Tag Archive: hy sinh


Máu Trường Sa vẫn chảy

Cuộc hải chiến bi hùng 25 năm trước trên đảo Gạc Ma vẫn chưa đi vào dĩ vãng. Những giọt máu Trường Sa vẫn chảy và những giọt nước mắt đất liền vẫn chảy để giữ chủ quyền dân tộc.

 

“Quê ơi! Về nhé”

Các liệt sĩ đang nằm trên đảo Nam Yết.

Những chiến sĩ hy sinh trên quần đảo Trường Sa đều được đưa về an nghỉ tại nghĩa trang trên đảo Nam Yết. Tại nghĩa trang này có 4 ngôi mộ còn nồng mùi vôi mới: Đinh Thanh Bình (quê Quảng Bình, hy sinh năm 2011); Nguyễn Văn Hà (quê Nghệ An, hy sinh năm 2010); Lại Huy Công (quê Thái Bình, hy sinh năm 2012) và Nguyễn Văn Cường (quê Hưng Yên, hy sinh năm 2012).

Chiều về trên Nam Yết, sắp đến giờ cơm mà bên 4 ngôi mộ này vẫn còn mấy tốp chiến sĩ ngồi nhặt cỏ và trò chuyện với mấy tấm bia mộ dựng vội bằng xi măng. Kẻng báo giờ cơm buổi chiều, tốp chiến sĩ ấy mới thì thầm với người nằm xuống: “Quê ơi! Về nhé”.

Mỗi khi đi qua đảo Gạc Ma, các tàu Hải quân ta luôn có lễ thả hoa tưởng niệm cho những người đã ngã xuống vì chủ quyền. Bây giờ những con tàu đánh cá Việt Nam khi ra khơi, khi qua vùng biển này, ngư dân cũng đã có thói quen thả hoa tưởng niệm những người anh hùng đã và đang bảo vệ bức tường Trường Sa.

Thì ra họ là những tốp đồng hương với các liệt sĩ, ngày mai họ lên tàu trở về đất liền, để lại bạn giữa muôn trùng sóng gió.

Trên Trường Sa, đồng hương với nhau khi nói chuyện không dùng đến các đại từ nhân xưng phức tạp như: Chú, bác, anh, em, họ chỉ thủ thỉ “Quê ơi”. Đêm ấy, những người bạn đồng hương của các liệt sĩ được chỉ huy đảo đặc cách cho ở cùng với bạn đến tận giờ đi ngủ.

Nguyễn Huy Chung – chiến sĩ cùng huyện Kim Động, Hưng Yên với liệt sĩ Nguyễn Văn Cường tay mân mê con ốc: “Mấy bữa nay biển động. Tớ chỉ kiếm được con ốc này thôi. Tớ sẽ mang đến cho em gái cậu. Mai tớ về, cậu ở lại rồi khi nào được về quê, tớ sẽ sang thăm”.

Về chuyện này, Chung kể: “Trước lúc hy sinh, em không biết Cường. Cường hy sinh bên đảo Chìm, lúc đưa về đây an táng được một tuần thì từ bên đảo Chìm điện sang hỏi thăm, khi biết em là đồng hương cùng huyện, các anh bên đó nhờ em chăm lo cho phần mộ của Cường và dặn: Cường viết thư về nhà có hứa mang về cho em gái mình con ốc biển. Vì thế, em thay bạn mang quà về quê”.

Giờ chia tay, trước những ngôi mộ nằm nghiêm trang giữa biển, đại tá Nguyễn Bá Ngọc – Phó Tư lệnh Vùng 4 Hải quân xúc động: “Xin các anh linh liệt sĩ thứ lỗi. Đất nước còn khó khăn, thiếu thốn, chưa có điều kiện đưa các đồng chí về nhà ngay với gia đình. Chúng tôi xin hứa, ngay khi có điều kiện sẽ đưa anh em về đất liền quê hương”.

Không thể có điều kiện để ngay sau khi hy sinh có thể đưa thi thể các liệt sĩ về đất liền nên những chiến sĩ ngã xuống trên Trường Sa phải chờ rất lâu để được về nhà. Cát biển, nước biển mặn chát khiến thời gian để hài cốt của họ được sạch sẽ rất lâu, có thể mất đến 7 – 8 năm.

Và nước mắt đất liền vẫn chảy

Trong các liệt sĩ tại Trường Sa, Lại Huy Công và Nguyễn Văn Cường là những người hy sinh gần đây nhất. Tại quê hương xã Hùng Cường, Kim Động, Hưng Yên, bà Hoàng Thị Tuyết – mẹ liệt sĩ Nguyễn Văn Cường lặng lẽ khóc khi chúng tôi hỏi thăm.

Cường là con trai lớn, dưới có cô em gái. Phút xúc động qua đi, bà Tuyết chỉ nói như tự an ủi mình: “Cũng may, em nó được nằm giữa bạn bè, có người thỉnh thoảng nói chuyện chắc nó cũng đỡ tủi”.

Bà kể, tháng 6.2012, sau khi Cường hy sinh được 4 tháng, Bộ Tư lệnh Hải quân có đưa bà ra Trường Sa thăm mộ con. Và đến giờ bà vẫn còn xót xa cho người cùng cảnh ngộ, bà kể: “Hai anh em Lại Huy Công, Nguyễn Văn Cường hy sinh cùng nhau nhưng tôi còn khỏe, còn ra thăm con được, mẹ anh Công yếu quá, không ra được thăm con, thật tội”.

Vào ngày 2.2.2012 định mệnh ấy, khi Cường gặp nguy hiểm, Lại Huy Công đã anh dũng lao tới cứu mạng cho Cường nhưng không thành, cả hai hy sinh cùng lúc và giờ họ lại nằm bên nhau giữa Trường Sa.

Dù vô cùng nuối tiếc khi cậu con trai duy nhất không còn nhưng bà Tuyết bảo: “Thôi thì Cường nhà tôi có một thân, một mình, mất đi còn đỡ, anh Công đã có vợ, con vẫn còn bé nên càng thấy xót xa. Hôm đi Trường Sa về, tôi có đến nhà Công báo tin cho bố mẹ anh ấy để họ yên tâm, nhưng bố Công đã yếu lắm rồi, không biết có chờ được ngày đón con về hay không”.

Vào dịp tháng 6 năm ngoái, trong đợt ra thăm Trường Sa, lúc ấy, ông Lại Vĩnh Thành, bố của Công đang ốm, con thì còn quá bé nên không ai đi được. Và đúng như bà Tuyết tiên liệu, ông Thành vừa mới ra đi mà không được chứng kiến ngày con mình được đưa về quê. Bà Nguyễn Thị Nhật (thị trấn Diêm Điền, huyện Diêm Điền, Thái Bình) – mẹ của liệt sĩ Lại Huy Công – trong vòng hơn một năm đón nhận luôn hai nỗi đau lớn nhất đời: Mất con, mất chồng…

Qua điện thoại, bà chỉ nghẹn ngào: “Tôi mong từng ngày để được đưa Công về quê nằm cùng cha nó”.

64 người ngã xuống ở Gạc Ma 25 năm trước đủ thấy cái giá của chủ quyền dân tộc là vô cùng lớn. Để có được cuộc sống thanh bình ta đang có, những giọt máu Trường Sa vẫn chảy và những giọt nước mắt đất liền vẫn chảy.

Nam Hải [danviet.vn]

Hải chiến Trường Sa 1988: Lá cờ màu máu mãi thắm tươi

 

25 năm trước, ngày 14-3-1988, hải quân Trung Quốc đưa tàu đến gây sự ở 3 đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Trong cuộc chiến không cân sức ấy, những người lính hải quân Việt Nam đã xả thân giữ đảo, để máu mình tô thắm cờ Tổ quốc.

Quyết tử vì Gạc Ma

Dù đảo Gạc Ma đã bị Trung Quốc xâm chiếm trái phép nhưng trong cuộc hải chiến 14-3-1988, hình ảnh những cột cờ sống và “vòng tròn bất tử” vẫn khắc sâu trong tâm trí bao người…

Anh hùng Nguyễn Văn Lanh, người vào sáng 14-3-1988 đã cùng thiếu úy Trần Văn Phương và các chiến sĩ hải quân (hải quân) được cử từ tàu vận tải hải quân-604 lên đảo Gạc Ma bảo vệ cờ Tổ quốc, nhớ lại: “hải quân Trung Quốc (Trung Quốc) hạ xuồng từ tàu lớn mang theo nhiều lính trang bị vũ khí hạng nặng đổ bộ lên Gạc Ma. Chúng cho rằng công binh đang xây dựng đảo của ta ít, chỉ trang bị thô sơ, có người thậm chí không vũ khí trong tay, sẽ dễ dàng bị khuất phục. Nhưng chúng đã nhầm!”.

Còn cờ, còn đảo

Trong trận hải chiến ngày 14-3-1988, trong 3 đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao, cuộc đối đầu khốc liệt nhất diễn ra tại Gạc Ma. Theo đại tá Nguyễn Hữu Doanh, người chuyên lo kế hoạch cung ứng, tiếp tế nhu yếu phẩm và lên kế hoạch xây dựng nhà chủ quyền kiên cố trên các đảo ở Trường Sa những năm 1980, sở dĩ hải quân Trung Quốc tấn công Gạc Ma dữ dội nhất vì đảo này nằm ở vị trí đắc địa trong khu vực quần đảo Trường Sa và biển Đông.

Khi lính Trung Quốc đổ bộ lên Gạc Ma, đại úy Vũ Phi Trừ, thuyền trưởng tàu hải quân-604, giao nhiệm vụ cho thiếu úy Trần Văn Phương lên đảo cắm chốt, bảo vệ cờ Tổ quốc để xác định chủ quyền. Thấy lính Trung Quốc tiến vào đảo với số lượng lớn và sẵn sàng bắn vào ta, đại úy Trừ ra lệnh: “Ai bơi giỏi, lập tức vào hỗ trợ thiếu úy Phương”. “Tôi cùng 10 chiến sĩ nhảy xuống biển bơi vào đảo hỗ trợ anh Phương giữ cờ. Lúc ấy, trên đảo có khoảng 40 công binh của ta bị địch chĩa súng nã đạn không thương tiếc” – ông Nguyễn Văn Lanh hồi tưởng.

Ông Lanh không thể nào quên hình ảnh thiếu úy Phương hôm đó. Khi bị lính Trung Quốc bắn trọng thương, anh vẫn cố ngoi lên mặt nước, tay luôn giữ chặt lá cờ, tự biến mình thành cột cờ sống. “Khi bơi đến nơi, tôi đề nghị thiếu úy Phương về tàu cứu chữa nhưng anh ấy nói như ra lệnh: “Thà hy sinh chứ không thể để mất đảo. Hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng hải quân”. Sau khi dặn tôi và đồng đội tiếp tục giữ cờ Tổ quốc bằng mọi giá, anh Phương hy sinh” – ông Lanh nghẹn ngào.

Thấy người trước ngã xuống, người sau vẫn tiếp tục lao tới tự biến mình thành cột cờ sống trên biển, lính Trung Quốc lao đến giằng lấy. “Chúng dùng lưỡi lê và báng súng đâm và uy hiếp chúng tôi. Trong tay không vũ khí nhưng tôi vẫn chiến đấu không chút run sợ. Hai tên lính Trung Quốc lao vào, một tên đâm xuyên lưỡi lê qua vai tôi. Lúc đó, nhiều đồng đội bơi tới yểm trợ tôi tiếp tục giữ cờ” – ông Lanh xúc động.

Lòng quả cảm, ý chí sắt đá

Ông Nguyễn Văn Lanh cho biết những người lính hải quân Việt Nam trong gần 1 giờ quần thảo với lính Trung Quốc đã đứng kề vai nhau thành một “vòng tròn bất tử” để bảo vệ cờ, ngăn chặn chúng tiến sâu vào đảo. Chứng kiến ý chí chiến đấu quyết tử giữ đảo của hải quân ta, lính Trung Quốc đành rút về tàu. Chúng nã pháo điên cuồng vào tàu hải quân-604 neo đậu bên ngoài và những người lính trên đảo Gạc Ma. Trung tá Trần Đức Thông, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 146, thuyền trưởng Vũ Phi Trừ và hầu hết cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh hoặc chìm theo tàu hải quân-604 mất tích. Nhiều người bị thương nặng, trôi lênh đênh trên biển…

Anh hùng – đại tá Vũ Huy Lễ, người thuyền trưởng của tàu hải quân-505 nhận trách nhiệm đóng giữ đảo Cô Lin năm xưa, xúc động: “Tôi nhìn sang vùng biển Gạc Ma, thấy nhiều đồng đội vừa ngã xuống. Không thể để anh em nằm lại giữa biển khơi, chúng tôi đưa xuồng sang cứu. Tuy nhiên, hải quân Trung Quốc dùng súng AK bắn phá, không để chúng tôi cứu thương. Mặc, chúng tôi vẫn bình tĩnh, tiếp tục bơi xuồng sang. Suốt buổi sáng hôm ấy, chúng tôi đã vớt được 44 thương binh và tử sĩ”.

Đại tá Trần Minh Cảnh giờ đã bước sang tuổi 78 nhưng vẫn nhớ như in những giờ phút nóng bỏng 25 năm trước. Vị Chủ nhiệm Chính trị Vùng 4 hải quân vào thời điểm đó, người được anh em hải quân xem là “ra Trường Sa như đi xe buýt”, trầm mặc hồi tưởng những hình ảnh bi hùng của đồng đội năm xưa. “Đó là cuộc chiến không cân sức khi Trung Quốc với nhiều tàu chiến lớn, vũ khí hạng nặng; còn ta chủ yếu giữ đảo bằng lòng quả cảm và ý chí sắt đá bảo vệ chủ quyền” – ông tự hào.

Giữ vững Cô Lin, Len Đao

Sự kiện ngày 14-3-1988 được biết đến trong lịch sử hải quân Nhân dân Việt Nam với tên gọi CQ88 hay “Chủ quyền 88”. Khi đó, Tư lệnh hải quân là Đô đốc Giáp Văn Cương cùng Bộ Tham mưu đã trực tiếp chỉ huy Vùng 4 và các đơn vị có mặt ở Trường Sa chiến đấu, quyết giữ đảo. Một sở chỉ huy tiền phương được thành lập và đóng ở Quân cảng Cam Ranh – Khánh Hòa.

Đại tá Lê Xuân Bạ, nguyên chính ủy Lữ đoàn 146, Bí thư Huyện ủy Trường Sa, lúc đó là trung tá, Phó Chủ nhiệm Chính trị Vùng 4 hải quân – thuộc Sở Chỉ huy tiền phương, cho biết: Ngày 11-3-1988, tàu hải quân-604 của thuyền trưởng Vũ Phi Trừ được lệnh đến đóng giữ Gạc Ma, tàu hải quân-505 của thuyền trưởng Vũ Huy Lễ đóng giữ Cô Lin và tàu hải quân-605 nhận lệnh đến Len Đao. Phối hợp với các tàu này còn có 2 phân đội công binh thuộc Trung đoàn 83, 2 tổ chiến đấu thuộc Lữ đoàn 146 do trung tá – lữ đoàn phó Trần Đức Thông chỉ huy.

Sau trận hải chiến ngày 14-3-1988, dù chúng ta gặp tổn thất lớn về người với 64 chiến sĩ hy sinh nhưng hải quân Trung Quốc không dám mở rộng phạm vi xâm lấn; các đảo Cô Lin, Len Đao được giữ vững.

Theo NGƯỜI LAO ĐỘNG