Tag Archive: huy


Kính Chiếu Yêu
Nhắc tới “sâu bít” (showbiz), người ta liên tưởng ngay đến một thế giới nhốn nháo, quay cuồng, nơi mọi giá trị thực, ảo đều bị đảo lộn trong guồng quay thị phi để cho ra đời những sản phẩm chẳng giống ai. Bởi lẽ chỉ giống một tí xíu như mặc trùng một kiểu váy áo, thì “ta đã chẳng phải là ta nữa rồi”. Trong cái guồng quay đó, người ta tìm đủ cách, đủ trò chỉ để chứng tỏ rằng ta là duy nhất, là của hiếm, của độc, là khác biệt, thậm chí dị biệt so với tất cả những người còn lại. Không có giới hạn đúng sai, phải trái mà chỉ có trước – sau, khác – giống. Đó là “nguyên lý sống còn” trong thế giới “sâu bít”. Tiếp tục đọc

Máu Trường Sa vẫn chảy

Cuộc hải chiến bi hùng 25 năm trước trên đảo Gạc Ma vẫn chưa đi vào dĩ vãng. Những giọt máu Trường Sa vẫn chảy và những giọt nước mắt đất liền vẫn chảy để giữ chủ quyền dân tộc.

 

“Quê ơi! Về nhé”

Các liệt sĩ đang nằm trên đảo Nam Yết.

Những chiến sĩ hy sinh trên quần đảo Trường Sa đều được đưa về an nghỉ tại nghĩa trang trên đảo Nam Yết. Tại nghĩa trang này có 4 ngôi mộ còn nồng mùi vôi mới: Đinh Thanh Bình (quê Quảng Bình, hy sinh năm 2011); Nguyễn Văn Hà (quê Nghệ An, hy sinh năm 2010); Lại Huy Công (quê Thái Bình, hy sinh năm 2012) và Nguyễn Văn Cường (quê Hưng Yên, hy sinh năm 2012).

Chiều về trên Nam Yết, sắp đến giờ cơm mà bên 4 ngôi mộ này vẫn còn mấy tốp chiến sĩ ngồi nhặt cỏ và trò chuyện với mấy tấm bia mộ dựng vội bằng xi măng. Kẻng báo giờ cơm buổi chiều, tốp chiến sĩ ấy mới thì thầm với người nằm xuống: “Quê ơi! Về nhé”.

Mỗi khi đi qua đảo Gạc Ma, các tàu Hải quân ta luôn có lễ thả hoa tưởng niệm cho những người đã ngã xuống vì chủ quyền. Bây giờ những con tàu đánh cá Việt Nam khi ra khơi, khi qua vùng biển này, ngư dân cũng đã có thói quen thả hoa tưởng niệm những người anh hùng đã và đang bảo vệ bức tường Trường Sa.

Thì ra họ là những tốp đồng hương với các liệt sĩ, ngày mai họ lên tàu trở về đất liền, để lại bạn giữa muôn trùng sóng gió.

Trên Trường Sa, đồng hương với nhau khi nói chuyện không dùng đến các đại từ nhân xưng phức tạp như: Chú, bác, anh, em, họ chỉ thủ thỉ “Quê ơi”. Đêm ấy, những người bạn đồng hương của các liệt sĩ được chỉ huy đảo đặc cách cho ở cùng với bạn đến tận giờ đi ngủ.

Nguyễn Huy Chung – chiến sĩ cùng huyện Kim Động, Hưng Yên với liệt sĩ Nguyễn Văn Cường tay mân mê con ốc: “Mấy bữa nay biển động. Tớ chỉ kiếm được con ốc này thôi. Tớ sẽ mang đến cho em gái cậu. Mai tớ về, cậu ở lại rồi khi nào được về quê, tớ sẽ sang thăm”.

Về chuyện này, Chung kể: “Trước lúc hy sinh, em không biết Cường. Cường hy sinh bên đảo Chìm, lúc đưa về đây an táng được một tuần thì từ bên đảo Chìm điện sang hỏi thăm, khi biết em là đồng hương cùng huyện, các anh bên đó nhờ em chăm lo cho phần mộ của Cường và dặn: Cường viết thư về nhà có hứa mang về cho em gái mình con ốc biển. Vì thế, em thay bạn mang quà về quê”.

Giờ chia tay, trước những ngôi mộ nằm nghiêm trang giữa biển, đại tá Nguyễn Bá Ngọc – Phó Tư lệnh Vùng 4 Hải quân xúc động: “Xin các anh linh liệt sĩ thứ lỗi. Đất nước còn khó khăn, thiếu thốn, chưa có điều kiện đưa các đồng chí về nhà ngay với gia đình. Chúng tôi xin hứa, ngay khi có điều kiện sẽ đưa anh em về đất liền quê hương”.

Không thể có điều kiện để ngay sau khi hy sinh có thể đưa thi thể các liệt sĩ về đất liền nên những chiến sĩ ngã xuống trên Trường Sa phải chờ rất lâu để được về nhà. Cát biển, nước biển mặn chát khiến thời gian để hài cốt của họ được sạch sẽ rất lâu, có thể mất đến 7 – 8 năm.

Và nước mắt đất liền vẫn chảy

Trong các liệt sĩ tại Trường Sa, Lại Huy Công và Nguyễn Văn Cường là những người hy sinh gần đây nhất. Tại quê hương xã Hùng Cường, Kim Động, Hưng Yên, bà Hoàng Thị Tuyết – mẹ liệt sĩ Nguyễn Văn Cường lặng lẽ khóc khi chúng tôi hỏi thăm.

Cường là con trai lớn, dưới có cô em gái. Phút xúc động qua đi, bà Tuyết chỉ nói như tự an ủi mình: “Cũng may, em nó được nằm giữa bạn bè, có người thỉnh thoảng nói chuyện chắc nó cũng đỡ tủi”.

Bà kể, tháng 6.2012, sau khi Cường hy sinh được 4 tháng, Bộ Tư lệnh Hải quân có đưa bà ra Trường Sa thăm mộ con. Và đến giờ bà vẫn còn xót xa cho người cùng cảnh ngộ, bà kể: “Hai anh em Lại Huy Công, Nguyễn Văn Cường hy sinh cùng nhau nhưng tôi còn khỏe, còn ra thăm con được, mẹ anh Công yếu quá, không ra được thăm con, thật tội”.

Vào ngày 2.2.2012 định mệnh ấy, khi Cường gặp nguy hiểm, Lại Huy Công đã anh dũng lao tới cứu mạng cho Cường nhưng không thành, cả hai hy sinh cùng lúc và giờ họ lại nằm bên nhau giữa Trường Sa.

Dù vô cùng nuối tiếc khi cậu con trai duy nhất không còn nhưng bà Tuyết bảo: “Thôi thì Cường nhà tôi có một thân, một mình, mất đi còn đỡ, anh Công đã có vợ, con vẫn còn bé nên càng thấy xót xa. Hôm đi Trường Sa về, tôi có đến nhà Công báo tin cho bố mẹ anh ấy để họ yên tâm, nhưng bố Công đã yếu lắm rồi, không biết có chờ được ngày đón con về hay không”.

Vào dịp tháng 6 năm ngoái, trong đợt ra thăm Trường Sa, lúc ấy, ông Lại Vĩnh Thành, bố của Công đang ốm, con thì còn quá bé nên không ai đi được. Và đúng như bà Tuyết tiên liệu, ông Thành vừa mới ra đi mà không được chứng kiến ngày con mình được đưa về quê. Bà Nguyễn Thị Nhật (thị trấn Diêm Điền, huyện Diêm Điền, Thái Bình) – mẹ của liệt sĩ Lại Huy Công – trong vòng hơn một năm đón nhận luôn hai nỗi đau lớn nhất đời: Mất con, mất chồng…

Qua điện thoại, bà chỉ nghẹn ngào: “Tôi mong từng ngày để được đưa Công về quê nằm cùng cha nó”.

64 người ngã xuống ở Gạc Ma 25 năm trước đủ thấy cái giá của chủ quyền dân tộc là vô cùng lớn. Để có được cuộc sống thanh bình ta đang có, những giọt máu Trường Sa vẫn chảy và những giọt nước mắt đất liền vẫn chảy.

Nam Hải [danviet.vn]

Nhân quyền và “Cánh đồng chết” !

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

—Trích bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ

 

Còn biết bao nhiêu hành động ghê rợn như thế hoặc hơn thế vì thời gian mà dần dần bị chìm vào quên lãng. Nếu những sự kiện đó được liệt kê đầy đủ, hẳn “người Mỹ sẽ còn kinh sợ và xấu hổ hơn nhiều” – tờ Life nhận định.
45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai
Nhà báo Phranh Bran-mai-ơ vừa có bài trên tờ Earthtime viết về cuộc thảm sát Mỹ Lai của đế quốc Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ông cho rằng, mặc dù cuộc thảm sát Mỹ Lai đã qua 44 năm, nhưng thời gian vẫn không thể xóa nhòa được tội ác của kẻ đi xâm lược, nỗi hổ thẹn đó vẫn còn làm nhức nhối trong lòng nước Mỹ.
 
Ngày 16-3-1968, đây là ngày định mệnh của dân làng Mỹ Lai, khi mà những binh lính Lữ đoàn bộ binh số 11 của Mỹ từ bên kia bán cầu kéo đến. Theo lệnh chỉ huy, chúng bắn giết phụ nữ, trẻ em, người già và san phẳng Mỹ Lai trong vòng 3 tiếng đồng hồ. Những thi thể đẫm máu nằm ngổn ngang khắp làng. Từ xa, người ta đã nhìn thấy những đống lửa rừng rực bốc cao từ những ngôi nhà bị đốt cháy. Đau xót hơn, những dấu hiệu trên các thi thể phụ nữ cho thấy họ đã bị hiếp trước khi bị giết. Con số người chết trong vụ thảm sát này thật kinh khủng – 504 người, gần như toàn bộ cư dân trong làng.
45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai
 Họ là những thường dân vô tội, là nạn nhân của Đại đội Sác-li khát máu và sát nhân. Không một ai bị giết trong cuộc giao tranh thực sự. Họ bị dồn thành từng đám, không một thứ vũ khí trong tay, phụ nữ, trẻ em, người già… tất cả bị bắn bởi những loạt đạn lạnh lùng của lính Mỹ. Vụ sát hại thảm thương này không chỉ đơn thuần là những hành vi của nhóm lính côn đồ bất trị “coi người Việt Nam không phải là người” gây ra. Nó là một cuộc bắn giết được lên kế hoạch cẩn thận với mục tiêu giết càng nhiều càng tốt. Nhưng hơn một năm sau, công luận Mỹ mới biết được sự thật qua loạt bài phóng sự của nhà báo Xay-nơ Hớt-xơ, vì quân đội Mỹ đã che đậy bưng bít thông tin.
 45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai
Nhà báo Rôn Ha-béc-lơ, người đầu tiên công bố những tấm hình về vụ thảm sát Mỹ Lai trên tờ Life hơn một năm sau vụ thảm sát cho rằng, bọn chúng (lính Mỹ) như những con thú đói mồi, thèm được giết, được ăn một cách nghiến ngấu. Ha-béc-lơ kể: “Là phóng viên chiến trường, tôi được phép đi cùng lính Mỹ trong các vụ càn quét. Hôm đó, trên con đường mòn ở Mỹ Lai, chúng tôi gặp hai đứa trẻ. Một người lính bắn vào đứa trẻ bé. Đứa trẻ lớn hơn lao vào để che chở cho em nhưng đã bị ăn 6 phát đạn vào người. Một lúc sau, chúng tôi gặp người đàn ông và 2 đứa trẻ khác, một bé trai và một bé gái. Những tên lính Mỹ nổ súng và cắt họ ra làm đôi. Đứa bé trai bị thương vào cánh tay và cẳng chân. Thằng bé lao về phía chúng tôi trong sự thất đảm, kinh hoàng, người nó đầy máu. Tôi quỳ gối để chụp ảnh thằng bé và một người lính cũng quỳ gối cạnh tôi để bắn thằng bé. Phát súng đầu tiên nổ hất ngửa thằng bé ra phía sau, phát thứ 2 hất tung nó lên cao, đến phát thứ 3, thằng bé rơi xuống. Bắn xong, tên lính này bỏ đi dửng dưng. Không có một chút biểu hiện nào trên gương mặt của hắn ta, không có một chút thể hiện nào trên gương mặt của tất cả những người lính Mỹ. Họ đã phá hủy, giết hại với một vẻ hoàn toàn thản nhiên, với vẻ của một người đang làm công việc bình tâm. Thật kinh hoàng!”
45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai
Khi sự thật về vụ thảm sát Mỹ Lai được tiết lộ đã khiến sự phẫn nộ, bất bình của dư luận Mỹ và thế giới lên đến cực điểm (11-1969) và phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Vào mùa thu 1969, hàng triệu người biểu tình ở khắp nơi trên thế giới. Điển hình là cuộc biểu tình của 250.000 người tại Oa-sinh-tơn xuống đường phản đối chiến tranh ở Việt Nam, đây là cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam lớn nhất nước Mỹ.
Đối với một thế hệ những người Mỹ, người châu Âu và châu Á lúc đó, Mỹ Lai đồng nghĩa với hình ảnh đáng sợ của người Mỹ. Tờ Thời báo đã viết: “Nước Mỹ lúc bấy giờ và những người Mỹ đó phải đứng ở ghế bị cáo và phải tự vấn lương tâm về những tội lỗi gây ra tại Mỹ Lai. Họ sẽ không bao giờ có thể thoát được những tội lỗi của mình”.
Thế nhưng khi đó, “chiến thắng luôn nằm trong tay kẻ mạnh”, không một binh lính Mỹ nào phải chịu trách nhiệm về hành động giết người dã man của mình, ngoại trừ Trung úy Ca-lây giết 22 người dân vô tội ở Mỹ Lai (con số thực tế là 109 người). Phiên tòa xét xử Trung úy Ca-lây được coi như là phiên tòa “dài nhất, lớn nhất và đau đớn nhất trong lịch sử nước Mỹ” thế kỷ XX. Tuy nhiên, Ca-lây chỉ bị quản thúc tại gia hơn 3 năm. Một phán quyết thật bất công và phi lý của Tòa án Mỹ.
Trước khi xử Ca-lây, quân đội Mỹ đã có cuộc điều tra riêng về vụ thảm sát Mỹ Lai. Cuộc điều tra này được tiến hành từ tháng 12-1969 đến tháng 3-1970. Trong vòng 14 tuần, Tướng Uy-li-am Pia-xơ và Ủy ban điều tra đã ghi nhận lời khai của 403 nhân chứng, bao gồm các quân nhân, sĩ quan chỉ huy, tuyên úy, nhà báo Mỹ và của cả những người Việt. Kết quả cuộc điều tra đã khiến quân đội Mỹ “sốc” tới mức phải ỉm ngay nó đi. Gần 400 giờ thu âm các nhân chứng vào băng đã bị chuyển sang chế độ bảo mật cho tới bây giờ. 

Theo BBC4, những lời khai ghi trong băng khiến Lầu Năm Góc thực sự choáng váng. Một lính Mỹ kể: “Phát đạn đầu tiên trúng vào đầu một trẻ sơ sinh và tôi phải quay mặt đi để nôn mửa”. Một người khác cho biết: “Đa số đồng ngũ trong Đại đội của tôi không coi người Việt Nam là người… Một gã tóm ngay một cô gái và… sau đó, họ đã bắn chết cả nhóm con gái đó khi đã… xong…”.
Các cuốn băng trong cuộc điều tra chứng minh rằng, các binh lính Mỹ đã hiếp và giết hàng trăm dân thường không chỉ ở một làng mà cả trong 3 làng ngày hôm đó (16-3). Băng ghi âm cũng chứng minh rằng 3 đại đội, chứ không phải chỉ có Đại đội Sác-li gây ra tội ác man rợ ghê tởm này.
Nhưng phải đến 6 năm sau (tháng 4–1975) người Mỹ mới chịu rút khỏi Sài Gòn trong một cuộc tháo chạy trên trực thăng. Sức mạnh phi thường của một dân tộc nhỏ bé đã đánh bại và làm bẽ mặt một siêu cường hàng đầu thế giới về công nghệ giết người. Cuộc chiến tranh Việt Nam cũng đã gửi lại nước Mỹ “bộ sưu tập lính” mắc hội chứng chiến tranh với những vết thương tâm lý in hằn cùng quá khứ khủng khiếp. Hàng chục bộ phim, hàng trăm cuốn sách tiếp tục “cày xới” lên quá khứ. Mọi lính Mỹ tham chiến ở nước ngoài trong bản cam kết phục vụ đều có thêm cảnh báo: “Không có thêm Việt Nam”. Thượng nghị sĩ Ken-nơ-đi đã gọi I-rắc là “Việt Nam của G.Bu-sơ”.
45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai
Lời sám hối muộn màng: “Tôi luôn nghĩ rằng có ai đó sẽ bất ngờ chỉ một ngón tay vào tôi và nói rằng: Hắn là một trong số đó.”
Trong cuộc chiến tranh vùng vịnh đầu tiên 1990, một thông điệp rõ ràng mà các chỉ huy Mỹ gửi đến cho lính của họ khi đang thi hành mệnh lệnh là “Không được có Mỹ Lai nữa, hiểu chứ?” Nhưng trong cuộc chiến ở I-rắc, bắt đầu từ năm 2003, những nỗi sợ hãi về Mỹ Lai có vẻ đã bị lãng quên, khi lính Mỹ tra tấn dã man tù nhân ở nhà tù A-bu Gra-íp, hay câu chuyện về vụ thảm sát ở Ha-đi-tha, nơi mà lính Mỹ đã sắp hàng 24 người dân I-rắc rồi nổ súng, cũng như những vụ bạo hành và lạm dụng ở nhà tù Goan-ta-na-mô.
Tổ chức theo dõi nhân quyền thế giới có thể gọi đó là “Mỹ Lai ở I-rắc”. Dù I-rắc còn bất ổn, số lính Mỹ thiệt mạng ngày một tăng, sự so sánh là không thể tránh được, nhưng ở đây có một sự khác biệt rõ ràng so với hơn bốn mươi năm trước ở Việt Nam. Vào lúc đó, không một người lính Mỹ nào phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình. Duy nhất chỉ có Trung úy Ca-lây với 3 năm tù quản thúc tại gia. Trong khi ở Ha-đi-tha, nhiều quan chức phải khiển trách, nhiều người phải ra tòa vì bị cáo buộc là đồng phạm và không ngăn cản, trong khi nhân viên an ninh U-tơ-rích phải chịu đối mặt với cáo buộc giết 18 người dân. Công luận và các nhà sử học đã bị xúc phạm khi Tổng thống Bu-sơ so sánh Việt Nam với I-rắc. Ông ta đã từng nói rằng, những nguy hiểm của việc rút quân khỏi I-rắc sẽ gây nên những “cánh đồng chết” giống như Mỹ rút khỏi Việt Nam.
AMARI TX (TH)

Khi sự thật hoàn toàn vắng bóng!

Ảnh- Hạ viện Hoa Kỳ
Ở Việt Nam.Bảo đảm quyền con người là nguyện vọng tha thiết của nhân dân Việt Nam vì dân tộc này đã từng bị thực dân, đế quốc tước bỏ những quyền tự do cơ bản nhất khi phải làm người dân thuộc địa và dân tộc này đã trải qua muôn vàn hy sinh trong các cuộc chiến tranh vệ quốc để giành lại quyền sống. Sự hy sinh của nhân dân Việt Nam trải qua nhiều thập kỷ qua có thể coi đó là biểu tượng phấn đấu vì quyền con người một cách mạnh liệt nhất. Điều đó đã được nhân dân tiến bộ trên toàn thế giới lấy đó là biểu tượng noi theo.
Trong những năm sau khi giành lại được độc lập, đất nước hoàn toàn thống nhất, đặc biệt sau 25 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn trong việc đảm bảo quyền con người trên tất cả các lĩnh vực dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội và được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Người dân Việt Nam tham gia đầy đủ và tích cực vào mọi mặt của đời sống xã hội. Quyền con người được đảm bảo và phát huy là nhân tố quan trọng tạo sự đồng thuận, đưa đến thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam.
Ngày 19-4-2013. Ngoại trưởng Mỹ, Ông John Kerry đã công bố báo cáo thường niên của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ về tình trạng nhân quyền trên thế giới. Riêng về Việt Nam, bản báo cáo này đã có những điều mà chúng ta có thể nhận thấy rằng: Bằng những luận điệu không mới, dựa trên những thông tin rất phiến diện mà có thể nhận ra là sự thật hoàn toàn vắng bóng. Thông qua đó họ đã chỉ trích: “chính quyền Việt Nam vẫn tiếp tục vi phạm nhân quyền”!?- Nội dung báo cáo của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ cáo buộc là:”Chính quyền Hà Nội vẫn hạn chế nghiêm ngặt các quyền chính trị của công dân, đặc biệt là quyền thay đổi chính phủ, hạn chế các quyền tự do dân sự….”!?
Tiếp theo cuộc họp báo trước thềm Quốc hội Hoa Kỳ ngày thứ Tư 10-4-2013 để giới thiệu cái gọi là “phái đoàn” tham dự cuộc điều trần về tình hình vi phạm nhân quyền của chính phủ Việt Nam. Ngày thứ Năm, 11-4-2013, trước một số dân biểu dưới sự chủ tọa của dân biểu Chris Smith, Chủ tịch Tiểu ban nhân quyền của ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ (ông Chris Smith .Hạ nghị sĩ đã từng hai lần đề nghị Dự luật Nhân quyền cho Việt Nam và được Hạ viện Mỹ thông qua nhưng đều bị Thượng viện bác bỏ), còn có những gương mặt quen thuộc mà trong quá khứ và hiện tại đã có nhiều “Thành tích” thuộc hạng bất hảo.Cộng đồng người Việt tại hải ngoại gọi họ là những kẻ bịp bợm, những người này tự phong cho mình những chức danh thuộc hạng “Tự sướng” mà hành động chống nước Cộng hoà XHCN Việt Nam là mục tiêu hàng đầu như: Võ Văn Ái, Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ quyền làm người Việt Nam (Vietnam Committee on Human Rights) . Nguyễn đình Thắng:Giám đốc Điều hành của Ủy Ban Cứu Người Vượt Biển. Cựu dân biểu Cao quang Ánh.Hòa Thượng Thích Viên Lý, Chủ tịch Hội đồng điều hành GHPGVN Thống nhất hải ngoại tại Mỹ.Mấy vị này không ai lạ lẫm gì, họ hành nghề vu vạ Việt Nam trong một thời gian dài, hễ nghe nhắc tên của các tổ chức của các vị này trên các phương tiện truyền thông ở hải ngoại là mọi người có thể đoán ra là đang làm cái gọi là: “Phúc trình, Thông cáo, thỉnh nguyện thư….”. Đã quá quen đến nỗi mọi người nói đó là”Gánh hát rong” cứ “Đến hẹn lại lên” trong thời gian qua. Chính nghị sỹ Eni Faleomavaega, thành viên Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ, đã có lần khẳng định : “Tôi không nhất trí với cách nhìn nhận về nhân quyền của một số nghị sỹ Mỹ, những người có thiên hướng áp đặt tiêu chí mà họ cho rằng chuẩn mực trong vấn đề này. Mỗi nước đều có giá trị và nguyên tắc riêng trong thực thi nhân quyền. Tôi cho rằng chính phủ Việt nam đã làm những gì tốt nhất. Tôi luôn phản đối việc các nghị sỹ Mỹ chỉ trích tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Tôi cho rằng thực tế nhân quyền tại Việt Nam chưa được phản ánh chính xác.”
Trước hết, cần khẳng định rằng: Báo cáo thường niên của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ về tình trạng nhân quyền Việt Nam đã đi ngược lại nguyên tắc tôn trọng quyền dân tộc tự quyết trong quan hệ quốc tế , điều đã được Hiến chương Liên hiệp quốc ghi nhận. Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị của Liên hiệp quốc từng quy định rõ: “Các dân tộc tự do có quyền quyết định thể chế chính trị của mình. Việc xây dựng và thực thi Hiến pháp, pháp luật như thế nào là quyền của mỗi quốc gia, dân tộc”. Theo đó, mọi quyền của người dân Việt Nam, trong đó có quyền làm chủ, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do tôn giáo… đã được Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước Việt Nam bảo đảm. Trên thực tế, nhân dân Việt Nam đã và đang được hưởng những quyền này. Người dân Việt Nam được tự do tham gia vào mọi mặt đời sống chính trị, xã hội của đất nước, được đóng góp ý kiến với Đảng và Nhà nước Việt Nam về những vấn đề quan trọng liên quan đến quốc kế dân sinh, kể cả việc xây dựng và chỉnh đốn Đảng và những chiến lược xây dựng và phát triển đất nước ,quyền con người, đồng thời là công cụ hữu hiệu bảo vệ pháp luật, đấu tranh có hiệu quả với các loại tội phạm và vi phạm. Nội dung báo cáo của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ cho thấy,Họ đang tự cho mình cái quyền được phán xét, cũng như can thiệp vào Việt Nam bằng cách gắn các mối quan hệ với các đòi hỏi chính trị. Họ đã cố tình phớt lờ những tiến bộ thực chất mà Việt Nam đã đạt được trong việc thực hiện đầy đủ các quyền con người.Các chính sách vì dân của Nhà nước Việt Nam đã mang lại những kết quả đáng kể trong việc giảm tỷ lệ đói nghèo, phát triển giáo dục, chăm sóc y tế, tạo việc làm, cải thiện đời sống cho người dân. Chính vì thế, Việt Nam được đánh giá là một trong những nước đi đầu trong việc thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ của LHQ khi đã hoàn tất 5/8 mục tiêu đề ra trước thời hạn 2015″. .
 

Riêng về quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí, theo báo cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ: “chính quyền Việt Nam tiếp tục sử dụng các điều luật về an ninh quốc gia và vu khống, để hạn chế các quyền này, chẳng hạn như điều 88 về tội tuyên truyền chống Nhà nước “!? Những thực tế này được chính những người Mỹ và nhiều người nước ngoài từng đến Việt Nam chứng kiến, cũng từng được Việt Nam khẳng định và công bố trong các Báo cáo kiểm điểm định kỳ về nhân quyền tại Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc trong những năm gần đây. Cũng cần khẳng định rằng, ở Việt Nam không có cái gọi tù nhân tôn giáo hay tù nhân chính trị. Những kẻ mà trong báo cáo của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ nêu ra mà Họ đã dùng những ngôn từ mĩ miều để gán cho là “những nhà hoạt động đấu tranh vì nhân quyền và dân chủ,” Trớ trêu thay, lại là những kẻ vi phạm luật pháp Việt Nam. Những biện pháp mà Nhà nước Việt Nam thực hiện đối với các đối tượng này thời gian qua là nhằm duy trì ổn định chính trị-xã hội để bảo đảm sự phát triển. Theo luật pháp ở bất kỳ quốc gia nào thì những hành vi vi phạm pháp luật, đe dọa lợi ích căn bản của đất nước đều phải bị trừng trị theo pháp luật.
Cũng theo báo cáo của Bộ Ngoại giao Mỹ , chính quyền Việt Nam tiếp tục kiểm soát Internet, đặc biệt là sử dụng điều luật về tội “tuyên truyền chống Nhà nước”!? Việt Nam cũng khẳng định rằng: 

Việc viết bài trên các blog, mạng xã hội… với nội dung xuyên tạc, vu cáo, chống chính quyền nhân dân là vi phạm các quy định hiện hành của luật pháp Việt Nam. Ngay tại nước Mỹ, nơi được cho là “thiên đường tự do ngôn luận”, thì luật pháp các bang ở Mỹ cũng quy định rất rõ vấn đề này và không ít cá nhân vi phạm đã bị bắt, xử lý.
Về mặt tín ngưỡng trong báo cáo của Bộ ngoại giao Hoa Kỳ là : “Quyền tự do tôn giáo tiếp tục là đối tượng bị diễn giải và bảo vệ không đồng nhất” !?Chẳng hiểu căn cứ vào đâu mà Bộ Ngoại giao Mỹ lại cho mình cái quyền phán xét như vậy? Chỉ cần dẫn lời của những người Mỹ đã lên tiếng phản bác nội dung của Báo cáo cũng thấy rõ mưu đồ thực sự của việc đưa ra những đánh giá đó là gì. Nhiều người đã lên tiếng phản đối và vạch rõ: “chính quyền xử lý các hành vi phạm pháp mà có vài cá nhân theo đạo trong đó thì lại nói là đàn áp tôn giáo. Thấy dân tập trung khiếu nại đông người hay biểu tình thì lại ghép cho hai chữ “dân oan”. Nhận thức hết sức lệch lạc. Nếu thấy người dân biểu tình mà bảo là dân oan thì chắc chắn trên thế giới này nước Mỹ là nước có nhiều dân oan nhất”. Mọi công dân Việt Nam đều có quyền tự do theo đạo hoặc không theo đạo. Những người theo đạo được tạo điều kiện thuận lợi, cả trong khuôn khổ pháp lý cũng như trên thực tế, để thực hành những nghi lễ theo đức tin của họ. Mọi tổ chức tôn giáo được pháp luật Việt Nam thừa nhận đều được tự do hành đạo theo quy định của pháp luật. Những thực tế này được chính những người Mỹ và nhiều người nước ngoài từng đến Việt Nam chứng kiến, cũng từng được Việt Nam khẳng định và công bố trong các Báo cáo kiểm điểm định kỳ về nhân quyền tại Hội đồng nhân quyền Liên hiệp quốc trong những năm gần đây.
Chủ tịch Tiểu ban về châu Á – Thái Bình Dương và Môi trường Toàn cầu thuộc ủy ban Đối ngoại Hạ viện Mỹ – Hạ nghị sĩ Eni F.H.Faleomaveaga đã có lần đưa ra ý kiến của mình không đồng tình về cách đánh giá phiến diện trên của Bộ Ngoại giao Mỹ trong những lần trước đây khi nói về tự do tôn giáo ở Việt Nam, Ông cho biết: “Trong các chuyến thăm đến Việt Nam, không có bất cứ nơi nào mà tôi phải chứng kiến cảnh người ta bị cấm đoán vì lý do tín ngưỡng”. Ông cho biết tiếp : “Qua tất cả những gì tôi biết và tất cả những chuyến đi của tôi đến Việt Nam chưa bao giờ trong đầu tôi tồn tại ý nghĩ rằng Chính quyền Việt Nam đàn áp những người theo tôn giáo của họ. Đó là tất cả trải nghiệm bản thân của tôi và tôi cũng muốn biết ai là những người viết ra bản báo cáo đó và tại sao họ lại có những kết luận như vậy”. Theo Ông, ngay cả khi bản báo cáo đã được công bố nhưng “có nhiều chi tiết mà những người viết báo cáo đó không bao giờ đến trực tiếp nước này để chứng kiến tận nơi” xem liệu những điều đó có diễn ra ở đấy không?.
Chỉ căn cứ vào lời vu khống, bịa đặt theo kiểu “Kinh niên” của một số người chống cộng cực đoan ở hải ngoại và một số tổ chức, cá nhân không có thiện cảm với Việt Nam mà khẳng định rằng ở Việt Nam đã xảy ra tình trạng “truy bức tôn giáo”, “chính trị và sắc tộc” thậm chí là còn là thủ phạm của việc “buôn người lao động cưỡng bức và mại dâm cưỡng bức” để đánh giá về tình hình nhân quyền của Việt Nam thì chỉ có thể là nhận xét hồ đồ hoặc xuất phát từ những định kiến lỗi thời của một cá nhân có “Thâm niên” về vu cáo với sự dẫn dắt kiểu “Cầm tay” của ông Chris Smith,mà bản báo cáo thường niên của bộ ngoại giao Hoa Kỳ là một minh chứng cổ vũ cho sự dối trá.
Bản báo cáo thường niên của bộ ngoại giao Hoa Kỳ về tình trạng nhân quyền trên thế giới trong đó có Việt Nam.Báo cáo này đang đi ngược lại lợi ích của cả hai quốc gia đang trên đà ngày càng thăng tiến. Tại Hội nghị cấp cao Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) lần thứ 19 ngày 10/11/2011, tổ chức tại thành phố Honolulu, bang Hawaii (Mỹ), Chủ tịch nước Cộng hoà XHCN Việt Nam Trương Tấn Sang đã có cuộc trao đổi với Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton. Tại cuộc trao đổi trên, bà Ngoại trưởng khẳng định: “Mỹ tiếp tục coi trọng và mong muốn thúc đẩy hơn nữa quan hệ hợp tác nhiều mặt với Việt Nam, trong đó có việc nâng tầm quan hệ, hướng tới đối tác chiến lược”. Chủ tịch Trương Tấn Sang cũng khẳng định: “Việt Nam luôn coi trọng quan hệ với Mỹ như một đối tác hàng đầu có ý nghĩa chiến lược”.Nỗ lực của 2 quốc gia. 

Để xây dựng lòng tin trên mọi phương diện, trong đó có vấn đề nhân quyền, không có cách nào khác là các bên phải tôn trọng sự khác biệt và tăng cường đối thoại. Chỉ có hợp tác, trao đổi thẳng thắn, thì những khúc mắc trong vấn đề nhân quyền mới được hóa giải.
Tại Việt Nam, những nền tảng cơ bản để bảo đảm quyền con người được củng cố ngày một vững chắc và đây là những tiến bộ cả thế giới công nhận. Việc “Sao chép” những thông tin mang tính định kiến từ các nhân vật mang tư tưởng chống phá Nhà nước Việt Nam là bằng chứng để chỉ trích Việt Nam “truy bức tôn giáo, chính trị và sắc tộc”, thậm chí là “thủ phạm của việc cưỡng bức lao động”… là không thực tế, thiếu công bằng và không thể chấp nhận được.Có thể khẳng định, Quyền con người ở Việt Nam không ngừng được phát huy và sự tham gia tích cực của người dân vào mọi mặt đời sống kinh tế xã hội của đất nước là nhân tố quan trọng của thành công của công cuộc đổi mới ở Việt Nam . Quyền con người luôn luôn gắn liền với lịch sử, truyền thống và phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế, văn hoá của đất nước. Do vậy không thể áp đặt các tiêu chuẩn, mô thức của nước này cho nước khác.Hoa Kỳ hãy thực hiện lời hứa của họ đó là: “sẽ lắng nghe” chứ không “chỉ dạy” các nước khác trong vấn đề nhân quyền.
AMARI TX
Viết tại Houston TX Hoa Kỳ

TT – Trung Quốc đề nghị ASEAN đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử của các bên ở biển Đông (COC), cùng lúc đó lại ban hành Quy hoạch hải dương mới. Phải chăng Trung Quốc muốn tạo lợi thế để mặc cả khi biến yêu sách phi lý thành sức mạnh để đàm phán?

Các binh sĩ Trung Quốc kiểm tra khí tài trên tàu Lan Châu để chuẩn bị cho cuộc tập trận từ hôm 14-4 tại Tây Thái Bình Dương

Tin sốt dẻo này do Ngoại trưởng Indonesia Marty Natalegawa thông báo cho giới truyền thông ngay sau khi cuộc họp ngoại trưởng ASEAN tại Brunei kết thúc ngày 11-4. Đặc biệt hơn, như ông Natalegawa cho biết, cuộc họp do chính Trung Quốc đề nghị và tất cả thành viên ASEAN đều đồng ý tham gia.

Liên tục tập trận trên biểnTân Hoa xã vừa công bố loạt ảnh hai tàu chiến thuộc hạm đội Nam Hải. Trong ảnh là các binh sĩ Trung Quốc kiểm tra khí tài trên tàu Lan Châu để chuẩn bị cho cuộc tập trận từ hôm 14-4 tại Tây Thái Bình Dương. Cuộc tập trận được phía Trung Quốc thông báo là “nhằm mục đích huấn luyện các hạng mục tấn công và phòng thủ xa bờ”.Tham gia cuộc tập trận này có hai tàu chiến của hạm đội Nam Hải là Lan Châu và Hằng Thủy. Hai tàu chiến này chỉ mới “nghỉ ngơi” bảy ngày sau chuyến tuần tra và tập trận dài 16 ngày ở biển Đông cũng như Tây Thái Bình Dương. (ĐÔNG PHƯƠNG)

Đây được xem là động thái quan trọng, vì từ trước đến nay Trung Quốc luôn tìm cách trì hoãn đàm phán về COC vốn mang tính ràng buộc pháp lý cao hơn Tuyên bố về ứng xử của các bên trên biển Đông (DOC).

Trao đổi với Tuổi Trẻ, ThS Trương Minh Huy Vũ – nghiên cứu sinh tại ĐH Bonn (Đức) – cho rằng cần đặt lời đề nghị này vào bối cảnh khu vực hiện tại với hàng loạt điểm “nóng” như căng thẳng ở bán đảo Triều Tiên, Philippines đang khởi kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế về tranh chấp biển đảo, tranh chấp ở quần đảo Senkaku/Điếu Ngư…

Không khó để nhận thấy trong những sự việc này Trung Quốc có liên quan một phần hoặc thậm chí là “nhân vật chính”. ThS Huy Vũ cho rằng đề nghị của Trung Quốc có thể là biện pháp tạm thời mà nước này sử dụng để giảm độ “nóng” hiện tại trong khu vực.

Việc giảm nhiệt này có thể do Trung Quốc đang tỏ ra “chấp nhận quan hệ dựa trên luật pháp và chịu kiềm chế chiến lược để đạt lợi ích lâu dài” nếu biện pháp này đảm bảo mang lại một trật tự lợi ích lâu dài.

“Ví dụ điển hình như việc Trung Quốc chấp nhận ký DOC với ASEAN vào năm 2002 – ThS Huy Vũ nhận định – Có thể thấy suốt lộ trình phát triển trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc kéo dài được khoảng 10 năm mà không chịu nhiều tác động ảnh hưởng tiêu cực”. Do vậy, nếu Trung Quốc chịu kiềm chế quyền lực, chịu quan hệ đa phương và quan hệ dựa trên luật pháp với các nước nhỏ thì chắc chắn các nước sẽ hoan nghênh và hợp tác với Trung Quốc. Từ việc này Trung Quốc có thể xây dựng được một trật tự mà không phải sử dụng vũ lực hay đe dọa để xây dựng trật tự theo ý mình.

Trong khi đó, ThS Lê Hồng Hiệp, nghiên cứu sinh tại ĐH New South Wales (Úc), lại cho rằng Trung Quốc chủ động đề nghị họp với ASEAN về COC là theo kiểu “vừa đấm vừa xoa”.

Thực chất đây là một thủ thuật để tỏ vẻ thiện chí nhằm xoa dịu sự phản đối của các nước liên quan, mặt khác đơn phương thực hiện các hành động thực thi “chủ quyền thực tế” ở biển Đông. Chẳng hạn, Cục Hải dương quốc gia Trung Quốc mới đây công bố Quy hoạch phát triển hải dương năm năm lần thứ 12 đã nhấn mạnh “bình thường hóa” các hoạt động tuần tra chấp pháp trên biển.

Theo ThS Lê Hồng Hiệp, đây chỉ là một trong nhiều động thái của Trung Quốc để tăng cường sự hiện diện và thực hiện chức năng quản lý nhà nước về mặt dân sự của mình trên biển Đông, “cho dù các nước liên quan khác có thể coi đó là bất hợp pháp”. “Đối với các động thái liên quan đến Hoàng Sa và Trường Sa, mục đích sâu xa của Trung Quốc có thể là nhằm thực hiện “chủ quyền trên thực tế” đối với hai quần đảo của VN” – ThS Hiệp nhận định.

Phía Philippines hoan nghênh cuộc họp của ASEAN với Trung Quốc về COC nhưng cũng tỏ ra thận trọng. “Đây là một diễn biến tích cực, nhưng chưa chắc đã là một đột phá. Hãy cứ chờ xem” – báo Daily Tribune (Philippines) ngày 13-4 dẫn lời người phát ngôn của Tổng thống Philippines Ramon Carandang.

CẢNH TOÀN

Ông Trần Công Trục (nguyên trưởng ban biên giới Chính phủ):Muốn tạo lợi thế để mặc cả!Chúng ta biết Trung Quốc vẫn chần chừ, không muốn đàm phán về COC, nhưng vừa rồi tại hội nghị giữa ASEAN và Trung Quốc ở Bắc Kinh, đặc biệt tại hội nghị bộ trưởng ngoại giao ASEAN – Trung Quốc ở Brunei, Trung Quốc chủ động đề nghị có cuộc họp đặc biệt để triển khai tiến trình đàm phán COC. Ngược lại, trong thực tế, họ vẫn đưa ra quy hoạch mới, triển khai nhiều vấn đề cụ thể, chủ yếu nhằm vào hai quần đảo Hoàng Sa-Trường Sa của VN và biển Đông.

Câu hỏi cần đặt ra là phải chăng việc ban hành Quy hoạch hải dương mới vào thời điểm này là để Trung Quốc xúc tiến mạnh mẽ hơn các hoạt động trên thực tế nhằm tạo lợi thế mặc cả và biến yêu sách phi lý thành sức mạnh để đàm phán COC. Phải chăng Trung Quốc đã cảm thấy đủ sức và đủ thế ngồi nói chuyện với các nước ASEAN?

Tôi cho rằng với tính chất đây là quy hoạch do một cơ quan cấp bộ ban hành, sắp tới Trung Quốc sẽ thực hiện bài bản, cụ thể chứ không chỉ đơn thuần là tuyên truyền. Rất có thể trước khi các bên thống nhất được nội dung đàm phán COC, Trung Quốc sẽ thật sự tiến hành khai thác dầu khí trên biển Đông, không phải chỉ là thăm dò nữa vì họ từng triển khai giàn khoan khổng lồ xuống biển Đông.

HƯƠNG GIANG ghi

[Nguồn: http://tuoitre.vn/The-gioi/543253/vi-sao-trung-quoc-muon-dam-phan-coc.html]

Vắng phản biện, cạnh tranh dễ độc đoán, chuyên quyền

Không có sự phản biện, sự cạnh tranh, Đảng dễ chủ quan, duy ý chí. Đường lối chính trị dễ bị sai lầm, hành động độc đoán, chuyên quyền, làm mất dân chủ trong xã hội và không bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, không bảo đảm và phát huy vai trò quản lý của Nhà nước.

Câu chuyện đổi mới, nâng cao phương thức lãnh đạo của Đảng là một trong những vấn đề “cốt tử” được bàn tại hội thảo “Đổi mới và hoàn thiện hệ thống chính trị ở nước ta” sáng 31/1 ở Hà Nội.

Không lực lượng nào phản biện đủ mạnh

Một trong những vấn đề được xem là “cốt tử” được bàn tại hội thảo là câu chuyện đổi mới, nâng cao phương thức lãnh đạo của Đảng.

Nói như PGS.TS Lê Quốc Lý, Phó giám đốc Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, hiện Đảng cũng đang gặp khó khăn, thách thức không nhỏ ảnh hưởng đến uy tín chính trị, vai trò lãnh đạo của Đảng và sự tồn tại của chế độ. Đó là tình trạng một bộ phận cán bộ, đảng viên dễ lộng quyền, lạm quyền, coi thường pháp luật. Đảng cũng đã coi trọng và tích cực khắc phục để loại trừ tình trạng này bằng nhiều biện pháp kiểm tra, giám sát.

PGS.TS Mạch Quang Thắng cũng từ Học viện bổ sung thêm, do đặc trưng “duy nhất” đó nên dẫn đến một nguy cơ: không có lực lượng nào phản biện với tư cách một tổ chức chính trị đủ mạnh.

Ông Thắng phân tích, dùng Mặt trận để phản biện là cần thiết song chưa có cơ chế nào cho toàn thể nhân dân phản biện. Không có sự phản biện, sự cạnh tranh, Đảng dễ chủ quan, duy ý chí. Đường lối chính trị dễ bị sai lầm, hành động độc đoán, chuyên quyền, làm mất dân chủ trong xã hội và không bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân, không bảo đảm và phát huy vai trò quản lý của Nhà nước. Đặc biệt, quan điểm, đường lối của Đảng ít được cọ xát.

Sau khi trích dẫn văn kiện Đại hội Đảng về nguy cơ thoái hóa, biến chất trong đội ngũ, ông Thắng phân tích, các cảnh báo đó phản ánh tình hình thực trạng nguy hiểm cho Đảng.

“Chỉ những người có chức có quyền, những cán bộ, công chức nắm trong tay quyền, tiền, của cải thì mới có khả năng tham nhũng. Mà tuyệt đại đa số trong đó là đảng viên”, ông Thắng kết luận.

Theo TS Mạch Quang Thắng, sự suy yếu đó còn biểu hiện ở chỗ lòng tin của nhân dân với Đảng đã bị suy giảm.

PGS.TS Trần Khắc Việt (Học viện Xây dựng Đảng) phân tích, hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng với cơ quan nhà nước chưa thường xuyên, hiệu quả còn thấp. Việc xử lý các sai phạm của cán bộ, công chức chưa thật kiên quyết, nghiêm minh. “Phương thức lãnh đạo của Đảng với công tác cán bộ chậm đổi mới, quy trình phức tạp nhưng vẫn để lọt cán bộ không thật sự xứng đáng tham gia vào bộ máy lãnh đạo, quản lý của cơ quan nhà nước”, ông Việt cho hay.

Cũng theo ông Việt, tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm còn diễn ra ở nhiều nơi. Càng xuống dưới cơ sở thì tình trạng cấp ủy bao biện, làm thay việc của chính quyền càng thể hiện rõ. Còn nhiều trường hợp cấp ủy can thiệp sâu vào hoạt động của cơ quan điều tra, tố tụng, xét xử.

Trong tham luận công phu gửi hội thảo, GS Nguyễn Văn Huyên (nguyên Viện trưởng Viện Chính trị học) cảnh báo, Đảng cần xem lại cả về tâm lẫn tầm để xem liệu Đảng có đạo đức, văn minh, là trí tuệ, thiên tài.

Ông Huyên phân tích, một nguy cơ của đảng cầm quyền là dễ đi đến chuyên quyền, độc đoán. Khi có quyền, cá nhân đảng viên, người lãnh đạo dễ dàng tự thỏa mãn, dùng quyền lực thay cho chân lý, cho pháp luật trong chỉ đạo. Đặc biệt, việc ít chịu học tập, rèn luyện làm không ít người có chức quyền bị tụt hậu, trì trệ. Tất cả dẫn đến hạn chế tầm tư duy chiến lược, hoạch định chính sách, không theo kịp xu thế vận động, thậm chí còn bảo thủ làm kìm hãm tốc độ phát triển của xã hội.

Tranh cử, cạnh tranh bình đẳng

Sau khi chỉ ra hàng loạt nguy cơ nói trên, rất nhiều đại biểu nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát và giám sát quyền lực trong thể chế chính trị một đảng. Đặc biệt, cần xây dựng một cơ chế cụ thể để đảm bảo vai trò giám sát của nhân dân.

Theo TS Tống Đức Thảo (Viện Chính trị học), một trong các quyền quan trọng thể hiện quyền lực thuộc về nhân dân là quyền được quyết định chọn lựa các đại diện thể hiện cho ý chí của mình, đi đôi với nó là quyền phế truất khi người được ủy quyền không thi hành đúng ý nguyện của dân chúng.

Theo ông Thảo, Đảng nên giới thiệu cán bộ của mình ra tranh cử, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng và để dân được quyền lựa chọn người đại diện. “Làm như thế không những Đảng nâng cao uy tín, tính chính đáng cho quyền lãnh đạo của mình mà còn tăng thêm sức mạnh cho dân để cùng tham gia xây dựng bộ máy nhà nước”, ông Thảo nhận xét.

ĐB Trần Đình Nghiêm nói rõ hơn, vấn đề kiểm tra, giám sát của Đảng cần có sự phối hợp chặt chẽ với công tác thanh tra của Chính phủ, công tác giám sát của QH, với MTTQ và các đoàn thể xã hội.

“Nhân dân phải được giám sát quyền lực thông qua các hình thức phổ biến nhất như bầu người đại diện, bãi miễn người đại diện trong các cơ quan quyền lực. Người dân cũng phải có quyền phản biện với Hiến pháp, pháp luật cũng như các chủ trương lớn của nhà nước và phải được quyền bày tỏ chính kiến về những vấn đề quốc kế dân sinh”, ông Nghiêm cho hay.

Nhân cơ hội đang sửa đổi Hiến pháp 1992, một số đại biểu đề xuất xúc tiến xây dựng luật về Đảng để đảm bảo tổ chức Đảng hoạt động trong khuôn khổ pháp luật.

LÊ NHUNG (VIETNAMNET)

CUỘC ĐÀM LUẬN GIỮA CHỦ THỂ ĐỀ NGHỊ ĐA ĐẢNG (CT1) VỚI CHỦ THỂ ỦNG HỘ ĐỘC ĐẢNG LÃNH ĐẠO (CT2) TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

            – CT1: Montesquieu có bàn trong “Tinh thần pháp luật”, ông cho rằng: Nguyên nhân của dân tha hoá là do quan tha hoá, mà nguyên nhân của quan tha hoá là do độc quyền. Bạn có thể không đồng ý với quan điểm trên. Vậy nên, tôi đề cập đến quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin – Chủ nghĩa được xác định là hệ tư tưởng chỉ đường ở Việt Nam hiện nay: Triết học Mác – Lênin có lý luận về 03 quy luật của phép biện chứng duy vật, thì có “Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập – quy luật mâu thuẫn”. Nội dung của nó thừa nhận “mâu thuẫn” là động lực của sự phát triển. Trong điều kiện hiện tại, Việt Nam thừa nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có tận dụng “quy luật cạnh tranh” làm động lực phát triển kinh tế đất nước. Vậy tại sao Việt Nam lại không thừa nhận quan điểm đa đảng, vừa tận dụng và phát huy được giá trị của “quy luật cạnh tranh” trong chính trị, vừa phù hợp với quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin tạo động lực để làm trong sạch, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng? Như vậy, Việt Nam phải chăng đang đi trái với quy luật được đưa ra trong hệ tư tưởng của mình!
            – CT2: Chủ nghĩa khai sáng ở Pháp thế kỷ XVIII đã để lại những thành quả to lớn cho nhân loại, với những tư tưởng tiến bộ và có giá trị  nhân văn sâu sắc cho đến thời điểm hiện nay, và có thể cả nhiều thập kỷ hay thế kỷ về sau; và không thể phủ nhận việc Chủ nghĩa Mác – Lênin có kế thừa những quan điểm, tư tưởng tiến bộ từ các học thuyết trong giai đoạn này. Riêng với quan điểm của chúng tôi, người phương Đông từ xưa đã có câu “Xà trên không thẳng, xà dưới ắt cong”, tục ngữ Việt Nam cũng đã dạy rằng “Nhà dột từ nóc”.
            Và cho rằng độc quyền là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự tha hoá của “xà trên” theo chúng tôi cũng là một quan điểm phù hợp trong tính tương đối và biện chứng, nhưng điều này không mang tính hiển nhiên. Bởi vì, Độc quyền không sẵn mang trong nó bản chất tiêu cực. Độc quyền – duy nhất một chủ thể nắm quyền – khác hoàn toàn với khái niệm độc tài. Độc tài hay là sự độc đoán, chuyên quyền mới là yếu tố tiểu cực về bản chất. Có thể thừa nhận, sự độc tài có nguồn gốc từ sự độc quyền, nhưng không phải sự độc quyền nào cũng dẫn đến độc đài – độc đoán chuyên quyền.
             Đồng thời, không có một điều gì chứng minh rằng: một nhóm gồm nhiều người hiển nhiên là một nhóm biết lắng nghe; và cũng không có điều gì chứng minh rằng: một con người hiển nhiên là không biết lắng nghe. Không có điều gì chứng minh rằng: nhiều hơn một thì hiển nhiên vì tất cả mọi người; và cũng không có điều gì chứng minh rằng: một thì hiển nhiên không vì tất cả mọi người. Tôi thấy trong thực tiễn thế giới, rất nhiều, rất nhiều trường hợp “một” nhưng vì nhân loại, vì cả loài người. Nhưng trường hợp “nhiều hơn một” mà vì nhân loại thì không nhiều như thế. Nước Anh có Robert Owen vì nhân loại và lòng bình đẳng, bác ái, nhưng cả nước anh lúc đó đâu như vậy; tương tự như Xanh Xi – mông ở Pháp; Abraham Lincohn ỡ Mỹ. Bạn nghĩ để một mà vì tất cả mọi người lãnh đạo tốt, hay để nhiều hơn một nhưng cái nhiều hơn một trong cái “hỗn tạp” lãnh đạo tốt!?
            Aristole đã từng nói: Không phải bản chất của độc quyền hay cộng hoà đã mang sẵn trong nó tính tốt hoặc xấu; mà tuỳ thuộc vào từng điều kiện cụ thể nhất định. Tất cả mọi vấn đề đều có tính hai mặt của nó. Trong thời kỳ chiến tranh, sự độc quyền chỉ huy tập trung vào tay một chủ thể là vấn đề tất yếu và tích cực. Trong khoa học quản lý kinh doanh, người ta thường đề nghị “tập quyền” trong giai đoạn mới thành lập; nhưng vào giai đoạn ổn định và phát triển thì cần phát huy tính “cộng hoà”. Chúng ta cũng không thể phủ nhận tính “độc quyền tự nhiên” trong nền kinh tế. Những dạng độc quyền như thế là những độc quyền tích cực. Aristole cũng cho rằng, sẽ rất hiếm tìm được một chủ thể thật sự tài năng và đức độ để trao cho “độc quyền”, vì vậy, để tránh rũi ro, thì khi không có được chủ thể như vậy, chúng ta nên “cộng hoà”. Nhưng khi có một chủ thể xứng đáng để được trao sự “độc quyền”, thì sự độc quyền sẽ là một động lực lớn để phát triển đất nước, tốc độ trong việc đưa ra quyết sách và sự triệt để trong việc thực thi chiến lược từ sự độc quyền lúc này sẽ lớn hơn nhiều sự “cộng hoà”, nhất là khi cộng hoà đó là một “cộng hoà hỗn tạp”.
               Có thể nhìn thấy điều này trong lịch sử nước ta, từ sự “độc quyền” của Lê Thánh Tôn đã tạo nên một thời ký thái bình, thịnh trị; hay thời kỳ “Trinh Quán” mà Lý Thế Dân đã xây dựng trong lịch sử Trung Hoa (là những chủ thế bãi bó chức Tể tướng, Thái sư, “hư danh hoá” chức Thái phó, tập trung tối đa và trực tiếp điều hành quyền lực vào tay mình); là thực tiễn trong 40 năm làm Thủ tướng Singapore của Lý Quang Diệu với Đảng PAD của ông tồn tại duy nhất tại Singapore trong 38 năm ông làm Thủ tướng, đã đưa Singapore hoá rồng. Và người dân Mỹ hiểu sự độc quyền của Flanklin Roosevelt đã đem lại cho nước Mỹ và những tên trùm tài phiệt tại nước này nhiều lợi ích như thế nào trong thế chiến thứ hai; và sự độc quyền của Marcaret Thactcher đã vựt dậy nền kinh tế Anh như thế nào, và sự “không độc quyền” của các vị thủ tướng kế nhiệm bà sau này đã đưa nước Anh thụt lùi như thế nào. Và sự độc quyền của MITI (Bộ Thương mại Nhật Bản) trước đây đã đưa Nhật Bản đứng lên một cách mạnh mẽ sau thế chiến thứ hai như thế nào; và ai có thể phủ nhận công lao của Tổng thống Park Chung Hee với sự độc quyền đến độc tài (và ra trường bắn) đã thúc đẩy và tạo nền móng vững chắc cho nền công nghiệp Hàn quốc hiện nay!
               Với những điều kiện khách quan nhất định, có thể thấy rằng, độc quyền là điều kiện tất yếu, là nguồn gốc và là động lực của sự phát triển.
               Vậy có thể thấy được, độc quyền không mang bản chất đã sẵn tiêu cực, mà phụ thuộc vào chủ thể “độc quyền” và điều kiện, tính hình khách quan cụ thể.
               Độc quyền hay cộng hoà, trong trường hợp này là một hay nhiều đảng lãnh đạo đơn giản chỉ là cách thức lựa chọn mô hình lãnh đạo đất nước, điều đó hiển nhiên gắn với lịch sử, điều kiện của từng quốc gia cụ thể. Và thực tiễn lịch sử trong giai đoạn 28 – 30, 30 -45, 45 – 54, 54 -75, năm 1989 (Đảng Xã hội ở Việt nam tự tuyên bố giải tán)  đến nay, đã chứng minh, ở Việt Nam, độc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là điều phù hợp.
               Vấn đề thứ hai mà bạn đề cập, về “Quy luật mâu thuẫn”. Chúng tôi là những người thấu hiểu, tuân theo và vận dụng sáng tạo Triết học Mác, trong Quy luật mâu thuẫn có chỉ rõ: mâu thuẫn có nhiều loại mâu thuẫn, có mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài. Trong đó, mâu thuẫn bên trong là cái trọng yếu và mấu chốt; giải quyết mâu thuẫn bên trong mới thật sự là động lực của sự phát triển, vì sự phát triển là sự phát triển mang tính tự thân. Trong tất cả mọi vấn đề, trong tu thân (chiến thắng chính mình), trong quân sự “nội bộ phải vững chắc, đoàn kết”, trong kinh doanh “phải nắm được thị trường nội địa trước khi tiến hành vươn ra biển lớn quốc tế”. Vậy nên, mâu thuẫn bên ngoài chỉ mang tính xúc tác, điều kiện.
                Chúng tôi xin nhắc lại, mọi vấn đề đều có tính hai mặt. Chúng tôi hiểu rằng, khi chúng tôi không thừa nhận vấn đề đa đảng, chúng tôi sẽ mất đi một chất xúc tác rất quan trọng, đó là tạo áp lực để từng Đảng viên, và toàn Đảng phải tự ý thức, tự nỗ lực do tính “cạn tranh” giữa các Đảng. Nhưng “cạnh tranh” chỉ là một trong rất nhiều chất xúc tác, điều kiện khác nhau. Bên cạnh xúc tác “cạnh tranh”, còn nhiều xúc tác khác mà chúng tôi có thể tận dụng để làm động lực cho quá trình giải quyết mâu thuẫn bên trong. Nhưng nếu chúng tôi dùng chất xúc tác “cạnh tranh” giữa các đảng, thì hệ luỵ thật khôn lường với mặt trái của nó. Một loại thuốc có chất có thể gây tác dụng phụ chết người đối với người này, nhưng có thể không có hoặc có nhưng không đáng kể đối với người khác. Một loại thuốc có thể gây bớt bệnh đối với người này, nhưng chưa hẵn chữa lành bệnh cho người khác. Và bạn hãy nhìn thực tiễn chiến tranh, xung độc sắc tộc, bất ỗn chính trị liên miên tại các quốc gia châu Phi, hay Thái Lan đã tàng phá những nước này như thế nào từ vấn đề đa đảng.
                Vậy nên, đứng trên quan điểm biện chứng, xác định đúng chất xúc tác phù hợp, đặc trọng tâm vào giải quyết tốt mâu thuẫn nội bộ, nghiên cứu lịch sử và hiện thực khánh quan của Việt Nam, việc Việt Nam lựa chọn mô hình “độc đảng lãnh đạo” là phù hợp.
                 CT1: Nhưng tôi nghĩ rằng, Triết học Mác đã từng nói: “Vận động và biến đổi là thuộc tính cố hữu của vật chất”. Bên cạnh đó, như anh đã đề cập ở trên, sự phù hợp của yếu tố độc quyền tuỳ thuộc vào chủ thể, điều kiện lịch sử mang tính giai đoạn nhất định. Xã hội là một dạng vật chất, và nó luôn biến đổi, vận động, xã hội Việt Nam hiện tại đã khác xưa; Việt nam cũng không nằm trong điều kiện có chiến tranh như xưa; Đảng Cộng sản Việt nam cũng không còn trong sạch và vững mạnh như thời của cụ Hồ còn sống, Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay đã bị vướng vào một vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói và lo ngại, với đại ý: Một đảng, một con người, ngày hôm qua là vĩ đại, được mọi người ca tụng, không nhất thiết ngày hôm nay còn giữ được ánh hào quang, nếu không còn trong sạch nữa, nếu rơi vào chủ nghĩa cá nhân. Vậy, tôi thấy rằng, ở Việt Nam hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam không còn là chủ thể xứng đáng để trao cho sự độc quyền như xưa; điều kiện khách quan và tình hình Việt Nam hiện nay đã không còn như xưa. Tôi tự hỏi, hoặc là Đảng Cộng sản Việt nam không nhận thức được điều này, hoặc là Đảng Cộng sản Việt nam muốn giữ mãi vị trí độc tôn và lo sợ, thiếu tự tin trong cạnh tranh khi tiến hành đa đảng – bởi tình trạng xuống cấp nghiêm trọng của một bộ phận “không nhỏ” đảng viên, hoặc là chưa được học về câu chuyện vua Nghiêu, vua Thuấn, nên còn giữ mãi vấn đề độc đảng!?
               CT2: Thứ nhất, tôi muốn nói với bạn, xã hội Việt Nam đã vận động, biến đổi, nhưng sự vận động và biến đổi đó không “tạo ra chất mới” trong yêu cầu phải độc quyền để tồn tại và phát triển ở Việt Nam. Việt Nam hiện tại vẫn còn đó rất nhiều kẻ thù; Việt Nam hiện tại công nhân và bà con nông dân vẫn còn nghèo; và con người Việt Nam hiện tại vẫn còn đó tinh thần đoàn kết và yêu nước lớn lao; con người Việt Nam vẫn còn đó tinh thần yêu chuộng hoà bình; con người Việt Nam vẫn còn đó tư tưởng an phận; con người Việt Nam vẫn còn đó trình độ dân trí của đại bộ phận nông dân và công nhân rất thấp; con người Việt Nam vẫn còn đó trong tim hai chữ: “Đảng ta”.
                   + Việt Nam phải độc quyền lãnh đạo trong hiện tại: để đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị nội bộ, tránh tối đa sự len lõi, chia rẽ của kẻ thù, sự xáo trộn nội bộ làm mãnh đất màu mỡ, cơ hội cho những kẻ đang dòm ngó.
                    + Việt Nam phải độc quyền lãnh đạo trong hiện tại để tạo sự đi lên tương đối đồng bộ, tránh tối đa sự “vênh” trong việc phát huy các nguồn lực để phát triển đất nước, để đem lại sự ấm no cho công nhân và nông dân Việt Nam, không để xãy ra tình trạng nghèo khổ cho công nhân và nông dân như tại các nước thế giới thứ ba, các nước đang phát triển khác, nhất là trong điều kiện tiềm lực kinh tế Việt Nam còn tương tự như các nước này. Không thể đem so sánh Việt Nam với các nước tư bản đã phát triển từ rất lâu về chính trị, khi tiềm lực kinh tế là không thể so sánh. Với tiềm lực kinh tế như hiện nay, nông dân và công nhân Việt Nam sẽ gánh lấy hậu quả như nông dân và công nhân các nước thế giới thứ ba nếu Việt Nam tiến hành đa đảng. Còn vệ việc đãi ngộ, giàu có, an sinh xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay có nguồn gốc từ đâu thì tôi đã đề cập trong bài viết “Các hình thức bóc lột của chủ nghĩa tư bản trong thế giới hiện đại”, chứ không hề có được từ sự đa đảng. Nếu các nước tư bản phát triển do Đảng Cộng sản lãnh đạo, thì nhân loại đã không có một châu Phi chết đói, không có một Mỹ la tinh bất bình đẵng và nợ nầng chồng chất; không có “chiến tranh tiền tệ”; và người dân tại nước họ còn có cuộc sống tốt đẹp hơn hiện tại rất nhiều lần, chứ không phải đang dần biến thành con nợ cho những tên trùm tài phiệt như hiện nay.
                 + Việt Nam hiện nay phải độc đảng để giữ lấy tinh thần đoàn kết và yêu nước lớn lao; không thể để cho ra đời những tên cơ hội, sẵn sàng chia rẽ dân tộc và bán dân mình thành nô lệ vì lợi ích cá nhân. Hãy nhớ câu nói của Dương Văn Minh khi quyết định đầu hàng hay chấp nhận cho Trung Quốc nhãy vào năm 1975 của Chính phủ Cộng hoà Nam Việt Nam trước đây: “Chúng ta đã bán nước hai lần, không thể bán nước thêm một lần nữa”; để cả dân tộc cùng nắm tay nhau tiến đến một xã hội tốt đẹp chứ không phải là một xã hội chia rẽ, xáo trộn, nô lệ, làm con chốt thí, vật thí nghiệm, làm cái sân sau cho các nước lớn
                  + Việt Nam hiện tại phải độc đảng để những khiếm khuyết về dân trí không bị kẻ thù lợi dụng, không bị coi khinh, không bị đem ra làm cơ hội để xõ mũi, bị bóc lột; độc đảng để những khiếm khuyết đó được yêu thương, được bổ khuyết, được xoá bỏ, được tạo điều kiện phát triển đồng bộ, hài hoà; để dù chưa loại bỏ được hết những khiếm khuyết, người nông dân và công nhân Việt Nam vẫn có được cuộc sống tốt đẹp hơn rất nhiều người nông dân và công nhân ở những nước thế giới thứ ba có trình độ dân trí như họ.
                  + Việt Nam phải độc đảng, vì người dân Việt Nam không hề muốn đa đảng, họ chỉ muốn Đảng phải sữa sai triệt để, mạnh mẽ để Đảng ngày càng trong sạch và vững mạnh hơn, xứng đáng với niềm tin của nhân dân. Vì tôi hiểu, nhiều người Việt Nam yêu nước, yêu Đảng ta lắm, nhưng họ vẫn đề nghị đa đảng. Họ đề nghị đa đảng không phải vì ghét Đảng, mà vì quá yêu Đảng, không muốn thấy Đảng “đánh mất mình”, không muốn thấy những kẻ cơ hội, ích kỹ, xấu xa, thối nát cứ tồn tại nhơn nhỡn, nhơn nhỡn trong Đảng; không muốn thấy tình trạng Đảng ngày càng mất niềm tin ở nhân dân, không muốn thấy cảnh “chệch hướng XHCN”. Họ quá yêu quý Đảng, nên ngày đêm ray rứt tìm cách thức để Đảng ta trong sạch, vững mạnh, để Đảng ta được tốt đẹp như thời còn Chủ tịch Hồ Chí Minh (họ mới là người đáng quý, người yêu Đảng; chứ không phải những kẻ miệng cứ đòi một đảng, nhưng lại tham ô, tham nhũng, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, truỵ lạc, bê tha, coi khinh dân, đè đầu cửi cổ dân mà đáng quý, mà yêu Đảng đâu – những kẻ này hiện nay thì miệng nói trung thành với Đảng lắm, nhưng nếu như có biến cố xãy ra, họ sẵn sàng bỏ rơi Đảng ngay, mà nói thế cũng không đúng, phải nói hiện tại họ đã “bỏ rơi” Đảng rồi, họ mới là kẻ thù và là những kẻ phản bội Đảng đáng kinh tởm nhất; Đảng ta hiểu điều này bạn ạ! Tất nhiên, Đảng cũng hiểu trong số những người đề nghị đa Đảng có rất nhiều kẻ cơ hội, phản bội dân tộc vì lợi ích riêng); và họ nghị đến cách đa đảng, vì họ tin rằng, như thế Đảng ta sẽ có động lực lớn lao để ngày càng tốt đẹp hơn, ngày càng xứng đáng với niềm tin của nhân dân hơn; nhưng những người yêu nước và yêu Đảng vô bờ này chưa lường hết được tính hai mặt của vấn đề đa đảng, chưa thấy hết được khả năng và sự sâu hiểm của kẻ thù; và quan trọng nhất, những người đáng quý biết bao này vẫn chưa tìm ra được cách nào, phương thức nào khác theo họ là hiệu quả, mạnh mẽ và triệt để. Và tôi nghĩ, bạn cũng cao quý như họ!
                + Cuối cùng, Việt Nam phải độc đảng để vững tin theo một con đường và nhất quán thực hiện triệt để chính sách phát triển toàn dân tộc.
            Bây giờ đến vấn đề Đảng ta liệu có còn xứng đáng để được trao cho “độc quyền” hay không! Đảng ta hiểu rõ và thừa nhận hiện nay vì một lượng không nhỏ những tên mang nhãn “đảng viên” thoái hoá, biến chất đã làm cho Đảng giảm sút niềm tin nơi nhân dân, làm cho nước nhà chậm phát triển, làm cho nhân dân ta vẫn còn nghèo, còn cực khổ. Không thể phủ nhận những thành quả mà Đảng ta đã làm được trong thời kỳ xây dựng đất nước sau đổi mới, những cũng không thể phủ nhận chúng ta có thể đạt được những thành quả vinh quang hơn, đáng tự hào hơn rất nhiều và rất nhiều nếu Đảng ta có được sự trong sạch, vững mạnh thư thời còn Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhưng Đảng ta bản chất vẫn là Đảng tốt bạn à! Cái này trong bóng đá người ta gọi: phong độ là nhất thời, nhưng đẳng cấp là mãi mãi. Nhưng Đảng ta hiểu rằng, nếu lượng thay đổi đến một độ nào đó, nó sẽ biến thành chất mới.    Do đó, Đảng hiện nay xem vấn đề làm trong sạch Đảng là nhiệm vụ hàng đầu. Đảng hiểu sự kiên nhẫn của người dân là có giới hạn, niềm tin yêu của người dân vào Đảng là có điều kiện, nếu Đảng không nhanh chóng và triệt để trong thời gian tới, để cái hiện tượng thành cái bản chất, thì Đảng thật sự không còn xứng đáng với niềm tin của nhân dân nữa; lúc đó Đảng sẽ phụ biết bao nhiêu tấm lòng của người dân Việt Nam yêu nước, yêu Đảng, phụ biết bao xương máu, nỗi hy sinh của bao lớp người, thế hệ Việt Nam, phụ và phản bội dân tộc, Chủ tịch Hồ. Bạn ạ! Với những gì Đảng ta đã làm được, hãy kiên nhẫn thêm một tí nữa, và hãy thêm tin một tý nữa vào “đẳng cấp” của Đảng ta, dù tôi hiểu điều này có giới hạn và điều kiện.
                 CT1: Được, tôi tạm đồng ý với bạn! Nhưng bạn phải chỉ ra cho chúng tôi cách thức nào khác thật sự hiệu quả, mạnh mẽ và triệt để trong điều kiện hiện nay! Và tôi muốn nhắt với bạn rằng: thực tiễn là cái để kiểm tra chân lý; đối với người phương Đông của chúng ta, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Một trăm bài diễn thuyết không bằng một tấm gương”; và: người dân Việt Nam mình đang dần bắt đầu đánh giá vấn đề qua thực tiễn hành vi chứ không phải bằng lời nói rồi đấy bạn ạ!
                 CT2: Bạn hãy cho tôi được chắp tay, cúi người để tỏ lòng biết ơn, tôn kính với bạn và những con người như bạn! Đảng ta hạnh phúc và vinh dự làm sao! Nhân dân ta hạnh phúc và vinh dự làm sao khi có được những người con yêu nước như bạn, ngày đêm lo nghĩ cho cái hưng vong của quốc gia, với một niềm thuỷ chung son sắc.
                 Bạn ạ ! Cho tôi được chia sẽ điều này, mình không nguỵ biện đâu, thực tiễn được dùng để kiểm tra chân lý phải là cái thực tiễn được nhìn với con mắt biện chứng và quan điểm toàn diện; thực tiễn không là thực tiễn của hôm nay, mà còn là thực tiễn trong ngày mai; điều gì cũng cần phải có thời gian, cần phải có một sự kiên nhẫn có giới hạn nhất định! Mình không thể nói nữa! Vì dù sao cũng chỉ là lời nói. Đúng! thực tiễn đang đặt ra cho Đảng ta nhiệm vụ là phải dùng thực tiễn để chứng minh chân lý. Điều này hoàn toàn phụ thuộc trực tiếp và trước hết vào Đảng. Không có điều gì có thể biện minh nếu như Đảng thất bại trong việc làm trong sạch nội bộ Đảng, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong thời gian tới! Nhân dân đã tin, và đã cho Đảng cơ hội!
               Còn về cách thức khác hiệu quả, triệt để, mạnh mẽ, thì mình xin được nói thế này:
               Ngày xưa khi Jean Jacquen Rouseau viết “Khế ước xã hội”, có người hỏi ông: Anh có phải là một chính trị gia hay một nhà lập pháp không mà viết những điều này?! J.J. Rouseau trã lời: Vì tôi không phải là một chính trị gia hay một nhà lập pháp tôi mới phải viết những điều này! Nếu tôi là một chính trị gia hay một nhà lập pháp, với quyền lực trong tay, tôi sẽ dùng quyền lực để triển khai thực hiện ngay, không cần phải viết bạn ạ!
               Vì chúng ta không có được cái động lực “cạnh tranh” mạnh mẽ và đầy mặt tiêu cực bất trắc, nên chúng ta phải kết hợp nhiều biện pháp quyết liệt khác nhau với sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau, và của sự chung tay, quyết tâm của cả dân tộc.
               Trước hết, toàn dân, từng Đảng viên yêu nước, yêu Đảng phải hành động quyết liệt, triệt để, đầy trách nhiệm, không thể nói đổng mà phải bằng hành vi cụ thể, làm cách mạng thì phải chấp nhận hi sinh, không thể an phận được nữa, phải dám chiến đấu quên mình để có được một Tổng Bí thư Đảng xứng đáng! Vì theo Chủ nghĩa Mác, cá nhân lãnh đạo hay lãnh tụ là một “xúc tác” làm biến đổi và thúc đẩy nhanh lịch sử (hãy nhìn vào V.I. Lenin, Chủ tịch Hồ Chí Minh). Vì theo khoa học lãnh đạo, Maxell đã từng nói: “Mọi sự thành bại đều do lãnh đạo!”.
               Nhưng có người xứng đáng thôi thì chưa đủ, mà phải có thật nhiều, thật nhiều những con người dám xã thân để thực hiện chiến lược, con đường của cá nhân xứng đáng đó!
               Bạn có đồng ý với tôi chăng! Hiện nay Nhân dân ta, Đảng ta đang có một Tổng Bí thư tuyệt vời. Bác Nguyễn Phú Trọng đang cần ở nhân dân ta, mỗi người, từng người một, hãy ý thức lấy trách nhiệm của mình, hãy dám hành động vì công lý, vỳ lẽ phải, để cùng bác, cùng Đảng, cùng nhân dân ta làm nên những điều kỳ diệu, làm trong sạch Đảng. Một mình bác không thể nào làm nỗi. Và nhiệm vụ của chúng ta là làm gì đây? Làm những điều nhỏ thôi, nhưng có ý nghĩa! Nhưng những điều nhỏ, đời thường nhưng cao quý thì vẫn chưa đủ! Mà từng người chúng ta phải là từng con người cách mạng, tức là từng con người dám hi sinh. Hãy ý thức đầy đủ với từng lời nhận xét, từng lá phiếu bầu của chúng ta. Hãy cho đi sự an phận của bản thân để cùng nhau chiến đấu không khoan nhượng với những tên gắn mác “đảng viên” mà thoái hoá, biến chất. Hãy đứng lên và công khai tuyên chiến, phản đối, không khoan nhượng với những kẻ ích kỹ, cục bộ, bè phái, quan liêu, cơ hội, hách dịch, cửa quyền; đừng ngồi đó và giữ mãi nỗi bất bình ở trong lòng. Không có cách mạng diễn ra thuần tuý trong tư tưởng, quan điểm và lới nói. Không có cách mạng nào là cách mạng không phải hi sinh, ngay cả cách mạng “Bất bạo động” của Ganhdi cũng phải hi sinh và hi sinh rất nhiều. Dù bạn có đang thực hiện chiến lược hay đang đấu tranh bước ngắn, cũng hãy đừng khoan nhượng với tiêu cực.
              Bạ ạ! Đảng là người đầy tớ trung thành, và nhân dân là chủ. Nên bạn phải nhớ rằng: “Cha không ra cha, con không ra con; vua không ra vua, tôi không ra tôi là cái gốc của loạn”. Nếu bạn làm chủ mà không ý thức, không dám hành động, không dám dùng quyền như một người chủ, thì hiển nhiên “đầy tớ” sẽ lộng hành. Nếu “đầy tớ” tha hoá, thì trách nhiệm chính thuộc về “ông chủ” không ra ông chủ, để “đầy tớ” qua mặt. Bạn hãy luôn luôn để trong vô thức, tiềm thức, ý thức và trong ngay từng hành động: TA LÀ CHỦ, VÀ NGƯỜI CHỦ NÀY QUYẾT KHÔNG ĐỂ ĐẦY TỚ QUA MẶT, MUỐN LÀM GÌ THÌ LÀM. HÃY XEM TA LÀM MỘT ÔNG CHỦ ĐỘ LƯỢNG, CÔNG MINH NHƯNG ĐẦY TRÁCH NHIỆM VÀ NGHIÊM KHẮC NHƯ THẾ NÀO!
             Chủ tịch Hồ Chí Minh, những anh hùng đã hi sinh, bác Nguyễn Phú Trọng đang mong mõi biết bao sự thức tỉnh và hành động của từng con người “chủ” của dân tộc Việt Nam!
             Thứ hai: phải có pháp luật về biểu tình. Toàn dân tộc Việt Nam, phải đem cả trí tuệ của mình để xây dựng nên một pháp luật về biểu tình, mà ở đó, gần như tất cả mặt tiêu cực của nó (Nói như Hitler: “…, nhưng đám dân ngu dốt đó còn là một con rồng, và với những cuộc biểu tình, con rồng đó sẽ phun lữa thiêu rụi cái thế giới dân chủ giả tạo, để chế độ độc tài của ta trở nên bá chủ và mãi mãi trường tồn!), đồng thời phát huy tối đa mọi mặt tích cực của nó, tạo thành một động lực thật sự mạnh mẽ để Đảng ta thực hiện triệt để vấn đề làm trong sạch đảng. Những để “con mèo bắt chuột giỏi nhưng cũng ăn vụng giỏi” này “chỉ có thể bắt chuột” thì cần có tầm trí tuệ của cả dân tộc. Nếu không, nó có thể không chịu “bắt chuột” mà chỉ lo “ăn vụng” là giỏi. Nhất là khi trình độ dân trí của ta còn thấp như hiện nay.
            Điều này khó, nhưng có thể làm được và làm tốt bạn ạ! Miễn là chúng ta có được trí tuệ của cả dân tộc để xây dựng nên pháp luật đó. Chương trình xây dựng Luật Biểu tình đã được Quốc hội khoá XIII đưa vào chương trình nghị sự chính thức; khi có dự thảo và xin ý kiến đóng góp của nhân dân, lúc đó, hãy hành động để tập trung tất cả trí tuệ của dân tộc!
            Thứ ba: phải pháp luật hoá Điều lệ Đảng; pháp luật hoá các vấn đề về phương thức lãnh đạo của Đảng; pháp luật hoá các vấn đề về kiểm tra, giám sát, bình, bầu, kỷ luật, đánh giá, phân loại đảng viên của Đảng, và nhân dân là chủ thể phải hiện diện một cách bắt buộc, tất yếu trong quá trình này. Hiện nay, nhân dân đã tham gia, nhưng chỉ tham gia bằng nghị quyết của Đảng mà chưa bằng pháp luật, nhân dân phải được chính thức hoá bằng pháp luật bằng quyền này!
            Đảng ta là đảng của toàn thể nhân dân, vì vậy cho nên: Đảng phải chịu sự kiểm tra, giám sát theo luật của toàn thể nhân dân; Đảng phải vận hành và hoạt động theo ý chí của toàn thể nhân nhân, tức là bằng những văn bản quy phạm pháp luật cụ thể.
            Nào, các bạn, chúng ta hãy cùng nắm tay nhau, cùng tiến lên với một tinh thần sẵn sàng hi sinh, bằng những hành động dù nhỏ hay “to” nhưng triệt để, mạnh mẽ, quyết không khoan nhượng. Để Đảng ta ngày càng trong sạch hơn, ngày càng vững mạnh hơn, ngày càng xứng đáng với niềm tin của nhân dân hơn!
           “Không có từng con suối nhỏ, làm sao hình thành được dòng sông lớn; không có từng hạt cát nhỏ, làm sao có được cả sa mạc!”
Thứ tư: phải tiến hành công nhân hoá Đảng ta thật mạnh mẽ. Đảng ta đã có chủ trương này, nhưng trong thời gian tới cần phải làm quyết liệt và mạnh mẽ hơn nữa. Bởi vì trí thức dù có thấm nhuần lý tưởng cách mạng của giai cấp công nhân đến mấy đi chẳng nữa, thì chất của họ vẫn là chất tri thức; tri thức không thể nào thay thế và có được bản chất đích thực của giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân là giai cấp mà quyền và lợi ích của họ tỷ lệ thuận với quyền và lợi ích của các giai cấp tiến bộ khác và với cả dân tộc. Kết nạp công nhân vào Đảng, cần nhất và trước hết hiện nay là phẩm chất đạo đức thông thường (chưa cần đạo đức cách mạng), vì đạo đức thông thường là cái tiền đề, cơ sở, điều kiện để hình thành đạo đức cách mạng. Chỉ cần có tinh thần yêu nước, lòng thương người, bản tính trung thực, thẳng thắn, biết đấu tranh bên vực kẻ yếu, biết lo nghĩ về lợi ích cho quốc gia, dân tộc là được. Lý tưởng cách mạng sẽ được bồi dưỡng sau. Trong cái trước mắt, nếu trình độ còn hạn chế thì đảng viên trí thức bù khuyết; cài cần ở đảng viên công nhân là tính triệt để, tính vị lợi ích chung, rất kiên quyết trong những trường hợp xử lý những chủ thể tha hoá, đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc. Chất công nhân từ những công nhân Đảng viên sẽ là động lực để làm trong sạch Đảng. Đảng hãy tin rằng, số lượng đảng viên công nhân (phải thoả mãn yếu tố tối thiểu trên) trong Đảng càng cao bao nhiêu, thì: tính triệt để trong thực hiện các chính sách làm trong sạch Đảng, vững mạnh Đảng càng cao bấy nhiêu; các chính sách của nhà nước về cải cách hành chính, phát huy dân chủ, chống tham nhũng, quan liêu, thực hiện an sinh xã hội, phát triển bềnh vững, chống bất bình đẳng, xoá đói giảm nghèo sẽ được thực hiện một cách triệt để bấy nhiêu.
            HÃY VỮNG MỘT NIỀM TIN VÀO CÔNG LÝ! VÌ CÔNG LÝ NẰM TRONG ĐÔI TAY CỦA CHÚNG TA! Lẽ nào chúng ta chịu thua và để những tên mang nhãn đảng viên thoái hoá, biến chất, hại dân, hại nước , hại Đảng cứ mãi cười hả hê hay sao, cứ mãi nhỡn nhơ, vui chơi hưỡng lạch trên sự nhọc nhằn, mồ hôi, nước mắt, sự tủi nhục của những người công nhân làm thuê, của những người nông dân chân lấm, tay bùn, mồ hôi đổ lộn nước mắt hay sao! Không! Vì những con người đã hi sinh cho dân tộc, vì tất cả, chúng ta không thể thua lũ sâu bọ, lũ sâu dân mọt nước đó được!
TẤT CẢ! HÃY CÙNG TIẾN LÊN!
Đăng 9th February 2012 bởi 

Phá cáp, Trung Quốc có ý đồ gì?

Sau khi cho lưu hành “hộ chiếu lưỡi bò”, một nhóm tàu đánh cá Trung Quốc đã vây quanh và gây đứt cáp tàu Bình Minh 02 khi tàu này đang làm nhiệm vụ trong vùng biển gần đảo Cồn Cỏ của Việt Na

(ĐVO) Đây không phải là lần đầu tiên phía Trung Quốc ngang ngược, trắng trợn lộng hành và gây hấn với các tàu thăm dò dầu khí của Việt Nam.

Năm 2011, tàu Bình Minh 02 và Viking II bị gây đứt cáp ngay trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam. Sự việc này tiếp tục tái diễn trong năm nay.

 

Để giúp độc giả hiểu rõ hơn về tính chất sự việc, Đất Việt đã có cuộc phỏng vấn với nhà nghiên cứu Dương Danh Huy (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông) về vấn đề này.

PV – Thưa ông, tàu Bình Minh 02 bị gây đứt cáp ở vị trí như thế nào?

Ông Dương Danh Huy – Trong khu vực tàu Bình Minh 02 bị gây đứt cáp, tức là ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, chưa có ranh giới đường đặc quyền kinh tế (EEZ) giữa Việt Nam và Trung Quốc. Nhưng so với đường trung tuyến giữa Việt Nam và đảo Hải Nam, không tính quần đảo Hoàng Sa, điểm này cách 20 hải lý về phía Việt Nam. Điểm này nằm cách xa Hoàng Sa, và cũng cách xa vạch đầu tiên của đường chữ U về phía Bắc.

– Theo ông, mục đích đằng sau sự việc này là gì? Hành động gây đứt cáp này có vi phạm luật pháp quốc tế không?

Hiên nay Việt Nam và Trung Quốc đang đàm phán phân định và hợp tác cho vùng biển này. Khả năng là Trung Quốc không muốn phân định, vì một ranh giới hợp lý ở vùng này sẽ là một thách thức cho đường chữ U, và như thế thì họ sẽ muốn đẩy đàm phán về hướng cùng khai thác. Có thể đây là cách của Trung Quốc để gây áp lực lên Việt Nam trong đàm phán.

Nhưng nếu thực tế là tàu cá Trung Quốc đang lộng hành trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam thì không cần mục đích trên cũng có thể có sự việc này.

Ngày 5/6/2011 thì tàu cá Trung Quốc gây đứt cáp tàu Viking II ở vùng Nam Côn Sơn. Có vẻ như tàu cá Trung Quốc đang lộng hành từ cửa Vịnh Bắc Bộ đến Nam Côn Sơn. Dĩ nhiên là điều đó có gây tổn hại cho ngư dân Việt Nam.

Việc gây thiệt hại kinh tế cho Việt Nam và cản trở hoạt động kinh tế của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế là vi phạm UNCLOS 1982. Ngoài ra, Tổ chức Hàng hải Quốc tế của Liên Hợp Quốc, mà Việt Nam và Trung Quốc là thành viên cũng có “Công ước phòng ngừa đâm, va trên biển” (COLREGs) với mục đích tránh va chạm trên biển. Nhiều khả năng, các tàu cá Trung Quốc đã cố ý gây va chạm và vi phạm Công ước đó.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam, ông Lương Thanh Nghị cho biết, ngày 3/12/2012, đại diện Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gặp đại diện Đại sứ quán Trung Quốc tại Hà Nội trao công hàm kiên quyết phản đối những việc làm nói trên của Trung Quốc, yêu cầu Trung Quốc tôn trọng chủ quyền của Việt Nam, chấm dứt ngay những việc làm sai trái đó và không để tái diễn những hành động tương tự.Bộ Ngoại giao Việt Nam đã gửi công hàm một ngày trước đó để phản đối Trung Quốc về những hành động sai trái gần đây, xâm phạm chủ quyền của Việt Nam.

Theo TTXVN

– Thông thường, Trung Quốc gây hấn với Việt Nam từ khoảng tháng 5 tới tháng 8 hàng năm, bắt đầu bằng lệnh cấm đánh bắt cá. Năm nay việc gây đứt cáp diễn ra vào cuối năm, nhất là sau khi Hội nghị thượng đỉnh ASEAN mới kết thúc. Có điều lạ gì ở đây không?

 

– Lệnh cấm đánh cá mùa hè, bản thân nó là một cách của Trung Quốc để gây hấn, nhưng sự thật là Trung Quốc gây hấn với ngư dân Việt Nam quanh năm. Tương tự việc Trung Quốc cản trở và phá hoại các hoạt động dầu khí của Việt Nam trong vùng đặc quyền kinh tế của chúng ta cũng không hề đợi đến mùa hè. Hiện nay, Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN vừa kết thúc. Có thể Trung Quốc tính toán rằng những lời phản đối sẽ bị cân bằng phần nào bởi những ngôn từ ngoại giao của sự kiện.

–  Đây là lần thứ 2 tàu Bình Minh 02 bị gây đứt cáp, liệu sự việc này có trở thành “thông lệ”? Việt Nam cần làm gì?

– Việt Nam phải bảo vệ vùng đặc quyền kinh tế của mình. Bộ Ngoại Giao Việt Nam cần có một trang mạng về chuỗi các sự kiện tàu Trung Quốc gây hấn với tàu Việt Nam, có đầy đủ thông tin cho thế giới và người Trung Quốc. Việt Nam cần phải phản đối Trung Quốc và đòi bồi thường thiệt hại và cũng phải đưa vấn đề ra các diễn đàn quốc tế.

>> GS Carl Thayer: ‘VN nên có dấu riêng đặc trị ‘hộ chiếu lưỡi bò’
>> Việt Nam từ chối hộ chiếu ‘lưỡi bò’
>> Hộ chiếu ‘lưỡi bò’: Làm phiền láng giềng
>> Đài Loan phản đối hộ chiếu ‘lưỡi bò’ của Trung Quốc
>> Trao công hàm phản đối TQ in hình lưỡi bò trên hộ chiếu
>> Biên phòng Việt Nam đóng dấu ‘hủy’ vào ‘hộ chiếu lưỡi bò’

>> Tủ sách biển Đông: Biển xanh màu lá
>> Tủ sách biển Đông: Những yêu sách đối kháng của Việt Nam và Trung Quốc ở khu vực bãi ngầm Tư Chính và Thanh Long trong biển Đông
>> Tủ sách biển Đông: Chủ quyền quốc gia Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa – Trường Sa
>> Tủ sách biển Đông: Bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam
>> Tủ sách biển Đông: Xung đột trên Biển Đông: không còn là nguy cơ tiềm ẩn
>> Tủ sách biển Đông: Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
>> Tủ sách biển Đông: Bảo vệ chủ quyền biển đảo Việt Nam
>> Tủ sách biển Đông: Hoàng Sa – Trường Sa, Lẽ phải thuộc về chúng ta
>> Tủ sách biển Đông: Dấu ấn Việt Nam trên Biển Đông
>> Tủ sách biển Đông: Hoàng Sa – Trường Sa, luận cứ & sự kiện
>> Tủ sách biển Đông: Biển Đông và hải đảo Việt Nam
>> Tủ sách biển Đông: Tôi kể em nghe chuyện Trường Sa

Đài Trang thực hiện

Bộ ảnh hiếm về chiến tranh VN trên tạp chí LIFE

Tạp chí LIFE đã công bố những bộ ảnh màu với tên gọi “Chúng tôi chìm sâu hơn vào cuộc chiến khốc liệt” của phóng viên ảnh Larry Burrows trong ấn phẩm của mình vào tháng 1/1963.

Những bức ảnh đầy chân thực này được tạp chí LIFE coi là một tác phẩm ảnh phóng sự quan trọng, đột phá tới mức nó được đưa lên trang bìa của tạp chí này.

Đặc biệt, những biên tập viên tạp chí này cho rằng bức ảnh bài thực sự mang tính gợi mở hiếm có và giúp nhiếp ảnh gia Burrows phát huy đầy đủ đặc trưng mạnh mẽ của thể loại chân dung.

Theo Soha