Tag Archive: kenminhthien


Câu lệnh Set RowCount trong SQL Server

Hôm nay tôi chia sẻ chút kiến thức về câu lệnh Set RowCount trong SQL Server.

Ta xem câu lệnh sau:

1
2
3
4
5
6
USE AdventureWorks;
GO
SELECT count(*) AS Count
FROM Production.ProductInventory
WHERE Quantity < 300;
GO

Đó là 1 câu lệnh hoàn toàn đơn giản, kết quả của nó là:

1
2
3
4
5
Count
 -----------
 537
(1 row(s) affected)

Bây giờ, dùng câu lệnh RowCount để update số dòng theo điều kiện của câu select ở trên, ta thấy chỉ có 4 dòng bị tác động

1
2
3
4
5
6
SET ROWCOUNT 4;
UPDATE Production.ProductInventory
SET Quantity = 400
WHERE Quantity < 300;
GO
(4 row(s) affected)

Câu lệnh RowCount có tác dụng dừng xử lý cho các câu lệnh Insert, Select, Update theo số dòng chỉ định, như ví dụ ở trên ta yêu cầu chỉ update 4 dòng, mặc dù điều kiện Where trả về nhiều kết quả hơn.

1 vấn đề đặt ra là câu lệnh Set RowCount có gì khác so với câu lệnh Select top?

Câu trả lời là việc xử lý bị dừng ngay lập tức khi số dòng trả về bằng số dòng được định nghĩa trong RowCount. Còn câu lệnh Select top thì nó vẫn trả về toàn bộ số dòng bên trong SQL Server, rồi sau đó mới lấy top n record trả về.

Set RowCount vẫn được SQL Server 2012 hỗ trợ, tuy nhiên nó sẽ bị loại bỏ ở phiên bản tiếp theo của SQL Server.

Tham khảo: http://msdn.microsoft.com/en-us/library/ms188774.aspx

Quang Vinh
mai.quangvinh@sqlvn.com

Người dân Trung Quốc đang bị kích động

TT – Tại sao ở Trung Quốc liên quan đến vấn đề biển Đông lại xuất hiện dư luận hiếu chiến đến mức mù quáng, bất chấp lẽ phải và sự thật, bất chấp luật pháp quốc tế? Kết quả của một cuộc thăm dò của Thời báo Hoàn Cầu.

Tàu Trung Quốc tuần tra trên biển Đông – Ảnh: Mạng quân sự Trường Giang

Kết quả của một cuộc thăm dò do Thời báo Hoàn Cầu thực hiện với gần 1.500 người ở Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Châu, Thành Đô, Tây An, Thẩm Dương… cho thấy rõ điều này. Gần 80% ủng hộ Trung Quốc “sử dụng vũ lực để đập tan các hành động gây hấn và xâm phạm” trên biển Đông. Chỉ vỏn vẹn 16,6% là nói không.

Thử khảo sát trên các trang Weibo… của cư dân mạng Trung Quốc cũng dễ dàng nhận thấy một dư luận tương tự. Rất nhiều ý kiến đòi chính quyền tuyên chiến trên biển Đông. “Không có chỗ cho đàm phán khi xét đến vấn đề lãnh thổ. Một cuộc chiến có thể đem lại 10 năm hòa bình” – một người viết. Người khác lại thẳng thừng: “Tôi ủng hộ việc bắn phá Philippines”. Nhiều người còn chỉ trích chính quyền Trung Quốc là hèn nhát, không dám bảo vệ đất nước. Đa số khẳng định căng thẳng trên biển Đông là “âm mưu thâm độc” do Mỹ dàn dựng để chống Trung Quốc…

Tâm lý nạn nhân

Tất nhiên, ở Trung Quốc vẫn còn có những người tử tế, biết tôn trọng lẽ phải và sự thật, biết yêu đất nước mình và tôn trọng quyền lợi chính đáng của những nước khác như hội thảo “Chủ quyền quốc gia và quy tắc quốc tế” do Viện Nghiên cứu kinh tế và báo mạng Tân Lãng tổ chức mới đây đã cho thấy. Thế nhưng những tiếng nói như vậy còn ít ỏi và lẻ loi, thậm chí đang có nguy cơ bị xem là “những kẻ phản quốc”. Nguyên văn tuyên bố của thiếu tướng quân đội Trương Châu Trung như sau: “Có hơn 1 triệu kẻ phản quốc ở Trung Quốc. Một số học giả là do Mỹ đào tạo, đọc sách Mỹ, chấp nhận quan niệm Mỹ và họ đang giúp Mỹ chống Trung Quốc”.

Tại sao dư luận Trung Quốc lại mù quáng, bất chấp đạo lý và lẽ phải đến như vậy? Câu trả lời dễ nhận ra là do người dân đã bị “tẩy não” và bị “đầu độc” hằng ngày hằng giờ những điều sai lệch.

Các phương tiện truyền thông Trung Quốc, điển hình nhất là tờ Thời báo Hoàn Cầu, thường xuyên cáo buộc Việt Nam và Philippines là “kích động”, “gây hấn” trên biển Đông và đòi chính quyền Bắc Kinh phải phát động “một cuộc chiến tranh quy mô nhỏ” chống lại các quốc gia Đông Nam Á. Giới tướng lĩnh quân đội Trung Quốc (PLA) liên tục đe dọa sẽ trừng trị các nước láng giềng.

Sách giáo khoa của học sinh tiểu học và trung học đều khẳng định cực nam lãnh thổ Trung Quốc là quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Các bản đồ chính thức của Trung Quốc cũng vẽ lãnh thổ Trung Quốc kéo dài tới tận Trường Sa.

Tất nhiên, sách giáo khoa Trung Quốc đã lờ tịt việc hải quân nước này đánh chiếm bất hợp pháp quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam vào năm 1974. Giới “học giả” Trung Quốc cứ ra rả một luận điệu dối trá khi nhấn mạnh trước thập niên 1970 không hề có cái gọi là “vấn đề biển Đông” do “biển Đông thuộc quyền quản lý của Trung Quốc”.

Trung Quốc hiện có một số tổ chức lớn chuyên nghiên cứu về biển Đông như Viện Hàng hải Trung Quốc, Viện Nghiên cứu Nam Hải, Học viện Khoa học xã hội, Viện Quan hệ quốc tế đương đại… Các “học giả” và “chuyên gia” của các tổ chức này, thông qua các hội nghị, hội thảo, diễn đàn, đều chung một luận điệu dối trá cho rằng khu vực được quy định bởi “đường chín đoạn” là thuộc chủ quyền lịch sử của Trung Quốc.

Phân tích dư luận của Trung Quốc về vấn đề biển Đông, nghiên cứu của Tổ chức Khủng hoảng quốc tế (ICG) cho rằng nguyên nhân là do chính quyền Bắc Kinh đã “tẩy não” người dân nước mình ngay từ khi họ còn là những đứa trẻ và “đầu độc” họ hằng ngày, nên người dân luôn tin rằng toàn bộ biển Đông là của Trung Quốc. Hằng ngày họ liên tục tiếp nhận những thông tin méo mó, dối trá qua các phương tiện thông tin. Do đó, niềm tin này càng trở nên mạnh mẽ đến mức họ coi các quốc gia khác là kẻ gây hấn, còn Trung Quốc là người vô tội.

Tâm lý của kẻ bị vây hãm

Vẫn theo ICG, trong vấn đề biển Đông, chính quyền Trung Quốc đã kích động một tâm lý dân tộc cực đoan bằng cách mô tả Trung Quốc là “nạn nhân” của các quốc gia xung quanh, là “kẻ yếu thế” trong các tranh chấp trên biển Đông. Chẳng hạn, báo chí Trung Quốc thường đưa tin theo kiểu: “Có hơn 1.000 giàn khoan dầu trên biển Đông và bốn sân bay ở Trường Sa, nhưng không có một cái nào là của Trung Quốc”.

Việc Mỹ tuyên bố trở lại châu Á càng là cơ hội để truyền thông Trung Quốc tô đậm “tâm lý nạn nhân” này, đẩy nó lên thành “tâm lý của kẻ bị vây hãm” bởi “những thế lực chống Trung Quốc” ở bên ngoài, và Trung Quốc đang phải tả xung hữu đột để chống đỡ và cố thoát ra tình trạng bị bủa vây này. Tất nhiên, như ICG vạch rõ, bằng cách này các cơ quan và chính quyền địa phương ở Trung Quốc mới có thể lợi dụng để thực hiện những ý đồ riêng. Họ thường công khai chỉ trích các quốc gia khác để gây sức ép buộc chính quyền Bắc Kinh hỗ trợ thêm nguồn lực. PLA cũng lợi dụng tranh chấp ở biển Đông để mở rộng ngân sách quốc phòng.

Chính do những thứ tâm lý này, các giọng điệu hiếu chiến luôn chiếm ưu thế trước quan điểm ôn hòa trong dư luận Trung Quốc. Cũng chính vì tự thổi ngọn lửa dân tộc cực đoan, chính quyền Bắc Kinh lại luôn bị áp lực phải thể hiện bộ mặt cứng rắn để không bị xem là yếu thế mỗi khi đề cập đến vấn đề biển Đông. Một số học giả nhận định chính Bắc Kinh đã “tự tạo ra một con quái vật mà nó sẽ khó lòng kiểm soát”.

SƠN HÀ – ĐÔNG PHƯƠNG

Xem thêm nhiều bài báo tại Tuổi Trẻ

Xem hồ sơ Trung Quốc mở thầu phi pháp trên biển Đông: “Công ty nước ngoài không tham gia gói thầu Trung Quốc” I Thượng nghị sĩ Mỹ: Các lô dầu khí là của Việt Nam I Trung Quốc tự xóa sạch cam kết I Trung Quốc mời thầu phi pháp: Ngang ngược và tráo trở I Bắc Kinh “diễn trò chính trị” I Hội Luật gia VN phản đối TQ mời thầu sai trái I Trung Quốc đang bành trướng I Vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam I “Khu vực Trung Quốc mời thầu thuộc chủ quyền Việt Nam” | Trao công hàm phản đối Trung Quốc mời thầu phi pháp | Trung Quốc mời thầu tại thềm lục địa VN là phi pháp I Trung Quốc mời thầu 9 lô dầu khí trên biển Việt Nam

“VẠCH MẶT” MƯU ĐỒ VÀ KỊCH BẢN DẦU KHÍ CỦA TRUNG QUỐC

Thời gian qua, những hành động ngang ngược và các phát biểu bất chấp đạo lý, luật pháp quốc tế của Trung Quốc trong vấn đề biển Đông đã thu hút sự quan tâm của tất cả người Việt Nam. Các ý kiến đưa ra đều bày tỏ sự phản đối những hành động gây hấn và xâm phạm chủ quyền Việt Nam của Trung Quốc. Phóng viên Báo GDVN đã có cuộc trao đổi với Thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện chiến lược – Bộ Công an xung quanh vấn đề này.

TRUNG QUỐC ĐÃ NÓI “MỘT ĐẰNG LÀM MỘT NẺO” NHƯ THẾ NÀO?

Nói về những hành động vừa qua của Trung Quốc, Thiếu tướng Lê Văn Cương cho rằng: “Trước tiên phải nói rằng những hành động của Trung Quốc đều được tính toán một cách kỹ càng, cẩn thận. Người ta chọn không gian địa điểm, thời gian để làm việc này. Đây không phải là hành vi bột phát mà nó nằm trong một chuỗi hành động để thể hiện chủ trương “độc chiếm biển Đông” của Trung Quốc. Tôi cho rằng, việc này có sự chỉ đạo của nhà nước chứ không chỉ đơn thuần là một công ty dầu khí có thể dám làm.

Thứ hai là hành động của Trung Quốc đã vi phạm công ước quốc tế về Luật Biển 1982 trong đó cả Việt Nam và Trung Quốc đều đã ký. Chín lô Trung Quốc mời thầu nằm trọn trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam. Vùng này thuộc chủ quyền của Việt Nam, không thể là vùng có tranh chấp với bất kỳ quốc gia nào. Như vậy hành vi của Trung Quốc đã vi phạm Hiến chương Liên hợp quốc, vi phạm Tuyên bố ứng xử trên biển Đông (DOC). Đây cũng là việc chứng tỏ cho thế giới thấy rằng lãnh đạo Trung Quốc nói một đằng làm một nẻo”.

Chứng minh cho luận điểm này, ông Cương nói: “Cụ thể, gần đây nhất là tháng 10/2010, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo đã gửi điện cho những người đồng cấp ASEAN nói rõ rằng Trung Quốc muốn xây dựng lòng tin cùng các bên liên quan để xây dựng biển Đông thành một vùng hòa bình, ổn định, hợp tác, phát triển.

Đến tháng 1/2011, tại Washington, trong tuyên bố chung Mỹ – Trung được ký kết giữa Tổng thống Obama và Chủ tịch Hồ Cẩm Đào gồm 41 điểm, cả hai bên đều cam kết hợp tác để đảm bảo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương nói chung và khu vực Đông Á nói riêng là một khu vực ổn định, hòa bình, hợp tác, phát triển; trong điều kiện như vậy thì nước nào cũng có lợi.

Đến giữa năm 2011, trong tuyên bố chung với Việt Nam ở chuyến công du của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói rõ: Trong khi hai bên chưa giải quyết được vấn đề thì hai bên có những bước đi nhỏ để chuẩn bị về lâu dài giải quyết một cách cơ bản, không làm phức tạp thêm tình hình chung.

Những hành động trên đây của Trung Quốc đều chứng tỏ lãnh đạo Trung Quốc nói một đằng, làm một nẻo. Tất cả những hành động gây hấn của Trung Quốc không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với cả Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Philippin… trong mấy năm gần đây cho thế giới thấy rằng Trung Quốc không muốn phát triển hòa bình trên biển.

Lãnh đạo Trung Quốc, những học giả của Trung Quốc đã tận dụng những diễn đàn song phương để quảng bá chủ trương Trung Quốc trỗi dậy hòa bình (sau này gọi là phát triển hòa bình) phát triển nhanh, mạnh chỉ có lợi cho các quốc gia, không có hại ai cả và các bạn hãy làm ăn với Trung Quốc; Trung Quốc phát triển mạnh nhưng không xâm phạm chủ quyền của nước nào cả. Tuy nhiên, những hành động trong 2 năm gần đây đi ngược lại với chủ trương mà người ta đã quảng bá. Một lần nữa chứng tỏ dư luận thế giới không thể tin lãnh đạo Trung Quốc vì họ đã nói một đằng, làm một nẻo”.

“BÓC MẼ” THỦ ĐOẠN CỦA TRUNG QUỐC

Theo ông Cương, hành động của Trung Quốc kêu gọi, mời thầu 9 lô thuộc chủ quyền của Việt Nam thể hiện sự ngang ngược, bất chấp đạo lý. “Những công ty, tập đoàn làm ăn tử tế sẽ không tham gia lời mời thầu này vì thế giới biết Trung Quốc rồi. Tự Trung Quốc đã bóc bộ mặt nạ của mình ra rồi. Thủ đoạn của Trung Quốc là biến những vùng không tranh chấp thành những vùng xảy ra tranh chấp. Cụ thể là vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam thuộc chủ quyền của Việt Nam nhưng Trung Quốc lại đi rêu rao với thế giới rằng vùng đó thuộc chủ quyền của họ. Đó là một sự ngụy biện của Trung Quốc.

Dù như vậy nhưng một tình huống có thể xảy ra là một số công ty dưới danh nghĩa của nước ngoài nhưng thực tế lại quan hệ rất chặt chẽ và phụ thuộc vào Trung Quốc (những CNOOC phẩy) sẽ nhận thầu. Và nếu không có công ty nào nhận thầu thì Trung Quốc rất có thể sẽ kéo dàn khoan khủng vào khai thác dầu trong vùng thuộc chủ quyền của ta”, ông Cương cho biết.

Ông Cương nói tiếp: “Trung Quốc sẽ làm gì? Đó không chỉ phụ thuộc vào ý đồ của họ mà còn phụ thuộc vào sức mạnh, phản ứng của Việt Nam. Lịch sử đã chứng minh, dưới những triều đại phong kiến Việt Nam mạnh thì Trung Quốc không dám xâm phạm bờ cõi của ta. Còn những lần Trung Quốc tràn xuống xâm lược thì đều là những lần Việt Nam suy yếu”.

ĐIỂM YẾU CỦA TRUNG QUỐC NẰM Ở ĐÂU?

Trước một Trung Quốc đang trỗi dậy mạnh mẽ, ông Cương phân tích: “Trung Quốc có điểm yếu không? Câu trả lời ở đây là có. Trung Quốc phát triển mạnh như vậy nhưng Trung Quốc cần quan hệ với thế giới. Thêm nữa, sự phát triển của Trung Quốc mới chỉ là bề rộng, còn về bề sâu thì Trung Quốc còn kém Mỹ và Nhật Bản hàng chục năm.

Nền kinh tế Trung Quốc phụ thuộc vào thế giới. Trung Quốc là Ủy viên thường trực HĐBA Liên hợp quốc và hàng trăm lần lãnh đạo Trung Quốc nói rằng phải duy trì xu thế tất yếu của thời đại. Nhưng những hành động của Trung Quốc lại đi ngược với xu thế chung của thế giới và bị cộng đồng quốc tế phản đối. Trong thời buổi hiện nay, các nước nương tựa vào nhau, quyền lợi kinh tế của Trung Quốc đan xen với các nước khác”.

Ông Cương nói: “Còn điểm mạnh của ta nằm ở đâu? Điểm mạnh của ta nằm ở việc được luật pháp quốc tế bảo vệ. Thứ hai là cộng đồng quốc tế đứng về phía chúng ta. Yếu tố này phụ thuộc vào việc chúng ta thể hiện như thế nào. Mình phải tỏ thái độ lập trường kiên quyết, vững vàng thì thế giới sẽ ủng hộ mạnh mẽ.

Đó là việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Mà muốn vậy, bản thân trong nước phải mạnh mà muốn nước mạnh thì trước hết bộ máy nhà nước phải vững mạnh: Gắn bó với nhân dân, thực sự là nhà nước của dân, do dân và vì dân. Khi có được lòng tin của dân đối với Đảng, nhà nước thì sẽ tạo ra sức mạnh của đất nước.

Nghị quyết Trung ương 4 đã nêu rõ lúc này mỗi Đảng viên phải gương mẫu nhất là ở cấp cao. Việc thực hiện thành công nghị quyết Trung ương 4 sẽ giúp cho Đảng mạnh, nhà nước mạnh. Và từ đó tạo ra sức mạnh trong lòng dân tộc. Khi đó chúng ta mới có khả năng tiếp thu sức mạnh thời đại.

Có một điều tôi muốn nói là dù bây giờ đã là quá muộn nhưng vẫn phải làm ngay đó là đưa vấn đề Hoàng Sa, Trường Sa và biển Đông vào sách giáo khoa lịch sử, địa lý để dạy cho thanh thiếu niên các cấp và đưa vào giáo trình ở bậc Đại học và cao đẳng để dạy cho sinh viên. Trong khi Trung Quốc hoàn toàn không có chủ quyền tại Hoàng Sa, Trường Sa nhưng người ta lại dạy cho học sinh của họ rằng những quần đảo đó là của Trung Quốc. Đó là một việc xuyên tạc lịch sử lừa dối cả nhân dân Trung Quốc.

Còn chúng ta có cơ sở văn hóa, lịch sử, pháp lý để chứng tỏ rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam lại không phổ biến rộng rãi để toàn thể người dân biết. Ngay kỳ học tới đây chúng ta phải đưa ngay vào SGK. Thêm nữa, phương tiện thông tin đại chúng có một sức mạnh rất lớn trong việc tuyên truyền này. Tuy nhiên, tôi có cảm giác chúng ta chưa phát huy được hết sức mạnh này. Đầu tư vào vũ khí thì còn có hạn chứ nhưng đầu tư vào báo chí thì sẽ tạo ra một sức mạnh khủng khiếp.

Nói một cách “sòng phẳng” Trung Quốc đối với Việt Nam là vấn đề dân tộc. Chúng ta đối với Trung Quốc là láng giềng hữu nghị nhưng phải trên nguyên tắc là bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ. Đó là mục tiêu tối thượng”.

 

Nguồn: Internet

Nếu bạn thích xem video trên các trang xã hội như là Facebook, Twitter, Google+, ViewTube là một extension của Chrome có thể giúp bạn xem video một cách khác biệt. Videos mà bạn xem sẽ được hiện thành popup, và bạn có thể di chuyển nó xung quanh trang, giúp bạn vừa xem video vừa đọc tin tức mà không phải lo bị mất tập trung.

 Sau khi cài đặt extension, nó sẽ tự động chạy mỗi khi bạn chạy video trên facebook, twitter hoặc google+, và bạn có thể tự do di chuyển màn hình khắp nơi xung quanh trang. Bạn có thể bấm like, dislike hoặc comment ngay trên video mà không cần phải mở youtube lên.

 

 

Bình thường, khi video được chơi trên Twitter, nó sẽ tự động mở tab mới, và bạn sẽ bị mất tập trung vào trang. Do đó, khi sử dụng ViewTube, bạn có thể xem trực tiếp videos trên Twitter, mà không cần mở thêm tab.

 

 

Cài đặt ViewTube cho Google Chrome tại đây 

 

Nguồn: addictivetips

Âm mưu Tam Sa của Trung Quốc

Song hành cùng tuyên bố thành lập TP.Tam Sa, Bắc Kinh âm mưu biến thành phố này thành tiền đồn quân sự mang ý nghĩa chiến lược.

Cuối tháng trước, Trung Quốc tuyên bố thành lập TP.Tam Sa, xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Nhật báo Phương Nam ngày 2.7 nhận định động thái trên nhằm “nâng cấp” đảo Phú Lâm, ở quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam, để đảo này đóng vai trò thủ phủ của TP.Tam Sa. Đồng thời, phát ngôn viên Bộ Quốc phòng Trung Quốc Cảnh Nhạn Sinh ngày 28.6 tuyên bố thiết lập bộ chỉ huy quân sự cho TP.Tam Sa. Vì thế, nhật báo Phương Nam đánh giá đảo Phú Lâm sẽ đóng vai trò “trung tâm chính trị, quân sự” trong tham vọng thâu tóm Hoàng Sa và Trường Sa mà Bắc Kinh đang theo đuổi.

 

Âm mưu Tam Sa của Trung Quốc 1
Mô hình phát triển do Trung Quốc đề ra cho đảo Phú Lâm – Ảnh: Baidu

 

Ráo riết chuẩn bị quân sự

 

Tàu hải giám Trung Quốc diễn tập ở Trường Sa

Đội tàu hải giám Trung Quốc gồm 4 tàu số 83, 84, 71 và 66 tổ chức diễn tập trái phép tại bãi Châu Viên, ở quần đảo Trường Sa vốn thuộc chủ quyền của Việt Nam, vào ngày 2.7. Theo Tân Hoa xã, đội tàu này xuất phát từ TP.Nam Á vào ngày 26.6 để đến biển Đông thực hiện chuyến tuần tra dài 2.400 hải lý (4.500 km). Sau khi đến Châu Viên vào ngày 1.7, đội tàu trên nhanh chóng triển khai diễn tập vào sáng hôm sau. Tuy nhiên, một trực thăng được mang theo đã không thể tham gia diễn tập vì điều kiện thời tiết xấu.

 

Thực tế, phát ngôn viên Cảnh đã công khai việc Trung Quốc ráo riết thiết lập cơ sở quân sự tại Tam Sa. Không chỉ bất chấp luật pháp quốc tế để xâm phạm chủ quyền Việt Nam, phát ngôn viên này còn ngang ngược cho rằng việc thiết lập cơ sở quân sự nói trên là “điều tất yếu”. Theo Tân Hoa xã, Trung Quốc hiện có nhiều cơ sở (trái phép) tại đảo Phú Lâm như: tòa nhà chính phủ, ngân hàng, bưu điện, bệnh viện, cửa hàng, khách sạn, thư viện, sân bay, cầu cảng, trạm khí tượng, doanh trại…

Ủng hộ cho quan điểm sai trái trên, phó giáo sư Bạch Tú Lan của Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế thuộc Trường Đảng trung ương Trung Quốc, cho rằng Tam Sa cần được tập trung đầy đủ cả hải, lục, không quân. Ông còn đề nghị Trung Quốc cần bổ nhiệm một lãnh đạo cấp tướng cho bộ chỉ huy quân sự tại đây. Cụ thể, ông Bạch đưa ra đề xuất biến Tam Sa thành một tiền đồn quân sự khi kêu gọi rằng: “TP.Tam Sa có vị trí chiến lược nên cần nhiều binh lực hơn nữa. Ngoài lục quân, nơi này cần có thêm không quân và hải quân để cùng nhau phối hợp”. Đáng quan ngại hơn, ông này cho rằng đề xuất trên nhằm phục vụ cho mưu đồ bá quyền của Bắc Kinh là: “Thành lập cơ quan quân sự mới cho TP.Tam Sa sẽ giúp tăng cường thực lực để Trung Quốc thâu tóm Trường Sa, Hoàng Sa và bãi ngầm Macclesfield. Khi đó, Bắc Kinh sẽ chủ động trong việc chiếm giữ các khu vực này”.

Vị thế chiến lược

 

 Âm mưu Tam Sa của Trung Quốc 2
Đường băng hiện tại trên đảo Phú Lâm – Ảnh: Koming.com.hk

 

Vốn dĩ, Phú Lâm là đảo san hô có địa hình phẳng và cảnh quan đẹp. Tuy nhiên, lý do then chốt khiến đảo này được chọn làm trọng tâm của chính quyền TP.Tam Sa không phải vì vẻ đẹp độc đáo mà là tham vọng của Bắc Kinh nhằm thâu tóm biển Đông. Tân Hoa xã dẫn lời phó giáo sư Bạch công khai ý định trên: “Phần lớn các đảo trên quần đảo Hoàng Sa đều là đảo san hô, tương đối nông. Nhiều đảo không có sẵn điều kiện để con người sinh sống. Trong đó, Phú Lâm là một đảo lớn, có sân bay, bưu điện, có môi trường làm việc bình thường và ở gần biển Đông. Điều này rất có lợi cho việc Trung Quốc kiểm soát cả khu vực biển Đông”. Theo đó, Bắc Kinh có thể biến đảo Phú Lâm thành địa điểm trung chuyển, tiếp vận cho tàu chiến, máy bay của Trung Quốc trên hành trình từ đảo Hải Nam đến các đảo gần Philippines. Hiện tại, sân bay tại đảo Phú Lâm có thể cho phép máy bay Boeing 737 cất và hạ cánh. Đồng thời, cầu cảng tại đây cũng có chỗ neo đậu cho tàu tải trọng lên đến 5.000 tấn.

Lucy Nguyễn [Thanh Niên]

 Nguồn: Báo Thanh Niên Online

Kỳ 7: Tư liệu phía Việt Nam

09/08/2011 1:09

Các tác phẩm và các văn kiện chứng minh quyền phát hiện và chủ quyền  của VN trên các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa có niên đại chỉ từ thế kỷ XV, các văn kiện trước đó có  lẽ bị tiêu hủy và thất lạc dưới thời Bắc thuộc và các cuộc chiến tranh liên miên.

>> Kỳ 6: Những luận cứ chủ quyền không vững chắc

Tác phẩm cũ nhất có nói về sự tồn tại của các đảo là Toàn tập Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư (1630  – 1653) do Đỗ Bá, tự Công Đạo soạn. Tài liệu này bao gồm các bản đồ An Nam từ thế kỷ XV trong đó có tấm vẽ các quần đảo Paracels và Spratlys trong biển Đông dưới tên gọi Bãi Cát Vàng và Trường Sa, thuộc phủ Quảng Ngãi:

“Giữa  biển  có  một  dải  cát  dài,  gọi  là  Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển, từ cửa Đại Chiêm đến cửa Sa Vĩnh. Một lần có gió Tây Nam thì thương thuyền các nước đi ở phía trong trôi dạt ở đấy, có gió Đông Bắc thì thương thuyền  chạy  ở  ngoài  cũng  trôi  dạt  ở  đấy,  đều  cùng chết đói cả, hàng hóa thì đều để ở nơi đó”.


Một trong những bản đồ của cuốn sách Phủ biên tạp lục do Lê Quý Đôn biên soạn năm 1776, mô tả tỉ mỉ tình hình địa lý, tài nguyên ở Hoàng Sa và Trường Sa và công việc khai thác của Chúa Nguyễn đối với hai quần đảo này (nguồn: Cục Thông tin đối ngoại – Bộ Thông tin – Truyền thông)

Trong Phủ biên  tạp  lục (1776), Lê Quý Đôn, Hiệp trấn Thuận Hóa viết:

“Phủ  Quảng  Ngãi,  huyện  Bình  Sơn, có  xã  An Vĩnh, ở  gần  biển, ngoài  biển  về  phía Đông Bắc, có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn một trăm ba mươi ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến. Trên núi có chỗ có suối nước ngọt. Trong đảo có bãi cát vàng dài ước hơn ba mươi dặm, bằng  phẳng,  rộng  lớn, nước trong suốt đáy”.

Đại  Nam  thực  lục  tiền  biên,  phần  về  các  chúa Nguyễn  (1600  –  1775),  quyển X ghi nhận địa danh Hoàng Sa và Trường Sa và các hoạt động quản lý của các chính quyền VN:

“Xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn, phủ Quảng Ngãi, ở ngoài  biển, có  hơn  một  trăm ba  mươi  bãi cát, cách nhau hoặc một ngày đường hoặc vài  trống  canh, kéo dài  không  biết  mấy  ngàn dặm, tục gọi  là Vạn Lý Hoàng Sa, trên bãi có giếng nước ngọt. Sản vật có hải sâm, đồi mồi, ốc hoa, vích… Hồi  đầu  dựng  nước,  đặt  đội  Hoàng  Sa  gồm  70 người,  lấy dân xã An Vĩnh sung vào, hằng năm đến tháng 3 đi thuyền ra đảo, độ ba ngày đêm thì đến, thu lượm hóa vật, đến tháng 8 trở về nộp. Lại có đội Bắc Hải, mộ dân ở phường Tư Chính, ở Bình Thuận hoặc xã Cảnh Dương sung vào, được lệnh đi thuyền ra các vùng Bắc Hải, Côn Lôn, thu  lượm hóa vật. Đội này cũng do đội Hoàng Sa kiêm quản”.([1])

 
Bản đồ Việt Nam do Đỗ Bá soạn vẽ vào thế kỷ XVII. Lời chú giải trên bản đồ khu vực phủ Quảng Ngãi ghi rõ “Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng”, “do họ Nguyễn mỗi năm vào tháng cuối mùa đông đưa 18 chiếc thuyền đến lấy hóa vật…”  –  Ảnh: biengioilanhtho.gov.vn

Các  tác phẩm chính thức khác do Quốc Sử quán biên soạn và in dưới thời nhà Nguyễn như Đại Nam thực lục chính biên (1848), Khâm định Đại Nam hội diễn sử lệ (1843 – 1851), Đại Nam nhất thống chí (1865  –  1882), Lịch  triều  hiến chương  loại chí (1821), Hoàng Việt địa dư chí (1833), Việt sử cương giám khảo lược (1876) đều chép tương tự về Hoàng Sa và Trường Sa. Đại Nam thực lục chính biên đệ nhị kỷ quyển 165 còn khẳng định sự đánh giá của Bộ Công  tâu  lên Vua  năm  Bính  Thân,  niên  hiệu Minh Mạng  thứ 17  (1836,  tức năm Đạo Quang  thứ 16 đời Thanh): “Xứ  Hoàng  Sa  thuộc  cương  vực  mặt  biển nước ta rất là hiểm yếu”. Đại Nam nhất thống chí, bộ sách địa lý lịch sử chung  thống nhất của Đại Nam, phần Hình thể nói về tỉnh Quảng Ngãi “phía đông có đảo Hoàng Sa liền với biển xanh làm hào che…”. Đó đều là các nguồn chính thức và có giá trị chân thực.

Viện Hán Nôm Hà Nội còn lưu trữ hàng chục châu bản  triều Nguyễn gồm các bản  tấu, phúc tấu của các Bộ Công, Bộ Hộ, các cơ quan khác, các dụ của các vua về các hoạt động thực thi chủ quyền của VN trên quần đảo.

Một số bản đồ VN vẽ các đảo này như bộ phận của lãnh  thổ VN, nhất  là Đại Nam nhất thống toàn đồ (1838). Ngoài ra các sách địa lý lịch sử như Sử  học bị khảo của Đặng Xuân Bảng, Địa dư toát  yếu (niên  hiệu Duy Tân 1907-1916), Quảng Thuận đạo sử tập, Trung kỳ địa dư lược, Quảng Ngãi tỉnh chí đều có những đoạn văn và bản đồ xác nhận Hoàng Sa thuộc Quảng Ngãi. Trong gia phả của các họ Phạm, họ Đặng trên đảo Lý Sơn còn lưu giữ các sắc chỉ của vua Minh Mạng giao cho dòng họ chọn những  thanh niên khỏe mạnh và giỏi bơi lội để gia nhập đội Hoàng Sa… ([2])

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Đại Nam thực lục tiền biên, NXB Sử học, Hà Nội, 1962, t.1, tr.22

[2] “Phát  hiện  tài  liệu  quý  liên  quan  đến  quần  đảo Hoàng  Sa”,  Lao Động số 71 ngày 1.4.2009.

>> Kỳ 8: Đi đến luận cứ chắc chắn

Kỳ 6: Những luận cứ chủ quyền không vững chắc

07/08/2011 22:50

– Sự kiện  thứ ba: Ngô Thăng, phó tướng thủy sư Quảng Đông đã thực hiện việc  tuần biển vào khoảng các năm 49 và 51 đời nhà Thanh (1710 – 1712). “Tự Quỳnh Thôi, lịch Đồng Cổ, kinh Thất Châu Dương, Tứ Canh Sa, Châu Tào tam  thiên  lý, Cung  tự tuần thị (từ Quỳnh Nhai, qua Đồng Cổ, qua Thất Châu Dương, Tứ Canh  Sa,  vòng  quanh  ba  ngàn  dặm,  đích thân đi tuần tra xem xét). Gọi Thất Châu Dương ở đây tức quần đảo Tây Sa ngày nay, lúc bấy giờ do hải quân Quảng Đông phụ trách đi tuần”.

>> Kỳ 5: Độ chênh của lịch sử trong Sách trắng Trung Quốc

Việc nghiên cứu nghiêm túc lại cho ta một sự  thật khác hẳn. Những địa danh nêu trong đoạn trích trên đều nằm xung quanh  đảo Hải Nam, theo các tác giả VN ([1]) :

–  Quỳnh Nhai, tức “Đạo binh bị Quỳnh  Nhai” (Đảo Hải Nam) đời Thanh, sở tại Quỳnh Sơn gần thị trấn Hải Khấu ngày nay, phía bắc đảo Hải Nam.

– Đồng Cổ ở mỏm đông bắc đảo Hải Nam

– Thất Châu Dương  là vùng biển có bảy hòn đảo gọi là Thất Châu nằm ở phía đông đảo Hải Nam.

– Tứ Canh Sa là bãi cát ở phía tây đảo Hải Nam.


Các chuyến đi của Trịnh Hòa (1405-1443) không được Sách trắng của Bộ Ngoại giao TQ nhắc đến – Ảnh tư liệu

Các địa danh  trên đều được  tìm  thấy trên các hải đồ TQ. Trong hải đồ N 5012 tỷ lệ 1/500.000 do hải quân TQ  xuất bản bằng tiếng TQ  và  tiếng VN  tháng  5.1956  có  tiêu đề: “Vùng  phụ  cận  Lôi Châu  và  đảo Hải Nam”,  và các bản đồ “Bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam”, và Nam Hải địa  hình  đo, tỷ  lệ  1/300.000.000 do  Nhà xuất  bản  địa  đồ TQ  xuất  bản  tháng  5.1984,  có  nhóm  đảo có tên Thất Châu Đảo và vùng biển  xung  quanh các đảo nhỏ đó ở phía đông nam của  đảo  Hải  Nam  được  gọi  tên  đúng  là Thất  Châu Dương. Rõ ràng tên này không được dùng để chỉ toàn bộ biển phía Nam Trung Hoa. Ngoài  ra, trong cuốn Quảng  Đông  dư  địa  đồ thuyết in năm  1909, Lý Hàn  Chung đã nói về các cuộc tuần biển của hải quân Quảng Đông như sau:

“Biên giới  trên biển ngày nay  lấy phía Nam đảo Hải  Nam  làm  giới  hạn,  bên  ngoài  là  Thất  Châu Dương, Đô  đốc  thuỷ  quân Quảng Đông  đi  tuần  đến đó là quay về”.

Ở  đây một  lần  nữa,  chúng  ta  không  thấy  bất  kỳ một ghi chép chính xác nào về các đảo Paracel dưới tên gọi Tây Sa.

Hơn  nữa,  các  hành  vi  quản  lý  mà  TQ viện dẫn, nếu đúng, chỉ  liên quan tới các đảo Tây Sa mà  không  nhắc  gì  đến  các  đảo  Nam  Sa.  Đối  với Spratly, TQ chỉ nêu ra được  sự kiện  năm 1883  khi  tàu  nghiên  cứu  của  Đức  tiến  hành các nghiên cứu  khoa  học  tại  quần  đảo  Nam  Sa,  chính quyền Quảng Đông đã phản  đối  (theo  Heinzig,  sự kiện này  liên quan Tây Sa hơn là tới Nam Sa). Việc phía TQ thiếu một  danh  nghĩa  chiếm hữu của Nhà nước được xác lập một cách vững chắc và từ lâu đời làm cho việc phản đối ngoại giao dựa trên cơ sở quyền thụ  đắc  theo  thời  hiệu  để  ngăn chặn một hành động như vậy không  còn  giá  trị. Đúng  hơn  nó chỉ được coi như một  tham vọng chủ quyền mà thôi.

Để chứng minh cho lập luận của họ, các tác giả TQ  viện dẫn tới cả các chuyến đi của Thái giám Trịnh  Hòa  trong thời gian từ 1405 đến 1433 qua các đảo này. Tuy nhiên các chuyến đi này không được Sách trắng của Bộ Ngoại giao TQ nhắc đến. Các chuyến đi của Trịnh Hòa tới Java, Ấn Độ và bờ biển Phi châu chỉ có giá trị tạo uy danh cho triều Minh ([2]) và Trịnh Hòa cũng không đưa ra một yêu sách  tạo lập danh nghĩa chiếm hữu  các đảo nào thay mặt thiên triều TQ. ([3])

Các thí dụ kể trên chỉ  tạo  ra sự nhận biết về các đảo, đúng hơn là một số đảo. Nếu các đảo trong biển Đông được các thủy thủ và ngư dân TQ biết tới là điều không phải bàn cãi thì việc khẳng định chủ quyền  TQ trên  các  quần  đảo  này  thật  khó thuyết  phục.  Trong  các  sách  và  văn  kiện do TQ trích dẫn, không có một ghi chép nào về quyền phát hiện hoặc sự củng cố một danh nghĩa chiếm hữu các  đảo  này, và về  thực chất không  thể hiện ý định thực  thi chủ quyền tại đó của họ.

Các  sự kiện kể  trên diễn  ra với khoảng thời gian cách quãng  200-500  năm. Điều  đó  rõ  ràng  làm yếu thêm lập luận của TQ, theo đó các Hoàng đế Trung Hoa đã quản  lý các đảo này  từ hai nghìn năm nay một cách liên tục và không ngắt quãng.

Để chứng minh chủ quyền, cần phải cung cấp các bằng  chứng  liên  quan  trực  tiếp  tới  việc  chiếm  hữu. D.L Bennett, luật gia Mỹ, nhận xét:

“Nếu các đảo hoặc không được quản lý bởi một chính phủ hoặc không được thăm viếng bởi các nhân viên nhà nước, vấn đề đặt ra  là liệu những cuộc tiếp xúc riêng rẽ bởi các ngư dân tư nhân TQ có đủ  để  thiết  lập  chủ  quyền trên  Spratly  theo  luật quốc  tế  không. Vì  vậy  giá  trị  của  lập  trường  chính thức của TQ là đáng nghi ngại”. ([4])

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Vũ Phi Hoàng, Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lãnh thổ Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr. 88;  Nguyễn Quang Ngọc, Sđd.

[2] BBC, ngày 27 tháng 11 năm 2008

[3] Năm 2005 Trung Quốc tuyên  truyền nhiều về Trịnh Hòa, tổ chức thi  “Nhịp cầu Hán ngữ” kỷ niệm các chuyến đi  của ông, gọi ông  là nhà hàng hải  vĩ  đại ngang  tầm Colombo  nhằm mục đích  gắn chuyến  đi  của Trịnh Hòa với quyền phát hiện. 

[4] D.L Benne, “Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và việc sử dụng luật pháp quốc  tế  trong  vụ  tranh  chấp  các  đảo  Spratleys”,  Stanford  Journal  of International Law, quyển 28 (1991-1992), tr. 435.

>> Kỳ 7: Tư liệu phía Việt Nam

Kỳ 4: “Bằng chứng khảo cổ” mập mờ và thiếu chính xác của Trung Quốc

 

Để củng cố lý lẽ về chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa, người TQ sử dụng cả các luận cứ về khảo cổ. Người TQ cho là đã tìm thấy vết tích tiền cổ và vật dụng cổ có từ thời Vương Mãng (năm thứ ba trước Công nguyên cho đến năm 23 sau Công nguyên) trên các quần đảo.

>> Kỳ 3: Sử liệu Trung Quốc nói gì?

Chang The-Kuang và S.Yeh viết rằng các đảo này có chứa “các tàn tích của khu dân cư, các vật dùng sành sứ, các dao sắt, các nồi gang và các vật dụng hằng ngày khác có niên đại từ thời Đường, Tống”. Báo cáo sơ bộ của chuyến khảo cổ học thứ hai trên quần đảo Tây Sa của tỉnh Quảng Đông ghi rằng “qua hai cuộc khảo sát, các nhà khảo cổ học đã khảo sát hầu hết các đảo, đá, bãi ngầm, các vũng của quần đảo Tây Sa và hầu như ở đâu họ cũng tìm thấy các đồ vật cổ và các lịch sử của quần đảo Tây Sa, bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc chúng ta từ ngàn đời nay”.

Vấn đề đặt ra ở đây là trong luật quốc tế không tồn tại một quy tắc nào cho phép tự quy thuộc chủ quyền cho một quốc gia trên một vùng đất mà tại đó các cổ vật thuộc nền văn minh của nước đó được tìm thấy. Các cổ vật này có thể thuộc các ngư dân TQ đi lại và bị đắm thuyền trong vùng biển này, cũng như có thể thuộc các ngư dân Philippines, Malaysia hoặc của các tàu thuyền Ả Rập, Bồ Đào Nha, Hà Lan bị trôi dạt mắc nạn vào đây. Không có gì chứng minh được rằng các ngư dân TQ là những người duy nhất có các hoạt động định cư thường xuyên trên các đảo không có nước ngọt này.

Trong khi đó, năm 2001, trong khuôn khổ dự án 10 năm điều tra cơ bản khảo cổ học Trường Sa – Tây Nguyên – Nam Bộ, các nhà khoa học Việt Nam đã khai quật và phát hiện nhiều di tích khảo cổ có giá trị trên quần đảo Trường Sa. Trên chứng chỉ khảo cổ học, các nhà sử học đã xác định được các cư dân người Việt sinh sống ở Trường Sa là rất sớm, chí ít cũng phải từ thời nhà Trần và liên tục định cư, sinh sống ở đây trong các giai đoạn thời kỳ sau. Qua các hiện vật thu được, dựa trên căn cứ sử học và văn hóa học, rất rõ ràng để nhận ra có một sợi dây liên kết chặt chẽ giữa cư dân trên đảo với cư dân đất liền từ thuở sơ khai đến nay. Có thể những cư dân đầu tiên Trường Sa là kết quả của các cuộc di dân, tìm đất mới thời cổ xưa. Hoặc là các ngư dân Việt đi biển ghé vào và ở lại lâu dài, khai phá đất đai, tạo lập cuộc sống mới.

 
Một trang trong cuốn Hải ngoại kỷ sự (1695) của Thích Đại Sán, một nhà sư Trung Quốc đời Khang Hy, thuật lại chuyến du hành tới xứ Đàng Trong, thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Đại Việt – Ảnh: biengioilanhtho.gov.vn

Chủ quyền quốc gia đã được luật quốc tế định nghĩa về mặt pháp lý. Trương Hồng Tăng và các tác giả TQ khác lập luận rằng: “Dưới thời nhà Tống, nhiều sách vở đã ghi nhận rằng những ngư dân TQ thường tới đây bắt cá và thu lượm san hô (…). Theo Chư phiên chí (ghi chép về các nước chư hầu) của Zhao Rushi (Triệu Nhữ Quát) sống dưới thời nhà Tống cách đây 700 – 800 năm, người TQ đã biết rằng các quần đảo Tây Sa và Nam Sa là những vùng nguy hiểm cho hàng hải (…). Vào thế kỷ trước, chỉ có người TQ đã sống và khai thác một cách liên tục các quần đảo Tây Sa và Nam Sa (…)”.

Sau khi đã nghiên cứu sâu sắc các tài liệu TQ, ông Heinzig, một luật gia Đức đã rút ra kết luận chỉ bắt đầu từ thời nhà Tống (960) người TQ mới có thể tiếp cận với quần đảo Paracels (Hoàng Sa). Còn về việc hiện diện của người TQ trong khu vực Spratlys (Trường Sa) không có gì ghi nhận trước 1867, thời điểm một tàu nghiên cứu Anh gặp những ngư dân TQ tới từ đảo Hải Nam. Theo Heinzig, chỉ từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất người TQ mới bắt đầu gọi quần đảo Spratlys là “Đoàn Sa Trung Đảo”. ([1])

Sự tiếp xúc riêng rẽ của những cư dân TQ cá thể đối với Paracels liệu có đủ để thiết lập chủ quyền TQ tại đó không theo luật quốc tế? Các tác giả TQ khẳng định rằng TQ phát hiện ra Tây Sa và Nam Sa cách nay 2.100 năm, vào thời Hán Vũ Đế. Đối với họ, theo luật quốc tế và tập quán quốc tế thời kỳ đó: “Chủ quyền thuộc về người phát hiện” (Who discovers the territory, holds its sovereignty), đó là ngư dân TQ, và vì vậy TQ phải có chủ quyền trên đó”.

So sánh với các tiêu chuẩn thụ đắc lãnh thổ, các ghi chép mà TQ viện dẫn không đủ chứng minh rằng quyền phát hiện đã được xác lập. Một đảo hoặc một quần đảo có thể là đối tượng nhận biết từ lâu đời của các nhà hàng hải, các ngư dân, các nhà địa lý… nhưng chúng vẫn chỉ được coi là lãnh thổ vô chủ

res nullius một khi quốc gia của họ chưa tiến hành một hành động nhà nước nào tại đó. Phan Thạch Anh cố chứng minh rằng vào thế kỷ XV, XVI chỉ cần quyền phát hiện là đủ để tạo nên quyền sở hữu đất vô chủ. Sở dĩ ông ta lập luận như vậy là để chứng minh rằng các hoạt động của tư nhân TQ là đủ để tạo ra quyền phát hiện ([2]). Thế nhưng các hoạt động tư nhân của các ngư dân TQ không thể mang lại hiệu lực pháp lý của “quyền phát hiện” và nó không thể được đánh đồng với quyền chiếm hữu.

Các bằng chứng của quyền phát hiện các đảo này như đã nêu trên rất mập mờ và thiếu chính xác. Chúng ta có thể đồng ý rằng các hoạt động của ngư dân có thể kéo theo sự chú ý và ý định của nhà nước trên lãnh thổ vô chủ. Tuy nhiên, yếu tố ý chí này không đủ khi còn thiếu yếu tố vật chất của các hoạt động nhà nước trên thực địa. Người TQ sẽ chứng minh như thế nào đòi hỏi này của luật quốc tế vào thời kỳ đó?

TS Nguyễn Hồng Thao

_________

[1] Theo Nguyễn Quang Ngọc, Sđd, tr 41. Trước khi Lý Chuẩn ra Hoàng Sa năm 1909, bản đồ TQ vẫn thể hiện đảo Hải Nam là cực nam lãnh thổ TQ. Năm 1928 trường Đại học Trung Sơn tổ chức điều tra quần đảo Tây Sa, được coi là mốc đánh dấu sự hiểu biết của người TQ về quần đảo Tây Sa. Tuy nhiên, cho đến năm 1934, bản đồ TQ vẫn chưa vượt quá quần đảo Tây Sa và đảo Triton, cực nam của quần đảo, ở sát phía dưới vĩ tuyến 16 được gọi là đảo cực nam với lời giải thích đảo là cột mốc đánh dấu lãnh thổ cực nam của TQ. Trong khoảng năm 1935-1936 địa danh Nam Sa và Đoàn Sa xuất hiện trên bản đồ TQ. Nam Sa được đặt tên cho bãi ngầm Maccelesfield Bank còn Đoàn Sa để chỉ Spratleys. Từ năm 1939 tên Nam Sa mới được dùng để chỉ Trường Sa của Việt Nam, tên Đoàn Sa mất đi, còn Maccelesfield Bank được đặt tên là Trung Sa.

[2] Phan Thạch Anh, The ptropolitics of the Nansha islands-China’s indisputable legal case, Beijing, December 1995.

>> Kỳ 5: Độ chênh của lịch sử trong Sách trắng Trung Quốc