âu quá đoàn kết để thành 1 siêu nhà nước có đủ sức đối trọng với Washington.
Theo Walt, việc Washington mềm mỏng trong tuyên bố lập trường chẳng qua là để tránh gây khó chịu cho các chính phủ khác và tránh đẩy họ đến chỗ phải dè chừng và tìm cách kiềm chế Mỹ. Walt nói thẳng “tưng”: Tham vọng của Mỹ là không thay đổi – cả ông Clinton, Bush con, đến Obama đều không từ bỏ mục tiêu cơ bản là giữ Mỹ ở vị trí siêu cường số 1 thế giới.
5. “Mỹ đã mắc phải nhiều điều ngớ ngẩn trong đối ngoại”
Walt cho rằng, mọi người Mỹ đều biết chính sách của nước Mỹ đối với Cuba đã phá sản từ những năm 1960, nhưng chính sách này không thay đổi. Rồi nữa, ai cũng biết nỗ lực của Mỹ trong việc hỗ trợ cuộc chiến chống ma túy ngoài lãnh thổ Mỹ cũng không thành công hơn mấy so với chiến dịch chống ma túy ở trong nước. Vẫn theo Walt, nhiều người Mỹ cũng biết rằng cuộc chiến Afghanistan là một thất bại đối với nước Mỹ, nhưng phía Mỹ lại cứ giả vờ đó là 1 chiến thắng để có thể rút lui khỏi chiến trường này về mặt chính trị. Walt cũng cho rằng nước Mỹ đã có cách tiếp cận sai lầm đối với chương trình hạt nhân Iran và đã mất tới 2 thập kỷ chỉ để khiến cho Tehran có thêm lý do tin rằng họ cần đến khả năng hạt nhân./.
Amari tx

Mới đây, tổ chức “Nhà tự do” đã công bố cái gọi là phúc trình về tự do thế giới 2013, trong đó đưa ra một số đánh giá thiếu khách quan về tự do, dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Vậy tổ chức “Nhà tự do” là gì, tại sao họ lại có hành xử thiếu thiện chí như vậy?  

“Nhà tự do” (Freedom House – FH) là tổ chức phi chính phủ, thành lập tháng 10-1941, trụ sở đặt ở Hoa Kỳ. Tổ chức này tự gán cho mình sứ mệnh “theo dõi tiến trình dân chủ hóa toàn cầu, khảo sát và nghiên cứu tình hình thực thi các quyền tự do chính trị và dân sự tại các quốc gia trên thế giới”; hơn thế nữa, FH còn tự nhận là “một tiếng nói minh bạch cho dân chủ và tự do trên thế giới”! Ðể thể hiện sứ mệnh, hằng năm FH đều công bố các văn bản gọi là phúc trình về tự do trên thế giới, báo cáo thường niên về tự do báo chí, tự do in-tơ-nét. Các văn bản này chỉ tập trung vào một số nước như CHDCND Triều Tiên, Lào, Trung Quốc, Việt Nam, Cu-ba,… hoặc các quốc gia vốn đang nằm trong “tầm ngắm” của một số thế lực thiếu thiện chí ở phương Tây. Các thế lực này luôn luôn lợi dụng vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, tôn giáo để chống phá, hoặc làm mất uy tín của các chính phủ mà họ “không ưa” trước cộng đồng thế giới. Trong phúc trình của FH về “tự do thế giới 2013″, FH tiếp tục coi Việt Nam là quốc gia “không tự do” trong thực thi quyền tự do chính trị và dân sự. Tới ngày 18-1, trả lời phỏng vấn của VOA tiếng Việt, Sarah Cook – người được giới thiệu là chuyên gia phân tích cao cấp về tự do in-tơ-nét và Ðông Á của FH, còn trắng trợn cho rằng Việt Nam đang có xu hướng gia tăng đàn áp các quyền cơ bản của công dân, xử “nặng tay” với những blogger chỉ trích nhà nước kiểm duyệt in-tơ-nét và tiếp tục đàn áp tự do tôn giáo!

Từ khi mới ra đời, FH đã là “cỗ máy tuyên truyền” do cố Tổng thống Roosevelt lập ra để chuẩn bị tâm lý cho công chúng Mỹ đối với việc nước Mỹ tham chiến trong Chiến tranh thế giới thứ hai. Tuy nhiên, sau khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, FH không bị giải thể mà tiếp tục được sử dụng để tiến hành các chiến dịch tuyên truyền, vận động cho Kế hoạch Marshall và tổ chức NATO, đồng thời tuyên truyền chống Chủ nghĩa cộng sản. Bên cạnh đó, FH cũng tích cực cổ súy truyền bá giá trị của Hoa Kỳ với khẩu hiệu “Hoa Kỳ: quốc gia của tự do”. Trong những năm 90 của thế kỷ trước, FH phát động chương trình đào tạo về nhân quyền cho các phần tử chống đối ở Ðông và Trung Âu; khuyến khích công đoàn và người lao động tham gia các hoạt động bí mật, qua đó can thiệp vào công việc nội bộ của một số nước ở Ðông và Trung Âu. Trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21, cựu Tổng thống George W. Bush từng yêu cầu FH soạn thảo báo cáo hằng năm về quyền chính trị, dân sự trên toàn thế giới để chính quyền tham khảo trước khi quyết định cung cấp viện trợ phát triển trong khuôn khổ hợp tác đối phó với các thách thức thiên niên kỷ cho các nước…

Có một sự thật là cho đến nay, hầu hết kinh phí hoạt động của FH do Chính phủ Hoa Kỳ tài trợ, phần lớn thành viên ban lãnh đạo của tổ chức này đều là cựu thành viên của các cơ quan chính quyền Hoa Kỳ (như: Chủ tịch đương nhiệm của FH là William H. Taft – người từng giữ chức Thứ trưởng Bộ Quốc phòng thời Tổng thống Ronald Reagan, quyền Bộ trưởng Quốc phòng dưới thời Tổng thống Bush cha, Cố vấn luật pháp của Bộ Ngoại giao dưới thời Tổng thống Bush con; các thành viên khác trong ban lãnh đạo của FH, như Kenneth Adelman từng là thành viên Ban cố vấn chính sách Quốc phòng của Lầu Năm góc, Mark Palmer là cựu Ðại sứ Hoa Kỳ tại Hungary…). FH còn có quan hệ chặt chẽ với Quỹ dân chủ quốc gia (NED), Liên đoàn chống cộng thế giới, Ðài châu Âu tự do,… Ðã lệ thuộc tài chính vào chính quyền Mỹ, lại bị điều khiển bởi các nhân vật từng tham gia chính quyền, cho nên không có gì khó hiểu khi FH trở thành một công cụ của những người đã chi tiền để FH có thể tồn tại dưới vỏ bọc nghiên cứu, theo dõi, cổ súy cho tự do, dân chủ, nhân quyền!

Câu hỏi đặt ra là tổ chức này dựa trên cơ sở nào để “chấm điểm” mức độ tự do về quyền chính trị và dân sự tại các quốc gia, và liệu cơ sở ấy có thật sự khách quan, đáng tin cậy? Sarah Cook cho rằng phúc trình của FH “đánh giá rõ ràng, khách quan mức độ tự do về quyền chính trị và dân sự của công dân tại tất cả các quốc gia trên thế giới”, nhưng khi được hỏi về căn cứ đưa ra bản phúc trình hằng năm đối với Việt Nam, nhân vật này thản nhiên trả lời: “Chúng tôi có một chuyên gia chính phụ trách từng quốc gia, chuyên phân tích tình hình của quốc gia đó. Họ theo dõi tin tức và thông tin về tình hình quốc gia ấy, tham vấn những người liên quan tại nước đó hay những người thường xuyên lui tới nước đó, nói chuyện với các tổ chức kể cả các nhóm hoạt động bên ngoài nước đó”. Câu trả lời cho thấy, FH đánh giá vấn đề theo lối hồ đồ vô căn cứ và tin tức mà chuyên gia của FH theo dõi không phải từ các nguồn chính thống, khách quan, mà chủ yếu khai thác từ các website, blog, các cơ quan truyền thông vốn có thái độ thù địch hoặc thiếu thiện chí với Việt Nam; từ một số cá nhân, nhóm hoạt động thực chất là các thế lực chống phá Việt Nam ở nước ngoài, một số phần tử vi phạm pháp luật ở trong nước. Từ các thông tin FH công bố, có thể khẳng định tổ chức này không hề có bất cứ hoạt động khảo sát thực tế nào, họ chỉ dựa trên các thông tin sai lệch, vu cáo và bịa đặt để nhận xét, rồi chấm điểm. Vậy xin hỏi bà Sarah Cook, đâu là tính khách quan trong phúc trình của FH?

Trong lĩnh vực in-tơ-nét và báo chí, mọi người đều biết việc Nhà nước Việt Nam đã quan tâm, tạo điều kiện để phát triển in-tơ-nét và báo chí như thế nào, chỉ có FH và Sarah Cook là không biết mà thôi. Cho nên, một người Việt đang sống tại Hoa Kỳ, sau khi đọc bản phúc trình của FH và ý kiến của Sarah Cook trên VOA đã phải lên tiếng như sau: “Sự thật tự do báo chí ở Việt Nam đã chứng minh, phản bác hành động sai trái của Freedom House, tôi xin trích dẫn số liệu sau: Theo thống kê của tổ chức Liên minh Viễn thông quốc tế (ITU) năm 2010, Việt Nam là một trong những nước có tỷ lệ người dân sử dụng in-tơ-nét cao nhất trong khu vực Ðông – Nam Á, chiếm 31,06% dân số, chỉ đứng sau ba nước là Xin-ga-po (70%), Ma-lai-xi-a (55,3%), Bru-nây (50%);… đồng thời vượt khá xa tỷ lệ trung bình của khu vực Ðông – Nam Á (17,86%), khu vực châu Á (17,27%) và thế giới (21,88%). Nhân đây, cần nhắc lại rằng, sự thật về tình hình báo chí ở Việt Nam là trái ngược hẳn với những gì Freedom House vu cáo. Thật vậy, tính đến tháng 3-2012, ở Việt Nam có gần 17 nghìn nhà báo, hơn 19 nghìn hội viên nhà báo, hàng nghìn phóng viên hoạt động ở 786 cơ quan báo in, với 1.016 ấn phẩm, 67 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và cấp tỉnh, 47 đơn vị hoạt động truyền hình cáp, chín đơn vị truyền dẫn tín hiệu truyền hình cáp… Các con số nêu ra trên đây dù chưa được đầy đủ nhưng là một minh chứng cho nhiều sắc màu về tự do truyền thông”. Ý kiến của tác giả này cùng thực tế sinh động của sự phát triển in-tơ-nét và báo chí ở Việt Nam trong các năm qua là cơ sở chứng minh điều FH và Sarah Cook kết luận là sự bịa đặt, xuyên tạc trắng trợn.

Ðây không phải lần đầu FH dựng chuyện và nhận xét nhảm nhí về việc thực thi quyền tự do chính trị và dân sự ở Việt Nam. Và không chỉ có thế, nhiều năm qua, FH còn mở một số chiến dịch cổ súy cho cái gọi là “tự do ngôn luận”, “tự do báo chí”, rồi kích động, hậu thuẫn cho một số kẻ cơ hội, phần tử vi phạm pháp luật ở Việt Nam. Rồi mỗi khi cơ quan tư pháp của Việt Nam tiến hành điều tra, bắt giam, xét xử một số công dân vi phạm pháp luật là FH vội vàng vận động một số chính khách phương Tây vu cáo Việt Nam đàn áp “nhà đấu tranh dân chủ”, “người bất đồng chính kiến”, và… đòi “trả tự do ngay lập tức”! Xâu chuỗi các hành động, việc làm của FH trong nhiều năm qua, có thể nhận diện ý đồ thâm độc của tổ chức này đối với Việt Nam là vừa vu khống Ðảng, Nhà nước, nhân dân Việt Nam, vừa tiếp tay cho các thế lực thù địch và một số người có hành vi vi phạm pháp luật để FH dựa vào đó thực hiện âm mưu của mình.

Như vậy có thể nói sự quan tâm của FH đối với Việt Nam không phải nhằm khuyến khích tự do, dân chủ, nhân quyền. Qua những gì FH thể hiện, tổ chức này chỉ chuyên tâm cổ súy các hoạt động gây bất ổn định chính trị – xã hội ở Việt Nam. Nếu thật sự quan tâm đến tự do, dân chủ, nhân quyền, FH nên tự vấn để trả lời câu hỏi tại sao Báo cáo của Ngân hàng Thế giới mới công bố ngày 24-1 lại đánh giá trong 20 năm qua, tỷ lệ nghèo đói ở Việt Nam đã giảm từ 60% xuống 20,7%, tức là 30 triệu người dân đã thoát khỏi đói nghèo; lĩnh vực giáo dục cũng có nhiều cải thiện, tỷ lệ đăng ký đi học trường tiểu học và trung học ở bộ phận người nghèo tăng lần lượt hơn 90% và 70%,…? Phải chăng đó không phải là thành tựu đáng khích lệ về tự do, dân chủ, nhân quyền? Nếu thật sự quan tâm đến tự do, dân chủ, nhân quyền, FH hãy tỏ ra là có liêm sỉ để góp phần vào việc mà mới đây, Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc – UNICEF, kêu gọi tìm nguồn kinh phí 1,4 tỷ USD trong năm 2013 để đáp ứng các nhu cầu giúp đỡ hàng chục triệu trẻ em bị ảnh hưởng vì chiến tranh, thiên tai và các trường hợp khẩn cấp tại 45 quốc gia, vùng lãnh thổ. Và nếu thật sự quan tâm đến tự do, dân chủ, nhân quyền, FH không nên khoác lên mình “bộ cánh đã lỗi mốt” để trở thành “con rối” trong tay người khác.

BÁ SỸ
Theo Nhandan.com.vn

Đường hòa nhập của những nhân sĩ chế độ cũ

Với những nghiên cứu thầm lặng, Nhóm trí thức này đã đóng góp tích cực vào quá trình đổi mới của thành phố. Họ để lại dấu ấn trong những đột phá về cải cách giá – lương – tiền, cải tổ ngành ngân hàng, đề xuất lập khu chế xuất Tân Thuận…

LTS: GS. Đặng Phong trong cuốn Tư duy kinh tế Việt Nam 1975-1989 kể: Ở TP. Hồ Chí Minh có một nhóm chuyên viên kinh tế được nhắc đến với cái tên “Nhóm Thứ Sáu”. Thành phần chủ yếu là những người từng làm việc trong chế độ cũ. Họ được Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh thời đó là ông Võ Trần Chí trọng dụng.

Với những nghiên cứu thầm lặng, Nhóm trí thức này đã đóng góp tích cực vào quá trình đổi mới của thành phố. Họ để lại dấu ấn trong những đột phá về cải cách giá – lương – tiền, cải tổ ngành ngân hàng, đề xuất lập khu chế xuất Tân Thuận…

Thực ra lâu nay, cái tên “Nhóm Thứ Sáu” được nhắc đến rải rác trên một số trang báo, nhưng chưa từng có một tuyến bài nào kể lại đầy đủ hoạt động và đóng góp của nhóm. Tuần Việt Nam vừa có may mắn tiếp xúc với một số câu chuyện thực tế của họ. Chúng tôi trân trọng chia sẻ cùng độc giả.

Hơn hai chục năm trong chiều dài lịch sử không là bao nhiêu, nhưng đối với những người ray rứt với tình hình đất nước đang từng ngày chuyển biến thì quả thật là đáng kể.

Những nhân sĩ, trí thức trong Nhóm Thứ Sáu với điểm xuất phát tuy khác nhau nhưng do cùng hoàn cảnh và tâm tư, đã hội tụ thân thiết như các thành viên trong một gia đình. Mỗi tuần họp mặt ít nhất một lần, anh em cùng nhau lạm bàn chuyện thế sự mà không hề có tham vọng riêng tư. Đây là một nhóm lãng tử tìm đến nhau một cách tình cờ, tập hợp vốn hiểu biết rồi cùng nhau bàn luận, trước hết là để chung vui, còn ai muốn sử dụng những điều ấy như thế nào thì tuỳ hoàn cảnh và công việc.

Bao trùm lên trên cái thực thể của Nhóm là rất nhiều cái Không. Không giấy phép thành lập, không chủ quản, không tổ chức, không nội quy điều lệ, không trụ sở, không ai lãnh đạo, không ai hưởng lương, không vụ lợi, không kỷ luật lẫn khen thưởng, không ràng buộc cũng như không hơn thua với ai và còn nhiều cái không nữa.

Có lẽ nhiều cái không ấy đã làm nên cái có: đó là có anh em, có chuyện để bàn bạc, có tấm lòng và có dịp sinh hoạt với nhau đến nay đã 24 năm liên tục.

Tên gọi của nhóm này thật ra chỉ mới có vài năm gần đây và việc định danh “Nhóm chuyên viên kinh tế Thứ Sáu” cũng rất đơn giản là vì anh em gặp nhau định kỳ vào chiều thứ Sáu hàng tuần.

Nếu ai hỏi Nhóm Thứ Sáu có bao nhiêu người thì cũng khó trả lời chính xác. Trong những năm qua số này có nhiều biến động nhưng “cựu trào” thì còn không quá 10 người. Hiện nay có thường xuyên từ 15 đến 20 anh em gặp gỡ nhau hàng tuần, có thể coi như là những nhân vật nòng cốt.

Thời kỳ cuối thập niên 70 đầu thập niên 80, tình hình kinh tế xã hội ở miền Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng cực kỳ khó khăn.Sau hai đợt cải tạo, tiềm lực kinh tế của thành phố gần như kiệt quệ. Nhiều năm sau ngày giải phóng, nền kinh tế vận hành theo quán tính như một chiếc xe ngày càng cạn nhiên liệu, tạo điều kiện cho hoạt động kinh tế ngầm phát triển với hàng loạt sản phẩm tiêu dùng thuộc loại kém chất lượng vì thành phần nguyên liệu, phụ liệu không đủ, được đưa ra thị trường nhằm giải quyết nhu cầu không thể thiếu của người dân.

Nền kinh tế kế hoạch tập trung và cơ chế bao cấp áp đặt ở miền Nam làm cả hai miền đất nước nghèo như nhau. Đó là thời kỳ mà lần đầu tiên ở Sài Gòn biết thế nào là ăn độn. Trí thức Sài Gòn phần lớn dính dáng vào quân đội và chính quyền cũ nên phải đi học tập cải tạo, một số trở về mang tâm trạng hoang mang chán nản, một số không ít bỏ ra nước ngoài tạo nên tình trạng chảy máu chất xám đến mức báo động. Thêm vào đó, vụ Nạn kiều và những chuyến vượt biên bán công khai càng làm cho tâm lý xã hội thêm nặng nề.

Trong tình hình kinh tế xã hội gay gắt ấy, mô hình công ty xuất nhập khẩu trực dụng được lãnh đạo thành phố Hồ Chí Minh cho ra đời mà Quận 5 đã đi tiên phong với Công ty Cholimex.

Mục đích của công ty này là huy động những đồng vốn tản mát trong dân dưới hình thức cổ phần, tận dụng các mối quan hệ của những nhà kinh doanh người Hoa với bên ngoài để xuất khẩu các loại hàng nông hải sản rồi nhập vật tư nguyên liệu về cung ứng cho các cơ sở sản xuất tại Quận 5, thành phố Hồ Chí Minh và cho cả các doanh nghiệp nhà nước.

Lúc bấy giờ, ông Phan Chánh Dưỡng sau khi giã từ ngành giáo dục được Quận uỷ đưa về làm Trưởng phòng kế hoạch tại Cholimex. Là một nhà giáo gần như chưa bao giờ tiếp cận với hoạt động kinh doanh ở cấp độ công ty, ông Dưỡng thấy rằng cần phải thu hút chất xám từ những người có kiến thức chuyên môn để bổ sung vào những hạn chế của mình.

Thế là ông Trần Bá Tước, một chuyên viên ngân hàng sau khi đi học tập về đã đến với Cholimex vào năm 1982 với tư cách là một phiên dịch. Tiếng lành đồn xa, nhận ra Cholimex là nơi có thể đóng góp hiểu biết của mình, nhiều trí thức cũ đã gặp ông Phan Chánh Dưỡng và trở thành những người trợ lý đắc lực.

Một trong những người này là ông Phan Thành Chánh, chuyên viên ngân hàng và ông Đỗ Hải Minh, chuyên viên hành chính nhiều kinh nghiệm trước đây làm việc ở Bộ phát triển sắc tộc trong chế độ cũ, sau khi đi học tập về đang tìm một chỗ làm việc để nhẹ gánh mặc cảm.

Ông Nguyễn Thông Minh, một chuyên gia mà cũng là một giáo sư đại học dạy vật lý có phương pháp sư phạm rất tốt (nhất là về môn điện tử) lại là một chuyên viên điện toán giỏi, sau khi “đầu quân” đã soạn chương trình vi tính về quản lý lương bổng cho Cholimex, một công việc cực kỳ mới mẻ lúc bấy giờ. Sau đó ông lại đứng ra thành lập Trung tâm Điện toán Cholimex, cơ sở vi tính đầu tiên tại thành phố Hồ Chí Minh.

Từ đó Cholimex thành một nơi đất lành chim đậu, tập hợp rộng rãi các anh em trí thức đang làm việc tại Ban Khoa học Kỹ thuật thành phố, Công ty Đại Dương, Công ty dịch vụ Kỹ thuật như các anh Lê Mạnh Hùng, Võ Hùng, Võc Văn Huệ. Rồi đến Mai Kim Đỉnh, Trương Quang Sáng, Lê Hoà, Nguyễn Chính Đoan, Lê Văn Bỉnh, Trần Văn Tư, Đỗ Trung Đường, Lê Đình Khanh, Lâm Tuấn Anh, Võ Gia Minh, Trần Quí Hỷ, Đỗ Nguyên Dũng, Phan Tường Vân, Lâm Võ Hoàng, Huỳnh Bửu Sơn, Hồ Xích Tú, Nguyễn Ngọc Hồ… cùng một số người khác.

Thời kỳ đầu, họ đã đi thực tế ở nhiều nơi như Duyên Hải, Đồng Nai và các tỉnh miền Tây, nghiên cứu nhiều dự án với hy vọng khái thác tiềm năng cho nhu cầu phát triển kinh tế của thành phố. Thế nhưng đó lại là câu chuyện đội đá vá trời trong tình hình cơ chế xơ cứng đang còn ngự trị. Khi nhìn lại anh em thấy những công việc đã làm chẳng qua cũng là công dã tràng. Nhưng dù sao đây cũng là  nhân tố ban đầu của sự tập hợp một số trí thức cũ có tấm lòng và mong được đóng góp cho sự phát triển kinh tế thành phố nói riêng và đất nước nói chung.

Bước đầu hình thành Nhóm, ngoài hạt nhân là ông Phan Chánh Dưỡng còn có sự ủng hộ của ông Võ Trần Chí khi ấy đang làm Bí thư Quận 5- một người cầu thị, trân trọng trí thức, trong giao tiếp không bao giờ nói chuyện đao to búa lớn.

Ông Chí cũng nhận ra rằng không dễ dàng khai thác kiến thức của những người trí thức. Muốn anh em đóng góp thì phải tạo cho họ có được cảm giác tự do, không một mảy may gò bó. Cũng trong tư cách một người anh, ông chấp nhận ngay cả việc anh em có thể nói sai, cho rằng đó chẳng qua vì anh em chưa hiểu thấu đáo, lần lần rồi cũng sẽ hiểu ra. Chính sự bao dung đó đã thuyết phục được anh em.

Thời gian này, Nhóm Thứ Sáu sinh hoạt định kỳ ba lần một tuần tại Cholimex vào thứ Hai, thứ Tư và thứ Sáu, gặp gỡ nhau để bàn bạc, tranh luận. Đó vừa là cơ hội để kết thân vừa giải toả được mặt cảm nên ai cũng thấy rất vui, dần dần trở thành nhu cầu mà tuần nào không gặp nhau là cảm thấy như thiếu điều gì đó, một thứ thiếu vắng không có tên gọi.

Giai đoạn 1986-1990: Những công trình nghiên cứu

Sau mấy năm sinh hoạt tại cơ ngơi của Mạnh Thường Quân Cholimex, cùng nhau mổ xẻ một số vấn đề gay gắt trong đời sống kinh tế xã hội, cho đến một lúc họ bỗng giật mình nói với nhau: Cả Nhóm ngồi lại nhiều năm nói chuyện trên trời dưới đất nhưng nếu ai đó không hiểu thì lôi thôi, không chừng lại bị “hỏi thăm”.

Suy nghĩ này được ông Phan Chánh Dưỡng đề đạt lên ông Võ Trần Chí khi đó đang làm Bí thư Thành uỷ: nếu thấy tin cậy được thì đề nghị cấp cho một giấy chứng nhận hợp thức hoá sự tập hợp trí thức cũ. Rất may, do quá trình hiểu biết anh em nhiều năm, ông Võ Trần Chí đồng ý và giao nhiệm vụ này cho ông Năm Ẩn, lúc đó là Trưởng ban Kinh tế Thành uỷ.

Thế là một danh sách 24 người được gửi lên cho lãnh đạo, anh Năm Ẩn ký giấy xác nhận danh sách “Nhóm nghiên cứu chuyên đề kinh tế của Thành uỷ”. Đây không phải là giấy khai sinh mà chỉ là tấm lá chắn nhưng cũng đã đánh dấu thời điểm “hợp pháp” từ tháng 10 năm 1986.

Bắt đầu từ đấy, nhóm trí thức cũ sinh hoạt định kỳ hàng tuần, vẫn tại Cholimex và hoàn toàn có tính tự nguyện. Cũng từ đó các lãnh đạo thành phố như các ông Võ Trần Chí (Hai Chí), Nguyễn Vĩnh Nghiệp (Sáu Tường), Năm Ẩn, Tư Triết, Phạm Chánh Trực (Năm Nghị) thỉnh thoảng xuống tham dự hội họp với họ.

Cái tư cách pháp nhân lưng chừng ấy cũng đã khiến nhóm nhân sĩ này nghĩ đến một cách sinh hoạt có tính chủ đề hơn. Vì vậy đây chính là thời kỳ hình thành nhiều công trình nghiên cứu có tính bài bản của nhóm. Có thể kể ra đây một số công trình nghiên cứu được sự quan tâm của các cấp lãnh đạo, qua đó tâm huyết của anh em đã có cơ hội góp phần vào việc hình thành chính sách của nhà nước sau này.

  1. Nghiên cứu về Giá – Lương – Tiền:

Đây là công trình nghiên cứu đầu tiên được thực hiện rất bài bản. Có mô tả hiện trạng, có phản biện, có cơ sở lý luận và chuẩn bị bảo vệ ý kiến của mình.

Bài toán giá – lương – tiền được mổ xẻ thấu đáo mà đáp số của nó theo quan điểm của nhóm có cự ly rất xa với nhận định của các nhà lập chính sách ở Trung ương vào lúc ấy. Sau nhiều tuần cọ xát quan điểm, anh em hoàn thành bản nghiên cứu về giá – lương – tiềm thì vào cuối năm 1986 ông Phạm Chánh Trực viết thư giới thiệu công trình này với ông Võ Văn Kiệt lúc ấy đang làm Chủ nhiệm Uỷ ban kế hoạch Nhà nước và đề nghị ông trực tiếp nghe anh em trình bày.

Các ông Phan Chánh Dưỡng, Huỳnh Bửu Sơn, Trần Bá Tước ra Hà Nội báo cáo đề tài này với các chuyên viên cấp cao của Chính phủ, buổi làm việc do ông Sáu Dân chủ trì, Đề tài nghiên cứu này có tính thuyết phục, được các chuyên viên như ông Trần Đức Nguyên, Vũ Quốc Tuấn, Lê Đăng Doanh đánh giá cao. Trước khi trở về thành phố Hồ Chí Minh, các anh Dưỡng, Sơn, Tước còn được ông Nguyễn Cơ Thạch (lúc ấy là Bộ trưởng Ngoại giao) mời trình bày đề tài này và cũng được ông đánh giá cao.

  1. Nghiên cứu đề tài Cải tổ Ngân hàng:

Sau chuyến thuyết khách ở Hà Nội, Nhóm Thứ Sáu nắm bắt thêm thực tế và phát hiện ra rất nhiều nghịch lý trong điều hành vĩ mô. Một trong những vấn đề đó là hoạt động thiếu hiệu quả của hệ thống ngân hàng của thời kế hoạch hoá tập trung. Đề tài này do hai ông Huỳnh Bửu Sơn và Lâm Võ Hoàng là những người có kinh nghiệm thực tiễn nhiều năm trong lĩnh vực ngân hàng chủ trì.

Nghiên cứu của họ đi sâu vào cơ thể dị dạng của hai bộ phận Ngân hàng và Tài chính dính chặt vào nhau, sự bất hợp lý trong điều hành chính sách tiền tệ và đề xuất một cơ chế hoạt động cho Ngân hàng theo hướng kinh tế thị trường. Đề tài nghiên cứu này cũng được Chính phủ quan tâm, những suy nghĩ và đề xuất của các thành viên trong Nhóm dường như có sự lan toả cho nên vào năm 1988, khi Chính phủ chẩn bị Pháp lệnh Ngân hàng, hai ông Lâm Võ Hoàng và Huỳnh Bửu Sơn đã được mời tham gia vào việc soạn thảo.

  1. Nghiên cứu phát triển Ngoại thương:

Đây là đề tài nghiên cứu khá gay gắt bởi vào thời điểm ấy thành phố Hồ Chí Minh chủ trương cho các công ty xuất nhập khẩu tự cân đối tài chính. Đề tài này làm rõ chủ trương vừa nói là sai lầm vì đó chính là một trong nguyên nhân đẩy giá cả tăng lên.

Do được quyền tự cân đối nên các công ty xuất nhập khẩu mua nông sản với bất cứ giá nào bất chấp giá thị trường để xuất khẩu, rồi dùng ngoại tệ bán được để nhập khẩu bán lại cho trong nước với giá cao để kiếm lời mà Nhà nước không can thiệp vào. Do tự cân đối mà giá cả nông sản tăng keo theo hàng công nghệ phẩm lên giá, góp phần làm tăng áp lực lạm phát.

  1. Đề tài Kinh tế vùng:

Đề tài này được giao cho ông Nguyễn Ngọc Hồ chủ trì và được bản thảo lâu nhất, kéo dài khoảng nửa năm. Công trình này được ông Lê Văn Triết lúc bấy giờ là Thứ trưởng Thương mại đánh giá cao và sau đó góp phần vào việc hình thành chính sách.

  1. Công ty tư vấn Đầu tư và Khu chế xuất:

Vào năm 1987, dưới tác động của chính sách mở của, Nhóm tập trung thảo luận về khả năng thu hút đầu tư nước ngoài và thống nhất thành lập Công ty tư vấn đầu tư (IMC). Đây là một chuyển biến quan trọng trong sinh hoạt của Nhóm, chuyển từ bàn bạc sang thực hiện. Ông Phan Chánh Dưỡng được giao làm Phó Giám đốc Công ty, nhưng sau đó do số cán bộ từ thành phố điều xuống áp dụng cách làm việc theo kiểu cũ nên vai tròg hạn chế, không phát huy được công năng của công ty. Vì vậy ông Dưỡng và một số anh em trong Nhóm từng bước rút lui khỏi công ty.

Năm 1989, ông Dưỡng đề nghị thành lập Hiệp hội Xuất nhập khẩu đầu tư (Infotra) và đề tài được anh em tập trung nghiên cứu là Khu chế xuất. Đây cũng là thời gian ông Dưỡng rút khỏi vị trí Giám đốc Cholimex và chú tâm vào việc biến công trình nghiên cứu trở thành hiện thực.

Có thể nói đây là công nghiên cứu có giá trị thực tiễn cao vì sau đó nội dung này được áp dunhgj vào việc hình thành Khu chế xuất Tân Thuận dưới hình thức Công ty liên doanh trong đó anh Phan Chánh Dưỡng đại diện cho đối tác trong nước làm Phó Tổng Giám đốc. Và để thực hiện ý tưởng phát triển thành phố Hồ Chí Minh ra biển Đông, Công ty Phát triển Công nghiệp Tân Thuận sau đó được thành lập làm pháp nhân nghiên cứu và thực hiện các chương trình như đại lộ “Bắc Nhà Bè – Nam Bình Chánh” nay là đại lộ Nguyễn Văn Linh, khu đô thị mới Nam thành phố Hồ Chí Minh, Khu công nghiệp Hiệp Phước…

  • Mời theo dõi tiếp kỳ 2.
    [Tác giả: ĐÔNG HẢI]
    [link: http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2010-04-06-duong-hoa-nhap-cua-nhung-nhan-si-che-do-cu]

Đi tìm sự thật về nhà thờ của gia đình Thủ tướng

Xung quanh thông tin Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng xây dựng ngôi “nhà thờ họ” nguy nga ở Kiên Giang, suốt lâu nay đã được loan truyền râm ran và trở thành một đề tài nóng thu hút sự quan tâm của công luận. Sự thật ra sao?

Nguồn tin khởi đầu được tung ra bởi một số mạng thông tin không chính thống. Rồi tiếp tục xuất hiện cả một số đơn thư được lan truyền đã len lỏi tới đông đảo công chúng; càng khiến dư luận không ngớt xì xầm, bàn tán.

Theo các thông tin được mô tả thì: Ngôi nhà thờ này là một lâu đài đồ sộ, sang trọng gấp nhiều lần nhà thờ họ Hồ ở Nghệ An; nguy nga hơn cả đền thờ vị anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực; được tọa lạc trên khuôn viên rộng tới hơn 4.000m2 với quy mô rất hoành tráng, số tiền đầu tư xây dựng trị giá tới hơn 40 tỉ đồng. Đặc biệt, khuôn viên hơn 4.000m2 này là đất thu hồi của người dân địa phương.

 

Cổng chính ngôi nhà số 1108

 

 

“Nhà thờ họ” này đã và đang trở thành “bia miệng” trong dân chúng Việt Nam… Sức nóng của dư luận đã khiến không ít cán bộ lão thành cách mạng phẫn nộ, dân chúng hoài nghi và có người đã phải thốt lên rằng: “Ai đời đương kim Thủ tướng mà lại làm cái việc xa hoa đến thế!”.

Nhà báo vốn có đặc tính là luôn “săm soi” các nguồn tin nên tôi đã được chứng kiến không ít cuộc luận bàn xung quanh câu chuyện “nhà thờ họ” của đương kim Thủ tướng. Bản thân tôi đã có lúc thấy rất hoài nghi và thiếu tin cậy về những thông tin loan truyền ấy. Có một số người cũng nói với tôi rằng đó chỉ là sự đồn thổi, bịa đặt: “Làm gì có lâu đài, biệt điện nào! Chẳng qua chỉ là chuyện thêu dệt nhằm bôi đen lãnh đạo, gây mâu thuẫn trong nội bộ Đảng và kích động lòng dân…”.

Nhưng sự hoài nghi trong tôi lại lập tức bị tan biến bởi có không ít lời khẳng định như đinh đóng cột với tôi rằng họ đã trực tiếp mắt thấy tai nghe: “Không tin ông cứ đến TP. Rạch Giá, gặp bất cứ ai, từ anh xe ôm cũng đều đàm tiếu vanh vách!”.

Là người cầm bút, trước một sự việc tuy đang rất “bán tín bán nghi” – nhưng quả thực nó tác động mạnh đến dư luận xã hội, đến tâm trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân là điều có thật – đã thực sự làm tôi trăn trở. Và chính vì điều đó đã thôi thúc khiến tôi quyết định phải thực hiện một cuộc hành trình để kiếm tìm sự thật. Vào đầu tháng 12 năm 2012, nhân có chuyến vào TP. Hồ Chí Minh công tác tôi đã quyết định “phi” xuống Kiên Giang để đích thân “mục sở thị” xem hư thực ra sao.

Sự thật ra sao?

Cách đây hơn 20 năm tôi đã có dịp về Kiên Giang công tác – lúc đó tôi đang là phóng viên báo Quân đội Nhân dân (khi ấy Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đang là Chủ tịch tỉnh. Đồng chí Thiếu tá Quỳnh – Trợ lý Tuyên huấn Tỉnh đội – đã bố trí cho tôi phỏng vấn Chủ tịch tỉnh về công tác quân sự địa phương và việc thực hiện chính sách hậu phương quân đội. Và cũng suốt từ ấy đến nay tôi không có một cuộc tiếp kiến nào khác với ông).

Hơn 20 năm sau trở lại Kiên Giang, tôi thấy nơi đây đã thay đổi quá nhiều. Rạch Giá thời đó còn là thị xã, ngày nay đã trở thành thành phố. Ngày ấy Rạch Giá chỉ có bến xe ôtô, bến tàu biển; bây giờ đã có cả sân bay. Từ bến xe đi về các ngả, lúc đó phương tiện chủ yếu là xe lôi và Honda ôm. Bây giờ ở bến nào cũng thấy taxi nườm nượp. Bất giác tôi bỗng thấy nao nao nhớ về ký ức xe lôi thời ấy. Ngắm nhìn đường phố sạch đẹp và thoáng đãng, tôi cảm nhận rõ một quang cảnh thật thanh bình.

Cùng đi với tôi là anh bạn thân ở Sài Gòn nhưng rất thông thạo Rạch Giá – Kiên Giang. Chúng tôi tìm đến số nhà 1108 đường Nguyễn Trung Trực một cách chẳng khó khăn gì. Đường Nguyễn Trung Trực trước đây chỉ là một con đường nhỏ nằm trong lòng Rạch Giá; bây giờ trở thành con phố đường đôi huyết mạch rộng rãi, phong quang. Đứng trước cổng số nhà 1108, quan sát toàn cảnh khuôn viên tôi thấy lòng đầy nghi hoặc. Có phải cái “lâu đài” đang lan truyền gây xôn xao dư luận ấy chính là đây? Không lẽ tôi đã có một sự lầm lẫn nào khác?…

Nhưng hoàn toàn không phải như sự ngờ vực của tôi. Số nhà 1108 này chính là địa chỉ ngôi nhà của người em trai út và thân mẫu của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hiện đang sinh sống ở Kiên Giang miền quê nơi ông sinh trưởng. Bước chân vào khuôn viên, đảo hết một vòng, mang thông tin loan truyền ra đối chiếu, tôi bỗng thấy sửng sốt…

 

Phần mộ thân phụ Thủ tướng tại nghĩa trang liệt sĩ Kiên Giang

 

 

Toàn bộ khuôn viên này theo con mắt ước tính của tôi chỉ cỡ năm sáu trăm mét vuông là “kịch đường tàu”, chứ không phải tọa lạc trên diện tích tới hơn 4.000 m2 như đồn thổi! Qua xác minh tôi được biết, vào khoảng những năm 1980, nơi đây vốn là một xưởng sản xuất nước mắm của tư nhân rất ô nhiễm. Con lộ khang trang nơi mặt tiền bây giờ, ngày ấy chỉ là một con đường xấu xí và nhỏ hẹp. Lúc bấy giờ, Thủ tướng ngày nay đang là Bí thư ở huyện Hà Tiên. Mẹ và em trai của Thủ tướng là Tư Thắng đã mua mảnh đất này với thời giá lúc đó “rẻ như bèo” và được cấp đầy đủ quyền sử dụng. Như thế là thông tin mảnh đất này là đất thu hồi từ đất ruộng của dân rồi qui hoạch… thật sự chỉ là sự thêu dệt!

Tiếp tục quan sát từ ngoài vào trong tôi thấy: Chiều dài mặt tiền của khuôn viên ước tính chỉ khoảng ba, bốn chục mét. Một bờ tường bao nơi mặt tiền cao trên dưới 3 mét, ốp vật liệu bình thường chứ không hề thấy một loại vật liệu quý nào. Phía ngoài tường bao là một rặng cau cao vút. Toàn bộ khuôn viên được chia dọc làm hai phần, từ đường nhìn vào thì bên tay trái là nhà ở, và bên phải là nhà thờ. Lối chính vào nhà là một cái cổng quá đơn sơ, lợp ngói thô. Một mảnh sân nho nhỏ ước chừng vài chục mét vuông không thấy có kiến trúc gì tạo dựng hay trang trí cảnh quan mang tính mĩ thuật. Căn nhà ở của gia đình được xây một trệt, một lầu, hết sức bình dị như trăm ngàn ngôi nhà khác trên khắp phố phường Việt Nam. Hoàn toàn không có một chút kiến trúc hay vật liệu gì quí giá theo hình mẫu, phong cách và dáng dấp của các loại biệt thự đương thời. Bước chân vào phòng khách tại tầng trệt, đi qua phòng của mẫu thân Thủ tướng rồi xuống nhà bếp của gia đình tôi thấy thật sự ngỡ ngàng. Phòng khách chỉ rộng chừng ba chục mét vuông, chỉ có một bộ sa-lông gỗ rất mộc mạc. Tôi đã từng đến nhiều phòng khách đẹp lộng lẫy của không ít anh em bè bạn. Trước khi bước vào phòng khách này tôi cũng mường tượng như vậy. Nhưng quả là nhầm to! Phòng khách đơn sơ tới mức vượt xa trí tưởng tượng của tôi. Thân mẫu của Thủ tướng năm nay đã 87 tuổi hiện đang sống trong căn nhà này. Tôi không thể ngờ rằng căn phòng đang sinh sống của thân mẫu Thủ tướng lại đơn sơ, mộc mạc và bình dị đến mức thật khó tin!

Kề bên căn nhà ở là nhà thờ của gia đình nằm chung trong một khuôn viên, có cổng riêng. Quan sát toàn cảnh nhà thờ tôi thấy: Đó là một ngôi nhà gồm 3 gian, 3 tầng mái truyền thống, tọa lạc cuối khuôn viên, được xây dựng trên cốt nền cao, gồm 9 bậc thềm, đá lát là loại đá xanh bình thường. Tôi sải bước đo chiều dài áng chừng chỉ 10m, chiều ngang sâu khoảng 5m. Nhẩm tính tổng diện tích ngôi nhà thờ chỉ vào khoảng 50m2. 3 gian trong nhà thờ, mỗi gian được đặt một ban thờ. Ban chính giữa là ban thờ gia tiên, trên cùng là thờ ảnh Bác, tiếp phía dưới là di ảnh phụ thân rồi đến di ảnh người chị của Thủ tướng. Thân phụ của Thủ tướng là ông Nguyễn Tấn Thử (tức Mười Minh), chính trị viên Tỉnh đội Kiên Giang, hi sinh trong một trận Mỹ ném bom B52 vào ngày 16/4/1969.

Ban thờ phía bên phải là Ban thờ Má chiến sĩ – tức Má Tư cùng 3 chiến sĩ cũng hi sinh trong trận bom ngày 16/4/1969 với ông Nguyễn Tấn Thử. Ban thờ phía bên trái là Ban thờ ông Phan Thái Quí (tức Chín Quí), Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Kiên Giang – đồng đội của thân phụ Thủ tướng – cũng hi sinh trong trận bom ngày 16/4/1969. Quan sát kĩ thêm tôi thấy: Ban chính phía trên nóc có một chùm đèn và dưới là một chiếc sập gỗ cũng quá đơn sơ mộc mạc. Hai bên phía hồi nhà thờ ngay lối cửa ra vào là 2 lọ lục bình lớn nom y hệt bằng đồng nhưng kỳ thực chỉ là 2 bình đất nung, sản vật của Vĩnh Long. Toàn bộ hệ thống cửa chính hoàn toàn là gỗ mộc, đã hư hỏng, xuống cấp. Quan sát hết lượt từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài tôi chẳng thấy có một vật dụng gì được cho là quí giá! Còn ở ngoài khuôn viên phía trước nhà thờ chỉ thấy toàn là cây cau, xoài, mít và vài cây đại nhỏ, không hề có một cây cảnh đắt tiền hay quí hiếm nào cả. Qua kiểm chứng, ngôi nhà thờ này được anh em trong gia đình Thủ tướng xây dựng vào khoảng năm 2000.

Như vậy là đích thân tôi đã “tai nghe, mắt thấy, tay sờ” và hoàn toàn không hề thấy có “lâu đài xa hoa” nào như dư luận loan truyền, đồn thổi! Đến đây thì bạn đọc đã hiểu đầy đủ rằng câu chuyện về “Nhà thờ Họ của Thủ tướng” tất cả chỉ là sự thêu dệt mà thôi! Và từ sự thêu dệt ấy đã được thổi phồng thành sự thật! Sau khi đã tìm hiểu rõ ngọn ngành, tôi thầm nghĩ, sự thật hiển nhiên đến như thế mà được tạo dựng thành chuyện “như có thật” thì có lẽ những thông tin thị phi khác về Thủ tướng và gia đình bấy lâu loan truyền trong công luận chỉ là xuyên tạc! Trong khoảng thời gian ở Kiên Giang tôi cũng đã đến thăm và thắp hương ở Đình thờ vị Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực. Đến đây tôi mới sáng tỏ rằng việc đồn thổi “nhà thờ họ” của Thủ tướng “nguy nga gấp nhiều lần đình thờ vị Anh hùng dân tộc Nguyễn Trung Trực” sự thật chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng và hư cấu! Tôi được biết, mới rồi nguyên Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đã vào tận đây và cũng đã phải thốt lên rằng “Hóa ra tất cả chỉ là sự thêu dệt!”.

Sự thật nói lên điều gì?

Sau khi đã thực hiện xong cuộc thị sát tường tận, tôi rời Rạch Giá về Sài Gòn trên một chuyến xe khách tốc hành. Định bụng lên xe là “đánh” một giấc nhưng tiếc thay vớ phải chiếc vé nằm tầng 2, lại ở phía cuối xe nên cứ bị lay lắc như đánh võng. Suốt 6 tiếng đồng hồ trong cuộc hành trình không hề chợp mắt, tâm trí tôi cứ miên man suy nghĩ…

 

Bia thờ liệt sĩ tại khuôn viên nhà thờ

 

 

Trước khi thực hiện cuộc hành trình tìm kiếm sự thật, một anh bạn rất thân đã gay gắt phê phán tôi rằng: “Bao nhiêu việc lớn sao không quan tâm vào cuộc, hà cớ gì mà phải mất thời giờ cho một việc nhỏ nhoi như thế!” Nhưng lương tâm chức nghiệp đã mách bảo tôi rằng: “Việc tuy nhỏ nhưng nếu không minh bạch ắt đủ khiến lòng người ly tán!

Họa lớn âu cũng khởi nguồn từ những đốm lửa nhỏ! Bởi vậy, sự việc dẫu nhỏ hay lớn cũng đều cần tới sự quang minh!” Nói tới chuyện nhà thờ – thờ tự – tức là nói tới việc tâm linh. Phàm đã là việc tâm linh thì không thể nói không thành có hoặc nói có thành không được. Câu chuyện về “nhà thờ họ” của Thủ tướng đang được công luận loan truyền đã thực sự gây hoài nghi, bức xúc trong dư luận, vì thế rất cần được kiểm chứng, phân minh.

Tôi đã được trực tiếp chứng kiến sự thật! Và sự thật ấy đã khiến tôi phải ngỡ ngàng bởi nó hoàn toàn trái ngược với những thông tin được loan truyền trong đời sống dư luận suốt bấy lâu nay. Sự thật ấy đã nói lên điều gì và đã tác động ra sao trong đời sống xã hội? Không còn nghi ngờ gì nữa, xuất phát từ những thông tin xấu độc được bịa đặt, từ đồn đại đã được thêu dệt và thổi phồng tạo thành một “sự thật giả dối”! Trong mỗi chúng ta ai cũng đều nhận diện được chân lý nhưng không phải tất cả đều tỉnh táo. Cái “sự thật giả dối” ấy đã thực sự gây xúc động trong tâm lý xã hội, tạo sự hoài nghi trong công chúng, gieo rắc sự bất an trong đời sống… Hơn thế nữa, cái “sự thật giả dối” ấy đã bóp méo hình ảnh của người đứng đầu Chính phủ, gây nghi kỵ, phân hóa, chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ Đảng và khiến lòng tin của nhân dân bị hao tổn. Nguy hiểm hơn nữa đó là, từ sự giảm sút niềm tin vào người lãnh đạo đất nước tới việc đánh mất niềm tin vào chế độ, ranh giới chỉ là “trong gang tấc”. Và càng trở nên nguy hiểm bởi trong khi đất nước đang cần trên dưới một lòng thì lại “mắc ngay vào bẫy” của các thế lực thù địch một cách vô cùng ấu trĩ…

Tôi vừa đọc một bài báo mới đây của nhà báo lão thành Hữu Thọ. Ông viết rằng: “Chiến đấu cho thông tin sự thật và nhanh chóng công bố thông tin là cuộc chiến đấu sinh tử trong cuộc cạnh tranh thông tin ngày càng gay gắt hiện nay. Thông tin sai là thua mà thông tin chậm, cũng là thua!”. Và “…Không chỉ nói sự thật mà phải tới sự “chân thật” – tức là sự thật phải được phản ánh “đúng hiện thực khách quan” – chân thật tức là bản chất của sự thật! Ông kết luận: “Thông tin sai sự thật có nhiều loại, có số ít do bịa đặt, thêm bớt là sai phạm nặng nề nhất về mặt đạo đức của người làm báo… Có trường hợp thông tin “sai sự thật” do suy diễn chủ quan dẫn đến sự thật bị thổi phồng, bóp méo cũng không còn là sự thật như nó vốn có, gây hiểu lầm tai hại trong xã hội” (theo Tạp chí Tuyên giáo số tháng 12/2012)…

Trước lúc trở về TP. Hồ Chí Minh tôi đã đến thắp nhang ở nghĩa trang liệt sĩ Kiên Giang. Mộ các liệt sĩ hàng hàng, lớp lớp quần tụ uy nghi. Người quản trang đã đưa tôi đến thắp hương trên mộ phần của thân phụ Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

Mộ của thân phụ Thủ tướng nằm đây, hết sức khiêm nhường hòa lẫn cùng hàng cùng lối với các liệt sĩ đang an giấc ngàn thu. Người quản trang kể với tôi rằng: Đã không ít lần lãnh đạo các khóa của tỉnh Kiên Giang có nguyện vọng muốn di dời mộ phần của thân phụ Thủ tướng vào khu an táng các quan chức lãnh đạo được qui hoạch ở một khu riêng gần đó, trước hết là để tỏ lòng thành kính; sau nữa là được khang trang hơn. Song cứ mỗi lần nhắc đến, Thủ tướng đều nhất quyết một mực rằng: “Bố tôi sống, chiến đấu cùng đồng đội, nay hãy cứ để yên cho ông được an nghỉ bên đồng đội của ông!”.

Giây phút đứng đây – tại nghĩa trang liệt sĩ này – tôi chợt nhớ tới lời hứa của Thủ tướng trên diễn đàn Quốc hội mới rồi: “… Chính phủ, Thủ tướng và từng thành viên sẽ nghiêm túc với mình, đoàn kết, hết lòng làm việc… tất cả vì Tổ quốc, nhân dân, vì Đảng, chế độ, vì sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước…”. Điều đó đã gieo vào tôi một niềm tin vững chãi, cũng như sự kỳ vọng của các tầng lớp nhân dân rằng: Sứ mệnh của Thủ tướng không có gì cao cả hơn ngoài việc một lòng một dạ phụng sự dân tộc và dốc lòng dốc sức tận tụy vì sự bình an của xã tắc sơn hà – tức chế độ này!

Theo Nhà báo và Công luận
http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/103097/di-tim-su-that-ve-nha-tho-cua-gia-dinh-thu-tuong.html