Tag Archive: hoi


Hôm qua, ĐBQH Hoàng Hữu Phước cho biết đã gỡ bỏ bài viết xúc phạm đến ĐBQH Dương Trung Quốc. Xung quanh câu chuyện gây ầm ĩ này có nhiều vấn đề đáng bàn về văn hóa tranh luận

Các bài viết liên quan trên kenminhthien.net

[Tham Khảo] Chuyện về Đại biểu Hoàng Hữu Phước và Đại biểu Dương Trung Quốc
Nhà sử học Dương Trung Quốc nói về bài viết “Dương Trung Quốc – Bốn điều sai năm cũ”:
ĐB Hoàng Hữu Phước xin lỗi ĐB Dương Trung Quốc

Trên blog của ông Hoàng Hữu Phước, đại biểu Quốc hội, có đăng bài “Dương Trung Quốc và bốn điều sai năm cũ (tứ đại ngu)”. Bài viết có những lời lẽ xúc phạm nặng nề ông Dương Trung Quốc, cũng là đại biểu Quốc hội. Chúng tôi xin giới thiệu ý kiến người trong cuộc, những người có trách nhiệm về vấn đề này.

Sau khi gặp và chào hỏi vài lời với phóng viên báo Tuổi Trẻ chiều 18-2, đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước tiếp tục hẹn gặp làm việc với phóng viên vào thời gian khác – Ảnh: T.T.D.

Đại biểu HOÀNG HỮU PHƯỚC:

Đã gỡ bỏ bài viết

Trong bài viết trên, ông Hoàng Hữu Phước đã công kích, thậm chí có lời lẽ thóa mạ tới ông Dương Trung Quốc. Cuối bài viết được ký tên: “Nhất Thạc Bàn Cờ, Lăng Tần Hoàng Hữu Phước, Nhà VN Cộng Hòa Học, Nhà Biểu Tình Pờ-rô-tét Đì-mông-sờ-tra-sân Học, Nhà Đa Đảng Học, Nhà Lưỡng Đảng Học, Nhà Độc Đảng Học, Nhà Tiếng Anh Học, Nhà Thánh Kinh Học, Nhà Đủ Thứ Học Học”.

Mục đích của bài viết được người viết đề cập: “Lăng Tần tôi đây theo sách thánh nhân xin góp một đường chổi quét, vừa thử nêu bật phân tích Dương Trung Quốc như một tấm gương cho giới trẻ xem qua điều dở, nghiệm lấy điều ghê, vừa thử xem đối tượng được phân tích này có nhờ vậy học được đôi điều để cải hóa mà bớt xấu đi chăng”.

Bài viết khá dài, bình luận những nội dung ông Dương Trung Quốc phát biểu tại Quốc hội, với lối hành văn và sử dụng ngôn ngữ rất nặng nề, như: “Trong bối cảnh tình hình phức tạp ở biển Đông và đất nước còn bao nỗi lo toan khác thì những phát biểu về “đĩ-biểu tình-đa đảng-văn hóa từ chức” của “nhà sử học” Dương Trung Quốc tại nghị trường lại càng trở thành một mớ hỗn độn và hỗn loạn. Lẽ ra Dương Trung Quốc nên ngậm miệng lại để các đại biểu khác có thời gian hiến kế làm đất nước hùng cường, quân đội hùng mạnh, dân tộc hùng anh, quốc gia thái bình thịnh vượng, dân chúng lạc nghiệp an cư, mới đúng là “quốc thái dân an” đẳng cấp thánh nhân chứ không phải “an dân” kiểu hàm hồ của Dương Trung Quốc”.

* Sau nhiều ngày liên hệ, mãi đến chiều 18-2 chúng tôi mới gặp được đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước. Sau vài lời chào hỏi, ông này nói lời xin lỗi vì không thể dành thời gian trao đổi với Tuổi Trẻ như lịch đã hẹn. Lý do được nêu ra là trùng lịch làm việc một cơ quan ngoại giao nước ngoài nên không thể chậm trễ, đồng thời hẹn sẽ gặp Tuổi Trẻ vào thời gian khác.

Tuy nhiên, ông Phước có xác nhận “đã gỡ bỏ bài viết khỏi blog của mình vào ngày hôm qua, tức 17-2”.

Theo thông tin chúng tôi nắm được, sáng 18-2 ông Hoàng Hữu Phước đã đến trụ sở Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM để họp khẩn ngay trong buổi làm việc đầu tiên sau thời gian nghỉ tết với tập thể thường trực Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Tất cả nội dung của cuộc họp đều liên quan đến bài viết “bốn điều sai năm cũ (tứ đại ngu)”.

Tất cả ý kiến trong cuộc làm việc đều không đồng tình cách làm, cách ứng xử của đại biểu Phước qua bài viết nói trên, đồng thời đề nghị đại biểu này có cách xử lý, khắc phục những hậu quả đã phát sinh.

Tại cuộc làm việc, ông Hoàng Hữu Phước đã trao đổi lại, kể cả giải thích một vài lý do xuất phát từ đâu mà ông viết những nội dung như vậy. Đồng thời có thông tin cho biết đại biểu Phước nói sẽ có lời xin lỗi về những gì mình đã viết về đại biểu Dương Trung Quốc qua bài viết vừa nêu. Tuy nhiên đến chiều 18-2, ông Phước vẫn chưa liên lạc để xin lỗi ông Quốc.

Ông Hoàng Hữu Phước (sinh năm 1957) được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc VN TP.HCM giới thiệu ra ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIII, đơn vị bầu cử số 1: quận 1, 3, 4. Ông đã trúng cử trong kỳ bầu cử này.

Một trong hai cam kết thực hiện chương trình hành động sau khi trúng cử của ông Phước là “luôn giữ gìn danh dự quốc gia, danh dự Quốc hội và tư cách người đại biểu Quốc hội; trau dồi tu dưỡng để đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn nêu tại điều 3, chương I, Luật bầu cử Quốc hội; tận tụy phục vụ cử tri và nhân dân”.

Đại biểu Dương Trung Quốc – Ảnh: Việt Dũng

Đại biểu DƯƠNG TRUNG QUỐC:

“Tôi thấy cũng bình thường thôi”

Trao đổi với Tuổi Trẻ qua điện thoại chiều 18-2, đại biểu DƯƠNG TRUNG QUỐC nói:

– Việc gỡ bỏ khỏi blog cá nhân (của đại biểu Hoàng Hữu Phước) toàn bộ nội dung bài viết “bốn điều sai năm cũ (tứ đại ngu)” cũng bình thường thôi. Anh ấy đưa lên hay gỡ bỏ là quyền của anh ấy, việc ứng xử, hành xử của anh ấy thôi. Hơn nữa sự việc đã xảy ra rồi, nếu anh ấy thấy rút đi là phải thì tôi cũng thấy bình thường.

* Thưa ông, ông có cho rằng việc gỡ bỏ nội dung bài viết nhằm vào ông với những ngôn từ nặng nề là một sự nhìn nhận sai lầm của người viết?

– Lẽ ra câu hỏi này phải hỏi anh Phước. Còn tôi thì quan điểm trước sau như một. Những vấn đề mà anh ấy nêu lên, nếu đưa ra đúng diễn đàn để trao đổi một cách đàng hoàng thì hay hơn. Còn đưa ra như thế (chuyển tải trên mạng, blog cá nhân) thì hiệu ứng thế nào, anh Phước sẽ là người hiểu hơn tôi. Đương nhiên trong lòng chả ai thích thú gì chuyện này cả. Tôi cũng hơi buồn một chút là Quốc hội đang trên tiến trình phát triển, nhân dân tin cậy, trong khi bây giờ xảy ra chuyện như vậy thì nhân dân sẽ nghĩ thế nào về Quốc hội?

Với cá nhân tôi là không có chuyện thắng thua gì ở đây cả.

* Ông có thấy những ngôn từ dùng trong bài viết xúc phạm đến cá nhân của một đại biểu Quốc hội như ông không?

– Tôi thấy không cần thiết nói vào lúc này, lúc mà mọi cái cần để nó qua đi. Mỗi người rút ra một bài học để làm tốt hơn trong quan hệ. Nghị trường là nơi vừa bảo đảm cho đại biểu thể hiện thẳng thắn quan điểm của mình, đồng thời cũng thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau. Chúng ta đều đang phấn đấu cho những giá trị dân chủ và giá trị quan trọng nhất là biết tôn trọng ý kiến của nhau, kể cả ý kiến khác biệt. Còn việc đấu tranh để bảo vệ quan điểm của mình hay làm quan điểm của mình được mọi người công nhận thì đấy là một nỗ lực, một nghệ thuật của chính bản thân mỗi đại biểu.

* Từ hôm xảy ra sự việc đến nay, đến lúc bài viết được gỡ khỏi blog, đại biểu Hoàng Hữu Phước có gọi điện thoại, email hay gặp gỡ để trao đổi điều gì với ông không?

– Tôi chưa nhận được thông tin gì cả ngoài thông tin Văn phòng Quốc hội rất lưu ý việc này, đang tìm hiểu. Còn quan điểm của tôi đã phát biểu rất rõ ràng rồi và tôi thấy chỉ cần như thế là đủ.

* Ông nghĩ sao nếu có lời xin lỗi từ đại biểu Hoàng Hữu Phước?

– Nếu thấy đã làm một việc cần thiết phải xin lỗi và xin lỗi thì tôi cho là điều tốt. Đấy là một cách ứng xử tốt.

QUỐC THANH thực hiện  

Ông LÊ NHƯ TIẾN (phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội):Quốc hội nên có ý kiến về đề nghị bãi nhiệm đại biểu Hoàng Hữu Phước

Tôi cho rằng việc các đại biểu Quốc hội tranh luận, trao đổi với nhau là chuyện bình thường, sẽ làm tăng sức hấp dẫn và tính dân chủ trong sinh hoạt nghị trường. Tuy nhiên, việc dùng blog cá nhân để đánh giá, nhận xét đại biểu khác bằng những lời lẽ thóa mạ, thiếu tôn trọng như dùng từ “ngu”, “ngậm miệng lại”… thì không thể chấp nhận được. Đây là việc chưa có tiền lệ trong sinh hoạt nghị trường ở VN. Là người theo dõi lĩnh vực văn hóa, tôi cho rằng sẽ có nhiều người không đồng tình với cách làm của đại biểu Hoàng Hữu Phước. Cách làm này không thể chấp nhận đối với một người bình thường chứ chưa nói anh Phước là một đại biểu Quốc hội.

Tôi có đọc trên các diễn đàn mạng thì có những ý kiến đề nghị bãi nhiệm đại biểu Hoàng Hữu Phước. Tôi nghĩ các cơ quan có trách nhiệm của Quốc hội nên có ý kiến về vấn đề này.

LÊ KIÊN ghi

Luật sư NGUYỄN VĂN HẬU (phó chủ tịch Hội Luật gia TP.HCM):

Hành vi vi phạm pháp luật dân sự

Theo quy định tại điều 1 của quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội ban hành kèm theo nghị quyết số 08/2002/QH11 của Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ hai thì đại biểu Quốc hội không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước. Chính vì vậy đại biểu Quốc hội phải cẩn trọng hơn trong hành vi, ngôn ngữ của mình. Điều này càng được khẳng định hơn tại điều 3 của quy chế là đại biểu Quốc hội phải gương mẫu trong việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật, sống lành mạnh và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân, có nhiệm vụ tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật, động viên nhân dân và người thân trong gia đình chấp hành pháp luật, tham gia quản lý nhà nước. Nếu đại biểu Quốc hội vi phạm pháp luật, không tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng cũng tức là xúc phạm danh dự, uy tín của nhân dân, của Nhà nước.

Việc đại biểu Quốc hội xúc phạm một đại biểu Quốc hội khác trên một trang cá nhân và để chế độ công cộng cho mọi người cùng xem, theo tôi, là hành vi vi phạm pháp luật dân sự mà cụ thể là vi phạm vào điều 37 của Bộ luật dân sự 2005 về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của công dân. Theo đó, mỗi cá nhân đều có nghĩa vụ tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của các cá nhân khác và pháp luật sẽ bảo vệ quyền này. Một công dân nói xấu một công dân khác tại nơi công cộng thì đó chỉ là sự vi phạm pháp luật dân sự, nhưng nếu là một đại biểu Quốc hội nói xấu một đại biểu Quốc hội khác thì rõ ràng bên cạnh việc vi phạm pháp luật, quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội, vị đại biểu đó còn xúc phạm đến một hình tượng đại diện cho nhân dân khác, cũng như làm ảnh hưởng đến hình ảnh của Quốc hội.

Nguồn:  LÊ KIÊN – QUỐC THANH

Các bài viết liên quan trên kenminhthien.net

[Tham Khảo] Chuyện về Đại biểu Hoàng Hữu Phước và Đại biểu Dương Trung Quốc
Nhà sử học Dương Trung Quốc nói về bài viết “Dương Trung Quốc – Bốn điều sai năm cũ”:
Đại biểu quốc hội xúc phạm nhau: Luật chưa đề cập

 – Trả lời VietNamNet chiều 18/2, đại biểu QH TP.HCM Hoàng Hữu Phước có lời xin lỗi ông Dương Trung Quốc và thừa nhận việc tranh luận trên blog đã đi quá xa.

‘Không ngờ bị phản ứng’

Mấy ngày qua, dư luận rất quan tâm thông tin ông viết trên trang mạng Emotion phê phán “Dương Trung Quốc và bốn điều sai năm cũ” (tứ đại ngu). Lý do ông viết bài này là gì?

Thực ra, trang Emotion là một trang mạng diễn đàn của giới kinh doanh. Chủ trang này là một doanh nghiệp, người này đề nghị tôi viết vài bài. Lúc đầu chỉ tham gia thử, sau 4 năm, tôi viết đều, đến bây giờ chắc cũng được 700-800 bài rồi.

Trước đây, nói về luật Biểu tình, ông Dương Trung Quốc phát biểu tại hội trường: “Việt Nam đừng có làm cho mình trở thành một ốc đảo dị thường”. Báo chí sau đó lấy ra để đặt thành tít; khi đó tôi có viết một bài đưa lên trang Emotion.

Đại biểu QH Hoàng Hữu Phước: Thực sự tôi không lường được phản ứng của cộng đồng mạng. Ảnh: Thiện Lâm

Như vậy ngay từ năm 11/2011, tôi đã có bài “chỉnh lời” ông Dương Trung Quốc, tuy nhiên khi đấy tôi không nêu thẳng tên ông Quốc. Tôi đặt vấn đề thế nào là ốc đảo. Tại vì ông nói Việt Nam không có luật Biểu tình thì sẽ là một cái ốc đảo dị thường.

Trong bài viết, tôi nói câu này đã bị hiểu sai từ. Ý người đó muốn nói là hoang đảo chứ không phải ốc đảo. Cái ốc đảo là đẹp lắm. Ốc đảo là sự sống cả một vùng hoang mạc mà.

Sau này, ông Quốc có những phát biểu này phát biểu nọ, tôi cũng có những cái chỉnh nhưng chỉnh ở một góc độ nói trống không vậy đó. Những bài viết blog như vậy, gọi là “thuần nước đá”. Mình ví von blog như cuốn nhật ký, giống như để thùng nước đá do mình pha chế ngoài đường có đậy nắp, ai đi ngang khát nước dừng lại uống một chút.

Từ suy nghĩ đó tôi viết một bài hết sức vô tư, đăng trên trang mạng quen thuộc, không ngờ lại bị phản ứng như vậy.

Về từ ngữ tôi dẫn câu của Khổng Tử, ngày xưa ông Khổng Tử ông nói đại ngu; ngu ở đây được hiểu là cái sai nghiêm trọng thôi. Cho nên phải hiểu đây là những cái sai nghiêm trọng trong năm qua của ông Quốc. Lưu ý là tôi đã mở ngoặc Tứ Đại ngu và dẫn lời của ông Khổng Tử. Tuy nhiên với chữ Hán Việt, bây giờ người Việt Nam mình rất nhạy cảm, nghe thấy chữ “ngu” là dựng đứng lên rồi.

Phản ứng của đoàn ĐBQH TP.HCM như thế nào khi một thành viên đoàn lên mạng công kích một ĐBQH khác, thưa ông?

Sáng 18/2, thường trực đoàn ĐBQH TP.HCM cũng có gặp tôi tìm hiểu xem vì sao mình viết cái đó, có những bức xúc gì. Tôi cũng đã trả lời thẳng thắn như vừa trình bày với các bạn. Đó là với những cái thói quen viết một cách rất là trực ngôn.

Tôi suy nghĩ blog là một nhật ký mở, mình nói trong lúc nhà nước đang có quá nhiều cái để đương đầu, vậy mà ông Dương Trung Quốc liên tục nói về mại dâm, biểu tình, văn hóa từ chức… hãy để tập trung vào cái lớn.

Trong tình hình đất nước hiện nay, những kẻ xấu, các thế lực không thân thiện đang nhìn vào đất nước thì cái chuyện mình có trực ngôn, mình nêu lên, cũng như là cung cấp cho họ một cơ hội bằng vàng để họ có thể xúc xiểm QH, đại biểu QH Việt Nam. Rồi họ suy diễn tư cách của đại biểu như thế nào, môi trường QH như thế nào mà các đại biểu lại có những bức xúc không dám tranh luận ở trong nghị trường mà viết blog như thế.

Như vậy là mình tạo thời cơ cho những kẻ không có thiện cảm với Nhà nước mình. Họ có cái cớ tấn công cá nhân mình, tấn công tập thể mình đang sinh hoạt.

Còn về mặt chính kiến, tôi và ông Quốc vẫn bất đồng, và sẽ còn tranh luận nhưng phương pháp tranh luận sẽ phải khác đi.

Tôi thừa nhận là phương pháp tranh luận của mình sai khi đưa lên blog. Chính vì phương pháp sai này tôi có lời xin lỗi cá nhân ông Dương Trung Quốc.

Lẽ ra với những chỉ trích như vậy, tôi có thể viết một bức thư gửi Thường vụ QH, hay viết bài không ghi tên ông mà chỉ nêu quan điểm, theo dạng blog thì chắc là không có chuyện gì.

Tôi cũng xin khẳng định điều tôi viết là do tính bộc trực, không có ai giật dây gì cả.

Ông có lường được phản ứng dữ dội của cộng đồng mạng không?

Thực sự tôi không lường được như vậy. Hồi nãy tôi nói đó, viết rất vô tư… Kỳ này tôi lại nêu tên và cái đó là cái sai. Bởi vì, mình là đại biểu QH, ông Quốc cũng là đại biểu, trên mình còn có tập thể QH. Do vậy những căng thẳng hay bất đồng có thể trình bày trước QH thay vì blog hay diễn đàn. Đây là điều tôi phải rút kinh nghiệm.

Tôi sẽ trao đổi thẳng thắn, tranh luận trước diễn đàn QH chứ không viết blog như vừa rồi. Không chỉ trên diễn đàn QH mà ngay khi viết blog thì cũng phải để ý lời ăn tiếng nói.

Tôi xin lỗi

Nhiều cử tri TP.HCM đã tỏ ra bất bình. Họ tỏ thái độ thất vọng, thậm chí mất niềm tin vào người mà họ bỏ lá phiếu lại có những ứng xử như thế. Ông có thể nói gì với họ?

Tôi tin những điều giãi bày hôm nay, cử tri đọc sẽ hiểu thêm về tôi trước khi tôi có dịp tiếp cận để nói chuyện với cử tri. Thông qua báo VietNamNet, cử tri sẽ hiểu về tôi.

Lời bộc bạch của tôi hôm nay dứt khoát phải đi kèm theo những việc làm cụ thể trong thời gian tới. Chỉ còn hơn 2 năm làm đại biểu QH nữa thôi, mình phải làm những việc cụ thể để xứng đáng với niềm tin của cử tri.

Ông có muốn nói điều gì với ông Dương Trung Quốc không?

Thông qua VietNamNet, tôi gửi lời xin lỗi ông Dương Trung Quốc vì tôi đã sai khi sử dụng phương pháp trình bày các ý kiến qua blog. Lẽ ra tôi chỉ nên gửi thư trực tiếp, gửi thư cho lãnh đạo nơi ông Quốc và tôi cùng sinh hoạt.

Thái Thiện – Tá Lâm

Các bài viết liên quan trên kenminhthien.net

[Tham Khảo] Chuyện về Đại biểu Hoàng Hữu Phước và Đại biểu Dương Trung Quốc
ĐB Hoàng Hữu Phước xin lỗi ĐB Dương Trung Quốc
Đại biểu quốc hội xúc phạm nhau: Luật chưa đề cập

Nhà sử học Dương Trung Quốc nói về bài viết “Dương Trung Quốc – Bốn điều sai năm cũ”:

Đây là cái gì chứ không phải phản biện !

16/02/2013 2:33

Dư luận hiện đang quan tâm đến bài viết nói về “tứ đại ngu” của nhà sử học, đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Dương Trung Quốc. PV Thanh Niên đã gặp ông Dương Trung Quốc để tìm hiểu quan điểm của ông về bài viết này.

Thưa ông, ông đã đọc trọn vẹn bài viết Dương Trung Quốc – Bốn điều sai năm cũ của người ký tên là Hoàng Hữu Phước chưa? Cảm xúc khi đọc bài viết đó của ông như thế nào?

Đây là một bài lấy từ blog cá nhân nên thực lòng tôi cũng không muốn bình luận làm gì. Tuy nhiên giữa ngày tết vui như thế này đọc thấy mất vui đi một tí.

Tinh thần là không có gì đáng để bình luận. Đây là vì Báo Thanh Niên hỏi nên tôi trả lời thôi.

Trước đây, ông và ĐBQH Hoàng Hữu Phước đã bao giờ trao đổi trực tiếp về những quan điểm khác nhau mà ông Phước nêu trong bài chưa?

Cũng chỉ có một lần trao đổi liên quan đến thảo luận về luật Biểu tình thôi. Còn những việc anh ấy nêu lên, kể ra, đưa ra QH thảo luận thì cũng hay. Nhưng cũng chưa lần nào thấy anh Phước nêu ra cả.

Góc nhìn lịch sử là cách chủ đạo ông dùng để tiếp cận các vấn đề. Từ góc nhìn này, ông đánh giá ra sao về bài viết của ông Hoàng Hữu Phước? Kiến thức lịch sử liệu đã chuẩn xác. Cách đặt vấn đề liệu đã khách quan, khoa học.

Tôi cũng không đánh giá làm gì cả. Tôi thấy không cần thiết phải đánh giá làm gì cả. Vì ngôn ngữ hình như khác nhau nên không thể trao đổi được.

Đây là cái gì chứ không phải phản biện !
Bài viết Dương Trung Quốc – Bốn điều sai năm cũ đăng trên blog được cho là của ĐBQH Hoàng Hữu Phước

Hồi kỳ họp thứ 2, QH khóa 13, tháng 10.2011, ĐB Hoàng Hữu Phước từng khiến dư luận “nổi sóng” vì quan điểm về luật Biểu tình (không nên bàn luật Biểu tình trong chương trình nghị sự), nay trong bài viết bàn về “tứ đại ngu” của ông, ĐB Phước lại một lần nữa nhắc lại chuyện này. Thực chất việc này là thế nào?

Quy định về biểu tình đã có sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh cuối năm 1945 rồi.  Nó đã được thể hiện trong Hiến pháp đầu tiên rồi trong khái niệm tự do hội họp. Đặc biệt, Hiến pháp năm 1959 có hẳn một điều luật về biểu tình rồi. Và như chúng ta đã biết, ngay tại cuối kỳ họp năm 2011 đó thì Thủ tướng cũng tán thành nên có luật Biểu tình. Nên tôi thấy chẳng có gì phải bình luận về cách đặt vấn đề của ĐB Phước.

Ở một diễn đàn bình đẳng như QH thì việc các ĐB có quan điểm, chính kiến khác nhau phải được xem là rất bình thường. Ông nhận xét gì về cách “phản biện” như của ĐB Phước?

Tôi nghĩ đây chẳng thể gọi là phản biện. Đây là cái gì chứ không phải phản biện. Dẫu sao thì anh Phước cũng đang là ĐBQH của TP.HCM, một thành phố có nhiều trí thức lớn. Nên tôi thấy chuyện này để bà con cử tri phát biểu ý kiến bình luận thì hay hơn. Cứ để đồng bào TP.HCM suy nghĩ về người ĐB của mình thôi.

Cấm các ĐBQH xúc phạm, thóa mạ lẫn nhauTrao đổi với Thanh Niên chiều 15.2, Phó chủ tịch QH Uông Chu Lưu cho biết ông chưa có điều kiện tìm hiểu rõ thực hư sự việc ĐBQH Hoàng Hữu Phước viết trên blog cá nhân về ĐB Dương Trung Quốc, song theo quan điểm của ông Lưu, việc ĐBQH trao đổi mà lại có tính chất mạt sát nhau, xúc phạm nhau là hoàn toàn không nên. “Anh có thể phát biểu chính kiến quan điểm của anh với những lập luận, lý lẽ thuyết phục, có văn hóa, xây dựng nhưng không thể thóa mạ, xúc phạm nhau”, Phó chủ tịch QH nói.Ông đồng thời cho biết, trong các nội quy của kỳ họp của QH, quy chế về hoạt động của ĐBQH cũng đều cấm các ĐBQH xúc phạm, thóa mạ lẫn nhau, không chỉ trong kỳ họp mà cả hoạt động của ĐB giữa hai kỳ họp. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có quy định chế tài xử lý hành vi này.Bảo Cầm

Trinh Nguyễn
(thực hiện)

 Các bài viết liên quan trên kenminhthien.net

Nhà sử học Dương Trung Quốc nói về bài viết “Dương Trung Quốc – Bốn điều sai năm cũ”:
ĐB Hoàng Hữu Phước xin lỗi ĐB Dương Trung Quốc
Đại biểu quốc hội xúc phạm nhau: Luật chưa đề cập

Dương Trung Quốc: Bốn Điều Sai Năm Cũ (Tứ Đại Ngu)

Hoang Huu Phuoc, MIB

Phàm ở đời, cứ luận cổ suy kim thì các nhận định của Thầy Khổng cùng môn đồ ắt không phải không có phần đúng và có thể trên nền đúng cổ đó mà phát triển xum xuê kim thêm rằng (a) người nào khi mẹ cha sinh ra đời đã tự mình biết tất tần tật lẽ phải điều hay ấy là đấng thánh nhân; (b) người nào sinh ra đời biết tự mình tìm đến bậc thầy thiên hạ để quỳ xin theo chí thú học hành tới nơi tới chốn để biết lẽ phải điều hay là đấng đạt nhân; (c) người nào sinh ra đời nhờ mẹ cha chọn thỉnh bậc thầy thiên hạ đến dạy mà trở nên biết lẽ phải điều hay là đấng hiền nhân; (d) người nào vừa không được – hoặc không có – mẹ cha biết chọn bậc thầy thiên hạ, vừa bản thân cũng chẳng biết ai là bậc thầy thiên hạ để quỳ xin theo học tập để biết lẽ phải điều hay là người không có phúc phận; (e) người nào đã được mẹ cha chọn thỉnh bậc thầy thiên hạ đến dạy nhưng dù cố gắng học hành kết quả học tập cũng không khá hơn được, khiến chẳng thể phân biệt lẽ phải điều hay, là người ngu; (f) còn người nào dù có điều kiện hơn thiên hạ vẫn vừa không biết ai là bậc thầy trong thiên hạ để tìm đến quỳ lạy người ấy xin theo học, vừa bê tha bê bối bê trễ việc học tập học hỏi học hành nên không thể biết lẽ phải điều hay, lại hay to mồm phát ngôn toàn điều càn quấy là kẻ đại ngu. Nay thiên hạ trong cơn u u minh minh tối tối sáng sáng của thời Mạt Pháp lúc tôn giáo suy đồi, sư sãi ngứa ngáy nhảy cà tưng cà tưng trên nóc ô-tô rống loa kích động chống lại chính quyền, linh mục điên loạn gào thét co giò đạp đổ vành móng ngựa giữa chốn pháp đình uy nghiêm khiến ngay ngoại bang cũng phải giật mình cười chê còn Tòa Thánh cũng buộc phải ngó lơ, chân lý lung lay, tà mỵ huyễn hoặc hoành hành dù nhấp nha nhấp nhổm rúc chui cống đấy cống này blog nọ blog kia cũng rống loa rao truyền sứ điệp, Lăng Tần tôi đây theo sách thánh nhân xin góp một đường chổi quét, vừa thử nêu bật phân tích Dương Trung Quốc như một tấm gương cho giới trẻ xem qua điều dở, nghiệm lấy điều ghê, vừa thử xem đối tượng được phân tích này có nhờ vậy học được đôi điều để cải hóa mà bớt xấu đi chăng.

Giới Thiệu Đôi Nét Về Dương Trung Quốc:

Dương Trung Quốc quê quán tỉnh Bến Tre, sống ở Hà Nội, trình độ học vấn: tốt nghiệp đại học môn Sử, tự dưng có danh xưng “Nhà Sử Học” trên trời rơi xuống, không rõ do tự xưng hay do thuộc hạ tung hê, ắt do ở Việt Nam và trên thế giới chỉ có “Thạc sĩ” và “Tiến sĩ” mới được gắn học vị vào tên, chứ “tốt nghiệp đại học” (tức “Cử nhân”) hay “tốt nghiệp phổ thông” (tức “Tú tài”) thì theo quy định bất thành văn của thời hiện đại không được nêu ra kèm theo tên họ, nên tức mình đau mẩy phải áp cụm từ “nhà sử học” vào tên để cho có với người ta chăng. Tuy nhiên, việc Dương Trung Quốc không chọn danh xưng “Sử Gia” cũng là một điều khá khen là khôn ngoan, vì đã là “sử gia” thì phải là giáo sư tiến sĩ Sử, dù trong tiếng Hán Việt thì “gia” cũng là “nhà”, nhưng “gia” thì … to lắm, thế nên mới có chuyện các nhà tài phiệt chỉ được gọi là “đại gia” chứ đố ai dám vặn vẹo kiểu “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” mà nói đó là…“nhà lớn

Nhất Đại Ngu của Dương Trung Quốc:  Đĩ

Cái đại ngu thứ nhất của Dương Trung Quốc là lập lại lời thiên hạ thế gian này hay nói khi  tuyên bố danh chính ngôn thuận giữa nghị trường quốc hội rằng mại dâm là nghề cổ xưa nhất của nhân loại, rằng các nước luật hóa mại dâm nên Việt Nam đừng có đạo đức giả nữa đối với nghề mại dâm mà phải công nhận nghề này, và rằng nhất thiết phải đưa mại dâm lên bàn nghị sự của quốc hội. Ba điểm Dương Trung Quốc nêu lên cho thấy những bảy điều xằng bậy như sau:

1) Mại dâm không là nghề cổ xưa nhất của nhân loại mà là nghề…đạo chích, tức trộm cắp. Thánh Kinh Cựu Ước của Thiên Chúa Giáo có cho biết thủa hồng hoang mới có một nam tên Adam và một nữ tên Eva, tất nhiên chưa thể phát sinh nhu cầu giải quyết sinh lý với người nữ khác nên chưa thể có mại dâm. Song, Eva và Adam đã đồng lõa ăn trộm trái táo xơi để khai sinh ra ngành công nghiệp thời trang cho nhân loại. Việc to mồm nói mại dâm là nghề cổ xưa nhất chỉ có thể là lời khẳng định sự bó tay của nhân loại trước thân phận bọt bèo của nữ giới và tệ nạn của ma cô đàng điếm, của “nô lệ tình dục”, và của “sex trade” chứ sao lại vin vào đó để đòi “công nhận” là một “nghề” chính danh chính thức?

2) Cũng trong chương Sáng Thế Ký Genesis của Thánh Kinh Cựu Ước của Thiên Chúa Giáo có ghi việc Chúa Trời sai các thiên sứ bay đến hai thành phố Sodom và Gomorrah vung gươm tàn sát giết sạch nam (đàn ông), phụ (phụ nữ), lão (bô lão), ấu (trẻ em, hài nhi) để trị tội dâm ô đồi trụy. Tuy Genesis không có nêu đặc biệt vấn đề đĩ điếm mại dâm nữ, song trong các chương khác của Thánh Kinh Cựu Ước và Thánh Kinh Tân Ước của Thiên Chúa Giáo như Châm Ngôn (Proverbs 23:27-28), Lu-ca (Luke 7:36-50), Ma-thi-ơ (Matthew 21:31-32) và II Cô-rinh-tô (II Corinthians 5:17), v.v. đều ghi rõ Đức Chúa Trời và Đức Chúa Jesus sẵn sàng xóa sạch “tội lỗi” cho đĩ điếm nào tin vào Chúa. Đã là “tội lỗi” ắt đó không bao giờ là “nghề nghiệp” cả.

3) Dương Trung Quốc là đại biểu quốc hội ứng cử tại địa bàn tỉnh Đồng Nai là nơi có rất nhiều giáo xứ. Tôi đã là giáo viên chủ nhiệm một lớp do tỉnh Đồng Nai gởi đến nhờ trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh giúp đào tạo nên một đội ngũ giáo viên tiếng Anh thật giỏi để phục vụ ngành giáo dục tỉnh Đồng Nai. Đa số các sinh viên này của tôi đều thuộc gia đình công giáo, và những chuyến đi thăm phụ huynh tại Đồng Nai, dù đó là thành phố Biên Hòa, hay thị trấn Xuân Lộc, Long Khánh, Long Thành, v.v., cho tôi cảm nhận được mức độ đạo hạnh cao, mẫu mực gia phong tốt lành nơi các gia đình và nơi bản thân các sinh viên này. Việc Dương Trung Quốc phát biểu linh tinh về mại dâm là việc làm không chút khôn ngoan do động đến vấn đề liên quan đến đạo đức mà Kinh Thánh đã nêu và các cử tri là giáo dân các giáo xứ tỉnh Đồng Nai khó thể chấp nhận được sự xúc phạm, nhất là kiểu ăn nói quàng xiên rằng “không công nhận mại dâm tức là đạo đức giả”.

4) Dương Trung Quốc đã hoàn toàn không biết gì về ý nghĩa của cụm từ “đạo đức giả” cũng như các minh họa làm rõ nghĩa cụm từ này trong thực tế đời sống, trong thực tế hùng biện hàn lâm, và trong thực tế tôn giáo, mà tôi sẽ biện luận làm rõ trong một bài viết sau này.

5) Dương Trung Quốc đã hoàn toàn không biết rằng ngay tại Mỹ chỉ có vài tiểu bang và tại các tiểu bang này chỉ có một hay hai thị trấn đưa mại dâm vào danh sách “nghề” để quản lý. Mà ngay cả khi thế giới đảo điên này có công nhận “nghề” mại dâm, cũng không phải là lý do để đặt đĩ nằm chình ình trên bàn nghị sự của quốc hội Việt Nam!

6) Dương Trung Quốc đã không có tầm nhìn bao quát, sâu rộng, về vấn đề mại dâm. Dương Trung Quốc chỉ nghĩ đến mại dâm như việc đơn giản người phụ nữ có quyền bán thân để kiếm tiền và để đáp ứng nhu cầu xã hội. Dương Trung Quốc hoàn toàn không biết rằng mại dâm bao gồm đĩ cái, đĩ đực, đĩ đồng tính nữ, đĩ đồng tính nam, và đĩ ấu nhi. Dương Trung Quốc hoàn toàn không biết rằng khi “công nhận” cái “nghề đĩ” để “quản lý” và “thu thuế”, thì phát sinh … nhu cầu phải có trường đào tạo nghề đĩ thuộc các hệ phổ thông đĩ,cao đẳng đĩđại học đĩ; có các giáo viên và giáo sư phân khoa đĩ; có tuyển sinh hàng năm trên toàn quốc cho phân khoa đĩ; có chương trình thực tập cho các “môn sinh” khoa đĩ; có trình luận văn tốt nghiệp đĩ trước hội đồng giảng dạy đĩ; có danh sách những người mua dâm để tuyên dương vì có công tăng thu nhập thuế trị giá gia tăng cho ngành công nghiệp đĩ; có chính sách giảm trừ chi phí công ty hay cơ quan nếu có các hóa đơn tài chính được cấp bởi các cơ sở đĩ, đặc biệt khi cơ quan dùng vé “chơi đĩ cái” tặng nam nhân viên và vé “chơi đĩ đực” cho nữ nhân viên nào ưu tú trong năm tài chính vừa qua; ban hành quy định mở doanh nghiệp cung cấp đĩ, trường dạy nghề đĩ, giá trị chứng chỉ văn bằng đĩ trên cơ sở so sánh giá trị nội địa, khu vực, hay quốc tế; và có các hướng dẫn về nội dung tờ bướm, tờ rơi, bảng quảng cáo ngoài trời, quảng cáo bên hông xe buýt và trên thân máy bay, cũng như quảng cáo online về đĩ, tập đoàn đĩ lên sàn (chứng khoán), v.v. và v.v.

7) Dương Trung Quốc đã không thể phân biệt giữa nội dung “nhân quyền” tức “quyền con người” trong việc “tự do bán thân”, với “quyền công dân” mà một đạo luật đĩ  có thể điều chỉnh hành vi.  Việt Nam đã chấm dứt việc bố ráp đưa mại dâm nữ vào cơ sở chữa bệnh-phục hồi nhân phẩm, và đây là do Việt Nam tôn trọng “quyền con người”. Còn việc ra sức giáo dục, tuyên truyền để hạn chế sự hoành hành tác tệ của mại dâm đối với trật tự xã hội, nhân cách công dân, đạo đức xã hội, v.v., là việc mà nhà nước nào, dù thần quyền hay thế tục, đều cố gắng làm tốt. Dương Trung Quốc dường như rất vô tư đối với nội hàm làm băng hoại xã hội Việt Nam, cứ như xuất phát từ lòng căm thù bịnh hoạn nào đó đối với chế độ hiện tại của nước này vậy.

Nhị Đại Ngu của Dương Trung Quốc: Đa Đảng

Trong một video clip trả lời phỏng vấn của PhốBolsaTV, Dương Trung Quốc đã vừa nháy mắt vừa nói với nhà báo rằng các anh ấy ở Việt Nam Cộng Hòa nên biết rõ thế nào là “đa đảng”. Có cái mác “Nhà Sử Học” nhưng Dương Trung Quốc đã hoàn toàn không biết gì về lịch sử Việt Nam Cộng Hòa. Như tôi đã nói rõ trong nhiều bài viết trên các trang mạng, Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn không có bất kỳ đảng phái chính trị nào cả! Chỉ đến năm 1974 Nguyễn Văn Thiệu mới thành lập cái gọi là Đảng Dân Chủ, với đảng kỳ là cờ vàng sao đỏ, có cùng kích cỡ như cờ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (trước 1975) và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (từ sau 1975 đến nay), và với Nguyễn Văn Thiệu làm Đảng Trưởng. Buổi lễ thành lập Đảng Dân Chủ của Nguyễn Văn Thiệu được tổ chức tại nơi mà nay là Trung Tâm Thể Thao Quận Bình Thạnh, gần Ủy Ban Nhân Dân Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là chi tiết mà không bất kỳ một người Mỹ gốc Việt nào biết trước khi đọc thông tin của tôi đăng trên các blog. Ăn nói hồ đồ và xằng bậy về Việt Nam Cộng Hòa là điều đại ngu thứ hai của Dương Trung Quốc.

Tam Đại Ngu của Dương Trung Quốc: Biểu Tình

Tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội Việt Nam khóa XIII, tháng 10 năm 2011, sau khi phát biểu xong về sự cần thiết có cái gọi là “Luật Biểu Tình”, Dương Trung Quốc nổi nóng khi nghe đại biểu Hoàng Hữu Phước phát biểu phân tích về ngữ nghĩa, ngữ nguyên, và lịch sử xuất hiện của cụm từ “protest demonstration” trong tiếng Anh mà tiếng Việt đã dịch sai thành “biểu tình” để từ đó kiến nghị chưa thể đưa lên bàn nghị sự cái gọi là “luật biểu tình” do ý tứ chưa thông, chắc chắn sẽ gây cảnh rối loạn an ninh trật tự. Vì nổi nóng trước hiện tượng chưa từng có tiền lệ tại quốc hội Việt Nam khi đại biểu Hoàng Hữu Phước được nghị trường vỗ tay đồng tình, Dương Trung Quốc đã có cái đại ngu thứ ba, gồm 5 điều xằng bậy sau:

1) Nhấn nút phát biểu tiếp lần thứ hai để chống lại đại biểu Hoàng Hữu Phước, biến nghị trường quốc hội thành nơi đấu khẩu, chà đạp “tự do ngôn luận”, trong khi nhiều trăm đại biểu khác đang chờ đến lượt họ phát biểu, như vậy đã giành giật thời gian chính đáng chính danh chính thức chính đạo của – và gây thiệt thòi cho – 499 đại biểu quốc hội thuộc các tỉnh khác của Việt Nam.

2) Do hấp tấp, hiếu chiến, háo thắng, Dương Trung Quốc đã nói xằng bậy rằng “biểu tình” xuất hiện đầu tiên tại Chicago thế kỷ XIX, vì nếu không có kiến thức về ngữ nguyên học, không ai dám tự xưng là “nhà sử học” cả, vì sẽ đến ngày Dương Trung Quốc tuyên bố “biểu tình” đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam đời Nhà Trần với cuộc “biểu tình Diên Hồng”.

3) Do hấp tấp, hiếu chiến, háo thắng, Dương Trung Quốc đã nói xằng bậy rằng đại biểu quốc hội không đại diện cho dân mà chỉ cho cá nhân, và như vậy chính Dương Trung Quốc khẳng định Dương Trung Quốc không đại diện cho cử tri Tỉnh Đồng Nai, tức là từ chối đại diện cho cử tri Tỉnh Đồng Nai, càng không đại diện cho bất kỳ người dân Việt nào. Đó là chưa kể Dương Trung Quốc không những xúc phạm 499 đại biểu quốc hội Việt Nam, mà lại còn nhổ toẹt vào các đạo luật về tổ chức quốc hội Việt Nam.

4) Do hấp tấp, hiếu chiến, háo thắng, Dương Trung Quốc đã nói xằng bậy rằng đại biểu Hoàng Hữu Phước hãy nghiên cứu trước khi phát biểu, mà không thể hiểu rằng đại biểu thạc sĩ Hoàng Hữu Phước luôn có trách nhiệm trong từng lời phát biểu tại nghị trường và nghiên cứu sâu về lịch sử Việt Nam Cộng Hòa và lịch sử các từ ngữ tiếng Anh trong tương quan tiếng Việt.

5) Do hấp tấp, hiếu chiến, háo thắng, Dương Trung Quốc đã tự làm lộ cho toàn quốc biết rằng Dương Trung Quốc không biết ngoại ngữ trong khi bản thân là “nhà sử học”.

Tứ Đại Ngu của Dương Trung Quốc: Văn Hóa Từ Chức

Tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội Việt Nam Khóa XIII tháng 11 năm 2012, Dương Trung Quốc đã phát biểu chất vấn tại nghị trường quốc hội, đặt vấn đề “văn hóa từ chức” với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người lúc đó đang phải giải quyết các sai phạm nghiêm trọng xảy ra tại các tập đoàn kinh tế Vinashin và Vinaline. Đến khi nghe Thủ tướng trả lời hùng biện, chân thiết, khúc chiết, thấu lý đạt tình, nhận được sự tán dương của 496 đại biểu quốc hội (trừ 1 đại biểu bị miễn nhiệm, 1 đại biểu qua đời khi tại nhiệm, bản thân thủ tướng, và bản thân Dương Trung Quốc), Dương Trung Quốc đã vội vàng nói thêm rằng Dương Trung Quốc sở dĩ đặt câu hỏi là để xem Thủ tướng trả lời thế nào, và với nội dung Thủ tướng vừa đối đáp thì nhân dân yên tâm, tức là đã “an dân”. Dương Trung Quốc trong cái đại ngu thứ tư này đã phạm 3 điều xằng bậy như sau:

1) Thủ tướng – trên nguyên tắc và lý thuyết tổ chức – đứng đầu tất cả các Bộ. Như vậy, Bộ Quốc Phòng giữ yên bờ cõi, ấy là đại công. Bộ Công An đập nát phản động, tiêu diệt bạo loạn, trừng trị tội phạm, ấy là đại công. Bộ Ngoại Giao đem lá cờ đỏ sao vàng tung bay thắng lợi đối ngoại trên toàn thế giới, ấy là đại công. Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn và Bộ Công Thương lập kỳ tích xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới, ấy là đại công. Bộ nào cũng lập công, vấn đề là công nhiều hay ít, nhiều hơn hay ít hơn những khó khăn đang tồn tại. Như vậy, cái đạo lý nào cho phép Dương Trung Quốc hỗn xược thách đố Thủ tướng có dám từ chức hay không, khi quản lý yếu kém để Vinashin và Vinaline gây thất thoát tiền của quốc gia? Đạo lý xưa nay của riêng dân Việt là đánh giá rất cao việc đoái công chuộc tội. Đạo lý xưa nay của riêng dân Việt là công bằng, công minh, công chính. Đạo lý xưa nay của riêng dân Việt là dung hòa nhuần nhuyễn giữa lý và tình nên luôn khoan hòa và thiếu tính cực đoan. Dương Trung Quốc loạn ngôn, dám đem việc Vinashin và Vinaline ra để hỗn láo với Thủ tướng, làm lơ các đại công của các Bộ khác, mà – như đã nói ở trên – đều thuộc dưới quyền Thủ tướng. Thử hỏi, nếu Vinashin không làm thất thoát một xu con nào, nhưng Bộ Quốc Phòng làm mất nhiều tỉnh vào tay quân giặc, Bộ Nông Nghiệp gây ra nạn đói, Bộ Y Tế để dịch bệnh tràn lan, và Bộ Công An bó tay trước bạo loạn đốt phá, v.v., thì đất nước này sẽ ra sao. Dương Trung Quốc đã mị dân khi hùng hổ phát biểu như thể chỉ có Dương Trung Quốc mới “dám” chất vấn như thế. Cái cực đoan, phủ nhận công, phi lý, và bất công là những thứ ngoại lai mà Dương Trung Quốc đã hấp thụ từ bọn giặc nào để tự tung tự tác nơi nghị trường quốc hội Việt Nam như thế? Vinashin là rắn có đầu, và luật pháp nghiêm minh phải xử lý nặng những cái đầu ấy, tức những chức sắc hưởng lương của Vinashin để làm lãnh đạo Vinashin và làm Vinashin phá sản. Đặt vấn đề “văn hóa từ chức” phải chăng hàm ý rằng cứ từ chức là sẽ được “hạ cánh an toàn”, xem như đã giải quyết xong vụ việc?

2)  Dương Trung Quốc và một bộ phận nhỏ người Việt thường đem những thứ ngoại lai làm chuẩn mực cho các so sánh với nội tại của Việt Nam mà thiếu sự hiểu biết thấu đáo, mà cái gọi là “văn hóa từ chức” là một ví dụ. Chính họ nhìn hiện tượng ở nước ngoài rồi tự đặt ra cụm từ “văn hóa từ chức” với sự thán phục, trong khi thực ra chẳng có gì để mà gọi đó là “văn hóa”. Khi một tai nạn thảm khốc xảy ra tại một nước tư bản, Bộ Trưởng Giao Thông Vận Tải nước ấy lập tức từ chức. Đó là quy định bất thành văn để giúp “Đảng” có được 3 điều như (a) thoát được cơn thịnh nộ của người dân, (b) Đảng không bị tổn hại trong kỳ bầu cử tiếp theo, và (c) giữ toàn vẹn danh tiếng và nguồn thu cho các nhà tư bản chủ nhân các công ty chế tạo xe hỏa hoặc tàu bè hoặc máy bay lâm nạn vì các nhà tư bản này cung cấp tài chính cho “Đảng”. “Nhận trách nhiệm quản lý yếu kém” và từ chức, biến tai nạn không phải do lỗi kỹ thuật thiết bị công nghiệp, và người từ chức sẽ được đền ơn bằng cách có một chức vụ cao cấp tại một trong những công ty tư bản ấy. Đây là việc mà bất kỳ ai cũng có thể kiểm chứng dễ dàng từ các nguồn thông tin mở. Làm gì có cái “văn hóa” và cái “tinh thần trách nhiệm” trong cái gọi là “từ chức” trong thế giới tư bản mà cứ tôn vinh, ca ngợi, và thán phục đến độ hỗn láo đem ra lập thành tích “chất vấn như Dương Trung Quốc đã làm.

3) Khi nhanh nhảu tự cứu mình trước cảnh thất bại vì không thể làm Thủ tướng bối rối hoặc mang nhục trước quốc dân, Dương Trung Quốc đã cho rằng câu chất vấn là để xem Thủ tướng trả lời ra sao. Nghị trường Quốc hội là nơi họp bàn các vấn đề trọng đại của quốc gia, thế mà Dương Trung Quốc sử dụng để test (thử nghiệm) xem Thủ tướng có tài hùng biện không. Nghị trường Quốc hội là nơi họp bàn các vấn đề trọng đại của quốc gia, thế mà Dương Trung Quốc sử dụng để ban ân cho Thủ tướng có cơ hội trổ tài hùng biện để “an dân” hầu ghi điểm son với toàn dân. Nghị trường Quốc hội là nơi họp bàn các vấn đề trọng đại của quốc gia, thế mà Dương Trung Quốc sử dụng để đánh bóng tên tuổi của Dương Trung Quốc như nhân vật đại diện toàn dân tộc để nói lên tấm lòng của toàn dân tộc rằng toàn dân tộc đã an lòng, yên tâm trước câu trả lời chất vấn hùng biện của Thủ tướng, từ đó toàn tâm toàn ý ngưỡng mộ Thủ tướng và tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo anh minh tài ba của Thủ tướng. Từ ngữ “an dân” của Dương Trung Quốc mang nội hàm bao gồm tất cả những ý tứ như thế. Và thật khó hiểu, không rõ Dương Trung Quốc đã “lập đại công” với Thủ tướng, hay Dương Trung Quốc đã phạm đại ngu thứ tư này.

Thay Lời Kết:

Dựa theo lời Thầy Khổng từng phán, cố thể nói rằng ai muốn có điều Nhân mà không muốn học thì bị cáiNgu che mờ, muốn ta đây đầy Trí mà không muốn học đến nơi đến chốn thì bị cái Thấp Kiến bịt trí, muốn mình có chữ Tín mà không muốn học cho nên người thì bị cái Hại Nghĩa kéo lôi, muốn khoe ta có Trực mà không muốn học cho nên người thì bị cái Ngang Ngạnh làm cho u mê, muốn Dũng mà không muốn học cho thành bậc đạt nhân thì bị cái Loạn làm cho u tối, còn muốn Cương mà không chịu học hành thì bị cái Lồng Lộn làm cho ám áng.

Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “biểu tình” là chứng tỏ ta đây có lòng “Nhân” thương dân bị chính phủ làm cho khốn khổ, không ngờ đó lại là “Ngu” vì tự hét lên cho toàn nhân loại biết chính mình không hiểu ý nghĩa tiếng Việt cao siêu và không rành ngoại ngữ khi Đại biểu Hoàng Hữu Phước luận giải về “từ nguyên Anh ngữ” của  cụm từ “protest demonstration”.

Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “đĩ” là chứng tỏ ta đây có trình độ “Trí” muốn nữ công dân – trong đó có các nữ nhân thuộc gia tộc Dương Trung Quốc –  có quyền tự do sử dụng vốn tự có để kinh doanh phát triển ngành công nghiệp bán dâm, không ngờ đó lại là cái “Thấp Kiến” của phường vô hạnh vô đạo đức vô lại vô duyên, dễ đem lại danh xưng “Nhà Đĩ Học” bên cạnh “Nhà Sử Học”.

Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “đĩ” – “biểu tình” – “đa đảng” – “văn hóa từ chức” là chứng tỏ ta đây có uy “Tín” với dân nên được dân gởi gắm tâm tư nguyện vọng về “đĩ” – “biểu tình” – “đa đảng” – “văn hóa từ chức”, không ngờ đó lại là điều hỗn với dân và do đó “Hại Nghĩa.”

Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “đĩ” – “biểu tình” – “đa đảng” – “văn hóa từ chức” là chứng tỏ ta đây có lòng trung “Trực” nói thẳng ra những điều tối thượng mà toàn dân ao ước, cả nước chờ mong, dân tộc đón chào, không ngờ đó lại là do “Ngang Ngạnh” nói càn, luận bừa, sai be sai bét, phản hàn lâm, bất tri, vô trí.

Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “văn hóa từ chức” là chứng tỏ ta đây có cái  “Dũng” dám kêu Thủ Tướng Dũng đương đầu với câu hỏi “khó”, mà không ngờ đó lại chứng tỏ chính Dương Trung Quốc là “Loạn” vì không phân biệt chính-phụ, không rõ ngay-gian, nên phạm ba “loạn” gồm (a) “loạn ngôn” khi đổi trắng thay đen muốn đem một việc hỏng ra phủ định ngàn việc đạt cứ như đây là thời phong kiến hay tay sai đế quốc-thực dân, (b) “loạn hành” khi cho nghị trường là nơi để Dương Trung Quốc sử dụng “kiểm tra’ tài đối đáp của Thủ tướng, và (c) “loạn trí” khi đối đáp phản pháo trên cơ sở không nghiên cứu, chẳng nền tảng cơ sở dẫn chứng nghiêm túc, và nào có kiến thức ngoại ngữ trong thời buổi hiện đại này.

Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “đĩ” – “biểu tình” – “đa đảng” – “văn hóa từ chức”  là chứng tỏ ta đây có cái  “Cương”, biết khi thời cơ đến thì phải tỏ ra cứng rắn mới chống được cường quyền, mới phục vụ được nhân dân, mà không ngờ đó chỉ là sự “Lồng Lộn” của kẻ thất phu, bất tài, vô hạnh. Trong bối cảnh tình hình phức tạp ở Biển Đông và đất nước còn bao nỗi lo toan khác thì những phát biểu về “ đĩ-biểu tình-đa đảng-văn hóa từ chức” của “nhà sử học” Dương Trung Quốc tại nghị trường lại càng trở thành một mớ hỗn độn và hỗn loạn. Lẽ ra Dương Trung Quốc nên ngậm miệng lại để các đại biểu khác có thời gian hiến kế làm đất nước hùng cường, quân đội hùng mạnh, dân tộc hùng anh, quốc gia thái bình thịnh vượng, dân chúng lạc nghiệp an cư, mới đúng là “quốc thái, dân an” đẳng cấp thánh nhân chứ không phải “an dân” kiểu hàm hồ của Dương Trung Quốc.

Thầy Khổng có phán rằng: “Tranh luận nhỏ nhặt thì hại nghĩa, nói nhảm thì phá đạo lý.” Lăng Tần tôi xuất thân nghề giáo, đến nay vẫn được môn sinh gọi là Thầy Phước, nhận thấy cái chuỗi “đĩ” – “biểu tình” – “đa đảng” – “văn hóa từ chức” là chuyện lớn đến độ Dương Trung Quốc đòi để “đĩ” nằm lên bàn nghị sự quốc hội quốc gia, đồng thời với việc Dương Trung Quốc nói nhảm nói nhí, nên trước việc hại nghĩa và phá đạo lý ấy, Thầy Phước tôi không thể không phụ lời giáo huấn của Thầy Khổng, đành chắc lưỡi lập lại nguyên văn lời của Thầy Khổng rằng: “Ôi! Người ta chẳng nói thì thôi, nói ra có đúng lẽ mới nói!

Người ta” ắt không phải nói chung bàng dân thiên hạ, mà là “ta đây” vậy.

Nhất Thạc Bàn Cờ, Lăng Tần Hoàng Hữu PhướcNhà Việt Nam Cộng Hòa Học, Nhà Biểu Tình Pờ-rô-tét Đì-mông-sờ-tra-sân Học, Nhà Đa Đảng Học, Nhà Lưỡng Đảng Học, Nhà Độc Đảng Học, Nhà Tiếng Anh Học, Nhà Thánh Kinh Học, Nhà Đủ Thứ Học Học

Máy nhắn tin: 0988898399

Email: hhphuoc@yahoo.com

Blogs: http://antichina.blog.comhttp://hoanghuuphuocvietnam.blog.comhttp://hhphuoc.blog.com

Tham khảo:

– Phát Biểu Tại Quốc Hội Về Luật Biểu Tình & Luật Lập Hội. 17-11-2011. http://www.emotino.com/bai-viet/19390/phat-bieu-tai-quoc-hoi-ve-luat-tinh-lap

– Ngôn Ngữ Méo Mó – Về Các Phát Biểu Gần Đây Liên Quan Đến Dự Án Luật Biểu Tình. 20-11-2011.http://www.emotino.com/bai-viet/19398/ngon-ngu-meo-mo

(nguồn: blog Hoàng Hữu Phước)

Đối với xã hội vẫn còn thiên về nông nghiệp như nước ta hiện nay thì việc hội nhập văn hóa với thế giới vẫn là điều rất cần phải bàn luận cho thấu đáo và kỹ càng.

Người xưa nói “sai một li, đi một dặm”. Muốn hội nhập “bàn cờ lớn” thế giới, chúng ta quyết không thể nóng vội, để tránh những bước đi sai lầm. Nhất là trong vấn đề “cải cách” những giá trị văn hóa truyền thống.

Tết “ta” có tự bao giờ?

Mặc dù Tết “ta” (hay Tết Âm lịch) có nguồn gốc từ Trung Quốc nhưng việc tính lịch của người Trung Quốc cũng rất khoa học. Nếu dương lịch của phương Tây tính theo chu kỳ của mặt trời, thì âm lịch của Trung Quốc lại tính theo chu kỳ của mặt trăng.

Lịch Thái sơ của người Trung Quốc được sử dụng từ khoảng năm 104 trước Công nguyên quy định tháng Chạp là tháng cuối năm, tháng Giêng là tháng đầu năm. Từ việc xác định này, người dân Trung Quốc đón năm mới vào khoảng thời gian từ đầu tháng Giêng. Thực tế, so với dương lịch, việc xác định năm mới từ tháng Giêng hợp qui luật thiên nhiên hơn, vì lúc này cỏ cây mới nảy mầm, mới khai hoa, mở đầu một chu kỳ sinh trưởng mới.

Nguyên nghĩa của từ “Tết” chính là “tiết”. Văn hóa Đông Á – thuộc văn minh nông nghiệp lúa nước – do nhu cầu canh tác nông nghiệp đã “phân chia” thời gian trong một năm thành 24 tiết khác nhau (và ứng với mỗi tiết này có một thời khắc “giao thời”). Trong đó tiết quan trọng nhất là tiết khởi đầu của một chu kỳ canh tác, gieo trồng, tức là Tiết Nguyên đán sau này được biết đến là Tết Nguyên đán.

Tết Nguyên đán là lễ tết đầu tiên của một năm. Tết được bắt đầu từ lúc giao thừa cùng với lễ trừ tịch. Theo chữ Hán, “Nguyên” có nghĩa là bắt đầu, “Đán” là buổi sớm mai. Tết Nguyên đán tức là Tết bắt đầu của năm, mở đầu cho mọi công ăn việc làm với tất cả mọi cảnh vật đều mới mẻ đón xuân sang.

Thứ hai, quy luật của văn hóa là phép bù, trừ. Nghĩa là đối với văn hóa, cái gì thiếu thì phải bổ sung cho đủ, nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn. Cái gì thừa thì phải cắt bỏ, cũng là vì những lý do tương tự.

Tết Âm lịch của người Trung Quốc cũng được người Việt chấp nhận như một dạng thức văn hóa để thích nghi và sinh tồn. Dù nó được du nhập ban đầu bằng con đường “đô hộ”. Về vấn đề này, Gs Nguyễn Anh Trí, Viện trưởng Viện Huyết học – Truyền máu TƯ đã nêu quan điểm rằng:

“Ai cũng biết, Tết Âm lịch đã có hàng ngàn năm nay nên đã trở thành “cổ truyền”. Nhưng cũng cần lưu ý lịch âm có nguồn gốc là lịch Trung Quốc. Trung Quốc là nước láng giềng chúng ta, có một nền văn hóa đồ sộ. Mặt khác, hàng ngàn năm trước đây Việt Nam “hội nhập” với Trung Quốc là chủ yếu. Việc dùng lịch Trung Quốc, ăn Tết như Trung Quốc nằm trong bối cảnh này”.

Điều này hoàn toàn phù hợp với định nghĩa về văn hóa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu lên: “Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt, cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra, nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” (Hồ Chí Minh toàn tập, tập 3, NXB CTQG, HN, 2000, tr 431).

 

Bắn pháo hoa chào đón năm mới bên hồ Gươm

 

Tuy nhiên, cũng phải nhìn nhận rằng, Tết “ta” không phải nguyên xi là Tết Trung Quốc 100%. Vậy Tết Âm lịch Việt Nam khác Tết Âm lịch Trung Quốc ở điểm gì?

Đó là tục nấu bánh chưng, bánh tét có từ thời Hùng Vương. Đó là truyền thống: “Mồng Một tết cha, mồng Hai Tết mẹ, mồng Ba tết thầy”. Riêng đối với Tết ở Huế, cố đô của Việt Nam chúng ta sẽ thấy nhiều điểm khác nữa. Đó là bánh tét làng Chuồn, hoa giấy Thanh Tiên (ảnh hưởng Chămpa) và chợ Gia Lạc ba ngày Tết. Những nét văn hóa Tết không thể tìm thấy ở bất cứ vùng miền nào ở Trung Quốc.

Có thể thay đổi Tết “ta”?

Gần đây, dư luận cả nước bàn luận rôm rả quan điểm của Gs Võ Tòng Xuân, về việc dân ta nên đổi cách ăn Tết “tây”, thay cho Tết “ta”. Quan điểm của GS Võ Tòng Xuân là “chúng ta nên cương quyết đổi mới, không ăn tết hai, ba, thậm chí bốn tuần theo âm lịch nữa mà chỉ nên ăn tết bốn ngày theo dương lịch là đủ”.

Theo Gs Võ Tòng Xuân, nếu ăn Tết “ta” theo ngày dương lịch, Việt Nam sẽ có những điều lợi sau đây:

1- Vừa giữ được các tập quán Tết cổ truyền, vừa ít bỏ lỡ cơ hội nắm bắt đối tác kinh doanh, giao thương với nước ngoài.

2- Ít mất thời gian của nông dân (đại bộ phận người dân) dành chăm sóc lúa đông-xuân, vụ lúa tiềm năng cao nhất trong năm.

3- Học sinh và sinh viên có thời khóa biểu học tập và thi học kỳ một cách hợp lý.

4- Giảm tối thiểu tình trạng dân chúng nhậu nhẹt, bài bạc dưới nhiều hình thức, rất tốn kém tiền của và thời gian học tập, tổn hại sức khỏe và tính mạng trong giao thông.

5- Chấm dứt lãng phí nhiều ngày làm việc mà mình nghỉ, trong khi quốc tế làm việc.

Quan điểm của Gs Võ Tòng Xuân là rất tâm huyết nhưng nó lại chưa phù hợp với tâm thế xã hội Việt Nam hiện nay.

Bởi không những Tết Âm lịch gói gọn trong ba ngày mà còn kéo dài đến mồng 10 tháng Giêng. Dân gian gọi là “Ba ngày tết, bảy ngày xuân”. Cái Tết Âm lịch dân tộc là cái tết của sự đoàn viên. Chính tâm lý “trọng tình” đã hun đúc nên một cái Tết kéo dài nhưng rất hợp lý.

Trong những cái khổ của con người, như Phật giáo đã chỉ ra là do “ái biệt ly khổ”. Nghĩa là thương nhớ, muốn gặp mặt, muốn đoàn tụ mà phải xa nhau nên khổ. Thử hỏi ai làm việc cực nhọc quanh năm suốt tháng, xa quê, xa gia đình, xa bạn bè, xa người yêu… lại không có tâm lý thích được có một khoảng thời gian dài để gặp lại người thân, kể lể tâm sự những tháng ngày đã qua?

Quan điểm của Gs Võ Tòng Xuân là rất tâm huyết nhưng nó lại chưa phù hợp với tâm thế xã hội Việt Nam hiện nay.

Tết “ta” sẽ còn ý nghĩa gì nữa khi vì không có thời gian (chứ không phải không có tiền bạc) mà thiếu đi việc tảo mộ, thiếu đi một cành mai vàng, một nụ tầm xuân, hay thiếu đi món bánh chưng, bánh tét, món ăn đặc trưng trong ngày Tết đã có từ thời Văn Lang – Âu Lạc?

Việc “bỏ lỡ cơ hội làm ăn” và “lãng phí thời gian làm việc” như Gs Võ Tòng Xuân đã nêu, là một điều không ai mong muốn. Nhưng chúng ta vẫn làm ăn trong dịp Tết chứ không phải bỏ bê, trì trệ. Đó là những địa điểm du lịch – dịch vụ luôn có cơ hội “hốt tiền” vào ngày Tết Âm lịch.

Bởi lượng khách du lịch trong và ngoài nước cũng luôn tăng mạnh trong những ngày Tết cổ truyền của Việt Nam. Đó chính là quy luật bù trừ về kinh tế. Khi nhiều ngành kinh tế khác “đóng băng” thì ngành du lịch- dịch vụ lại phất lên vào dịp Tết, thu hút được khá nhiều khách du lịch nước ngoài.

Tết “tây” kéo dài, được không?

Một vấn đề đáng bàn nữa là trong bài viết của mình Gs Nguyễn Anh Trí, Viện trưởng Viện Huyết học – Truyền máu TƯ đã nêu quan điểm rằng nên “kéo dài ngày nghỉ Tết Dương lịch và rút ngắn ngày nghỉ Tết Âm lịch”.

Phải thừa nhận hiện nay, một bộ phận không nhỏ cư dân thành thị nước ta ăn Tết “tây” theo kiểu “phú quý sinh lễ nghĩa” nhưng đa phần 90 triệu dân Việt Nam (sống ở nông thôn và rất nhiều người theo Phật giáo) vẫn hướng về cái Tết Âm lịch của dân tộc.

Thứ hai, Tháng Giêng (January) của phương Tây được đặt tên theo vị thần Janus, người được phác họa có hai đầu, một trông về phía trước, một trông về phía sau, biểu tượng cho sự chuyển giao giữa cái cũ và cái mới. Ngày nay, biểu tượng bắt đầu của năm mới ở phương Tây là một đứa trẻ sơ sinh và hình ảnh một ông già khép lại năm cũ.

Tuy nhiên, khi chúng ta vẫn sử dụng lịch âm- dương kết hợp (trên là ngày dương, dưới ngày âm) thì làm sao có thể cùng đón “buổi sáng sớm đầu tiên của tiết Xuân” (Nguyên đán) của cư dân phương Đông với ngày 1/1, ngày Năm mới (New Year’s Day) của cư dân phương Tây, vì cả hai đều chỉ chung cho một vụ mùa mới trong nông nghiệp?

Thứ ba, nếu Tết “tây” kéo dài thì tiền bạc, của cải, thời gian đâu để ăn Tết Âm lịch, dù chỉ có một- ba ngày.

Như vậy, đối với xã hội vẫn còn thiên về nông nghiệp như nước ta hiện nay thì việc hội nhập văn hóa với thế giới vẫn là điều rất cần phải bàn luận cho thấu đáo và kỹ càng. Trước tiên, có lẽ phải đợi đến mốc 2020, khi nước ta sẽ cơ bản là một nước công nghiệp theo hướng hiện đại, khi người dân đủ tiền bạc để chu toàn về thời gian để đón được cả hai cái Tết “tây” và Tết “ta”.

Nguyễn Văn Toàn

Toàn văn Báo cáo giải trình và trả lời chất vấn Quốc hội trực tiếp của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng

(Chinhphu.vn) – Tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XIII vừa qua, sau khi đọc Báo cáo giải trình (xem toàn văn Báo cáo tại đây), Thủ tướng Chính phủ đã tiếp tục trả lời các câu hỏi chất vấn của đại biểu Quốc hội tại hội trường. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ xin trân trọng giới thiệu toàn văn trả lời trực tiếp của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng.

 

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng báo cáo, giải trình trước Quốc hội
Ảnh VGP/Nhật Bắc

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Tôi rất cám ơn và xin trình bày về ý kiến chất vấn của các vị đại biểu Quốc hội.

– Về ý kiến chất vấn của đại biểu Đàng Thị Mỹ Hương:

1. Ý kiến chất vấn của đại biểu về những giải pháp cơ bản giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ (đại biểu Thích Thanh Quyết cũng chất vấn về nội dung này). Tôi xin trình bày như sau:

Khủng hoảng tài chính, suy thoái kinh tế toàn cầu tác động rất nặng nề, tiêu cực đến nền kinh tế nước ta. Trước tình hình có nhiều khó khăn thách thức, Chính phủ luôn theo sát, thấu hiểu, hết sức lo lắng và rất chia sẻ với cộng đồng doanh nghiệp. Chính phủ luôn trăn trở tìm mọi giải pháp tháo gỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp vượt qua khó khăn, duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh. Đây không chỉ là lợi ích của doanh nghiệp mà còn là lợi ích của cả nền kinh tế – của cả đất nước.

Chính phủ đã đề ra nhiều cơ chế chính sách, nhiệm vụ giải pháp đang được triển khai thực hiện và đã có những kết quả nhất định. Nhưng như đại biểu vừa nêu, cộng đồng doanh nghiệp chúng ta, nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn đang đứng trước rất nhiều khó khăn cần phải chung sức để khắc phục, vượt qua.

Trong Báo cáo trước Quốc hội tại phiên khai mạc và Báo cáo giải trình vừa trình bày, thay mặt Chính phủ tôi đã đề cập những giải pháp có ý nghĩa vừa trực tiếp trước mắt, vừa cơ bản lâu dài để giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn thách thức duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh. Tôi xin trình bày khái quát lại mấy nhóm giải pháp cơ bản sau đây:

Nhóm giải pháp thứ nhất là phải tăng cường ổn định kinh tế vĩ mô. Kinh tế vĩ mô có nhiều nội dung nhưng đặc biệt là phải kiềm chế cho được lạm phát, không để lạm phát cao. Nếu lạm phát cao thì lãi suất cao, đồng tiền Việt Nam mất giá, tỷ giá biến động… chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ tăng cao. Lạm phát cao thì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ rất khó khăn, rất khó duy trì, phát triển sản xuất kinh doanh.

Đồng thời phải duy trì tăng trưởng hợp lý. Không duy trì được tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế thì sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp cũng sẽ hết sức khó khăn. Muốn duy trì được tăng trưởng của nền kinh tế phải tăng tổng cầu và tăng sức mua, bao gồm cả tăng dư nợ tín dụng, tăng đầu tư công và đầu tư toàn xã hội phù hợp.

Phải tìm mọi biện pháp thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài và mở rộng thị trường xuất khẩu, khuyến khích sản xuất hàng xuất khẩu và đẩy mạnh xuất khẩu để vừa bảo đảm được hợp lý cán cân thanh toán của nền kinh tế, vừa tạo điều kiện cho doanh nghiệp duy trì phát triển sản xuất kinh doanh và góp phần ổn định kinh tế vĩ mô.

Nhóm giải pháp cơ bản thứ hai là thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, gắn với thực hiện đồng bộ, hiệu quả 3 đột phá chiến lược, tạo thuận lợi trước mắt và cơ bản lâu dài cho doanh nghiệp. Vừa qua chúng ta đã tập trung triển khai tái cơ cấu đầu tư công; tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước, trong đó trọng tâm là các tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước; tái cơ cấu hệ thống tài chính, trọng tâm là các ngân hàng thương mại. Đồng thời triển khai thực hiện 3 đột phá chiến lược là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường; đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao và đẩy mạnh đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội.

Nhóm giải pháp cơ bản thứ ba là khẩn trương giải quyết hàng tồn kho, xử lý nợ xấu, tháo gỡ đóng băng của thị trường bất động sản, đây cũng là những giải pháp vừa bức xúc trước mắt, vừa cơ bản lâu dài để giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn, duy trì và phát triển kinh doanh. Chính phủ coi đây là một nhiệm vụ trọng tâm và phải được xử lý khẩn trương, đồng bộ.

Nhóm giải pháp thứ tư là cải cách hành chính. Chính phủ đã và đang làm nhưng cần phải thực hiện tốt hơn, thiết thực hơn. Cải cách hành chính bao gồm cả cải cách thể chế và thủ tục hành chính để có một nền kinh tế thị trường đầy đủ, bình đẳng, minh bạch, tạo điều kiện cơ bản cho doanh nghiệp hoạt động thuận lợi, hiệu quả. Chúng tôi hết sức quan tâm đến cải cách những thể chế liên quan trực tiếp đến doanh nghiệp như thể chế về thuế, về phí, về tiếp cận nguồn vốn, về tiếp cận đất đai và các thủ tục liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp như đăng ký kinh doanh, điều kiện thành lập doanh nghiệp, phá sản doanh nghiệp… mà hiện nay đang còn nhiều vướng mắc.

Tóm lại, để tạo điều kiện cho doanh nghiệp vượt qua khó khăn thách thức, duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh thì phải thực hiện đồng bộ các giải pháp mà Đảng, Nhà nước ta đã đề ra. Trong đó tập trung vào các nhóm giải pháp nêu trên, các nhóm giải pháp này phải được thực hiện đồng thời, nhưng phải có trọng tâm, trọng điểm trong từng lĩnh vực, trong từng thời gian để đem lại kết quả, hiệu quả thiết thực.

Nhưng thưa Đại biểu, chỉ có Chính phủ hành động thì chưa đủ. Rất mong cộng đồng doanh nghiệp, cũng như từng doanh nghiệp phải nỗ lực, sáng tạo vươn lên cơ cấu lại sản xuất kinh doanh, cơ cấu lại quản trị điều hành, nâng cao năng suất hiệu quả sức cạnh tranh để doanh nghiệp vượt qua khó khăn bằng chính nội lực và khả năng của mình. Chính phủ sẽ luôn đề cao trách nhiệm, đồng hành cùng cộng đồng doanh nghiệp để cùng nhau vượt qua khó khăn thách thức, duy trì và phát triển sản xuất kinh doanh thực hiện bằng được mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, duy trì tăng trưởng hợp lý, bảo đảm an sinh xã hội, phúc lợi xã hội cho mọi người dân.

2. Về nội dung đại biểu chất vấn Thủ tướng đã nhận trách nhiệm, nhận lỗi trước Quốc hội, trước toàn Đảng, toàn dân. Thủ tướng có giải pháp gì để khắc phục những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm của Chính phủ (đại biểu Nguyễn Bá Thuyền cũng chất vấn về nội dung này). Tôi xin trình bày mấy ý kiến như sau:

Thưa đại biểu. Như tôi đã báo cáo tại phiên khai mạc kỳ họp Quốc hội, với trọng trách được Đảng, Nhà nước và nhân dân tin cậy giao phó, là Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ, tôi nghiêm túc nhận trách nhiệm chính trị lớn của Người đứng đầu Chính phủ và xin thành thật nhận lỗi trước Quốc hội, trước toàn Đảng, toàn dân về tất cả những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm của Chính phủ trong lãnh đạo, quản lý, điều hành trên tất cả các lĩnh vực, nhất là hạn chế, yếu kém, khuyết điểm trong giám sát, kiểm tra hoạt động của các Tập đoàn kinh tế, của các Tổng công ty nhà nước. Đồng thời, thay mặt Chính phủ, tôi cũng đã khẳng định là Chính phủ sẽ nỗ lực làm hết sức mình để khắc phục những hạn chế, yếu kém, khuyết điểm phấn đấu hoàn thành tốt chức năng, nhiệm vụ, trọng trách mà Đảng, Nhà nước và nhân dân tin cậy giao phó.

Với tinh thần đó, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã và đang triển khai thực hiện nhiều nhiệm vụ giải pháp đồng bộ để khẩn trương khắc phục những hạn chế yếu kém khuyết điểm, nâng cao năng lực lãnh đạo quản lý điều hành, trong đó tập trung vào các nhóm nhiệm vụ giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao năng lực, chất lượng xây dựng, hoàn thiện thể chế, cơ chế, luật pháp và nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong thực thi thể chế, cơ chế, luật pháp. Đây là lĩnh vực còn nhiều hạn chế, yếu kém, khuyết điểm. Nhiều cơ chế, thể chế, luật pháp do Chính phủ xây dựng trình Quốc hội ban hành hay do chính Chính phủ ban hành còn không ít những nội  dung chưa phù hợp, không sát cuộc sống, phải sửa đổi, bổ sung ngay sau khi vừa có hiệu lực thực hiện. Hay những thể chế, cơ chế, luật pháp đã ban hành rồi, nhưng chờ nghị định, thông tư hướng dẫn nên chậm đi vào cuộc sống, thậm chí có trường hợp khi hướng dẫn lại không phù hợp với tinh thần thể chế, luật pháp đã ban hành. Hoặc thể chế, luật pháp đã có hiệu lực nhưng tổ chức thực thi kém hiệu quả. Có những nội dung ban hành trước đây là đúng nhưng thực tiễn cuộc sống đã vượt qua, không còn phù hợp, nhưng chậm được sửa đổi, bổ sung. Hay thực tế cuộc sống đòi hỏi phải có thể chế, cơ chế, luật pháp để quản lý, để thúc đẩy phát triển hoặc ngăn chặn những tiêu cực, nhưng muốn xây dựng được một thể chế, cơ chế để quản lý thì rất chậm chạp, khó khăn.

Thứ hai, Nâng cao năng lực dự báo, phân tích đánh giá tình hình để đưa ra cơ chế chính sách – phản ứng chính sách – một cách kịp thời, phù hợp, hiệu quả trong điều kiện kinh tế thị trường rất năng động và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, nhiều bất trắc khó lường.

Thứ ba, Tập trung nâng cao năng lực xây dựng và hiệu lực, hiệu quả quản lý thực hiện quy hoạch, chiến lược, kế hoạch phát triển. Đây là lĩnh vực còn nhiều hạn chế yếu kém. Nhà nước quản lý bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, nhưng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển lại không sát với thực tế, không phù hợp, kém chất lượng thì sẽ dẫn đến tình trạng lãng phí đầu tư, cản trở tiến trình phát triển của đất nước, cản trở tiến trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng.

Thứ tư, Để nâng cao năng lực lãnh đạo quản lý, khắc phục những hạn chế yếu kém, phải tăng cường kỷ luật kỷ cương, tăng cường giám sát, kiểm tra, thanh tra và xử lý nghiêm, kịp thời các hành vi vi phạm. Không làm tốt việc này thì hiệu lực, hiệu quả trong lãnh đạo quản lý điều hành của Chính phủ sẽ không đáp ứng được. Đây cũng là một khuyết điểm lớn mà chúng tôi đang ra sức khắc phục, trước hết là giám sát, kiểm tra hoạt động của các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty nhà nước.

Thứ năm, Tập trung chỉ đạo hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy của Chính phủ và bộ máy hành chính các cấp với tinh thần tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Làm rõ chức năng, nhiệm vụ của từng tổ chức. Không để một lĩnh vực nào mà không có cơ quan quản lý nhà nước chịu trách nhiệm quản lý chính. Ví dụ hôm qua tôi nhận được chất vấn của Đại biểu về việc  Thủ tướng đã giao cho cơ quan nào chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Tôi đã kiểm tra và thấy rằng Chính phủ đã giao cho Viện Khoa học xã hội Việt Nam chăm lo việc này và đã lập Viện ngôn ngữ học để chuyên làm nhiệm vụ bảo vệ, giữ gìn, phát huy sự trong sáng của tiếng Việt. Tuy trực thuộc Chính phủ, nhưng Viện là tổ chức sự nghiệp, không có chức năng quản lý nhà nước. Do đó, cần phải có cơ quan quản lý nhà nước về lĩnh vực này.

Tôi muốn trình bày là phải hoàn thiện hệ thống tổ chức bộ máy của Chính phủ, của chính quyền các cấp, bảo đảm quản lý thống nhất trên tất cả các lĩnh vực như Hiến pháp đã quy định. Không để một lĩnh vực nào đó không có cơ quan chịu trách nhiệm quản lý hay trùng dẫm một việc mà hai, ba cơ quan cùng có trách nhiệm nhưng không rõ ai chịu trách nhiệm chính. Đồng thời phải rà soát, hoàn thiện lại việc phân công, phân cấp, giao quyền cho phù hợp để vừa đề cao được trách nhiệm, vừa phát huy được sự năng động sáng tạo của cấp dưới, đồng thời phải bảo đảm lãnh đạo quản lý tập trung thống nhất của cấp trên. Việc này đã làm nhưng còn nhiều khiếm khuyết. Chúng tôi sẽ tiếp tục thực hiện tốt hơn.

Thứ sáu, Chính phủ đang chỉ đạo thực hiện các giải pháp để đề cao trách nhiệm, nâng cao đạo đức phẩm chất, năng lực của đội ngũ cán bộ công chức, nhất là người đứng đầu các cấp, các cơ quan, các đơn vị trong thực thi công vụ, thực thi chức trách nhiệm vụ được giao và phải thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 về xây dựng Đảng gắn với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Chủ tịch Hồ Chí Minh để bộ máy hành chính của chúng ta có đội ngũ cán bộ công chức có đạo đức phẩm chất, năng lực và trách nhiệm cao, hết lòng hết sức phục vụ nhân dân.

Thứ bảy, Thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy tốt nhất trách nhiệm của tập thể, đồng thời đề cao đầy đủ trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu trong thực thi chức trách nhiệm vụ. Nghiêm túc lắng nghe, nâng cao năng lực tiếp thu ý kiến của nhân dân, của cán bộ đảng viên, của chuyên gia trong hoạch định chính sách và trong tổ chức thực thi quản lý. Trong đó, hết sức chú ý phát huy dân chủ, tăng cường công khai minh bạch, chủ động cung cấp thông tin và nâng cao năng lực giải đáp, giải trình của người lãnh đạo các cấp, qua đó chịu sự giám sát của nhân dân.

Với tinh thần nêu trên, Chính phủ sẽ tập trung khắc phục những hạn chế yếu kém khuyết điểm, nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý, kiểm tra giám sát hoạt động của các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty nhà nước. Đồng thời với việc cơ cấu lại để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của các tập đoàn kinh tế, các tổng công ty nhà nước như Kết luận chỉ đạo của Hội nghị Trung ương 6 khóa XI.

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Bên cạnh những việc làm được làm tốt đóng góp tích cực vào thành tựu chung, Chính phủ cũng còn nhiều hạn chế yếu kém khuyết điểm. Để khắc phục hạn chế yếu kém khuyết điểm, nâng cao năng lực hiệu lực hiệu quả lãnh đạo quản lý điều hành đáp ứng yêu cầu, thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước, nhân dân tin cậy giao phó, Chính phủ sẽ làm hết sức mình, thực hiện đồng bộ các nhiệm vụ giải pháp, trong đó tập trung vào các nhóm nhiệm vụ giải pháp nêu trên. Nhưng khó có thể hoàn thiện ngay trong một thời gian ngắn. Rất mong được các vị đại biểu Quốc hội giám sát, ủng hộ, giúp đỡ. Chính phủ sẽ phấn đấu cao nhất để cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân thực hiện tốt nhiệm vụ còn lại của năm 2012, nhiệm vụ năm 2013 và kế hoạch 5 năm 2011 – 2015 mà Đại hội XI của Đảng và Quốc hội đã đề ra.

3. Về nội dung chất vấn giải pháp nào là quyết định nhất, cơ bản nhất và động lực nào là động lực bao trùm nhất, cơ bản nhất để tái cơ cấu nền kinh tế, để chuyển đổi mô hình tăng trưởng, để công nghiệp hóa hiện đại hóa, để đổi mới toàn diện đất nước thành công. Chất vấn này rất rộng. Tôi xin trình bày mấy ý kiến sau đây:

Thưa Đại biểu, theo tôi không có cách nào khác là phải tăng cường sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, quán triệt và thực hiện đầy đủ các chủ trương nghị quyết của Đảng, của Nhà nước ta. Trong đó đặc biệt là quán triệt và triển khai thực hiện có hiệu quả các quan điểm, mục tiêu, chỉ tiêu, định hướng phát triển, các nhiệm vụ giải pháp, nhất là 3 đột phá chiến lược để phát triển nhanh, bền vững mà Đại hội XI của Đảng đã đề ra.

Trong tổng thể và phải thực hiện đồng bộ, đồng thời đó thì giải pháp và động lực cơ bản, bao trùm, có ý nghĩa quyết định nhất chính là thực hành dân chủ, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, bảo đảm và chăm lo lợi ích chính đáng của nhân dân, là lòng dân, là sự đồng thuận của nhân dân. Như Bác Hồ và Đảng ta đã khẳng định là mọi quyền hành, mọi lực lượng, mọi lợi ích là ở dân, là vì dân và dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Đây là giải pháp và là động lực cơ bản, bao trùm, có ý nghĩa quyết định nhất để chúng ta thực hiện thành công sự nghiệp cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước và đổi mới toàn diện đất nước.

Không có dân chủ thực sự trong hoạt động kinh tế, không có bình đẳng, công khai minh bạch trong hoạt động kinh tế thì không thể có kinh tế thị trường đầy đủ, không huy động và sử dụng có hiệu quả mọi tiềm năng, mọi nguồn lực của dân tộc ta, của đất nước ta – kể cả vật chất và con người, không thể nâng cao được hiệu quả sức cạnh tranh của nền kinh tế, không thể hội nhập có kết quả với kinh tế quốc tế và cũng không thể tái cơ cấu nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng thành công.

Không có dân chủ đầy đủ, thực sự thì không thể bảo đảm và phát huy quyền tự do chính đáng của người dân mà Hiến pháp, luật pháp đã quy định và cũng không thể tạo được sự đồng thuận xã hội, không thể tạo được sức mạnh tổng hợp của toàn dân, không thể tạo được sức mạnh làm nên lịch sử của nhân dân và không thể có đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết và thành công, thành công, đại thành công trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Không có dân chủ, công bằng, công khai, minh bạch thì không thể xây dựng được Đảng, Nhà nước ta, hệ thống chính trị của chúng ta trong sạch, vững mạnh và cũng không thể đấu tranh ngăn chặn được các biểu hiện tiêu cực, tham nhũng, lãng phí. Không có dân chủ thực sự cũng không thể lựa chọn được những cán bộ tốt, có đủ năng lực, phẩm chất để gánh vác việc dân, việc nước. Không có dân chủ cũng khó hoạch định được đường lối, chủ trương, chính sách một cách phù hợp, sát thực tế, sát cuộc sống.

Nhưng dân chủ của chúng ta là dân chủ xã hội chủ nghĩa. Dân chủ phải đi liền với kỷ luật, kỷ cương, pháp luật. Không thể lợi dụng dân chủ, tự do mà làm phương hại đến lợi ích của đất nước, cũng như lợi ích chính đáng của người khác.

– Về chất vấn của đại biểu Dương Trung Quốc:

4. Nội dung chất vấn của Đại biểu nêu khá dài, tôi đã cố gắng lắng nghe, không biết có chính xác không, nhưng tôi hiểu ý kiến của đại biểu là Thủ tướng Chính phủ nên từ chức… Về chất vấn này tôi xin trình bày như sau:

Đối với tôi, hôm nay còn 3 ngày nữa là tròn 51 năm tôi theo Đảng hoạt động cách mạng dưới sự lãnh đạo quản lý trực tiếp của Đảng. Trong suốt 51 năm qua, tôi không xin với Đảng cho tôi làm, cho tôi đảm nhiệm chức vụ này hay chức vụ khác. Mặt khác, tôi cũng không từ chối, không thoái thác bất cứ nhiệm vụ gì mà Đảng phân công, giao phó cho tôi.

Là một cán bộ đảng viên của Đảng, tôi đã luôn báo cáo với Đảng, với  Bộ Chính trị, với Ban Chấp hành Trung ương một cách nghiêm túc, đầy đủ, trung thực về bản thân mình. Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương Đảng cũng đã hiểu rất rõ về tôi, cả về ưu điểm khuyết điểm, cả về phẩm chất đạo đức, cả về năng lực khả năng, cả về sức khỏe thương tật, cả về tâm tư nguyện vọng của tôi.

Đảng ta – Đảng cộng sản Việt Nam – là Đảng cầm quyền, Đảng lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội, Đảng lãnh đạo quản lý trực tiếp tôi, Đảng hiểu rất rõ về tôi. Đảng đã quyết định phân công tôi ứng cử tiếp tục làm nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ và Quốc hội đã bỏ phiếu bầu tôi tiếp tục làm nhiệm vụ Thủ tướng Chính phủ. Tôi sẵn sàng chấp hành nghiêm túc mọi quyết định của Ban Chấp hành Trung ương Đảng và của Quốc hội – cơ quan quyền lực cao nhất – đối với tôi.

Tóm lại gần cả cuộc đời theo Đảng, hết lòng công tác chiến đấu vì nước vì dân, dưới sự lãnh đạo quản lý trực tiếp của Đảng. Tôi không có chạy, cũng không có xin và tôi cũng không thoái thác, từ chối bất cứ nhiệm vụ gì mà Đảng và Nhà nước quyết định phân công, giao phó cho tôi. Tôi xin khẳng định là sẽ tiếp tục thực hiện như tôi đã nghiêm túc thực hiện trong suốt 51 năm qua.

– Về chất vấn của đại biểu Nguyễn Bá Thuyền:

5. Về nội dung chất vấn những khó khăn, vướng mắc nhất trong thời gian qua trong công tác phòng chống tham nhũng là những vấn đề gì và Thủ tướng có đề xuất giải pháp gì để phòng chống tham nhũng có hiệu quả hơn trong thời gian tới. Tôi xin trình bày như sau:

Đấu tranh phòng chống tham nhũng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của cấp ủy Đảng và người đứng đầu các cấp, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước. Thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 của Đảng, công tác đấu tranh phòng chống tham nhũng đã đạt được những kết quả nhất định nhưng chưa đạt yêu cầu là ngăn chặn, đẩy lùi. Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng đã sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết của Trung ương 3 và Luật phòng chống tham nhũng. Ban cán sự Đảng Chính phủ đã báo cáo Bộ Chính trị, báo cáo Ban Chấp hành Trung ương. Tại Hội nghị lần thứ 5 (khóa XI) Ban Chấp hành Trung ương đã có Kết luận chỉ đạo về công tác phòng chống tham nhũng. Trong đó đã chỉ rõ những kết quả đạt được, những hạn chế yếu kém, nguyên nhân, bài học và mục tiêu nhiệm vụ giải pháp phải tiếp tục triển khai thực hiện để đấu tranh phòng chống tham nhũng trong thời gian tới. Trên cơ sở đó, Chính phủ đã có Báo cáo với Quốc hội tại Kỳ họp này và đã trình Quốc hội xem xét sửa đổi bổ sung một số điều cần thiết trong Luật phòng chống tham nhũng.

Tôi xin không trình bày lại.

– Về chất vấn của đại biểu Thích Thanh Quyết:

6. Về nội dung chất vấn Chính phủ có những giải pháp cơ bản nào để khắc phục những khiếm khuyết bất cập của thủy điện đang gây bức xúc trong nhân dân.

Thưa đại biểu, trong kỳ họp Quốc hội lần này, Chính phủ đã có Báo cáo  về việc đầu tư phát triển thủy điện. Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải, Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trịnh Đình Dũng cũng đã có giải trình. Tôi xin trình bày thêm mấy ý kiến sau:

Thủy điện là nguồn năng lượng tái tạo, là tiềm năng lớn của đất nước. Chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước ta là khai thác, sử dụng, phát huy tiềm năng lợi thế này để đáp ứng cho yêu cầu sản xuất, đời sống của nhân dân và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Chúng ta đã đạt được kết quả rất quan trọng. Thủy điện đã đóng góp cho tổng sản lượng điện của cả nước là 41% và công suất phát điện của thủy điện đã chiếm 47% trong tổng công suất phát điện của cả nước. Những năm qua chúng ta đáp ứng đủ điện cho nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân trong đó có phần đóng góp rất quan trọng của thủy điện. Nhưng ở một số dự án thủy điện đã nảy sinh những khiếm khuyết, bất cập gây bức xúc trong nhân dân như đại biểu nêu.

Chính phủ đã đề ra các yêu cầu chủ yếu khi xây dựng các dự án thủy điện như sau:

Thứ nhất là phải đảm bảo an toàn, an toàn về hồ đập, an toàn về tính mạng của nhân dân, đây là yêu cầu cao nhất, dù hiệu quả tới đâu mà không đáp ứng được yêu cầu này thì không được làm. Thứ hai là khi xây dựng thủy điện phải đảm bảo cho được chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là di dân tái định cư đến nơi ở mới phải có điều kiện để người dân từng bước có cuộc sống tốt hơn. Thứ ba là phải đặc biệt chú trọng đến môi trường, xây dựng thủy điện nhưng không làm tác động lớn, tác động xấu đến môi trường sống. Thứ tư là phải bảo đảm hiệu quả tổng hợp của dự án thủy điện cả về hiệu quả kinh tế, xã hội và môi trường. Thứ năm là phải nghiêm túc thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong việc lập, thẩm định dự án, thi công xây dựng và vận hành công trình.

Để thực hiện tốt các yêu cầu nêu trên và sớm khắc phục các bất cập, khiếm khuyết của một số dự án thủy điện, Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện các nhiệm vụ giải pháp cụ thể như sau:

(1) Khẩn trương rà soát lại toàn bộ quy hoạch thủy điện trong cả nước.  Căn cứ vào các yêu cầu nêu trên và các quy định hiện hành, qua 2 lần rà soát đã đưa ra khỏi quy hoạch 107 dự án (hôm qua đồng chí Bộ trưởng Bộ Công Thương đã trình bày với Quốc hội). Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu tiếp tục rà soát để điều chỉnh bổ sung hoàn thiện quy hoạch thủy điện trong cả nước trong năm 2013.

(2) Quản lý chặt chẽ việc xây dựng mới các dự án thủy điện. Các dự án thủy điện đã có trong quy hoạch nhưng trước khi quyết định đầu tư phải được thẩm định một cách chặt chẽ. Dự án thủy điện Đồng Nai 6 và 6A có công suất phát điện khá lớn, đã được đưa vào quy hoạch nhưng phải được tiến hành thẩm định một cách nghiêm túc, đúng theo các quy định của pháp luật, nếu không đạt các yêu cầu nêu trên thì không được quyết định đầu tư xây dựng (hiện nay Bộ Tài nguyên và Môi trường đang tiến hành thẩm định đánh giá về tác động môi trường). Các cơ quan có chức năng thẩm định phải chịu trách nhiệm về kết quả thẩm định của mình. Cơ quan có thẩm quyền quyết định cho phép đầu tư xây dựng phải đảm bảo đúng các quy định của pháp luật và các yêu cầu mà Chính phủ đề ra và phải chịu trách nhiệm về việc quyết định cho phép của mình.

(3) Phải rà soát lại tất cả các dự án thủy điện hiện có. Tập trung rà soát các nội dung cụ thể sau: Một là hồ đập có an toàn không, phải sửa chữa gia cố ngay các sơ sót khiếm khuyết, nếu không an toàn là không được vận hành. Hai là phải rà soát lại việc tái định cư, xem người dân sống thực tế thế nào, nếu chưa đạt yêu cầu mà Đảng và Nhà nước đề ra thì phải đề xuất cơ chế chính sách, kể cả chính sách đặc thù để đồng bào ta có điều kiện sống tốt hơn. Ba là rà soát yêu cầu các chủ đầu tư trồng lại rừng như đã quy định, đã cam kết, kể cả việc thu tiền để trồng lại diện tích rừng đã mất ở nơi khác. Bốn là rà soát lại các quy trình vận hành hồ chứa của các hồ thủy điện. Nếu trên một dòng sông mà có nhiều đập thủy điện thì phải có quy trình vận hành liên hồ chứa. Phải bảo đảm được tiêu chí đề ra, nhất là các yêu cầu về góp phần chống lũ, ngăn mặn, điều tiết nước cho sản xuất và đời sống nhân dân… Quy trình vận hành hồ chứa nào chưa tốt thì phải bổ sung, điều chỉnh cho phù hợp, hiệu quả.

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

Tại kỳ họp này Ủy ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội cũng đã thực hiện giám sát đối với công trình thủy điện Sông Tranh II và đã có báo cáo gửi đến các vị đại biểu Quốc hội. Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải và Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng, Bộ trưởng Trịnh Đình Dũng cũng đã giải trình về những chất vấn của đại biểu Quốc hội.

Đến hôm nay các chuyên gia chuyên ngành có trách nhiệm trong nước và công ty tư vấn hàng đầu của Nhật, Thụy Sỹ cũng báo cáo là đập thủy điện Sông Tranh II bảo đảm an toàn. Các Bộ và cơ quan chức năng như Bộ Công Thương, Bộ Xây dựng, Bộ Khoa học và Công nghệ, Hội đồng nghiệm thu nhà nước, Viện Vật lý địa cầu thuộc Viện Khoa học xã hội Việt Nam đều báo cáo đập thủy điện Sông Tranh II là an toàn. Tôi nhận được báo cáo của các cơ quan chức năng là như vậy. Nhưng để chắc chắn hơn, với mục tiêu an toàn cao nhất cho tính mạng của nhân dân, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu phải làm tiếp những việc sau:

Thứ nhất là chưa được tích nước phát điện để tiếp tục nghiên cứu đánh giá kỹ thêm về động đất. Vấn đề này đã được chấp hành nghiêm túc. Thứ hai là giao Hội đồng nghiệm thu nhà nước và các Bộ liên quan lập tổ công tác thường xuyên túc trực tại thủy điện Sông Tranh II để theo dõi tất cả các diễn biến của động đất để kịp thời tính toán phương án ứng phó với mục tiêu an toàn là cao nhất. Thứ ba là đồng thời cùng với các chuyên gia của chúng ta, phải thuê chuyên gia tư vấn hàng đầu của quốc tế như Nga, Nhật, Ấn Độ (một số chuyên gia này đã có mặt tại hiện trường) để khảo sát, đánh giá về động đất kích thích liên quan tới an toàn của đập. Thứ tư là công bố công khai đầy đủ thông tin cho nhân dân và hướng dẫn nhân dân ứng phó với động đất kích thích. Thứ năm là yêu cầu rà soát, bổ sung việc chi trả đền bù hỗ trợ đối với hộ dân có nhà bị hư hỏng do động đất (còn chính sách gì thêm nữa mà đại biểu của Quảng Nam đề nghị sẽ tiếp tục nghiên cứu cho phù hợp). Thứ sáu là giao Hội đồng nghiệm thu nhà nước chủ trì cùng với Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công Thương, Viện Vật lý địa cầu… tiếp tục tiến hành hội thảo để tranh thủ trí tuệ, lắng nghe ý kiến của các chuyên gia chuyên ngành với tinh thần xây dựng, trách nhiệm cao và tất cả vì an toàn của nhân dân, vì lợi ích của đất nước.

Chính phủ sẽ làm tất cả những gì có thể để đạt được các mục tiêu yêu cầu như đã nêu trên. Rất mong các vị đại biểu Quốc hội theo dõi, giám sát.

Thưa Quốc hội, đến giờ này, thời gian trả lời chất vấn dành cho tôi đã hết. Tôi xin kết thúc phần báo cáo giải trình và trả lời chất vấn tại đây. Hai chất vấn còn lại của đại biểu Thích Thanh Quyết tôi sẽ trả lời đến Đại biểu và đăng trên website của Chính phủ. Các chất vấn khác của các vị Đại biểu tôi sẽ trả lời bằng văn bản. Thay mặt các thành viên của Chính phủ, tôi xin cám ơn các vị đại biểu Quốc hội, đồng bào cử tri cả nước đã theo dõi giám sát chất vấn đối với các hoạt động của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các thành viên của Chính phủ. Chúng tôi rất mong tiếp tục nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ, giám sát của các vị đại biểu Quốc hội và đồng bào cả nước. Xin chúc các vị đại biểu Quốc hội, đồng chí đồng bào sức khỏe, hạnh phúc, thành đạt. Xin cám ơn Quốc hội.

*
*       *
Như đã hứa trước Quốc hội. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã trả lời bằng văn bản về 2 nội dung chất vấn còn lại của đại biểu Thích Thanh Quyết. Cổng thông tin điện tử Chính phủ xin đăng toàn văn trả lời của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng:

Thưa các vị đại biểu Quốc hội,

– Tôi xin trình bày về 2 chất vấn còn lại của Đại biểu Thích Thanh Quyết:

7. Về nội dung chất vấn Chính phủ có những giải pháp gì để ngăn chặn, khắc phục tình trạng nhiều mạng Internet đã đăng tải những thông tin không đúng sự thật, truyền bá văn hóa đồi trụy, độc hại, trái với thuần phong mỹ tục tốt đẹp của dân tộc ta, đưa những thông tin bịa đặt, xuyên tạc, gây dư luận xấu, hoài nghi đối với lãnh đạo Đảng, Nhà nước và biện pháp xử lý đối với những người đưa thông tin không đúng sự thật trên mạng Internet.

Tôi xin trình bày như sau:

Công nghệ thông tin nói chung và Internet nói riêng đã mang lại sự đổi thay lớn trên thế giới. Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là phát triển mạnh mẽ Công nghệ thông tin, Internet phục vụ hiệu quả cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cho tiến trình đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cho nhu cầu đa dạng phong phú trong sản xuất và đời sống của nhân dân. Những năm qua Việt Nam chúng ta đã đạt được bước tiến quan trọng trên lĩnh vực này, đóng góp thiết thực vào thành tựu chung của đất nước.

Đặc điểm của thông tin từ mạng Internet là không biên giới, ảnh hưởng tức thì. Bên cạnh những mặt tích cực là chủ yếu thì Internet cũng bị kẻ xấu lợi dụng để truyền bá văn hóa đồi trụy độc hại trái với thuần phong mỹ tục tốt đẹp của dân tộc ta và đưa những thông tin bịa đặt, xuyên tạc, không đúng sự thật, gây dư luận xấu, gây hoài nghi đối với lãnh đạo Đảng, Nhà nước ta như Đại biểu đã nêu.

Chính phủ đang tập trung chỉ đạo tăng cường hiệu lực hiệu quả quản lý trên lĩnh vực này. Một mặt là tiếp tục hoàn thiện thể chế, luật pháp, rà soát bổ sung chiến lược, quy hoạch để tạo mọi điều kiện thuận lợi cho Thông tin Truyền thông và Internet phát triển mạnh mẽ hơn, phục vụ hiệu quả hơn cho phát triển kinh tế – xã hội, đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng, thiết thực trong sản xuất kinh doanh, trong đời sống của người dân; đồng thời hạn chế, ngăn chặn có hiệu quả những mặt tiêu cực, bất lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mặt khác là tăng cường thực hiện các giải pháp đồng bộ để đáp ứng nhu cầu thông tin lành mạnh, đặc biệt là chủ động cung cấp thông tin chính thức, kịp thời cho nhân dân.

Vừa qua, thực hiện tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (Khóa XI) về xây dựng Đảng. Có một số ý kiến góp ý phản ánh về những dư luận tiêu cực đối với lãnh đạo Đảng và Nhà nước ta, trong đó có nhiều thông tin bịa đặt, xuyên tạc, vu khống lấy từ mạng Internet. Các đồng chí Lãnh đạo nhận được ý kiến góp ý phản ánh này đã nghiêm túc báo cáo giải trình cụ thể về từng thông tin liên quan tới bản thân và gia đình mình. Bộ Chính trị đã giao cơ quan chức năng tiến hành thẩm tra, xác minh, kết luận về từng vụ việc và đã báo cáo với Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Qua thẩm tra, xác minh đã kết luận những thông tin đó đều không đúng sự thật.

Chúng ta phải ứng xử thật khách quan, bình tĩnh, thận trọng và phải hết sức cảnh giác trước những thông tin xấu trên mạng Internet, trước những dư luận tiêu cực đối với mỗi con người, đối với mỗi đồng chí chúng ta. Nếu chỉ căn cứ vào dư luận, căn cứ vào thông tin trên mạng Internet mà suy diễn, mà quy kết là không khách quan. Đó cũng là điều mà những người tung tin xấu, tạo dư luận tiêu cực mong muốn. Khi xử lý đối với những thông tin này phải  thực hiện theo đúng quy định của Đảng và pháp luật nhà nước. Chúng ta có cả hệ thống cơ quan chức năng để giám sát, kiểm tra, thanh tra, thậm chí là điều tra để làm rõ các dấu hiệu, các thông tin tiêu cực và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm.

Mặt khác, những hành vi truyền bá văn hóa đồi trụy độc hại và đưa những thông tin không đúng sự thật, xuyên tạc, bịa đặt, vu khống… phải được xử lý theo đúng quy định của pháp luật.

8. Về nội dung chất vấn Kết quả hoạt động an ninh quốc phòng năm 2012 và định hướng chính sách đối ngoại của Nhà nước ta, đặc biệt là đối với các nước lớn và các nước lân cận trong thời gian sắp tới. Tôi xin trình bày như sau:

Năm 2012, thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân tiếp tục được tăng cường. Lực lượng vũ trang nhân dân được tiếp tục xây dựng theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại (một số lĩnh vực đi nhanh vào hiện đại). Tiềm lực quốc phòng và công nghiệp quốc phòng được nâng lên. Gắn kết chặt chẽ hơn phát triển kinh tế – xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh. Công tác đối ngoại đạt được nhiều kết quả tích cực. Bằng sức mạnh tổng hợp chúng ta đã bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, độc lập chủ quyền quốc gia, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội và cải thiện đời sống nhân dân. Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta phải làm tốt nhiệm vụ này trong năm 2013.

Trong thời gian tới chúng ta tiếp tục thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hòa bình hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn là đối tác tin cậy, bình đẳng cùng có lợi và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, vì lợi ích đất nước, vì chủ quyền quốc gia, vì một nước Việt Nam Xã hội chủ nghĩa – dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh và vì hòa bình hữu nghị, hợp tác phát triển trong khu vực và trên thế giới.

Tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác tốt đẹp với các nước láng giềng. Thúc đẩy giải quyết bằng biện pháp hòa bình các vấn đề còn tồn tại về biên giới, lãnh thổ, ranh giới biển và thềm lục địa với các nước liên quan trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hiệp quốc về Luật biển năm 1982 và các quy tắc ứng xử, các thỏa thuận của khu vực đã đạt được. Xây dựng đường biên giới hòa bình, hữu nghị, hợp tác cùng phát triển.

Chủ động đóng góp tích cực và có trách nhiệm vào việc xây dựng Cộng đồng ASEAN. Đưa quan hệ với các đối tác đi vào chiều sâu, thực chất và hiệu quả hơn. Chủ động tham gia tích cực và đóng góp hiệu quả tại các diễn đàn đa phương, khu vực và quốc tế góp phần vào hòa bình, ổn định, hợp tác phát triển của khu vực và trên toàn thế giới.

Xin cám ơn các vị đại biểu Quốc hội./.

http://thutuong.chinhphu.vn/Home/Toan-van-Bao-cao-giai-trinh-va-tra-loi-chat-van-Quoc-hoi-truc-tiep-cua-Thu-tuong-Nguyen-Tan-Dung/201212/17381.vgp

Hồi ức về anh đại úy Nguyễn Tấn Dũng

Viên đại úy mặt mũi đầy bùn, nhoẻn một nụ cười rất hồn nhiên. Nhà báo lão thành Ba Dân nhìn viên đại úy, nói với chúng tôi: “Người cán bộ phải dấn thân như thế !”.

Trích đăng bài viết của nhà báo Minh Diện, cựu phóng viên báo Tiền Phong

___________________________________

CHẮC THỦ TƯỚNG CHƯA QUÊN!

Trong cuốn sổ tay phóng viên của tôi còn ghi lại một chuyện xảy ra cách đây 34 năm.

Hôm ấy là ngày 21-8-1978, một đoàn cán bộ Trung ương Đoàn do Bí thư Trung ương Đoàn, Anh hùng quân đội Lê Thanh Đạo, dẫn đầu đến xã Ba Chúc, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang sau vụ thảm sát của Khmer đỏ. Đại tá Lê Thanh Đạo, sĩ quan không quân, phi công dũng cảm tham gia 8 trận đánh, tiêu diệt 6 máy bay F4 của giặc Mỹ. Cùng đi có nhà báo lão thành Ba Dân, nguyên Phó Tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam, cùng các nhà báo Việt Thảo, Đình Khuyến, Phạm Hậu…

Từ sáng sớm, đoàn chúng tôi khởi hành từ Sài Gòn bằng hai chiếc xe U-OÁT cũ kỹ, theo quốc lộ 4 về miền Tây. Con đường bị tàn phá trong chiến tranh, lại bị lũ lớn xói lở, ổ gà ổ trâu lổn nhổn, thỉnh thoảng phải tránh những hố bom hố pháo chưa kịp lấp. Hai bên đường làng xóm xác xơ. Cứ cách vài cây số lại gặp một trạm Ba-rie chắn ngang đường, đó là những trạm kiểm soát liên hợp, kiểm tra tất cà các phương tiện giao thông chống buôn lậu, vượt biên, đặc biệt là ngăn người lên biên giới vì chiến sự đang hết sức căng thẳng.

Càng đến gần biên giới không khí càng ngột ngạt. Người dân bồng bế con, gồng gánh chạy từ biên giới về, bộ đội hành quân lên biên giới thanh niên nam nữ vác chông tre đi rào làng.

Đất nước mới hòa bình chưa bao lâu, hố bom chưa kịp lấp, vết thương trên da thịt chưa kịp lành, đang phải ăn bo bo thay gạo, lại xảy ra chiến tranh, kẻ thù lại là người đồng chí từng môi hở răng lạnh, chung một chiến hào đánh Mỹ, từng hy sinh máu xương vì nhau! Đau quá!

Chúng tôi đến xã Ba Chúc, huyện Tri Tôn, An Giang, nơi bọn lính Pôn bốt mới tràn sang tàn sát đồng bào ta đêm 17 rạng 18 tháng 4. Không bao giờ tôi có thể quên được những gì mình nhìn thấy buổi chiều năm ấy. Những đống xác người chồng chất trong chùa, trong trường học, dưới chân núi Tượng, núi Dài, bên bờ kinh. Người bị chặt đầu , người bị cắt cổ , mổ bụng , trẻ em bị lưỡi lê đâm , phụ nữ bị lột hết quần áo lấy cọc tre đóng vào cửa mình . Không thể đếm xuể bao nhiêu xác chết. Bọn lính Pôn Pốt tràn sang lúc nửa đêm, khi bà con ta vẫn ngủ say. Chỉ bảy, tám tiếng đồng hồ, chúng đã giết hại hàng ngàn người dân vô tội.Hành quân lên biên giới

Bộ đội và dân quân lấy bao ni lông gói xác người đưa lên xe bò chở ra hố chôn tập thể . Người thân của các nạn nhân còn sống sót chạy tản cư hết , làng xóm bỏ hoang, điêu tàn. Cách chỗ chúng tôi chưa đầy một tầm đạn súng cối , bọn Khmer đỏ núp trong công sự dưới rặng thốt nốt vẫn thường xuyên bắn sang và rình rập , lừa phía ta sơ hở là tập kích bất ngờ gây thêm tội ác . Khắp xã Ba Chúc , từ núi Tượng đến ngôi chùa của người Miên , nồng nặc mùi tử khí , rải rác xác người chết, từng bầy chó hoang nháo nhác vục mõm vào xác chết đang phân hủy…

Từ Ba Chúc , An Giang , chúng tôi sang Kiên Giang, đến Trung đoàn 152 (Bộ đội địa phương Kiên Giang) đang chiến đấu bảo vệ biên giới. Đồng chí Chủ nhiệm chính trị ân cần đón tiếp chúng tôi. Đó là một đại úy rất trẻ . Anh nói những diễn biến trên tuyến biên giới do đơn vị mình phụ trách , và quyết tâm của anh em trong đơn vị đánh trả bọn Pôn bốt . Khi kể lại chuyện bọn Pôn bốt giết hại đồng bào mình, người đại úy trẻ nghẹn lời, lấy tay chùi nước mắt. Gương mặt anh quắt lại, mắt đỏ ngầu.

Chúng tôi đề nghị ra thăm bộ đội ngoài trận địa , chủ nhiệm chính trị hơi ngần ngừ vì cuộc chiến đấu đang hết sức căng thẳng , nhưng khi anh Lê Thanh Đạo nói, hầu hết thành viên trong đoàn đếu là người đã qua khói lửa , đồng chí đại úy trẻ kêu thêm hai chiến sỹ bảo vệ , cùng mình dẫn chúng tôi lên chốt.

Trên đường ra trân địa có một đoạn lầy , bánh xe bị lún sâu không lên được . Chủ nhiệm chính trị hô: “ Nào các đồng chí theo tôi !”. Anh nhảy xuống ghé lưng cõng nhà báo lão thành từ xe qua vũng lầy .Tiếp đến chị Hằng . Hai chiến sỹ cùng chúng tôi, cả anh Lê Thanh Đạo nhảy xuống làm theo đồng chí đại úy. Mọi người khiêng bổng hai chiếc xe qua bãi lầy. Khi xe tiếp tục lăn bánh, viên đại úy mặt mũi đầy bùn, nhoẻn một nụ cười rất hồn nhiên. Nhà báo lão thành Ba Dân nhìn viên đại úy, nói với chúng tôi: “Người cán bộ phải dấn thân như thế !”.

Lẽ thường vốn vậy, tốt-xấu do mình, khen chê là quyền của mọi người, ai cũng có cách nhìn nhận và chính kiến của họ, chặn miệng thế gian là việc làm ngược cách. Dư luận trong dân chúng (trừ những động cơ cá nhân nào đó của một vài người hay thiểu số) phần lớn thường khách quan, công bằng; việc đáng khen thì khen, việc đáng chê thì chê, khi cần phỉ nhổ thì cũng không ngán. Có điều, người bị chê phải biết tự nhận diện, tự xem xét lại mình, không nên chủ quan hoặc tìm cách khỏa lấp, chống chế vì những động cơ cá nhân thấp hèn.

Buổi tối hôm ấy, Ban chỉ huy trung đoàn 152 mời chúng tôi ăn cơm với thịt trâu luộc. Bấy giờ đang thời buổi đói kém, và đã trải qua một ngày vất vả , mệt nhọc , nhưng chúng tôi không tài nào nuốt nổi miếng cơm vì hình ảnh ghê rợn ở Ba Chúc vẫn còn lởn vởn trước mắt. Tôi kê cuốn sổ tay lên đầu gối ghi lại những việc xảy ra trong ngày , và tự nhiên bật ra những câu thơ không vần điệu. Trước khi tạm biệt Ban chỉ huy trung đoàn, tôi đọc bài thơ ấy cho mọi người nghe:

Ta lại hành quân về biên giới Tây Nam
Mộc Hóa, Tân Biên lửa ngút ngàn
Máu dân nhuộm đỏ đồng Ba Chúc
Sa Mát, Cà Tum …trắng khăn tang.

Những tên lính áo đen
Ném trẻ con vào lửa
Đập đầu , mổ bụng người già
Đâm cọc nhọn vào cửa mình phụ nữ
Miệng hô vạn tuế Ăng-ca

Những tên đập đầu dân Cam-pu-chia
Xây dựng “chính quyền năm không” quái dị
Chúng với ta từng là đồng chí
Thắm tình hữu nghị anh em

Đường hành quân về biên giới Tây Nam
Qua những hố bom chưa kịp lấp
Qua những chiếc cầu đổ sập
Gặp những mẹ già chua kịp xả khăn tang

Ta lại hành quân về biên giới Tây Nam
Thành phố sau lưng chập chờn ánh điện
Con khát sữa chụp bình cháo loãng
Mẹ đói lòng nhai tạm bo bo
Vợ ta còm cõi xác xơ
Đêm ngày lại đỏ mắt chờ đợi ta!

Mọi người lặng đi một lát . Đồng chí đại úy chủ nhiệm chính trị bắt tay tôi và xin bài thơ chép tay để đăng báo tường đơn vị.

Đồng chí đại úy trẻ ấy chính là Thủ tường Nguyễn Tấn Dũng bây giờ.

Hơn ba chục năm đã qua chưa một lần tôi gặp lại ông Nguyễn Tấn Dũng, nhưng tôi không quên hình ảnh người đại úy trẻ khóc khi kể về những người đồng bào của mình bị sát hại và nhảy xuống cõng nhà báo lão thành qua đầm lầy lên mặt trận biên giới năm ấy.

MINH DIỆN (BLOGPOST)

[nguồn: REDS.vn]

Ở Việt Nam mình thì sao? Trên 30 phút hay 1 tiếng ?… thì mới bị nói là trễ hẹn. Cặp danh hài Quang Minh và Hồng Đào có nói một câu cười châm biếm như sau: “Không đi trễ không phải là người Việt Nam”. Thật thấm thía vô cùng, không biết vui hay buồn đây?

Xã hội phát triển thì ý niệm về giờ giấc cũng phải thay đổi để thích ứng với hoàn cảnh mới. Giữ đúng giờ hẹn là một đức tính công nghiệp rất cần thiết trong xã hội văn minh, nó nói lên độ tin cậy và tinh thần tôn trọng những người chung quanh ta.

Người có tính đúng giờ là người biết xếp đặt công việc cho cuộc sống của mình, là người không lười biếng, là người có trách nhiệm và tôn trọng người khác. Có thể nói đức tính tôn trọng giờ hẹn nói lên trình độ văn minh của người đó.

So với nhiều dân tộc khác, người Nhật rất tôn trọng giờ hẹn, đi làm đúng giờ, đến dự tiệc hay tham dự 1 buổi họp cũng rất đúng giờ. Bởi vì người Nhật rất nghiêm khắc với việc trễ giờ.

Được biết 80 năm trước đây, vào những năm đầu thời vua Minh Trị (1867 – 1912), khi mà người Nhật phải thuê mướn kỹ sư ngoại quốc đến Nhật để dạy nghề cho kỹ sư và công nhân của mình. Người Nhật cũng đã từng bị chê bai là làm việc không tôn trọng tính đúng giờ.

Vào thời đó xã hội Âu châu đã sớm phát triển, đã hình thành ra những quy tắc đúng giờ và được coi như là một giá trị đạo đức của xã hội. Ông Jean Calvin, nhà thần học người Pháp nổi tiếng, đã tạo ra ý tưởng giáo dục này, gây ảnh hưởng sâu đậm và loan rộng ra khắp nơi bên Âu châu, đặc biệt là tại Thụy Sỹ, nơi mà ông đã dành gần hết cuộc đời của mình sống tại Geneva (1536-1538 và 1541-1564).

Thế nhưng, người Nhật đã khắc phục được tính đúng giờ là nhờ:

– Sớm áp dụng hệ thống thời gian hiện đại của Tây phương.

– Phổ biến đồng hồ và áp dụng luật đúng giờ.

– Áp dụng phương pháp quản lý khoa học của Mỹ.

– Quy định “Ngày kỷ niệm của Giờ”

– Bản tính dân tộc của người Nhật: điềm tĩnh

Ở Nhật, kể từ khi xe điên Shinkasen (Đường sắt cao tốc “Tân Cán Tuyến”) xuất hiện vào năm 1964 đến nay, nếu trễ hẹn trên 1 phút thôi là bị khiển trách ngay. Trong khi đó ở các nước khác như: ở Ý là trên 15 phút, ở Anh là trên 10 phút, ở Đức là trên 5 phút.

Còn ở Việt Nam mình thì sao? Trên 30 phút hay 1 tiếng ?… thì mới bị nói là trễ hẹn. Cặp danh hài Quang Minh và Hồng Đào có nói một câu cười châm biếm như sau: “Không đi trễ không phải là người Việt Nam”. Thật thấm thía vô cùng, không biết vui hay buồn đây?.

Chắc hẳn chúng ta ai cũng biết về tính không tôn trọng giờ giấc trong những buổi tiệc cưới hay những buổi sinh hoạt văn hóa của người Việt Nam mình. Đi trễ đã trở thành một thói quen, nhiều người nghĩ rằng đến trễ nói lên sự quan trọng của mình, để được những người đến trước chú ý đến mình hơn.

Một số người thành công trong cuộc sống, trở nên giàu có, bằng cấp cao, tự hào là người văn minh nhưng vẫn giữ nguyên thói xấu này là không tôn trọng tính đúng giờ. Đó là một trong những tính xấu mà con cái của chúng ta không kính phục, chúng cảm thấy xấu hổ khi mời bạn bè ngoại quốc tới tham dự các buổi tiệc hay các buổi sinh hoạt văn hóa của người Việt Nam mình.

Nếu có cơ hội sinh sống ở Nhật lâu, chúng ta đều thấy rằng người Nhật rất khiêm nhường, lễ độ, thành thật, có trách nhiệm, sạch sẽ và rất đúng giờ. Người Nhật luôn khiêm nhường khi làm việc chung, nghiêm túc về giờ giấc, làm tròn nhiệm vụ được giao phó và có trách nhiệm với việc làm của mình.

Theo KHÔN NGÔ TRÍ (VNEXPRESS)

“Chuyện bi thương đối với người chiến sĩ hình sự là chuyện hàng ngày… Té ngã và đổ máu là chuyện thường con à. Nhưng một mình ba chết đã đành, đằng này ba đã vô tình làm khổ cả mẹ con!”.

Nguyễn Thành Dũng, nguyên Trung úy CSHS Công an quận 11, TP HCM, viết trong nhật ký khi biết mình bị lây nhiễm HIV.

Anh đã hy sinh ngày 13/6/2006, sau 5 năm gắng gượng chiến đấu với căn bệnh HIV mà anh vô tình bị lây nhiễm. Vợ của Dũng cũng đã ra đi vào tháng 12/2005. Họ để lại một đứa con nhỏ vừa qua tuổi lên 10. Hình ảnh bé Nguyễn Duy Minh quỳ lặng bên quan tài cha mình khiến những người có mặt đều rơi nước mắt. Nỗi đau quá lớn đối với bé, chỉ trong 6 tháng, cả cha lẫn mẹ đều lần lượt ra đi…

Đổ máu vì cuộc sống bình yên

Nguyễn Thành Dũng sinh ra và lớn lên ở xóm đình Tân Liễu, huyện Bình Chánh nghèo khó. Ba của Dũng đi biền biệt từ khi Út Dũng còn nhỏ xíu, một tay mẹ của Dũng tảo tần nuôi chị em Dũng lớn khôn. Dũng lớn lên trong tình thương của mẹ, điều ấy thôi thúc Dũng gắng học để sớm đỡ đần cho mẹ.

Năm 1988, Dũng thi đậu vào Trường Cao đẳng Sư phạm nhưng sự nghèo khó đã ngăn bước Dũng trở thành thầy giáo như ước mơ thuở nhỏ. Tháng 9/1989, Nguyễn Thành Dũng thoát ly gia đình vào lực lượng Công an với chế độ nghĩa vụ quân sự. Dũng bảo, mình tự nguyện vào lực lượng Công an chỉ đơn giản vì hồi đó còn nhiều tội phạm quá…

Tháng 11/1992, Dũng thi đậu và học tại Trường Trung học Cảnh sát nhân dân tại Thủ Đức. Dũng chọn học chuyên ngành Cảnh sát hình sự để đấu tranh chống cướp, trộm cắp, lừa đảo, cờ bạc, mại dâm, ma túy, lưu manh, côn đồ theo như tâm nguyện vào lực lượng Công an của mình. Dũng biết chuyên ngành mình theo là nguy hiểm! Trong hồi ký của mình, Dũng đã ghi lại rằng: “Tôi đã học được những cái hay, phẩm chất tốt đẹp của người chiến sĩ Công an nhân dân và mong mỏi sẽ phấn đấu để phục vụ suốt đời cho ngành, cho nhân dân”.

Tháng 8/1994, đồng chí Nguyễn Thành Dũng nhận quyết định về công tác tại Đội Cảnh sát hình sự Công an quận 11. Trung úy Nguyễn Thành Dũng bắt đầu cuộc chiến đấu cam go khốc liệt với đủ loại tội phạm. Các đồng chí chỉ huy Công an quận khi ấy nhận xét về Dũng rằng: “Một chiến sĩ hình sự có vóc người nhỏ con nhưng sự dũng cảm thì ngược lại…”.

Người viết là một trong số ít người đầu tiên được biết tin Dũng bị phơi nhiễm HIV, cũng là một trong số những người cùng đồng đội thường xuyên ghé thăm vợ chồng Dũng từ khi họ bị bệnh tại căn nhà nhỏ tuềnh toàng tại xã Hưng Long, huyện Bình Chánh. Dũng cũng không biết bản thân mình bị lây nhiễm HIV trong trường hợp nào, anh chỉ ân hận một điều rằng: “Mình không biết sớm để tránh lây nhiễm cho vợ”.

Tháng 10/1998, khu vực bãi đất trống – bây giờ là Trường học Chu Văn An, quận 11, là một ổ buôn bán ma túy. Sau thời gian điều tra, Công an quận 11 quyết định tung một mẻ lưới. Khi các CSHS ập vào, bọn tội phạm cũng chống trả quyết liệt hòng tẩu thoát, Dũng được phân công “chăm sóc” một tên cao to và bặm trợn với những hình xăm vằn vện trên tay.

Dũng đã bị hắn đâm nhiều nhát dao vào người, máu anh và máu tên tội phạm cùng đổ rồi hai người vật lộn trên một đống xà bần, cuối cùng tên tội phạm cũng phải chịu thúc thủ tra tay vào còng trước sự dũng cảm của anh.

Tháng 4/2001, sau một đợt truy quét những đối tượng tổ chức lấy chồng Đài Loan tại Công viên Lãnh Binh Thăng, Dũng thấy nhiều kim tiêm còn dính đầy máu tươi của những con nghiện vương vãi nhiều nơi ở công viên, sợ người ta giẫm phải, khu vực này lại nhiều trẻ con thường xuyên chạy nhảy nô đùa, Dũng lặng lẽ nhặt từng chiếc đem bỏ vào bịch, sơ ý một ống kim rơi xuống làm chân anh chảy máu…

Tháng 2/2002, Dũng bị sốt cao kéo dài vào mỗi lúc hoàng hôn, nghĩ bị sốt rét, anh vào nằm Viện 30/4 và xét nghiệm máu. Cầm tờ giấy xét nghiệm trên tay, vợ anh bật khóc nức nở, còn anh thì chết lặng…

Cuốn hồi ký viết dở

Lúc còn sống, Dũng tâm sự với tôi: “Mình chỉ hy vọng được sống tới ngày cu Bi (con anh) lớn khôn, đến ngày tự nó có thể lo cho nó, vậy là mình mãn nguyện lắm rồi!”. Anh đã không sống được đến ngày đó…

Đầu năm 2006, trong bệnh viện, khi sức khỏe của anh như ngọn đèn leo lét trước gió, anh bảo anh sẽ viết hồi ký để lại cho con trai anh. Con anh còn quá nhỏ, những lời dặn dò của Dũng bây giờ, anh sợ bé sẽ mau quên. Anh muốn ghi lại một phần đời ngắn ngủi của mình, sau này, một ngày nào đó, con anh đọc, nó sẽ tự hiểu về người cha, người mẹ của nó.

… Ngày 26/1/1995 thì đám cưới của ba và mẹ được tiến hành. Một đám cưới giản dị nhưng tràn đầy hạnh phúc.

Đầu tháng 4/1995, mẹ báo tin vui cho ba biết là mẹ đã có thai, ba mừng quá ôm mẹ nâng cao và hôn nhẹ vào bụng mẹ: “Cám ơn em, anh ước gì nó là con trai…”. Mẹ cười: “Em thì trai gái gì cũng được”. Lúc này, lương chiến sĩ cũng nghèo lắm, nhưng ba cố dành dụm để lo cho con.

Rồi 9 tháng cũng qua, ngày 24/1/1996, ba mừng đến rơi nước mắt khi nghe tiếng khóc chào đời của con.

Cuộc sống của gia đình ta thật hạnh phúc…

Con là hoàng tử của ba, con đi học về là lại hát cho ba nghe… Ba cầu mong sao cuộc sống cứ êm đềm như thế. Dự định đến đầu năm 2003 thì sẽ sanh cho con một đứa em nữa cho vui cửa vui nhà…

Dũng công tác xa, hai ba ngày mới về, lo mảnh vườn ao cá, dạy thằng nhóc bi bô học, rồi lại đi. Vợ Dũng ở nhà, một tay lo toan mọi việc.

Vào tháng 10/1998, trong một lần kết hợp với Công an phường 8, quận 11 mai phục triệt phá một ổ buôn bán ma túy, ba bị tai nạn. Một tên tội phạm ma túy đã vật lộn và đâm ba, có lẽ nó đã bị bệnh HIV… Tháng 11/2000, trong khi trinh sát tại Công viên Lãnh Binh Thăng, ba bị một đối tượng dùng kim tiêm đâm lén từ phía sau rồi bỏ chạy, trời tối và đang làm nhiệm vụ, ba không đuổi theo. Về đơn vị, bác đội phó kêu ba đi chích ngừa, nhưng ba đã không đi…

Anh vào nằm viện trong nỗi chán chường, tuyệt vọng, thường lảm nhảm những câu vô nghĩa rồi tự cười một mình, cười khanh khách mà vô cảm. Chị cũng bệnh nhưng thấy anh tuyệt vọng, chị không cho phép mình gục ngã, hàng ngày chị đến bên anh, đút cho anh từng miếng sữa!

Về đến nhà, chị tự nhốt mình trong phòng, những giọt nước mắt cứ lăn dài trên gò má gầy gò. Chị sợ sẽ không còn nhiều ngày để lo cho anh, cho con khi mình đổ bệnh… Nghĩ đến chuyện anh đang nằm bệnh viện một mình, sợ anh nghĩ quẩn, chị lại tất tả đi vào trong bệnh viện và tự nhủ sẽ luôn ở bên anh, không cho anh biết là mình cũng đang đau khổ…

Anh bớt bệnh cũng là lúc chị kiệt sức, mấy tháng trời đi từ nhà lên Bệnh viện Nhiệt Đới gần 30 cây số lo cho anh rồi về lo cho con, chăm sóc người mẹ già 75 tuổi thi thoảng phát bệnh tâm thần đã gần lú lẫn của anh, chăm nom mảnh vườn, thửa ruộng của gia đình vượt quá sức chịu đựng đối với người phụ nữ.

Bệnh, chị vẫn gượng cười và mong anh đừng tuyệt vọng, trong hơi thở thều thào, chị thì thầm bên tai anh: “Còn con, còn mẹ, anh ơi”! Nghe vậy, anh bật khóc bên giường bệnh của chị, những nỗi buồn đau kìm nén bao lâu nay trong người đàn ông tưởng chừng như không bao giờ được khóc bật nên rưng rức.

Những ngày khó khăn của gia đình Dũng, các đồng đội đã từng kề vai sát cánh bên anh trong những ngày cùng truy quét tệ nạn xã hội vẫn thay nhau đến để giúp đỡ, động viên, người mang đến lon sữa, trái cam và nhiều khi là một miếng thịt heo tươi rói để anh nấu cháo cho chị. Nhiều anh em đến ngủ lại và kể cho anh nghe những cuộc truy quét mới, báo cho anh biết quận 11 đã được thành phố công nhận là địa bàn không còn ma túy. Nghe vậy anh vui lắm, trong chiến công ấy anh đã góp một phần công sức và cả máu của mình!

Anh có được sự hỗ trợ tiền thuốc điều trị từ lực lượng Công an nhưng còn chị, chị phải tự chịu chi phí thuốc men cho mình, cũng bởi những trường hợp như chị xưa nay chưa có nên không được hưởng chế độ trợ cấp. Để lo tiền thuốc men cho chị, đồ đạc trong nhà cứ lần lượt ra đi, tiền thuốc điều trị khi ấy quá đắt so với khả năng của gia đình, căn nhà chung cư cơ quan cấp cho phải sang tay gấp cho người ta, hai công đất mà cha mẹ để lại cũng phải bán nốt. Cơ quan, đồng đội vẫn đóng góp hàng tháng lo cho anh chị nhưng không thấm vào đâu so với số tiền quá lớn hàng ngày anh chị phải bỏ ra mua thuốc.

Nhiều tháng nhà không còn tiền, chị bỏ không dùng thuốc nữa, anh không chịu, anh nhường thuốc cho chị. Nhưng người có HIV phải thường xuyên dùng thuốc nếu không thuốc sẽ vô hiệu, biết vậy, chị ép anh uống nếu không chị… tự tử. Anh ngoan cố bảo: “Em có mệnh hệ gì thì ai lo cho mẹ, cho con”.

Anh nhường chị, chị nhường anh, họ cứ nhường từng viên thuốc cho nhau trong khi bệnh tình của hai người mỗi ngày một nặng.

Niềm an ủi duy nhất, hạnh phúc duy nhất của hai vợ chồng Dũng là bé Nguyễn Duy Minh xét nghiệm âm tính. Những ngày sau đó, hai vợ chồng Dũng cứ kìm nén nỗi khao khát được ôm thằng bé vào lòng. Anh thú thật với tôi rằng: “Nhiều khi nghĩ quẩn, mình và vợ muốn chết cho xong nhưng chỉ lo cho thằng bé, mẹ già…”.

Ban Chỉ huy Công an quận 11 và Ban Chỉ huy Đội CSHS của ba đã hết lòng an ủi và khuyên ba và mẹ bình tĩnh, có chuyện gì thì cơ quan hết lòng giúp đỡ, không được nghĩ quẩn, dù sao vẫn còn hy vọng là con…

Nhiều đêm thằng bé ngủ, anh chị muốn đặt môi vào đôi má bầu bĩnh của con nhưng rồi lại sợ, sợ lây nhiễm qua thằng bé, nỗi sợ vô hình cứ đẩy anh chị phải xa con nhỏ. Những giọt nước mắt của người mẹ nhiều đêm rớt lên đôi má con trẻ ấy. Chỉ tội cháu bé vô tư, thấy ba mẹ ở đâu là sấn vào bá vai ôm cổ, anh chị phải cắn răng kiên quyết từ chối tình cảm thiêng liêng ấy! Khi phát bệnh nặng, vợ chồng Dũng đã gửi hẳn bé Minh về ở bên ngoại.

Ngày 3/4/2005, phái đoàn của UBND quận 11 do bà Võ Thị Mỹ dẫn đầu xuống thăm ba và còn hứa giúp đỡ cho 1 căn nhà ở quận 11 để ba có điều kiện tiện đi chữa bệnh. Ba được an ủi phần nào, Đảng không bỏ ba, Nhà nước không bỏ ba, đồng đội không quên ba…

Ba chỉ tội cho mẹ của con…

Gia đình đồng chí Nguyễn Thành Dũng cũng mong chúng tôi thay lời, gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban Biên tập Báo CAND, đến độc giả của Báo CAND – Chuyên đề ANTG, những nhà hảo tâm đã giúp đỡ gia đình đồng chí Nguyễn Thành Dũng rất nhiều trong thời gian vợ chồng anh điều trị (sau bài viết đăng trên Chuyên đề ANTG).

Gia đình cũng chân thành cảm ơn Ban Biên tập Báo Công an TP Hồ Chí Minh, tờ báo đã nhận tài trợ học bổng cho cháu Nguyễn Duy Minh; Ban Biên tập và độc giả Báo Pháp luật, Báo Tuổi trẻ. Báo Tuổi trẻ cũng đã nhận nuôi dưỡng cháu Nguyễn Duy Minh.

Hồi ký của đồng chí Dũng kết thúc ở đây, những ngày cuối tháng 4, Dũng yếu lắm rồi, dù muốn viết thêm nhiều nữa nhưng Dũng cầm bút không nổi. Người thân của Dũng kể lại rằng: Những ngày sắp mất, nằm trong bệnh viện, Dũng muốn gặp bé Minh lắm nhưng Dũng sợ, ngày nào Dũng cũng gọi điện về nhà ngoại, chỉ để hỏi bé Bi ăn cơm chưa? Thèm nghe lắm một tiếng “Ba ơi”! Nhưng gần 6 tháng ròng rã, Dũng nén lòng và không một lần cho bé Minh lên bệnh viện thăm mình.

Lời tri ân cuối cùng

Đồng chí Nguyễn Thành Dũng trút hơi thở cuối cùng vào ngày 13/6/2006, sau 5 năm vợ chồng anh chống chọi với virus HIV từng giờ, từng phút cũng khốc liệt, cũng cam go như cuộc chiến đấu của anh và đồng đội với bọn tội phạm.

Ngày 14/6, Đại tá Lê Đông Phong – Phó Giám đốc Công an TP Hồ Chí Minh đã dẫn đầu đoàn đại biểu Công an thành phố về thắp hương viếng linh cữu đồng chí Nguyễn Thành Dũng. Trên quan tài anh, cờ đỏ sao vàng phủ kín. Sáng 15/6, đồng đội và người thân đã đưa Trung úy Nguyễn Thành Dũng về nơi an nghỉ cuối cùng, anh nằm lại sau một ngôi chùa, cạnh mộ vợ mình, mộ người vợ vẫn chưa kịp xanh cỏ…

Sáng 17/6, tôi và vài đồng nghiệp đã trở lại ngôi nhà xưa của anh Dũng ở xã Hưng Long, huyện Bình Chánh, thắp thêm một nén nhang, tôi đặt trang trọng lên bàn thờ anh tờ báo Chuyên đề ANTG số 562 có bài viết về anh, như một lời tri ân cuối cùng!

“Có cái chết hóa thành bất tử” – người viết xin mượn lời của nhà thơ Tố Hữu để thay lời kết. Đồng đội sẽ tiếp tục cuộc chiến đấu chống tội phạm, cái ác, tiếp tục sự nghiệp mà anh còn dang dở. Người thân và xã hội sẽ thay anh chị lo lắng cho đứa con nhỏ mồ côi của hai người…

========================
Theo CAND

Hồi giáo và chủ nghĩa khủng bố

Đại đa số các tín đồ Hồi Giáo là những phần tử ôn hòa chứ không phải là những kẻ bảo thủ cực đoan (fundamentalists). Đại đa số các phần tử bảo thủ cực đoan cũng không phải là những kẻ khủng bố. Tuy nhiên hầu hết những kẻ khủng bố hiện nay trên thế giới đều là những tín đồ Hồi Giáo.

Thế giới Hồi Giáo có xu hướng chấp nhận thánh chiến với Mỹ

Sau biến cố 11-9-2001, Tổng Thống Mỹ và một số chính khách Tây Phương đã công khai tuyên chiến với chủ nghĩa khủng bố – nhưng đồng thời xác định đây không phải là cuộc chiến chống người Ả Rập hoặc chống những người Hồi Giáo. Đối với Osama Bin Ladin và những người theo ông ta thì đây là cuộc chiến tranh tôn giáo – một cuộc chiến tranh của đạo Hồi chống lại những kẻ ngoại đạo (infidels, unbelievers). Và vì thế đương nhiên Hồi Giáo phải chống Hoa Kỳ vì Hoa Kỳ là nước lớn nhất trong thế giới ngoại đạo.

Trong một cuốn băng video được phổ biến trên đài truyền hình ngày 7.10.2001, Osama Bin Ladin nói đến “những điều sỉ nhục mà Hồi Giáo phải chịu trong hơn 80 năm qua”. Đó là vào năm 1918, đế quốc Ottoman là đế quốc lớn nhất của Hồi Giáo đã bị Tây Phương đánh bại. Thủ đô Constantinople bị chiếm đóng. Toàn lãnh thổ của đế quốc Ottoman bị Anh và Pháp chia nhau thống trị. Anh chiếm Iraq và Palestine. Pháp chiếm Syria. Anh chia Palestine thành hai nước là Jordan và Palestine. Pháp cũng chia Syria thành hai nước là Lebanon và Syria.

Trong khi đó tại Thổ Nhĩ Kỳ, nơi xuất phát của đế quốc Ottoman – người hùng Mustapha Kemal lãnh đạo thành công một cuộc cách mạng của “phong trào quốc gia thế tục” (a secular nationalit movement) giải phóng Thổ Nhĩ Kỳ khỏi ách thống trị của Tây Phương nhưng đồng thời cũng loại bỏ vai trò quốc giáo của Hồi Giáo ra khỏi chính quyền.

Đế quốc Ottoman được thành lập từ thế kỷ 13 và bị suy tàn vào đầu thế kỷ 20. Trong suốt 7 thế kỷ hưng thịnh, vị hoàng đế của đế quốc Ottoman cũng là người đứng đầu giáo phái Sunni của toàn thế giới Hồi Giáo (chiếm 80% tổng số tín đồ Hồi Giáo). Vua Hồi Giáo (Sultan) cũng là người kế vị giáo chủ Mohammad trong vai trò lãnh đạo cộng đồng Hồi Giáo, được gọi là Caliph. Nhưng cuộc cách mạng của Mustapha Kemal đã chính thức hủy bỏ “chế độ Caliph” (caliphage) trong tháng 3-1924.

Nhiều người Hồi Giáo cảm thấy đau đớn về điều này vì “chế độ calyph” tượng trưng cho sự thống nhất của Hồi Giáo từ nay không còn nữa.

Ngày 23-2-1998, tờ nhật báo bằng tiếng Ả Rập xuất bản tại Luân Đôn đã đăng “Bản Tuyên Ngôn của Mặt Trận Thế Giới Hồi Giáo kêu gọi Thánh Chiến chống Do Thái và Thập Tự Quân” có chữ ký của Osama Bin Ladin và những người lãnh đạo các nhóm Thánh chiến ở Ai Cập, Pakistan và Bangladesh. Bản tuyên ngôn mở đầu bằng các lời trích dẫn từ kinh Koran hoặc lời của tiên tri Muhammad. Bản tuyên ngôn kể ra ba tội chính của Hoa Kỳ:

Thứ nhất: Trong hơn 7 năm qua, Hoa Kỳ đã chiếm đóng đất thánh thiêng liêng nhất của Hồi giáo là Arabia, cướp phá tài nguyên và sỉ nhục nhân dân nước này. Hơn nữa, Hoa Kỳ xử dụng Arabia làm nơi xuất phát các cuộc chiến tranh chống các nước láng giềng Hồi Giáo.

Thứ hai: Hợp tác với đồng minh Do Thái, Hoa Kỳ đã gây chiến với Iraq làm thiệt mạng trên một triệu người. Sau đó Hoa Kỳ còn bao vây kinh tế nước này một thời gian lâu dài.

Thứ ba: Mục tiêu chính của Hoa Kỳ là chiến tranh tôn giáo và kinh tế. Rõ rệt nhất là quyết tâm của Hoa Kỳ hủy diệt Iraq là nước lớn nhất trong các nước Ả Rập. Hoa Kỳ âm mưu gây chia rẽ và làm suy yếu các nước Saudi Arabia, Ai Cập, Sudan để tạo điều kiện sống còn cho Israel và sự tiếp tục chiếm đóng của Thập Tự Quân tại các vùng đất của Hồi Giáo.

Bản tuyên ngôn kết luận: Rõ ràng Hoa Kỳ là kẻ đã chống lại Allah, chống lại tiên tri của Ngài và các tín đồ Hồi Giáo. Do đó, Thánh chiến đã trở thành một bổn phận cá nhân (a personal duty) của mọi người Hồi Giáo.

Phần cuối cùng, cũng là phần quan trọng nhất của bản tuyên ngôn, kêu gọi toàn thể tín đồ Hồi Giáo “hãy giết người Mỹ và đồng minh, kể cả dân sự lẫn quân sự, là nghĩa vụ cá nhân của mọi tín đồ Hồi Giáo tại mọi quốc gia” (to kill Americans and their allies, both civil and military, is an individual duty of every Muslim who is able, in any country where there is possible).

Sau khi nêu lên nhiều câu thơ trong kinh Koran, bản tuyên ngôn kêu gọi tiếp như sau: “Do được Thiên Chúa cho phép, chúng tôi kêu gọi mọi tín đồ Hồi Giáo có lòng tin nơi Thiên Chúa và sẵn sàng tuân lệnh của Ngài hãy giết bọn Mỹ và cướp phá tài sản của chúng ở bất cứ nơi nào họ thấy và bất cứ khi nào có thể làm được. Chúng tôi cũng kêu gọi các học sĩ và các vị lãnh đạo, các thanh niên và các chiến sĩ hãy tấn công quân đội Mỹ và đồng minh của chúng”. (By God’s leave, we call on every Muslim who believes in God and hopes for reward to obey God’s command to kill the Americans and plunder their possessions wherever he finds them and wherever he can. Likewise we call on the Muslim ulema and leaders and youth and soldiers to launch attacks against the armies of the American devils and against those who are allied with them…)

Điều bất lợi cho Hoa Kỳ là dư luận rộng rãi trong thế giới Hồi Giáo chấp nhận quan niệm cho rằng Hoa Kỳ là kẻ chủ mưu xâm lấn Iraq. Trước khi kết thúc, bản tuyên ngôn còn trích dẫn nhiều câu thơ trong kinh Koran và nhiều lời nói của tiên tri Muhammad kêu gọi Thánh chiến bằng những hành vi bạo động hoặc quân sự. Phần đông các tín đồ Hồi Giáo ngày nay có xu hướng tán thành bản tuyên ngôn kêu gọi Thánh chiến chống Hoa Kỳ.

Tuy nhiên, hiện nay Hoa Kỳ là một siêu cường về nhiều mặt trên thế giới. Các đồng minh của Hoa Kỳ như Anh Quốc và Israel cũng là những cường quốc quân sự. Trong khi đó, tuyệt đại đa số các tín đồ Hồi Giáo đều thuộc thế giới thứ ba gồm các nước nghèo như Bangladesh, Pakistan, Ấn Độ, các nước Ả Rập, Phi Châu và Trung Á. Nạn nghèo đói và thất học là hai căn bệnh trầm kha của thế giới đạo Hồi. Do đó, để thực hiện cuộc thánh chiến chống Hoa Kỳ và đồng minh, thế giới Hồi Giáo không thể chọn con đường nào khác hơn là chủ nghĩa khủng bố. Chủ nghĩa khủng bố là một hình thức chiến tranh của kẻ yếu chống lại kẻ thù lớn mạnh hơn mình để tồn tại.

Chủ nghĩa khủng bố có liên hệ mật thiết với giáo lý đạo Hồi

Đại đa số các tín đồ Hồi Giáo là những phần tử ôn hòa chứ không phải là những kẻ bảo thủ cực đoan (fundamentalists). Đại đa số các phần tử bảo thủ cực đoan cũng không phải là những kẻ khủng bố. Tuy nhiên hầu hết những kẻ khủng bố hiện nay trên thế giới đều là những tín đồ Hồi Giáo! Đó là một sự thật không ai có thể phủ nhận. Do đó, vấn đề được đặt ra là: Phải chăng chủ nghĩa khủng bố có liên hệ với giáo lý đạo Hồi?

Từ các tổ chức khủng bố nhỏ ở Saudi Arabia, Ai Cập, Nam Dương, Philippines, Palestine cho đến tổ chức khủng bố lớn như Al-Qaida có tầm hoạt động quốc tế, tất cả đều tự xưng là những tín đồ của đạo Hồi chính thống (authentic Islam). Tất cả đều “thánh hóa” các hành vi khủng bố của mình bằng cách dẫn chứng những câu thơ trong kinh Koran hoặc những lời nói của giáo chủ Muhammad trong các sách Hadiths.

Ngày 14.2.1989, giáo chủ Khomenei tuyên án tử hình nhà văn Anh Quốc gốc Ấn Độ, tác giả cuốn tiểu thuyết “The Satanic Verses” có nội dung phỉ báng tiên tri Muhammad và treo giải thưởng 3 triệu đô la cho ai giết được nhà văn này.

Cả thế giới Tây Phương đều lên án hành động của giáo chủ Khomenei. Trong khi đó, thế giới Hồi Giáo cho hành động của Khomenei là hợp với tiêu chuẩn của đạo Hồi. (a standard Islamic practice) vì trong sách Hadith có chép lời tiên tri Muhammad như sau: “Nếu có kẻ nào nhục mạ ta mà tín đồ nghe thấy thì hãy giết nó ngay lập tức” (If anyone insults me, then any Muslim who hears this must kill him immediately” (The Crisis of Islamn, by Bernard Lewis – The Modern Library 2003 – page 141)

Các tổ chức khủng bố của đạo Hồi không phải mới xuất hiện trong thời gian gần đây mà thực sự đã xuất hiện từ thế kỷ 11 tại Iran và Syria. Đó là tổ chức Assassins, bắt nguồn từ tiếng Ả Rập Hashishiyya – có nghĩa là những kẻ hút ma túy (hashish takers). Tổ chức khủng bố Assassins đã gây kinh hoàng khắp Trung Đông trong hai thế kỷ, từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 13, với chủ trương tiêu diệt bất cứ ai muốn cải tổ xã hội Hồi Giáo. Có thể nói tổ chức khủng bố Assassins là tiền thân và là khuôn mẫu cho các tổ chức khủng bố của Hồi Giáo hiện nay.

Tuy nhiên, khác với các tổ chức khủng bố thời xưa, các tổ chức khủng bố ngày nay rất coi thường sự sát hại các thường dân vô tội. Hơn thế nữa, dường như họ coi các thường dân vô tội là mục tiêu chính bởi lẽ càng có nhiều nạn nhân chết trong một vụ khủng bố họ càng đạt được tiếng vang lớn trong dư luận quần chúng và càng gây được sự sợ hãi cho đối phương. Họ coi đó là một chiến thắng về tâm lý (apsychological victory). Điển hình là vụ tổ chức Al-Qaida cho nổ bom tại Tòa Đại Sứ Mỹ ở Đông Phi năm 1998 nhằm giết hại 12 nhà ngoại giao Mỹ, nhưng vụ khủng bố này đã làm thiệt mạng trên 200 người vô tội gồm hầu hết là người Hồi Giáo Phi Châu. Ngay sau đó, các báo Hồi Giáo bằng tiếng Ả Rập đều gọi các nạn nhân vô tội này là “các thánh tử đạo” và tán tụng rằng: “Allah đã tập họp các thánh tử đạo trên nước thiên đàng!”

Bắt đầu từ thập niên 1980, các vụ khủng bố leo thang dưới hình thức ôm bom tự sát (suicide bombing). Các vụ khủng bố tự sát được khởi đầu từ năm 1982 với nhóm khủng bố Hamas và Hizbulla ở Palestine và Li Băng nhằm chống Israel. Các phần tử khủng bố tự sát thường được tuyển mộ trong số các thanh niên trẻ tuổi và nghèo, sống vất vưởng trong các trại tỵ nạn. Họ được hứa hẹn hai điều: một là được lên thiên đàng hưởng thú nhục dục với 72 cô gái đẹp đến muôn đời. Hai là thân nhân của họ được trợ cấp một số tiền lớn.

Các thiếu nữ khủng bố tự sát đầu tiên được tuyển lựa trong số những người Kurk ở Thổ Nhĩ Kỳ trong các năm 1996-1999 và tại Palestine trong năm 2002.

Giáo lý Hồi Giáo từ xa xưa vốn coi hành đông tự sát là một trọng tội và kẻ tự sát sẽ bị phạt bằng lửa hỏa ngục. Nhưng ngày nay, hành vi ôm bom tự sát lại được các giáo sĩ Hồi Giáo giải thích là sự hy sinh trong cuộc Thánh chiến nên người tự sát phải được coi là “thánh tử đạo”! Giáo chủ Hồi Giáo Ai Cập Yousef Quaradawi tuyên bố: Mọi người chết vì tham gia thánh chiến đều là tử đạo vì thánh chiến là một bổn phận và là một điều răn tôn giáo (a religious commandment).

Sau biến cố 9-11, giới trí thức Hoa Kỳ không xét đoán Hồi Giáo qua hành động của các nhóm khủng bố, nhưng xét đoán Hồi Giáo qua những điều được thuyết giảng trong kinh Koran, trong truyền thống Hồi Giáo (Islamic tradition) và trong các học thuyết của các nhóm Hồi Giáo cực đoan:

1. Kinh Koran: Nếu hình ảnh Thiên Chúa trong Cựu Ước của đạo Do Thái là một vị thần Chiến Tranh (God of War) thì hình ảnh Thiên Chúa Allah trong kinh Koran là một vị thần của sự kinh hoàng (God of Terror) vì thiên chúa Allah công khai ra lệnh cho các tín đồ Hồi Giáo phải giết hại những người ngoại đạo:

“Ta sẽ gieo kinh hoàng nơi trái tim của những kẻ ngoại đạo. Các con hãy chặt đầu chúng và hãy cắt rời tất cả các đầu ngón tay của chúng”. (I will cast terrors into the hearts of those who disbelieve. Therefore, trike of their heads and strike off every fingertips of them – Koran 8:12).

Kinh Koran của đạo Hồi cũng như Cựu Ước của đạo Do Thái và Tân Ước của đạo Ki Tô đều qui các kẻ thù của đạo mình thành kẻ thù của Thiên Chúa (enemies of God). Nói chung, các tôn giáo độc thần đều có ý tưởng cho rằng Thiên Chúa có kẻ thù và Ngài cần có sự giúp đỡ của các tín đồ để chống lại những kẻ thù đó. Do đó, chiến đấu chống kẻ thù của tôn giáo mình là chiến đấu cho Thiên Chúa hoặc chiến đấu theo con đường của Ngài (fighting in the path of God).

Điều nguy hiểm đáng chú ý là kinh Koran xúi giục các tín đồ Hồi Giáo giết người ngoại đạo (kẻ thù của Thiên Chúa) mà không phải chịu trách nhiệm về hành vi sát nhân này vì đó là việc Thiên Chúa làm. Kinh Koran xác nhận: “Không phải các con đã giết chúng mà Thiên Chúa mới là đấng đã giết chúng và không phải các con đã đập tan kẻ thù mà Thiên Chúa mới là đấng đã dẹp tan chúng” (You did not slay them but it was God who slew them. You did not smite when you smote the enemy but it was God who smote – Koran 8:17).

2. Truyền thống Hồi Giáo (Islamic Tradition). Truyền thống Hồi Giáo được tạo thành do các sách Hadiths và các sách Sunnas. Hadiths ghi chép các lời nói và hành động của Muhammad. Sunna là sách sưu tầm các bài giảng nổi tiếng của các giáo sĩ Hồi Giáo qua nhiều thế kỷ. Truyền thống Hồi Giáo đã hình thành những quan niệm đặc biệt trong đời sống của các tín đồ.

Một trong những quan niệm đặc biệt mang tính chất cực đoan nguy hiểm của đạo Hồi là Đạo Hồi chia thế giới thành hai khu vực:

– Khu vực Hồi Giáo (Dar al-Islam/Land of Islam), còn được gọi là Nền Hòa Bình Hồi Giáo (Pax Islamica). Các nước Hồi Giáo đều trở thành anh em nên không được đánh phá lẫn nhau. Khu vực Hồi Giáo phải được sống trong hòa bình.

– Khu vực ngoại đạo (Dar al-Harb/Land of unbelievers) được kinh Koran định nghĩa là khu vực của những kẻ “theo sự sai lầm”. Tất cả những kẻ ngoại đạo đều đáng bị chặt đầu hoặc bị bỏ tù! (The unbelievers follow falsehood. When you meet the unbelievers in the battlefield, strike off their heads or make them prisoners – Koran 47: 4).

Nhiệm vụ của thế giới Hồi Giáo là phải truyền bá đạo Hồi đến toàn thể nhân loại bằng mọi phương tiện kể cả chiến tranh. Mục tiêu của đạo Hồi là sự nhận biết về Thiên Chúa Allah bao trùm trái đất như nước bao trùm đại dương (Islam’s aime is that the knowledge of God should cover the earth as the waters cover the ocean).

Các nước Hồi Giáo quan niệm tôn giáo và chính trị là một, do đó luật pháp Hồi Giáo (sharia) luôn luôn chi phối mọi khía cạnh của đời sống toàn dân. Các ý niệm về “dân chủ” và “nhân quyền” là những điều xa lạ trong các nước Hồi Giáo. Hầu hết các nước Hồi Giáo đều ngăn cấm dân của họ đổi đạo với những hình phá hết sức nặng nề.

– Tại Maroc: Ai bỏ đạo Hồi để theo đạo khác sẽ bị phạt tử hình. Kẻ dụ dỗ tín đồ Hồi Giáo bỏ đạo bị phạt từ 6 tháng đến 3 năm tù.

– Luật Pháp của xứ Saudi Arabia khẳng định: Không thể có hai tôn giáo trên bán đảo Ả Rập. Do đó, việc thiết lập bất cứ một tôn giáo nào khác ngoài đạo Hồi đều bị cấm chỉ tại Saudi Arabia.

– Tại xứ Hồi Giáo Sudan, trong thập niên 1990, hơn hai triệu người Ki Tô Giáo da đen đã bị sát hại.

– Luật pháp Iran qui định hình phạt tử hình đối với ai bỏ đạo Hồi để theo đạo Ki Tô.

Quả thật thần học Hồi Giáo đã mang lại những hậu quả nguy hiểm chết người (the lethal consequences) cho những người ngoại đạo. Vì thế nhiều người đã coi Hồi Giáo như một tôn giáo của sự khủng bố (a religion of terror) và kinh Koran như một cuốn sách của tử thần (the book of Death). Theo sự ước lượng của các chuyên viên chống khủng bố thì các thành phần cực đoan chỉ chiếm 15% trong tổng số các tín đồ Hồi Giáo mà thôi. Tuy nhiên, tổng số tín đồ 15% có nghĩa là trong thế giới Hồi Giáo hiện có 200 triệu kẻ sát nhân sẵn sàng phạm tội ác chống lại nhân loại!

CHARLIE NGUYỄN (SACHHIEM.NET)