Tag Archive: kế


TRƯỜNG SA – HOÀNG SA VÀ NHỮNG CHUYỆN CHƯA BAO GIỜ KỂ

Hôm trước, mình đặt câu hỏi về việc các bạn suốt ngày phê phán Người phát ngôn Bộ Ngoại Giao Việt Nam “nhai đi nhai lại” các thông điệp phản đối khi Trung Quốc có hành vi xâm phạm chủ quyền của Việt Nam, vậy theo các bạn chúng ta phải làm gì? Thật bất ngờ khi câu hỏi này thu hút một số lượng lớn các bạn vào thảo luận và đưa ý kiến cực kỳ nghiêm túc (http://on.fb.me/13FuVDS). Theo đó, hàng trăm comments đã được gửi lên. Tổng hợp lại thì có các ý lớn thế này:

Nhà Giàn DK – nguồn internet

1- Việc “nhai đi nhai lại” này là cần thiết để mai mốt nếu Việt Nam có kiện ra tòa án Quốc Tế thì cũng có bằng chứng.
2- Các bạn tin tưởng tuyệt đối vào sách lược của Chính phủ trong vấn đề biển đảo. Dù có những cái các bạn vẫn thấy “mơ hồ” nhưng các bạn cho rằng nếu làm cho mọi thứ “rõ ràng” hơn thì không còn gì gọi là bí mật và khi đó Trung Quốc có thể dễ dàng đối phó.
3- Ủng hộ việc dùng vũ lực
4- Kiện ra tòa án quốc tế
5- Tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế
6- Tăng cường hỗ trợ giúp ngư dân bám biển
7- Thoát khỏi tầm ảnh hưởng của Trung Quốc về kinh tế, chính trị và văn hóa
8- Tăng cường năng lực quân sự

Mình cực kỳ trân trọng các ý kiến đóng góp kèm theo những giải thích, lập luận xác đáng của tất cả các bạn. Còn trong phạm vi những gì mình hiểu biết thông qua tự tìm tòi nghiên cứu, phỏng vấn những người có ảnh hưởng, có uy tín trong xã hội và Chính phủ, thông qua thực tế mắt thấy tai nghe khi ra Trường Sa và tiếp xúc với các chiến sĩ, mình xin được cung cấp thêm thông tin thế này để các bạn tham khảo nhé.

1/ Trung Quốc là nước lớn, mạnh hơn Việt Nam về mọi mặt như Kinh tế, Quân sự, Vũ khí, Đạn dược và tiếng nói trong Cộng đồng Quốc tế. Nếu “đánh nhau” tay đôi, thắng thua không biết, nhưng chắc chắn phía chịu thiệt hại nặng nề là Việt Nam của chúng ta. Khi nói chuyện với các tướng lĩnh từ cấp thấp đến cấp vừa, cấp cao của Việt Nam, mình phải ghi nhận một điều là chẳng ai “run sợ” nếu buộc phải sa vào tình thế chiến tranh. Chúng ta “anh hùng” 1, họ anh hùng gấp 1 triệu lần. Khi chúng ta hứa hẹn này kia trên bàn phím, họ đã và đang anh hùng bằng những hành động và việc làm thiết thực.

Các bạn có biết trong một chuyến đi đón công binh làm nhiệm vụ xây dựng từ một đảo chìm về lại đất liền, tai nạn đã xảy ra. Không rõ vì lý do gì mà chiến sĩ công binh này mất tích (có giả thiết trượt trân ngã rơi xuống biển khi đang câu cá). Rất nhiều tàu cứu hộ đã được phái ra vùng biển đó cấp tốc tìm kiếm trong nhiều ngày trước khi chấp nhận mất đi 1 người đồng đội. Dù đó là điều không ai mong muốn nhưng toàn bộ các chiến sĩ có mặt trên tàu cũng như các cấp chỉ huy tại đất liền đã bị kỷ luật từ quân đến tướng. Mất vạch, mất sao và nhiều hình thức kỷ luật cộng thêm khác nữa. Kể chuyện này để các bạn hiểu rằng mạng sống con người không phải là thứ để mang ra làm chuyện mua vui như vậy được. Mình nhấn mạnh, đó là sự mất mát của chỉ duy nhất 1 người.

Ảnh tác giả

Các bạn có biết khi Trung Quốc cử tàu hộ tống mang dàn khoan khổng lồ cao hàng trăm mét ra tìm cách thả xuống biển Đông để khai thác dầu khí, chiến sĩ của chúng ta trên các nhà giàn đã phải thay nhau theo dõi ngày đêm, kết hợp chặt chẽ với chỉ huy tại đất liền để giám sát nhất cử nhất động của tàu địch. Nếu bất cứ khi nào đội tàu hộ tống này có dấu hiệu ngưng lại tại vùng biển chủ quyền của Việt Nam thì lập tức chúng ta phải cử tàu chiến ra “xua đuổi” không cho dàn khoan này được thả xuống dù với bất cứ lý do gì. Chúng ta “tuyệt đối yếu” hơn đối phương, trong khi chúng lại thường xuyên gây hấn, kích động để Việt Nam “ra tay” trước. Khi ấy, chúng sẽ có lý do hợp pháp để đánh chiếm vào những hòn đảo của chúng ta.

Nếu tình huống xấu nhất là Trung Quốc chiếm thành công 1 đảo của Việt Nam (điều này khó có khả năng xảy ra) thì chúng ta sẽ làm gì? Lên tiếng nhờ cộng đồng quốc tế ủng hộ mình ư? Cũng được, nhưng Trung Quốc sẽ ngay lập tức la làng lên rằng họ không đi xâm lược, không đi đánh chiếm đảo của Việt Nam. Họ chỉ đang “đòi lại” những gì thuộc về “chủ quyền bấy lâu nay” của họ. Trung Quốc sẽ ngay lập tức ngang ngược nói rằng chính Việt Nam mới đi chiếm đảo của Trung Quốc và bây giờ “bị lấy lại”. Hãy nhìn vào những gì Trung Quốc đang ngày đêm bắc loa tuyên bố một cách trơ trẽn về Hoàng Sa sẽ hiểu điều mình nói. Tất cả những gì Trung Quốc CẦN, CẦU MONG VÀ CHỜ ĐỢI LÚC NÀY chính là một hành động thiếu kiềm chế bất kỳ từ phía Việt Nam để họ có thể đàng hoàng phát pháo. Và đó cũng chính là điều mà tất cả chiến sĩ của chúng ta ngoài hải đảo phải thuộc nằm lòng. Phải luyện chí rèn gan, giữ vững lập trường và kiên định để tránh tuyệt đối phạm vào sai lầm như vậy.

2/ Còn về vấn đề kiện tụng, ngay khi ngồi ở trên tàu ra Trường Sa mình đã hỏi một luật sư có tiếng. Cô ấy nói Việt Nam không thể nào làm như vậy được. Thứ nhất, chúng ta đang bị lệ thuộc quá nhiều vào Trung Quốc (bạn nào có comment ý này vô cùng chuẩn xác). Nếu chúng ta chỉ cần “lên gân” với Trung Quốc thì có thể hàng chục triệu gia đình sẽ lâm vào cảnh lầm than bằng những đòn đánh vào kinh tế. Để thoát ra khỏi sự lệ thuộc này, cần rất nhiều nỗ lực và thời gian. Thứ hai, ngay cả nếu chúng ta “kiện thắng” thì tòa án Quốc tế cũng không có chức năng hành pháp. Họ CHỈ CÓ THỂ KÊU GỌI bên “thua kiện” thực hiện điều ABC nào đó. Tòa án Quốc tế không giống như tòa án trong nước để có thể có chế tài buộc ông A bà B nào đó phải vào tù hay ông C phải bồi thường cho bà D vài chục triệu, trả lại tang vật trong vụ án v.v… Tức là đừng quá kỳ vọng việc tòa án Quốc tế sẽ giúp chúng ta bảo vệ chủ quyền biển đảo.

Nhà Giàn DK (Phúc Nguyên)

Ai đó nói rằng chúng ta cần “đánh động” thì xin thưa, việc đi kiện tụng như thế chẳng đánh động được cái gì ngoài việc khiến cho Trung Quốc có cớ sử dụng các đòn trừng phạt phi quân sự nhắm tới Việt Nam. Cùng với đó, họ sẽ dùng ảnh hưởng của mình để gây sức ép lên cộng đồng Quốc tế và cô lập Việt Nam, bao vây kinh tế v.v… Trong khi đó, cái mà chúng ta cần nhất bây giờ là tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng Quốc tế. Thế nên phương án kiện là KHÔNG NÊN VÀ KHÔNG THỂ, vì chúng ta sẽ bị hại nhiều hơn lợi. Và cũng cần nói thêm rằng việc “tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng Quốc tế” không đồng nghĩa với việc phụ thuộc hoàn vào vào một “Quốc gia đồng minh” nào cả. Thật ngây thơ khi cho rằng Mỹ, hay Nga hay Nhật sẽ giúp chúng ta một cách vô tư và họ chẳng có ý đồ gì trong đó. Nên nhớ, tiền của dân nước ngoài ta đóng thuế, máu của binh sĩ người ta không có mang qua “cúng chùa” cho Việt Nam đâu ạ. Điều này sẽ rất dễ để hình dung ra được khi các bạn tránh được việc đồng nhất giữa việc bảo vệ chủ quyền biển đảo với việc “chống một mình Trung Quốc”.

Các ý như tăng cường sức mạnh quân sự, tăng cường trợ giúp ngư dân bám biển thì Việt Nam đã và đang làm rất tốt. Còn phải làm đến thế nào mới thỏa lòng tất cả mọi người thì đó là câu hỏi không thể có đáp án chung. Cách đây 4 năm, việc di chuyển từ tàu hải quân vào tiếp cận nhà giàn được thực hiện bằng… dây thừng! Hiện nay chúng ta đã có xuồng CQ có thể vào tận nơi một cách dễ dàng. Trước kia các chiến sĩ phải phấn đấu cả 6 tháng trời để được một lần gọi bộ đàm về liên lạc với đất liền thì ngày nay, 100% đảo nổi đảo chìm và nhà giàn của chúng ta được trang bị trạm thu phát sóng vệ tinh của Tập đoàn viễn thông. Chúng ta có cả hệ thống liên lạc internet đủ mạnh để thực hiện họp online, chữa bệnh từ xa. Đời sống ở Trường Sa giờ đây đã hoàn toàn thay đổi.

3/ Ngày trước, mỗi khi đọc tin Trung Quốc khai trương một tòa nhà nào đó ở quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam mà họ đang chiếm đóng phi pháp, mình rất cay cú và tự hỏi “tại sao một việc đơn giản thế mà Việt Nam không làm, cứ để cho Trung Quốc một mình một chợ?”. Ngày hôm nay thì thấy nó khởi công xây nhà. Ngày mốt thì thấy nó rồng rắn đưa người ngựa ra đốt pháo khánh thành. Ngày sau nữa lại thấy nó làm sân bay. Ngày sau sau nữa lại thấy nó đưa khách ra tham quan du lịch? VẬY TẠI SAO VIỆT NAM KHÔNG CHỊU LÀM NHƯ VẬY MÀ CỨ PHẢN ĐỐI LÊN PHẢN ĐỐI XUỐNG LÀM GÌ???

Và đến khi mình được nghe chuyện về lực lượng công binh, là những người đi phá mìn mở đường xây nhà trên đảo thì mình đã tự có câu trả lời rồi. Tóm lại một cách đơn giản và dễ hiểu thì xây nhà trên đất liền khó 1 thì đặt một viên đá trên mặt biển khó gấp 1 vạn lần. Mình ước gì tất cả các bạn có thể tận mắt chứng kiến nhà giàn có 8 cây cột thép choài ra làm “chân chống” với mỗi cây cột có đường kính khoảng chừng nửa mét, lại được giằng thêm hàng chục cây thép nhỏ hơn để đan kết vào nhau sừng sững giữa bạt ngàn sóng nước. Và nếu các bạn biết rằng cách đó 4 năm, những nhà giàn vững chắc kiên cố như một tòa lâu đài thép đã bị kéo đổ nhào xuống biển, mang theo cả một tiểu đội mãi mãi không bao giờ trở về được đất liền, các bạn sẽ “cảm” được một phần của công việc xây cất ở nhà giàn cũng như trên các đảo.

Hãy thử hình dung, nếu bạn đang ở giữa một đảo san hô, xung quanh ngập nước chừng 1m, xuồng CQ không thể nào tiếp cận, tàu hộ tống chở theo nguyên liệu là xi măng đá tảng buộc phải neo đậu cách đó chừng 5km thì bạn sẽ làm thế nào để mang vác được xi măng, gạch, đá, sắt thép rồi canh thủy triều lên xuống để đổ cho được một cây cọc bê tông đầu tiên xuống rồi “khô lại” giữa lòng biển khơi? Hãy cố hình dung đi. Chỉ cần hình dung với nhiệm vụ là một cây cọc bê tông duy nhất chứ chưa nói tới những gì lớn lao to tát. Khi đã lờ mờ tìm ra một cách làm nào đấy, bạn sẽ tự có câu trả lời cho câu hỏi “đơn giản” được bôi hoa toàn bộ ở phía trên.

Cũng có thể tiết lộ với các bạn rằng ở phạm vi bán kính chừng 1km quanh các đảo (thay đổi tùy theo diện tích) là cơ man các cọc bê tông sừng sững để sẵn sàng “nghênh chiến” với các loại tàu thuyền… [Các chi tiết sâu hơn liên quan đến vũ khí và hệ thống chiến đấu, phòng thủ ở đoạn này đã bị cắt ]. Thực sự, nếu được đặt chân lên một đảo tại Trường Sa, các bạn sẽ biết rằng “Việt Nam tuy không hiếu chiến, nhưng để đánh được vào các đảo của Việt Nam là cả một vấn đề”.

4/ Cũng trong chuyến đi 10 ngày lênh đênh trên biển, có một sự bất ngờ tới mức “gây sốc” cho toàn bộ đoàn công tác. Đó là dù quan sát ở bất cứ góc độ nào, cũng chỉ thấy có ta và.. ta và… biển. Thế nhưng ngay khi tàu HQ960 “tình cờ” chạm trán với tàu hải giám Trung Quốc (bẻ lái cắt ngang vuông góc) thì ngay lập tức thấy lù lù 2 tàu chiến của hải quân Việt Nam xuất hiện. Tất cả mọi người đều không biết các tàu chiến này ở đâu ra, và càng sốc hơn nữa khi được cho biết họ đi theo bảo vệ đoàn công tác ngay từ khi rời cảng!!! Chưa hết, khi đặt chân lên tới An Bang, mình còn được tận mục sở thị một buổi huấn luyện của đặc công biển Việt Nam với hành trình bơi hàng chục km mỗi ngày luyện tập mang theo vũ khí đổ bộ vào đảo và hiệp đồng tác chiến với các chiến sĩ tại trận địa. Có thể tin hay không tùy bạn, nhưng họ còn có khả năng nằm im dưới nước sâu trong suốt nhiều giờ đồng hồ cho đến khi được lệnh tiếp tục “hành quân” vào đảo.

Tuy nhiên, tất cả các trang thiết bị vũ khí, súng ống đạn được, quân lính tinh nhuệ… của chúng ta không phải được sinh ra để tấn công mà là phòng thủ. Việt Nam còn yếu, nên chủ trương của chúng ta là đối thoại và hợp tác, dựa trên việc thu thập, củng cố rồi tuyên truyền các bằng chứng lịch sử để tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng Quốc tế. Việt Nam không bao giờ đối đầu, không bao giờ dùng vũ lực, không bao giờ “phát pháo” trước trong mọi tình huống để kẻ thù có thể dựa vào làm nguyên nhân gây chiến. Trong khi đó, chúng ta bằng mọi giá bảo vệ chủ quyền tất cả những đảo chìm, đảo nổi, bãi cạn… mà chúng ta đang có. Luôn luôn bày tỏ quan điểm phản đối, nêu rõ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán không thể tranh cãi của Việt Nam với các đảo, quần đảo, bãi cạn mà chúng ta thực sự có chủ quyền, BAO GỒM CẢ NHỮNG NƠI ĐÃ BỊ KẺ THÙ DÙNG VŨ LỰC CHIẾM ĐÓNG TRÁI PHÉP (trong lịch sử). Điều mà các bạn hay gọi là “nhai đi nhai lại”.

5/ Liên quan đến việc tàu cá Việt Nam bị Trung Quốc ngăn chặn, xua đuổi, bắn phá khi khai thác trong khu vực quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa và tàu cá Trung Quốc ngang ngược tiến vào quần đảo Trường Sa của Việt Nam để đánh bắt trái phép thì do chính những nhà báo của mình NHIỀU KHI không nắm rõ thông tin nên việc tuyên truyền dễ gây ra những nhầm lẫn căn bản.

Đầu tiên phải hiểu thế này. Trường Sa và Hoàng Sa là quần đảo tức là gồm nhiều đảo nhỏ. Với mỗi đảo thì chúng ta lại có rất nhiều thuật ngữ liên quan đến việc xác lập chủ quyền, nhưng gần gũi nhất có lẽ là “lãnh hải”. Nếu chỉ xét riêng về lãnh hải, thì các bạn cứ tạm hiểu như một vòng tròn kim cô xung quanh các đảo. Nếu chúng ta xác lập chủ quyền ở 1 đảo, thì mặc nhiên chúng ta có thêm chủ quyền ở một đường biên lớn hơn chạy xung quanh đó nữa.

Tập hợp các đường viền như vậy ở tất cả các đảo mà chúng ta có chủ quyền nó sẽ là nơi chúng ta mặc nhiên đi lại và khai thác. Chứ không phải cứ lấy cây bút rồi khoanh một vòng “to đùng” bao hết các đảo lại cho rằng đó là vùng bất khả xâm phạm của mình. Vậy nên chủ quyền của chúng ta sẽ là một vùng thực sự rất… loằng ngoằng, có chỗ thì chồng chéo, có chỗ bị “hở” ra. Và theo luật, cái chỗ hở đó là hải phận quốc tế. Dù nhìn vô bản đồ nó có vẻ nằm hoàn toàn trong “khu vực” quần đảo Trường Sa.

Chưa hết, trong lịch sử một số đảo chúng ta đã bị Trung Quốc dùng vũ lực chiếm đi. Cho nên, dù cái đường vòng quanh đảo đó là lãnh hải của Việt Nam nhưng trong thực tế nếu tầu thuyền của ngư dân đi vào đó thì sẽ bị xua đuổi và bắn phá. Tức là các tàu đó bị bắn phá do xâm phạm vào “lãnh hải có được vì chiếm đóng trái phép” của Trung Quốc, nhưng lại là “lãnh hải dựa trên cơ sở pháp lý quốc tế và căn cứ lịch sử không thể tranh cãi” của Việt Nam. Cho nên báo chí sẽ phải đưa tin là tàu cá ngư dân bị bắn trong vùng lãnh hải “của Việt Nam”. Thậm chí Bộ Ngoại Giao cũng phải tuyên bố như vậy. Và chính sự nhập nhằng này cũng khiến nhiều người cho rằng chúng ta quá hèn kém khi để cho ngư dân bị vạ lây như vậy.

Tương tự với việc Trung Quốc xua đội tàu cá hàng chục chiếc “tràn vào khu vực Trường Sa và Hoàng Sa” của Việt Nam để đánh bắt trái phép. Trong thực tế, quanh năm suốt tháng đều có tàu cá của Trung Quốc “mon men” đến gần các đảo của Việt Nam. Và khi này, chắc chắn 100% chiến sĩ trên đảo sẽ theo quy trình để có hành động xua đuổi thích hợp và mức cao nhất là sẵn sàng chiến đấu không khoan nhượng nếu việc xua đuổi không thành công.

Tuy nhiên, nếu các tàu cá này đi vào những vùng “lỗ thủng” của lãnh hải đan xen giữa các đảo thì thực tế không xâm phạm lãnh hải Việt Nam nhưng vẫn coi là “ùa vào khu vực quần đảo Trường Sa của Việt Nam được”. Điều tương tự xảy ra nếu các tàu này đi vào lãnh hải của các đảo thuộc chủ quyền Việt Nam nhưng bị đánh cướp bằng vũ lực và chiếm đóng trái phép trong quá khứ. Chưa kể theo thông lệ quốc tế, nếu tàu họ “vô tình” đi vào một vùng lãnh hải nào đó thực sự hoàn toàn thuộc Việt Nam thì mình cũng không thể nào ra bắn phá mà trước tiên là xua đuổi. Và trong đại đa số các trường hợp, khi mình xua đuổi thì nó sẽ dời đi. Nhưng báo chí vẫn coi đấy là việc ùa vào vùng lãnh hải của Việt Nam.

6/ Tóm lại những việc mà chính phủ đang làm – THEO CÁ NHÂN MÌNH ĐÁNH GIÁ – là hoàn toàn đúng đắn về đường lối chính sách, phù hợp với tình hình thực tế hiện nay của đất nước. Sau khi đi thực tế, theo cách gọi của đoàn công tác, là “thăm và kiểm tra các đảo” thì phải nói là mình hoàn toàn yên tâm rằng ít nhất là các đảo mình đang giữ sẽ khó mà bị Trung Quốc đánh chiếm. Những sự vi phạm chủ quyền theo dạng quấy nhiễu của Trung Quốc chúng ta đều có quy trình đối phó an toàn nhất.

Về phía cộng đồng quốc tế, chúng ta đang làm cực tốt việc “nhai đi nhai lại bài ca phản đối” mọi lúc mọi nơi, trên mọi phương diện dù sự vi phạm có lớn như con voi hay nhỏ như con kiến. THEO THÔNG LỆ LUẬT PHÁP QUỐC TẾ, ĐIỀU ĐÓ LÀ CỰC KỲ QUAN TRỌNG! Chúng ta cũng chấp nhận việc “gây hiểu lầm” về năng lực bảo vệ ngư dân hay năng lực phòng thủ khi sẵn sàng ra tuyên bố chủ quyền ngay cả trong trường hợp thực ra chúng ta chỉ bị vi phạm chủ quyền theo lý thuyết. Theo mình, đây là một đánh đổi cực kỳ quan trọng và dũng cảm. Các bạn hãy đọc thật kĩ phần trên để hiểu và cùng đi giải thích cho nhiều người khác cùng hiểu nữa.

Việc tốt nhất mà mỗi người chúng ta có thể chung tay, theo mình chính là nâng cao nhận thức, kiến thức về luật biển, về UNCLOS, phải hiểu được lãnh hải là gì, đường cơ sở là gì, cơ sở xác lập chủ quyền biển đảo thế nào, vùng nội thủy là gì, vùng đặc quyền kinh tế là gì, thềm lục địa là gì, thềm lục địa mở rộng là gì… v.v… và v.v… Chừng nào làm được như vậy chúng ta mới mong hiểu đúng, hiểu rõ và hiểu sâu về tình hình chiến sự tại Biển Đông. Mới không hoang mang khi tiếp nhận thông tin từ những nhà báo thực ra nhiều khi cũng chưa hiểu sâu về biển đảo, từ những thông tin mà Nhà nước buộc phải nói theo kiểu khiến người dân nghe vô sẽ tự nhiên thấy hoang mang (http://on.fb.me/13FvJIW). Và quan trọng nhất là đủ tỉnh táo để phân biệt đúng sai, mức độ chính xác của thông tin từ những nguồn tin không thiện chí.

Hình minh họa là một trong những hình ảnh hiếm hoi liên quan đến vũ khí tại Trường Sa được Chuẩn đô đốc LMT cho phép công bố.

Nguồn: FB Nguyễn Ngọc Long

Trong cộng đồng người Việt Nam ở hải ngoại có những nhân vật “hành nghề chính trị” mà khi nhắc đến thì mọi người đều lắc đầu ngán ngẩm với những nhận xét đầy khinh bỉ . Đó là những kẻ cơ hội , trục lợi, trơ trẽn với những việc làm trong quá khứ và hiện tại của họ . Ở đây tôi muốn nói đến một nhân vật thuộc hạng có “máu mặt” đó là Võ văn Ái với hỗn danh là “ma đầu”, hiện đang là chủ tịch cơ sở Quê mẹ và “Ủy ban bảo vệ quyền làm người VN” do chính Ái tự phong làm chủ tịch và điều hành. Qua việc theo dõi các thông tin trên báo chí thì tôi được biết vào tháng 3 đầu năm nay, 2012, dưới sự cầm đầu của Võ Văn Ái “Ủy ban bảo vệ quyền làm người VN” đã đến Genève vận động can thiệp cho những người mà họ gọi là “những tù nhân chính trị và tù nhân vì lương thức Việt Nam”? Võ văn Ái gặp gỡ “Tổ Hành Động Chống Bắt bớ Trái phép của LHQ”(WGAD). Theo thủ tục WGAD đã chuyển đạt tin tức cùng hồ sở do Võ văn Ái cung cấp đến chính quyền Việt Nam ngày 15.3.2012. Việt Nam hồi đáp ngày 13.7.2012 bác bỏ mọi luận điểm của hồ sơ, rồi tuyên bố các người bị giam tù do họ vi phạm pháp luật Việt Nam. 29-8-2012 WGAD đã gởi bản Fax đến “Ủy ban bảo vệ quyền làm người VN” với nội dung tuyên bố rằng,”Việt Nam vi phạm các điều 9, 19, và 21 của Công ước quốc tế khi giam giữ trái phép ông Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Tiến Trung, và Lê Thăng”. Võ văn Ái vui mừng coi đây là một thành tích mà các “bề trên” ủng hộ, ngày 8-11-2012 vội vàng xuất xưởng với cái gọi là “Thông cáo báo chí” trên nguyệt san Quê mẹ.
Trong nội dung “Thông cáo báo chí” Võ Văn Ái lớn giọng “Phải trả tự do cho những người này và phải chấp nhận đền bù cho họ …”? Ông ta có cái quyền gì mà ra lệnh cho một nhà nước hợp pháp đang lãnh đạo 90 triệu dân ? chỉ có kẻ đầu óc hoang đường mới có những phát ngôn ngông cuồng như vậy.Theo sự tìm hiểu của bản thân tôi về việc thực hiện quyền con người và sự thúc đẩy nó đạt đỉnh thăng hoa nhất đó là trách nhiệm và quyền hạn của mỗi quốc gia , mỗi dân tộc. Việt Nam cũng như các quốc gia khác có trách nhiệm xây dựng hệ thống pháp luật trong nước cho phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế mà đặc biệt là hiến chương liên hợp quốc. Nhưng do hoàn cảnh khác biệt về lịch sử, chế độ chính trị, trình độ phát triển, giá trị truyền thống văn hóa… nên cách thực hiện quyền con người ở mỗi quốc gia có thể khác nhau. Hợp tác đối thoại giữa các quốc gia nhằm mục đích thúc đẩy việc thực hiện và bảo vệ quyền con người là một yêu cầu thực tế, cần thiết khách quan chứ không phải là sự quy chụp võ đoán bất chấp thực tế.Thật khó mà kể hết những hoạt động của Võ Văn Ái chống phá đất nước và dân tộc Việt Nam mà đặc biệt là với bà con phật tử và Giáo hội Phật giáo Việt Nam . Võ Văn Ái là tên đầu cơ trục lợi chính trị một cách ma mãnh nhất, ông ta đã không từ một thủ đoạn nào với mục đích duy nhất là đánh bóng tên tuổi và kiếm chác tiền bạc từ các tổ chức ngoại bang chống Việt Nam và của bà con trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại. Một điều lẽ tất nhiên là khi nhận tiền của ngoại bang là phải chấp nhận những điều kiện, những hoạt động phục vụ cho đường lối chính sách của tổ chức đó thì đồng nghĩa với thân phận làm tay sai, điều này thì Võ văn Ái không thể phủ nhận được . Vậy thì những điều mà Võ Văn Ái lên tiếng tranh đấu cho tự do, dân chủ, quyền làm người của dân tộc Việt Nam như ông ta đã cao giọng nhằm phục vụ cho đường lối sách lược nào? cho thế lực ngoại bang hay cho dân tộc Việt Nam? Đúng là con người gian manh , một tên “ma đầu” về chính trị tự khoác lên người tấm áo choàng “bảo vệ quyền làm người” nhưng mục tiêu của ông Ái là làm tay sai để được trả tiền. Những việc làm của Võ văn Ái đã để lại những hậu quả tai hại là Phật giáo Việt Nam bị chia rẽ, rối ren . Đồng thời với hoạt động báo chí, Ái còn lập tổ chức “Ủy ban bảo vệ quyền làm người VN” như đã nói, do chính Ái làm chủ tịch và điều hành. Chúng ta thấy Võ văn Ái hay “mở sô” phỏng vấn trên các “mõ làng” như VOA, RFA, RFI… để Ái tự quảng cáo, đánh bóng, phô trương, phóng đại thành tích chống Cộng và tranh đấu cho quyền làm người Việt Nam hay tự do tôn giáo bằng bất kỳ thủ đoạn nào .Võ Văn Ái chuyên nghề câu kết với một số đối tượng cơ hội chính trị trong nước và các phần tử chống cộng cực đoan (CCCĐ) lợi dụng tôn giáo để kích động gây rối xã hội Việt Nam. Đối với Võ Văn Ái, thì tất cả người dân trong nước đều là những “nạn nhân” của chế độ cộng sản cầm quyền ,không có “nạn nhân” cũng phải cố tạo, cố nặn ra để được lên tiếng đánh bóng cái mác “bảo vệ quyền làm người” với chức danh chủ tịch tự phong của mình .
Lật lý lịch của Võ Văn Ái, có quốc tịch Pháp, dân tộc Kinh, quê Thừa Thiên – Huế, là Phật tử. Ái là bác sĩ, viết văn, làm thơ, làm báo với các bút danh: Nguyễn Thái, Thi Vũ, Trần Phổ Minh…, và làm con rối chính trị . Là Phật tử, đúng ra ông ta phải có những việc làm ích đời đẹp đạo vậy mà tất cả những việc làm của Võ văn Ái chỉ có duy nhất một niềm đam mê như con thiêu thân là chống lại dân tộc Việt Nam và kiếm tiền. Chỉ đáng tiếc là một số người trong nước không hiểu được dã tâm của những người như Ái họ đã tự nguyện làm vật tế thần, nhằm phục vụ cho mưu đồ đen tối .1978- khi Bernard Kouchner, Chủ tịch tổ chức “Thầy thuốc không biên giới Pháp” dùng con tàu mang tên “Đảo ánh sáng” đi vớt người vượt biển, thì Võ Văn Ái đã tích cực tham gia cổ vũ cho tổ chức này. Ông ta dùng địa chỉ nhà mình làm nơi quyên tiền ủng hộ, và đã thu được hơn 200 triệu frăng (tiền Pháp). Tuy nhiên, số tiền thực tế đến tay “người vượt biển” lại không bao nhiêu, mà chủ yếu Võ Văn Ái tiêu xài cá nhân dưới danh nghĩa chi phí để đi nơi này, nơi kia, tuyên truyền vận động. Nắm được thông tin cụ thể, báo chí Pháp liên tiếp đăng nhiều bài tố cáo khiến kế hoạch “quyên góp” của Võ Văn Ái phải ngưng lại nửa chừng khi bị sở thuế sờ gáy.
Năm 1983 trong khoảng thời gian này đời sống nhân dân trong nước gặp nhiều khó khăn vì bị cấm vận cầm đầu là Hoa Kỳ thì ở hải ngoại mọc lên một số tổ chức chống phá nhà nước Việt Nam, lợi dụng cơ hội đó tổ chức của Hoàng Cơ Minh tiền thân của băng đảng khủng bố Việt Tân với các chiến dịch lừa bịp, hù dọa bà con trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại quyên góp cho “kháng chiến quân” về “giải phóng quê hương” kiếm được rất nhiều tiền. Nắm bắt cơ hội “ngàn vàng” này Võ Văn Ái đẻ ra cái gọi là “Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam “Theo tài liệu chính trên www.ned.org thì ông Ái nhận được sự tài trợ của NED, một tổ chức của Mỹ thành lập năm 1983 vào thời Tổng thống Reagan. Về hình thức, những hoạt động của NED không khác với những hoạt động của CIA nhưng được ngụy trang dưới danh nghĩa là tranh đấu của dân chủ. Khi được một thế lực nước ngoài đỡ đầu tài chính, thì ông ta lại càng tích cực gia tăng các hoạt động chống phá Việt Nam một cách điên cuồng . Võ văn Ái đứng ra thành lập “Ủy ban bảo vệ quyền làm người Việt Nam” tại Pháp như đã nói ở trên , rồi tự phong cho mình chức chủ tịch. Đồng thời lôi kéo một số người có tư tưởng hận thù chống cộng vào cuộc để khuếch trương và cho ra mắt tập san Quê Mẹ làm phương tiện chống phá Việt Nam mà nội dung không ngoài việc tuyên truyền, xuyên tạc các chủ trương, chính sách của Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là trong lĩnh vực tôn giáo.
Ban đầu tập san có nội dung như văn nghệ, văn hóa, chính trị, thơ văn… do chính Ái viết dưới nhiều bút danh khác nhau và vài tác giả khác cộng tác. Quê Mẹ lúc ấy không gây được ảnh hưởng nhiều trong cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Chỉ đến khi nhận được sự tài trợ của National Endowment for Democracy (NED), một tổ chức thuộc hạ viện Hoa Kỳ, từ đó Quê Mẹ bắt đầu “bẻ lái đổi hướng” sang mục tiêu chính là chính trị theo ý đồ của tổ chức tài trợ. Từ lập trường mang hơi hướng tinh thần hóa giải của Phật giáo Quê Mẹ chuyển sang lập trường chống Cộng một cách triệt để và cực đoan. Nội dung trọng tâm của tạp chí Quê mẹ là những tin tức liên quan đến “nhân quyền”, vi phạm “tự do tôn giáo” ở VN, sau khi được Võ văn Ái bóp méo xuyên tạc méo hoặc thổi phồng các tin tức này nhằm khuấy động dư luận quốc tế .
Sau đó Võ Văn Ái cho ra đời cái được gọi là “Phòng Thông tin Phật giáo hải ngoại” do Ái tự phong làm giám đốc. Đồng thời rủ rê một số tăng ni để hợp thức hóa thành lập “Văn phòng 2 Viện Hóa đạo” trực thuộc GHPGVNTN(giáo hội phật giáo Việt Nam thống nhất) hải ngoại . Cái “Phòng Thông tin Phật giáo Quốc tế” chỉ là một nhãn hiệu bịp bợm để lòe thiên hạ có như vậy mới vận động quyên góp tiền bạc của bà con phật tử. Sự thật thì đó chỉ là hang ổ cho ra lò những sản phẩm gọi là “Thông cáo báo chí” “kiến nghị” “điều trần” do Ái nghĩ ra chứa đựng nhiều thông tin bịa đặt đến mức thô thiển để chống Việt Nam chứ không dính dáng gì đến Phật giáo cả . Vì lập ra “Phòng Thông tin Phật giáo quốc tế” nên Võ Văn Ái cần có sự hậu thuẫn, ủng hộ của một số tu sĩ Phật giáo sống tại Việt Nam, đứng đầu là ông Quảng Độ. Giữa năm 2003, Võ Văn Ái sai tay chân của mình về Việt Nam, gặp ông Thích Quảng Độ, rồi đề nghị ông ta nhận lời làm người lãnh đạo GHPGVNTN . Và điều không ngoài dự đoán của nhiều người đối với ông thầy tu nhưng rất khoái chức tước, quyền lực, tháng 10/2003 ông Quảng Độ trao quyền quyết định cho Võ Văn Ái đứng ra tổ chức một đại hội bất thường của “GHPGVNTN hải ngoại” tại Mỹ. Mục đích đại hội này nhằm đưa ông Quảng Độ lên ghế “Tăng thống”. Đổi lại, ông Quảng Độ cho Võ Văn Ái toàn quyền sắp xếp nhân sự của Viện Tăng thống và Viện Hóa đạo tại hải ngoại, đồng thời còn có quyền là “người phát ngôn của giáo hội” được ban hành “thông điệp” từ trong nước đến các GHPGVNTN ở nước ngoài . Cho nên Ái mô tả, thêm bớt, vẽ vời thế nào thì các “đệ tử” cứ theo đó mà làm. Ngược lại hầu hết các thông tin, thông điệp, giáo chỉ từ trong nước đến được với các GHPGVNTN ở hải ngoại cũng là qua Ái. Cho nên Ái đã mặc tình thao túng cả GHPGVNTN. Do vậy, Thượng Phối Sư Thông Trần từng nhận xét rằng: “Võ Văn Ái không khéo sẽ biến Thích Quảng Độ thành… nài ngựa!” là vậy. Bộ mặt thật của Võ Văn Ái là chỉ vì bạc tiền danh vọng mà trở thành tay sai đắc lực của ngoại bang nhằm thực hiện diễn biến hòa bình để rồi gây ra hận thù chia rẽ Phật giáo Việt Nam , Và tất nhiên cái vỏ bọc đấu tranh cho nhân quyền, tự do tôn giáo chỉ là phương tiện để Võ Văn Ái kiếm Fund(tiền tài trợ) của các tổ chức ngoại bang chống Việt Nam và moi tiền bà con người Việt ở hải ngoại .Trước đây dư luận trong cộng đồng khi đề cập đến vấn đề tài chánh thì bao giờ Võ Văn Ái cũng tìm đủ mọi cách tránh né , phủ nhận là ông ta không bao giờ ăn tiền của ai: “Tôi làm những chuyện không công, chẳng có lương bổng gì hết, do vậy mà chư tôn đức tăng ni, phật tử cho bao nhiêu thì lấy bấy nhiêu mà không đòi hỏi, để lo cho cơ sở Quê Mẹ” ?. Ngày 26-9-2012 Võ văn Ái thể hiện là kẻ ôm chân ngoại bang một cách trơ trẽn nhất đó là viết thơ cho tổng thống Pháp Francois Hhollande yêu cầu Tổng Thống nhân danh nước Pháp lên tiếng can thiệp cho các bloggers vi phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam như Điếu Cày, Phan Thanh Hải, Tạ Phong Tần và ký giả Hoàng Khương ?. Võ văn Ái đã lếu láo vu khống một cách trắng trợn rằng nhà nước Việt Nam đối xử với người dân trong nước “họ bị tù đày trên lãnh thổ họ như trong một nhà tù…” ? Xin hỏi ông Ái rằng hàng năm có trên nửa triệu người Việt từ hải ngoại về thăm cái mà ông gọi là “nhà tù” thì nhận xét của họ như thế nào ? kiều hối bà con gởi về “nhà tù” là 12 tỷ đô la trong năm qua thì ông có lý giải gì cho thỏa đáng với những lời vu khống vô căn cứ của ông ? Vẫn chưa hết ông Ái còn cao giọng : “Nhân danh Chủ tịch Ủy ban Bảo vệ Quyền Làm Người Việt Nam, xin được nói lên mối âu lo trước muôn nghìn hành động đàn áp của nhà cầm quyền Việt Nam tiếp tục đàn áp Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất trong âm thầm nhưng thường trực.” ?. Khi đọc những cái gọi là “thông cáo” “kiến nghị”.. mà Võ Văn Ái nhào nặn thì những người Việt có tấm lòng với quê hương đất nước không khỏi phải phì cười về sự lố bịnh đến nham nhở của ông ta .Theo như tôi được biết Việt Nam hiện nay tôn giáo phát triển hơn bao giờ hết , đồng bào ở hải ngoại về thăm quê hương hàng năm đều nhận thấy sự đổi khác đang diễn ra từng ngày, nhà thờ, chùa chiềng được xây dựng mới khang trang lộng lẫy, vào các ngày lễ lớn nhà thờ, chùa chiềng, miếu mạo tấp nập vui như trẩy hội niềm vui hiên trên nét mặt của mọi người .Nhà nước Việt Nam hiểu rằng tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo là tôn trọng niềm tin, nghi thức thờ phượng, những sinh hoạt tôn giáo phù hợp với giáo lý với truyền thống văn hóa dân tộc là góp phần nâng cao đạo đức, nhân cách của con người chứ không chấp nhận những hành vi lợi dụng, hoặc đội lốt tôn giáo để làm những điều trái pháp luật, phản văn hóa đi ngược lại điều răn dạy của chúa, phật, thánh , thần và những yêu cầu chính đáng của đồng bào theo các tôn giáo.
Nói tóm lại những kẻ như Võ Văn Ái chỉ vì mục đích phô trương bản thân, trục lợi chính trị can tâm làm tay sai cho các thế lực thù địch chống Việt Nam để moi rút tiền bạc cho bản thân mình , những khẩu hiệu “dân chủ, nhân quyền” chỉ là tấm áo khoác để lừa bịp. Nhân bài viết này tôi cũng muốn nhắn gởi cho những ai ở trong nước cũng như bà con trong cộng đồng người Việt ở hải ngoại hãy cảnh giác với những kẻ “ma đầu” như Võ văn Ái đừng để cho bọn chúng lợi dụng trở thành công cụ chống phá đất nước, đi ngược lại lợi ích của dân tộc mình.
Ngày 6-12-2012

Nhân kỷ niệm ngày Nhân Quyền Quốc tế 10-12- 2012. Những tổ chức phi chính phủ liền bắt nhịp theo kiểu “theo đóm ăn tàn”như Ủy Ban Bảo vệ các Ký Giả (Committee to Protect Journalists – CPJ) có trụ sở tại New York (Hoa Kỳ). Tổ chức này cùng dàn “hòa tấu” với các mõ làng như VOA, BBC, RFA,RFI , cùng với các tổ chức của cái gọi là bảo vệ quyền làm người Việt Nam (vietnam commitee on human rights), liên đoàn quốc tế nhân quyền(FIDH, International Federation for human Rights), Tổ chức quan sát nhằm bảo vệ người đấu tranh cho nhân quyền ( The obsevatory for the protection of human rights defenders)…không có thiện cảm với Việt Nam trong suốt thời gian qua đã công bố cái gọi là “phúc trình” về tình hình tự do báo chí và tình trạng đàn áp ký giả diễn ra khắp nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Hơn thế, CPJ còn đưa ra nhiều luận điệu xuyên tạc về tình hình báo chí, đặc biệt là hoạt động internet, blog ở Việt Nam. xếp hạng Việt Nam nằm trên danh sách các nước đàn áp mạnh bạo nhất các nhà báo và bloggers độc lập.

 CPJ - Công cụ xuyên tạc Việt Nam của Mỹ
Ngày 14-12-2012 “Mõ làng” VOA việt ngữ có cuộc phỏng vấn với ông Shawn Crispin, Đại diện cấp cao của CPJ ở Đông Nam Á. Ông này là tác giả của “phúc trình” nghiên cứu tình hình tự do báo chí ở Việt Nam.Theo CPJ, đa số các nhà báo tại Việt Nam bị bỏ tù vì tội danh chống nhà nước liên quan tới các bài viết về các vấn đề chính trị “nhạy cảm” như quan hệ Việt-Trung và cách chính quyền hành xử với cộng đồng Công giáo ?
Trong bản “phúc trình” , CPJ xếp Việt Nam hạng thứ 6 trên danh sách của CPJ, liệt kê 10 nước bỏ tù nhiều nhà báo nhất thế giới nhóm các nước mà họ gọi là “tấn công, đàn áp báo giới”. Tổ chức này cho rằng, cơ sở của nhận định đó là trong năm qua, Việt Nam đã “đàn áp nhiều ký giả, những người viết nhật ký trên mạng (tức blogger)”, “vô cơ bắt giam một số phóng viên” ? rằng, “Việt Nam ngăn chặn mọi trang web và những tài liệu trên mạng” .Trong danh sách các nước bỏ tù nhiều ký giả nhất trên thế giới, Việt Nam hiện đứng thứ sáu, với 14 nhà báo đang bị giam cầm trong đó có 13 người là báo mạng ?.
Theo ý kiến của tôi đây là những đánh giá hoàn toàn mang tính chủ quan, định kiến về tình hình báo chí cũng như hoạt động của các nhà báo Việt Nam . Như chúng ta biết cùng với nghĩa vụ khi tham gia ký kết các công ước quốc tế, mỗi quốc gia, dù theo hệ thống luật lục địa hay luật án lệ đều có các quy định về hành nghề báo chí, hoặc dưới dạng đạo luật của quốc gia hoặc các quy chế hoạt động do tổ chức nghề nghiệp đưa ra. Những quy định này luôn phản ánh các giá trị văn hóa, xã hội và chính trị của quốc gia đó.
Hầu hết các quốc gia thể chế hoá quyền tự do thông tin và đưa thông tin trong những văn bản mang tính chất pháp lý cao nhất (hiến pháp) và văn bản luật thành văn trong đó có Việt Nam. Một số quốc gia đưa các chế định về bảo vệ nhà báo, nghề báo vào trong Bộ luật hình sự. Luật báo chí của Việt Nam cũng khẳng định quyền của nhà báo được thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới, phù hợp với lợi ích của đất nước và của nhân dân, đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật, các hiện tượng tiêu cực trong xã hội, và được pháp luật bảo hộ trong hoạt động nghề nghiệp. Quyết định này được ban hành theo quy định của pháp luật về báo chí Việt Nam và thực tế phát triển thông tin hiện nay Chính phủ Việt Nam ban hành quy chế phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí, hay như việc Nhà nước Việt Nam quản lý báo chí bằng Luật, hoàn toàn không phải là sự cản trở quyền tự do báo chí của người dân, cũng như hoạt động báo chí của các nhà báo. Báo chí và hoạt động báo chí ở Việt Nam luôn luôn vì sự phát triển của đất nước và cuộc sống ngày càng đầy đủ hơn cả về vật chất và tinh thần. Không hiểu các vị ở CPJ có biết được hay cố tình “lãng quên” những con số thống kê sau ở Việt Nam với hơn 550 cơ quan báo chí, với hơn 700 ấn phẩm báo chí với các loại hình, từ báo viết, báo nói, báo hình đến Internet, hiện nay, mỗi người dân được thụ hưởng tới 7,5 tờ báo. Với sự phát triển nhanh chóng trong nhu cầu được thông tin mà không gặp bất cứ một sự trở ngại nào. Đó chính là biểu hiện sinh động của tự do báo chí ở Việt Nam, thể hiện quyền tự do ngôn luận của mỗi người dân.
Việc CPJ và một số phương tiện truyền thông kiểu “mõ làng” phương Tây đã cố tình thêu dệt bức tranh “u ám” về báo chí ở Việt Nam, một lần nữa thể hiện sự thiếu thiện chí và định kiến của họ về tình hình phát triển của báo chí Việt Nam. Nền báo chí cách mạng Việt Nam hoạt động vì sự phát triển và phồn vinh của đất nước, Luật Báo chí Việt Nam khẳng định, báo chí không chỉ phản ánh trung thực tình hình phát triển của đất nước, thế giới, mà còn là diễn đàn tin cậy của người dân. Trong khi đó, với môi trường bùng nổ thông tin như hiện nay, không phải tất cả mọi nguồn thông tin về những sự kiện quan trọng của xã hội đều chính xác. Hơn thế nữa còn có cả những thông tin sai lệch, trái với bản chất của sự việc, do trình độ của người của nhà báo, thậm chí vì cả những toan tính chính trị không trong sáng. Mới đây TAND thành phố Hồ Chí Minh xét xử các bị cáo là blogger Nguyễn văn Hải (còn gọi là điếu cày), Tạ phong Tần, Phan thanh Hải (anh ba saigon) với tội danh “tuyên tryền chống nhà nước CHXHCNVN theo khoản 2 điều 88, BLHS. Theo cáo trạng chỉ trong thời gian từ tháng 9-2007 đến tháng 10-2010 đã có 421 bài đăng tải trên cái gọi là CLB nhà báo tự do này, trong đó có 327 bài lấy từ các blog, trang Web của các tổ chức CCCĐ ở hải ngoại, có 26 bài chứa nội dung kích động lật đổ chế độ Việc viết bài trên các blog, mạng xã hội có nội dung xuyên tạc vu cáo, chống chính quyền là vi phạm luật pháp việt Nam. ngay tại mỹ nơi được mệnh danh là “thiên đường tự do” thì luật pháp của các tiểu bang quy định rất rõ về vấn đề này và đã không ít người đã bị bắt và xử lý. Vậy thì các ngài ở CPJ nói “đàn áp” blogger ở điểm nào ? Xin thưa với các vị CPJ rằng : Ở Việt Nam, số người dùng mạng xã hội đang tăng lên nhanh chóng. Theo một thống kê mới nhất, trong số đối tượng 18 tuổi trở lên có tài khoản mạng xã hội thì: 43% dân số có một tài khoản, 25% có hai tài khoản, 13% có bốn tài khoản trở lên. Theo số liệu từ DoubleClick Ad Planner(1), trong tháng 1-2012, lượng người dùng Internet tại Việt Nam là 23 triệu (chiếm26% dân số Việt Nam)và lượt xem là 18,4 tỉ. Về mạng xã hội tại Việt Nam, Zing Me (me.zing.vn) có lượng người dùng cao nhất (8,2 triệu), thời gian truy cập nhiều nhất (1 tỉ phút) và lượt xem 540 triệu. Đứng thứ hai là Facebook.com với 5,6 triệu người dùng, thứ ba là yume.vn (2,2 triệu người dùng), thứ tư là tamtay.vn (1 triệu người dùng). Theo Cục Quản lý phát thanh, truyền hình và thông tin điện tử (Bộ Thông tin và Truyền thông), công cụ tìm kiếm và mạng xã hội là hai dịch vụ được hàng chục triệu người dùng internet sử dụng rộng rãi nhất (100% sử dụng tìm kiếm, 80% sử dụng mạng xã hội). Tính đến tháng 3 năm 2012, trong lĩnh vực thông tin điện tử, Việt nam có 61 báo, tạp chí điện tử, 191 mạng xã hội, hơn 1.000 trang thông tin điện tử tổng hợp. Sự tương tác giữa các loại hình thông tin này đang diễn ra vô cùng sôi động. Ở Việt Nam hay nhiều quốc gia khác trên thế giới việc thông tin trên Internet đều phải tuân thủ những quy định, nguyên tắc cụ thể, các thông tin đăng tải phải bảo đảm tính khách quan, chính xác. Các thông tin xuyên tạc, bịa đặt, thóa mạ cá nhân, tổ chức tất nhiên đều là phạm pháp và đương nhiên người vi phạm phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.
Các vị lãnh đạo CPJ có biết rằng: Mặc dù Hoa Kỳ không có một bộ thông tin mà lại để các hệ thống truyền thông và truyền hình tư chủ động làm công việc trên căn bản tự do ngôn luận, tự do tư tưởng, theo mức độ tự kiểm và lương tâm nghề nghiệp. Người làm báo, truyền thông và truyền hình tại Hoa Kỳ và các nước tự do trên thế giới khi có nhiều quyền hành và thế lợi thì cũng có nhiều trách nhiệm và bổn phận, nhất là về mặt thủ tục nghề nghiệp trọng hiến pháp, trọng pháp luật và về mặt luân lý xã hội, tôn trọng công lý, lẽ phải và lý tưởng nhân đạo. Do đó, thế lực của báo chí truyền thông còn phải tương xứng với sứ mạng đăng tải tin tức xác thực, thông tri kiến thức, và phổ biến những điều cần biết để người dân tìm hiểu và chọn lựa thái độ liên hệ với thời cuộc. Nhờ vậy, báo chí truyền thông có bề thế gây ảnh hưởng sâu sắc trên dư luận quần chúng . Ngay tại Hoa Kỳ báo chí phải tuân theo hiến pháp và luật pháp hiện hành quy định tự do tin tức (Freedom of Information Act) để thi hành nghiệp vụ phóng sự, điều tra và phổ biến sự thật 

Báo chí khi loan tin tức thất thiệt với dụng ý khai thác, trục lợi, sẽ mất quyền tự do ngôn luận (unprotected speech) và sẽ bị chế tài. Thật vậy, toà soạn, phóng viên, và người đăng tin thất thiệt có thể bị liên đới về mặt trách nhiệm dân sự, nếu họ chủ tâm đăng tải hoặc tái đăng những tin tức có tính cách mạ lỵ, phỉ báng, sai sự thật. Vì thế nhà báo phải thận trọng kiểm soát bài vở đăng tải, phải kiểm chứng tài liệu và nguổn gốc tin tức sử dụng.
Truy cập Internet với vô số thông tin nó có thể là những thông tin hay, chính xác, thông tin có giá trị nhưng cũng có thể là tin rác, hoặc chỉ là những thông tin thất thiệt, thiếu sự kiểm chứng. Không loại trừ, trong số đó có cả bàn tay của những thế lực chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc của nhân dân Việt Nam.Như vậy,báo chí truyền thông được xác định bởi sứ mạng gìn giữ truyền thống dân chủ hiến định, đồng thời bởi nghiệp vụ tôn trọng sự thật và phục vụ giá trị nhân bản của người dân, của độc giả. Nếu không tôn trọng giá trị hiến pháp, nếu không bênh vực mẫu mực dân chủ và lý tưởng nhân đạo, báo chí sẽ đi ngược lại với công lý và lẽ phải, sẽ lầm lẫn và gây ảnh hưởng rối loạn nơi quần chúng.Trên thực tế, bên cạnh một số trang mạng xã hội được cấp phép ở Việt Nam, một số thế lực thù địch lợi dụng internet đã dùng thủ đoạn xây dựng các trang web, đặt máy chủ ở nước ngoài, đăng tải các thông tin, luận điệu phản động, sai trái, kích động, trái thuần phong mỹ tục… nhằm chống phá Nhà nước Việt Nam. Những thế lực này, với tư cách thành viên của các trang mạng xã hội, đưa lên mạng những lời lẽ bình luận không khách quan hoặc thông tin sai sự thật, thậm chí bịa đặt, nhằm gây nhiễu loạn thông tin, bôi nhọ hình ảnh, nói xấu chế độ.
CPJ đưa ra quan điểm rằng những việc làm của các bị cáo trên là “bất bạo động”, là “bàn luận tự do” trong một xã hội dân chủ. Xin nói cho các vị biết rằng, qua tài liệu có được của cơ quan điều tra thu thập thì những phần tử này đã có hành vi xâm phạm an ninh quốc gia. Hành động có tổ chức chặt chẽ, có sự phân công nhiệm vụ cụ thể, có sự cấu kết, móc nối với các tổ chức phản động người Việt Nam lưu vong chống cộng cực đoan nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Họ tàng trữ, tán phát nhiều tài liệu có nội dung xuyên tạc, chống Nhà nước Việt Nam rồi đưa lên mạng nhằm kích động, gây nghi ngờ, làm mất lòng tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của nhà nước. Ngay tại Hoa Kỳ báo chí được mệnh danh là đệ tứ quyền ( chỉ đứng sau lập pháp, hành pháp, tư pháp) phải luôn luôn là của dân, bởi dân, vì dân (Of the People, By the People, For the People). Nhưng dù hoạt động ở bất cứ dạng nào, bất cứ ở đâu, do bất cứ lực lượng nào đảm trách thi hành, đệ tứ quyền nếu muốn giữ đúng sứ mạng và khả năng tồn tại vẫn phải tôn trọng những tiêu chuẩn căn bản về tự do ngôn luận, phẩm giá nhân bản, công lý và nhân ái. Bởi vậy để hạn chế những thông tin tiêu cực, xấu, ở Việt Nam và ngay cả nhiều quốc gia khác, cũng phải có những biện pháp để ngăn chặn. Điều này thể hiện trách nhiệm của nhà nước đối với việc bảo vệ chế độ, bảo vệ những giá trị văn hóa, truyền thống của dân tộc. Có những phóng viên đã đưa những thông tin sai sự thật và có những hành vi vi phạm pháp luật và vi phạm Luật báo chí. Những phóng viên này, vì thế, phải chịu những hình phạt của luật pháp . Đó là thể hiện tính nghiêm minh của Nhà nước pháp quyền và sự quản lý báo chí bằng pháp luật ở Việt Nam, không phải là cản trở những hoạt động báo chí của các nhà báo.Thông tin của báo chí không chỉ tác động đến một, hai người mà cả triệu người. Những thông tin thiếu trung thực, kiểu giật gân, thiên lệch, thiếu tính xây dựng… gây ảnh hưởng rất lớn đến xã hội.Người làm báo phải xác định trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dân của mình. Mọi quy định, quy ước chỉ nhằm việc tôn trọng pháp luật. Vì thế, trước hết các nhà báo hãy thực hiện đúng, đầy đủ những quy định pháp luật về hoạt động báo chí. Việc CPJ coi những biện pháp chính đáng và cần thiết đó là sự tấn công, đàn áp bỏ tù các nhà báo, blogger là hoàn toàn sai trái không mang tính thuyết phục. Vì thế, chúng ta có quyền nhận định rằng, CPJ đã đi ngược lại với tiêu chí của mình, là “khách quan, tôn trọng sự thật” vì sự phát triển của báo chí của Việt Nam và các nước trên thế giới.
Hoa Kỳ 16-12-2012
CỜ VÀNG: KẺ CHỊU TANG VÀ THỜ CÚNG QUÂN XÂM LƯỢC
(Treonline) – Cộng đồng người Việt ở hải ngoại mà đặc biệt là tại Hoa Kỳvẫn còn một thiểu số băng, nhóm chống cộng cực đoan mang ảo vọng “phục quốc”.

 

 

Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam là cuộc chiến man rợ nhất mà nước Mỹ đã gây ra, nó đã làm nước Mỹ bị phân hoá nhất trong lịch sử của họ. Nước Mỹ thời đó đã từng dùng bom đạn với mục đích xoá sạch 4000 năm văn hiến của Việt Nam, Hàng triệu người đã chết vì bom đạn hàng trăm ngàn người khác đã trở nên tàn phế, tàn tật đau đớn vô cùng vì di chứng của chất độc da cam mà quân đội Mỹ đã rải xuống lãnh thổ Việt Nam.

Ngày nay hai nước Việt – Mỹ muốn hợp tác hướng về tương lai, song những mất mát và nỗi đau từ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ vẫn còn đó trong từng gia đình, dòng họ và trên cơ thể nhiều người không dễ nguôi ngoai! Thật đáng xấu hổ khi vẫn còn một thiểu số người Việt thuộc các tổ chức phản động lưu vong ở hải ngoại cố tình quên đi vấn đề này với dã tâm muốn xuyên tạc lịch sử, đề cao tội ác của quân xâm lược!

Lịch sử 4000 dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã có những thời kỳ các thế lực thù địch chống phá Việt Nam bao giờ cũng kết hợp đánh cả bên trong lẫn bên ngoài, thực hiện nội công, ngoại kích, như Kiều Công Tiễn liên kết với quân Nam Hán (năm 938). Trần Thiêm Bình liên kết với quân Minh (năm 1406). Lê Chiêu Thống dẫn đường cho quân Thanh xâm lược (năm 1789)… Trong lịch sử ViệtNam, ngay cả những kẻ thù bán nước tệ hại nhất cũng chưa bao giờ làm chuyện dựng tượng đài để ”Thờ cúng” quân xâm lược kẻ đã gây ra biết bao nhiêu đau thương tang tóc cho dân tộc ViệtNam. Vì như thế thì không còn một chút liêm sỉ làm người, nếu làm như thế mãi mãi sử sách còn lưu nước sông nào gột rửa sạch.

Ấy vậy mà trong lịch sử của dân tộc Việt lại có những hạng người đạt đến sự tột đỉnh của hành vi bán nước làm tay sai, mà đỉnh điểm là “Thờ – cúng”, “nhang khói” cho quân xâm lược. Những Hành vi quái đản đó được thực hiện bởi những người vô học hay điên khùng thì ta chẳng nói làm gì, cái đáng nói là từ những thành phần trí thức, những người từng giữ cương vị điều hành trong xã hội miền Nam trước đây, hoặc những thành phần văn nghệ sĩ .v.v…, họ đã có những hành động, lời nói còn đáng tởm lợm hơn cả những hạng người vô học nhất trên đất Mỹ.

Những thành phần CCCĐ này họ giả danh là người yêu nước, giả danh người lương thiện để chống lại những người đứng về phía quê hương , những ai có những hành động đi ngược lại những tiêu chí họ đặt ra thì lập tức họ nhào vô chửi bới với những bài đã học thuộc lòng, đó là bản chất hoang dã của những con thú đội lốt người. Nhìn vào chúng ta nhận diện họ rất dễ, trên thân xác hạng người này nó bốc mùi phản quốc, bốc mùi nô lệ, bốc mùi côn đồ lưu manh mạt hạng. Đối với đồng hương thì chúng hung hăng, côn đồ, đối với người bản xứ thì bộc lộ tính ươn hèn cam chịu. Trong cộng đồng người ViệtNam sống tạm dung trên đất Mỹ này có những điều mà đến bây giờ người ta chưa thể lý giải một cách đầy đủ, làm thoả mãn cho những ai muốn tìm hiểu về hạng người này.

Cộng đồng người Việt ở hải ngoại mà đặc biệt là tại Hoa Kỳ ngoài những người an phận, chỉ muốn có việc làm ổn định, muốn có một cuộc sống bình yên, những người có đầu óc tiến bộ muốn đóng góp xây dựng quê hương, hoà hợp hoà giải dân tộc, thì vẫn còn một thiểu số băng, nhóm chống cộng cực đoan mang ảo vọng “phục quốc”. Nếu trước đây họ đã lãnh lương Mỹ để ôm súng sẵn sàng chết thay cho kẻ xâm lược chống lại sự nghiệp thống nhất đất nước một cách mù quáng, thì giờ đây lại muốn dựa vào ngoại bang để gây mất ổn định chính trị trong nước một cách điên cuồng nhất, ngu xuẩn nhất. Sau 37 năm, những ảo vọng trên tàn lụi, nhóm cực đoan ngày càng cô độc, lạc lõng giữa cộng đồng người Việt bởi những tư tưởng, hành vi chống phá đất nước mù quáng, điên dại.

 

Tội ác của quân đội Mỹ trong chiến tranh Việt Nam
 
Những thành phần cặn bã này trong suy nghĩ luôn mong cho đất nước ViệtNamluôn chìm trong đói nghèo, bất ổn về an ninh hòng dựa vào những điểm yếu đó trục lợi về chính trị. Bọn chúng mong muốn kẻ thù truyền kiếp của dân tộc phát động chiến tranhlợi dụng trong tình thế hỗn mang đó chúng sẽ giành phần lợi thế.Với bản chất nịnh bợ ngoại bang mong muốn làm tay sai “chuyên nghiệp” cho những kẻ đã giày xéo gây bao đau thương thảm khốc cho quê hương mình, lũ người háo danh, lừa đảo, dị hợm về nhân cách đã bức ép, doạ dẫm, khủng bố bà con trong cộng đồng để trục lợi tiền bạc qua chiêu bài “chống cộng”.

Chúng bày trò lừa gạt, ép buộc một số bà con đóng góp để xây dựng lên những thứ gọi là “tượng đài chiến sỹ Việt Mỹ” (TĐCSVM) tại một số thành phố tại Hoa Kỳ có đông bà con Việt sinh sống như thành phố Westminster – bang Califonia; thành phố Houston – bang Texas; thành phố West Valley tiểu bang Utah .v.v… Theo nhận xét của ông nhà báo Nguyễn phương Hùng chủ trang mạng KBCHN: “… Mà cái tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ này cũng kỳ lắm, từ ngày khánh thành xảy ra không biết là bao nhiêu chuyện cười ra nước mắt. Nói trắng ra là nơi diễn ra những trận võ đài kiểu Hoa Sơn Luận Kiếm cuả Kim Dung với những bang phái ‘võ lâm cao thủ’ người Việt Quốc Gia …” đủ cho ta thấy sự lố bịch của việc làm này.

Các băng nhóm thiểu số chống cộng cực đoan này đang ra sức nịnh bợ BU (Mỹ), tô vẽ, tôn vinh các “TĐCSVM”, đây là một biểu tượng của cuộc chiến tranh tàn khốc, dã man, phi nghĩa mà chính phủ Mỹ gây ra tại Việt Nam, hàng trăm tỷ đôla và hao tổn bao nhiêu xương máu của hơn 58,000 người Mỹ. Hậu quả của nó để lại di chứng nặng nề trong xã hội Mỹ. Các cơ quan truyền thông Mỹ và phương Tây lên án kịch liệt, phỉ báng những tội ác mà quân đội xâm lược Mỹ đã gây tang tóc trên đất nước Việt Nam mà vụ Mỹ Lai 40 năm trước là một minh chứng không thể bác bỏ.

Bọn CCCĐ lại lấp liếm làm ngơ trước sự mất mát đau thương của chính người cùng dòng máu Việt, chúng rất thành thạo, nhuần nhuyễn trong việc nịnh bợ những kẻ từng là kẻ thù của dân tộc, chúng muốn biến mình thành công cụ, tay sai ngoại bang, đó là nghề của chúng.

Thật nhục nhã khi họ dựng tượng đài để vinh danh tội ác man rợ một số tên cặn bã đầu óc đã phát biểu những cảm nghĩ mà những người có lương tri phải lợm giọng, chúng ta hãy nghe một vài nhân vật này “phun” cảm nghĩ. Tên nhà thơ Alibaba Nguyễn Chí Thiện mửa ra những lời: “Người chiến binh ViệtNamcộng hoà bị rất nhiều sách báo của thế giới, nhất là ở Mỹ kết tội là lính đánh thuê. Việc dựng tượng đài này là để thế hệ con cháu biết chúng ta không phải là tay sai của Mỹ…” ?? Trong cuộc biểu tình ngày 18-4-2010 chống báo Người Việt một ông trong đám biểu tình đã nức nở, ai oán trước hồn ma của kẻ xâm lược rằng: “Kính thưa linh hồn của 58.000 ông lính Mỹ đã tử trận ở ViệtNam. Xin các ông mau mau hiển linh đem dùm tòa soạn báo Người Việt về nơi địa ngục”…??

Nhà báo Phan Công Tôn viết trên tờ người Việt: “Xây dựng tượng đài để ăn quả nhớ người trồng cây” ?

Việt Dzũng tên “găng tơ” trong làng giải trí của người Việt, Nam Lộc tên “thợ nổ” chuyên nghiệp của trường phái kích động và cũng là một trong những kẻ chủ xướng các “đại nhạc hội” gây quỹ dựng tượng đài đã nói: “Những binh lính Mỹ đã đổ xương máu trong trận chiến vì miền Nam, họ xứng đáng được tôn vinh như những anh hùng”???

Còn đám xướng ca rối loạn tâm thần xổ ra những câu mà có lẽ khi ta nghe họ nói thì cũng đành im lặng chào thua. Ca sĩ Như Mai (nghẹn ngào): “Tôi luôn nhớ ơn những người lính Mỹ đã có công với đất nước chúng ta…” ?? Ca sĩ Thanh Thúy (nức nở): “… Tôi rất hãnh diện vì nét oai hùng của tượng đài tri ơn những người lính Mỹ này…”?? Ca sĩ Khánh Ly (ai oán): “Tôi chắc oan hồn của những người lính Việt Mỹ muốn theo chúng ta qua bên này, xứ sở tự do và không cộng sản …”??

Ngày lễ Giáng Sinh 25/12/2011, ban điên dại cộng đồng Nguyễn Xuân Nghiã đã làm lễ tạ ơn vong linh tử sĩ 2 người lính Hoa Kỳ và VNCH bằng 2 con heo và 2 chai rượu Remy Martin. Lễ Giáng Sinh mà có áo xanh áo đỏ, cắc cắc bùm bùm lùng tùng xèng xèng, í a, í ô, chiết tửu tiến tửu, nhất bái, nhị bái, tam bái thì bố ông lính Mỹ có sống lại cũng không hiểu, tổ chức lễ tạ ơn ông Phan kỳ Nhơn quỳ mọp người rên rỉ trước tượng đài nói ”… Hồn Thiêng Sông Núi, các Bậc Tiền Nhân, Anh Hùng Liệt Sĩ, Chiến Sĩ Trận Vong đã hy sinh vì tổ quốc, trong đó có 58 ngàn binh sĩHoaKyvà đồng minh đã hy sinh để bảo vệ lý tưởng tự do trên quê hương ViệtNam…”

Vẫn chưa đủ độ ép phê với các hồn ma ông ta gào tiếp: “… kính dâng với tất cả lòng thành kính, tri ơn và nguyện cầu: Hồn Thiêng Sông Núi, Tiền Nhân có công dựng nước và giữ nước, anh linh các đấng anh hùng liệt nữ vị quốc vong thân, các chiến sĩ chết hiên ngang trên các chiến trường để bảo vệ giang sơn, anh linh những người chết tức tưởi trong các trại tù cộng sản và đặc biệt anh linh 58 ngàn chiến sĩ Hoa Kỳ và đồng minh đã hy sinh để bảo vệ lý tưởng tự do… Xin qúy vị hãy về đây chứng giám và độ trì cho dân tộc ViệtNamthoát khỏi ách thống trị cộng sản” ??.

 

Chứng tích tội ác quân đội Mỹ gây ra tại Mỹ Sơn.
 
Chắc nhiều người nghĩ cái đám người này không phải người ViệtNam? Không đúng rồi, họ vẫn nói tiếng Việt, trong huyết quản của họ vẫn mang dòng máu Việt nhưng họ vẫn ngày đêm chửi bới quê hương của họ, họ ước mong suốt đời được ôm chân ngoại bang, suốt đời thèm muốn làm tay sai, nghề nghiệp sinh sống là làm lính đánh thuê, nhưng tất cả những mong muốn đó cũng đã vuột khỏi bàn tay của những hạng người này.

Chính vì vậy khi tháo chạy toán loạn qua bên này sự biến chứng về tâm lý nô lệ đã đẩy họ vào con đường cụt nên dẫn đến những rối loạn và có những hành vi quái gỡ như vậy. Bởi vì lòng thù hận chỉ làm hoen rỉ sự khôn ngoan và ý thức của họ, não trạng thù hận làm hỏng hoàn toàn nhân cách của nhóm người vong bản này. Trong đầu óc họ không hề có hai tiếng tổ quốc, họ đã vứt bỏ tất cả sau cái ngày được BU cứu vớt sống tạm dung trên đất nước Mỹ, họ vinh danh một tổ quốc không hề hiện hữu tồn tại trên hành tinh này đó là “VNCH”, một điều kỳ quặc nhất trong những điều kỳ quặc, đến người nuôi dưỡng chúng BU (Mỹ) cũng lắc đầu ngao ngán.

Nếu nhóm người Việt lưu vong phản động cực đoan có cố gắng dựng thêm bao nhiêu “TĐCSVM” đi nữa, cũng sẽ không làm vơi được “nỗi đau của nước Mỹ”. Những ngày tưởng niệm vụ thảm sát Mỹ Lai sẽ còn mãi mãi trong lòng dân Việt, nước Mỹ với cuộc chiến tranh Việt Nam mãi không bao giờ xoá mờ, báo chí trên thế giới và ngay trong lòng nước Mỹ sẽ còn nói về sự kiện này. Những “TĐCSVM” nó chỉ là dấu nhấn tô đậm thêm tội ác quân xâm lược Mỹ tại ViệtNam, nhắc lại để mọi người không quên, nó phản lại ý nghĩ nịnh bợ quân xâm lược của đám CCCĐ người Việt ở hải ngoại.

Houston 6-23-2012

Amari-TX

[Nguồn: http://treonline.com/co-vang-ke-chiu-tang-va-tho-cung-quan-xam-luoc.htm]

Chuyện bây giờ mới kể về vệ tinh nhân tạo Sputnik 1

Khi vệ tinh nhân tạo Sputnik 1 được phóng vào ngày 4/1/1957, cả thế giới đã phải kính nể và thán phục, cùng dõi theo một bằng chứng hùng hồn về sự khởi đầu công cuộc chinh phục vũ trụ của Liên bang Xô viết.

Sau 5 thập kỷ, một số sự thật về việc phóng vệ tinh này mới được hé lộ. Thực ra, vệ tinh nhân tạo Sputnik 1 không phải là kết quả của một chương trình có tính chiến lược lâu dài của Liên xô nhằm thể hiện ưu thế của mình. Sputnik ban đầu chỉ là một ý tưởng loé sáng của một nhà khoa học xô viết. Ông đã đưa ra ý tưởng dùng một tên lửa có sẵn , lắp thêm một vệ tinh vào, tìm cách thuyết phục các nhà lãnh đạo có thể phóng thành công. Và từ đó cuộc đua tranh quyết liệt vào không gian giữa Liên xô và Mỹ bắt đầu.

Trong các cuộc trả lời phỏng vấn với phóng viên AP, Boris Chertok, một trong những cha đẻ của ngành hàng không vũ trụ Liên xô, và các cựu binh khác đã kể một câu chuyện ít người được biết về chuyện phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên này cũng như các thành quả mà nó đem lại.

Chertok không hề hé nửa lời về câu chuyện này trong hầu hết cuộc đời mình. Tên của ông cũng như tổng công trình sư của chương trình, Sergei Korolyov, là một bí mật quốc gia. Khi nói trước một nhóm phóng viên ở Moskva, ông không thể giấu nổi niềm tự hào về vai trò then chốt của mình trong lịch sử thám hiểm vũ trụ của Liên xô.

‘Mỗi một quả tên lửa đối với chúng tôi cứ như là các cô gái vậy’. Ông nói,’ Chúng tôi đã phải lòng chúng. Chúng tôi luôn luôn ao ước chúng sẽ bay cao lên bầu trời để vào khoảng không vũ trụ. Chúng tôi có thể hiến cả máu và trái tim mình cho sự thành công của chúng’.

Đó là những tình cảm thật cảm động và chân thật. Sự nhiệt tình của Koroliov và các đồng chí của ông chính là chìa khóa cho sự thành công của vệ tinh Sputnik 1.

Theo lời kể của các nhà ‘cựu’ khoa học, vệ tinh nhân tạo đầu tiên của thế giới được chế tạo bởi một chương trình khác hản của Liên xô: đó là một chương trình chế tạo tên lửa vượt đại châu R-7 nhằm đáp trả lại Mỹ.

Bởi vì chưa biết được đầu đạn sẽ nặng bao nhiêu, tên lửa đạn đạo R-7 đã được nghiên cứu chế tạo với sức nâng và tầm xa dư thừa. Georgy Grechko, 76 tuổi, một kỹ sư tên lửa và là một cựu du hành gia nói với phóng viên AP: “R-7 hồi đó mạnh hơn rất nhiều so với bất cứ tên lửa nào của Mỹ”.

Thế là tên lửa R-7 với sức đẩy lớn không tên lửa nào bì kịp của mình vào thời đó đã vừa vặn cho một ý tưởng: sử dụng để chở một vật vào trong quỹ đạo Trái đất, một việc mà tới lúc đó con người chưa từng thực hiện.

Theo Chertok, lý do chính để Liên xô đưa Sputnik vào quỹ đạo chính là không khí chống Mỹ thời đó (thời chiến tranh lạnh). Ông nói:”Tên lửa quân sự là đề tài chủ yếu của chúng tôi vào bấy giờ”.

Khi dự án tên lửa mang đầu đạn hạt nhân gặp trục trặc, Korolyov đã chớp lấy cơ hội.

Korolyov là một nhà khoa học có tầm nhìn xa và cũng là một nhà quản lý có ý chí sắt đá. Ông đã thuyết phục các nhà lãnh đạo Xô viết cho phép ông phóng thử vệ tinh. Lúc đó, Mỹ cũng đã chuẩn bị phóng một vệ tinh lên quỹ đạo vào năm 1958 trong khuôn khổ chương trình năm Địa-Vật lý Thế giới.

Nhưng sau khi chính phủ thông qua chương trình Sputnik vào năm 1956, phái quân sự lại yêu cầu muốn giữ tên lửa R-7 cho mục đích quân sự. Theo Grenko thì “Họ đối sử với chương trình vệ tinh như một trò chơi, coi đó chỉ là trí tưởng tuợng của Korolyop”.

Hồi đó Mỹ cũng đã có chương trình vệ tinh nhân tạo của họ. Theo Grenchko thì :”Họ gọi đó là dự án Vanguard (đi tiên phong), nhưng thực sự thì chương trình của họ đi sau hơn của chúng tôi rất nhiều”.

Lúc đó Liên xô đã phát triển được ngành khoa học vệ tinh khá đầy đủ, nhưng Korolyov biết rằng nếu đi theo con đường chính thống sẽ rất mất thời gian. Bởi vậy ông yêu cầu nhóm của mình vẽ phác thảo ngay một vệ tinh đầu tiên. Nó được đặt tên là PS-1, viết tắt của Proisteishiy Sputnik, The Simplest Satellite( Vệ tinh đơn giản nhất ).

Grechko, người đã tính toán quỹ đạo bay của vệ tinh Sputnik 1 nói ông và các kỹ sư trẻ khác đã cố thuyết phục Korolyov rằng nên cho thêm một số thiết bị khoa học khác vào trong, nhưng Korolyov đã gạt đi với lý do: không còn đủ thời gian nữa.

Chiếc vệ tinh đầu tiên, nặng chỉ có 84kg, được chế tạo trong vòng dưới 3 tháng. Các nhà thiết kế Liên xô đã chế tạo một quả cầu chịu áp lực bằng hợp kim nhôm được đánh sáng bóng. Vệ tinh được trang bị 2 máy phát vô tuyến điện và 4 cây an ten. Một dự án vệ tinh trước đó đã đưa ra ý tưởng vệ tinh có nón, nhưng Korolyov lại chọn hình cầu cho Sputnik 1. Chertok, người phó cho Korolyov trong một thời gian dài đã nhớ lại:” Theo Korolyop thì trái đất hình cầu, và như vậy vệ tinh nhân tạo đầu tiên của nó cũng phải có hình cầu”. Thật đơn giản !.

Bề mặt của vệ tinh Sputnik được đánh bóng một cách hoàn hảo để có thể phản xạ tốt ánh nắng mặt trời và tránh bị quá nhiệt. Ngày phóng vệ tinh ban đầu dự định vào mồng 6 tháng 10, nhưng Korolyov dự đoán rằng, Mỹ cũng có thể phóng vệ tinh của họ sớm hơn một ngày, Thậm chí cơ quan tình báo cũng được yêu cầu để kiểm tra thông tin. Tin báo về : không có gì cả. Nhưng Korolyov rất thận trọng. Ông đã yêu cầu huỷ bỏ một số công tác kiểm tra cuối cùng và thời điểm phóng tầu được ấn định sớm hơn 2 ngày : ngày mồng 4 tháng 10 năm 1957.

Hơn ai hết, Korolyov hiểu rất rõ tầm quan trọng của việc làm quốc gia đầu tiên mở cánh cửa vào vũ trụ. Grenchko nói :” Trái đất đã có một Mặt trăng từ một tỷ năm nay, và bỗng nhiên nó có thêm một cái nữa, một Mặt trăng nhân tạo!”.

Ngay sau khi được phóng vào quỹ đạo từ nước cộng hoà Xô viết Kazakhstan, vệ tinh Sputnik liên tục phát ra các tín hiệu bíp bíp, chắc hẳn đó là tiếng ‘bíp’ nổi tiếng nhất thế giới. Nhưng các kỹ sư dưới mặt đất có lẽ chưa hiểu hết được tầm quan trọng của nó.

Chertok nhớ lại:”Ngay tại thời điểm đó, chúng tôi không thể hiểu hết được tầm quan trọng của việc chúng tôi đã làm. Nhưng sau đó chúng tôi cảm thấy sung sướng đến mê người khi biết rằng toàn thế giới bị chấn động bởi sự kiện Sputnik. Và phải tới 4 , 5 ngày sau, chúng tôi mới hiểu được rằng đó chính là một buớc ngoặt của lịch sử nhân loại”.

Ngay sau khi phóng thành công Sputnik, Korolyov đã gọi điện cho tổng bí thư Khrusov để báo cáo kết quả. Secgây Khrusov đã nói rằng lúc đầu, ban lãnh đạo nhà nước chỉ nhìn nhận Sputnik như một thắng lợi trong hàng loạt các thành tựu khác của Liên xô, điều đó cũng giốgn như một nhà máy điện nguyên tử ra đời, một máy bay chở khách mới được đóng v.v..

Bản tin đầu tiên về Sputnik chỉ được đưa ngắn gọn trên tờ báo Sự thật và nó bị chèn lấp bởi hàng loạt các tin tức khác đưa trong ngày. Mãi 2 ngày sau đó, tin về Sputnik mới giật hàng tít lớn và có trích dẫn nhiều lời ca ngợi từ nước ngoài.

Quá phấn khởi về thành công đạt được, Khrusov đã ngay lập tức ra lệnh cho Korolyop chuẩn bị phóng vệ tinh tiếp để kỷ niệm 40 năm ngày cách mạng Nga 7/11/1917 – 7/11/1957.

Thế là nhóm của Korolyov lại làm ngày làm đêm và họ đã cho ra một vệ tinh thứ 2 trong vòng non một tháng. Vào ngày 3 tháng 11 năm 1957, Liên xô đã phóng vệ tinh thứ 2 lên quỹ đạo. Sputnik 2 lần này nặng 508,18 kg có hẳn một khoang hành khách tí hon được điều hòa khí áp. Hành khách đầu tiên này là chú chó Laika nổi tiếng.

Mặc dầu cũng bị một số nhóm yêu động vật chỉ trích vì chú chó Laika đã chết trên quỹ đạo sau đó một tuần (những người chế tạo ra Sputnik 2 đã không thiết kế khoang đổ bộ cho Laika), chuyến bay này đã góp phần cho thành công của Gagarin gần 4 năm sau đó.

Vệ tinh Sputnik đã phát tín hiệu liên tục trong 3 tuần, sau đó nó bay tiếp trong quỹ đạo khoảng 3 tháng nữa trước khi lao vào bầu khí quyển và bị phá hủy. Sputnik 1 bay được tổng số 1400 vòng xung quanh Trái đất, mỗi vòng bay hết chưa đến 100 phút.

Korolyov mất năm 1966, hiện nay, ngôi nhà của ông ở Moskva đã chở thành viện bảo tàng dành cho vị trưỏng công trình sư huyền thoại.

S.T

[nguồn: REDS.vn]

Thế giới vũ trụ bao la tuyệt đẹp, nhưng trong con mắt của nhà thiết kế với trí tượng tượng cao nó được tạo ra với những thảm họa biến thành một tác phẩm tuyệt đẹp. Download bộ hình nền thảm họa vũ trụ này và trang trí ngay cho desktop của mình để tạo nên một không gian mới với cái nhình hoàn toàn khác. Link downloadcuối bài viết này!

wallpaper vu trụ bao la 1

wallpaper vu trụ bao la 2

 

wallpaper vu trụ bao la 3

 

wallpaper vu trụ bao la 4

 

wallpaper vu trụ bao la 5

 

wallpaper vu trụ bao la 6

 

wallpaper vu trụ bao la 7

 

wallpaper vu trụ bao la 8

Bạn có thể download bộ hình nền full HD này về tại đây.

Thành công vang dội của các sản phẩm Apple hơn 15 năm qua có đóng góp lớn của thiết kế mang tính cực kỳ biểu tượng. Nhưng có phải Steve Jobs và thiết kế trưởng của ông là Jonathan Ive được truyền cảm hứng từ các sản phẩm do nhà sản xuất đồ gia dụng Đức Braun thiết kế hồi những năm 1950 và 1960?

So sánh bằng chứng hình ảnh, blog Cult of Mac cho rằng một số sản phẩm của Apple có những nét còn hơn cả sự tương đồng về tính đơn giản trong các thiết kế của Braun từ hơn 60 năm trước đây.

iPod (phải) và máy thu thanh bỏ túi Braun T3.

Máy nghe nhạc iPod đầu tiên ra đời từ năm 2001 chẳng hạn. Nó có những điểm giống với chiếc máy thu thanh bỏ túi Braun T3 hồi năm 1958. Các sản phẩm khác có sự ảnh hưởng của Braun là PowerMac G5, iMac 2007 và thậm chí ứng dụng máy tính của iPhone từ năm 2007.

Trong năm 1998, Apple ra mắt iMac, máy tính đã giúp Apple hồi phục từ khó khăn. Được Jonathan Ive thiết kế, sự thành công của iMac đã báo trước sự xuất hiện của một thiên tài thiết kế.

Ông Ive từ lâu đã thừa nhận sự ảnh hưởng của Dieter Rams lên các thiết kế của mình. Ông Dieter Rams là người đứng đầu bộ phận thiết kế của Braun trong gần 30 năm. Năm 2011, ông Ive đã viết lời tựa cho cuốn sách ‘As Little Design As Possible’ (tạm dịch: Càng ít thiết kế càng tốt) của ông Dieter Rams.

PowerMac G5 và đài Braun T1000.

 

iMac và loa Braun.

 

Ứng dụng máy tính iPhone và máy tính Braun.

 


Theo Vnreview

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – Kỳ 15: Quyền kế thừa bất khả xâm phạm

Từ năm 1949, thay đổi chính trị của một số nước trong khu vực làm xuất hiện những thực thể nhà nước mới liên quan tới cuộc tranh chấp trên biển Đông. Ở đây, vấn đề quyền kế thừa có tầm quan trọng của nó.

>> Kỳ 14: Thụ đắc chủ quyền Trường Sa

Ngay sau khi chấm dứt Thế chiến thứ II, chính quyền Pháp tại Đông Dương đã khôi phục lại sự có mặt trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa – từng bị quân đội Nhật chiếm đóng trong chiến tranh thế giới. Các tàu chiến Escarmouche và Savorgnan de Blazza trong thời gian từ ngày 20.5 đến ngày 6.6.1946 đã ra thám sát lại quần đảo Hoàng Sa. Các đảo đều bị bỏ hoang. Hải quân Nhật đã rời các đảo này sau khi đã phá hủy tất cả các công trình xây dựng và các cảng tại đó [1].

Một phân đội của Pháp đã đổ bộ lên đảo Hoàng Sa để chiếm lại quần đảo [2]. Họ đã thực hiện việc chiếm đóng lại cho An Nam, đồng thời khẳng định cả hai yếu tố vật chất và tinh thần. Ngày 1.10.1949, nước CHND Trung Hoa ra đời. Phía Pháp, trại đồn trú vẫn tiếp tục được duy trì trên đảo Hoàng Sa để bảo vệ trạm khí tượng “bằng mọi phương tiện” trong trường hợp bị tấn công từ bên ngoài [3].

 
Bảo vệ chủ quyền trên đảo Trường Sa – Ảnh: Đình Phú

Thỏa ước 8.3.1949 đã lập ra một Quốc gia VN nằm trong Liên hiệp Pháp. Trong một cuộc họp báo sau đó, Chánh văn phòng Vua Bảo Đại đã khẳng định lại các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc Vương triều An Nam.

Ngày 14.10.1950, Chính phủ Pháp đã trao lại chính thức cho chính quyền Bảo Đại việc quản lý và phòng thủ quần đảo Hoàng Sa. Tổng quản Trung Bộ, ông Phan Văn Giáo đã ra Hoàng Sa chủ trì lễ chuyển giao quyền lực. Các nhóm quân Pháp ở lại quần đảo Hoàng Sa cho tới năm 1956. Trong các thỏa thuận tại  Geneva năm 1954, các quần đảo này đã được chuyển giao cho chính quyền miền Nam VN kiểm soát. Sau khi quân Pháp rút đi, ngày 22.8.1956 chính quyền Sài Gòn đã thiết lập ngay lập tức sự kiểm soát tại hai quần đảo.

Trong thực tế, chính quyền Sài Gòn đã là người kế nhiệm hợp pháp các danh nghĩa, các quyền và các yêu sách do Pháp để lại trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Với tư cách là quốc gia sở hữu danh nghĩa, họ đã tiến hành tổ chức hành chính, điều tra và khai thác kinh tế và bảo vệ hai quần đảo này. Về mặt hành chính, quần đảo Hoàng Sa, trước thuộc tỉnh Thừa Thiên đã được sáp nhập vào tỉnh Quảng Nam bằng Nghị định N174-NV ngày 13.7.1961. Đối với Trường Sa, các lực lượng hải quân chính quyền Sài Gòn đã đổ bộ lên đảo chính Trường Sa ngày 22.8.1956. Họ đã cắm cờ và dựng bia chủ quyền trên đảo Trường Sa. Bằng Nghị định 143/VN ngày 20.10, chính quyền Sài Gòn ghép quần đảo này thuộc tỉnh Phước Tuy. Từ 1962 đến 1964, lực lượng Hải quân Sài Gòn đã đổ bộ lên các đảo Trường Sa, An Bang, Loại Ta, Thị Tứ, Song Tử Đông và Song Tử Tây, Nam Yết… và đã dựng bia chủ quyền trên các đảo đó. Ngày 6.9.1973, bằng Nghị định N 420 – BNV/HCDP/26, chính quyền Sài Gòn đã sáp nhập quần đảo Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy.

Quân chính quyền Sài Gòn cũng đã đối đầu với chiến dịch quân sự từ phía Trung Quốc ngày 19.1.1974 nhằm xâm chiếm nhóm đảo phía Tây của quần đảo Hoàng Sa.

Tại hội nghị lần thứ ba của Liên Hiệp Quốc về Luật Biển, khóa họp hai, tổ chức tại Caracas ngày 2.7.1974, đại biểu Sài Gòn tố cáo sự chiếm đóng quần đảo Hoàng Sa bằng vũ lực và khẳng định lại rằng Hoàng Sa và Trường Sa là “bộ phận hữu cơ của lãnh thổ VN” và “chủ quyền của VN trên các quần đảo này là không thể tranh cãi và không thể chuyển nhượng”.

Tháng 3.1965 Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam VN tuyên bố: “Nhân dân miền Nam Việt Nam anh hùng đã quyết định… giải phóng lãnh thổ của mình và lập nên một quốc gia độc lập”. Tháng 6.1969, Chính phủ cách mạng lâm thời CH miền Nam VN chính thức ra mắt và hoạt động. Sau đại thắng mùa xuân 30.4.1975, từ tháng 5.1975, Chính phủ CH miền Nam VN đã ra các tuyên bố về vấn đề kế thừa chính quyền Sài Gòn trong các tổ chức quốc tế như Tổ chức Y tế thế giới, UNESCO, UTT… Sự kế thừa này phản ánh nguyên tắc liên tục của các quốc gia khi thay thế chính phủ.

Ngày 2.7.1976, nhân dân VN đã sử dụng quyền dân tộc tự quyết của mình lựa chọn con đường thống nhất đất nước dưới tên gọi của một nhà nước mới. Cộng hòa XHCN Việt Nam là nhà nước kế thừa hợp pháp của hai nhà nước trước đó là Việt Nam dân chủ cộng hòa và cộng hòa miền Nam VN, thay thế danh nghĩa thường xuyên của chính quyền Sài Gòn trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Các quyền và nghĩa vụ trên đó sẽ tiếp tục được thực hiện bởi Cộng hòa XHCN Việt Nam mà sự liên tục là hoàn toàn hợp lý, hợp pháp và bất khả xâm phạm.

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Công  văn N  5454  của Cao  ủy  Pháp  tại Đông Dương  gửi  Paris, ngày 3.6.1946. Lưu trữ Bộ Ngoại giao Pháp, AO 44 – 45, Hồ sơ 214, tr.1.

[2] J.P. Ferrier, Sđd, tr.191.

[3] Heinzig, Sđd, tr.35.

>> Kỳ 16: “Đường lưỡi bò” phi lý