Tag Archive:


Sự lạ ở một tên gọi quen – Kỳ cuối: Nhân sự theo cách Viettel (P2)

Canh trời giữ biển theo cách Viettel (P1)

TP – Thi thoảng gặp bộ ba trong Ban lãnh đạo của Tập đoàn Viettel, tôi hay chợt nghĩ đến chữ may! May cho ai? Cho cả ba, cho cơ chế? Chả biết! Mỗi người một tính nhưng may hợp cạ!

 

Một góc phòng làm việc của Viện
Một góc phòng làm việc của Viện.

 

Lại đương nói dở cái vận hội đang hồi hanh thông, thịnh đạt của Viettel. Lúc này, nếu ai nói Viettel đang có triệu chứng suy yếu ắt là… nhảm, là càn! Nhưng đôi hồi lại, chả phải không có lý? Trong dịch biến, thịnh và cực thịnh đã hàm chứa cái suy vậy. Vậy nên phải tính để khỏi suy.

Vậy Viettel đã tính thế nào? Ấy là sau khi bão hòa những là điện thoại để bàn, điện thoại di động và nhiều tiện ích thông tin khác, không ầm ĩ khua động giới truyền thông, Viettel lẳng lặng đầu tư thành công ở nước ngoài như Campuchia, Haiti, Mozambique… Viettel lẳng lặng đầu tư tiền vào Công ty phần mềm thu hút hơn 400 kỹ sư vào làm việc.

Nhanh chóng triển khai dây chuyền sản xuất thiết bị điện tử viễn thông (một tổ hợp có tên là M1 thu hút 350 kỹ sư). Rồi tiếp một tổ hợp sản xuất khuôn mẫu mang tên M3 với hơn 300 kỹ sư, nhân viên kỹ thuật.

Thi thoảng gặp bộ ba trong Ban lãnh đạo của Tập đoàn Viettel, tôi hay chợt nghĩ đến chữ may! May cho ai? Cho cả ba, cho cơ chế? Chả biết! Mỗi người một tính nhưng may hợp cạ! Tổng Giám đốc – Trung tướng Hoàng Anh Xuân cố hữu với cái nhìn lừ lừ và thường xồn xồn những khó khăn. Đang khó khăn lắm. Đang phải tìm cách mà vượt đây… Khó khăn ấy là chuyện kinh doanh mà Ban lãnh đạo đang phải đối mặt.

Còn Thiếu tướng, Bí thư Đảng ủy Dương Văn Tính cũng lại cố hữu với nụ cười cởi mở… Người ta nói ông là người tạo ra chất kết dính nội bộ, kiểu nói khác đi của hạt nhân đoàn kết.

Còn ông Phó Tổng Giám đốc, Thiếu tướng Nguyễn Mạnh Hùng thì luôn không để hai ông kia yên với những dự định táo bạo… Tôi nghe vậy thì chỉ biết vậy. Nhưng dứt khoát việc ra đời Trung tâm Nghiên cứu & Phát triển Viettel này chả phải là vô tình mà có trù tính kỹ càng cùng những lao tâm khổ tứ của ba vị ấy…

 

 Lúc này nếu ai nói Viettel đang có triệu chứng suy yếu ắt là… nhảm, là càn! Nhưng đôi hồi lại, chả phải không có lý?

Tôi tưởng nghe nhầm phải hỏi lại, thượng tá Viện trưởng Nguyễn Đình Chiến khi được thông báo rằng 34.000 tỷ đồng (vâng ba tư nghìn tỷ, ấy là lấy con số tròn), là số tiền Viettel được phép trích ra từ lợi nhuận trước thuế để đầu tư cho riêng Viện này trong công tác nghiên cứu! (Lẩn thẩn lẫn giật mình nghĩ đến gói cứu trợ bất động sản vừa tung ra nói nghe ghê khiếp nhưng cũng chỉ tròn 30.000 tỷ của Chính phủ!).

 

Có nghe thoáng qua những chế tài phân bổ vừa thoáng vừa chặt của các bộ phận ở Viện khi sử dụng đồng vốn đầu tư, nhưng tôi nghe kỹ hơn cơ chế tuyển dụng nhân sự hơi bị lạ của Viện.

Người vào làm ở Viện đích thị và dứt khoát phải là người tài và là người trẻ! Những cảm giác khâm phục tự hào khi hồi nãy ở gian chung rộng thênh, chúng tôi lướt qua hàng chục gương mặt trẻ măng (đó là mới một phòng của Viện) người cao nhất mới nhỉnh hơn 30 còn hầu hết chưa ai tới tuổi băm.

Gần trăm hồ sơ ngâm cứu, kiểm tra, gạn lọc mãi cũng chỉ nhặt được vài ba người. Nhân sự và cơ sở hạ tầng tính đến ngày 20/3/2013 là 441 người. Trong đó 33 tiến sĩ, 63 thạc sĩ chuyên ngành, đại học 244. Mục tiêu nhân sự đến năm 2015 sẽ là 1.000 người, năm 2020 sẽ là 2.500 người để Viện ứng lẫn xứng với tầm khu vực và quốc tế.

 

Một số khí tài thiết bị thông tin
Một số khí tài thiết bị thông tin.

 

Thu nhập tạm gọi là bình quân vài chục triệu một tháng cho mỗi kỹ sư, chuyên gia… rất nhiều người cao gấp đôi, gấp rưỡi thế. Tiền ? Chế độ đãi ngộ thỏa đáng? Cú hích để những người trẻ vào làm việc ở Viện, yếu tố đó cũng chỉ là một phần.

Ngồi một lát với các kỹ thuật viên hàm tiến sĩ, kỹ sư như Nguyễn Cương Hoàng chuyên ngành điện tử thông tin. Sinh năm 1978, Hoàng từng nhiều năm được đào tạo, làm việc ở Anh quốc. Nhiều nơi chào mời. Nhưng Hoàng đã chọn Viettel. Vì sao? Vì ở Viettel có nhiều cái open (mở) mà Hoàng nói đó là những cú hích, những gợi mở cho việc độc lập sáng tạo.

Nguyễn Lê Minh sinh 1980 – một chuyên gia hàng không được đào tạo ở Pháp. Minh đang tích cực, tự tin trong nhóm nghiên cứu dự án UAV- máy bay không người lái của Viện. Ngạc nhiên mới vừa xong sự kiện là Viện Công nghệ Không gian của Viện Khoa học Công nghệ Việt Nam chế tạo và thử nghiệm thành công dự án máy bay không người lái. Nay ở Viện này lại tiếp tục? Viettel chậm? Hay dự án, phương án của Viettel khác với UAV nọ? Hóa ra khác thật.

Qua Minh, tôi láng máng về một UAV độc đáo của Viện nay mai. Có lẽ không xa nữa thiết bị UAV của Viện, của riêng Viettel với trọng lượng, trần bay, tầm bay và tốc độ ưu việt nhất có thể, được lập trình một chế độ bay tự động với nhiều tiện ích phục vụ cho dân sự và quốc phòng. Cười thông cảm trước câu hỏi lẩn thẩn của tôi rằng sao không mua của nước ngoài? Thứ hàng với tính năng tác dụng như Minh nói sẵn quá mà? Công phu nghiên cứu làm gì? Hóa ra cung cách giải thích của Minh chính là Viện này đang phải tìm ra bí quyết- chủ quyền của Viettel cho riêng loại khí tài này.

Kiến thức, công nghệ có thể của nước ngoài nhưng phải do người mình, người của Viettel làm. Làm một cách sáng tạo theo kiểu Viettel. Có một dự án nếu mua của nước ngoài phải mất 10 triệu đô la, nhưng anh em ở Viện đã làm được theo cách riêng tốn chỉ 2 triệu đô la. Tướng Xuân chi thưởng vài tỷ. Láng máng biết thêm UAV của Viettel sẽ bay bằng chế độ điều khiển vô tuyến, bằng hệ thống điều khiển tự động sử dụng các cảm biến quán tính và nữa, sẽ có cả UAV hạng trung.

Còn Vũ Việt Tiến, một chuyên gia điện tử có 6 năm tu nghiệp ở Hàn Quốc thì chia sẻ cảm giác tự tin và tự hào rằng, qua bạn bè mách bảo, tìm đến Viện mới thấy Viện đã âm thầm táo bạo dựng nên cả một ngành công nghiệp phần mềm. Tiến cho rằng có thể Viettel là nhân tố nòng cốt để xây dựng nền công nghệ cao ở Việt Nam nên Tiến rất yên tâm làm việc ở Viện này.

 

Còn nhớ mùa hè năm 1972, Bộ Chính trị và các cơ quan hữu trách có một cuộc họp trọng thể đặng tìm ra câu trả lời nếu Mỹ dùng B52 đánh Hà Nội chúng ta sẽ đối phó ra sao. Hằng trăm cặp mắt đổ dồn vào Giáo sư (GS) Trần Đại Nghĩa khi ông phát biểu. Những tưởng vị GS khả kính đó sẽ trưng ra bí quyết hay thứ át chủ bài nào đó nhưng GS đã điềm đạm và khúc chiết rằng, các phương án đánh B52, quân chủng PKKQ đã có nhưng bí quyết vẫn là con người!

Con người- những người lính rađa trắc thủ, phòng không tên lửa đã làm nên lịch sử như thế đó!

Và thời điểm ấy nếu như bộ đội rada có được những thiết bị khí tài như ở Viện bây giờ? Nhưng tiếc lịch sử không có nếu! Chỉ có kế tổ tông chi nghiệp của những người lính Việt Nam trong các cuộc vệ quốc.

Cũng có nghe qua kế hoạch của Viện sẽ thành lập những công ty chi nhánh tại nước ngoài mà cụ thể là ở Hoa Kỳ. Nói sẽ, nhưng mọi việc đương trong tầm tay cả rồi. Nghe thấy như một kế hoạch đi tắt đón đầu của Viện? Chứ không à? Rất nhiều chuyên gia người Việt ở nước ngoài đang có nhu cầu làm việc liên hệ với Viettel nói chung và Viện. Nhưng có thể do hoàn cảnh gia đình, địa lý và lý do khó về Việt Nam thì họ sẽ tìm đến những vệ tinh của Viện Nghiên cứu & Phát triển đang có mặt ở nước ngoài. Sẽ hữu ích tiện lợi nhiều bề.

 

Bây giờ tôi mới hiểu hàng ngàn nhân sự có cả những thành phần liên lục địa và quốc tế góp chất xám cho Viettel như thế! Một đồng nghiệp hỏi vui Viện trưởng Chiến rằng người của Viện nhưng ở nước ngoài Viện trả lương thế nào? Thượng tá Chiến cũng cười trả lời ngay rằng, với một mức khác chả hạn vài ngàn, vài chục ngàn USD/tháng chứ sao!

Hơi hiếm ở một cơ sở quốc phòng ngay cổng ra vào không lính gác nhưng ấn tượng ngay với khách là hai bức tượng kích cỡ như người thật đứng hai bên. Đó là tượng một nhà bác học (tượng trưng) với kính trắng và sách. Tượng kia là một người thợ với dụng cụ búa và thước kẻ. Hằng ngày vào ra Viện, hình ảnh hai nhân vật đó như thông điệp thân ái lẫn nghiêm cẩn với những người lính chuyên viên kỹ thuật.

Lại nữa, cũng hơi bị hiếm trên tường, trong phòng làm việc các công sở mà lại trưng ra những tấm biển, bảng đại loại như ở Viện này. Như tấm biển: Những tồn tại lớn trong năm nay. Ngoài những nhắc nhở thân ái ấy còn khuyến khích không phải bằng những mệnh lệnh khô khan cứng nhắc mà là những câu như: Trong mớ hỗn độn, hãy tìm ra cái đơn giản; Từ những bất đồng tìm ra cái hòa hợp; Trong khó khăn có cơ hội v.v…

Tôi biết những mệnh lệnh rất người của người lính đại loại thế không phải trích ra từ một cuốn sách nào đó, mà tác giả của nó chính là Phó TGĐ Viettel Nguyễn Mạnh Hùng mới được phong quân hàm Thiếu tướng mấy tháng nay.

Xuân Ba [TPO]

Sự lạ ở một tên gọi quen:

Canh trời giữ biển theo cách Viettel (P1)

TP – Ngày đẹp trời mới đây tôi may mắn được… lạc vào một cơ ngơi của “ông lớn” Viettel. Thi sĩ Hồng Thanh Quang vốn quen thuộc chốn này có người nhà (vợ) ở Viettel thế mà chả giấu được ngạc nhiên, quay sang tôi, buông gọn lỏn một từ: Khủng!

Made in Viettel

Trụ sở Tập đoàn Viettel trước ở Giang Văn Minh, Ba Đình (Hà Nội) vừa mới chuyển về khu vực Mỹ Đình thì nhiều người rành, nhưng cơ ngơi Viện Nghiên cứu& Phát triển của Viettel thì tọa lạc ở một vị trí hơi bị khuất nẻo…Một năm rưỡi, vâng Viện ấy mới thành lập ngày 12/9/2011 thôi mà đã chế ra bao thứ khủng như Hồng Thanh Quang từng nắc nỏm.

Viện trưởng Viện Nghiên cứu & Phát triển Viettel, thượng tá Nguyễn Đình Chiến (thứ 2 trái sang) đang giới thiệu các thiết bị
Viện trưởng Viện Nghiên cứu & Phát triển Viettel, thượng tá Nguyễn Đình Chiến (thứ 2 trái sang) đang giới thiệu các thiết bị.

Trước khi lang thang trong căn phòng rộng thênh của cơ ngơi ấy, tôi biên kỹ câu giới thiệu của Viện trưởng, thượng tá Nguyễn Đình Chiến vào sổ tay:

Viettel đủ năng lực đáp ứng hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ, phát triển và ứng dụng công nghệ thông tin. Sửa chữa nâng cấp và sản xuất các chủng loại thiết bị điện tử viễn thông quân sự và dân sự.

Hóa ra Viettel không chỉ có mạng viễn thông cùng là máy di động này khác!

Nhưng hút mắt vẫn là rada. Đài rada bắt sóng thấp đề – xi – mét. Tôi không được phép chép ra đây những thông số, tính năng tác dụng khiến thế hệ cha anh phát… thèm, vì bí mật quân sự. Cũng như các thiết bị khác như xe ăng – ten rada P18, P19. Rồi khủng hơn, như thiết bị rada cảnh giới 3D băng S; rada cảnh giới bờ biển; thiết bị sonar cảnh giới dưới nước…

Đứng trước thiết bị quản lý vùng trời VQ, các ký giả dường như hơi bị choáng? Choáng không phải là cảm giác những lần may mắn được lọt vào Sở chỉ huy phòng không nào đó.

 Những thiết bị này đang thông tuệ và cần mẫn từng giây từng phút để Tổ quốc không bị bất ngờ trước một cuộc chiến tranh điện tử nào đó!

Trực tiếp ngắm ngó các cô báo vụ tóc tết đuôi sam (mốt của những năm bảy mươi) mồ hôi rịn bết mớ tóc, còn bên thái dương tai đeo cáp nghe, mắt các cô gần như không chớp, tay cầm chì đỏ, liên tục vạch những gạch đỏ trên tấm mica để nối mục tiêu. Miệng liên tục thông báo các thông số về tọa độ, độ cao… Các trận địa tên lửa phòng không tiếp nhận những tín hiệu ấy tùy cơ xử lý!

Biết bao những vất vả nhiêu khê cùng bất an, nguy hiểm của những người lính rada thời chống Mỹ? Và nữa, hiệu suất tác chiến đâu có được như mong muốn? Thế hệ cha anh của bộ đội rada của Phòng không Không quân từng vít cổ những Thần sấm ( F105), Con ma (F4), Giặc nhà trời (AD6) và Pháo đài bay B52 hẳn chẳng ngại ngần gì buông câu con hơn cha nhà có phúc để chỉ những thiết bị phát hiện mục tiêu ưu việt do những người lính kỹ thuật Viettel chế ra. Những thiết bị này đang thông tuệ và cần mẫn từng giây từng phút để Tổ quốc không bị bất ngờ trước một cuộc chiến tranh điện tử nào đó!

Mặt tiền của Viện Nghiên cứu & Phát triển Viettel
Mặt tiền của Viện Nghiên cứu & Phát triển Viettel.

Thốt nhiên dậy lên một cảm giác rân rân trong người khi nghĩ về các cô báo vụ kiêm đánh dấu đường bay cùng các trắc thủ rada vạch nhiễu tìm thù ngày ấy khi tôi đang đứng trước một màn hình trong văn vắt nhỏ hơn mặt cái tivi 30 inch.

Khoảng trời chủ quyền quốc gia thân yêu bao la cùng những vùng phụ cận nhấp nháy các tín hiệu của các loại tàu bay dân dụng đương thư thả (ngó thong thả vậy nhưng đang vun vút với tốc độ 900 cho đến 1.200 km/h ở độ cao trên 10 ngàn feet Và đâu đây những chấm sáng đỏ của các loại máy bay quân sự bay tập.

Khoảng trời bình yên ấy, nói dại mồm, thế lực thù địch nào đó manh tâm gây chiến, nhỡ không may nổi bão giông chiến sự thì từng mục tiêu, ngay tức thì bị những thiết bị điện tử do Viettel chế tạo khóa chặt! Và cũng ngay lập tức, những mục tiêu ấy chỉ bằng động thái nhẹ nhàng như nhấp chuột, được bàn giao cho các đơn vị hỏa lực từ cấp trung đoàn, sư đoàn và cấp quốc gia đương giăng, đương chờ sẵn.

Tôi còn nghe thêm rằng các loại nhiễu tiêu cực tích cực mà bộ óc điện tử của Không lực Hoa Kỳ ngày ấy tác oai tác quái trên bầu trời miền Bắc Việt Nam, hiện giờ khó mà nhằm nhò gì trước các thiết bị điện tử do người lính Viettel chế ra!

Vùng trời sơ bộ là thế. Còn biển đảo chủ quyền? Biên chép ra đây những thiết bị canh biển giữ đảo có lẽ không được phép. Nhưng tôi cũng may mắn được dò dẫm bên cạnh những thiết bị tạm gọi là giám sát tình trạng kỹ thuật tàu hải quân.

Hệ thống giám sát trinh sát định vị và chỉ thị mục tiêu cho hải đảo. Hệ thống thông tin chỉ huy phục vụ cho công tác tìm kiếm cứu nạn trên biển. Và nhất là thiết bị rada giám sát mặt nước vv… Đã đành là vào đây, thấy lắm sự lạ sự tinh khéo khiến mồm chữ O mắt chữ A.

Nhưng nghe vậy thì chỉ biết vậy. Thứ người trần mắt thịt như cánh ký giả đây nhỡn tiền cũng chỉ loáng thoáng nguyên lý là thiết bị điện tử của Viettel đọc mục tiêu trên trời cũng na ná như trên mặt biển chủ quyền! Nhưng chợt dậy lên cảm giác thêm an lòng thêm vững dạ.

Bỗng như muốn bật kêu “Hỡi các lương dân Việt, trời biển chủ quyền Tổ quốc đang được những cặp mắt thần ngày đêm canh giữ!” Nhưng câu ấy cũ rồi, giờ có lẽ phải thêm cụm từ hệ thống mắt thần đa năng và hữu hiệu thì mới tạm chính xác?

Cũng được nghe thoáng qua một thiết bị khủng khác, thiết bị điều khiển tổ hợp năng lượng tàu chiến loại hiện đại nhất của Hải quân nhân dân Việt Nam.

Tự tin hơn

Bạn đọc nên nhớ, những thiết bị khí tài phòng vệ và tấn công ấy, các nước Phương Tây, Âu, Mỹ, chả hạn như NATO rồi Nga, xa hơn là khối Vacsava đã có. Nhưng điều độc đáo và đáng nói ở đây là nó rơi vào tay Viettel sẽ phải khác! Tại sao khác? Cái câu cao nhân tắc hữu cao nhân trị phải được hiểu ở đây nôm na thế này: Người giỏi chế ra thứ vũ khí tài khéo thì cũng biết cách vô hiệu hóa nó khi lọt vào tay đối phương!

Vậy nên có thể đi mua (nếu nhiều tiền và bằng một giá rất đắt) nhưng nhiêu khê oái oăm là liệu có an tâm mà sử dụng dài dài khi bí quyết lại nằm trong tay người khác?

Sẽ phải khác vì chủ quyền quốc gia, vì xương máu người lính. Những bộ óc Viettel ấy từng hào phóng dân chủ với khách hàng ấy là nói theo cách của bạn! Nhưng trong lĩnh vực này đã làm theo cách của mình để tạo ra bản quyền và độ bảo mật cao của riêng Viện nghiên cứu& Phát triển Viettel.

Tổ quốc trong tầm tay
Tổ quốc trong tầm tay.

Không phải sẽ mà đã và đang khác. Ngoài tính bảo mật cao những sản phẩm điện tử viễn thông quân sự và dân sự của Viện chế tạo đã và đang phát huy thế mạnh canh trời giữ biển, đồng thời tiết kiệm khá nhiều ngoại tệ. Đến năm 2015, Viện Nghiên cứu& Phát triển Viettel sẽ phấn đấu đạt doanh thu hơn 1 tỷ USD.

Có vào đây mới thấy thấm thêm, những thiết bị thông tin cồng kềnh nặng cả vài chục ký, cả tạ của các cuộc chiến tranh vệ quốc trước đây, nay được những bộ óc Viettel cải hoán sao đó để nó chỉ thu gọn diện tích vài kilôgam hoặc bé gọn như những cuốn sổ lại phong phú thêm về chức năng hiệu quả sử dụng.

Viện trưởng Chiến cũng chia sẻ cảm giác của Trung tướng Hoàng Anh Xuân, Tổng giám đốc Tập đoàn Viettel lần ấy cứ xuýt xoa rằng cả đời ông từng miệt mài với ngành thông tin (vốn là lính của Bộ Tư lệnh Thông tin, rồi tiếp đó phụ trách luôn Tập đoàn Viễn thông Quân đội) nay mới được tận mắt nhìn tận tay sờ những thiết bị thông tin gọn nhẹ với nhiều tiện ích như thế này!

Người ta thường nói nhiều đến cuộc vượt thoát ngoạn mục đến cuộc đổi ngôi ngoạn mục của Viettel. Sau 12 năm tham gia “chợ” viễn thông Việt khi các sạp lớn nhỏ của các ông chủ VNPT, Mobifone, Vinaphone này khác đã giăng đầy “chợ” với 80-85% thị phần. Thế mà Viettel đã “nói theo cách của bạn”, từ vị trí thứ tư vươn lên thứ nhất.

Thầm nghĩ, nghiệp binh như tướng Xuân đây, được can dự vào một cuộc chơi do chính mình bày đặt ra tại Viện Nghiên cứu & Phát triển này. Bày đặt trên cơ sở mệnh lệnh của Bộ Tư lệnh Tối cao quyết không để Tổ quốc bị bất ngờ trong tác chiến chiến tranh điện tử. Lại cũng do chính mình đôn đốc lao tâm khổ tứ cùng anh em viết nên những dự án táo bạo, những chương độc đáo sáng tạo phần mềm. Để đến hôm nay, hàng chục công trình dự án quân sự và dân sự được quân dân hân hoan chào đón, lại cũng chẳng sướng sao?

Người ta nhắc nhiều đến Viettel đứng đầu trong những doanh nghiệp Việt Nam về nộp ngân sách đến con sốkhủng doanh thu 141.000 tỷ VND năm 2012. Người ta nói nhiều đến hệ thống cáp quang rải đều ở hơn 90% các xã vùng sâu vùng xa. Và nữa, hệ thống hàng trăm ngàn trạm BTS làm nên chất lượng mạng viễn thông của di động Viettel.

Hầu như chả ai nhắc nhớ đến một đơn vị trực thuộc Viettel ấy là Viện Nghiên cứu & Phát triển. Hay cái tên ấy vốn vô thưởng vô phạt nghe đã phát nhàm (mà hầu như bộ, ngành tỉnh, thành nào cũng có?). Hay anh Viettel này vẫn vốn chả mấy khi chú trọng ngó ngàng, chăm bẵm công tác truyền thông? Hoặc cái Viện này thuộc vùng cấm? Chả biết nữa…

(còn nữa)

Xuân Ba [TPO]

Hải chiến Trường Sa 1988: Lá cờ màu máu mãi thắm tươi

 

25 năm trước, ngày 14-3-1988, hải quân Trung Quốc đưa tàu đến gây sự ở 3 đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Trong cuộc chiến không cân sức ấy, những người lính hải quân Việt Nam đã xả thân giữ đảo, để máu mình tô thắm cờ Tổ quốc.

Quyết tử vì Gạc Ma

Dù đảo Gạc Ma đã bị Trung Quốc xâm chiếm trái phép nhưng trong cuộc hải chiến 14-3-1988, hình ảnh những cột cờ sống và “vòng tròn bất tử” vẫn khắc sâu trong tâm trí bao người…

Anh hùng Nguyễn Văn Lanh, người vào sáng 14-3-1988 đã cùng thiếu úy Trần Văn Phương và các chiến sĩ hải quân (hải quân) được cử từ tàu vận tải hải quân-604 lên đảo Gạc Ma bảo vệ cờ Tổ quốc, nhớ lại: “hải quân Trung Quốc (Trung Quốc) hạ xuồng từ tàu lớn mang theo nhiều lính trang bị vũ khí hạng nặng đổ bộ lên Gạc Ma. Chúng cho rằng công binh đang xây dựng đảo của ta ít, chỉ trang bị thô sơ, có người thậm chí không vũ khí trong tay, sẽ dễ dàng bị khuất phục. Nhưng chúng đã nhầm!”.

Còn cờ, còn đảo

Trong trận hải chiến ngày 14-3-1988, trong 3 đảo Gạc Ma, Cô Lin và Len Đao, cuộc đối đầu khốc liệt nhất diễn ra tại Gạc Ma. Theo đại tá Nguyễn Hữu Doanh, người chuyên lo kế hoạch cung ứng, tiếp tế nhu yếu phẩm và lên kế hoạch xây dựng nhà chủ quyền kiên cố trên các đảo ở Trường Sa những năm 1980, sở dĩ hải quân Trung Quốc tấn công Gạc Ma dữ dội nhất vì đảo này nằm ở vị trí đắc địa trong khu vực quần đảo Trường Sa và biển Đông.

Khi lính Trung Quốc đổ bộ lên Gạc Ma, đại úy Vũ Phi Trừ, thuyền trưởng tàu hải quân-604, giao nhiệm vụ cho thiếu úy Trần Văn Phương lên đảo cắm chốt, bảo vệ cờ Tổ quốc để xác định chủ quyền. Thấy lính Trung Quốc tiến vào đảo với số lượng lớn và sẵn sàng bắn vào ta, đại úy Trừ ra lệnh: “Ai bơi giỏi, lập tức vào hỗ trợ thiếu úy Phương”. “Tôi cùng 10 chiến sĩ nhảy xuống biển bơi vào đảo hỗ trợ anh Phương giữ cờ. Lúc ấy, trên đảo có khoảng 40 công binh của ta bị địch chĩa súng nã đạn không thương tiếc” – ông Nguyễn Văn Lanh hồi tưởng.

Ông Lanh không thể nào quên hình ảnh thiếu úy Phương hôm đó. Khi bị lính Trung Quốc bắn trọng thương, anh vẫn cố ngoi lên mặt nước, tay luôn giữ chặt lá cờ, tự biến mình thành cột cờ sống. “Khi bơi đến nơi, tôi đề nghị thiếu úy Phương về tàu cứu chữa nhưng anh ấy nói như ra lệnh: “Thà hy sinh chứ không thể để mất đảo. Hãy để cho máu của mình tô thắm lá cờ truyền thống của Quân chủng hải quân”. Sau khi dặn tôi và đồng đội tiếp tục giữ cờ Tổ quốc bằng mọi giá, anh Phương hy sinh” – ông Lanh nghẹn ngào.

Thấy người trước ngã xuống, người sau vẫn tiếp tục lao tới tự biến mình thành cột cờ sống trên biển, lính Trung Quốc lao đến giằng lấy. “Chúng dùng lưỡi lê và báng súng đâm và uy hiếp chúng tôi. Trong tay không vũ khí nhưng tôi vẫn chiến đấu không chút run sợ. Hai tên lính Trung Quốc lao vào, một tên đâm xuyên lưỡi lê qua vai tôi. Lúc đó, nhiều đồng đội bơi tới yểm trợ tôi tiếp tục giữ cờ” – ông Lanh xúc động.

Lòng quả cảm, ý chí sắt đá

Ông Nguyễn Văn Lanh cho biết những người lính hải quân Việt Nam trong gần 1 giờ quần thảo với lính Trung Quốc đã đứng kề vai nhau thành một “vòng tròn bất tử” để bảo vệ cờ, ngăn chặn chúng tiến sâu vào đảo. Chứng kiến ý chí chiến đấu quyết tử giữ đảo của hải quân ta, lính Trung Quốc đành rút về tàu. Chúng nã pháo điên cuồng vào tàu hải quân-604 neo đậu bên ngoài và những người lính trên đảo Gạc Ma. Trung tá Trần Đức Thông, Lữ đoàn phó Lữ đoàn 146, thuyền trưởng Vũ Phi Trừ và hầu hết cán bộ, chiến sĩ đã hy sinh hoặc chìm theo tàu hải quân-604 mất tích. Nhiều người bị thương nặng, trôi lênh đênh trên biển…

Anh hùng – đại tá Vũ Huy Lễ, người thuyền trưởng của tàu hải quân-505 nhận trách nhiệm đóng giữ đảo Cô Lin năm xưa, xúc động: “Tôi nhìn sang vùng biển Gạc Ma, thấy nhiều đồng đội vừa ngã xuống. Không thể để anh em nằm lại giữa biển khơi, chúng tôi đưa xuồng sang cứu. Tuy nhiên, hải quân Trung Quốc dùng súng AK bắn phá, không để chúng tôi cứu thương. Mặc, chúng tôi vẫn bình tĩnh, tiếp tục bơi xuồng sang. Suốt buổi sáng hôm ấy, chúng tôi đã vớt được 44 thương binh và tử sĩ”.

Đại tá Trần Minh Cảnh giờ đã bước sang tuổi 78 nhưng vẫn nhớ như in những giờ phút nóng bỏng 25 năm trước. Vị Chủ nhiệm Chính trị Vùng 4 hải quân vào thời điểm đó, người được anh em hải quân xem là “ra Trường Sa như đi xe buýt”, trầm mặc hồi tưởng những hình ảnh bi hùng của đồng đội năm xưa. “Đó là cuộc chiến không cân sức khi Trung Quốc với nhiều tàu chiến lớn, vũ khí hạng nặng; còn ta chủ yếu giữ đảo bằng lòng quả cảm và ý chí sắt đá bảo vệ chủ quyền” – ông tự hào.

Giữ vững Cô Lin, Len Đao

Sự kiện ngày 14-3-1988 được biết đến trong lịch sử hải quân Nhân dân Việt Nam với tên gọi CQ88 hay “Chủ quyền 88”. Khi đó, Tư lệnh hải quân là Đô đốc Giáp Văn Cương cùng Bộ Tham mưu đã trực tiếp chỉ huy Vùng 4 và các đơn vị có mặt ở Trường Sa chiến đấu, quyết giữ đảo. Một sở chỉ huy tiền phương được thành lập và đóng ở Quân cảng Cam Ranh – Khánh Hòa.

Đại tá Lê Xuân Bạ, nguyên chính ủy Lữ đoàn 146, Bí thư Huyện ủy Trường Sa, lúc đó là trung tá, Phó Chủ nhiệm Chính trị Vùng 4 hải quân – thuộc Sở Chỉ huy tiền phương, cho biết: Ngày 11-3-1988, tàu hải quân-604 của thuyền trưởng Vũ Phi Trừ được lệnh đến đóng giữ Gạc Ma, tàu hải quân-505 của thuyền trưởng Vũ Huy Lễ đóng giữ Cô Lin và tàu hải quân-605 nhận lệnh đến Len Đao. Phối hợp với các tàu này còn có 2 phân đội công binh thuộc Trung đoàn 83, 2 tổ chiến đấu thuộc Lữ đoàn 146 do trung tá – lữ đoàn phó Trần Đức Thông chỉ huy.

Sau trận hải chiến ngày 14-3-1988, dù chúng ta gặp tổn thất lớn về người với 64 chiến sĩ hy sinh nhưng hải quân Trung Quốc không dám mở rộng phạm vi xâm lấn; các đảo Cô Lin, Len Đao được giữ vững.

Theo NGƯỜI LAO ĐỘNG

 

Nancy Rica Schiff – một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp đã dành rất nhiều thời gian của mình để ghi lại hình ảnh của những ngành nghề mới lạ và độc đáo. Schiff đã từng xuất bản một cuốn sách ảnh về chân dung những người có công việc kì lạ vào năm 2002.

Đa số mọi người sẽ nghĩ rằng những người làm công việc kỳ lạ chắc hẳn sẽ có tính cách lập dị. Tuy nhiên, Schiff cho biết, điều này không đúng. Nhiếp ảnh gia mô tả nhân vật của mình là những người nhạy cảm, tinh tế và làm việc một cách vui vẻ.

Nhiều người trong số các “đối tượng” của Schiff đã liên lạc với nhiếp ảnh gia và kể lại về tác động mà những hình ảnh tạo nên với cuộc sống của họ. Họ chia sẻ rằng trước đây, bạn bè và hàng xóm biết nơi họ làm việc, nhưng không thực sự biết họ làm gì ở đó. Giờ đây, công việc của họ không những được biết đến nhiều hơn mà còn nhận được nhiều sự cảm thông và khích lệ.

Dưới đây là những nghề nghiệp “quái dị” đã được xuất bản trong cuốn sách:

 

1

Chuyên gia… kiểm tra mùi cơ thể.

2

Người nuôi đỉa.

3

Người sản xuất gà cao su.

4

Người thử nghiệm… thức ăn cho chó.

5

Nhân viên trị liệu… ruột già.

6

Người thiết kế… underwear cho nam giới.

7

Trợ lý cho… nghệ sỹ phi dao.

8

Trị liệu âm nhạc cho những người đang hấp hối.

9

Người làm sạch… xương khủng long.

10

Nhân viên… chữa vết nứt trên các vách đá.

11

Và cả người… thử nghiệm băng vệ sinh.

[sưu tầm]

Trả lời phỏng vấn Thông tấn xã Việt Nam, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho biết: “Người dân lo lắng, bức xúc về tình hình biển Đông là đúng. Đó là lòng yêu nước và tinh thần độc lập đã được trao chuyền qua bao thế hệ”.V

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang – Ảnh tư liệu Tuổi Trẻ

Chủ tịch nước nói thêm: “Lợi ích của Việt Nam trên biển Đông được luật pháp quốc tế thừa nhận và bảo vệ theo Công ước Luật biển 1982”.

 

 

 Thưa Chủ tịch nước, năm 2012 ngoại giao Việt Nam có hàng loạt sự kiện hợp tác song phương và đa phương sôi nổi. Kết quả của những hoạt động đó như thế nào?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Năm 2012, Việt Nam nhấn mạnh chủ trương mới và quan trọng trong đối ngoại: Việt Nam không chỉ hội nhập kinh tế mà còn hội nhập quốc tế một cách sâu rộng và toàn diện, cả về chính trị.

Mặc dù tình hình kinh tế đất nước trong năm qua còn nhiều khó khăn, tình hình quốc tế và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, nhưng do chính sách đối ngoại đúng đắn, bạn bè quốc tế tiếp tục tin tưởng, ủng hộ sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước của Việt Nam. Vốn ODA cơ bản không giảm so với những năm trước, vốn FDI đăng ký mới thấp hơn nhưng phần vốn thực hiện vẫn xấp xỉ năm trước, góp phần duy trì phát triển trong điều kiện hết sức khó khăn, tiếp tục củng cố vai trò và vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế.

Lập trường của Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo được bạn bè quốc tế chia sẻ, ủng hộ. Năm qua đã có hơn 30 đoàn khách gồm nguyên thủ, người đứng đầu nhà nước, chính phủ, các cơ quan lập pháp của các quốc gia đã đến thăm, làm việc với Việt Nam và đều kỳ vọng về sự hợp tác trước mắt và lâu dài với nước ta. Đó là những quan hệ hợp tác có lợi cả trên bình diện song phương và đa phương…

– Thưa Chủ tịch nước, các quốc gia Đông Nam Á giữ vị trí như thế nào trong chính sách đối ngoại của Việt Nam?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Việt Nam luôn xác định là thành viên tích cực và có trách nhiệm của ASEAN. Đảm nhiệm chủ tịch luân phiên ASEAN cũng như khi là thành viên bình thường, Việt Nam luôn có những việc làm, sáng kiến góp phần củng cố sự đoàn kết và thúc đẩy xây dựng cộng đồng ASEAN, được các thành viên ASEAN cùng các nước tán thành.

Những nước lớn trong quan hệ đối tác với ASEAN cũng rất coi trọng quan hệ với Việt Nam, quyết định nâng tầm quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam và qua Việt Nam để khẳng định quan hệ với khu vực Đông Nam Á.

Chúng ta quan hệ đa phương, chú ý phát triển quan hệ với các nước lớn, nhưng luôn đặc biệt coi trọng quan hệ với ASEAN. Đây là chủ trương nhất quán trong quan hệ với các nước láng giềng. Tôi muốn hỏi lại, bạn có coi trọng quan hệ với hàng xóm của mình không?

– Hiện nay chủ đề biển Đông đang được chú ý tại các diễn đàn trong nước và quốc tế. Quan điểm của Việt Nam về vấn đề này như thế nào, thưa Chủ tịch?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Biển Đông là chủ đề Việt Nam luôn quan tâm, ASEAN và nhiều nước trên thế giới có quan hệ lợi ích gắn với biển Đông cũng rất chú trọng. Việt Nam đã tuyên bố và khẳng định rất rõ ràng lập trường của mình: tranh chấp về chủ quyền ở biển Đông phải được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế trong đó có Công ước Luật biển 1982.

Giữa Trung Quốc và ASEAN đã ký thỏa thuận về DOC. Hai bên cũng đã thỏa thuận việc xây dựng bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông COC, nâng những nguyên tắc đó lên cao hơn, có tính pháp lý ràng buộc. Tuy nhiên, chúng ta chủ trương tất cả những vấn đề đó phải được giải quyết hòa bình, hữu nghị, không dùng vũ lực, để biển Đông thực sự hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải.

Trung Quốc cũng tuyên bố như vậy với ASEAN. Trên thực tế, các vấn đề diễn ra về cơ bản là cũng theo các nguyên tắc và phương châm như trên. Tuy nhiên, vẫn có những va chạm nhất định trên biển Đông mà chúng ta đã chứng kiến trong năm qua.

Tôi một lần nữa nhấn mạnh giải quyết tháo gỡ vấn đề này phải tuân thủ nguyên tắc luật pháp quốc tế và thực hiện theo phương châm hòa bình, hữu nghị giữa các bên liên quan. Những nguyên tắc này không chỉ Trung Quốc và ASEAN công nhận, mà cộng đồng quốc tế, nhất là những nước quan tâm và có lợi ích ở biển Đông, cũng thừa nhận và ủng hộ. Việt Nam luôn khẳng định nguyên tắc này trên các diễn đàn, hội thảo…

– Thưa Chủ tịch nước, cũng tuyên bố chủ quyền với quần đảo Trường Sa, Philippines và Brunei có đồng tình với Việt Nam trong việc xử lý vấn đề biển Đông?


 

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Không chỉ Philippines, Brunei mà cả Malaysia, Indonesia và nhiều nước khác trong ASEAN, tuy không có lợi ích trực tiếp ở biển Đông, cũng ủng hộ những quan điểm đó. ASEAN lấy đồng thuận làm nguyên tắc hoạt động, nghĩa là tất cả các thành viên đều thống nhất trong vấn đề này. Đó là quan điểm, nguyên tắc chung của tất cả các thành viên ASEAN; là cơ sở quan trọng để Việt Nam cũng như cộng đồng ASEAN đi đến đàm phán với Trung Quốc hiện nay và tương lai.

– Chúng ta chủ trương giữ vững chủ quyền biển đảo bằng con đường ngoại giao hòa bình, nhưng tình hình biển đảo ở biển Đông thời gian qua khiến người dân chưa an tâm. Chủ tịch nước có thông điệp gì đối với người dân về vấn đề này?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Người dân lo lắng, bức xúc về tình hình biển Đông là đúng. Đó là lòng yêu nước và tinh thần độc lập đã được trao chuyền qua bao thế hệ. Đảng và Nhà nước ta chủ trương như thế nào cũng phải trên cơ sở lòng dân làm gốc. Lợi ích của Việt Nam trên biển Đông được luật pháp quốc tế thừa nhận và bảo vệ theo Công ước Luật biển 1982.

Chúng ta sẽ dựa vào luật pháp quốc tế, lấy đó làm cơ sở và sức mạnh để bảo vệ lợi ích, chủ quyền quốc gia của mình. Chúng ta đấu tranh mềm dẻo nhưng cũng đồng thời phải thường xuyên chủ động củng cố mặt trận quốc phòng an ninh, nâng cao cảnh giác trước mọi diễn biến ở khu vực, kiên quyết bảo vệ bằng được chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc mình.

– Việt Nam là một quốc gia tham gia đàm phán tương đối sớm Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương – TPP. Việt Nam đã tính đến những lợi ích về kinh tế và chính trị trong tương lai với TPP như thế nào, thưa Chủ tịch?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Trước khi chúng ta tham gia khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA), nhiều người lo sợ Việt Nam sẽ bị thua thiệt. Thực tế đã không hẳn diễn ra như thế. Quan trọng là vì chúng ta đã chuẩn bị thực lực để giành thắng lợi trong hội nhập. Vừa chuẩn bị thực lực vừa hội nhập. Do đó kinh tế của Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, toàn diện trong một thời gian dài. Khi chúng ta tham gia WTO cũng vậy, ở quy mô toàn cầu, chúng ta lo ngại sức mạnh của những nền kinh tế lớn sẽ chèn ép kinh tế Việt Nam. Thế nhưng, sau khi vào WTO, kinh tế Việt Nam còn có điều kiện phát triển hơn…

Những suy giảm kinh tế thời gian gần đây không phải do WTO mà do những nguyên nhân chủ quan và sự yếu kém của chính chúng ta, đòi hỏi chúng ta phải tái cơ cấu nền kinh tế và điều chỉnh chính sách để kinh tế vĩ mô ổn định.

Muốn phát triển, chúng ta phải mở cửa với thế giới. Tham gia TPP là nằm trong chủ trương này. Điều quan trọng là chúng ta phải rút kinh nghiệm từ AFTA và WTO để làm tốt việc chuẩn bị. Nếu không, thắng lợi khó đạt được mà thất bại cũng khó tránh. Tôi cho rằng thắng lợi hay thất bại là do chính nội lực chủ quan của chúng ta. Mỗi doanh nghiệp, mỗi địa phương, mỗi bộ ngành và toàn quốc phải chuẩn bị thật kỹ lưỡng trong quá trình hội nhập, tham gia TPP trong tương lai.

– Thưa Chủ tịch nước, vị trí của Việt Nam trong bảng xếp hạng tín nhiệm gần đây bị tụt xuống so với những năm trước. Phải chăng Việt Nam chưa tận dụng, khai thác hết những lợi thế của mình trong quá trình hội nhập quốc tế?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Thông thường, để phát triển kinh tế, tăng trưởng GDP thì phải đầu tư vốn. Có một tương quan tỉ lệ giữa vốn đầu tư và tốc độ tăng trưởng. Tỉ lệ này càng cao thì đồng nghĩa với hiệu quả sử dụng vốn kém. Ở nước ta tỉ lệ đó có khi lên đến 5-6. Tức là chi phí của Việt Nam gấp rưỡi hoặc gấp đôi các nước có trình độ phát triển tương đương. Tình trạng đó tồn tại trong nhiều năm, dẫn đến một lượng vốn đưa vào đầu tư lớn nhưng hiệu quả thấp…

Đại hội XI của Đảng chủ trương phải đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, hệ thống ngân hàng… cùng một loạt công việc để giải quyết những hạn chế đó nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững.

Chủ trương là như vậy nhưng để thực hiện đạt kết quả đòi hỏi nỗ lực cao của tất cả các cấp, các ngành, các địa phương, từng doanh nghiệp. Tôi hi vọng và kêu gọi những nỗ lực như thế phải được thực hiện mạnh mẽ trong thời gian tới.

– Thành công của các nước xung quanh Việt Nam dựa chủ yếu vào 3 lĩnh vực then chốt: cơ sở hạ tầng, tính cạnh tranh quốc tế của doanh nghiệp và tính hiệu quả của bộ máy nhà nước. Việt Nam sẽ có sự lựa chọn nào vì mục tiêu phát triển, thưa Chủ tịch?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Chúng ta đã xác định phải thực hiện tốt 3 yếu tố: phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hoàn thiện thể chế kinh tế. Vấn đề là phải tổ chức thực hiện sao cho tốt.

Về hạ tầng, rõ là sau 25 năm đổi mới, chúng ta có nhiều thành tựu, nhưng muốn phát triển cao hơn trong giai đoạn tiếp theo, không thể chấp nhận hạ tầng như hiện nay. Đường bộ chẳng hạn. Nhất định phải có hệ thống xa lộ đúng nghĩa. Hệ thống cảng biển cũng vậy. Đặt cạnh những nước tiên tiến trong ASEAN, chi phí cho một đơn vị hàng hóa tại cảng của chúng ta trung bình cao gấp đôi họ. Như vậy thì làm sao cạnh tranh? Chính vì vậy, phải đẩy nhanh tốc độ phát triển kết cấu hạ tầng. Chủ trương đã có và nói nhiều rồi. Bây giờ là phải triển khai việc này.

Cạnh tranh quốc tế của các doanh nghiệp phải được quan tâm hơn nữa. Không phải vì mở cửa làm một số doanh nghiệp chúng ta cạnh tranh kém, mà do chính những yếu kém của chúng ta. Tại sao người ta mở cửa cho anh bán hàng, anh không làm được cho tốt? Để khi người ta cũng bán hàng như mình nhưng năng lực cạnh tranh tốt hơn, lại đổ cho sự “mở cửa” đó là không được. Yếu kém có phần quan trọng là do chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, điều này không chỉ là do các doanh nghiệp đâu mà còn do chính chúng tôi, những người điều hành, lãnh đạo đất nước, khi chưa tạo ra được môi trường kinh doanh, chưa đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao thuận lợi cho doanh nghiệp.

Về thể chế, chúng ta đang sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992. Sau khi được Quốc hội thông qua cuối năm 2013 thì một loạt các văn bản pháp luật sẽ được sửa đổi, bổ sung để cụ thể hóa và thực hiện theo bản hiến pháp mới được ban hành. Trong đó, quan trọng là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Lượng công việc thực hiện rất lớn.

Chúng ta đừng quên đến năm 2015, tự do hóa thương mại không chỉ trong ASEAN mà còn là với cả Trung Quốc, một nền kinh tế khổng lồ, lớn thứ 2 thế giới hiện nay. Đến những năm 2017-2018 sẽ tự do thương mại hoàn toàn giữa Việt Nam và các thành viên của WTO. Lúc đó quan hệ doanh nghiệp các nước sẽ hoàn toàn sòng phẳng, theo những cam kết khi gia nhập WTO, chứ không thể “ngăn sông, cấm chợ” được nữa…

Nhân tố chủ quan bên trong cần được rà soát và nâng cao năng lực cạnh tranh một cách khẩn trương ở từng doanh nghiệp, địa phương, ngành và toàn bộ nền kinh tế. Kể cả lãnh đạo các cấp từ trung ương đến địa phương cũng phải soát xét lại “hành trang” của mình, đảm bảo cho công cuộc hội nhập có được hiệu quả cụ thể, có thể nhìn và sờ thấy được.

– Thưa Chủ tịch nước, những sản phẩm công nghiệp của chúng ta chưa đạt được tính cạnh tranh như mong muốn. Có phải chúng ta đang gặp vấn đề trong việc kiểm soát và phân phối nguồn lực không?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Kiểm soát và phân phối nguồn lực thì không chỉ quan tâm tới lĩnh vực công nghiệp mà kể cả nông nghiệp và dịch vụ. Làm sao để không bị thất thoát, lãng phí về vốn, về tài nguyên, về con người… Có những nơi đáng ra nguồn lực được phân phối thì sẽ phát huy tác dụng tốt hơn nhưng lại không có và ngược lại.

Chúng ta phải tính toán lại. Làm thế nào thực hiện đúng quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, để nguồn lực có thể chảy vào những nơi có hiệu quả cao nhất. Đó chính là trách nhiệm của Nhà nước trong việc quản lý, thực thi, xây dựng các cơ chế, chính sách, luật pháp để tạo ra môi trường kinh doanh, điều chỉnh các nguồn lực một cách hợp lý. Tôi đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề cải cách thủ tục hành chính và phòng chống tham nhũng, lãng phí phải thực sự có hiệu quả, tạo điều kiện đảm bảo việc phân phối các nguồn lực một cách chính xác.

– Thời điểm hiện nay, GDP của Việt Nam không cao, nhưng dư luận quốc tế cho rằng Việt Nam đang đặt nền móng, chuẩn bị cho một giai đoạn, quá trình phát triển mới. Thưa Chủ tịch nước, nền kinh tế Việt Nam sẽ như thế nào trong vài năm tới, với những chính sách mà chúng ta đã và đang thực hiện?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Hiện nay, yếu kém của kinh tế Việt Nam biểu hiện rõ nhất là lạm phát cao, nhập siêu lớn… Chất lượng tăng trưởng những năm qua là tăng trưởng chiều rộng; trông chờ vào vốn chứ không phải dựa vào năng suất lao động hay công nghệ tiên tiến. Tình trạng này không thể để kéo dài, nên chúng ta phải điều chỉnh và cơ cấu lại, chuyển dần tăng trưởng theo chiều sâu, nâng cao chất lượng và năng suất lao động, sử dụng công nghệ tiên tiến…

Khi tiến hành tái cấu trúc nền kinh tế, phải chấp nhận là GDP thấp nhưng cũng phải giữ khoảng 5%/năm. Thấp hơn nữa thì nguy hiểm, thất nghiệp sẽ cao, phấn đấu dần đưa tốc độ tăng trưởng lên 7-8%/năm và ổn định kinh tế vi mô. Làm được điều đó không chỉ cải thiện đời sống mà còn là ổn định chính trị, xã hội.

– Đồng thời cũng là một đại biểu Quốc hội, Chủ tịch nước đánh giá như thế nào về sự tin tưởng của nhân dân đối với chế độ?


 

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Nhân dân Việt Nam đã tin tưởng, gắn bó với Đảng và chế độ hơn 80 năm qua, kể cả những lúc khó khăn nhất. Niềm tin đó đang bị thách thức và suy giảm do tệ tham nhũng, lãng phí, suy thoái đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Nhưng tôi tin nhân dân bao dung vẫn tin và kỳ vọng vào Đảng nếu Đảng kịp thời chỉnh đốn, sửa chữa những yếu kém, khuyết điểm trong bộ máy của mình. Tuy vậy, không được lạm dụng lòng tin của nhân dân. Mỗi một cán bộ, chức càng cao, quyền càng to thì trách nhiệm trước sự suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng càng lớn.

Khắc phục những khuyết điểm hiện nay còn là để khẳng định vai trò, trách nhiệm của Đảng với tương lai của đất nước và sự trường tồn của dân tộc như Đảng ta đã làm trong suốt gần một thế kỷ đã qua.

– Thưa Chủ tịch, năm qua tính cởi mở và dân chủ đã được thể hiện rất rõ trên các diễn đàn thảo luận về những vấn đề hệ trọng của đất nước. Chủ tịch nước đánh giá như thế nào về nhận định này?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Tôi thấy rất rõ hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước ngày càng được người dân quan tâm. Qua những cuộc tiếp xúc cử tri gần đây, tôi thấy người dân đánh giá cao hoạt động của Quốc hội. Với tư cách là cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước, Quốc hội đã ngày càng đáp ứng được nhiệm vụ và vai trò, nhất là việc thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân.

– Thưa Chủ tịch, Nghị quyết Trung ương 4 đã được ban hành gần 1 năm. Trong đó, nghị quyết đã khẳng định có một bộ phận không nhỏ đảng viên suy thoái, nhưng kết quả thực hiện nghị quyết vừa qua chưa cao. Xin Chủ tịch nước đánh giá về vấn đề này.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Chúng tôi được hỏi câu này nhiều lắm, có người khen, người chê. Vấn đề này xin khẳng định là phải kiên trì tiến hành, không lùi bước, không thể không làm nhưng không thể chỉ một lần, một sớm một chiều mà giải quyết ngay được.

Thực tế là vậy, không nên chán nản. Chúng ta phải nhận thức cho đúng, phải hết sức kiên trì, liên tục tiến hành công cuộc xây dựng Đảng. Quốc hội đã thông qua nghị quyết về lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm hằng năm. Đó chính là dân chủ hóa. Điều quan trọng là phải làm thực chất, phải có cơ chế kiểm tra chống lại hiện tượng “vận động,” “mua phiếu”. Trung ương Đảng cũng có chủ trương bỏ phiếu tín nhiệm tương tự và Mặt trận Tổ quốc cũng sẽ có cơ chế tham gia giám sát đội ngũ cán bộ.

– Thưa, Chủ tịch nước có thường xuyên nhận được thư từ của công dân?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Thư thì hằng ngày tôi nhận được rất nhiều, trên tất cả các lĩnh vực, từ những chuyện rất cụ thể của cuộc sống hằng ngày đến những công việc lớn lao của đất nước, tôi chú ý đến những bức thư chân thực, tâm huyết, xây dựng. Nhiều bức thư rất cảm động, hữu ích, thậm chí có tác dụng trực tiếp đến chính sách của Nhà nước và tôi không thể nói điều gì khác ngoài lòng cảm ơn chân thành.

– Sau hơn 1 năm ở cương vị là người đứng đầu Nhà nước, đã có những vụ việc nào về bức xúc của nhân dân để lại cho Chủ tịch băn khoăn, trăn trở nhiều nhất?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Tôi nghĩ rằng bức xúc thì nhiều, nhưng tựu trung lại mấy vấn đề lớn là làm thế nào trong năm mới chúng ta tập trung giải quyết những vấn đề về dân sinh và kinh tế cho tốt hơn.

Đến doanh nghiệp thì được nghe kiến nghị thiếu vốn, bất cập vướng mắc nhiều quá; gặp người lao động thì được phản ánh về thiếu việc làm, thu nhập thấp, tình trạng tiêu cực, tham nhũng…

Sắp tới, phải làm sao vừa giải quyết tốt hơn vấn đề dân sinh kinh tế, vừa phải giải quyết tốt hơn vấn đề quốc phòng an ninh đất nước, giữ vững chủ quyền quốc gia và triển khai toàn diện công tác đối ngoại theo đường lối Đại hội XI của Đảng.

Mình mong dân tin Đảng, nhưng vẫn còn nhiều người mất việc, không có việc làm, nghèo đói; tham nhũng, lãng phí không kiên quyết ngăn chặn có hiệu quả thì làm sao tin? Băn khoăn, trăn trở nhiều lắm!

– Thưa Chủ tịch nước, bước sang năm mới Chủ tịch có thông điệp gì gửi đến toàn thể nhân dân?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Chúng ta đã bước sang năm thứ 3 thực hiện kế hoạch 5 năm của Đại hội Đảng XI. Chúng ta đang quyết tâm thay đổi, tái cấu trúc nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô để phát triển ngày càng bền vững hơn, chất lượng hơn, hiệu quả hơn. Từ đó đảm bảo mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Trong 2 năm qua, kể cả năm 2013, chúng ta vẫn phải trải qua giai đoạn tái cơ cấu nền kinh tế, chấp nhận mức độ tăng trưởng thấp hơn giai đoạn trước; nhưng đồng thời phải thay đổi chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế, chuẩn bị tiền đề cho những giai đoạn sau.

Vì thế, tôi mong rằng đồng chí, đồng bào cả nước hết sức nỗ lực phấn đấu trên mỗi cương vị khác nhau của mình để thực hiện tốt, thành công những mục tiêu mà chúng ta đã đề ra. Tôi tha thiết mong nhân dân ta ấm no, hạnh phúc, đất nước ta hòa bình, thịnh vượng…

Xin trân trọng cảm ơn Chủ tịch nước!
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/530991/nguoi-dan-lo-lang-buc-xuc-ve-tinh-hinh-bien-dong-la-dung.html

CUỘC ĐÀM LUẬN GIỮA CHỦ THỂ ĐỀ NGHỊ ĐA ĐẢNG (CT1) VỚI CHỦ THỂ ỦNG HỘ ĐỘC ĐẢNG LÃNH ĐẠO (CT2) TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

            – CT1: Montesquieu có bàn trong “Tinh thần pháp luật”, ông cho rằng: Nguyên nhân của dân tha hoá là do quan tha hoá, mà nguyên nhân của quan tha hoá là do độc quyền. Bạn có thể không đồng ý với quan điểm trên. Vậy nên, tôi đề cập đến quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin – Chủ nghĩa được xác định là hệ tư tưởng chỉ đường ở Việt Nam hiện nay: Triết học Mác – Lênin có lý luận về 03 quy luật của phép biện chứng duy vật, thì có “Quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập – quy luật mâu thuẫn”. Nội dung của nó thừa nhận “mâu thuẫn” là động lực của sự phát triển. Trong điều kiện hiện tại, Việt Nam thừa nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó có tận dụng “quy luật cạnh tranh” làm động lực phát triển kinh tế đất nước. Vậy tại sao Việt Nam lại không thừa nhận quan điểm đa đảng, vừa tận dụng và phát huy được giá trị của “quy luật cạnh tranh” trong chính trị, vừa phù hợp với quan điểm của Chủ nghĩa Mác – Lênin tạo động lực để làm trong sạch, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của Đảng? Như vậy, Việt Nam phải chăng đang đi trái với quy luật được đưa ra trong hệ tư tưởng của mình!
            – CT2: Chủ nghĩa khai sáng ở Pháp thế kỷ XVIII đã để lại những thành quả to lớn cho nhân loại, với những tư tưởng tiến bộ và có giá trị  nhân văn sâu sắc cho đến thời điểm hiện nay, và có thể cả nhiều thập kỷ hay thế kỷ về sau; và không thể phủ nhận việc Chủ nghĩa Mác – Lênin có kế thừa những quan điểm, tư tưởng tiến bộ từ các học thuyết trong giai đoạn này. Riêng với quan điểm của chúng tôi, người phương Đông từ xưa đã có câu “Xà trên không thẳng, xà dưới ắt cong”, tục ngữ Việt Nam cũng đã dạy rằng “Nhà dột từ nóc”.
            Và cho rằng độc quyền là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự tha hoá của “xà trên” theo chúng tôi cũng là một quan điểm phù hợp trong tính tương đối và biện chứng, nhưng điều này không mang tính hiển nhiên. Bởi vì, Độc quyền không sẵn mang trong nó bản chất tiêu cực. Độc quyền – duy nhất một chủ thể nắm quyền – khác hoàn toàn với khái niệm độc tài. Độc tài hay là sự độc đoán, chuyên quyền mới là yếu tố tiểu cực về bản chất. Có thể thừa nhận, sự độc tài có nguồn gốc từ sự độc quyền, nhưng không phải sự độc quyền nào cũng dẫn đến độc đài – độc đoán chuyên quyền.
             Đồng thời, không có một điều gì chứng minh rằng: một nhóm gồm nhiều người hiển nhiên là một nhóm biết lắng nghe; và cũng không có điều gì chứng minh rằng: một con người hiển nhiên là không biết lắng nghe. Không có điều gì chứng minh rằng: nhiều hơn một thì hiển nhiên vì tất cả mọi người; và cũng không có điều gì chứng minh rằng: một thì hiển nhiên không vì tất cả mọi người. Tôi thấy trong thực tiễn thế giới, rất nhiều, rất nhiều trường hợp “một” nhưng vì nhân loại, vì cả loài người. Nhưng trường hợp “nhiều hơn một” mà vì nhân loại thì không nhiều như thế. Nước Anh có Robert Owen vì nhân loại và lòng bình đẳng, bác ái, nhưng cả nước anh lúc đó đâu như vậy; tương tự như Xanh Xi – mông ở Pháp; Abraham Lincohn ỡ Mỹ. Bạn nghĩ để một mà vì tất cả mọi người lãnh đạo tốt, hay để nhiều hơn một nhưng cái nhiều hơn một trong cái “hỗn tạp” lãnh đạo tốt!?
            Aristole đã từng nói: Không phải bản chất của độc quyền hay cộng hoà đã mang sẵn trong nó tính tốt hoặc xấu; mà tuỳ thuộc vào từng điều kiện cụ thể nhất định. Tất cả mọi vấn đề đều có tính hai mặt của nó. Trong thời kỳ chiến tranh, sự độc quyền chỉ huy tập trung vào tay một chủ thể là vấn đề tất yếu và tích cực. Trong khoa học quản lý kinh doanh, người ta thường đề nghị “tập quyền” trong giai đoạn mới thành lập; nhưng vào giai đoạn ổn định và phát triển thì cần phát huy tính “cộng hoà”. Chúng ta cũng không thể phủ nhận tính “độc quyền tự nhiên” trong nền kinh tế. Những dạng độc quyền như thế là những độc quyền tích cực. Aristole cũng cho rằng, sẽ rất hiếm tìm được một chủ thể thật sự tài năng và đức độ để trao cho “độc quyền”, vì vậy, để tránh rũi ro, thì khi không có được chủ thể như vậy, chúng ta nên “cộng hoà”. Nhưng khi có một chủ thể xứng đáng để được trao sự “độc quyền”, thì sự độc quyền sẽ là một động lực lớn để phát triển đất nước, tốc độ trong việc đưa ra quyết sách và sự triệt để trong việc thực thi chiến lược từ sự độc quyền lúc này sẽ lớn hơn nhiều sự “cộng hoà”, nhất là khi cộng hoà đó là một “cộng hoà hỗn tạp”.
               Có thể nhìn thấy điều này trong lịch sử nước ta, từ sự “độc quyền” của Lê Thánh Tôn đã tạo nên một thời ký thái bình, thịnh trị; hay thời kỳ “Trinh Quán” mà Lý Thế Dân đã xây dựng trong lịch sử Trung Hoa (là những chủ thế bãi bó chức Tể tướng, Thái sư, “hư danh hoá” chức Thái phó, tập trung tối đa và trực tiếp điều hành quyền lực vào tay mình); là thực tiễn trong 40 năm làm Thủ tướng Singapore của Lý Quang Diệu với Đảng PAD của ông tồn tại duy nhất tại Singapore trong 38 năm ông làm Thủ tướng, đã đưa Singapore hoá rồng. Và người dân Mỹ hiểu sự độc quyền của Flanklin Roosevelt đã đem lại cho nước Mỹ và những tên trùm tài phiệt tại nước này nhiều lợi ích như thế nào trong thế chiến thứ hai; và sự độc quyền của Marcaret Thactcher đã vựt dậy nền kinh tế Anh như thế nào, và sự “không độc quyền” của các vị thủ tướng kế nhiệm bà sau này đã đưa nước Anh thụt lùi như thế nào. Và sự độc quyền của MITI (Bộ Thương mại Nhật Bản) trước đây đã đưa Nhật Bản đứng lên một cách mạnh mẽ sau thế chiến thứ hai như thế nào; và ai có thể phủ nhận công lao của Tổng thống Park Chung Hee với sự độc quyền đến độc tài (và ra trường bắn) đã thúc đẩy và tạo nền móng vững chắc cho nền công nghiệp Hàn quốc hiện nay!
               Với những điều kiện khách quan nhất định, có thể thấy rằng, độc quyền là điều kiện tất yếu, là nguồn gốc và là động lực của sự phát triển.
               Vậy có thể thấy được, độc quyền không mang bản chất đã sẵn tiêu cực, mà phụ thuộc vào chủ thể “độc quyền” và điều kiện, tính hình khách quan cụ thể.
               Độc quyền hay cộng hoà, trong trường hợp này là một hay nhiều đảng lãnh đạo đơn giản chỉ là cách thức lựa chọn mô hình lãnh đạo đất nước, điều đó hiển nhiên gắn với lịch sử, điều kiện của từng quốc gia cụ thể. Và thực tiễn lịch sử trong giai đoạn 28 – 30, 30 -45, 45 – 54, 54 -75, năm 1989 (Đảng Xã hội ở Việt nam tự tuyên bố giải tán)  đến nay, đã chứng minh, ở Việt Nam, độc Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là điều phù hợp.
               Vấn đề thứ hai mà bạn đề cập, về “Quy luật mâu thuẫn”. Chúng tôi là những người thấu hiểu, tuân theo và vận dụng sáng tạo Triết học Mác, trong Quy luật mâu thuẫn có chỉ rõ: mâu thuẫn có nhiều loại mâu thuẫn, có mâu thuẫn bên trong và mâu thuẫn bên ngoài. Trong đó, mâu thuẫn bên trong là cái trọng yếu và mấu chốt; giải quyết mâu thuẫn bên trong mới thật sự là động lực của sự phát triển, vì sự phát triển là sự phát triển mang tính tự thân. Trong tất cả mọi vấn đề, trong tu thân (chiến thắng chính mình), trong quân sự “nội bộ phải vững chắc, đoàn kết”, trong kinh doanh “phải nắm được thị trường nội địa trước khi tiến hành vươn ra biển lớn quốc tế”. Vậy nên, mâu thuẫn bên ngoài chỉ mang tính xúc tác, điều kiện.
                Chúng tôi xin nhắc lại, mọi vấn đề đều có tính hai mặt. Chúng tôi hiểu rằng, khi chúng tôi không thừa nhận vấn đề đa đảng, chúng tôi sẽ mất đi một chất xúc tác rất quan trọng, đó là tạo áp lực để từng Đảng viên, và toàn Đảng phải tự ý thức, tự nỗ lực do tính “cạn tranh” giữa các Đảng. Nhưng “cạnh tranh” chỉ là một trong rất nhiều chất xúc tác, điều kiện khác nhau. Bên cạnh xúc tác “cạnh tranh”, còn nhiều xúc tác khác mà chúng tôi có thể tận dụng để làm động lực cho quá trình giải quyết mâu thuẫn bên trong. Nhưng nếu chúng tôi dùng chất xúc tác “cạnh tranh” giữa các đảng, thì hệ luỵ thật khôn lường với mặt trái của nó. Một loại thuốc có chất có thể gây tác dụng phụ chết người đối với người này, nhưng có thể không có hoặc có nhưng không đáng kể đối với người khác. Một loại thuốc có thể gây bớt bệnh đối với người này, nhưng chưa hẵn chữa lành bệnh cho người khác. Và bạn hãy nhìn thực tiễn chiến tranh, xung độc sắc tộc, bất ỗn chính trị liên miên tại các quốc gia châu Phi, hay Thái Lan đã tàng phá những nước này như thế nào từ vấn đề đa đảng.
                Vậy nên, đứng trên quan điểm biện chứng, xác định đúng chất xúc tác phù hợp, đặc trọng tâm vào giải quyết tốt mâu thuẫn nội bộ, nghiên cứu lịch sử và hiện thực khánh quan của Việt Nam, việc Việt Nam lựa chọn mô hình “độc đảng lãnh đạo” là phù hợp.
                 CT1: Nhưng tôi nghĩ rằng, Triết học Mác đã từng nói: “Vận động và biến đổi là thuộc tính cố hữu của vật chất”. Bên cạnh đó, như anh đã đề cập ở trên, sự phù hợp của yếu tố độc quyền tuỳ thuộc vào chủ thể, điều kiện lịch sử mang tính giai đoạn nhất định. Xã hội là một dạng vật chất, và nó luôn biến đổi, vận động, xã hội Việt Nam hiện tại đã khác xưa; Việt nam cũng không nằm trong điều kiện có chiến tranh như xưa; Đảng Cộng sản Việt nam cũng không còn trong sạch và vững mạnh như thời của cụ Hồ còn sống, Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay đã bị vướng vào một vấn đề mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói và lo ngại, với đại ý: Một đảng, một con người, ngày hôm qua là vĩ đại, được mọi người ca tụng, không nhất thiết ngày hôm nay còn giữ được ánh hào quang, nếu không còn trong sạch nữa, nếu rơi vào chủ nghĩa cá nhân. Vậy, tôi thấy rằng, ở Việt Nam hiện nay, Đảng Cộng sản Việt Nam không còn là chủ thể xứng đáng để trao cho sự độc quyền như xưa; điều kiện khách quan và tình hình Việt Nam hiện nay đã không còn như xưa. Tôi tự hỏi, hoặc là Đảng Cộng sản Việt nam không nhận thức được điều này, hoặc là Đảng Cộng sản Việt nam muốn giữ mãi vị trí độc tôn và lo sợ, thiếu tự tin trong cạnh tranh khi tiến hành đa đảng – bởi tình trạng xuống cấp nghiêm trọng của một bộ phận “không nhỏ” đảng viên, hoặc là chưa được học về câu chuyện vua Nghiêu, vua Thuấn, nên còn giữ mãi vấn đề độc đảng!?
               CT2: Thứ nhất, tôi muốn nói với bạn, xã hội Việt Nam đã vận động, biến đổi, nhưng sự vận động và biến đổi đó không “tạo ra chất mới” trong yêu cầu phải độc quyền để tồn tại và phát triển ở Việt Nam. Việt Nam hiện tại vẫn còn đó rất nhiều kẻ thù; Việt Nam hiện tại công nhân và bà con nông dân vẫn còn nghèo; và con người Việt Nam hiện tại vẫn còn đó tinh thần đoàn kết và yêu nước lớn lao; con người Việt Nam vẫn còn đó tinh thần yêu chuộng hoà bình; con người Việt Nam vẫn còn đó tư tưởng an phận; con người Việt Nam vẫn còn đó trình độ dân trí của đại bộ phận nông dân và công nhân rất thấp; con người Việt Nam vẫn còn đó trong tim hai chữ: “Đảng ta”.
                   + Việt Nam phải độc quyền lãnh đạo trong hiện tại: để đoàn kết toàn dân tộc, giữ vững ổn định chính trị nội bộ, tránh tối đa sự len lõi, chia rẽ của kẻ thù, sự xáo trộn nội bộ làm mãnh đất màu mỡ, cơ hội cho những kẻ đang dòm ngó.
                    + Việt Nam phải độc quyền lãnh đạo trong hiện tại để tạo sự đi lên tương đối đồng bộ, tránh tối đa sự “vênh” trong việc phát huy các nguồn lực để phát triển đất nước, để đem lại sự ấm no cho công nhân và nông dân Việt Nam, không để xãy ra tình trạng nghèo khổ cho công nhân và nông dân như tại các nước thế giới thứ ba, các nước đang phát triển khác, nhất là trong điều kiện tiềm lực kinh tế Việt Nam còn tương tự như các nước này. Không thể đem so sánh Việt Nam với các nước tư bản đã phát triển từ rất lâu về chính trị, khi tiềm lực kinh tế là không thể so sánh. Với tiềm lực kinh tế như hiện nay, nông dân và công nhân Việt Nam sẽ gánh lấy hậu quả như nông dân và công nhân các nước thế giới thứ ba nếu Việt Nam tiến hành đa đảng. Còn vệ việc đãi ngộ, giàu có, an sinh xã hội ở các nước tư bản phát triển hiện nay có nguồn gốc từ đâu thì tôi đã đề cập trong bài viết “Các hình thức bóc lột của chủ nghĩa tư bản trong thế giới hiện đại”, chứ không hề có được từ sự đa đảng. Nếu các nước tư bản phát triển do Đảng Cộng sản lãnh đạo, thì nhân loại đã không có một châu Phi chết đói, không có một Mỹ la tinh bất bình đẵng và nợ nầng chồng chất; không có “chiến tranh tiền tệ”; và người dân tại nước họ còn có cuộc sống tốt đẹp hơn hiện tại rất nhiều lần, chứ không phải đang dần biến thành con nợ cho những tên trùm tài phiệt như hiện nay.
                 + Việt Nam hiện nay phải độc đảng để giữ lấy tinh thần đoàn kết và yêu nước lớn lao; không thể để cho ra đời những tên cơ hội, sẵn sàng chia rẽ dân tộc và bán dân mình thành nô lệ vì lợi ích cá nhân. Hãy nhớ câu nói của Dương Văn Minh khi quyết định đầu hàng hay chấp nhận cho Trung Quốc nhãy vào năm 1975 của Chính phủ Cộng hoà Nam Việt Nam trước đây: “Chúng ta đã bán nước hai lần, không thể bán nước thêm một lần nữa”; để cả dân tộc cùng nắm tay nhau tiến đến một xã hội tốt đẹp chứ không phải là một xã hội chia rẽ, xáo trộn, nô lệ, làm con chốt thí, vật thí nghiệm, làm cái sân sau cho các nước lớn
                  + Việt Nam hiện tại phải độc đảng để những khiếm khuyết về dân trí không bị kẻ thù lợi dụng, không bị coi khinh, không bị đem ra làm cơ hội để xõ mũi, bị bóc lột; độc đảng để những khiếm khuyết đó được yêu thương, được bổ khuyết, được xoá bỏ, được tạo điều kiện phát triển đồng bộ, hài hoà; để dù chưa loại bỏ được hết những khiếm khuyết, người nông dân và công nhân Việt Nam vẫn có được cuộc sống tốt đẹp hơn rất nhiều người nông dân và công nhân ở những nước thế giới thứ ba có trình độ dân trí như họ.
                  + Việt Nam phải độc đảng, vì người dân Việt Nam không hề muốn đa đảng, họ chỉ muốn Đảng phải sữa sai triệt để, mạnh mẽ để Đảng ngày càng trong sạch và vững mạnh hơn, xứng đáng với niềm tin của nhân dân. Vì tôi hiểu, nhiều người Việt Nam yêu nước, yêu Đảng ta lắm, nhưng họ vẫn đề nghị đa đảng. Họ đề nghị đa đảng không phải vì ghét Đảng, mà vì quá yêu Đảng, không muốn thấy Đảng “đánh mất mình”, không muốn thấy những kẻ cơ hội, ích kỹ, xấu xa, thối nát cứ tồn tại nhơn nhỡn, nhơn nhỡn trong Đảng; không muốn thấy tình trạng Đảng ngày càng mất niềm tin ở nhân dân, không muốn thấy cảnh “chệch hướng XHCN”. Họ quá yêu quý Đảng, nên ngày đêm ray rứt tìm cách thức để Đảng ta trong sạch, vững mạnh, để Đảng ta được tốt đẹp như thời còn Chủ tịch Hồ Chí Minh (họ mới là người đáng quý, người yêu Đảng; chứ không phải những kẻ miệng cứ đòi một đảng, nhưng lại tham ô, tham nhũng, quan liêu, hách dịch, cửa quyền, truỵ lạc, bê tha, coi khinh dân, đè đầu cửi cổ dân mà đáng quý, mà yêu Đảng đâu – những kẻ này hiện nay thì miệng nói trung thành với Đảng lắm, nhưng nếu như có biến cố xãy ra, họ sẵn sàng bỏ rơi Đảng ngay, mà nói thế cũng không đúng, phải nói hiện tại họ đã “bỏ rơi” Đảng rồi, họ mới là kẻ thù và là những kẻ phản bội Đảng đáng kinh tởm nhất; Đảng ta hiểu điều này bạn ạ! Tất nhiên, Đảng cũng hiểu trong số những người đề nghị đa Đảng có rất nhiều kẻ cơ hội, phản bội dân tộc vì lợi ích riêng); và họ nghị đến cách đa đảng, vì họ tin rằng, như thế Đảng ta sẽ có động lực lớn lao để ngày càng tốt đẹp hơn, ngày càng xứng đáng với niềm tin của nhân dân hơn; nhưng những người yêu nước và yêu Đảng vô bờ này chưa lường hết được tính hai mặt của vấn đề đa đảng, chưa thấy hết được khả năng và sự sâu hiểm của kẻ thù; và quan trọng nhất, những người đáng quý biết bao này vẫn chưa tìm ra được cách nào, phương thức nào khác theo họ là hiệu quả, mạnh mẽ và triệt để. Và tôi nghĩ, bạn cũng cao quý như họ!
                + Cuối cùng, Việt Nam phải độc đảng để vững tin theo một con đường và nhất quán thực hiện triệt để chính sách phát triển toàn dân tộc.
            Bây giờ đến vấn đề Đảng ta liệu có còn xứng đáng để được trao cho “độc quyền” hay không! Đảng ta hiểu rõ và thừa nhận hiện nay vì một lượng không nhỏ những tên mang nhãn “đảng viên” thoái hoá, biến chất đã làm cho Đảng giảm sút niềm tin nơi nhân dân, làm cho nước nhà chậm phát triển, làm cho nhân dân ta vẫn còn nghèo, còn cực khổ. Không thể phủ nhận những thành quả mà Đảng ta đã làm được trong thời kỳ xây dựng đất nước sau đổi mới, những cũng không thể phủ nhận chúng ta có thể đạt được những thành quả vinh quang hơn, đáng tự hào hơn rất nhiều và rất nhiều nếu Đảng ta có được sự trong sạch, vững mạnh thư thời còn Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nhưng Đảng ta bản chất vẫn là Đảng tốt bạn à! Cái này trong bóng đá người ta gọi: phong độ là nhất thời, nhưng đẳng cấp là mãi mãi. Nhưng Đảng ta hiểu rằng, nếu lượng thay đổi đến một độ nào đó, nó sẽ biến thành chất mới.    Do đó, Đảng hiện nay xem vấn đề làm trong sạch Đảng là nhiệm vụ hàng đầu. Đảng hiểu sự kiên nhẫn của người dân là có giới hạn, niềm tin yêu của người dân vào Đảng là có điều kiện, nếu Đảng không nhanh chóng và triệt để trong thời gian tới, để cái hiện tượng thành cái bản chất, thì Đảng thật sự không còn xứng đáng với niềm tin của nhân dân nữa; lúc đó Đảng sẽ phụ biết bao nhiêu tấm lòng của người dân Việt Nam yêu nước, yêu Đảng, phụ biết bao xương máu, nỗi hy sinh của bao lớp người, thế hệ Việt Nam, phụ và phản bội dân tộc, Chủ tịch Hồ. Bạn ạ! Với những gì Đảng ta đã làm được, hãy kiên nhẫn thêm một tí nữa, và hãy thêm tin một tý nữa vào “đẳng cấp” của Đảng ta, dù tôi hiểu điều này có giới hạn và điều kiện.
                 CT1: Được, tôi tạm đồng ý với bạn! Nhưng bạn phải chỉ ra cho chúng tôi cách thức nào khác thật sự hiệu quả, mạnh mẽ và triệt để trong điều kiện hiện nay! Và tôi muốn nhắt với bạn rằng: thực tiễn là cái để kiểm tra chân lý; đối với người phương Đông của chúng ta, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Một trăm bài diễn thuyết không bằng một tấm gương”; và: người dân Việt Nam mình đang dần bắt đầu đánh giá vấn đề qua thực tiễn hành vi chứ không phải bằng lời nói rồi đấy bạn ạ!
                 CT2: Bạn hãy cho tôi được chắp tay, cúi người để tỏ lòng biết ơn, tôn kính với bạn và những con người như bạn! Đảng ta hạnh phúc và vinh dự làm sao! Nhân dân ta hạnh phúc và vinh dự làm sao khi có được những người con yêu nước như bạn, ngày đêm lo nghĩ cho cái hưng vong của quốc gia, với một niềm thuỷ chung son sắc.
                 Bạn ạ ! Cho tôi được chia sẽ điều này, mình không nguỵ biện đâu, thực tiễn được dùng để kiểm tra chân lý phải là cái thực tiễn được nhìn với con mắt biện chứng và quan điểm toàn diện; thực tiễn không là thực tiễn của hôm nay, mà còn là thực tiễn trong ngày mai; điều gì cũng cần phải có thời gian, cần phải có một sự kiên nhẫn có giới hạn nhất định! Mình không thể nói nữa! Vì dù sao cũng chỉ là lời nói. Đúng! thực tiễn đang đặt ra cho Đảng ta nhiệm vụ là phải dùng thực tiễn để chứng minh chân lý. Điều này hoàn toàn phụ thuộc trực tiếp và trước hết vào Đảng. Không có điều gì có thể biện minh nếu như Đảng thất bại trong việc làm trong sạch nội bộ Đảng, nâng cao năng lực và sức chiến đấu của các tổ chức đảng trong thời gian tới! Nhân dân đã tin, và đã cho Đảng cơ hội!
               Còn về cách thức khác hiệu quả, triệt để, mạnh mẽ, thì mình xin được nói thế này:
               Ngày xưa khi Jean Jacquen Rouseau viết “Khế ước xã hội”, có người hỏi ông: Anh có phải là một chính trị gia hay một nhà lập pháp không mà viết những điều này?! J.J. Rouseau trã lời: Vì tôi không phải là một chính trị gia hay một nhà lập pháp tôi mới phải viết những điều này! Nếu tôi là một chính trị gia hay một nhà lập pháp, với quyền lực trong tay, tôi sẽ dùng quyền lực để triển khai thực hiện ngay, không cần phải viết bạn ạ!
               Vì chúng ta không có được cái động lực “cạnh tranh” mạnh mẽ và đầy mặt tiêu cực bất trắc, nên chúng ta phải kết hợp nhiều biện pháp quyết liệt khác nhau với sự tham gia của nhiều chủ thể khác nhau, và của sự chung tay, quyết tâm của cả dân tộc.
               Trước hết, toàn dân, từng Đảng viên yêu nước, yêu Đảng phải hành động quyết liệt, triệt để, đầy trách nhiệm, không thể nói đổng mà phải bằng hành vi cụ thể, làm cách mạng thì phải chấp nhận hi sinh, không thể an phận được nữa, phải dám chiến đấu quên mình để có được một Tổng Bí thư Đảng xứng đáng! Vì theo Chủ nghĩa Mác, cá nhân lãnh đạo hay lãnh tụ là một “xúc tác” làm biến đổi và thúc đẩy nhanh lịch sử (hãy nhìn vào V.I. Lenin, Chủ tịch Hồ Chí Minh). Vì theo khoa học lãnh đạo, Maxell đã từng nói: “Mọi sự thành bại đều do lãnh đạo!”.
               Nhưng có người xứng đáng thôi thì chưa đủ, mà phải có thật nhiều, thật nhiều những con người dám xã thân để thực hiện chiến lược, con đường của cá nhân xứng đáng đó!
               Bạn có đồng ý với tôi chăng! Hiện nay Nhân dân ta, Đảng ta đang có một Tổng Bí thư tuyệt vời. Bác Nguyễn Phú Trọng đang cần ở nhân dân ta, mỗi người, từng người một, hãy ý thức lấy trách nhiệm của mình, hãy dám hành động vì công lý, vỳ lẽ phải, để cùng bác, cùng Đảng, cùng nhân dân ta làm nên những điều kỳ diệu, làm trong sạch Đảng. Một mình bác không thể nào làm nỗi. Và nhiệm vụ của chúng ta là làm gì đây? Làm những điều nhỏ thôi, nhưng có ý nghĩa! Nhưng những điều nhỏ, đời thường nhưng cao quý thì vẫn chưa đủ! Mà từng người chúng ta phải là từng con người cách mạng, tức là từng con người dám hi sinh. Hãy ý thức đầy đủ với từng lời nhận xét, từng lá phiếu bầu của chúng ta. Hãy cho đi sự an phận của bản thân để cùng nhau chiến đấu không khoan nhượng với những tên gắn mác “đảng viên” mà thoái hoá, biến chất. Hãy đứng lên và công khai tuyên chiến, phản đối, không khoan nhượng với những kẻ ích kỹ, cục bộ, bè phái, quan liêu, cơ hội, hách dịch, cửa quyền; đừng ngồi đó và giữ mãi nỗi bất bình ở trong lòng. Không có cách mạng diễn ra thuần tuý trong tư tưởng, quan điểm và lới nói. Không có cách mạng nào là cách mạng không phải hi sinh, ngay cả cách mạng “Bất bạo động” của Ganhdi cũng phải hi sinh và hi sinh rất nhiều. Dù bạn có đang thực hiện chiến lược hay đang đấu tranh bước ngắn, cũng hãy đừng khoan nhượng với tiêu cực.
              Bạ ạ! Đảng là người đầy tớ trung thành, và nhân dân là chủ. Nên bạn phải nhớ rằng: “Cha không ra cha, con không ra con; vua không ra vua, tôi không ra tôi là cái gốc của loạn”. Nếu bạn làm chủ mà không ý thức, không dám hành động, không dám dùng quyền như một người chủ, thì hiển nhiên “đầy tớ” sẽ lộng hành. Nếu “đầy tớ” tha hoá, thì trách nhiệm chính thuộc về “ông chủ” không ra ông chủ, để “đầy tớ” qua mặt. Bạn hãy luôn luôn để trong vô thức, tiềm thức, ý thức và trong ngay từng hành động: TA LÀ CHỦ, VÀ NGƯỜI CHỦ NÀY QUYẾT KHÔNG ĐỂ ĐẦY TỚ QUA MẶT, MUỐN LÀM GÌ THÌ LÀM. HÃY XEM TA LÀM MỘT ÔNG CHỦ ĐỘ LƯỢNG, CÔNG MINH NHƯNG ĐẦY TRÁCH NHIỆM VÀ NGHIÊM KHẮC NHƯ THẾ NÀO!
             Chủ tịch Hồ Chí Minh, những anh hùng đã hi sinh, bác Nguyễn Phú Trọng đang mong mõi biết bao sự thức tỉnh và hành động của từng con người “chủ” của dân tộc Việt Nam!
             Thứ hai: phải có pháp luật về biểu tình. Toàn dân tộc Việt Nam, phải đem cả trí tuệ của mình để xây dựng nên một pháp luật về biểu tình, mà ở đó, gần như tất cả mặt tiêu cực của nó (Nói như Hitler: “…, nhưng đám dân ngu dốt đó còn là một con rồng, và với những cuộc biểu tình, con rồng đó sẽ phun lữa thiêu rụi cái thế giới dân chủ giả tạo, để chế độ độc tài của ta trở nên bá chủ và mãi mãi trường tồn!), đồng thời phát huy tối đa mọi mặt tích cực của nó, tạo thành một động lực thật sự mạnh mẽ để Đảng ta thực hiện triệt để vấn đề làm trong sạch đảng. Những để “con mèo bắt chuột giỏi nhưng cũng ăn vụng giỏi” này “chỉ có thể bắt chuột” thì cần có tầm trí tuệ của cả dân tộc. Nếu không, nó có thể không chịu “bắt chuột” mà chỉ lo “ăn vụng” là giỏi. Nhất là khi trình độ dân trí của ta còn thấp như hiện nay.
            Điều này khó, nhưng có thể làm được và làm tốt bạn ạ! Miễn là chúng ta có được trí tuệ của cả dân tộc để xây dựng nên pháp luật đó. Chương trình xây dựng Luật Biểu tình đã được Quốc hội khoá XIII đưa vào chương trình nghị sự chính thức; khi có dự thảo và xin ý kiến đóng góp của nhân dân, lúc đó, hãy hành động để tập trung tất cả trí tuệ của dân tộc!
            Thứ ba: phải pháp luật hoá Điều lệ Đảng; pháp luật hoá các vấn đề về phương thức lãnh đạo của Đảng; pháp luật hoá các vấn đề về kiểm tra, giám sát, bình, bầu, kỷ luật, đánh giá, phân loại đảng viên của Đảng, và nhân dân là chủ thể phải hiện diện một cách bắt buộc, tất yếu trong quá trình này. Hiện nay, nhân dân đã tham gia, nhưng chỉ tham gia bằng nghị quyết của Đảng mà chưa bằng pháp luật, nhân dân phải được chính thức hoá bằng pháp luật bằng quyền này!
            Đảng ta là đảng của toàn thể nhân dân, vì vậy cho nên: Đảng phải chịu sự kiểm tra, giám sát theo luật của toàn thể nhân dân; Đảng phải vận hành và hoạt động theo ý chí của toàn thể nhân nhân, tức là bằng những văn bản quy phạm pháp luật cụ thể.
            Nào, các bạn, chúng ta hãy cùng nắm tay nhau, cùng tiến lên với một tinh thần sẵn sàng hi sinh, bằng những hành động dù nhỏ hay “to” nhưng triệt để, mạnh mẽ, quyết không khoan nhượng. Để Đảng ta ngày càng trong sạch hơn, ngày càng vững mạnh hơn, ngày càng xứng đáng với niềm tin của nhân dân hơn!
           “Không có từng con suối nhỏ, làm sao hình thành được dòng sông lớn; không có từng hạt cát nhỏ, làm sao có được cả sa mạc!”
Thứ tư: phải tiến hành công nhân hoá Đảng ta thật mạnh mẽ. Đảng ta đã có chủ trương này, nhưng trong thời gian tới cần phải làm quyết liệt và mạnh mẽ hơn nữa. Bởi vì trí thức dù có thấm nhuần lý tưởng cách mạng của giai cấp công nhân đến mấy đi chẳng nữa, thì chất của họ vẫn là chất tri thức; tri thức không thể nào thay thế và có được bản chất đích thực của giai cấp công nhân. Giai cấp công nhân là giai cấp mà quyền và lợi ích của họ tỷ lệ thuận với quyền và lợi ích của các giai cấp tiến bộ khác và với cả dân tộc. Kết nạp công nhân vào Đảng, cần nhất và trước hết hiện nay là phẩm chất đạo đức thông thường (chưa cần đạo đức cách mạng), vì đạo đức thông thường là cái tiền đề, cơ sở, điều kiện để hình thành đạo đức cách mạng. Chỉ cần có tinh thần yêu nước, lòng thương người, bản tính trung thực, thẳng thắn, biết đấu tranh bên vực kẻ yếu, biết lo nghĩ về lợi ích cho quốc gia, dân tộc là được. Lý tưởng cách mạng sẽ được bồi dưỡng sau. Trong cái trước mắt, nếu trình độ còn hạn chế thì đảng viên trí thức bù khuyết; cài cần ở đảng viên công nhân là tính triệt để, tính vị lợi ích chung, rất kiên quyết trong những trường hợp xử lý những chủ thể tha hoá, đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc. Chất công nhân từ những công nhân Đảng viên sẽ là động lực để làm trong sạch Đảng. Đảng hãy tin rằng, số lượng đảng viên công nhân (phải thoả mãn yếu tố tối thiểu trên) trong Đảng càng cao bao nhiêu, thì: tính triệt để trong thực hiện các chính sách làm trong sạch Đảng, vững mạnh Đảng càng cao bấy nhiêu; các chính sách của nhà nước về cải cách hành chính, phát huy dân chủ, chống tham nhũng, quan liêu, thực hiện an sinh xã hội, phát triển bềnh vững, chống bất bình đẳng, xoá đói giảm nghèo sẽ được thực hiện một cách triệt để bấy nhiêu.
            HÃY VỮNG MỘT NIỀM TIN VÀO CÔNG LÝ! VÌ CÔNG LÝ NẰM TRONG ĐÔI TAY CỦA CHÚNG TA! Lẽ nào chúng ta chịu thua và để những tên mang nhãn đảng viên thoái hoá, biến chất, hại dân, hại nước , hại Đảng cứ mãi cười hả hê hay sao, cứ mãi nhỡn nhơ, vui chơi hưỡng lạch trên sự nhọc nhằn, mồ hôi, nước mắt, sự tủi nhục của những người công nhân làm thuê, của những người nông dân chân lấm, tay bùn, mồ hôi đổ lộn nước mắt hay sao! Không! Vì những con người đã hi sinh cho dân tộc, vì tất cả, chúng ta không thể thua lũ sâu bọ, lũ sâu dân mọt nước đó được!
TẤT CẢ! HÃY CÙNG TIẾN LÊN!
Đăng 9th February 2012 bởi 

– Việc Việt Nam thông qua Luật Biển là việc làm bình thường và cần thiết của một quốc gia ven biển có chủ quyền, thành viên của Công ước Liên hợp quốc về luật biển (UNCLOS) 1982.

Tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao chiều nay, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước tin Đài Loan tuyên bố tiến hành thăm dò dầu khí tại vùng biển xung quanh đảo Ba Bình thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Lương Thanh Nghị khẳng định đây là hành động “vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa”.

 

Chiến sĩ hải quân Việt Nam trên quần đảo Trường Sa. Ảnh: Minh Thăng

“Việt Nam có đầy đủ chứng cứ pháp lý và lịch sử khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Việc phía Đài Loan có kế hoạch tiến hành thăm dò dầu khí tại vùng biển xung quanh đảo Ba Bình là vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Trường Sa, gây căng thẳng và làm phức tạp tình hình ở Biển Đông. Việt Nam kiên quyết phản đối và yêu cầu phía Đài Loan hủy bỏ ngay kế hoạch phi pháp nêu trên” – ông tuyên bố.

Tại cuộc họp báo, phóng viên nước ngoài cũng đặt câu hỏi đề nghị cho biết bình luận của Việt Nam về việc phía Trung Quốc và Đài Loan gần đây lên tiếng bày tỏ quan ngại cho rằng luật Biển Việt Nam có hiệu lực sẽ ảnh hưởng đến quan hệ với các nước trong khu vực.

Ông Lương Thanh Nghị nói rằng việc Việt Nam thông qua luật Biển là việc làm bình thường và cần thiết của một quốc gia ven biển có chủ quyền, thành viên của Công ước Liên hợp quốc về luật biển (UNCLOS) 1982.

“Luật Biển Việt Nam khẳng định rõ chủ trương của Việt Nam giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông trên cơ sở luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về luật biển 1982 và các thỏa thuận, cơ chế liên quan, góp phần duy trì hòa bình, ổn định, an ninh và hợp tác ở khu vực Biển Đông” – người phát ngôn nêu rõ.

Linh Thư[http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/104733/-viet-nam-thong-qua-luat-bien-la-viec-binh-thuong-.html]

Hành trình 37 năm Thủy điện Sơn La

Vốn đầu tư hơn 60.000 tỷ đồng, gấp rưỡi dự toán ban đầu, Thủy điện Sơn La, dự án từng gây nhiều tranh cãi hơn một thập kỷ trước, vừa khánh thành và hứa hẹn cung ứng 10% sản lượng điện của cả nước.
Thủy điện lớn nhất Đông Nam Á hòa lưới

Tháng 11/1975, những chuyến đi khảo sát chính thức đầu tiên trên dòng sông Đà phục vụ công trình Thủy điện Sơn La đã được thực hiện. Theo kế hoạch, dự án Thủy điện Sơn La sẽ là bậc thang thứ 2 nằm trên sông Đà, thuộc địa phận xã Ít Ong, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Ảnh: EVN
Ngày 29/6/2001, dự án Thủy điện Sơn La được Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư . Tháng 12/2002, Báo cáo nghiên cứu khả thi thông qua tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XI. Phương án xây dựng công trình cũng được Quốc hội thông qua với mục tiêu phát điện tổ máy số 1 vào năm 2012 và hoàn thành toàn bộ công trình vào năm 2015. Quốc hội yêu cầu Chính phủ chỉ đạo tiếp tục hoàn chỉnh quy hoạch bậc thang thủy điện sông Đà. Năm 2003, EVN đã hoàn chỉnh Báo cáo nghiên cứu khả thi thực hiện phương án Sơn La. Ảnh: Anh Vũ
Tháng 12/2003, những người thợ đầu tiên thuộc Tổng công ty Sông Đà có mặt tại công trường. Ngày 15/1/2004, Thủ tướng đã ra quyết định số 09/QĐ-TTg phê duyệt dự án Thủy điện Sơn La. Ảnh: EVN
Ngày 2/12/2005, công trình Thủy điện Sơn La được khởi công xây dựng. Cùng ngày, các đơn vị thi công trên công trường đã tiến hành ngăn sông đợt 1. Trưởng Ban chỉ đạo Nhà nước dự án công trình Thủy điện Sơn La khi đó là Phó thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Ảnh: Ngọc Cảnh.
Ngày 11/1/2008, những khối bê tông đầm lăn đầu tiên được sản xuất. Quá trình đổ bê tông đầm lăn đập chính nhà máy kéo dài gần 3 năm, kết thúc vào ngày 25/8/2010, đạt 2,7 triệu m3. Ảnh: Hà Bắc
Các đơn vị cơ khí thi công hạng mục ống áp lực. Dự án thành phần xây dựng công trình thủy điện Sơn La do Tổ hợp nhà thầu là Tổng Công ty Sông Đà (tổng thầu), Tổng Công ty xây dựng Trường Sơn, Tổng Công ty Xây dựng và phát triển hạ tầng (LICOGI) và Tổng Công ty Lắp máy (LILAMA) thi công xây dựng và lắp đặt thiết bị. Ảnh: Vũ Lam
Thi công hạng mục cửa xả tràn của nhà máy, một hạng mục quan trọng của công trình chính – Ảnh: Anh Vũ
Thi công buồng xoắn tổ máy số 1. Ảnh: Anh Đức
Ngày 15/4/2010 sau hơn 7 năm triển khai, tỉnh Sơn La đã hoàn thành công tác di chuyển toàn bộ các hộ dân ra khỏi vùng lòng hồ Thủy điện Sơn La. 2 tỉnh Điện Biên và Lai Châu đã hoàn thành việc di chuyển các hộ dân ra khỏi lòng hồ trước 30/3/2010. Tổng số hộ dân ở 3 tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu phải di chuyển để nhường đất xây dựng công trình lên tới hơn 20.300, đây là dự án có số hộ dân di dời lớn nhất tính đến nay. Ảnh: EVN

 

Ngày 15/5/2010, các đơn vị thi công đã tiến hành đóng kênh dẫn dòng tích nước hồ chứa. Ngày 5/11/2010, hồ chứa đã tích nước đến cao trình 189,3m đáp ứng cho phát điện tổ máy số 1. Ảnh: Hà Bắc
Ngày 20/8/2010, rotor tổ máy số 1 đã được lắp đặt thành công. Đây là mốc quan trọng đáp ứng phát điện tổ máy số 1 đúng tiến độ, vào cuối tháng 12/2010. Trong khoảng thời gian 16 tháng, lần lượt 4 tổ máy từ 2 – 5 đã được tổ hợp và hòa lưới điện quốc gia. Ảnh: Hà Bắc.
Ngày 7/1/2011, lãnh đạo Đảng, Chính phủ tại ngày mừng tổ máy số 1 phát điện – Ảnh: Anh Vũ.
Ngày 26/9/2012, tổ máy 6 (tổ máy cuối cùng) của Nhà máy Thủy điện Sơn La đã hòa thành công vào điện lưới quốc gia. Tổng mức đầu tư của dự án là 60.196 tỷ đồng, trong đó vốn của EVN gần 43.306 tỷ đồng, còn lại trích từ ngân sách nhà nước. Như vậy, số vốn đầu tư tăng khoảng 60% so với nghị quyết của Quốc hội (từ 31.000-37.000 tỷ đồng, chưa tính lãi vay và theo giá quý 3/2002). Ảnh: Hà Bắc.
Ngày 23/12, công trình Thủy điện Sơn La hòa lưới quốc gia, trở thành đập thủy điện lớn nhất Đông Nam Á với cao độ đỉnh đập 228,1 m; dài 961,6 m; chiều rộng đáy đập 105 m; chiều rộng đỉnh đập 10 m. Dung tích hồ chứa thủy điện tới 9,26 tỷ m3, trong khi đó dung tích hồ Thủy điện Hòa Bình là 9 tỷ m3 nước, với tổng công suất lắp máy 2.400 MW, sản lượng điện bình quân hàng năm trên 10 tỷ kWh, bằng gần 10% sản lượng điện của Việt Nam năm 2012. Ảnh: Vũ Lam
8h25 sáng 23/12, hai chiếc chuyên cơ của Công ty Trực thăng miền Bắc (Tổng công ty Trực thăng Việt Nam, Bộ Quốc phòng) cất cánh từ sân bay Gia Lâm, đưa đoàn công tác của Chính phủ, do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu, lên khánh thành thủy điện Sơn La. Cùng đi với Thủ tướng có nguyên Tổng bí thư Nông Đức Mạnh. Ảnh: QĐND
Thủ tướng và các vị đại biểu ân cần động viên những người thợ Thủy điện Sơn La. Ảnh: Chinhphu.vn.
Ngày 23/12, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cắt băng khách thành thủy điện Sơn La . Thủ tướng nhấn mạnh, sau 7 năm xây dựng, lao động sáng tạo với bao vất vả, khó khăn, cả 6 tổ máy phát điện đã được vận hành. Công trình mang lại cho niềm tự hào, là một công trình thủy điện lớn nhất cả nước, mang tầm cỡ khu vực do Việt Nam tự thiết kế, thi công, vượt mốc thời gian so với tiến độ được phê duyệt là 3 năm. Bên cạnh đó, Thủ tướng yêu cầu cần chăm lo cuộc sống của đồng bào tái định cư Thủy điện Sơn La với tỉnh Sơn La. Ảnh: EVN
Sự kiện công trình Thủy điện Sơn La khánh thành là một dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển ngành điện Việt Nam, là niềm tự hào chung của đất nước. Nhờ vận hành sớm hơn 3 năm so với dự kiến, mỗi năm công trình thủy điện Sơn La sẽ tạo ra doanh thu 500 triệu USD, tiết kiệm hơn 5 triệu tấn than để sản xuất ra lượng điện năng tương đương. Người dân Sơn La đốt lửa trại vui mừng vì dự án thủy điện “cán đích” sớm hơn kế hoạch. Ảnh: EVN

Trần Tiến – Thạch Lam
http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2012/12/hanh-trinh-37-nam-thuy-dien-son-la/
http://vnexpress.net/gl/kinh-doanh/2012/12/hanh-trinh-37-nam-thuy-dien-son-la/page_1.asp

Stored Procedure, View, Trigger là gì?

SQL Server cho phép bạn tạo ra 4 đối tượng bằng cách lập trình: Stored Procedure, View, Trigger, Function.

>> Xem thêm: Tôi đi học bằng lái xe ôtô 

SP là gì?

SP (Stored Procedure) là tên được đặt cho một nhóm các mệnh đề SQL được tạo ra và lưu trong server database.

SP cho phép truyền tham số, và có thể được gọi bởi nhiều Client qua mạng với các tham số khác nhau. Khi SP bị thay đổi, tất cả Client sẽ tự động nhận được bản mới, vì SP được lưu ở Server, chứ không phải Client.

Lợi ích của SP:

  • Giảm lưu lượng dữ liệu được truyền qua mạng và tăng hiệu năng (Performance). Client chỉ việc truyền tên SP và tham số (nếu có) thay vì gửi những câu SQL nhiều dòng dài ngoằng.
  • Có thể được sử dụng để đảm bảo tính toàn vẹn dữ liệu của Database.
  • Đối với những ứng dụng lớn kết nối với cơ sở dữ liệu, ta nên dùng SP, tôi liệt kê một vài lợi ích cụ thể như sau:
    • Dễ bảo trì, việc thay đổi SP hoàn toàn không ảnh hưởng đến người dùng cuối, trong suốt với họ.
    • Chuyên biệt công việc, ví dụ những Developer giỏi lập trình C# thì chuyên tâm lập trình C#, còn những Developer giỏi lập trình T-SQL thì chuyên viết SQL từ căn bản đến phức tạp.
    • Tăng khả năng bảo mật. Đối với những ứng dụng mà ta không muốn cho Developer biết thông tin về nghiệp vụ bên trong thì ta viết SP, Developer chỉ gọi SP sử dụng mà không biết ta xử lý gì bên trong.
    • Tái sử dụng Code. Đối với những đoạn Code thường xuyên được sử dụng thì SP rất hữu dụng.
  • VD: sp_spaceused, sp_renameddb…

View là gì?

View có thể được xem như một Table ảo mà dữ liệu của nó được lấy ra từ một câu truy vấn, có chứa cột và dữ liệu từ một hay nhiều Table khác nhau, hay từ những View khác nhau. Ðối với lập trình viên thì View không khác chi so với Table và có thể đặt ở vị trí của Table trong các câu lệnh SQL.

Ðặc điểm của View là ta có thể join dữ liệu từ nhiều Table và trả về một tập kết quả đơn. Ngoài ra ta có thể thao tác dữ liệu trước khi trả về cho user bằng cách dùng các lệnh SQL như where, case…

Lưu ý: View đơn giản là 1 Table ảo, nó không được lưu trữ lễn đĩa về mặt vật lý như Table thông thường.

Lợi ích của View.

  • Có khả năng tăng tính bảo mật. View giúp ta che giấu cấu trúc của câu truy vấn bên trong. Sau khi tạo xong View ta có thể Insert, Delete, Update như 1 Table bình thường.
  • Giảm độ phức tạp. Ví dụ như User chỉ muốn xem thông tin của một vài cột với một điều kiện nào đó, View cung cấp đúng dữ liệu họ muốn mà không có dữ liệu thừa.

Trigger là gì?

Trigger có thể hiểu đơn giản là một thủ tục SQL được thực thi ở phía Server khi có một sự kiện xảy ra như Insert, Delete, hay Update. Tuy nhiên khác với Stored Procedure, Trigger hoàn toàn không có tham số. Chúng ta không thể gọi thực hiện trực tiếp Trigger bằng lệnh EXECUTE như Stored Procedure hoặc bằng bất kỳ một lệnh nào khác, Thay vào đó trigger sẽ được thực hiện một cách tự động.

Trigger cũng có thể gọi thực thi Stored Procedure.

Trigger được lưu trữ và quản lý trong Server Database.

Trigger được dùng trong trường hợp ta muốn kiểm tra các ràng buộc toàn vẹn trong Database.

Function là gì?

Function có thể hiểu đơn giản là hàm trong ngôn ngữ lập trình để thực hiện một phép tính hay một xử lý nào đó

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: ‘Mãi mãi là sao sáng dẫn đường’

LTS: Chủ tịch nước Trương Tấn Sang có bài viết nhân kỷ niệm 68 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (22-12-1944 / 22-12-2012), Tiền Phong Online xin giới thiệu toàn văn bài viết này.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong buổi làm việc với Bộ Quốc phòng ngày 14-3-2012
Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trong buổi làm việc với Bộ Quốc phòng ngày 14-3-2012. Ảnh: Cổng TTĐT Bộ Quốc phòng

TRƯƠNG TẤN SANG (*)

Kỷ niệm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, tôi muốn tiếp tục nói lên những suy nghĩ của mình về tình hình đất nước hiện nay liên quan đến hai nhiệm vụ chiến lược, là bảo vệ và xây dựng Tổ quốc.

Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập ngày 22-12-1944. Đó là ngày thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, đội quân chủ lực đầu tiên, theo chỉ thị của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Kế thừa và phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, dựa vào sức mạnh của nhân dân và nghệ thuật chiến tranh nhân dân Việt Nam, sự đoàn kết, giúp đỡ của nhân dân và quân đội các nước anh em, vừa chiến đấu vừa xây dựng, Quân đội nhân dân Việt Nam đã phát triển từ nhỏ đến lớn, càng đánh càng mạnh, càng đánh càng thắng lớn và trưởng thành vượt bậc. Sức mạnh của Quân đội nhân dân Việt Nam thể hiện trong các cuộc kháng chiến chống xâm lược bắt nguồn từ truyền thống yêu nước được hun đúc qua mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, sự thống nhất về mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, tình đoàn kết quân dân, đoàn kết nhất trí giữa cán bộ và chiến sĩ, mưu trí dũng cảm trong chiến đấu, năng động, sáng tạo trong sử dụng vũ khí, trang bị kỹ thuật phù hợp với nghệ thuật quân sự Việt Nam, chiến trường Việt Nam.

Kỷ niệm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, bên cạnh niềm tự hào về một quân đội bách chiến bách thắng, còn là dịp để chúng ta nhận thức một cách đầy đủ, sâu sắc hơn tất cả những gì mà quân đội của chúng ta đã từng và đã trải, đã chiến đấu, hy sinh, để trưởng thành lớn mạnh, để thắng lợi vẻ vang; là dịp để chúng ta tôn vinh tất cả những thế hệ đã hiến dâng cuộc đời mình cho vinh quang của dân tộc, cho độc lập, tự do của đất nước; là dịp chúng ta tưởng nhớ những người đã mất và cố gắng làm tròn trách nhiệm của những người còn sống, đang sống…

Ngày 22-12 sẽ mãi mãi là một Ngày Anh Hùng!

Nhưng ý nghĩa của ngày này chỉ trở nên thật đầy đủ khi chúng ta phát huy thật tốt trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ và xây dựng đất nước hôm nay.

Mấy vấn đề thực tế

Quý vị độc giả hãy miễn thứ, và nếu có thể, hãy chia sẻ với tôi nếu như đôi chỗ trong bài viết này không đi theo khuôn mẫu thường thấy. Sự dè dặt, thận trọng quá mức và khuôn mẫu thường đem đến cảm giác an toàn cho người phát biểu, nhưng trong nhiều trường hợp, nó thật sự chưa thể lột tả được bản chất của vấn đề.

Có thể thấy được nguyện vọng thiết tha của mọi đảng viên và công dân trong thực hiện nhiệm vụ bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ, trên đất liền, vùng trời, vùng biển của Tổ quốc, trong xây dựng Đảng, củng cố Nhà nước, xây dựng đất nước, trong việc không ngừng nâng cao đời sống nhân dân. Đó luôn là nguyện vọng, là quyền đòi hỏi chân chính và cấp bách. Đòi hỏi ấy đang đứng trước những thách thức to lớn.

Tôi muốn trước hết đề cập đến vấn đề kinh tế và tư tưởng. Kinh tế có mạnh, tư tưởng có vững, cả dân tộc có đoàn kết thống nhất, thì Quân đội mới có khả năng để trở thành một quân đội vô địch. Không có một quân đội mạnh trên nền tảng một xã hội chia rẽ, mất tinh thần, không sẵn sàng chiến đấu, đất nước thiếu sinh lực. Sức mạnh của quân đội, sức mạnh bảo vệ Tổ quốc phải trên cơ sở sức mạnh của quốc gia. Đó là sức mạnh tổng hợp của cả chính trị, kinh tế, tư tưởng; của quân đội và nhân dân; tiền tuyến và hậu phương; đối nội và đối ngoại… Tôi hoàn toàn tin tưởng rằng dân giàu, nước mạnh và đặc biệt là đoàn kết toàn dân tộc thì kẻ thù nào cũng sẽ không dám xâm lược nước ta, nếu có, chúng chỉ chuốc lấy thất bại mà thôi.

Về kinh tế, sau nhiều năm đất nước phát triển đầy hưng phấn, nay do nhiều nguyên nhân, cả bên trong và bên ngoài, đang lâm vào tình trạng suy giảm. Nguyên nhân bên trong có nhiều nhưng trong đó phải kể đến khuyết điểm của lãnh đạo và quản lý… Gần đây, báo chí và dư luận hằng ngày đề cập đến những “nhóm lợi ích”, đâu đó có hành vi thâu tóm quyền lực kinh tế làm cho lòng dân không yên, các định chế tài chính hoạt động bộc lộ yếu kém, nợ công cao, đầu tư dàn trải và tệ tham nhũng, lãng phí gây thiệt hại nghiêm trọng các nguồn lực quốc gia; lạm phát ở mức cao; thu nhập thực tế và đời sống của người dân khó khăn hơn; cùng với các tai, tệ nạn xã hội có dịp bùng phát; lối sống ích kỷ, suy đồi, vô cảm, vô trách nhiệm hiện diện ở nhiều lĩnh vực của cuộc sống… Tất cả những thực tế đó làm suy giảm lòng tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

Về tư tưởng, chưa bao giờ như trong vòng một năm qua, xuất hiện rất nhiều dư luận, trong đó có những tư tưởng và dư luận nguy hiểm, gây chia rẽ trong Đảng, giữa Đảng với nhân dân; cá biệt có người đòi “phi chính trị hóa quân đội”. Thử hỏi trên thế giới này có ở đâu và bất cứ việc gì lại ít nhiều không mang tính chính trị? Họ khoét sâu những yếu kém trong lãnh đạo, quản lý đất nước hoặc những khuyết điểm, sai phạm của một số cán bộ để gây phân tâm trong dư luận xã hội và ở chừng mực nào đó, họ đã đạt được những “kết quả” nhất định, làm cho xã hội trở nên bất ổn hơn.

Không thể không đề cập đến một mối lo ngại trong xã hội về khả năng xảy ra xung đột trong khu vực, liên quan đến Việt Nam; lo ngại về khả năng ứng phó của Đảng, Nhà nước, Quân đội ta trong tình hình thế giới rất khó lường hiện nay. Đã có nhiều cuộc đối thoại trong, ngoài nước và nhiều bài viết trên báo chí về chủ đề này. Một số hãng tin nước ngoài đã dùng chủ đề này như một phương tiện hữu hiệu để chuyển sự chú ý của dư luận theo hướng phục vụ cho ý đồ của họ. Có những trang mạng xã hội còn gây nghi ngờ trong nhân dân về chủ trương đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta, thậm chí họ còn vu cáo, xuyên tạc rằng Đảng ta “bán rẻ đất nước”. Những luận điệu kiểu đó rất nguy hiểm, cần phải cảnh giác, bởi nếu không, nó sẽ gieo những mầm mống độc hại, cùng với những áp lực xuất phát từ những khó khăn trước mắt về kinh tế và tư tưởng, làm cho đất nước ta càng thêm khó khăn.

Sự hình thành và phát triển của Đảng đã chứng minh, Đảng ta không ngại phê bình. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, có loại phê bình xây dựng và có loại phê bình không phải là xây dựng, thậm chí là phá hoại. Không phải ai và lúc nào cũng phân biệt được sự phê bình xây dựng với sự phê bình phá hoại, và trong những lúc trắng đen chưa rõ ràng, thì dư luận dễ bị lạc hướng; những thiện chí bị lợi dụng bởi những tư tưởng có hại, đầu độc bầu không khí chính trị của đất nước. Nếu chúng ta không ý thức đúng mức những lo lắng của cộng đồng và bị những tư tưởng độc hại chi phối, sẽ bị dao động về ý chí, thậm chí bất mãn, ngả theo kẻ xấu, trở thành công cụ cho bất kỳ kẻ nào thừa cơ hội đứng lên khoác áo “nghĩa hiệp” và đưa đất nước đi đến chỗ hỗn loạn.

Tình trạng suy giảm kinh tế và sự suy thoái về tư tưởng chính trị nếu không được sớm chặn đứng, sẽ đặt tương lai của đất nước ta trước thử thách khốc liệt. Đúng như nhận định của Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) là những nguy cơ đó liên quan đến sự “tồn vong” của chế độ, đồng thời nó cũng đe dọa trực tiếp đến sự thành công của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Chúng ta phải làm gì?

Trước hết, với tư cách là người có trọng trách trong Đảng và là người đứng đầu Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, tôi xin khẳng định rằng: Đảng, Nhà nước ta không bao giờ bán nước cho các thế lực bên ngoài như những kẻ xấu vu cáo.

Dù còn những khuyết điểm, yếu kém, nhưng Đảng và Nhà nước ta không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân.

Hành động bán nước hay những việc làm tương tự sẽ chịu sự nguyền rủa, oán hận của các thế hệ sau này, cũng như chúng ta đã từng phê phán nghiêm khắc những nhân vật và những chế độ như thế trong lịch sử.

Non sông đất nước ta, khắp nơi, những cảnh, những người, những phong tục tập quán, đâu đâu cũng đẹp và lòng chúng ta đau đớn khi nghĩ đến những nét đẹp ấy có thể bị vùi dập hay thậm chí bị lãng quên. Chúng ta không thể để cho viễn cảnh đen tối đó trở thành hiện thực.

Chúng ta có lúc tự ti hay bi quan về một số việc chúng ta làm chưa được bằng người, nhưng chúng ta cũng hiểu rằng, để phát triển và hoàn thiện không chỉ cần có thời gian, mà cần cả mồ hôi, nước mắt, kể cả máu. Không thể ngồi đó, so sánh và chẳng làm gì để xây dựng, thậm chí lại chửi bới – thái độ đó làm hạ thấp giá trị của mỗi một chúng ta và làm suy yếu hơn nữa khả năng phát triển đất nước. Không có hành động nào làm tàn hại đất nước nhanh hơn sự kích động, gây chia rẽ dân tộc; bởi trong một hoàn cảnh vô tổ chức, không một công việc gì của tập thể có thể thực hiện được, huống hồ là những mục tiêu to lớn, cao đẹp, mà để thực hiện, đòi hỏi phải có sự nỗ lực lớn lao của cả cộng đồng dân tộc.

Thái độ cần thiết hiện nay, dù có khác biệt nào chăng nữa, thì tất cả các giai tầng xã hội, các tầng lớp nhân dân cần hành động với một động cơ duy nhất, đó là vì lợi ích của dân tộc, vì sự ổn định chính trị, vì sự bình yên của xã hội để làm ăn và phát triển kinh tế, cần đẩy mạnh hơn nữa quá trình đại đoàn kết, hòa giải và hòa hợp dân tộc. Mọi hành động phá hoại mục đích đó hoặc khoét sâu thêm những bất đồng để đẩy đất nước đến bờ vực của sự hỗn loạn, phải bị loại trừ và lên án.

Thái độ tích cực đó cần được thể hiện trong mọi khía cạnh của cuộc sống, trong đó có việc cấp bách hiện nay là tiếp tục kiên trì thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI). Suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức lối sống phải bị chặn lại. Tham nhũng, tiêu cực phải kiên quyết loại trừ để cho bộ máy thực sự trong sạch vững mạnh, nhưng đồng thời phải làm sao giữ được sự ổn định, tránh sa vào những sai lầm ấu trĩ có thể dẫn đến những hậu quả tồi tệ về chính trị – xã hội. Mặt khác, cũng không thể nhân danh sự ổn định chính trị – xã hội để dĩ hòa vi quý và thỏa hiệp với cái xấu, cái sai. Đây thực sự là một yêu cầu khó khăn, đòi hỏi sự tỉnh táo, sự quyết tâm, sự đoàn kết nhất trí và bản lĩnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Tôi nhận thức sâu sắc rằng, nhân dân ta, các lực lượng vũ trang ta trông đợi vào kết quả thực chất của công cuộc này để củng cố lòng tin của mình vào sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta. Đây là thời cơ chính trị chúng ta phải nắm lấy, tạo ra sự chuyển biến mới như một cột mốc trong quá trình phát triển. Được như vậy, sức mạnh của chúng ta sẽ tăng lên gấp bội, trong đó có sức mạnh quốc phòng – an ninh.

Một trong những bất cập chính trong công tác quản lý nhà nước hiện nay là có việc thì tập trung quá mức, có việc thì lại phân cấp quá mức nhưng lại thiếu kiểm tra, đặc biệt là công cuộc cải cách hành chính quá chậm chạp và có nguyên nhân từ sự suy thoái của một số cán bộ, công chức các cấp, các ngành, đang cản trở sự phát triển đất nước. Toàn dân ta không ai muốn duy trì tình trạng này.

Tôi cũng mong muốn tất cả mọi người nhìn nhận đúng đắn một thực tế đáng buồn là, phải chăng sau khi đã trở nên khá giả hơn, một bộ phận người Việt Nam trở nên ít khát vọng trong sáng, thậm chí trở nên sa đọa về đạo đức lối sống. Những người như vậy cần nhìn nhận điều đó một cách cầu thị, thay đổi cách nghĩ, đồng hành cùng dân tộc, vì sự nghiệp chung, tiếp nối giá trị văn hóa tốt đẹp của cha ông thì cuộc sống mới có ý nghĩa.

Nhưng quan trọng hơn, cần phải có những “cú huých” đủ mạnh từ phía luật pháp, chính sách và dư luận để làm cho xã hội tốt đẹp hơn, ở đây tôi muốn kêu gọi cả sự thức tỉnh của đạo đức, của lương tâm để có sự chuyển biến mạnh mẽ.

Rõ ràng, thực tế đang đặt ra những yêu cầu cao đối với công tác quản lý nhà nước, chống lại tệ quan liêu, trì trệ, tham nhũng, “lợi ích nhóm” hay lợi ích cục bộ của ngành này, ngành khác; phải có những tiêu chí mới để đánh giá cán bộ trên cơ sở hiệu quả thực chất, vì lợi ích chung, chứ không phải những quy định mà người ta có thể lợi dụng theo ý muốn của mình.

Tất cả mọi việc đều có nguyên nhân từ con người. Để có cán bộ tốt, không thể chỉ kêu gọi chung chung, mà trước hết phải bằng chính sách, luật pháp, kỷ luật, kỷ cương và tất nhiên cao hơn thế nữa là phải xây dựng đạo đức con người ngay từ khi còn nhỏ, khi cắp sách đến trường. Chúng ta có thành công hay không trong việc thực hiện những mục tiêu xây dựng và bảo vệ đất nước, khâu cốt yếu tùy thuộc ở yếu tố cán bộ và dựa trên tinh thần kỷ luật, kỷ cương. Có kỷ luật, kỷ cương thì bộ máy mới tốt và vận hành thông suốt. Bộ máy càng lớn, kỷ luật càng trở nên cấp thiết, nếu không sẽ xuất hiện tình trạng vô tổ chức. Vì thế, hơn lúc nào hết, luật pháp và kỷ luật cần phải được tôn trọng triệt để.

Chúng ta phải làm mọi điều có thể để trong ngắn hạn phải ổn định kinh tế vĩ mô, lấy lại sự hưng phấn trong phát triển kinh tế cũng như niềm tin của nhân dân và doanh nghiệp. Không có niềm tin thì người dân, doanh nghiệp, cả nhà đầu tư nước ngoài, không ai dại gì đầu tư, kinh doanh để phải chấp nhận rủi ro. Bài học trong suốt 67 năm qua là, khi nào có niềm tin của nhân dân, thì dù có khó khăn đến đâu, chúng ta cũng nhất định vượt qua và vươn tới.

Đã đến lúc chúng ta phải hành động quyết liệt, phải tháo bỏ các rào cản phục vụ cho tăng trưởng, điều hòa các lợi ích xã hội; phải đổi mới và cương quyết thực hiện bằng được những mục tiêu về chính trị – kinh tế – xã hội đã đề ra.

Nhân đây, tôi cũng đánh giá cao vai trò của các cơ quan truyền thông, báo chí và cả các trang mạng thông tin có trách nhiệm đối với đời sống xã hội, các bạn hãy thực sự là người “chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng”, bên cạnh việc đấu tranh mạnh mẽ với cái xấu, hãy cổ vũ và làm nảy sinh những điều tốt đẹp vì nước, vì dân của các cơ quan, tổ chức và cá nhân, góp phần tăng cường niềm tin vào tương lai tốt đẹp của đất nước nhất định sẽ thành hiện thực; và rằng: Hiện tại không có con đường nào khác ngoài con đường xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, xây dựng và bảo vệ đất nước mình. Tôi tin rằng, nhân dân ta cũng rất muốn nghe các bạn kể những câu chuyện tốt đẹp có thật trong cuộc sống, khả dĩ có thể nhân rộng, lấn át đi những cái xấu, có tác dụng làm sáng trong và tươi đẹp tâm hồn.

Chắc chắn các bạn sẽ làm tốt điều đó!

Tôi ý thức một cách rõ ràng rằng, để thực hiện hữu hiệu các mục tiêu bảo vệ và xây dựng Tổ quốc không chỉ bằng những lời hô hào, kêu gọi. Lúc này, rất cần lòng nhiệt huyết, niềm tin và sự chung tay, góp sức của toàn dân tộc. Quân đội và các lực lượng vũ trang ta, càng không phải ngoại lệ, không chỉ với những vấn đề thuần túy quốc phòng-an ninh, mà cả với các vấn đề quốc kế dân sinh.

Hội nghị Quân ủy Trung ương họp phiên cuối năm hôm 13-12-2012
Hội nghị Quân ủy Trung ương họp phiên cuối năm hôm 13-12-2012. Ảnh: Cổng TTĐT Bộ Quốc phòng

Sức mạnh của dân tộc chúng ta

Thực hiện hiệu quả những công việc nói trên cũng là góp phần thiết thực nâng cao năng lực quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc. Xét cho cùng, cái gốc của bảo vệ Tổ quốc cũng chính là lòng dân. Lòng dân chính là sức mạnh không có giới hạn. Chúng ta đã nói nhiều đến “thế trận lòng dân”, “nền quốc phòng toàn dân”, nghệ thuật quân sự độc đáo của chúng ta chính là “nghệ thuật chiến tranh nhân dân”. Đó cũng là đặc trưng của Quân đội nhân dân Việt Nam, có truyền thống từ ngàn xưa. Dân là gốc. Đã là người sĩ quan, chiến sĩ Quân đội nhân dân thì phải luôn đề cao tính chính trị, tuyệt đối trung thành với Nước, với Dân, với Đảng, dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Xây dựng và bảo vệ đất nước là hai nhiệm vụ chiến lược quyện chặt vào nhau. Thời bình Quân đội phải giúp dân, cùng với Đảng, chính quyền và dân chăm lo phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, hướng vào những vùng sâu, vùng xa có nhiều khó khăn; biên giới và hải đảo mà có dân cũng là cách bảo vệ biên giới và hải đảo tốt nhất…

Theo nhiều nhà phân tích chiến lược, thế giới và khu vực đang bước vào một cuộc chạy đua vũ trang mới. Chúng ta chưa bao giờ là người khởi xướng những cuộc chạy đua như vậy. Đó cũng không phải là sự lựa chọn phù hợp với chủ trương và khả năng của chúng ta.

Sách trắng quốc phòng của Việt Nam ghi rõ, “sức mạnh quốc phòng được xây dựng bằng nguồn lực mọi mặt của đất nước và con người Việt Nam, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đồng thời tranh thủ sự hợp tác, giúp đỡ của các nước bè bạn có chung mục đích đấu tranh cho hòa bình, độc lập và phát triển của khu vực và thế giới. Việt Nam không tham gia bất kỳ hoạt động nào sử dụng vũ lực hay đe dọa sử dụng vũ lực với các nước khác, nhưng sẵn sàng tự vệ chống lại mọi hành động xâm phạm lãnh thổ trên bộ, vùng trời, vùng biển và lợi ích quốc gia chính đáng của Việt Nam; không chạy đua vũ trang nhưng chúng ta luôn củng cố sức mạnh quốc phòng đủ để tự vệ”.

Tôi cho rằng, bản chất và động lực phát triển của chúng ta không dựa trên những nhân tố bạo lực, mà đòi hỏi ở Đảng và Nhà nước ta một sự lãnh đạo sáng suốt, mềm dẻo, khai thác hợp lý những nhân tố phi bạo lực, những cơ hội trong bối cảnh hiện tại để tìm cách phát triển. Đồng thời đối với chúng ta, đầu tư cho quân sự, cho quốc phòng là nhằm mục đích tự vệ, bảo vệ Tổ quốc, không gây lo ngại về an ninh cho các nước khác. Trên thực tế, dù chúng ta có dồn hết mọi nỗ lực của đất nước vào lĩnh vực quốc phòng thì cũng chưa đủ, bởi do nguồn lực hạn hẹp nên chi phí quốc phòng của chúng ta thấp hơn nhiều so với các nước phát triển hoặc các nước lớn. Chúng ta xây dựng quân đội trong khả năng có thể, bao gồm cả tiềm lực chính trị, kinh tế, khoa học – công nghệ và quân sự.

Sức mạnh của chúng ta phải là ở sức mạnh của chính nghĩa, được thế giới ủng hộ. Việt Nam phải là “lương tri của thời đại” như thế giới từng tôn vinh.

Sức mạnh của chúng ta phải là sức mạnh của lòng dân, của tinh thần đoàn kết, nhất trí toàn dân tộc. Đất nước sẽ không thể đứng vững bởi sự chia rẽ. Sự chia rẽ dân tộc chính là cơ hội cho những kẻ xâm lược.

Sức mạnh của chúng ta là ở truyền thống quật cường đã được hình thành từ hàng ngàn năm lịch sử, từng là nguyên nhân để chúng ta chiến thắng mọi kẻ thù hung bạo; sức mạnh của chúng ta còn là sức mạnh của cách đánh, khả năng tác chiến và cách thắng…

Nhân dân Việt Nam yêu hòa bình; hữu nghị, hòa hiếu vốn là truyền thống văn hiến của dân tộc ta. Chúng ta làm tất cả để hòa bình luôn được hiện diện. Sinh lực của cộng đồng dân tộc chúng ta đã từng được huy động tối đa vào các cuộc kháng chiến giành độc lập đầy hy sinh, giờ đây, những sinh lực ấy phải là của báu để bảo vệ và phát triển đất nước.

Độc lập và phát triển đất nước luôn là mục tiêu và động lực chính yếu của dân tộc chúng ta.

Khi có kẻ thù nào xâm lược nước ta, thì như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Chúng ta sẽ huy động tất cả mọi sức mạnh để tự vệ và chiến thắng mọi kẻ thù xâm lược.

Đôi lời cảm xúc

Nhân Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam 22-12, cho phép tôi với tư cách đồng đội, xin chia sẻ niềm vui với toàn thể các vị tướng lĩnh, sĩ quan, cán bộ, chiến sĩ, công nhân viên quốc phòng, các đồng chí cựu chiến binh, các gia đình liệt sĩ, các đồng chí thương binh, bệnh binh trên cả nước.

Vào những ngày này, âm hưởng của những bài thơ, bài ca cách mạng, những bài hát ca ngợi người chiến sĩ từng làm xúc động bao trái tim Việt Nam, đang đầy ắp trong xúc cảm và hồi ức của chúng ta.

Hôm nay không phải lần đầu tiên tôi cảm thấy vô cùng tự hào về Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, tự hào về hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ” – một biểu tượng không chỉ đẹp về thể chất mà còn ở những nét đẹp của tinh thần đoàn kết, nỗ lực vượt qua khó khăn, gian khổ, trên hết là tình yêu Tổ quốc, yêu nhân dân nồng nàn, sâu lắng và có những nét nổi trội khó có thể thấy được ở những đội quân nào khác… Trong niềm xúc động, tự hào đó, tôi xin dừng bài viết này bằng việc dẫn câu thơ của Nhà thơ Vũ Cao, như một lời nhắn nhủ:

“Anh đi bộ đội sao trên mũ

Mãi mãi là sao sáng dẫn đường…”.

(*) Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam

http://www.tienphong.vn/hanh-trang-nguoi-linh/604942/Chu-tich-nuoc-Truong-Tan-Sang-Mai-mai-la-sao-sang-dan-duong-tpol.html