Tag Archive:


Nancy Rica Schiff – một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp đã dành rất nhiều thời gian của mình để ghi lại hình ảnh của những ngành nghề mới lạ và độc đáo. Schiff đã từng xuất bản một cuốn sách ảnh về chân dung những người có công việc kì lạ vào năm 2002.

Đa số mọi người sẽ nghĩ rằng những người làm công việc kỳ lạ chắc hẳn sẽ có tính cách lập dị. Tuy nhiên, Schiff cho biết, điều này không đúng. Nhiếp ảnh gia mô tả nhân vật của mình là những người nhạy cảm, tinh tế và làm việc một cách vui vẻ.

Nhiều người trong số các “đối tượng” của Schiff đã liên lạc với nhiếp ảnh gia và kể lại về tác động mà những hình ảnh tạo nên với cuộc sống của họ. Họ chia sẻ rằng trước đây, bạn bè và hàng xóm biết nơi họ làm việc, nhưng không thực sự biết họ làm gì ở đó. Giờ đây, công việc của họ không những được biết đến nhiều hơn mà còn nhận được nhiều sự cảm thông và khích lệ.

Dưới đây là những nghề nghiệp “quái dị” đã được xuất bản trong cuốn sách:

 

1

Chuyên gia… kiểm tra mùi cơ thể.

2

Người nuôi đỉa.

3

Người sản xuất gà cao su.

4

Người thử nghiệm… thức ăn cho chó.

5

Nhân viên trị liệu… ruột già.

6

Người thiết kế… underwear cho nam giới.

7

Trợ lý cho… nghệ sỹ phi dao.

8

Trị liệu âm nhạc cho những người đang hấp hối.

9

Người làm sạch… xương khủng long.

10

Nhân viên… chữa vết nứt trên các vách đá.

11

Và cả người… thử nghiệm băng vệ sinh.

[sưu tầm]

Advertisements

Tráo iPhone rởm trước mặt kỹ thuật viên giám định

Một bà mẹ đi cùng cô con gái trẻ và một thanh niên bặm trợn vào một siêu thị điện thoại nhờ giám định một chiếc iPhone. Người kỹ thuật viên nhắc cô gái nếu muốn mua thì cứ giữ lấy máy đừng đưa lại cho người bán, nhưng màn đánh tráo vẫn diễn ra…

Gần đây đọc được nhiều bài viết chia sẻ về các chiêu trò lừa đảo khi mua bán iPhone, tôi cũng có một số kinh nghiệm muốn chia sẻ lại mong các bạn sẽ không bị lừa đảo mất tiền oan uổng.

Tôi làm bên bộ phận hỗ trợ kỹ thuật bán hàng trong một siêu thị điện thoại. Việc kiểm tra iPhone thật hay iPhone rởm đối với tôi không phải là khó khăn lắm, không cần bật máy lên để kiểm tra. Tôi đã chứng kiến rất nhiều trường hợp lừa đảo iPhone mà không thể làm gì được nên mong qua bài viết này hi vọng các bạn sẽ tự mình cảnh giác được những kẻ lừa đảo này.

Một hôm, có hai thanh niên đi cùng nhau vào trong siêu thị. Một người ngồi chờ, còn người kia mang cho tôi một chiếc iPhone 4s 64GB màu trắng và nhờ tôi kiểm tra xem đó có phải hàng thật hay không.

Sau một hồi kiểm tra tôi nói với anh ta là đây đúng là iPhone 4s 64GB bản quốc tế. Anh ta cảm ơn tôi, sau đó hai người kéo nhau đi về. Tôi cũng không để ý nhiều lắm vì nghĩ rằng có thể là anh ta mới mua hoặc được người thân cho, nên anh ta mang đến kiểm tra lại thôi và người đi cùng kia cũng chỉ là bạn bè gì đó.

Một lát sau thấy anh ta hớt hải quay lại chỗ tôi và nói như mếu: “Anh ơi, anh kiểm tra lại dùm em xem, hình như em bị lừa rồi, sao bật máy không lên nữa”.

Tôi cầm cái máy và biết ngay đó là iPhone rởm giống y chang cái iPhone thật, rất khó phát hiện. Tôi nghĩ chắc anh ta cũng dành dụm dữ lắm để mua cái iPhone nhưng không may bị lừa nên lúc ấy trông anh ta như người mất hồn.

Anh ta kể là mua bán qua mạng giá 8 triệu đồng. Tên lừa đảo muốn cho người mua chắc ăn hơn còn dẫn người mua vào tận siêu thị chỗ tôi để cho người mua kiểm tra. Nhưng hắn không dám giao dịch ngay tại siêu thị mà phải chờ ra ngoài đường mới thực hiện hành vi đánh tráo, lừa đảo.

Một lần khác, có hai mẹ con cùng đến. Bà mẹ ngoài 50 còn cô con gái trạc 20 tuổi đi cùng một thanh niên trông bặm trợn. Cô gái lại nhờ tôi kiểm tra chiếc iPhone 4s 32GB màu trắng xem có phải hàng thật không.

Do rút kinh nghiệm lần trước nên lợi dụng lúc bà mẹ cùng thanh niên kia nói chuyện hay mặc cả gì đấy ở ngoài bàn, tôi hỏi cô gái và biết được cô này cũng mua hàng qua mạng với giá chỉ 6,5 triệu đồng thôi.

Tôi liền nói nhỏ với cô gái là nếu mua thì cầm luôn cái máy lại, đừng đưa lại cho người bán nữa kẻo bị đánh tráo… Sau một hồi, cô gái nói với anh thanh niên kia là quyết định mua và muốn dán hình trang trí lên điện thoại ngay tại siêu thị đây. Nhưng người bán không đồng ý và nhất quyết kêu mẹ con cô gái ra ngoài giao dịch “vì hộp và sạc còn ở ngoài cốp xe”.

Sau khi ra ngoài, bà mẹ khư khư giữ chiếc điện thoại trong tay và đưa tiền nhưng thanh niên kia không lấy mà đôi co gì đó (tôi chỉ ngồi ở trong nhìn ra chứ không nghe được). Sau một hồi thì người thanh niên cầm được cái điện thoại (vì điện thoại là của anh ta, chưa có bán) và tiếp tục mặc cả gì đó.

Rồi tôi nhìn thấy rõ ràng tên thanh niên đó đưa tay ra sau thả cái iPhone thật vào túi quần sau và rút ra một cái khác cũng trong túi quần đó và đưa cho bà mẹ, một tay nhận tiền một tay đưa máy. Rất may là bà mẹ tỉnh táo và đã đề phòng trước nên đã phát hiện ra và giật lại tiền, không đưa cho tên lừa đảo kia.

Biết bị lộ, kẻ lừa đảo đi ra đường và một tên đồng bọn đã đứng chờ sẵn ở gần đó lao ra đón và phóng đi mất dạng.

Đây là một trò lừa mà kẻ lừa đảo cho người mua kiểm tra rất kỹ hàng thật tại những nơi khá uy tín để lấy lòng tin của người mua. Sau đó khi trả tiền ở ngoài, hắn sẽ nhanh tay đánh tráo mà không bị phát hiện bởi vì chúng biết người mua không am hiểu về iPhone.

Khi ra ngoài, chỉ cần nhanh tay một chút là người mua sẽ không biết và không thể phát hiện ra được. Rất mong bạn đọc lưu ý những trường hợp này, tránh mất tiền oan uổng.

Tony

[http://vn.vnexpress.net/gl/ban-doc-viet/2012/10/trao-iphone-rom-truoc-mat-ky-thuat-vien-giam-dinh/]

Thế kỷ XXI – Karl Marx đã chết?

 

Cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI, lịch sử nhân loại đã diễn ra với nhiều biến cố bất ngờ, từ sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu đến sự thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Nhân đó, đã có nhiều công trình, bài viết tuyên bố về cái chết của triết học Marx , chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa cộng sản dựa trên các học thuyết của Marx . Song, thực tiễn lịch sử đã cho thấy, với bản chất cách mạng và khoa học, triết học Marx , chủ nghĩa Marx và chủ nghĩa cộng sản dựa trên các học thuyết của K. Marx không những không chết, mà còn trường tồn với nhân loại ở thê kỷ XXI. Rằng, những di sản lý luận của K. Marxđã trở thành tài sản chung của cả nhân loại và sẽ mãi mãi là như vậy.

Sự sụp đổ của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu, sự thoái trào của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế đã từng là đề tài của những cuốn sách, bài báo mà trong đó, các tác giả của chúng đều có một cái đích chung là “chứng minh” về cái chết của chủ nghĩa Marx , về cái chết của chủ nghĩa cộng sản dựa trên các học thuyết của K. Marx. Nổi bật trong số các cuốn sách loại đó phải nói đến cuốn Sự cáo chung của lịch sử và con người cuối cùng của Francis Fukuyama xuất bản tại New york năm 1992.

Theo sự so sánh của Jacques Derida – nhà triết học người Pháp, một trong những nhà triết học phương Tây nổi tiếng thế giới ở thế kỷ XX, trong cuốn Những bóng ma của Marx (Spectres de Marx), thì lúc đó, ở phương Tây, “người ta mua cuốn sách này như một bà nội trợ xô vào mua đường và dầu, khi có những tin đồn đầu tiên về chiến tranh”. Bên cạnh nhiều đánh giá khác của Jacques Derida về cuốn sách trên của Francis Fukuyama, thì những đánh giá sau đây của ông quả thật rất đáng lưu ý: “Nếu một luận thuyết kiểu như luận thuyết của Fukuyama đóng một cách có hiệu quả vai trò gây mơ hồ và vai trò phủ nhận sầu thảm gấp đôi mà người ta chờ đợi ở nó, thì nó đã làm một trò lừa gạt một cách khôn khéo đối với một số người này và thô bạo đối với một số người khác”. Hoặc: “Phải thừa nhận là quyển sách này mang sắc thái tinh vi hơn, đôi khi để lửng, thậm chí đến mức mập mờ…”. Nói cách khác, người ta không thể không nghi ngờ về tính khách quan và tính khoa học của cuốn sách trên của Fukuyama. Không ai có thể phủ nhận một sự thật là Liên Xô và khối Đông Âu xã hội chủ nghĩa đã sụp đổ chủ nghĩa xã hội đã bị một tổn thất hết sức nặng nề. Nhưng từ sự sụp đổ đó mà rút ra kết luận rằng, học thuyết của K. Marxđã chết, triết họK. Marxđã chết, chủ nghĩa cộng sản đã chết thì thật là một sự vui mừng quá sớm, là một sai lầm, nếu không muốn nói là do những động cơ không trong sáng, hay nặng hơn, là do sự thù ghét cay độc đối với K. Marx và các học thuyết của ông. Hãy khoan nói đến ở đây những nguyên nhân gây ra sự sụp đổ đó của Liên Xô và các nước Đông Âu với tính cách một mô hình, một kiểu chủ nghĩa xã hội đã được người đời sau thiết kế theo sự hiểu biết, sự giả định, một sự mong muốn chủ quan của mình nhưng lại mệnh danh, hoặc tưởng rằng, đã làm theo đúng chỉ dẫn của K. Marx, là xuất phát từ K. Marx, là trung thành tuyệt đối với C Marx , bởi những nguyên nhân gây nên sự sụp đổ ấy thì có rất nhiều và cần phải được mổ xẻ trong một dịp khác.

Trong dịp Kỷ niệm 190 năm Ngày sinh K. Marx(05/05/1818 – 05/05/2008), chúng ta hãy chỉ đề cập một cách hết sức vắn tắt đến các học thuyết cơ bản của K. Marx, chẳng hạn như quan niệm duy vật về lịch sử hay học thuyết về giá trị thặng dư, chứ chưa nói đến rất nhiều những tư tưởng vượt thời đại khác của ông đã hợp thành chủ nghĩa mang tên ông, để có một cái nhìn thật sự khách quan, thật sự khoa học, thật sự tôn trọng K. Marx.

Trước hết, chúng ta hãy nhớ lại một luận điểm nổi tiếng mà người tiền bối vĩ đại của K. Marx đã đưa ra trong lĩnh vực triết học, người đã được K. Marx cải tạo theo lối duy vật, đã kế thừa và vượt qua. Đó chính là luận điểm được Hê-ghen trình bày trong Những bài giảng về lịch sử triết học của ông. Hê ghen viết: “Triết học hiện đại là kết quả của tất cả những nguyên lý có từ trước đó, như vậy, không có một hệ thống nào bị lật đổ, không phải nguyên lý của triết học đó bị lật đổ mà chỉ có sự giả định rằng, nguyên lý đó là định nghĩa tuyệt đối cuối cùng bị lật đổ mà thôi”.

Câu nói đó của Hê ghen hoàn toàn có thể vận dụng vào trường hợp của K. Marx. Điều đó có nghĩa là, một học thuyết, một hệ thống triết học hay một học thuyết xã hội nào đó, nếu là kết quả của sự tổng kết khoa học về lịch sử, là sự đúc rút từ các nguyên lý khoa học có từ trước đó mà không bị tuyệt đối hoá đến mức giáo điều, không bị làm cho khô cứng đi thì không bao giờ nó mất hết các giá trị, không bao giờ bị sụp đổ hoàn toàn. Điều đó cũng rất dễ hiểu. Không có một lý thuyết nào là tuyệt đối đúng cho mọi thời đại, trong mọi điều kiện lịch sử, bởi chân lý là một quá trình, chân lý nằm trong quá trình và việc đạt đến chân lý cũng là một quá trình. Các tư tưởng, các học thuyết của K. Marx về triết học, về xã hội, về kinh tế, về con người, về khoa học và kỹ thuật, v.v. vốn là kết quả của một sự nghiên cứu, phê phán, tiếp thu, vượt bỏ những thiên tài trước ông, tính từ thời Cổ đại cho đến tận L.Phoiơbắc, của sự khái quát lý luận và tổng kết thực tiễn cực kỳ sôi động thế giới lúc bấy giờ, và trên hết là sự sáng tạo tuyệt vời của một bộ óc thiên tài, của một trong những vĩ nhân vĩ đại nhất, có ảnh hưởng to lớn nhất trong mọi thời đại của nhân loại, như một cuộc thăm dò dư luận phương Tây cuối thế kỷ XX đã cho thấy. Những tiền đề xuất phát để K. Marxrút ra các kết luận lý luận “không phải là những tiền đề tuỳ tiện, không phải là giáo điều, đó là những tiền đề hiện thực mà người ta chỉ có thể bỏ qua trong trí tưởng tượng thôi… Những tiền đề ấy là có thể kiểm nghiệm được bằng con đường kinh nghiệm thuần tuý. Do vậy, những tư tưởng và những học thuyết của K. Marxhoàn toàn và tuyệt nhiên không phải là những “ảo tưởng chủ quan”, không phải là “duy ý chí” như những người phê phán K. Marx đã cố tình gán ghép.

Chúng ta đều biết rằng, do không thỏa mãn với các cách giải thích khác nhau của những người đi trước mình về lịch sử xã hội loài người, nên K. Marx đã kiên trì đi tìm và đã tìm ra “những điều bí ẩn của lịch sử”, “chủ thể của lịch sử và chìa khóa của lịch sử đích thực”. Với K. Marx, cái thúc đẩy sự vận động của lịch sử không phải là sức mạnh siêu tự nhiên, cũng không phải là những tư tưởng hay ý chí của con người, của các vĩ nhân, mà chính là sản xuất vật chất, là những lợi ích vật chất, còn chính quần chúng nhân dân mới là những người sáng tạo chân chính ra lịch sử của mình.

Quan điểm mang tính chất nền tảng đó có quan hệ chặt chẽ với quan niệm về sự phát triển của lực lượng sản xuất và vai trò quyết định của lực lượng sản xuất đối với sự phát triển của mọi hình thái xã hội từ trước cho đến nay. Với C Marx , không những các hình thái kinh tế – xã hội khác nhau là một quá trình lịch sử – tự nhiên, mà sự thay thế các hình thái đó cũng là một quá trình lịch sử – tự nhiên. Điều đó có nghĩa rằng, khi đã là một quá trình lịch sử – tự nhiên thì con người hoàn toàn có thể khám phá được, có thể nhận thức được, có thể nắm được và vận dụng được các quy luật vận động của nó. Và, K. Marxđã chứng minh điều đó một cách tài tình, vừa khoa học, vừa hết sức thuyết phục trong nhiều công trình, đặc biệt là trong bộ Tư bản – một công trình của suốt cả cuộc đời C Marx , rằng hình thái kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa, sớm hay muộn, tất yếu sẽ bị thay thế bằng một phương thức sản xuất tiên tiến hơn, phương thức sản xuất cộng sản chủ nghĩa, bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất xã hội sẽ đến một lúc không còn có thể chứa đựng trong các quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa nữa. Đó là quy luật tất yếu của lịch sử.

Tuy nhiên, khi khẳng định như vậy, K. Marxkhông hề xác định thời điểm cụ thể về sự thay thế đó hay về thời điểm diệt vong của chủ nghĩa tư bản. Đáng tiếc là những người lãnh đạo và các nhà lý luận đi sau K. Marx, do quá say sưa với thắng lợi và sự lớn mạnh một thời của chủ nghĩa xã hội trên quy mô thế giới, dường như muốn thúc đẩy nhanh “cái chết” đó của chủ nghĩa tư bản nên đã không đủ tỉnh táo để thấy rằng chính K. Marx, ngay trong Lời tựa viết cho lần xuất bản đầu tiên tập I bộ Tư bản, đã nhận ra rằng, xã hội tư bản “hoàn toàn không phải là một khối kết tinh vững chắc, mà là một cơ thể có khả năng biến đổi và luôn luôn ở trong quá trình biến đổi”. Rõ ràng, một xã hội, cũng như một cơ thể sống, khi còn có khả năng biến đổi và đang trong quá trình biến đổi thì có nghĩa là cơ thể đó còn có khả năng thích nghi, nó chưa thể chết ngay. Về điều này, K. Marx cũng đã từng nói rằng, “không một hình thái xã hội nào diệt vong trước khi tất cả những lực lượng sản xuất mà hình thái xã hội đó tạo địa bàn đầy đủ cho phát triển, vẫn chưa phát triển, và những quan hệ sản xuất mới, cao hơn, cũng không bao giờ xuất hiện trước khi những điều kiện tồn tại vật chất của những quan hệ đó chưa chín muồi trong lòng bản thân xã hội cũ. Cho nên, nhân loại bao giờ cũng chỉ đặt ra cho mình những nhiệm vụ mà nó có thể giải quyết được vì khi xét kỹ hơn, bao giờ người ta cũng thấy rằng bản thân nhiệm vụ ấy chỉ nảy sinh khi những điều kiện vật chất để giải quyết nhiệm vụ đó đã có rồi, hay ít ra cũng đang ở trong quá trình hình thành”.

Lịch sử nhân loại thế kỷ XX và hiện nay đã hoàn toàn xác nhận những chỉ dẫn hết sức tinh tường đó của K. Marx. Hệ thống tư bản chủ nghĩa hiện đại vẫn đang còn sức sống, đang thể hiện sức mạnh thực sự của nó ở những mặt nhất định và đang chi phối khá mạnh nền chính trị và kinh tế thế giới, chứ chưa phải đã đến lúc lịch sử của nó kết thúc. Hệ thống đó vẫn đang có khả năng thích nghi, tự điều chỉnh và tiếp tục phát triển. Không thể không thấy điều đó. Vậy, liệu có thể từ đó mà rút ra kết luận rằng, chủ nghĩa tư bản là vĩnh hằng, là bất tử, là tương lai duy nhất của nhân loại hay không? Không. Hoàn toàn không thể! Mọi sự biện hộ theo kiểu đó đều không có cơ sở. Chủ nghĩa tư bản toàn cầu hoá hiện nay mà K. Marx đã từng dự báo về sự ra đời của nó, với sức mạnh của nó và với cả những mâu thuẫn nội tại mà tự thân nó không thể nào giải quyết được, là bước chuẩn bị cho sự thay thế nó trong tương lai, tức là các điều kiện chuẩn bị cho sự thay thế đó đang trong quá trình hình thành ở ngay trong chính bản thân nó. Lịch sử không bao giờ ngừng lại, không bao giờ ngưng đọng. Biện chứng của lịch sử chính là như vậy và sẽ mãi mãi là như vậy. Những bí mật làm giàu của các nhà tư bản và sự bần cùng của người lao động cũng đã từng là một bí mật của lịch sử đã được chính K. Marx khám phá ra nhờ học thuyết về giá trị thặng dư. Việc phát hiện ra học thuyết này là “công lao lịch sử vĩ đại nhất lao động của Marx . Nó chiếu sáng rực rỡ lên những lĩnh vực kinh tế mà trước kia những nhà xã hội chủ nghĩa cũng mò mẫm trong bóng tôi không kém gì những nhà kinh tế học tư sản. Chủ nghĩa xã hội khoa học bắt đầu từ ngày có giải đáp đó, và nó là điểm trung tâm của chủ nghĩa xã hội khoa học”.

Ngày nay, nhân loại đang từng bước tiến vào kinh tế tri thức, tri thức đang chuyển hoá “thành lực lượng sản xuất trực tiếp như K. Marx đã từng tiên đoán. Sự kiện nhân loại bước vào kinh tế tri thức này lại cũng là lý do để cho một số người, cả ở nước ta lẫn nước ngoài, ngộ nhận rằng, kinh tế tư bản và các nhà tư bản đã thay đổi về bản chất, không còn bóc lột người lao động, không tìm kiếm giá trị thặng dư như khi K. Marx viết bộ Tư bản nữa. Theo họ, sức lao động của con người ngày nay chủ yếu đã được chuyển sang cho các máy móc cực kỳ tinh vi với hiệu suất rất cao. Tỷ lệ giá trị của lao động sống không thể so với giá trị do máy móc làm ra, do đó, theo họ, máy móc hiện đại mới là cái sản xuất ra giá trị thặng dư, nghĩa là nhà tư bản bây giờ chỉ còn bóc lột máy móc chứ không phải bóc lột công nhân!

Thật ra, như K. Marx đã từng nói: “… Những máy móc có một sức mạnh kỳ diệu trong việc giảm bớt lao động của con người và làm cho lao động của con người có kết quả hơn, thì lại đem nạn đói và tình trạng kiệt quệ đến cho con người. Những nguồn của cải mới, từ xưa tới nay chưa ai biết, dường như do một sức mạnh thần kỳ nào đó lại đang biến thành nguồn gốc của sự nghèo khổ. Nhận xét đó của K. Marx vẫn rất đúng trong điều kiện hiện nay. Máy móc, dù có hiện đại đến đâu chăng nữa, cũng vẫn không thể thiếu được sức lao động của con người. Hơn thế nữa, máy móc càng hiện đại, càng tạo ra nhiều sản phẩm hơn, các sản phẩm càng có hàm lượng từ thức nhiều hơn thì lại càng đòi hỏi chất lượng lao động cao hơn, tri thức nhiều hơn, do đó, càng không thể thiếu được công nhân tri thức. Nghĩa là, sản xuất, dù hiện đại đến đâu, cũng không thể thiếu được sức lao động của con người, của người công nhân, của kỹ sư, của nhà khoa học, tức là không thể thiếu được lao động sống. Vậy, nhà tư bản lấy lợi nhuận ở đâu, có chiếm đoạt giá trị thặng dư ở đây không? Chắc chắn không khó để trả lời. Chính K. Marx đã chỉ rõ rằng, sự sản xuất ra giá trị thặng dư là quy luật tuyệt đối của sản xuất tư bản chủ nghĩa, không có lợi nhuận thì không một nhà tư bản nào chịu bỏ vốn để sản xuất, kinh doanh, mà nhuận chỉ là hình thái thứ sinh, phái sinh và được biến đổi của giá trị thặng dư, là hình thái tư sản trong đó đã xoá hết những nguồn gốc của nó”. Dường như có người đã không biết, hoặc đã cố tình quên đi sự luận chứng rất quan trọng và khoa học này của K. Marx về mối quan hệ giữa lợi nhuận và giá trị thặng dư. Rõ ràng là, trong thời đại hiện nay, hình thức bóc lột có thay đổi, đã trở nên khó nhận biết hơn, tinh vi hơn và khác hơn so với thời của K. Marx, nhưng bản chất bóc lột của tư bản thì không khác. Đó chính là nguồn gốc, là nguyên nhân dẫn đến hố ngăn cách giữa người giàu và người nghèo, giữa những nước giàu và những nước nghèo hiện nay trên thế giới, kể cả ở các nước tư bản phát triển nhất, đang ngày một doãng ra với tốc độ ngày càng nhanh hơn.

Từ hai vấn đề quan trọng trên, có thể nói rằng, những học thuyết quan trọng của K. Marxkhông hề lỗi thời, nếu chúng không bị tuyệt đối hoá, nếu như nghiên cứu và vận dụng chúng theo tinh thần biện chứng chứ không phải một cách giáo điều, xơ cứng. Điều này không chỉ chúng ta nói và tin, mà ngay cả nhiều nhà triết học phương Tây nổi tiếng cũng tin như vậy. Và, chắc lòng tin đó của họ không thể coi là xuất phát từ hệ tư tưởng, mà chính là từ những sự trải nghiệm, sự phân tích thực tiễn và sự tổng kết lý luận của chính họ. Jacques Derida, trong Những bóng ma của Marx đã dẫn ra ở trên, khi thừa nhận rằng, “tất cả mọi người trên toàn trái đất này, dù họ muốn, họ biết hay là không, đều là những người kế thừa của Marx và chủ nghĩa Marx với một mức độ nhất định”, đã khẳng định: “Luôn luôn sẽ là một sai lầm, nếu không đọc đi đọc lại và tranh luận những tác phẩm của Marx … Đó sẽ càng ngày càng là một sai lầm, một sự thiếu trách nhiệm về mặt lý luận, triết học và chính trị… Sẽ không có tương lai khi không có trách nhiệm đó. Không có nếu không có K. Marx không có tương lai mà lại không có Marx . Nếu không có ký ức về Marx và không có di sản của Marx “.

Chủ nghĩa Marx không chết, chủ nghĩa cộng sản được xây dựng dựa trên các học thuyết chân chính của K. Marx không chết như một số người từng tuyên bố. K. Marx vẫn sống với nhân loại không chỉ ở thế kỷ XXI, bởi những di sản của K. Marx đã trở thành tài sản chung của cả nhân loại và sẽ mãi mãi là như vậy, bởi như Michel Vadée – nhà triết học, thành viên của Trung tâm nghiên cứu và tư liệu về Hê ghen và Marx thuộc Trung tâm nghiên cứu khoa học quốc gia Pháp, đã nhận định rằng, “tư tưởng của Marx đã “được biết đến nhiều: nó đã cắm sâu vào thế giới”.

S.T [http://reds.vn/index.php/chinh-tri/cnxh-cntb/2236-the-ky-xxi-karl-marx-da-chet]

Hàng loạt ảnh vệ tinh vừa được công bố cho thấy những lá cờ Mỹ vẫn tung bay trên Mặt trăng. Tuy nhiên, các nhà khoa học cho rằng, khó có thể nhận ra đó từng là cờ Mỹ.

 

 

Theo phân tích của các chuyên gia nghiên cứu Mặt trăng, những màu sắc trên quốc kỳ Mỹ như đường sọc hay các ngôi sao khó có thể tồn tại sau khi chịu tác động trực tiếp của bức xạ Mặt trời. Những lá cờ vẫn tồn tại trênMặt trăng nhưng chúng hoàn toàn là màu trắng.

Quốc kỳ Mỹ được cắm trên Mặt trăng.

Ngay cả ở Trái đất, những lá cờ vẫn sẽ bị phai màu theo thời gian dù được tầng khí quyển bao bọc và hấp thụ tia bức xạ Mặt trời. Quá trình đó diễn ra với tốc độ nhanh hơn nhiều trên bề mặt Mặt trăng bởi vệ tinh duy nhất của Trái đất không có tầng khí quyển bao bọc.

Ngoài ra, bề mặt Mặt trăng không có bóng râm nên ánh nắng chiếu vào vào các lá cờ là không đổi trong suốt 43 năm qua. Chính vì lẽ đó, những lá cờ Mỹ do phi hành gia đội tàu Apollo cắm dưới bề mặt vệ tinh duy nhất của trái đất đang bị “tẩy trắng” với tốc độ cực nhanh.

Thêm vào đó, trong một tháng, 6 lá cờ được các phi hành gia Mỹ cắm trênMặt trăng phải trải qua 14 ngày thiêu đốt với nhiệt độ 150 độ C và 14 ngày còn lại chìm trong bóng tối với nhiệt độ -150 độ C. Như vậy, những lá cờ bằng nylon trị giá 5,5 USD do công ty sản xuất cờ Annin Flagmakers chế tạo phải tồn tại trong điều kiện nóng lạnh bất thường, chênh nhau 300 độ C trong 1 tháng, lặp lại đều đặn trong suốt 43 năm qua.

Với những điều kiện khắc nghiệt cộng với bức xạ tử ngoại từ ánh sáng mặt trời, biểu tượng của nước Mỹ trên Mặt trăng khó tránh khỏi khả năng bị tẩy trắng. Thậm chí, một trong số chúng có thể phân rã vì những tác động của điều kiện khắc nghiệt. Nếu được xác thực, đó sẽ là cú sốc đối với người Mỹ khi trên Mặt trăng không còn cờ của họ.

HỒNG DUY

Theo Infonet.vn

Những loài động vật lưỡng cư kỳ lạ nhất

 

Trải qua quá trình tiến hóa, một số loài động vật lưỡng cư đã có những đặc điểm kinh ngạc về hành vi và hình dạng cơ thể. Tạp chí khoa học Anh New Scientist vừa giới thiệu 6 loài động vật lưỡng cư có những đặc điểm kỳ lạ nhất.

1. Ếch cây harlequin

 

Ếch cây harlequin. Ảnh: Chien Lee/Minden Pictures/FLPA

 

Ếch cây harlequin (tên khoa học Rhacophorus pardalis) sống trên cao trong những tán rừng già ở đảo Borneo (Đông Nam Á). Chúng có thể lượn cơ thể như “bay” từ cây này sang cây khác. Trong ảnh là 2 con ếch đực đang “tranh giành” một con cái đang tạo ổ bọt đẻ trứng. Khi trứng nở, nòng nọc sẽ rớt xuống ao ở phía dưới.

2. Ếch thủy tinh có hình mắt lưới

 

Ếch thủy tinh có hình mắt lưới. Ảnh: Hiroya Minakuchi/Minden Pictures/FLPA

 

Ếch thủy tinh có hình mắt lưới (tên khoa học Hyalinobatrachium valerioi) được tìm thấy tại các khu rừng mưa ở Costa Rica. Nó có lớp da gần như trong suốt, do đó hầu như con người khó nhận thấy khi nó bám trên lá cây.

3. Cóc hang Mexico

 

Cóc hang Mexico. Ảnh: Photo Researchers/FLPA

 

Cóc hang Mexico (tên khoa học Rhinophrynus dorsalis) dành phần lớn cuộc sống dưới lòng đất. Nó chỉ xuất hiện khi mùa mưa đến để sinh sản và kiếm ăn côn trùng như mối và kiến. Điều khác thường là loài cóc này không có họ hàng – là loài duy nhất trong chi cóc Rhinophrynus.

4. Động vật lượng cư dạng giun

 

Động vật lưỡng cư dạng giun Typhlonectes natans. Ảnh: Photo Researchers/FLPA

 

Nhóm động vật lưỡng cư dạng giun (Caecilians) trông bề ngoài giống như giun và rắn. Đây là nhóm động vật lưỡng cư sống dưới lòng đất và con người ít biết những thông tin về chúng. Riêng loài động vật lưỡng cư dạng giun Typhlonectes natans ở Venezuela có thể sống dưới nước và nó thường được bán như “thú cưng của bể nuôi thủy sinh”.

5. Sa giông mào lớn Triturus cristatus

 

Sa giông mào lớn Triturus cristatus. Ảnh: Rene Krekels/FN/Minden/FLPA

 

Được tìm thấy trên khắp châu Âu, sa giông mào lớn Triturus cristatus đang được bảo vệ nghiêm ngặt vì số lượng loài này đang sụt giảm. Con đực có mào có nhiều đốm đen nằm dọc theo sống lưng. Ấu trùng loài này sẽ phát triển đến khi trưởng thành – quá trình này diễn ra hầu như ở trên cạn. Con cái trưởng thành sẽ trở về dưới nước để sinh sản vào mùa xuân.

6. Kỳ nhông khổng lồ Trung Quốc

 

Kỳ nhông khổng lồ Trung Quốc. Ảnh: Ken Lucas/Visuals Unlimited/Getty

 

Kỳ nhông khổng lồ Trung Quốc Andrias davidianus là động vật lưỡng cư lớn nhất thế giới, có thể phát triển chiều dài cơ thể đến 1,8m. Tuy nhiên, kích thước này là quá nhỏ bé so với loài lưỡng cư Prionosuchus đã tuyệt chủng có chiều dài cơ thể đến 9m.

Thiên Nhiên [VietNamNet.vn]

Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ gồm:
– Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu (Mẫu HK02)
– Bản khai nhân khẩu (Mẫu HK01) (đối với nhân khẩu từ đủ 14 tuổi trở lên)
– Giấy chuyển hộ khẩu (mẫu HK07) (đối với các trường hợp phải cấp giấy chuyển hộ khẩu quy định tại khoản 2 Điều 28 Luật Cư trú);
– Giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp thuộc quyền sở hữu của công dân (quy định tại Điều 5 Nghị định số l07/2007/NĐ-CP) (trừ trường hợp được người có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu của mình):
+ Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở hoặc giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở do cơ quan có thẩm quyền cấp qua các thời kỳ;
+ Giấy tờ về quyền sử dụng đất ở theo quy định của pháp luật về đất đai (đã có nhà ở trên đất đó);
+ Giấy phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng (đối với trường hợp phải cấp giấy phép);
+ Hợp đồng mua bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước hoặc giấy tờ về hoá giá thanh lý nhà ở thuộc sở hữu nhà nước;
+ Hợp đồng mua nhà ở hoặc giấy tờ chứng minh việc đã bàn giao nhà ở, đã nhận nhà ở của doanh nghiệp có chức năng kinh doanh nhà ở đầu tư xây dựng để bán;
+ Giấy tờ về mua, bán, tặng, cho, đổi, nhận thừa kế nhà ở có công chứng hoặc chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn;
+ Giấy tờ về giao tặng nhà tình nghĩa, nhà tình thương, nhà đại đoàn kết, cấp nhà ở, đất ở cho cá nhân, hộ gia đình di dân theo kế hoạch của Nhà nước hoặc các đối tượng khác;
+ Giấy tờ của Toà án hoặc cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền giải quyết cho được sở hữu nhà ở đã có hiệu lực pháp luật;
+ Giấy tờ có xác nhận của UBND cấp xã về nhà ở, đất ở không có tranh chấp quyền sở hữu nhà ở, quyền sử dụng đất ở nếu không có một trong các giấy tờ nêu trên;
+ Giấy tờ chứng minh về đăng ký tàu, thuyền, phương tiện khác thuộc quyền sở hữu và địa chỉ bến gốc của phương tiện sử dụng để ở. Trường hợp không có giấy đăng ký thì cần có xác nhận của UBND cấp xã về việc có tàu, thuyền, phương tiện khác sử dụng để ở thuộc quyền sở hữu hoặc xác nhận việc mua bán, tặng cho, đổi, thừa kế tàu, thuyền, phương tiện khác và địa chỉ bến gốc của phương tiện đó.
* Giấy tờ chứng minh việc cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ chỗ ở hợp pháp là các loại hợp đồng, cam kết cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà ở, nhà khác của cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân (trường hợp hợp đồng, cam kết cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà của cá nhân phải có công chứng hoặc xác nhận của UBND cấp xã);
* Giấy tờ của cơ quan, tổ chức, cơ sở tôn giáo về việc công dân có chỗ ở thuộc trường hợp quy định tại điểm c, điểm d khoản 1 Điều 26 của Luật Cư trú:
+ Thương binh, bệnh binh, người thuộc diện chính sách ưu đãi của Nhà nước, người già yếu, cô đơn, người tàn tật và các trường hợp khác được cơ quan, tổ chức nuôi dưỡng, chăm sóc tập trung;
+ Chức sắc tôn giáo, nhà tu hành hoặc người khác chuyên hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo mà sống tại cơ sở tôn giáo.
* Giấy tờ của cơ quan, tổ chức do thủ trưởng cơ quan, tổ chức ký tên, đóng dấu chứng minh về việc được cấp, sử dụng nhà ở, chuyển nhượng nhà ở, có nhà ở tạo lập trên đất do cơ quan, tổ chức giao đất để làm nhà ở (đối với nhà ở, đất thuộc thẩm quyền quản lý của cơ quan, tổ chức) hoặc xác nhận của UBND cấp xã là nhà ở đó không có tranh chấp về quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng.
Đối với trường hợp chỗ ở hợp pháp là nhà ở do thuê, mượn, ở nhờ của của cá nhân hoặc được người có sổ hộ khẩu đồng ý cho nhập vào sổ hộ khẩu của mình thì người cho thuê, cho mượn, cho ở nhờ nhà ở của mình hoặc người có sổ hộ khẩu phải ghi rõ ý kiến đồng ý cho đăng ký thường trú vào phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu, ký, ghi rõ họ, tên và ngày, tháng, năm.
Đối với trường hợp có quan hệ gia đình là ông, bà, cha, mẹ, vợ, chồng, con và anh, chị, em ruột, cháu ruột chuyển đến ở với nhau thì không phải xuất trình giấy tờ, tài liệu chứng minh chỗ ở hợp pháp, nhưng phải xuất trình giấy tờ chứng minh mối quan hệ nêu trên để làm căn cứ ghi vào sổ hộ khẩu.

*Hồ sơ đăng ký thường trú đối với một số trường hợp cụ thể:
Ngoài giấy tờ có trong hồ sơ đăng ký thường trú nêu trên, các trường hợp dưới đây phải có thêm giấy tờ sau:
+ Người chưa thành niên nếu không đăng ký thường trú cùng cha, mẹ; cha hoặc mẹ mà đăng ký thường trú cùng với người khác thì phải có sự đồng ý bằng văn bản của cha, mẹ; cha hoặc mẹ.
+ Người sống độc thân được cơ quan, tổ chức nuôi dưỡng, chăm sóc tập trung khi đăng ký thường trú thì cơ quan, tổ chức đó có văn bản đề nghị. Trường hợp được cá nhân chăm sóc, nuôi dưỡng tập trung thì cá nhân đó có văn bản đề nghị có xác nhận của UBND cấp xã. Văn bản đề nghị cần nêu rõ các thông tin cơ bản của từng người như sau: họ và tên, ngày, tháng, năm sinh, giới tính, quê quán, dân tộc, tôn giáo, số chứng minh nhân dân, nơi thường trú trước khi chuyển đến, địa chỉ chỗ ở hiện nay.
+ Trẻ em khi đăng ký thường trú phải có giấy khai sinh (bản chính hoặc bản sao có công chứng hoặc chứng thực).
+ Người sống tại cơ sở tôn giáo khi đăng ký thường trú phải có giấy tờ chứng minh là chức sắc tôn giáo, nhà tu hành hoặc người khác chuyên hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo.
+ Người Việt Nam định cư ở nước ngoài vẫn còn quốc tịch VN trở về nước sinh sống có một trong các giấy tờ sau: Hộ chiếu VN hoặc giấy tờ thay hộ chiếu VN có đóng dấu kiểm chứng nhập cảnh của lực lượng kiểm soát xuất nhập cảnh tại cửa khẩu; Giấy tờ chứng minh còn quốc tịch VN do cơ quan đại diện VN ở nước ngoài cấp, kèm theo giấy tờ chứng minh được về VN thường trú của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; Giấy chứng nhận có quốc tịch Việt Nam do UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, kèm theo giấy tờ chứng minh được về nước thường trú của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Bước 2: Nộp hồ sơ tại Đội CSQLHC về TTXH Công an cấp huyện
* Thời gian: Từ thứ 2 đến sáng thứ 7 hàng tuần (ngày lễ nghỉ).
Cán bộ tiếp nhận hồ sơ kiểm tra hồ sơ viết giấy biên nhận trao cho người nộp. Nếu thiếu, hoặc không hợp lệ thì cán bộ tiếp nhận hồ sơ hướng dẫn làm lại.
Bước 3: Nhận Sổ hộ khẩu tại trụ sở Công an cấp huyện
– Người nhận đưa giấy biên nhận từ thứ 2 đến sáng thứ 7 hàng tuần (ngày lễ nghỉ) để nhận lại hổ khẩu và nộp lệ phí (trừ trường hợp được miễn).
+ Thời hạn giải quyết: Không quá 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ theo quy định.
+ Lệ phí đăng ký cư trú: không quá 15.000đ/lần đăng ký (không quá 10.000đ/lần đăng ký đối với trường hợp không cấp sổ hộ khẩu) đối với các quận của thành phố trực thuộc TƯ hoặc phường nội thành của thành phố thuộc tỉnh. Đối với các khu vực khác, mức thu tối đa bằng 50% mức thu trên. Mức thu cụ thể do HĐND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định.
+ Không thu lệ phí đăng ký thường trú đối với các trường hợp: bố, mẹ, vợ (hoặc chồng) của liệt sĩ, con dưới 18 tuổi của liệt sĩ; thương binh, con dưới 18 tuổi của thương binh; Bà mẹ VNAH; hộ gia đình thuộc diện xoá đói, giảm nghèo; công dân thuộc xã, thị trấn vùng cao theo qui định của Uỷ ban Dân tộc.

Lưu ý:
– Những trường hợp bị xóa tên trong sổ đăng ký thường trú và trong hộ khẩu cũ vì đi khỏi nơi cư trú trong thời gian dài nhưng không đăng ký tạm vắng thì hồ sơ xin đăng ký thường trú gồm:

+ Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu (theo mẫu);
+ Bản khai nhân khẩu (theo mẫu);
+ Giấy chuyển hộ khẩu và giấy này cần phải có giấy xác nhận nơi trước đây đã đăng ký thường trú.
Hồ sơ đề nghị xác nhận gồm: (Gửi đến cơ quan đã đăng ký thường trú trước đây).
+ Phiếu báo thay đổi hộ khẩu, nhân khẩu (theo mẫu);
+ Giấy tờ chứng minh trước đây có hộ khẩu thường trú (nếu có).
– Ngoài những quy định về thủ tục nói trên, người muốn nhập hộ khẩu phải có giấy tờ chứng minh chỗ ở hợp pháp.
+ Nếu ở thuê, ở nhờ thì phải có văn bản đồng ý của chủ nhà.
+ Nếu nhập hộ khẩu về với gia đình thì không cần chứng minh chỗ ở hợp pháp, nhưng phải xuất trình giấy tờ chứng minh mối quan hệ để làm căn cứ ghi vào sổ hộ khẩu (đăng ký kết hôn, giấy khai sinh, sổ hộ khẩu, xác nhận của UBND cấp xã nơi cư trú hoặc giấy tờ chứng minh quan hệ cha mẹ và con; cha mẹ nuôi và con nuôi…).
– Trường hợp đăng ký thường trú tại thành phố trực thuộc TW cần có thêm một trong các giấy tờ sau:
+ Có chỗ ở hợp pháp và đã tạm trú liên tục tại thành phố đó từ 1 năm trở lên (kể từ ngày đăng ký tạm trú đến ngày nộp hồ sơ đăng ký thường trú; tạm trú liên tục tại một chỗ hay tạm trú liên tục tại nhiều chỗ ở thành phố đó trong thời gian tổng cộng từ 1 năm trở lên). Cần một trong các giấy tờ sau để chứng minh thời hạn tạm trú: Giấy tờ về tạm trú có thời hạn hoặc xác nhận của công an phường, xã, thị trấn về thời gian tạm trú trước ngày 1.7.2007, Sổ tạm trú hoặc xác nhận của công an xã, phường, thị trấn về thời gian đăng ký tạm trú (với các trường hợp đăng ký tạm trú nhưng không cấp sổ tạm trú). Nếu có người đồng ý cho nhập vào hộ khẩu của mình thuộc một trong các trường hợp: vợ về ở với chồng, mẹ về ở với con thì không cần chứng minh chỗ ở hợp pháp và chứng minh đã tạm trú liên tục từ 1 năm trở lên.

“Chuyện bi thương đối với người chiến sĩ hình sự là chuyện hàng ngày… Té ngã và đổ máu là chuyện thường con à. Nhưng một mình ba chết đã đành, đằng này ba đã vô tình làm khổ cả mẹ con!”.

Nguyễn Thành Dũng, nguyên Trung úy CSHS Công an quận 11, TP HCM, viết trong nhật ký khi biết mình bị lây nhiễm HIV.

Anh đã hy sinh ngày 13/6/2006, sau 5 năm gắng gượng chiến đấu với căn bệnh HIV mà anh vô tình bị lây nhiễm. Vợ của Dũng cũng đã ra đi vào tháng 12/2005. Họ để lại một đứa con nhỏ vừa qua tuổi lên 10. Hình ảnh bé Nguyễn Duy Minh quỳ lặng bên quan tài cha mình khiến những người có mặt đều rơi nước mắt. Nỗi đau quá lớn đối với bé, chỉ trong 6 tháng, cả cha lẫn mẹ đều lần lượt ra đi…

Đổ máu vì cuộc sống bình yên

Nguyễn Thành Dũng sinh ra và lớn lên ở xóm đình Tân Liễu, huyện Bình Chánh nghèo khó. Ba của Dũng đi biền biệt từ khi Út Dũng còn nhỏ xíu, một tay mẹ của Dũng tảo tần nuôi chị em Dũng lớn khôn. Dũng lớn lên trong tình thương của mẹ, điều ấy thôi thúc Dũng gắng học để sớm đỡ đần cho mẹ.

Năm 1988, Dũng thi đậu vào Trường Cao đẳng Sư phạm nhưng sự nghèo khó đã ngăn bước Dũng trở thành thầy giáo như ước mơ thuở nhỏ. Tháng 9/1989, Nguyễn Thành Dũng thoát ly gia đình vào lực lượng Công an với chế độ nghĩa vụ quân sự. Dũng bảo, mình tự nguyện vào lực lượng Công an chỉ đơn giản vì hồi đó còn nhiều tội phạm quá…

Tháng 11/1992, Dũng thi đậu và học tại Trường Trung học Cảnh sát nhân dân tại Thủ Đức. Dũng chọn học chuyên ngành Cảnh sát hình sự để đấu tranh chống cướp, trộm cắp, lừa đảo, cờ bạc, mại dâm, ma túy, lưu manh, côn đồ theo như tâm nguyện vào lực lượng Công an của mình. Dũng biết chuyên ngành mình theo là nguy hiểm! Trong hồi ký của mình, Dũng đã ghi lại rằng: “Tôi đã học được những cái hay, phẩm chất tốt đẹp của người chiến sĩ Công an nhân dân và mong mỏi sẽ phấn đấu để phục vụ suốt đời cho ngành, cho nhân dân”.

Tháng 8/1994, đồng chí Nguyễn Thành Dũng nhận quyết định về công tác tại Đội Cảnh sát hình sự Công an quận 11. Trung úy Nguyễn Thành Dũng bắt đầu cuộc chiến đấu cam go khốc liệt với đủ loại tội phạm. Các đồng chí chỉ huy Công an quận khi ấy nhận xét về Dũng rằng: “Một chiến sĩ hình sự có vóc người nhỏ con nhưng sự dũng cảm thì ngược lại…”.

Người viết là một trong số ít người đầu tiên được biết tin Dũng bị phơi nhiễm HIV, cũng là một trong số những người cùng đồng đội thường xuyên ghé thăm vợ chồng Dũng từ khi họ bị bệnh tại căn nhà nhỏ tuềnh toàng tại xã Hưng Long, huyện Bình Chánh. Dũng cũng không biết bản thân mình bị lây nhiễm HIV trong trường hợp nào, anh chỉ ân hận một điều rằng: “Mình không biết sớm để tránh lây nhiễm cho vợ”.

Tháng 10/1998, khu vực bãi đất trống – bây giờ là Trường học Chu Văn An, quận 11, là một ổ buôn bán ma túy. Sau thời gian điều tra, Công an quận 11 quyết định tung một mẻ lưới. Khi các CSHS ập vào, bọn tội phạm cũng chống trả quyết liệt hòng tẩu thoát, Dũng được phân công “chăm sóc” một tên cao to và bặm trợn với những hình xăm vằn vện trên tay.

Dũng đã bị hắn đâm nhiều nhát dao vào người, máu anh và máu tên tội phạm cùng đổ rồi hai người vật lộn trên một đống xà bần, cuối cùng tên tội phạm cũng phải chịu thúc thủ tra tay vào còng trước sự dũng cảm của anh.

Tháng 4/2001, sau một đợt truy quét những đối tượng tổ chức lấy chồng Đài Loan tại Công viên Lãnh Binh Thăng, Dũng thấy nhiều kim tiêm còn dính đầy máu tươi của những con nghiện vương vãi nhiều nơi ở công viên, sợ người ta giẫm phải, khu vực này lại nhiều trẻ con thường xuyên chạy nhảy nô đùa, Dũng lặng lẽ nhặt từng chiếc đem bỏ vào bịch, sơ ý một ống kim rơi xuống làm chân anh chảy máu…

Tháng 2/2002, Dũng bị sốt cao kéo dài vào mỗi lúc hoàng hôn, nghĩ bị sốt rét, anh vào nằm Viện 30/4 và xét nghiệm máu. Cầm tờ giấy xét nghiệm trên tay, vợ anh bật khóc nức nở, còn anh thì chết lặng…

Cuốn hồi ký viết dở

Lúc còn sống, Dũng tâm sự với tôi: “Mình chỉ hy vọng được sống tới ngày cu Bi (con anh) lớn khôn, đến ngày tự nó có thể lo cho nó, vậy là mình mãn nguyện lắm rồi!”. Anh đã không sống được đến ngày đó…

Đầu năm 2006, trong bệnh viện, khi sức khỏe của anh như ngọn đèn leo lét trước gió, anh bảo anh sẽ viết hồi ký để lại cho con trai anh. Con anh còn quá nhỏ, những lời dặn dò của Dũng bây giờ, anh sợ bé sẽ mau quên. Anh muốn ghi lại một phần đời ngắn ngủi của mình, sau này, một ngày nào đó, con anh đọc, nó sẽ tự hiểu về người cha, người mẹ của nó.

… Ngày 26/1/1995 thì đám cưới của ba và mẹ được tiến hành. Một đám cưới giản dị nhưng tràn đầy hạnh phúc.

Đầu tháng 4/1995, mẹ báo tin vui cho ba biết là mẹ đã có thai, ba mừng quá ôm mẹ nâng cao và hôn nhẹ vào bụng mẹ: “Cám ơn em, anh ước gì nó là con trai…”. Mẹ cười: “Em thì trai gái gì cũng được”. Lúc này, lương chiến sĩ cũng nghèo lắm, nhưng ba cố dành dụm để lo cho con.

Rồi 9 tháng cũng qua, ngày 24/1/1996, ba mừng đến rơi nước mắt khi nghe tiếng khóc chào đời của con.

Cuộc sống của gia đình ta thật hạnh phúc…

Con là hoàng tử của ba, con đi học về là lại hát cho ba nghe… Ba cầu mong sao cuộc sống cứ êm đềm như thế. Dự định đến đầu năm 2003 thì sẽ sanh cho con một đứa em nữa cho vui cửa vui nhà…

Dũng công tác xa, hai ba ngày mới về, lo mảnh vườn ao cá, dạy thằng nhóc bi bô học, rồi lại đi. Vợ Dũng ở nhà, một tay lo toan mọi việc.

Vào tháng 10/1998, trong một lần kết hợp với Công an phường 8, quận 11 mai phục triệt phá một ổ buôn bán ma túy, ba bị tai nạn. Một tên tội phạm ma túy đã vật lộn và đâm ba, có lẽ nó đã bị bệnh HIV… Tháng 11/2000, trong khi trinh sát tại Công viên Lãnh Binh Thăng, ba bị một đối tượng dùng kim tiêm đâm lén từ phía sau rồi bỏ chạy, trời tối và đang làm nhiệm vụ, ba không đuổi theo. Về đơn vị, bác đội phó kêu ba đi chích ngừa, nhưng ba đã không đi…

Anh vào nằm viện trong nỗi chán chường, tuyệt vọng, thường lảm nhảm những câu vô nghĩa rồi tự cười một mình, cười khanh khách mà vô cảm. Chị cũng bệnh nhưng thấy anh tuyệt vọng, chị không cho phép mình gục ngã, hàng ngày chị đến bên anh, đút cho anh từng miếng sữa!

Về đến nhà, chị tự nhốt mình trong phòng, những giọt nước mắt cứ lăn dài trên gò má gầy gò. Chị sợ sẽ không còn nhiều ngày để lo cho anh, cho con khi mình đổ bệnh… Nghĩ đến chuyện anh đang nằm bệnh viện một mình, sợ anh nghĩ quẩn, chị lại tất tả đi vào trong bệnh viện và tự nhủ sẽ luôn ở bên anh, không cho anh biết là mình cũng đang đau khổ…

Anh bớt bệnh cũng là lúc chị kiệt sức, mấy tháng trời đi từ nhà lên Bệnh viện Nhiệt Đới gần 30 cây số lo cho anh rồi về lo cho con, chăm sóc người mẹ già 75 tuổi thi thoảng phát bệnh tâm thần đã gần lú lẫn của anh, chăm nom mảnh vườn, thửa ruộng của gia đình vượt quá sức chịu đựng đối với người phụ nữ.

Bệnh, chị vẫn gượng cười và mong anh đừng tuyệt vọng, trong hơi thở thều thào, chị thì thầm bên tai anh: “Còn con, còn mẹ, anh ơi”! Nghe vậy, anh bật khóc bên giường bệnh của chị, những nỗi buồn đau kìm nén bao lâu nay trong người đàn ông tưởng chừng như không bao giờ được khóc bật nên rưng rức.

Những ngày khó khăn của gia đình Dũng, các đồng đội đã từng kề vai sát cánh bên anh trong những ngày cùng truy quét tệ nạn xã hội vẫn thay nhau đến để giúp đỡ, động viên, người mang đến lon sữa, trái cam và nhiều khi là một miếng thịt heo tươi rói để anh nấu cháo cho chị. Nhiều anh em đến ngủ lại và kể cho anh nghe những cuộc truy quét mới, báo cho anh biết quận 11 đã được thành phố công nhận là địa bàn không còn ma túy. Nghe vậy anh vui lắm, trong chiến công ấy anh đã góp một phần công sức và cả máu của mình!

Anh có được sự hỗ trợ tiền thuốc điều trị từ lực lượng Công an nhưng còn chị, chị phải tự chịu chi phí thuốc men cho mình, cũng bởi những trường hợp như chị xưa nay chưa có nên không được hưởng chế độ trợ cấp. Để lo tiền thuốc men cho chị, đồ đạc trong nhà cứ lần lượt ra đi, tiền thuốc điều trị khi ấy quá đắt so với khả năng của gia đình, căn nhà chung cư cơ quan cấp cho phải sang tay gấp cho người ta, hai công đất mà cha mẹ để lại cũng phải bán nốt. Cơ quan, đồng đội vẫn đóng góp hàng tháng lo cho anh chị nhưng không thấm vào đâu so với số tiền quá lớn hàng ngày anh chị phải bỏ ra mua thuốc.

Nhiều tháng nhà không còn tiền, chị bỏ không dùng thuốc nữa, anh không chịu, anh nhường thuốc cho chị. Nhưng người có HIV phải thường xuyên dùng thuốc nếu không thuốc sẽ vô hiệu, biết vậy, chị ép anh uống nếu không chị… tự tử. Anh ngoan cố bảo: “Em có mệnh hệ gì thì ai lo cho mẹ, cho con”.

Anh nhường chị, chị nhường anh, họ cứ nhường từng viên thuốc cho nhau trong khi bệnh tình của hai người mỗi ngày một nặng.

Niềm an ủi duy nhất, hạnh phúc duy nhất của hai vợ chồng Dũng là bé Nguyễn Duy Minh xét nghiệm âm tính. Những ngày sau đó, hai vợ chồng Dũng cứ kìm nén nỗi khao khát được ôm thằng bé vào lòng. Anh thú thật với tôi rằng: “Nhiều khi nghĩ quẩn, mình và vợ muốn chết cho xong nhưng chỉ lo cho thằng bé, mẹ già…”.

Ban Chỉ huy Công an quận 11 và Ban Chỉ huy Đội CSHS của ba đã hết lòng an ủi và khuyên ba và mẹ bình tĩnh, có chuyện gì thì cơ quan hết lòng giúp đỡ, không được nghĩ quẩn, dù sao vẫn còn hy vọng là con…

Nhiều đêm thằng bé ngủ, anh chị muốn đặt môi vào đôi má bầu bĩnh của con nhưng rồi lại sợ, sợ lây nhiễm qua thằng bé, nỗi sợ vô hình cứ đẩy anh chị phải xa con nhỏ. Những giọt nước mắt của người mẹ nhiều đêm rớt lên đôi má con trẻ ấy. Chỉ tội cháu bé vô tư, thấy ba mẹ ở đâu là sấn vào bá vai ôm cổ, anh chị phải cắn răng kiên quyết từ chối tình cảm thiêng liêng ấy! Khi phát bệnh nặng, vợ chồng Dũng đã gửi hẳn bé Minh về ở bên ngoại.

Ngày 3/4/2005, phái đoàn của UBND quận 11 do bà Võ Thị Mỹ dẫn đầu xuống thăm ba và còn hứa giúp đỡ cho 1 căn nhà ở quận 11 để ba có điều kiện tiện đi chữa bệnh. Ba được an ủi phần nào, Đảng không bỏ ba, Nhà nước không bỏ ba, đồng đội không quên ba…

Ba chỉ tội cho mẹ của con…

Gia đình đồng chí Nguyễn Thành Dũng cũng mong chúng tôi thay lời, gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Ban Biên tập Báo CAND, đến độc giả của Báo CAND – Chuyên đề ANTG, những nhà hảo tâm đã giúp đỡ gia đình đồng chí Nguyễn Thành Dũng rất nhiều trong thời gian vợ chồng anh điều trị (sau bài viết đăng trên Chuyên đề ANTG).

Gia đình cũng chân thành cảm ơn Ban Biên tập Báo Công an TP Hồ Chí Minh, tờ báo đã nhận tài trợ học bổng cho cháu Nguyễn Duy Minh; Ban Biên tập và độc giả Báo Pháp luật, Báo Tuổi trẻ. Báo Tuổi trẻ cũng đã nhận nuôi dưỡng cháu Nguyễn Duy Minh.

Hồi ký của đồng chí Dũng kết thúc ở đây, những ngày cuối tháng 4, Dũng yếu lắm rồi, dù muốn viết thêm nhiều nữa nhưng Dũng cầm bút không nổi. Người thân của Dũng kể lại rằng: Những ngày sắp mất, nằm trong bệnh viện, Dũng muốn gặp bé Minh lắm nhưng Dũng sợ, ngày nào Dũng cũng gọi điện về nhà ngoại, chỉ để hỏi bé Bi ăn cơm chưa? Thèm nghe lắm một tiếng “Ba ơi”! Nhưng gần 6 tháng ròng rã, Dũng nén lòng và không một lần cho bé Minh lên bệnh viện thăm mình.

Lời tri ân cuối cùng

Đồng chí Nguyễn Thành Dũng trút hơi thở cuối cùng vào ngày 13/6/2006, sau 5 năm vợ chồng anh chống chọi với virus HIV từng giờ, từng phút cũng khốc liệt, cũng cam go như cuộc chiến đấu của anh và đồng đội với bọn tội phạm.

Ngày 14/6, Đại tá Lê Đông Phong – Phó Giám đốc Công an TP Hồ Chí Minh đã dẫn đầu đoàn đại biểu Công an thành phố về thắp hương viếng linh cữu đồng chí Nguyễn Thành Dũng. Trên quan tài anh, cờ đỏ sao vàng phủ kín. Sáng 15/6, đồng đội và người thân đã đưa Trung úy Nguyễn Thành Dũng về nơi an nghỉ cuối cùng, anh nằm lại sau một ngôi chùa, cạnh mộ vợ mình, mộ người vợ vẫn chưa kịp xanh cỏ…

Sáng 17/6, tôi và vài đồng nghiệp đã trở lại ngôi nhà xưa của anh Dũng ở xã Hưng Long, huyện Bình Chánh, thắp thêm một nén nhang, tôi đặt trang trọng lên bàn thờ anh tờ báo Chuyên đề ANTG số 562 có bài viết về anh, như một lời tri ân cuối cùng!

“Có cái chết hóa thành bất tử” – người viết xin mượn lời của nhà thơ Tố Hữu để thay lời kết. Đồng đội sẽ tiếp tục cuộc chiến đấu chống tội phạm, cái ác, tiếp tục sự nghiệp mà anh còn dang dở. Người thân và xã hội sẽ thay anh chị lo lắng cho đứa con nhỏ mồ côi của hai người…

========================
Theo CAND