Tag Archive: lai


Nhân quyền và “Cánh đồng chết” !

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

—Trích bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Hoa Kỳ

 

Còn biết bao nhiêu hành động ghê rợn như thế hoặc hơn thế vì thời gian mà dần dần bị chìm vào quên lãng. Nếu những sự kiện đó được liệt kê đầy đủ, hẳn “người Mỹ sẽ còn kinh sợ và xấu hổ hơn nhiều” – tờ Life nhận định.
45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai
Nhà báo Phranh Bran-mai-ơ vừa có bài trên tờ Earthtime viết về cuộc thảm sát Mỹ Lai của đế quốc Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam. Ông cho rằng, mặc dù cuộc thảm sát Mỹ Lai đã qua 44 năm, nhưng thời gian vẫn không thể xóa nhòa được tội ác của kẻ đi xâm lược, nỗi hổ thẹn đó vẫn còn làm nhức nhối trong lòng nước Mỹ.
 
Ngày 16-3-1968, đây là ngày định mệnh của dân làng Mỹ Lai, khi mà những binh lính Lữ đoàn bộ binh số 11 của Mỹ từ bên kia bán cầu kéo đến. Theo lệnh chỉ huy, chúng bắn giết phụ nữ, trẻ em, người già và san phẳng Mỹ Lai trong vòng 3 tiếng đồng hồ. Những thi thể đẫm máu nằm ngổn ngang khắp làng. Từ xa, người ta đã nhìn thấy những đống lửa rừng rực bốc cao từ những ngôi nhà bị đốt cháy. Đau xót hơn, những dấu hiệu trên các thi thể phụ nữ cho thấy họ đã bị hiếp trước khi bị giết. Con số người chết trong vụ thảm sát này thật kinh khủng – 504 người, gần như toàn bộ cư dân trong làng.
45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai
 Họ là những thường dân vô tội, là nạn nhân của Đại đội Sác-li khát máu và sát nhân. Không một ai bị giết trong cuộc giao tranh thực sự. Họ bị dồn thành từng đám, không một thứ vũ khí trong tay, phụ nữ, trẻ em, người già… tất cả bị bắn bởi những loạt đạn lạnh lùng của lính Mỹ. Vụ sát hại thảm thương này không chỉ đơn thuần là những hành vi của nhóm lính côn đồ bất trị “coi người Việt Nam không phải là người” gây ra. Nó là một cuộc bắn giết được lên kế hoạch cẩn thận với mục tiêu giết càng nhiều càng tốt. Nhưng hơn một năm sau, công luận Mỹ mới biết được sự thật qua loạt bài phóng sự của nhà báo Xay-nơ Hớt-xơ, vì quân đội Mỹ đã che đậy bưng bít thông tin.
 45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai
Nhà báo Rôn Ha-béc-lơ, người đầu tiên công bố những tấm hình về vụ thảm sát Mỹ Lai trên tờ Life hơn một năm sau vụ thảm sát cho rằng, bọn chúng (lính Mỹ) như những con thú đói mồi, thèm được giết, được ăn một cách nghiến ngấu. Ha-béc-lơ kể: “Là phóng viên chiến trường, tôi được phép đi cùng lính Mỹ trong các vụ càn quét. Hôm đó, trên con đường mòn ở Mỹ Lai, chúng tôi gặp hai đứa trẻ. Một người lính bắn vào đứa trẻ bé. Đứa trẻ lớn hơn lao vào để che chở cho em nhưng đã bị ăn 6 phát đạn vào người. Một lúc sau, chúng tôi gặp người đàn ông và 2 đứa trẻ khác, một bé trai và một bé gái. Những tên lính Mỹ nổ súng và cắt họ ra làm đôi. Đứa bé trai bị thương vào cánh tay và cẳng chân. Thằng bé lao về phía chúng tôi trong sự thất đảm, kinh hoàng, người nó đầy máu. Tôi quỳ gối để chụp ảnh thằng bé và một người lính cũng quỳ gối cạnh tôi để bắn thằng bé. Phát súng đầu tiên nổ hất ngửa thằng bé ra phía sau, phát thứ 2 hất tung nó lên cao, đến phát thứ 3, thằng bé rơi xuống. Bắn xong, tên lính này bỏ đi dửng dưng. Không có một chút biểu hiện nào trên gương mặt của hắn ta, không có một chút thể hiện nào trên gương mặt của tất cả những người lính Mỹ. Họ đã phá hủy, giết hại với một vẻ hoàn toàn thản nhiên, với vẻ của một người đang làm công việc bình tâm. Thật kinh hoàng!”
45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai
Khi sự thật về vụ thảm sát Mỹ Lai được tiết lộ đã khiến sự phẫn nộ, bất bình của dư luận Mỹ và thế giới lên đến cực điểm (11-1969) và phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Vào mùa thu 1969, hàng triệu người biểu tình ở khắp nơi trên thế giới. Điển hình là cuộc biểu tình của 250.000 người tại Oa-sinh-tơn xuống đường phản đối chiến tranh ở Việt Nam, đây là cuộc biểu tình chống chiến tranh Việt Nam lớn nhất nước Mỹ.
Đối với một thế hệ những người Mỹ, người châu Âu và châu Á lúc đó, Mỹ Lai đồng nghĩa với hình ảnh đáng sợ của người Mỹ. Tờ Thời báo đã viết: “Nước Mỹ lúc bấy giờ và những người Mỹ đó phải đứng ở ghế bị cáo và phải tự vấn lương tâm về những tội lỗi gây ra tại Mỹ Lai. Họ sẽ không bao giờ có thể thoát được những tội lỗi của mình”.
Thế nhưng khi đó, “chiến thắng luôn nằm trong tay kẻ mạnh”, không một binh lính Mỹ nào phải chịu trách nhiệm về hành động giết người dã man của mình, ngoại trừ Trung úy Ca-lây giết 22 người dân vô tội ở Mỹ Lai (con số thực tế là 109 người). Phiên tòa xét xử Trung úy Ca-lây được coi như là phiên tòa “dài nhất, lớn nhất và đau đớn nhất trong lịch sử nước Mỹ” thế kỷ XX. Tuy nhiên, Ca-lây chỉ bị quản thúc tại gia hơn 3 năm. Một phán quyết thật bất công và phi lý của Tòa án Mỹ.
Trước khi xử Ca-lây, quân đội Mỹ đã có cuộc điều tra riêng về vụ thảm sát Mỹ Lai. Cuộc điều tra này được tiến hành từ tháng 12-1969 đến tháng 3-1970. Trong vòng 14 tuần, Tướng Uy-li-am Pia-xơ và Ủy ban điều tra đã ghi nhận lời khai của 403 nhân chứng, bao gồm các quân nhân, sĩ quan chỉ huy, tuyên úy, nhà báo Mỹ và của cả những người Việt. Kết quả cuộc điều tra đã khiến quân đội Mỹ “sốc” tới mức phải ỉm ngay nó đi. Gần 400 giờ thu âm các nhân chứng vào băng đã bị chuyển sang chế độ bảo mật cho tới bây giờ. 

Theo BBC4, những lời khai ghi trong băng khiến Lầu Năm Góc thực sự choáng váng. Một lính Mỹ kể: “Phát đạn đầu tiên trúng vào đầu một trẻ sơ sinh và tôi phải quay mặt đi để nôn mửa”. Một người khác cho biết: “Đa số đồng ngũ trong Đại đội của tôi không coi người Việt Nam là người… Một gã tóm ngay một cô gái và… sau đó, họ đã bắn chết cả nhóm con gái đó khi đã… xong…”.
Các cuốn băng trong cuộc điều tra chứng minh rằng, các binh lính Mỹ đã hiếp và giết hàng trăm dân thường không chỉ ở một làng mà cả trong 3 làng ngày hôm đó (16-3). Băng ghi âm cũng chứng minh rằng 3 đại đội, chứ không phải chỉ có Đại đội Sác-li gây ra tội ác man rợ ghê tởm này.
Nhưng phải đến 6 năm sau (tháng 4–1975) người Mỹ mới chịu rút khỏi Sài Gòn trong một cuộc tháo chạy trên trực thăng. Sức mạnh phi thường của một dân tộc nhỏ bé đã đánh bại và làm bẽ mặt một siêu cường hàng đầu thế giới về công nghệ giết người. Cuộc chiến tranh Việt Nam cũng đã gửi lại nước Mỹ “bộ sưu tập lính” mắc hội chứng chiến tranh với những vết thương tâm lý in hằn cùng quá khứ khủng khiếp. Hàng chục bộ phim, hàng trăm cuốn sách tiếp tục “cày xới” lên quá khứ. Mọi lính Mỹ tham chiến ở nước ngoài trong bản cam kết phục vụ đều có thêm cảnh báo: “Không có thêm Việt Nam”. Thượng nghị sĩ Ken-nơ-đi đã gọi I-rắc là “Việt Nam của G.Bu-sơ”.
45 năm nhìn lại vụ thảm sát Mỹ Lai
Lời sám hối muộn màng: “Tôi luôn nghĩ rằng có ai đó sẽ bất ngờ chỉ một ngón tay vào tôi và nói rằng: Hắn là một trong số đó.”
Trong cuộc chiến tranh vùng vịnh đầu tiên 1990, một thông điệp rõ ràng mà các chỉ huy Mỹ gửi đến cho lính của họ khi đang thi hành mệnh lệnh là “Không được có Mỹ Lai nữa, hiểu chứ?” Nhưng trong cuộc chiến ở I-rắc, bắt đầu từ năm 2003, những nỗi sợ hãi về Mỹ Lai có vẻ đã bị lãng quên, khi lính Mỹ tra tấn dã man tù nhân ở nhà tù A-bu Gra-íp, hay câu chuyện về vụ thảm sát ở Ha-đi-tha, nơi mà lính Mỹ đã sắp hàng 24 người dân I-rắc rồi nổ súng, cũng như những vụ bạo hành và lạm dụng ở nhà tù Goan-ta-na-mô.
Tổ chức theo dõi nhân quyền thế giới có thể gọi đó là “Mỹ Lai ở I-rắc”. Dù I-rắc còn bất ổn, số lính Mỹ thiệt mạng ngày một tăng, sự so sánh là không thể tránh được, nhưng ở đây có một sự khác biệt rõ ràng so với hơn bốn mươi năm trước ở Việt Nam. Vào lúc đó, không một người lính Mỹ nào phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình. Duy nhất chỉ có Trung úy Ca-lây với 3 năm tù quản thúc tại gia. Trong khi ở Ha-đi-tha, nhiều quan chức phải khiển trách, nhiều người phải ra tòa vì bị cáo buộc là đồng phạm và không ngăn cản, trong khi nhân viên an ninh U-tơ-rích phải chịu đối mặt với cáo buộc giết 18 người dân. Công luận và các nhà sử học đã bị xúc phạm khi Tổng thống Bu-sơ so sánh Việt Nam với I-rắc. Ông ta đã từng nói rằng, những nguy hiểm của việc rút quân khỏi I-rắc sẽ gây nên những “cánh đồng chết” giống như Mỹ rút khỏi Việt Nam.
AMARI TX (TH)

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979

Đúng vào ngày này 34 năm trước (17.2.1979), Trung Quốc bất ngờ tung hơn 60 vạn quân nổ súng xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía bắc, nhưng đã phải rút quân sau hơn một tháng gặp sự kháng cự mãnh liệt của quân và dân ta, chịu nhiều tổn thất nặng nề.

Tuy vậy cuộc chiến tranh xâm lược này cũng mở màn cho cuộc xung đột vũ trang tại biên giới giữa VN và Trung Quốc (TQ) kéo dài suốt 10 năm sau đó. Theo thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược – Bộ Công an, với độ lùi về thời gian, việc nhìn nhận lại cuộc chiến tranh này là hoàn toàn cần thiết.

 

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Thiếu tướng Lê Văn Cương

 

Kể từ sau khi VN và TQ bình thường hóa quan hệ (1991), hai bên dường như đều không muốn nhắc lại cuộc chiến này. Từ hơn 30 năm qua, cuộc chiến chống quân xâm lược Trung Quốc gần như không được nhắc tới. Theo ông tại sao cuộc chiến lại bị rơi vào lãng quên như vậy?

Để trả lời câu hỏi này có lẽ cần cả một hội thảo khoa học. Tôi chỉ xin lưu ý như sau, vào những năm kỷ niệm chẵn 10, 15… hay gần đây nhất là 30 năm sau cuộc chiến tranh chống TQ xâm lược (2009), báo chí, truyền hình của VN gần như không đưa tin gì về sự kiện này. Đây là một sự thiếu sót lớn trên góc độ Nhà nước. Hơn thế nữa, đó là một sự xúc phạm đến linh hồn của những đồng bào, chiến sĩ đã bỏ mình để bảo vệ Tổ quốc trong cuộc chiến tháng 2.1979 và gần mười năm sau đó. Họ nằm dưới mộ có yên không? Gia đình vợ con bạn bè và những người thân thích của họ sẽ nghĩ gì về chuyện này?  Đã có ý kiến cho rằng nhắc đến những chuyện này cũng có nghĩa là kích động chủ nghĩa dân tộc. Tôi có thể khẳng định rằng nói như vậy là ngụy biện.

Trong khi chúng ta im lặng thì những dịp đó chúng tôi đã thống kê hệ thống phát thanh, truyền hình báo chí của TQ tung ra trung bình từ 600-800 tin, bài với những cái tít gần như có nội dung giống nhau về cái mà họ gọi là “cuộc chiến tranh đánh trả tự vệ trước VN”. Có thông tin cho rằng hiện tại có tới trên 90% người dân TQ vẫn quan niệm rằng năm 1979 Quân đội VN đã vượt biên giới sang tấn công TQ và bắt buộc TQ phải tự vệ đánh trả. Từ hàng chục năm nay, hệ thống tuyên truyền của TQ đã nhồi nhét vào đầu người dân TQ rằng cuộc chiến 1979 chỉ là cuộc phản công trước sự xâm lược của VN.

Theo tôi nghĩ, trong tuyên truyền đối nội và đối ngoại, cả ở kênh nhà nước, nhân dân và trên truyền thông, chúng ta phải làm rõ và góp phần làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ bản chất của cuộc chiến tranh Việt – Trung 1979. Đồng thời góp phần làm cho hơn 1,3 tỉ người TQ biết được sự thật rằng vào ngày đó hơn 60 vạn quân TQ đã vượt biên giới xâm lược VN. Việc chúng ta im lặng hàng chục năm qua, theo tôi là  không đúng. Việc nói ra cũng không liên quan gì chuyện kích động chủ nghĩa dân tộc. Hãy thử so sánh chuyện đó với việc TQ tung ra hàng nghìn bài báo xuyên tạc lịch sử từ hàng chục năm qua.

 

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Bộ đội Việt Nam đánh trả quân Trung Quốc xâm lược tại Lạng Sơn năm 1979

 

Với độ lùi về thời gian, theo ông chúng ta có thể rút ra những điều gì từ cuộc chiến tranh này? Những điều đó có ý nghĩa thế nào trong bối cảnh hiện tại ?

Theo tôi, khoảng thời gian 34 năm đã là khá đủ cho chúng ta nhận thức lại những vấn đề xung quanh cuộc chiến 1979. Thế nhưng đến giờ phút này tôi có cảm giác không phải lúc nào chúng ta cũng có được sự nhận thức thống nhất, nhất quán từ trên xuống dưới.

Vấn đề thứ nhất, phải xác định rõ về mặt khoa học, cuộc chiến 1979 là cuộc chiến tranh chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc. Đây là vấn đề phải nhận thức rõ từ cấp cao nhất. Sự nhận thức ấy cũng phải được thống nhất trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Đây là chuyện không được phép mơ hồ.

Không chỉ nhận thức mà Nhà nước có trách nhiệm đưa câu chuyện này vào sách giáo khoa. Thực tế cho thấy phần lớn học sinh tiểu học, trung học và thậm chí đa số trong 1,4 triệu sinh viên hầu như không biết gì về cuộc chiến tranh này. Nếu để tình trạng này kéo dài, trách nhiệm thuộc về Nhà nước. Chắc chắn chúng ta sẽ không tránh được sự phê phán của thế hệ sau này. Hàng vạn người con ưu tú của chúng ta đã bỏ mình để bảo vệ từng tấc đất biên giới phía bắc của Tổ quốc, tại sao không có một dòng nào nhắc đến họ? Bây giờ đã quá muộn. Nhưng không thể để muộn hơn được. Theo quan điểm của tôi, Nhà nước phải yêu cầu đưa phần này vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Chúng ta không thể mơ hồ được, không thể  lờ đi vấn đề lịch sử này được.

 

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Bệnh viện huyện Trùng Khánh, Cao Bằng bị quân Trung Quốc tàn phá tháng 2.1979 – Ảnh: Tư liệu

 

Tôi đã nhiều lần trao đổi với các học giả nước ngoài và họ đã thắc mắc khá nhiều chuyện tại sao sự kiện chiến tranh chống quân TQ xâm lược năm 1979 lại không được nhắc đến trong các giáo trình lịch sử của VN. Tôi đã phải chống chế với lý do rằng người VN muốn quên đi quá khứ và hướng đến tương lai. Nhiều học giả Hàn Quốc, Nhật Bản đã phản bác tôi vì “Lịch sử là lịch sử. Quá khứ là quá khứ. Tương lai là tương lai”. Họ nói rằng: “Chúng tôi biết người VN rất nhân hậu, muốn hòa hiếu với các dân tộc khác. Nhưng điều này không thể thay thế cho trang sử chống ngoại xâm này được”.

Thứ hai,  trong thế giới hiện đại toàn cầu hóa, các quốc gia đều phụ thuộc lẫn nhau. Không có quốc gia nào hoàn toàn độc lập tuyệt đối. Ngay cả Mỹ nhiều lúc cũng phải nhân nhượng các quốc gia khác. Chúng ta không có quan niệm về độc lập chủ quyền tuyệt đối trong thời đại toàn cầu hóa. Nhưng trong bối cảnh này, phải nhận thức rõ cái gì là trường tồn? Theo tôi có 3 thứ là chủ quyền quốc gia, ý thức dân tộc và lợi ích quốc gia. Ở đây chúng ta phân biệt chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, chủ nghĩa dân tộc nước lớn với lòng yêu nước chân chính, ý thức tự tôn tự hào dân tộc. Hai cái đó khác nhau. Người VN có truyền thống yêu nước, có tinh thần chống ngoại xâm bất khuất, đó là điều cần được phát huy trong 92 triệu người VN trong và ngoài nước.

Chủ quyền quốc gia, ý thức dân tộc và lợi ích quốc gia là những cái “dĩ bất biến”, những cái còn lại là “ứng vạn biến”. Những chuyện “16 chữ”, “bốn tốt” trong quan hệ với TQ là “ứng vạn biến”. Bài học từ cuộc chiến chống xâm lược năm 1979 cho thấy nếu không nhận thức được điều này thì rất nguy hiểm.

Thứ ba, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, tiêu chí để phân biệt người yêu nước hiện nay là anh có bảo vệ lợi ích quốc gia hay không. Trên thế giới này không có bạn bè vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia mới là vĩnh viễn. Năm nay chúng ta chuẩn bị tổng kết Nghị quyết T.Ư 8 (7.2003) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Tôi thấy có một quan điểm bây giờ vẫn đúng, đó là: “Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh”. Đồng thời, cũng phải có cách nhìn biện chứng về đối tượng và đối tác: trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong một số đối tác, có thể có mặt khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của ta, cần phải đấu tranh.

 

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Tù binh Trung Quốc bị bắt tại Cao Bằng

 

Nhìn lại từ câu chuyện của 34 năm trước đến những căng thẳng hiện tại trong vấn đề biển Đông, theo ông có thể hy vọng gì ở tương lai trong quan hệ giữa VN và TQ ?

Tạo ra lòng tin, sự hữu nghị chân thật giữa hai nước là con đường tất yếu nhưng đòi hỏi thời gian lâu dài và từ cả hai phía. Đây không phải là điều có thể hy vọng có được trong vài ba năm tới đây. Lịch sử mách bảo chúng ta muốn giữ được hòa bình, ổn định, giữ được độc lập tự chủ thì điều quan trọng nhất là giữ được lòng dân. Trên dưới một lòng, có được sự đoàn kết dân tộc thì chắc chắn không có kẻ xâm lược nào dám dại dột động đến chúng ta cả. Lịch sử VN đã cho thấy những lần mất nước đều bắt đầu từ việc chính quyền mất dân. Năm 179 trước CN An Dương Vương để mất nước là do mất dân. Một ông vua đứng đầu quốc gia mà tin vào kẻ thù thì chuyện mất nước là không thể tránh khỏi. Năm 1406, nhà Hồ mất nước cũng vì đã mất dân. Đến mức độ nhà Minh truy bắt cha con Hồ Quý Ly thì chính những người trong nước đã chỉ điểm cho quân Minh. Năm 1788 Lê Chiêu Thống sang cầu viện Mãn Thanh đưa 20 vạn quân sang giày xéo quê cha đất tổ cũng là ông vua đã mất dân. Đó là bài học muôn đời để bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Ng.Phong
(thực hiện)
nguồn: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130217/nhin-lai-chien-tranh-bien-gioi-1979.aspx

Nancy Rica Schiff – một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp đã dành rất nhiều thời gian của mình để ghi lại hình ảnh của những ngành nghề mới lạ và độc đáo. Schiff đã từng xuất bản một cuốn sách ảnh về chân dung những người có công việc kì lạ vào năm 2002.

Đa số mọi người sẽ nghĩ rằng những người làm công việc kỳ lạ chắc hẳn sẽ có tính cách lập dị. Tuy nhiên, Schiff cho biết, điều này không đúng. Nhiếp ảnh gia mô tả nhân vật của mình là những người nhạy cảm, tinh tế và làm việc một cách vui vẻ.

Nhiều người trong số các “đối tượng” của Schiff đã liên lạc với nhiếp ảnh gia và kể lại về tác động mà những hình ảnh tạo nên với cuộc sống của họ. Họ chia sẻ rằng trước đây, bạn bè và hàng xóm biết nơi họ làm việc, nhưng không thực sự biết họ làm gì ở đó. Giờ đây, công việc của họ không những được biết đến nhiều hơn mà còn nhận được nhiều sự cảm thông và khích lệ.

Dưới đây là những nghề nghiệp “quái dị” đã được xuất bản trong cuốn sách:

 

1

Chuyên gia… kiểm tra mùi cơ thể.

2

Người nuôi đỉa.

3

Người sản xuất gà cao su.

4

Người thử nghiệm… thức ăn cho chó.

5

Nhân viên trị liệu… ruột già.

6

Người thiết kế… underwear cho nam giới.

7

Trợ lý cho… nghệ sỹ phi dao.

8

Trị liệu âm nhạc cho những người đang hấp hối.

9

Người làm sạch… xương khủng long.

10

Nhân viên… chữa vết nứt trên các vách đá.

11

Và cả người… thử nghiệm băng vệ sinh.

[sưu tầm]

Đây là 1 bài viết dài của mình về tổ chức khủng bố Việt Tân, chủ yếu từ các thông tin ngay tại Mỹ, ngay từ những bọn chống Cộng kiêm chống Việt Tân. Bài này nằm trong 1 dự án về tổ chức khủng bố VT mà mình đang hợp tác làm cùng Lê Dũng và 1 số bạn khác. Mấy ngày nay lướt web thấy có mấy đứa cò mồi của VT gào “nếu VT chống TQ thì tôi sẽ theo VT”. Báo chí và radio, TV Việt ngữ bên đây thì … nghe VT sủa điếc cả tai. Bực ko chịu nổi, VT chưa bao giờ chống TQ, chúng nó chỉ kêu gào bằng mồm và xúi con nít ăn cứt gà, xúi giục, kích động, khích tướng, rủ rê, dụ dỗ, lợi dụng người khác chứ bản thân chúng nó ko có chống gì TQ, chúng nó chỉ chống VN thôi. Thập niên 1980, trong lúc VN đang chống TQ công khai, thì chính bọn Việt Tân này đã vào VN khủng bố chứ ai vào đây. Bài này tính để dành post sau này, nhưng bực quá thôi post vào đây luôn cho các bạn tham khảo, đây cũng là thời điểm thích hợp để mọi người biết đc mặt thật, chân tướng, bản chất của tổ chức khủng bố này. Để ý thức đc bất cứ cái gì dính vào VT thì nên hết sức thận trọng.

——————————————————-

2- Tổ chức khủng bố Việt Tân

Sau khi cuộc chiến chống Mỹ của Việt Nam kết thúc, một số phần tử ngụy quân và ngụy quyền chạy theo sang Mỹ. Một bộ phận trong số này chẳng những không ăn năn hối cải, không cải tà quy chính, mà còn ngày càng lầm đường lạc lối, dấn thân vào tội ác, do thù hận, do ngu dốt không thức thời, vì lợi ích cá nhân, vì những đồng đô la nhơ nhuốc, chúng đã điên cuồng chống phá Việt Nam. Chúng lập rất nhiều tổ chức, đảng phái, hội đoàn, “cộng đồng” khác nhau để chống lại đất nước. Một trong những tổ chức khủng bố ấn tượng nhất, gây nhiều tội ác nhất, chính là tổ chức khủng bố Việt Tân.

Tổ chức khủng bố “Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng”, gọi ngắn gọn là “Việt Tân”, với lá cờ vàng ba sọc đỏ là biểu tượng, là một tổ chức khủng bố xuyên quốc gia do cựu phó đề đốc ngụy Sài Gòn Hoàng Cơ Minh thành lập và huấn luyện, dưới sự tài trợ của chính phủ Hoa Kỳ trong thời Chiến tranh lạnh và trong thời gian Việt-Mỹ chưa bang giao. Sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ, Việt Tân vẫn được chính phủ Mỹ, chủ yếu những thành phần chính trị gia phản động, diều hâu, vẫn còn mang tư tưởng thực dân đế quốc, chống Việt Nam, chống XHCN, hoặc những chính trị gia cơ hội (muốn tranh thủ Việt Tân để lợi dụng chúng vận động kiếm phiếu trong cộng đồng người Việt hải ngoại) trong chính phủ Mỹ tài trợ qua nhiều quỹ khác nhau. Tổ chức khủng bố này hoạt động với chiêu bài “quang phục Việt Nam”, “phục quốc”, “đem lại tự do, dân chủ, nhân quyền, phú cường cho Việt Nam”. Chúng không dám thừa nhận bản chất khủng bố của mình, mà thường tự xưng, tự phong mình là những “nhà hoạt động nhân quyền”, “nhà dân chủ”, “người bất đồng chính kiến”, “người có quan điểm khác biệt”, “chiến sĩ tự do” (freedom fighter) v.v.

3- Những hoạt động của Việt Tân

Trong những năm 1980, dưới tên gọi “Mặt trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam” hoặc còn được gọi là “Mặt trận Hoàng Cơ Minh”, tổ chức khủng bố Việt Tân đã nhiều lần đem các loại súng đạn, chất nổ, lựu đạn, mìn, tiền giả, ma túy vào Việt Nam để phá hoại xã hội, khủng bố người dân và khủng bố chính quyền.

Trong thập niên 1990, sau khi Mỹ chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam, đồng thời manh nha có ý tưởng “chống khủng bố” và sử dụng chiêu bài này để bành trướng quốc tế, xác định “kẻ thù chính của nước Mỹ chính là chủ nghĩa khủng bố”, thì Mặt trận Hoàng Cơ Minh cũng lập tức đổi tên thành “Việt Nam Canh Tân Cách Mạng Đảng” (Việt Tân) và tuyên bố cái gọi là “cương lĩnh mới” của chúng, hứa hẹn từ nay sẽ không còn đấu tranh bạo lực giết người nữa mà chuyển sang đấu tranh “bất bạo động”, bằng tuyên truyền chính trị, phù hợp với sự chuyển đổi sách lược từ chiến tranh bạo động sang Diễn Biến Hòa Bình của Hoa Kỳ và phương Tây. Tức quan thầy thay đổi sách lược thì đệ tử cũng thay đổi sách lược. Quan thầy tuyên bố “tôi đây chống khủng bố” và kêu gọi “chống khủng bố” thì đệ tử cũng vội vã thanh minh “tôi đây không phải là khủng bố”. Và cũng để quan thầy khỏi mang tiếng “tài trợ khủng bố”, nuôi dưỡng khủng bố.

Cũng trong những năm 1990, mặc dù bề ngoài đã tuyên bố thay đổi chiến lược từ bạo động sang “bất bạo động”. Nhưng thỉnh thoảng Việt Tân vẫn sai người vào VN đặt chất nổ, rải và dán truyền đơn, xách động, dụ dỗ, mua chuộc những thành phần bất mãn, những phần tử lưu manh, giang hồ, xã hội đen, tội phạm ở VN để hoạt động cho chúng. Hầu hết người của Việt Tân trong thời gian này khi bị bắt giữ ở VN đều tìm thấy vũ khí nguy hiểm trên mình chúng, như súng lục, lựu đạn, dao găm, lưỡi lê v.v.

Kể từ năm 2000, cuộc chiến “chống khủng bố” do Hoa Kỳ đứng đầu đã rất ác liệt. Mối quan hệ đối tác kinh tế Việt-Mỹ ngày càng tốt đẹp, thuận lợi. Thế giới văn minh hơn, yêu hòa bình hơn. Dân trí Việt-Mỹ ngày được nâng cao, tình thế đã khác xưa, thời thế thay đổi, nên Việt Tân ngày càng chuyển qua hình thức phá hoại chính trị, diễn biến hòa bình là chính, ít còn dùng bạo lực giết người cướp của như trước đây. Tuy nhiên, thỉnh thoảng chúng vẫn sai người về VN thực hiện các nhiệm vụ khủng bố để lấy tiếng. Nhằm thực hiện ý đồ vừa có thể khủng bố Việt Nam trong thời đại mới, vừa có thể tránh tiếng khủng bố, chúng đã tiến hành 2 bước:

1. Sai người về nước khủng bố. Trong thời gian điều tra, giam giữ phạm nhân thì Việt Tân ỡm ờ, không tuyên bố gì chính thức, và trả lời phỏng vấn kiểu nước đôi, ba phải, “văn chương huề vốn”, chung chung.
2. Sau khi tên khủng bố đã bị bắt, đã khai báo, đã tự viết bản nhận tội và ký tên và báo chí VN cho biết đây là thành viên của tổ chức khủng bố Việt Tân thì chúng mới tuyên bố chính thức và “minh định lập trường” rằng đây “không phải là người của chúng tôi”.

Hành động nước đôi, hai mặt này của Việt Tân xảo quyệt, hiểm độc ở chỗ nó vừa lấy tiếng được cho tổ chức này, rằng “chúng tôi vẫn có thực lực”, “chúng tôi có khả năng lật đổ chế độ VN”, “chúng tôi hoàn toàn có thể làm ra những việc lớn lao”, “chúng tôi có giá trị mặc cả”, “chúng tôi có đủ tư cách, đủ tiêu chuẩn để nhận tài trợ từ các quỹ của chính phủ Hoa Kỳ”, “chúng tôi có đủ tư cách để thu hút sự chú ý của chính phủ Mỹ và các chính phủ phương Tây khác”. Đồng thời cũng hé lộ, úp mở rằng ta đây có dây mơ rễ má với chính phủ Mỹ đấy nhé, nhằm ra oai với đồng bào hải ngoại. (Chứ 1 mình Việt Tân thì không dám làm những chuyện điên rồ như vậy nếu không có xếp Mỹ chống lưng) Mà cũng vừa tránh được tiếng khủng bố vì “chúng tôi đã tuyên bố chính thức rằng mình không phải khủng bố, và tên khủng bố này không liên quan với chúng tôi đấy nhé”. Như vậy, Việt Tân vừa lấy được tiếng, tăng cường “số má”, cường hóa “thương hiệu” của mình, và vừa tránh được tiếng khủng bố, tránh cho chủ Mỹ cái tiếng “nuôi khủng bố”, “tài trợ khủng bố”.

Một chiêu làm mãi cũng nhàm và bị chủ Mỹ chê là “one trick pony” (ngựa con chỉ biết diễn mỗi một trò), nên thỉnh thoảng Việt Tân cũng “mix it up” (thay đổi những cách đối phó khác nhau) bằng cách là trong nhiều trường hợp khác, thay vì làm bộ làm tịch tuyên bố “không phải người của chúng tôi” thì Việt Tân nói huỵch toẹt ra là “đây đúng là người của chúng tôi, nhưng họ không có khủng bố, công an CSVN đã vu oan giáo họa cho họ và viết giả các bài viết thú tội, giả mạo chữ ký của họ”, khi báo CAND đưa lên hình ảnh chữ viết, chữ ký, và những phạm nhân tự thú bằng chính lời nói của chúng trước máy ghi âm, máy quay, thì Việt Tân lại sửa giọng “quản giáo CSVN đánh đập tra tấn các tù nhân lương tâm của chúng tôi, hăm dọa họ, đe dọa gia đình họ, bắt ép họ phải nói, phải viết theo ý CSVN, theo kịch bản của CSVN v.v.” Mặc dù trong các video clips ai cũng thấy rõ những tên hèn nhát “chưa khảo đã khai” này tự thú rất ngoan ngoãn, trôi chảy, và không hề có dấu hiệu thương tích sứt mẻ hay bị đánh đập gì, hay bị sức ép tâm lý gì.

Nói chung, trong thập niên 1980, Việt Tân không hề che giấu bản chất khủng bố cố hữu của mình. Trong thập niên 1990 thì Việt Tân bề ngoài tuyên bố “bất bạo động” bằng mồm, nhưng bên trong thì vẫn có những đợt chống phá khủng bố thô bạo. Trong thập niên 2000 thì chúng hạ nhiệt khủng bố, tăng cường phá hoại bằng Diễn biến hòa bình. Tuy nhiên thỉnh thoảng làm vài cú để chứng tỏ với quan thầy rằng “chúng em vẫn còn xài được” và xù lông ra uy với đồng bào hải ngoại và các phe phái khác, các tổ chức khủng bố khác rằng “bọn tao vẫn còn số má lắm”. Nếu xưa kia đường lối của Mỹ đối với các nước XHCN và Việt Tân đối với VN thuần túy là bạo lực đẫm máu thì ngày nay đường lối và chủ trương của chúng là “Diễn biến hòa bình kết hợp bạo loạn lật đổ”, tức chúng dùng biện pháp hòa bình, ôn hòa, bất bạo động kết hợp với bạo động lật đổ. Mà biện pháp bất bạo động, cách mạng màu, cách mạng da cam, cách mạng nhung, cách mạng đường phố, dụ dỗ và kích động những người chống đối đổ xô ra đường để làm náo loạn đường phố, kinh động xã hội, rối loạn trật tự an ninh, là nhiệm vụ chủ yếu. Biện pháp bạo động, khủng bố ngày nay chỉ còn là những biện pháp phụ, có tính chất hỗ trợ.

Những nhân vật chóp bu lãnh đạo Việt Tân của thời khủng bố lộ liễu, trắng trợn vào thập niên 1980 (như Đỗ Hoàng Điềm, Hoàng Cơ Định em ruột Hoàng Cơ Minh, Lý Thái Hùng v.v…) cũng chính là những tên lãnh đạo tổ chức này trong thời khủng bố nhát gừng và diễn biến hòa bình hiện nay.

Địa bàn hoạt động của Việt Tân bao gồm khắp nơi trên đất Mỹ. Chúng luôn tìm cách khủng bố ở Việt Nam và cơ quan ngoại giao VN tại một số nước láng giềng, nhưng thường bị bắt trước khi thủ ác. An ninh VN đã và đang cài rất nhiều người trong hàng ngũ của chúng, mỗi khi chúng về nước là bị chặn bắt ngay từ phi trường, hoặc theo dõi ngay từ đầu tới cuối.

Tại Hoa Kỳ, bọn Việt Tân luôn thò cánh tay lông lá vào các cộng đồng người Việt, các thành phố có nhiều đồng hương, nhúng tay vào hầu hết các đảng phái, tổ chức, hội đoàn, báo chí, truyền thông, nhà xuất bản, trung tâm thương mại, cơ sở kinh doanh v.v. Trong nước thì chúng luôn tìm cách dùng điện thoại, Internet, e-mail, và cả Paltalk để móc nối, bắt liên lạc, để lấy tiếng với quan thầy. Ngoài nước thì chúng cũng không ngừng bành trướng thế lực, mở rộng địa bàn, cài cắm đồng bọn vào các tổ chức khác, tạo ra các tổ chức ngoại vi, các tổ chức đối lập cuội, mua chuộc, dụ dỗ, hăm dọa những người thuộc tổ chức khác. Chúng như một tổ chức băng đảng lưu manh quy mô lớn, không ngừng tìm cách mở rộng thế lực, bành trướng địa bàn, thôn tính các phe nhóm khác để độc quyền bá chủ, độc quyền chống Cộng, độc quyền làm trùm, độc quyền hưởng phân (fund) Mỹ. Hành động bành trướng, lũng đoạn, phá rối, quấy phá các phe đảng khác và có mưu đồ muốn xóa sổ họ của Việt Tân cũng đã bị các phe phái chống cộng khác chống trả quyết liệt, và phản pháo, lên án, vạch trần âm mưu thủ đoạn của chúng các đài báo chống cộng khác tại hải ngoại.

4- Những tội ác khủng bố, lừa đảo của Việt Tân đối với Việt kiều hải ngoại

Mặc dù luôn rêu rao và khoe chiêu bài “đấu tranh vì tự do ngôn luận tại Việt Nam” nhưng Việt Tân có một “thành tích” đáng sợ về khoản giết người bịt miệng, khủng bố Việt kiều hải ngoại, nhất là trong thời gian cuối thập niên 80, khi Việt Tân còn mang tên “Mặt trận Quốc gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam” hay “Mặt trận Hoàng Cơ Minh” và thời gian sau khi Hoàng Cơ Minh bị quân dân Việt – Lào bắn chết trong chiến dịch khủng bố mang tên “Đông Tiến”. Để tiếp tục lừa tiền đồng hương và không muốn làm hụt hẫng không khí chống Việt Nam tại Mỹ, những tên chóp bu, đầu mục, đầu sỏ, cầm đầu băng đảng khủng bố Việt Tân đã bưng bít thông tin, giấu diếm ém nhẹm đi tin tức Hoàng giáo chủ đã “băng hà”. Hoàng Cơ Định trâng tráo cầm micro tuyên bố chắc như đinh đóng cột rằng “Chiến hữu Hoàng Cơ Minh, và cũng là anh trai tôi, vẫn còn sống và đang hoạt động chống Cộng sản quyết liệt trong các rừng già tại biên giới Việt – Lào”, Đỗ Hoàng Điềm thì phụ họa tuyên bố chắc nịch trên đài phát thanh rằng “Chủ tịch Hoàng Cơ Minh không hề tuẫn tiết gì cả, đó chỉ là thông tin tuyên truyền dối trá của VC, không thể nào tin được”. Trong khi hình xác chết của Hoàng Cơ Minh đăng rõ ràng trên mặt báo. Rất tiếc xưa nay báo chí VN không được phép lưu hành tại hải ngoại, hầu hết những siêu thị, nhà sách nào phát hành báo chí trong nước đều bị những kẻ luôn mồm “đấu tranh cho tự do báo chí”, “đấu tranh cho tự do thông tin” kéo bè kéo đảng đến biểu tình, ăn vạ, bắt phải dẹp bỏ, có lúc chúng cho lâu la tự tay đem đốt hoặc giục những tờ báo trong nước vào thùng rác. Do bị bưng bít thông tin, rất nhiều người không biết trùm khủng bố Hoàng Cơ Minh đã đền tội, vẫn quyên tiền cho Việt Tân để chống phá trong nước.

Để lừa đảo, gạt tiền quyên góp từ đồng hương. Không những Việt Tân giấu diếm, bưng bít thông tin về cái chết của Hoàng Cơ Minh, mà chúng còn giả mạo những lá thơ “do Hoàng Cơ Minh gởi về”. Đôi khi chúng còn viết trên các tờ báo của chúng, chúng tuyên bố trên các đài phát thanh của chúng rằng “Chủ tịch Hoàng Cơ Minh có điện thoại về”… Những người nào nêu nghi vấn hoặc tố cáo, vạch trần trò lừa gạt bịp bợm của chúng đều bị chúng thuê xã hội đen đánh đập, dằn mặt, thủ tiêu. Như trường hợp chúng thuê người bắn chết ký giả Lê Triết, khủng bố vợ con của ông này. Ám sát hụt giáo sư Cao Thế Dung. Vợ ký giả Lê Triết và ông Cao Thế Dung từng kiện Việt Tân ra tòa vì tội mưu sát, nhưng cũng như bao vụ khác, những tên cầm đầu Việt Tân đều được trắng án và tha bổng một cách vô lý, kỳ lạ, mờ ám, và có dấu hiệu tiêu cực. Cho thấy ai là kẻ thật sự đứng sau lưng Việt Tân. Có rất nhiều cựu thành viên Việt Tân, bao gồm cả những tên từng là lãnh đạo cấp cao, đã viết sách, viết báo tố cáo bản chất tội lỗi, tàn bạo, hung ác, man rợ của Việt Tân, và những chuyện nội bộ nhơ nhớp, dơ dáy, bẩn thỉu mà Việt Tân bưng bít, trong đó chủ yếu là những chuyện lừa gạt, gian lận tiền bạc, kết bè kết cánh, ăn chia không đồng đều, khủng bố thanh toán người khác v.v. có không ít những chuyện chúng chém giết thanh toán, loại bỏ, trừ khử lẫn nhau vì đồng tiền và quyền lực. Có những người đã thoát ly Việt Tân từ lâu nhưng vẫn thường xuyên bị quấy rối, dằn mặt, hăm dọa tính mạng, khi thì bị gọi điện thoại phá (prank call), lúc thì bị chọi trứng, cà chua, gạch đá vào cửa sổ xe, cửa nhà, cửa sổ nhà v.v. Chúng thường thuê các nhóm xã hội đen, trộm cướp, và nhất là các băng đảng (gang) vốn đầy rẫy ở các trường trung học Mỹ, những tên thiếu niên này cần tiền, có tiền thì việc gì chúng cũng làm và không cần biết người bỏ tiền cho chúng là ai. Vì vậy thuê bọn bất hợp pháp, bọn gangster, bọn vô gia cư (homeless) này thì thường rất dễ chạy tội. Chúng thường thuê bọn gang “hit-n-run” và “drive by shooting” (chạy ngang bắn rồi chạy luôn), thường chúng bắn vào nhà, vào cửa, vào cửa gara, vào xe, vào bánh xe v.v. để khủng bố tinh thần, khủng bố tâm lý những người bất đồng chính kiến. Nghiêm trọng hơn là chúng dò biết trước và đậu xe chờ đến khi chủ nhà vừa mở cửa ra ngoài là bị bắn gục ngay trước cửa nhà.

Tất cả những cơ sở kinh doanh, thương mại, của Việt Tân cũng như của người khác, bất kỳ lĩnh vực gì, từ siêu thị cho tới nhà sách, tiệm video, văn phòng dịch vụ, địa ốc, bảo hiểm v.v. miễn sao người Việt là chúng kéo đến đặt thùng tiền “yểm trợ kháng chiến” hoặc “yểm trợ quốc nội” hoặc “yểm trợ phục quốc”. Chỉ có người Mỹ là chúng không dám đụng tới. Chúng chẳng khác gì bọn giang hồ chuyên kéo lâu la tới đòi tiền bảo kê, dĩ nhiên chẳng ai dám chống lại. Gọi cảnh sát địa phương thì cũng vô dụng, vì chúng sẽ giải thích là “chúng tôi chỉ đặt thùng tiền quyên góp mà thôi” và sau đó chủ thương mại sẽ phải dọn đi nơi khác vì không chịu nổi đòn trả thù tàn bạo và dai dẳng của chúng. Có khi chỉ là những trò biểu tình nhân danh “tự do ngôn luận”, “tự do biểu tình” của chúng để phá chuyện làm ăn của người ta, chiếm chỗ đậu xe của khách hàng, đưa kẻ bị hại đến tình trạng nhẹ thì lỗ lã, nặng thì phá sản, chúng sẽ tận dụng các báo chí, đài phát thanh, đài truyền hình Việt ngữ của chúng để “đập” và “dìm hàng” đối tượng tơi tả, bịa đặt, xuyên tạc, vu khống, ngậm máu phun người, thậm chí chụp mũ họ là Việt Cộng, bịa đặt chuyện đời tư dơ bẩn v.v. để người ta thân bại danh liệt, phải bỏ sang tiểu bang khác. Nghiêm trọng hơn là chúng trả thù trực diện, cho người dán những tấm hình có biểu tượng đe dọa tính mạng vào cửa nhà, hay chỉ là đem vài con dao, vài khẩu súng đặt trước cửa nhà người ta để “nhắn nhủ”, “đánh tiếng”, hăm dọa, khủng bố tâm lý và tinh thần của nạn nhân. Có nhiều người đã phải dọn đi, vì không chịu nổi đòn thù, trò dày vò tinh thần, tra tấn tâm lý nạn nhân của chúng.

5- Hệ thống kinh tài và các tổ chức ngoại vi của Việt Tân

Có thể nói tổ chức khủng bố Việt Tân là tổ chức giàu có nhất trong tất cả các tổ chức khủng bố, đảng phái chống Cộng tại hải ngoại. Nhờ chúng tận dụng thời điểm cuối thập niên 1980 khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ, chúng tuyên truyền lên rằng CSVN sắp sụp đổ tới nơi, và “chúng tôi” sẽ về nước lập chính quyền mới, hứa hẹn phong cho ông A bà X chức này tước nọ, chúng tranh thủ tuyệt đối sự ủng hộ của những kẻ chống Cộng và những chính trị gia sa lông, cơ hội ở hải ngoại, quyên tiền quyết liệt. Những đồng tiền đó chúng dùng để mở hệ thống Phở Hòa với hàng ngàn chi nhánh có trên khắp California và nước Mỹ. Dĩ nhiên, mỗi tiệm phở đều có thùng “quyên góp kháng chiến”. Điều này làm chúng bị bà con hải ngoại chế giễu và gọi là “đảng Phở Bò” hay “Mặt trận Phở Bò” hoặc “kháng chiến Tái Nạm Béo”.

Tiền quyên góp, lừa gạt được của đồng hương cùng với tiền tài trợ từ các quỹ N.E.D., quỹ S.I.D.A., quỹ “nhân quyền”, quỹ “dân chủ”, quỹ xuất cảng đa đảng đa nguyên của Hoa Kỳ, chúng dùng để mở hệ thống Phở Hòa, mua / thuê các tàu cá, ăn bám vào thị trường hải sản Hoa Kỳ, rất nhiều nhóm đánh cá, đánh cá thuê ở Mỹ, nhất là vùng New Orleans là do Việt Tân làm chủ. Những số tiền kiếm được, không phải đồng tiền nào chúng cũng dùng cho việc chống phá VN, mà chúng còn dùng để mua xe, mua nhà, mua đất, đầu tư bất động sản, đầu tư kinh doanh, chúng có bonds, cổ phần, cổ phiếu (stock) trong nhiều cơ sở kinh doanh cổ phần hóa ở Mỹ. Chúng có hàng ngàn tài khoản chính, tài khoản phụ trong nhiều ngân hàng lớn. Những tên đầu sỏ đều đi xe Mỹ đời mới nhất, chúng thay xe như thay áo. Tên nào tên nấy sở hữu hàng chục tiệm làm móng tay, viện thẩm mỹ, siêu thị, nhà hàng, khách sạn v.v. Chúng vừa là một tổ chức khủng bố nguy hiểm, vừa là một tập đoàn tài phiệt tư bản Mafia giàu mạnh, là một tổ chức tội ác, tội phạm trá hình, mang tính chất xã hội đen quy mô lớn.

Chính phủ trung ương Mỹ và CIA thì nuôi chúng để cắn VN, tài trợ cho chúng xuất cảng “dân chủ Mỹ” và “chuyển lửa về quê hương”. Cảnh sát địa phương hoặc nhân viên công lực cấp tiểu bang, cấp thành phố thì không làm gì được chúng vì không có bằng chứng gì có thể chứng minh rõ ràng là chúng vi phạm luật pháp. Ông Hoàng Duy Hùng, chủ tịch cộng đồng thành phố Houston, TX, một người từng ngồi tù tại VN vì hoạt động lật đổ nhà nước và sau đó được đặc xá vì tỏ ra ăn năn hối cải, ông ta là một người chống Việt Tân nhưng cũng phải nhìn nhận “So với Hội Tam Hoàng của Tàu và Mafia của Ý thì Việt Tân cũng không thua kém bao nhiêu”.

Ngoài ra, Việt Tân còn thành lập rất nhiều tổ chức ngoại vi, các cơ quan truyền thông, báo chí, trong đó có những cái loa rất ấn tượng tại hải ngoại như Asia, SBTN v.v. Chúng còn dùng những thủ đoạn cạnh tranh không lành mạnh để tấn công các chương trình ca nhạc khác của đồng hương. Ví dụ khi trung tâm Thúy Nga sản xuất video ca nhạc với chủ đề Mẹ năm 1999, chúng viện cớ video có những cảnh lính Mỹ từ trực thăng xả súng vào dân lành chạy loạn do đạo diễn dựng lại từ phim tài liệu, video có nhạc cảnh Ca Dao Mẹ của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn do Don Hồ trình diễn, nhạc phim có cảnh bông lúa màu đỏ do kỹ thuật video, và cuối phim MC Nguyễn Ngọc Ngạn có nói về “đàn chim xa xứ bay về tố ấm”, có vẻ trùng lặp với chủ trương Đại đoàn kết dân tộc của chính phủ Việt Nam, nên Asia đã mượn cớ đó cho tay sai tấn công, chửi bới chương trình ca nhạc Paris By Night. Chúng thuê người gọi vào các đài radio để mắng chửi Thúy Nga không tiếc lời. Chúng dàn dựng, kêu gọi, kích động những cuộc biểu tình một thời gian dài sau đó trong các chương trình Paris By Night sau này. Về sau Thúy Nga phải làm một số chương trình theo quỹ đạo chính trị của chúng để xoa dịu lũ côn đồ, rồi sau đó chúng mới để yên.

Trung tâm Asia đầu tiên do nhạc sĩ Anh Bằng sáng lập, sau khi Trúc Hồ, 1 thành viên Việt Tân mua lại trung tâm này thì nó đã biến chất, biến dạng thành một cái loa chống cộng rẻ tiền, chuyên tung hô, ca tụng ngụy quyền, ngụy quân, bóp méo lịch sử, bịa đặt thông tin, phỏng vấn cuội, tự phỏng vấn lẫn nhau, và đào bới hận thù, hòng dựng lại thây ma. Nếu Asia là một trung tâm ca nhạc thiên về tâm lý chiến, thì đài SBTN do Trúc Hồ và Việt Dzũng đứng tên làm chủ (Nguyệt Ánh cũng có cổ phần) lại là một đài truyền hình lá cải ở California, chuyên đưa tin giật gân để câu khách, câu quảng cáo, và phục vụ cho mục tiêu chống VN của Việt Tân.

SBTN từng đưa những “tin tức” làm nhiều người vừa buồn cười vừa phải lắc đầu vì mức độ hoang tưởng của chúng như: Đảo chánh ở Hà Nội, phe cộng sản miền Bắc và cộng sản miền Nam dàn trận đánh nhau, phe Nông Đức Mạnh và Nguyễn Tấn Dũng dàn trận đánh nhau, Võ Văn Kiệt bị đầu độc chết, CSVN họp bí mật với Trung Cộng xin được như Tây Tạng, quân đội tiếp quản Sài Gòn năm 1975 là quân đội… Trung Cộng v.v. và còn nhiều thông tin lá cải khác. Nhiều bà con Việt kiều nói vui rằng bọn SBTN này muốn cạnh tranh với Vân Sơn về khoản hài hước chắc. Ngoài ra Việt Tân còn thành lập và nuôi nhóm “Thanh Niên Cờ Vàng”, “Đoàn Thanh Niên Phan Bội Châu”, và “Mạng Lưới Tuổi Trẻ Việt Nam Lên Đường”, chúng lập ra vô số các trang web trên mạng, nhiều trang web chúng cho thiết kế toàn màu đen ra vẻ thần bí, rồi tự xưng “chúng tôi là tuổi trẻ Việt Nam ở ngay trong nước, trụ sở ở ngay Hà Nội” v.v. Ngoài các tổ chức ngoại vi, Việt Tân còn tổ chức nhiều trại hè, nhiều trung tâm hướng đạo, để nhồi sọ thiếu niên Mỹ gốc Việt, khiến họ mất gốc, vong bản, biến chất thành những con thiêu thân chống phá đất nước, căm thù dân tộc. Chúng bắt các em phải chào cờ ba que, cờ Mỹ, hát quốc ca Mỹ và cái gọi là “quốc ca VNCH” (bài hát mà cha anh bọn chúng ăn cắp của nhạc sĩ cộng sản Lưu Hữu Phước rồi tự ý thay tựa đề, chỉnh sửa lời hát) tẩy não, nhồi nhét vào đầu các em những thông tin bịa đặt về lịch sử nước nhà, gieo rắc những tư tưởng độc hại, thù hận vào đầu các em, chúng dạy các em cái gọi là “lịch sử” do chúng tự tưởng tượng ra. Việt Tân cũng mở những lớp võ thuật rồi nhồi sọ võ sinh rằng “học võ để sau này về quang phục quê hương”. Tổ chức “Đảng Dân tộc” của Nguyễn Hữu Chánh cũng học theo “chiêu” này.

Thời kỳ Mỹ chưa phát động cuộc chiến “chống khủng bố” thì chúng đánh thẳng vào trong nước. Thời kỳ Mỹ đã phát động thì chúng móc nối với lũ Việt gian trong nước. Chúng luôn rình rập, tìm cách bắt liên lạc, móc nối, dụ dỗ, mua chuộc, kích động những thành phần bất mãn trong nước để biến họ thành những kẻ phản quốc, và trả lương cho những tên này qua hình thức “tài trợ”, “giúp đỡ tài chánh”, “yểm trợ quốc nội”, “bảo trợ” v.v. Chúng trích ra số tiền Mỹ tài trợ cho chúng rồi tài trợ cho đám “quốc nội”. Nhiều tên khi bị bắt đã khai báo huỵch toẹt trước máy quay rằng chúng bị Việt Tân móc nối, dụ dỗ, mê hoặc, có liên hệ với Việt Tân ra làm sao, được Việt Tân tài trợ ra nước ngoài huấn luyện ra sao v.v. như đám “Chị Hai”, “Chị Ba”, “Chị Tư” Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định, “thầy bói kiêm nhà nghiên cứu Chấn” Trần Huy Duy Thức, Lê Thăng Long v.v., những video công khai tự thú, nhận tội, và xin xỏ khoan hồng của bọn mạo xưng “dân chủ” này đều được cư dân mạng tải lên trang web Youtube.

6- Tại sao tổ chức khủng bố này vẫn nhởn nhơ trên đất Mỹ?

Đơn giản là vì chúng không có khủng bố nước Mỹ và cũng chưa phải là một tổ chức khủng bố quốc tế như Al Qaeda. Chúng chỉ có khủng bố Việt Nam, một nước XHCN, có ý thức hệ và những lợi ích đối lập với Hoa Kỳ, nghịch với chính sách toàn cầu, chiến lược bành trướng toàn cầu, bá chủ thiên hạ của họ. Xưa nay Mỹ vẫn áp dụng một chính sách nước đôi, hai mặt, mà chính những nhà chính trị Hoa Kỳ vẫn hay gọi là “tiêu chuẩn kép” (double standard) về vấn đề chống khủng bố. Nghĩa là nếu có khủng bố nước Mỹ hoặc là khủng bố quốc tế từng khủng bố các đồng minh của Mỹ, hoạt động khủng bố trên các địa bàn của đồng minh Mỹ, có sự ảnh hưởng của quân đội Mỹ khắp thế giới, thì Mỹ mới liệt vào danh sách khủng bố. Còn những tổ chức khủng bố do các nước khác, đặc biệt là các nước không phải đồng minh của Mỹ, không cùng lợi ích chính trị, quân sự với Mỹ, khác ý thức hệ với Mỹ v.v. đưa vào danh sách khủng bố thì Mỹ sẽ không liệt vào danh sách khủng bố của họ, không coi đó là khủng bố, thậm chí còn bênh vực, biện minh, bao biện, bảo vệ, nuôi nấng, bảo trợ cho tổ chức đó. Như tổ chức Việt Tân mà chính phủ VN đã liệt vào danh sách khủng bố. Như tổ chức Tresnia mà Nga đã liệt vào danh sách khủng bố. Như một vài nhóm Pháp Luân Công và tổ chức vũ lực bạo động ở Tân Cương của Trung Quốc. Hay như các nhóm vũ trang đối lập ở Libya đã từng bắn giết, thảm sát người dân, làm sập nhà dân chúng v.v. và đã bị chính phủ Libya liệt vào danh sách khủng bố, nhưng Mỹ và phương Tây đã hỗ trợ, viện trợ, đỡ đầu cho họ. Trước đây, khi 2 công dân Đức du lịch Libya đã bị giết chết, chính phủ Libya điều tra xác định là Al Qaeda làm và đã phát lệnh truy nã toàn cầu gởi tới Interpol, tầm nã Bin Laden và các tay cầm đầu Al Qaeda nhưng lại bị Mỹ và Anh ngăn lại.

Ngoài ra, Mỹ còn viện trợ, tài trợ, giúp đỡ các chính phủ và quân đội đồng minh khủng bố người dân, như trường hợp họ tài trợ cho Israel khủng bố, thảm sát dân Palestine nhiều năm nay. Trong quá khứ, Mỹ từng ngầm hỗ trợ và bênh vực, biện hộ cho chế độ khủng bố, diệt chủng Khmer Đỏ. Từng dựng lên và nuôi dưỡng ngụy quyền Ngô Đình Diệm và dung túng cho chúng khủng bố trắng, lê máy chém khắp miền Nam Việt Nam. Ngay cả trùm khủng bố Bin Laden mới bị Mỹ vắt chanh bỏ vỏ gần đây và chính phủ độc tài Taliban cũng từng được Mỹ tài trợ để chống lại Liên Xô, trước khi được Mỹ bảo kê, Taliban và Al Qaeda chưa là gì cả, nhưng sau khi được Mỹ cung ứng tiền bạc, vũ khí, họ mạnh lên và trở thành một lực lượng đáng kể, có thể nói chính Mỹ đã dựng lên khủng bố, tài trợ cho khủng bố, để rồi phải đem quân đi diệt khủng bố, và dùng đó làm chiêu bài để công nhiên điều quân viễn chinh đi ra đi vô các nước như chốn không người, bành trướng thế lực ra khắp hoàn cầu. Tổng thống Mỹ Nixon đã từng “thân ái” ngồi chung với các lãnh tụ Taliban và Al Qaeda và nói “Những người đàn ông này tượng trưng cho các giá trị đạo đức của cha anh chúng ta”, “These gentlemen are the moral equivalents of America’s founding fathers” (Reagan nói vào năm 1985). Căn cứ trên lịch sử và bản chất của chính sách ngoại giao thực dụng Hoa Kỳ, thì có thể dễ hiểu vì sao Việt Tân là một tổ chức khủng bố Việt Nam, cùng với các tổ chức khủng bố khác vẫn có thể sống nhăn trên xứ Mỹ.

7- Tình hình Việt Tân hiện nay

Sau khi vụ bưng bít bị phanh phui. Cái chết của trùm khủng bố Hoàng Cơ Minh không còn có thể che giấu lấp liếm được nữa. Trong thập niên 1990, các tay trùm Việt Tân đành phải họp báo thú nhận tất cả, nước mắt cá sấu, giọt vắn giọt dài trước các ống kính video rằng chủ tịch Hoàng Cơ Minh đã bị CSVN giết rồi, đã “tuẫn quốc”, đã “vị quốc vong thân”, đã “hy sinh vô cùng oanh liệt” v.v. Việc này đã gây chấn động trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại, mọi người rốt cuộc đều biết hóa ra Việt Tân lâu nay giấu nhẹm cái chết của Hoàng Cơ Minh, bưng bít thông tin, che giấu sự thật, lừa đảo, gạt tiền đồng bào ra sao. Những vụ làm ăn nhập nhèm, nhơ nhớp, mờ ám, dùng tiền “kháng chiến” để mở tiệm phở bò, để cho gái, để ăn chơi sa đọa, để mua tàu ra biển đánh cá, để mua nhà, mua đất, mua xe, mua tiệm làm móng tay, mua siêu thị, mua các cơ sở kinh doanh thương mại v.v. đều được chính những người trong cuộc tiết lộ ra, nhiều người do bất mãn, do không được ăn chia đầy đủ, bị mất phần, hoặc chính những người do Tổng Cục 2 của an ninh Việt Nam cài vào biết được và nhà nước VN, báo chí VN tiết lộ ra, tất cả những yếu tố đó kết hợp lại gây lên một làn sóng căm phẫn dữ dội trong cộng đồng hải ngoại, tất cả các phe phái hải ngoại, từ những Việt kiều yêu nước, thân Cộng cho tới Việt kiều chống Cộng, đều quay sang chống Việt Tân, mạt sát, miệt thị Việt Tân không tiếc lời. Việt Tân được rất nhiều tiền, trở thành những triệu phú Mỹ gốc Việt, trở thành những ông trùm mà người Mỹ gọi là “Vietnamese Mafia”, nhưng mất đi lòng tin và sự ủng hộ của giới chống Cộng, bị giới này ghen tỵ, ganh ghét, ghen ăn tức ở, căm ghét, thù hận. Ngoài thì bị chửi, bị “ném đá” túi bụi, trong thì chia rẽ, xào xáo, nội bộ đấu đá lẫn nhau. Theo một số hồi ký, tự truyện của người trong cuộc kể lại thì lúc đó trong trụ sở không ngày nào không cãi nhau, dùng những từ ngữ hạ cấp nhất để lăng mạ, “tổng sỉ vả” lẫn nhau. Có những vụ liên quan như vụ năm 1999 khi 1 tay Việt Tân và 1 tay Việt Quốc hợp tác với nhau quyên tiền tổ chức lễ tưởng niệm ngày “Quốc Hận”, tay Việt Tân đông bầy đàn hơn nên liền sai đàn em bê nguyên cái thùng tiền về nhà, sau khi tổ chức xong tay này vì trước đó đánh bạc ở Las Vegas và cá độ football (bóng bầu dục, bóng đá Mỹ) cháy túi nên ăn cắp hết số tiền còn lại sang Hawaii, đã không chia lãi lại cho tên kia mà còn lấy sạch số vốn của hắn. Tay Việt Quốc và đồng bọn, cùng bọn Đại Việt (Đảng Dân Tộc của trùm lừa đảo Nguyễn Hữu Chánh cũng ăn theo chửi hùa vào Việt Tân) uất ức quá liền la lối, ăn vạ thì Việt Tân tỉnh bơ bảo đó là chuyện riêng giữa quý vị, ông kia hành xử với tư cách cá nhân, không liên quan gì tới Việt Tân bọn tôi.

Sau nhiều thảm họa dư luận đó, Việt Tân đành phải bỏ sào huyệt ở chốn phồn hoa đô hội nhiều người Việt sinh sống tại Cali mà dọn tới hang ổ mới là thành phố Seattle, tiểu bang Washington, tiểu bang nằm ở vùng cực Bắc Hoa Kỳ quanh năm đầy mưa và tuyết, và là thành phố có rất ít người Việt, và có tỷ lệ tự sát cao nhất nước Mỹ và 1 trong những thành phố có tỷ lệ tự sát cao nhất thế giới.

8- Cuộc chiến giành phân (fund) Mỹ

Nhằm mục đích xâm nhập, lũng đoạn, xâm lược bành trướng “sức mạnh mềm” vào các quốc gia khác. Mỹ đã mở rất nhiều quỹ, thành lập nhiều tổ chức tại Hoa Kỳ và các “tổ chức quốc tế” để phục vụ cho sách lược Diễn biến hòa bình của họ, bành trướng lan tỏa chính trị, thế lực ra khắp thế giới. Những tổ chức này có những quỹ tài trợ, hỗ trợ khác nhau, hướng tới những tổ chức bản xứ, những tổ chức lưu vong, để dùng chúng xuất cảng “dân chủ” kiểu Mỹ, đa đảng đa nguyên, các giá trị kiểu Mỹ, các chuẩn mực kiểu Mỹ, hệ thống chính trị kiểu Mỹ vào nước của chúng, tạo điều kiện để Mỹ thò cánh tay lông lá vào nước sở tại, xây dựng, nuôi dưỡng, hỗ trợ các lực lượng đối lập, hứa phong cho chúng chức này tước nọ sau khi Mỹ “giải phóng” nước họ xong. Đây là thủ đoạn chia rẽ, chia đất nước, dân tộc khác ra làm nhiều phe, ủng hộ thế lực thân mình, nếu cần thì dựng lên các chính phủ của mình, lật đổ các chế độ đối lập với lợi ích Hoa Kỳ. Và xây dựng, ủng hộ, yểm trợ các lực lượng, các tổ chức, các chính phủ chấp nhận thần phục Mỹ và có lợi cho kinh tế, chính trị, quân sự Hoa Kỳ, có lợi cho chính sách bá quyền và chiến lược quốc tế của chính phủ Mỹ. Đây là một biểu hiện của chủ nghĩa đế quốc, bành trướng quốc tế, tư bản bá quyền.

Nhờ đó, Việt Tân cũng nhận “tiền tài trợ” định kỳ từ nhiều quỹ khác nhau. Quỹ từ chính phủ, quỹ của các tổ chức trực thuộc chính phủ, quỹ từ các tổ chức tư bản phi chính phủ do các tập đoàn tài phiệt tư bản Mỹ, tư bản phương Tây, tư bản quốc tế làm chủ, và các tổ chức trá hình phi chính phủ trực thuộc CIA và chính phủ Mỹ, hoạt động dưới danh nghĩa “phi chính phủ”, “từ thiện”. Để có đủ điều kiện, đủ tư cách, đủ tiêu chuẩn, tiêu chí để nhận fund thì các tổ chức phản quốc ở hải ngoại phải chứng minh cho quan thầy thấy “bản lĩnh” và “khả năng” của mình. Rằng mình có thể làm được cái gì, mình có thực lực gì không, để xứng đáng nhận được những số tiền tài trợ, đài thọ định kỳ đó.

Chính vì vậy, tổ chức khủng bố Việt Tân và tập đoàn lừa đảo Đảng Dân tộc của Nguyễn Hữu Chánh không ngừng gởi người vào VN để lấy tiếng. Thậm chí đối với một bọn nghiên về lừa đảo kinh tế hơn là khủng bố chính trị quân sự như “Đảng Dân tộc” của “chú phỉnh” Nguyễn Hữu Chánh thì chúng không cần thành công, chúng chỉ cần dụ được ai là chúng “thí” về VN cho bị công an bắt để lấy tiếng cho tổ chức. Cũng với “chiêu thức” cũ, đó là vừa ỡm ờ, nói xa nói gần cho cả thiên hạ hiểu mình là thủ phạm để lấy tiếng, nhưng khi tuyên bố chính thức thì chối phăng đi mỗi khi công an VN có được bằng chứng và đồng bọn chúng nhận tội. Như khi Nguyễn Hữu Chánh sai Võ Văn Đức về nước khủng bố, sau khi Đức ở tù, tưởng đại ca sẽ can thiệp cho đàn em thoát được, không ngờ chú Chánh trở mặt không nhận thằng em, khiến cho Đức uất ức vô cùng, những hình ảnh Đức trên mặt báo trong thời gian đó cho thấy 1 người đang rất phẫn uất, tức tưởi vì bị chơi xấu, vì bị đàn anh bỏ rơi, bị đem quăng ra giữa chợ, chịu tội thế cho đàn anh v.v. Trong khi cả hải ngoại đều biết Võ Văn Đức là đàn em loại “ruột” của Nguyễn Hữu Chánh. Sau khi mãn hạn tù, trở sang Mỹ thì Võ Văn Đức lập tức rời xa Đảng Dân tộc nhưng không dám có ý nghĩ trả thù hay đụng chạm gì tới đại ca, vì biết đại ca có hàng trăm lâu la đàn em, và trong người bao giờ cũng có súng. Cũng như Đảng Dân tộc, Việt Tân cũng gởi người đem chất nổ vào VN để lấy tiếng, ngoài ra chúng còn mở rộng địa bàn hoạt động ra ngoài phạm vi trong nước VN, ra các tòa đại sứ, tòa lãnh sự, và các cơ quan ngoại giao của VN ở các nước láng giềng, nhất là ở các nước an ninh khá lỏng lẻo như Thái Lan, Indonesia, Philipines v.v. Thậm chí, sau vụ nổ pháo hoa ở Mỹ Đình trong sự kiện 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, cả Việt Tân và Đảng Dân tộc đều nói xa nói gần để người ta tưởng người ra tay là thuộc tổ chức của mình. Chỉ sau khi báo chí Việt Nam và công an VN ra thông báo chính thức rằng đây chỉ là một tai nạn nghề nghiệp thì chúng mới ngừng bốc phét.

Nói chung, các tổ chức phản quốc và sẵn sàng bán nước ở hải ngoại đều tìm cách khuếch trương thanh thế, tiếng tăm, “số má” của mình ra cao nhất để giành lòng chủ Mỹ, mong được chính phủ Mỹ ân sủng, cưng chìu, và ban ơn mưa móc. Tất cả đều vì những số tiền “tài trợ” hàng năm của các quỹ “dân chủ”, “nhân quyền”, “vě tự do” của Mỹ vŕ phương Tây. Và xưa cho tới nay, Việt Tân đều giành vị trí đầu bảng, thứ hai là Đảng Dân tộc của Nguyễn Hữu Chánh, vì vậy không lạ khi 2 tổ chức này bị các tổ chức “rận chủ”, thế lực Vichoco, các hội đoàn chống cộng khác, các “cộng đồng” khác, các “nhân sĩ” khác chửi bới te tua. Và bản thân 2 tổ chức đó cũng thường chửi nhau tay đôi trên báo chí, truyền thanh và truyền hình. Chẳng qua là vì ghen ăn tức ở lẫn nhau. Kẻ thắng người thua trong cuộc chiến giành “phân” Mỹ. Cùng là chống Cộng nhưng người được ưu ái, được nuôi béo, kẻ thì trơ mõm hoặc chỉ nhận được ít “xu lẻ” theo kiểu bố thí ăn mày. Kẻ giàu người nghèo. Kẻ thì làm chủ tiệm làm móng tay, kẻ thì phải làm thợ giũa móng tay, rửa bát cắt cỏ, xin welfare, medicaid, foodstamp, ăn xin trợ cấp Mỹ và ăn bám xã hội Mỹ nhưng nó vẫn không cho (nhất là từ khi Bush lên thay Clinton, an sinh xã hội Mỹ bị bóp nghẹt, thắt chặt). Làm các chiến sĩ “dâng chủ” phải nai lưng ra làm culi, khuân vác, làm assembly cho các đại gia trùm tư bản, đi cày như trâu, bị bóc lột, bị kỳ thị, phân biệt chủng tộc mà vẫn mở mồm ra chửi XHCN, chửi chủ nghĩa Marx Lenin. Những kẻ đó đương nhiên cũng sẽ chửi Việt Tân và Đảng Dân tộc vì 1 lẽ duy nhất: Tại sao “tụi tao” cũng chống cộng mà “cực bỏ mẹ”, làm việc như trâu bò vẫn “trơ mõm chó” trong khi “chúng mày” lại giàu sang và ăn chơi đàng điếm thế? Tại sao tụi tao cày overtime (thêm giờ), cày cả những ngày nghỉ cuối tuần, cày cả những ngày nghỉ lễ, cày hai ba “jobs” vẫn không đủ trả bills, trong khi chúng mày suốt ngày đi du lịch, đi Las Vegas, đi đánh bài, cá độ football thế? Chung quy cũng chỉ là ganh ghét, ghen ăn tức ở lẫn nhau. Đó là nguyên nhân vì sao cùng là chống cộng, phản quốc, phản động như nhau mà tay này ghét tay kia, nhóm này ghét nhóm kia, tổ chức này chửi tổ chức kia, và đặc biệt là Việt Tân bị chửi nặng nhất, bị chửi nhiều nhất xưa nay. Bọn chống Cộng hải ngoại, nhất là tại Mỹ, chửi Việt Tân còn nhiều hơn cả chửi cộng sản.

9- Tương lai của Việt Tân

Khủng bố và phản quốc thì sẽ không thể có kết quả tốt. Việt Tân đã làm quá nhiều chuyện ác nhân thất đức, bị thất nhân tâm ở ngay cả địa bàn của chúng. Chúng bị bà con Việt kiều, trong đó bao gồm những kẻ chống Cộng tẩy chay, xa lánh, phỉ nhổ. Những kẻ từng trong nội bộ của chúng cũng quay sang viết hồi ký, viết sách, viết tự truyện, viết báo chửi chúng, vạch mặt chúng. Mà ngày nay chúng cũng không còn dễ dàng thuê sát thủ giết người diệt khẩu, lạm sát bừa bãi như những năm 1980, những năm công nghệ thông tin còn lạc hậu, chưa có điện thoại di động có thể chụp hình, quay phim, chưa có Internet v.v. Trước sức mạnh của công luận, chúng đã phải rời bỏ hang ổ cũ và lê thân tới nơi ít đồng hương, khí hậu lạnh lẽo ở bang Washington, và 1 thành phố u buồn như Seattle. Hầu như chúng vác mặt đi gặp ai cũng bị chửi. Chúng còn bị những phe phái chống cộng khác gọi chúng là VC nằm vùng, nghi ngờ hay chụp mũ chúng là do CSVN tạo ra. Chúng cũng dùng các phương tiện truyền thông cáo buộc, kết tội, quy chụp, phản pháo lại bọn kia là CS nằm vùng. Xét cho cùng, cái trò chụp mũ VC nằm vùng lẫn nhau, quăng nón cối tứ tung là một trò đã rất xưa như trái đất, đã có từ thời chống Pháp và chống Mỹ trong vùng địch. Đối với chúng, chỉ có tiền và lợi, và nếu mày có mâu thuẫn quyền lợi với tao thì đích thị mày là 1 “thằng Việt Cộng nằm vùng”.

Về quan hệ với chủ Mỹ, kể từ khi quan hệ kinh tế, làm ăn, kinh doanh giữa Việt – Mỹ càng thắt chặt thì Mỹ lại tỏ ra lạnh nhạt hơn với con chó săn của mình. Khi chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết chính thức sang thăm Mỹ, trước đó 3 ngày Bush đã gọi 3 tên Hoàng Cơ Định, Đỗ Hoàng Điềm và một tên nữa đến Nhà Trắng và răn đe, chỉ thị rằng “không được quậy”, “không được lộn xộn”. Và Việt Tân thời gian sau đó đúng là rất “ngoan”, án binh bất động không gây ra vụ gì cả.

Tới lúc Mỹ không cần xài nữa thì Mỹ cũng sẽ vắt chanh bỏ vỏ như với Al Qaeda mà thôi? Cùng là khủng bố như nhau có lẽ chúng sẽ rất sợ bị làm thịt như Bin Laden. Nhưng đó là 2 trường hợp khác, Bin Laden và Al Qaeda dám cắn ngược lại Mỹ và họ có thực lực nhất định, còn Việt Tân ư, Mỹ mà buông ra một cái thì Việt Tân chỉ còn lại những nhà triệu phú đô la rủng rỉnh nhưng không quyền không lực, không còn chút thực lực, sức mạnh nào. Việt Tân cũng là một con chó săn trung thành thật sự chứ không là loại dám lợi dụng Mỹ tức thời như bọn Taliban, Al Qaeda, và dám cắn lại Mỹ. Việt Tân thì lệ thuộc chính phủ Mỹ 100% và không bao giờ dám có ý nghĩ phạm thượng với quan thầy chứ đừng nói là dám cắn ngược lại ông chủ. Vì vậy Mỹ cùng lắm sẽ bỏ rơi chúng, “quăng con giữa chợ”, chứ sẽ không vắt chanh bỏ vỏ, giết chúng như đã giết Bin Laden.

Tác giả: thieulongtexas (được sự cho phép của tác giả, tôi đăng bài viết này để chúng ta hiểu rõ bản chất lưu manh, côn đồ & phản động của Việt Tân. Kẻ xách động những cuộc biểu tình, tuần hành gây rối vừa qua. Cảm ơn Thiếu Longtexas & sự quan tâm của quý vị. Trân trọng! – Tựa do Lê Vũ đặt)

Tiết lộ kinh người của sát thủ kinh tế

– Sát thủ kinh tế John Perkins trả lời phỏng vấn báo SP (Nga) lý giải nguyên do của “mùa xuân Arab”, sự sụp đổ của Gaddafi, sự đạo đức giả của Mỹ và phương Tây… VietnamDefence trích giới thiệu để quý vị tham khảo.

 

Trong năm qua, trên thế giới đã xảy ra quá nhiều sự kiện đòi hỏi nghiên cứu nghiêm túc. Tờ SP quyết định tìm hiểu ý kiến về bản chất các sự kiện này của người đã hơn 20 năm vì nghề nghiệp đã dính líu đến việc tạo ra các tình huống khủng hoảng tương lai, đó là John Perkins, tác giả cuốn sách “Lời thú tội của một sát thủ kinh tế”. Cuốn sách của ông trong một năm rưỡi qua trụ vững trong danh sách các cuốn sách bán chạy của tờ The New York Times, được dịch ra hơn 30 thứ tiếng và được xuất bản với ti-ra tổng cộng hơn 1 triệu bản.

Trong “Lời thú tội”, Perkins từ trong bản thân hệ thống cho thấy, Mỹ đang khiến cả các quốc gia khác đi đến phá sản và phụ thuộc hoàn toàn vào Mỹ. Điều đó được thực hiện dưới vỏ bọc mỹ miều: khi ở nước nào đó thuộc thế giới thứ ba phát hiện được các tài nguyên mà các tập đoàn Mỹ cần, những kẻ mà bên trong bản thân hệ thống gọi thẳng là “các sát thủ kinh tế” được cử đến đó. Nếu như “các sát thủ kinh tế” thất bại, thì các sát thủ thực sự đến ngay: Tổng thống Panama Omar Torijos và Tổng thống Equador Jaime Roldós Aguilera đã chết thê thảm như thế, Perkins viết. Nếu như cả các vụ mưu sát, tổ chức các cuộc bạo loạn đường phố không đạt được mục tiêu, Mỹ phái đến quân đội. Một trong những ví dụ mới đây là chiến tranh ở Iraq.

Còn với hiện tại thì sao? Sắp tới là tròn một năm của làn sóng “cách mạng Arab” lan tràn khắp Cận Đông và Bắc Phi. Có thể nói Mỹ đã viết kịch bản cho chúng không? Hay đó là sự phản đối tự phát sau đó được ủng hộ từ bên ngoài? Nếu vậy thì điều đó có lợi cho ai? Chính John Perkins sẽ trả lời những câu hỏi đó.

– Liên quan đến các sự kiện “mùa xuân Arab”, tôi không cho rằng, chúng đã được vạch kế hoạch và thực hiện theo sơ đồ mà tôi đã mô tả. Tôi nghĩ rằng, “mùa xuân Arab” cũng giống như các hoạt động phản đối đông người ở các nước khác, đã cho chúng ta thấy một điều hoàn toàn khác. Trước hết, người ta trên khắp thế giới thức tỉnh và bắt đầu nhận thức được rằng, hệ thống cũ không còn phát huy hiệu lực. Đó là hệ thống, trong đó 1% đứng đầu cả kim tự tháp kinh tế và sử dụng 99% còn lại phục vụ lợi ích của mình trong suốt một thời gian dài.

SP: Có nghĩa là các sự kiện này quả thực là bột phát, chứ không bị ai đó đạo diễn từ bên ngoài?

– Đúng, nhưng tôi cũng nghi ngờ – tôi không có bằng chứng nào, bởi vì tôi không còn dính líu đến những hành động như vậy, – rằng, các sát thủ kinh tế và các điệp viên loại khác đang tiếp tục xâm nhập vào các nhóm phản đối này, người ta muốn làm cho các chính phủ như của Gaddafi hay Mubarak bị thay thế bằng những người có thiện chí hơn đối với các tập đoàn lớn, ngoan ngoãn hơn đối với giới đầu sỏ các tập đoàn (Corporatocracy). Nhưng trong khi đó, cũng tồn tại một phong trào Hồi giáo rất mạnh, đang cố làm điều ngược lại nên không thể nói tất cả sẽ kết thúc bằng điều gì.

SP: Tại sao Mỹ và cả thế giới phương Tây kiên trì như thế khi nói về những vi phạm nhân quyền ở Syria, còn trước đó là ở Libya, nhưng lại không muốn nhận thấy các sự kiện tương tự đang diễn ra ở Bahrain và Yemen?

– Đó là sự đạo đức giả, điều đó thậm chí còn tồi tệ hơn cả đạo đức giả. Chúng ta đang nói về những vi phạm nhân quyền khi mà chúng tôi muốn loại bỏ những nhà lãnh đạo không có lợi cho chúng tôi và muốn kiểm soát đất nước của họ. Nhưng khi chúng tôi nhìn thấy những vi phạm nhân quyền tương tự ở những nước mà các nhà lãnh đạo của chúng được chúng ta ưa thích như ở Bahrain thì chúng tôi phớt lờ chúng. Và đương nhiên là chúng tôi phớt lờ những vi phạm đó ở ngay nhà mình. Ở chính nước Mỹ hiện nay cũng có vô vàn sự vi phạm nhân quyền, ví dụ như với binh nhì Bradley Manning, người đã trao các thông tin mật cho Wikileaks và đã bị giam trong tù một thời gian dài mà không đưa ra cáo buộc. Chúng tôi đang sử dụng thuật ngữ “vi phạm nhân quyền” khi điều đó có lợi cho chúng tôi từ góc độ chính trị.

SP: Ông có thể nêu riêng các sự kiện ở Libya và vụ giết hại ông Muammar Gaddafi?

– Tôi nghĩ rằng, khi nước Mỹ áp dụng những biện pháp quyết liệt như thế chống Gaddafi, động cơ của các hành động đó chính là việc Gaddafi quyết tâm thiết lập một đồng tiền mới sẽ thay thế đồng đô la Mỹ. Ông Gaddafi đã nói đến việc lập đồng dinar vàng và ông ấy có một ngân hàng trung ương rất mạnh với một số lượng vàng lớn. Ông ấy đã xúi giục các nước châu Phi và Mỹ Latinh mua và bán dầu bằng đồng dinar vàng thay cho đồng đô la, mà điều đó sẽ làm sụp đổ bản thân đồng đô la Mỹ và thực tế là cả bản thân hệ thống dự trữ liên bang FRS (Federal Reserve System) của Mỹ – toàn bộ hệ thống nhà băng mà nền kinh tế của nước Mỹ được xây dựng trên đó.

Chế độ Iran hiện đang đi theo con đường giống như vậy và tôi nghĩ rằng, nhiều điều đã từng xảy ra ở Libya cũng đang diễn ra hiện nay xung quanh Iran, có liên quan đến hệ thống kinh tế và đồng đô la ở mức độ lớn hơn nhiều so với việc chế tạo vũ khí hạt nhân hay dầu mỏ.

SP: Ông nói rằng, mọi người trên toàn thế giới đang thức tỉnh và bắt đầu nhận thức được rằng, hệ thống cũ không còn có hiệu lực. Ý ông muốn nói gì?

– Tôi cho rằng, cả các hành động phản đối “Hãy chiếm lấy phố Wall”, cả những hành động phản đối ở châu Âu, cả “mùa xuân Arab”, cũng như các sự kiện ở Nga là một phần của một quá trình thức tỉnh toàn cầu. Người ta bắt đầu hiểu rằng, có một vấn đề nghiêm trọng trong hệ thống hiện nay: ý tôi nói rằng, các nguyên thủ quốc gia dù đó là Mỹ hay ở Cận Đông đều không phục vụ các công dân của mình. Đã nhiều năm, các hành động của họ phục tùng lợi ích của một nhóm nhỏ, đứng đầu các tập đoàn lớn nhất thế giới – đó là giới đầu sỏ các tập đoàn. Sở hữu các khả năng tài chính to lớn, họ kiểm soát phần lớn các chính phủ thế giới. Họ cũng kiểm soát các phương tiện truyền thông đại chúng chủ yếu bằng cách đươn giản là sở hữu chúng. Họ chỉ có một nhiệm vụ là thu lợi nhuận tối đa. Thế giới của chúng ta đã bị đánh cắp và chúng ta cần lấy lại nó: nắm lấy kinh tế và chính trị của chúng ta. Các phong trào phản đối là một bộ phận của quá trình này.

SP: Ông có thể nêu ra ranh giới khi mà quyền lực ở nhiều nước đã chuyển từ nhà nước sang các tập đoàn?

– Đó đã là một quá trình lâu dài, nhưng nếu như muốn nghe một điều gì cụ thể thì ở Mỹ, đó là việc bầu Ronald Regan làm tổng thống, ở Anh là bầu Margaret Thatcher làm thủ tướng. Ở Nga, tôi nghĩ rằng, điều đó đã xảy ra với việc Gorbachev lên nắm quyền. Giai đoạn tích cực nhất là thập niên 1980, khi mà các chính phủ như Mỹ bắt đầu trao cho các tập đoàn ngày càng nhiều quyền lực, bắt đầu giảm mức độ điều hành luật pháp đối với hoạt động của chúng, điều đã cho phép đặt các tập đoàn dưới sự kiểm soát. Đó là chính sách có chủ đích. Kết quả là các tập đoàn có ngày càng nhiều khả năng tài trợ và quyết định các chương trình tranh cử của các chính trị gia khác nhau và áp đặt các điều kiện của mình. Tôi nêu bật thập kỷ 1980, nhưng hiển nhiên là quá trình chuẩn bị đã diễn ra trong một thời gian dài trước đó.

SP: Ông nghĩ gì về các hoạt động phản đối quần chúng ở Nga?

– Trước hết, phải nói rằng, tôi chưa bao giờ làm việc ở Nga và tôi chỉ có thể dự đoán về bản chất các sự kiện đang diễn ra ở Nga, nhưng tôi cảm thấy rằng, nó cũng giống như ở cả thế giới còn lại. Có lẽ người Nga đã bắt đầu nhìn thấy rằng, các nhà lãnh đạo của họ trong một thời gian dài đã lừa dối nhân dân, còn một nhóm người rất nhỏ đã trở nên ngày càng giàu hơn bằng cách bóc lột tất cả những người còn lại và các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

SP: Ở Nga, hiện nay người ta đang thảo luận 2 quan điểm đối với những hành động phản đối mới xảy ra. Một quan điểm là điều mà ông vừa nêu ra, hai là thái độ phản đối bị hun nóng từ bên ngoài và trước hết là từ Mỹ nhằm suy yếu nước Nga.

– Tôi cho rằng, quan điểm thứ hai có quyền để tồn tại. Mỗi lần khi mà người ta quyết rằng, chính phủ đã lừa dối họ và các hành động phản đối như vậy bắt đầu, các điệp viên của Mỹ, giống như “các sát thủ kinh tế” đều mưu toan xâm nhập vào đó và tôi không hề nghi ngờ chuyện điều như vậy hiện nay cũng đang diễn ra. Song tôi cho rằng, các sự kiện là Nga là một bộ phận của các sự kiện đang diễn ra trên toàn thế giới.

SP: Nhưng chúng sẽ kết thúc bằng cái gì? Nếu như giới đầu sỏ tập đoàn quả thực nắm giữ quyền lực như thế thì nó sẽ không trao trả một cách tự nguyện.

– Đúng và chúng ta đang thấy nó đang đấu tranh chống lại. Các vị có lẽ đã thấy các bức ảnh ở Mỹ, trên đó cảnh sát giải tán, đàn áp các hành động “Hãy chiếm lấy phố Wall”. Sự chống đối có ở khắp nơi, nhưng chúng tôi cũng hiểu rằng, một khi những người cấu thành nên giới đầu sỏ tập đoàn không phớt lờ chúng tôi mà đấu tranh chống lại, có nghĩa là họ sợ chúng tôi. Bởi vậy, tôi cho rằng, những người tham gia các phong trào phản đối cần nhìn nhận đây là tín hiệu rất khả quan – người ta nghe thấy chúng, người ta sợ chúng. Ở Anh thế kỷ XIII, một tình thế như vậy đã dẫn đến việc người dân nổi dậy, buộc vua George ký Đại Hiến chương. Tôi nghĩ rằng, đã đến lúc cho một hiến chương mới, một hiến chương toàn cầu. Về bản chất, các tập đoàn tồn tại không phải để làm giàu chính mình mà là để phục vụ xã hội, quan tâm đến những con người bình thường và phục vụ các lợi ích của họ, chứ không phải lợi ích của một nhóm người rất nhỏ và cực giàu.

SP: Ở Nga có quan điểm cho rằng, trong quá khứ, các cuộc khủng hoảng hệ thống đã có thể vượt qua được chỉ là thông qua chiến tranh. Cụ thể là thế giới thoát khỏi cuộc đại khủng hoảng chỉ thông qua Thế chiến II. Cũng có những lo ngại rằng, ngày nay chúng ta đang đi đến Thế chiến II. Ông có đồng ý với quan điểm đó không?

– Tôi rất hy vọng rằng, thực tế không phải như thế bởi vì chiến tranh thế giới sẽ tàn khốc đối với tất cả chúng ta, có chăng chỉ trừ các tập đoàn lớn sẽ kiếm được nhiều tiền từ chiến tranh như đã làm trong tất cả các cuộc chiến trong quá khứ. Tôi thực sự nghĩ rằng, đó là nguy hiểm thực sự, và mức độ căng thẳng như thế trong quan hệ Iran-Mỹ làm tôi rất sợ hãi bởi vì nó có thể dẫn đến một cuộc chiến rất nghiêm trọng. Hơn nữa, ở Mỹ có nhiều tin đồn là Nga và ông Putin muốn có cuộc chiến tranh này bởi vì nó sẽ làm tăng mạnh giá dầu mỏ. Tôi hy vọng chúng ta cuối cùng cũng tránh được điều đó.

SP: Tại sao chống đối một hệ thống đã có lại khó khăn đến vậy? Tại sao các quan chức giữ chức vụ cao lại không thể đơn giản thay đổi triệt đế chính sách của mình?

– Bởi vì, các phương pháp đã được chúng tôi áp dụng ở các nước thế giới thứ ba có thể áp dụng đối với những con người riêng biệt ở ngay trong chính nước Mỹ. Chúng tôi biết rõ rằng, ngày nay tổng thống Mỹ đang ở trong tình thế rất sơ hở. Trong thời đại chúng ta, không hề cần giết các tổng thống bằng viên đạn. Việc “ám sát” Bill Clinton được thực hiện bằng việc bôi xấu ông ta qua vụ scandal tình dục. Chỉ mới đây, chúng ta đã thấy, cũng bằng cách đó, sự nghiệp của Giám đốc Quỹ Tiền tệ quốc tế Dominique Gaston André Strauss-Kahn đã bị hủy diệt như thế nào, mặc dù cáo buộc cuối cùng không được chứng minh. Và Obama hiểu rằng, ông ta có thể bị quật ngã bởi những tin đồn giản đơn, những cái buộc ngoại tình, sử dụng ma túy hay bất cứ cái gì khác nữa. Các nhà lãnh đạo của chúng tôi ngày nay rất dễ bị tổn thương và các sát thủ không cần sử dụng bom hay đạn như trong quá khứ.

SP: Thưa ông Perkins, câu hỏi cuối cùng: do cuộc khủng hoảng tài chính hiện nay và các cuộc chiến tranh mới đây, trong đó có chiến tranh Libya, nhiều chuyên gia Nga đã bắt đầu nói rằng, nếu như Liên Xô vẫn còn thì không có chuyện gì như thế có thể xảy ra. Ông nghĩ sao?

– Dĩ nhiên là không thể nói điều gì có thể xảy ra nếu như Liên Xô không sụp đổ, nhưng chúng ta biết chính xác rằng, khi Liên Xô không còn thì trên thế giới chỉ còn lại một siêu cường là Mỹ. Trước đó, Liên Xô và Mỹ đã cân bằng nhau rất tốt, nhưng khi Liên Xô tan rã, thế cân bằng đã bị phá vỡ. Và sau đó, khi Mỹ trở thành siêu cường duy nhất, Mỹ đã trở thành siêu cường của giới đầu sỏ tập đoàn. Điều này hiện nay đang đặc trưng cho cả thế giới tư bản. Vì thế, sự sụp đổ của Liên Xô đã làm thay đổi hoàn toàn cán cân của nền chính trị toàn cầu.

CỜ VÀNG CỰC ĐOAN – THEO VOI HÍT BÃ MÍA

(Treonline) – Trần Hưng Đạo trong Hịch Tướng sĩ “Sông Đằng một dải dài ghê, Sóng hồng cuồn cuộn tuôn về bể Đông. Những phường bất nghĩa tiêu vong, Nghìn thu chỉ có anh hùng lưu danh!”

Việt Nam từ thuở các Vua Hùng dựng nước đến nay đã viết nên bao trang sử vẻ vang dựng nước và giữ nước. Thiên anh hùng ca về giữ nước thật oai hùng, nhưng cũng thấm đẫm bao nhiêu máu và nước mắt. Dân tộc Việt Nam chúng ta hiểu điều đó, và bởi vậy không khi nào chúng ta muốn chiến tranh. Dân tộc chúng ta khát khaohoà bình, và có lẽ không có dân tộc nào muốn có hoà bình lại phải trải qua mất mát, hy sinh to lớn đến như thế! Nhưng chính giữ nước trong hoàn cảnh lịch sử ngàn năm ấy dạy chúng ta biết khoan dung, biết khép quá khứ, hướng tới tương lai, đồng thời cũng cho chúng ta bài học biết cầm vũ khí đánh giặc và thắng giặc, giữ gìn độc lập, tự do cho dân tộc.

Thời nào mà chẳng có “phường bất nghĩa”, “lũ bất trung”, phường “cõng rắn cắn gà nhà” “theo voi hít bã mía”. thời nào chẳng có kẻ “trung thần” ! Và lịch sử đã chứng minh, ai sẽ được “lưu danh” và kẻ nào sẽ bị “tiêu vong” điều đó đã rõ trong sử sách. Cờ vàng chống cộng cực đoan cũng đã đi vào lịch sử của dân tộc việt bằng con đường lưu danh một cách ô nhục nhất , nó đã trượt dài trên con đường ôm chân ngoại bang , “rước voi về dày mả tổ”, cờ vàng cực đoan là “đỉnh cao” nhất trong mọi thời đại của dân tộc Việt về sự phản phúc.
Sau mấy chục năm vác cờ, “chuyển lửa” về tổ quốc cờ vàng CCCĐ nhận thấy những phương pháp đó không mang lại mảy may kết quả nào, chỉ chuốc lấy sự phản ứng của dư luận nhân dân trong nước và người Việt ở hải ngoại . Dựa hơi BU (Mỹ), được sự chỉ bảo tận tình của các tổ chức không có thiện cảm đối với đất nước VN phương hướng chống phá đất nước cũng “uyển chuyển” cho phù hợp với trào lưu quốc tế, cờ vàng cũng “đầu tư” suy nghĩ tìm cách phát huy tối đa dã tâm bán nước đã ăn sâu vào não bộ nô lệ của cờ vàng.

 

 

Tư duy của cờ vàng CCCĐ
Cờ vàng CCCĐ sống được cho đến ngày hôm nay là nhờ luồng “sinh khí” lúc nào cũng được “hâm nóng” và “saochế” các sự kiện xảy ra ở trong nước, thiếu cái chiêu này thì chắc chắn cờ vàng sẽ lăn đùng ra chết giống như kẻ bị trúng gió độc vậy. Cũng bám vào những sự kiện và vấn đề thời sự trong nước, tập trung đào bới, cắt xén, chế biến làm sao cho “bốc mùi” chống cộng.
Thời gian qua, trên nhiều trang mạng và đài phát thanh của hải ngoại đã xuất hiện những bài viết, những cuộc phỏng vấn, “bình loạn” công kích, xuyên tạc, bóp méo, bôi đen… sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của dân tộc VN, cờ vàng CCCĐ dựng chuyện bêu xấu nhằm làm mất uy tín của những người đang nắm giữ vận mệnh quốc gia, phủ nhận những thành tựu mà toàn dân tộc VN vươn lên từ hoang tàn của cuộc chiến tàn khốc nhất trong lịch sử dân tộc.
Trong cuộc chiến trước năm 1975 đòn “mã hồi thương” về chiến tranh chính trị đã làm cho cờ vàng ngấm đòn , bắt chước những người cộng sản cờ vàng cũng “tập trung” xoi mói vào cái gọi là “tử huyệt” của cộng sản . Rất dễ dàng nhận thấy chiêu thức mà cờ vành đưa ra là việc tuyên truyền, kích động của các thế lực thù địch và cơ hội chính trị vẫn nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của chính phủ VN đối với công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc . Lợi dụng các vấn đề liên quan đến Biển Đông và chủ quyền lãnh thổ của Việt Nam để bôi nhọ, hạ uy tín, kích động, chia rẽ mối quan hệ giữa nhà nước với dân, công kích chính sách đối ngoại của VN, đặc biệt những vấn đề liên quan đến quan hệ Việt Nam – Trung Quốc…
Cờ vàng CCCĐ có hiểu được rằng dân tộc Việt trải qua biết bao nhiêu cuộc chiến bảo vệ cương thổ quốc gia mà vũ khí bách chiến , bách thắng là gì không ? Xin thưa cho các vị được rõ đó là sự đoàn kết , điều thật dản dị mà các nền đệ nhất , đệ nhị cộng hoà không một chút hơi hướng gì trong những người lãnh đạo quốc gia của cờ vàng có được. Cờ vàng CCCĐ có hiểu được lịch sử cha ông không ? chắc sẽ không hiểu rõ được tại sao quân dân đời Trần có thể ba lần đánh tan những đạo quân xâm lược hung bạo, muốn lấy thịt đè người, nếu không hiểu được cội nguồn của thắng lợi kỳ diệu là tinh thần dân tộc được khởi động và dâng cao để do đó mà “vua tôi đồng tâm, anh em hòa mục, cả nước góp sức”.
Cờ vàng dùng thủ đoạn xuyên tạc sự thật, bóp méo, bôi đen nhằm mục đích lôi kéo, kích động những phần tử cực đoan, bất mãn, những người nhẹ dạ, cả tin… nghi ngờ vào đường lối, chủ trương, chính sách của Nhà nước VN , chiêu này cũng chẳng mới mẻ gì. Tuy nhiên, trong khoảng thời gian này, sự tuyên truyền của họ diễn ra theo hệ thống từ trước, tạo nên một “chiến dịch” kích động, lôi kéo với mức độ ngày càng rầm rộ hơn.
Nếu
nhìn suốt những bước thăng trầm của lịch sử đất nước ta luôn nằm trong vị thế địa lý – chính trị “trứng chọi đá” thì khối đại đoàn kết dân tộc là sự đúc kết giữ nước của ông cha ta. Kể từ thời Khúc Hạo (năm 907-917) với cương lĩnh dựng nước “Chính sự cốt chuộng khoan dung, giản dị, nhân dân đều được yên vui” . Trải qua các chặng đường giữ nước “từ Đinh, Lê, Lý,Trần gây nền độc lập; cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên hùng cứ một phương”, thời nào cũng có những kẻ phản dân tộc, tìm mọi cách gây rối đến nền anh ninh xã tắc, họ không tiếp thu những tinh hoa về lòng yêu nước mà ngược lại là sự vọng ngoại ôm chân ngoại bang , bản chất cờ vàng là như vậy.
Ở trong nước, một số kẻ cơ hội chính trị lợi dụng biến động quốc tế cũng mưu toan lợi dụng vấn đề tranh chấp Biển Đông để dùng kế “Nhất tiễn song điêu” – vừa chia rẽ, phá hoại quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, vừa thực hiện chiến lược xóa bỏ chế độ chính trị, xóa bỏ Nhà nước CHXHCN Việt Nam do Đảng CS lãnh đạo.
Có những tên giặc lộng ngôn kêu gọi phải “đồng hành quân sự với Hoa Kỳ”, xem đây là “mệnh lệnh của thời đại”. “Táo tợn” hơn, họ còn đưa ra “ý tưởng” Đánh đổi Chế độ xã hội XHCN do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo lấy sự cam kết của của một số cường quốc phương Tây, làm đối trọng với Trung Quốc ??. Hỡi ơi ! những kẻ dốt nát về chính trị , hoang tưởng về đầu óc mới nghĩ như vậy ,thử hỏi cờ vàng vậy tại sao Hoa Kỳ phải bỏ Việt Nam để lại di chứng cuộc chiến cho đến tận ngày hôm nay ? Cờ vàng CCCĐ sau 37 năm vẫn hận BU, thế vì lẽ gì mà đã quên béng mất điều đó vậy?
Hội nghị Diên Hồng
Ta hãy nghe cờ vàng lập luận như sau: Việt Nam là một quốc gia nhỏ yếu, để có đủ khả năng chống lại sự xâm lược của Bắc Kinh, phải liên minh với một số nước lớn có tiềm lực về chính trị, quân sự, kinh tế đủ mạnh bằng cách có được “một cam kết chặt chẽ, trung thành với nhiều đồng minh song hoặc đa phương, vốn là cường quốc phát triển, văn minh và có tiềm lực như Mỹ, Nhật Bản, Đức, Anh và nhiều nước khác làm đối trọng”. Muốn vậy Việt Nam phải “chớp thời cơ, thực hiện cải cách chính trị, thay đổi thể chế, chuyển đổi tư tưởng… thì mới hy vọng tranh thủ được sự hậu thuẫn vững mạnh của phần còn lại của thế giới… nhằm thoát khỏi sự độc tài, sự hung hãn, lấy thịt đè người của láng giềng Trung Quốc”…?? .
Nghe đến đây thì chúng ta cũng hiểu được bản chất vong bản, ỉ lại và trốn tránh trách nhiệm mà nó hằn sâu vàotâm thức của các anh cờ vàng CCCĐ này, từ hai nền cộng hoà nó đã làm thối rữa lòng tự trọng và nhân cách của họ, có đời nào mà BU lại vì Việt Nam nã đạn vào Trung Quốc không ? Có bao giờ vì VN mà BU bỏ tất tật quyền lợi kinh tế sống còn của một cường quốc mà càng ngày càng gắn kết sống còn với nhau không ?? Xin thưa với các vị là không bao giờ. Về lịch sử cờ vàng cố tình lờ đi một điều rằng: sau mỗi chiến thắng quân xâm lược phương bắc thì cũng ngay lập tức các vị vua đất Việt phải nghĩ ngay đến việc cầu hoà , cống nạp , xin sắc phong không ? Vì sao vậy ? Cờ vàng có hiểu không ? Đó là kế sách cương nhu mà tổ tiên sử dụng nhuần nhuyễn để tránh cảnh binh đao kéo dài làm hoang tàn đất nước, để hồi phục sức dân.
Cờ vàng có biết mới ngày hôm qua (21/5/2012) Trung Quốc cảnh báo Philippin lôi kéo Mỹ vào việc tranh chấp về bãi đá cạn (Hoàng Nham) – scarborough. Tình hình nóng hổi từng ngày ở khu vực này . Hãy nghe BU nói với đồng minh này: Mỹ chỉ cung cấp cho Philippin một số vũ khí thôi, chứ không can thiệp nếu có đụng độ xảy ra. Nghe rõ chưa các “ngài” cờ vàng. Trong khi đó Manila là đồng minh đó nghe .Nghe cờ vàng nói “đồng hành” với BU sao mà dễ thế, các nhà lãnh đạo VN đâu đến nỗi không tiên liệu được chuyện gì xảy ra nếu liên kết với BU chống lại Trung Quốc, chỉ có đầu óc nô lệ của cờ vàng là chọn con đường huỷ diệt dân tộc đó .
Giữ chủ quyền quốc gia mà nhờ người khác hy sinh giùm cho mình khi có ngoại xâm thật là điều ngược đời, các vị cờ vàng CCCĐ hãy nghe chuyện trong cuộc khánh chiến chống Mỹ cứu nước , trong hoàn cảnh khó khăn nhất người “anh em” phương bắc đã đề nghị Chủ Tịch Hồ Chí Minh là hãy để cho họ đưa quân vào tham chiến cùng với bộ đội VN, nghe có sướng không ? nếu là người lãnh đạo của cờ vàng chắc một điều là các vị sẽ rú lên vì vui mừng, “hồ hởi” chào đón đội quân đó vì có kẻ chết thay cho mình, Ok- là giải pháp tối thượng phải không ?.
Cờ vàng chống cộng hãy nghe Chủ tịch Hồ chí Minh nói về vấn đề này “chúng ta có thể nợ cái gì rồi cũng có thể trả được chứ nợ máu thì không bao giờ trả được “, sự sáng suốt đó cho ta thấm thía được rằng nếu để cho “ông kẹ” tham lam ấy vào nhà thì làm sao mời ổng về khi mà dân tộc ta đang nợ cả tiền lẫn máu ? Cờ vàng có biết rằng chính các vị cũng đang là con nợ khủng khiếp đối với nhân dân Mỹ không ? Tiền và máu của 58 ngàn binh sĩ để xây dựng và bảo vệ cái VNCH của các vị đấy. Bây giờ các vị chỉ có cái mạng trành, ăn bám và phá rối đất nước mà cờ vàng đang là con nợ khủng khiếp, hay là hát bài “cùi không sợ lở”. Tầm chiến lược của các nhà lãnh đạo VNCH chỉ là nhằm vào cái túi của BU có bao nhiêu tiền rồi lên kế sách móc túi, thế thôi, chấm hết.
Cái cớ để cờ vàng CCCĐ bám vào “khai thác” nhiều nhất để thực hiện mưu đồ đen tối ”đục nước béo cò” đó là vấn đề Biển Đông và việc bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Chúng ta hãy nghe dàn hợp xướng của những kẻ khoác tấm áo “yêu nước” nói gì ? Họ rêu rao rằng, Đảng, Nhà nước, Chính phủ và Quân đội nhân dân Việt Nam “nhu nhược” trước các hành động gây hấn trên Biển Đông của Trung Quốc và kêu rú ầm lên “Tổ quốc lâm nguy”, kêu gọi, kích động người dân “Dậy mà đi”, xuống đường biểu tình quy mô lớn… Thậm chí một số cái loa của tổ chức phản động khủng bố Việt Tân còn coi đây là thời cơ “ngàn năm có một” để xuống đường đấu tranh lật đổ chế độ !!.
�”i! nghe đến đây sao mà cảm động về lòng “yêu nước” khí thế “hừng hực” của cờ vàng đến thế, Họ còn lớn tiếng kêu gọi nhà cầm quyền VN mở “hội nghị diên hồng”! điều này chỉ lừa gạt được một số người mà nhận thức về chính trị còn non kém, chưa nhìn rõ tâm địa ôm chân ngoại bang, “theo voi hít bã mía”, “rước voi về dày mả tổ” là bản chất của cờ vàng CCCĐ. các vị cờ vàng CCCĐ hãy nhìn vào lịch sử của của dân tộc VN trong thời gian gần nhất mà đảng CSVN lãnh đạo toàn dân đã làm nên lịch sử chói ngời chủ nghĩa anh hùng của dân tộc Việt. Và kết quả là gì ? các vị đương nhiên tự trả lời. Có muốn giở trò lấp liếm cũng không được .
Có dân tộc nào vừa thoát khỏi tay phát xít Nhật lại lọt vào tay thực dân Pháp để phải làm cuộc trường kỳ kháng chiến 9 năm mới có hoà bình trên một nửa nước như Việt Nam không?! Tưởng rằng, chiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy địa cầu góp phần chấm dứt chủ nghĩa thực dân cũ sẽ đến ngày Tổng tuyển cử Bắc Nam thống nhất, Việt Nam hoà bình, độc lập tự do, nhưng chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ lại làm cho nhân dân Việt Nam phải trải qua một cuộc chiến tranh dài nhất, ác liệt nhất thế kỷ XX. nên tính huỷ diệt bởi vũ khí hiện đại của hai phe đã đẩy chiến tranh tàn khốc không kém chiến tranh thế giới lần thứ hai. Vậy thì Đảng , chính phủ , quân đội VN trong quá khứ có hèn nhát như các vị cờ vàng không ? Có tháo chạy bỏ mặc dân chúng hoảng loạn trên bom dưới đạn không ? Chính phủ cầm quyền ở Việt Nam có được lòng dân không ? nếu không có tại sao có kết quả chói lọi đó ? Cờ vàng CCCĐ có hiểu rằng lòng dân là động lực tiên quyết để làm nên sự thần kỳ đó.
Cờ vàng CCCĐ có biết trong lịch sử thời đoạn lịch sử thời vua Lê, chúa Trịnh báo hiệu sự khủng hoảng trầm trọng của chế độ phong kiến. Việt Nam Sử lược chép về thời Lê Chiêu Thống như sau : “Người bấy giờ bàn riêng với nhau rằng: “Nước Nam ta từ khi có đế vương đến giờ, không thấy vua nào hèn hạ đến thế. Tiếng là làm vua mà phải theo niên hiệu vua Tàu, việc gì cũng phải bẩm đến quan Tổng đốc, thế thì có khác gì là đã nội thuộc rồi không?”.
Đã vậy thì những “thần dân” của vua đã biết cách hưởng ứng lời kêu gọi của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đứng lên đánh giặc cứu nước là điều dễ hiểu. Sử chép: Ngày 29 tháng 11 năm Mậu Thân (26 tháng 12 năm 1788), dừng chân ở Nghệ An hơn 10 ngày để tuyển quân và củng cố lực lượng, nâng quân số lên tới 10 vạn ! Thử hỏi không có sức dân ấy, không có lòng dân theo về, thì làm sao có được chiến thắng thần tốc ấy!
Xung quanh vấn đề giải quyết tranh chấp trên Biển Đông và cuộc đấu tranh bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, cờ vàng CCCĐ phải hiểu được rằng lập trường, quan điểm và chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam đã rõ ràng, thế nhưng Họ lại xem đây là cơ hội để kiếm chác, hòng “đục nước, béo cò”, theo đuổi những toan tính chính trị. Cờ vàng CCCĐ trắng trợn vu cáo: “Cộng sản Việt Nam” chủ trương giải quyết tranh chấp Biển Đông “trên bàn đàm phán” là “một vụ dàn dựng của cả Bắc Kinh lẫn Hà Nội trong việc giúp cho Trung Quốc từng bước thôn tính Việt Nam”; rằng “Nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam chỉ lên tiếng phản đối đơn giản, lấy lệ”, “không dám đối đầu với Bắc Kinh để bảo vệ đất nước”, “thông đồng với kẻ cướp” v.v…Thật nực cười vào cái suy nghĩ quái gỡ này, các vị cờ vàng CCCĐ hãy nghe tiếp tiền nhân đã nói :
Nếu “trông thấy quốc sỉ mà không biết thẹn, thân làm tướng phải hầu giặc, mà không biết tức, tai nghe nhạc để hiến ngụy sứ, mà không biết căm” thì làm sao người người đủ dũng khí khắc trên cánh tay hai chữ “Sát Thát”? Trên cánh tay khắc hai chữ đó vì trong đầu đã hằn sâu một sự thật lịch sử: “Bởi giặc Nguyên cùng ta, là kẻ thù không đội trời chung”. Nếu “cứ điềm nhiên không nghĩ đến việc báo thù… khác nào như quay ngọn giáo mà đi theokẻ địch, giơ tay không mà chịu thua quân giặc”.
Thiên tài quân sự của vị Quốc công Tiết chế thống lĩnh toàn quân có ý nghĩa cực kỳ lớn lao, song thiên tài ấy chỉ có thể phát huy khi dưới trướng của Ngài là những “tướng sĩ một lòng phụ tử”. Nói về họ, những danh tướng như Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão… thì đã quá rõ, lịch sử còn đặc biệt nhắc lại lời Hưng Đạo nói về các gia thần dũng mãnh và trung thành của mình như Yết Kiêu, Dã Tượng : “chim hồng hộc muốn bay cao .
Cờ vàng CCCĐ có biết được vai trò của Đảng CSVN trong hai cuộc chiến tranh dành độc lập cho dân tộc không ? Họ đã làm rất tốt công việc của họ trong vai trò lãnh đạo , chưa có một đảng phái nào khác trong lịch sử VN làm tốt hơn , ngày nay và có thể vài chục năm nữa cũng không có một đảng nào khác làm tốt hơn họ , có đúng vậy không các “ngài” cờ vàng ? , cái đảng “phở bò” khủng bố Việt Tân chỉ có một việc cỏn con là tập hợp sự ủng hộ của một nhúm người cực đoan ở Bolsa mà bao năm nay làm không xong vậy mà đòi lớn tiếng thay thế Đảng CSVN ư ? thật là một lũ ngông cuồng và dốt nát .
Cơ sở của mọi cam kết với bất cứ quốc gia nào, dù là nước lớn hay nước nhỏ, dù đó là chế độ chính trị là gì… rút cuộc đều vì lợi ích của mỗi nước và của các bên. Nói cách khác, bất cứ cam kết quốc tế nào chỉ có thể dựa trên sự thống nhất về lợi ích của cả hai phía. Không được quên đã có không ít những cuộc “mặc cả, mua bán, đổi chác” giữa các nước lớn “trên lưng” các nước nhỏ. Điều này đã được lịch sử thế giới xác nhận. Và Việt Nam là một trong những nạn nhân đó.
Giả thử làm theo ý của cờ vàng là thay đổi thể chế chính trị để được sự ”ủng hộ”, nếu có sự đánh đổi đó thì điều gì sẽ diễn ra và ai là người được hưởng lợi? Cờ vàng sẽ được lợi có phải vậy không ? lúc đó vì quyền lợi giữa các bên sẽ biến cả dân tộc này thành những chiến binh tiên phong chết kẹt giữa hai làn đạn, tổ quốc trở thành bãi chiến trường thử nghiệm vũ khí tàn khốc.
Xưa nay chưa bao giờ có một tinh thần yêu nước nào, chủ nghĩa yêu nước nào lại không mang dấu ấn quan điểm chính trị, cũng như chưa bao giờ có ai thừa nhận mình là người bán nước. Cờ vàng CCCĐ với đầu óc của những kẻ thiểu năng trí tuệ làm sao hiểu được nghệ thuật dựng nước và giữ nước mà Đảng CSVN cùng toàn dân Việt tiếp thu được những tinh hoa của cha ông để lại.
Ta chiến thắng trước tiên bởi ta chính nghĩa. Một dân tộc mà theo đạo lý nhân sinh phải được sống trong hoà bình, độc lập và tự do! Một nước ” vốn xưng nền văn hiến đã lâu, núi sông bờ cõi đã chia”, biên giới, lãnh thổ “rành rành định phận tại sách Trời” đứng lên quyết giữ vững độc lập tự do của mình là điều chính nghĩa không thể chối cãi. Một dân tộc có truyền thống lâu đời với ý chí sắt đá ” thà làm quỷ nước Nam chứ không làm vương đất Bắc”; ” thà hi sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lê.”; ”Không có gì quý hơn độc lập tự do”! Dân tộc ấy không có sức mạnh nào khuất phục được.
Với những nguyên nhân khách quan và chủ quan như đã nói, nhân dân Việt Nam không tránh được các cuộc chiến tranh xâm lược, nhưng đã biết chiến đấu ngoan cường viết lên trang sử giữ nước vẻ vang của dân tộc. Từ phá Tống, bình Nguyên, kháng Minh, đạp Thanh đến đánh Pháp, đuổi Nhật, chống Mỹ để giải phóng dân tộc, những chiến công hiển hách đó kết lại thành truyền thống bất diệt của dân tộc Việt Nam. �”n lại truyền thống đó không chỉ nhắc nhở những ai còn mơ màng về bài học lịch sử ngàn năm nước Việt, mà còn để thế hệ Việt Nam hôm nay hiểu rõ kinh nghiệm xương máu của cha ông trong đấu tranh giữ nước.
Houston 5-22-2012
Amari Tx
CỜ VÀNG: KẺ CHỊU TANG VÀ THỜ CÚNG QUÂN XÂM LƯỢC
(Treonline) – Cộng đồng người Việt ở hải ngoại mà đặc biệt là tại Hoa Kỳvẫn còn một thiểu số băng, nhóm chống cộng cực đoan mang ảo vọng “phục quốc”.

 

 

Cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam là cuộc chiến man rợ nhất mà nước Mỹ đã gây ra, nó đã làm nước Mỹ bị phân hoá nhất trong lịch sử của họ. Nước Mỹ thời đó đã từng dùng bom đạn với mục đích xoá sạch 4000 năm văn hiến của Việt Nam, Hàng triệu người đã chết vì bom đạn hàng trăm ngàn người khác đã trở nên tàn phế, tàn tật đau đớn vô cùng vì di chứng của chất độc da cam mà quân đội Mỹ đã rải xuống lãnh thổ Việt Nam.

Ngày nay hai nước Việt – Mỹ muốn hợp tác hướng về tương lai, song những mất mát và nỗi đau từ cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ vẫn còn đó trong từng gia đình, dòng họ và trên cơ thể nhiều người không dễ nguôi ngoai! Thật đáng xấu hổ khi vẫn còn một thiểu số người Việt thuộc các tổ chức phản động lưu vong ở hải ngoại cố tình quên đi vấn đề này với dã tâm muốn xuyên tạc lịch sử, đề cao tội ác của quân xâm lược!

Lịch sử 4000 dựng nước và giữ nước của dân tộc ta đã có những thời kỳ các thế lực thù địch chống phá Việt Nam bao giờ cũng kết hợp đánh cả bên trong lẫn bên ngoài, thực hiện nội công, ngoại kích, như Kiều Công Tiễn liên kết với quân Nam Hán (năm 938). Trần Thiêm Bình liên kết với quân Minh (năm 1406). Lê Chiêu Thống dẫn đường cho quân Thanh xâm lược (năm 1789)… Trong lịch sử ViệtNam, ngay cả những kẻ thù bán nước tệ hại nhất cũng chưa bao giờ làm chuyện dựng tượng đài để ”Thờ cúng” quân xâm lược kẻ đã gây ra biết bao nhiêu đau thương tang tóc cho dân tộc ViệtNam. Vì như thế thì không còn một chút liêm sỉ làm người, nếu làm như thế mãi mãi sử sách còn lưu nước sông nào gột rửa sạch.

Ấy vậy mà trong lịch sử của dân tộc Việt lại có những hạng người đạt đến sự tột đỉnh của hành vi bán nước làm tay sai, mà đỉnh điểm là “Thờ – cúng”, “nhang khói” cho quân xâm lược. Những Hành vi quái đản đó được thực hiện bởi những người vô học hay điên khùng thì ta chẳng nói làm gì, cái đáng nói là từ những thành phần trí thức, những người từng giữ cương vị điều hành trong xã hội miền Nam trước đây, hoặc những thành phần văn nghệ sĩ .v.v…, họ đã có những hành động, lời nói còn đáng tởm lợm hơn cả những hạng người vô học nhất trên đất Mỹ.

Những thành phần CCCĐ này họ giả danh là người yêu nước, giả danh người lương thiện để chống lại những người đứng về phía quê hương , những ai có những hành động đi ngược lại những tiêu chí họ đặt ra thì lập tức họ nhào vô chửi bới với những bài đã học thuộc lòng, đó là bản chất hoang dã của những con thú đội lốt người. Nhìn vào chúng ta nhận diện họ rất dễ, trên thân xác hạng người này nó bốc mùi phản quốc, bốc mùi nô lệ, bốc mùi côn đồ lưu manh mạt hạng. Đối với đồng hương thì chúng hung hăng, côn đồ, đối với người bản xứ thì bộc lộ tính ươn hèn cam chịu. Trong cộng đồng người ViệtNam sống tạm dung trên đất Mỹ này có những điều mà đến bây giờ người ta chưa thể lý giải một cách đầy đủ, làm thoả mãn cho những ai muốn tìm hiểu về hạng người này.

Cộng đồng người Việt ở hải ngoại mà đặc biệt là tại Hoa Kỳ ngoài những người an phận, chỉ muốn có việc làm ổn định, muốn có một cuộc sống bình yên, những người có đầu óc tiến bộ muốn đóng góp xây dựng quê hương, hoà hợp hoà giải dân tộc, thì vẫn còn một thiểu số băng, nhóm chống cộng cực đoan mang ảo vọng “phục quốc”. Nếu trước đây họ đã lãnh lương Mỹ để ôm súng sẵn sàng chết thay cho kẻ xâm lược chống lại sự nghiệp thống nhất đất nước một cách mù quáng, thì giờ đây lại muốn dựa vào ngoại bang để gây mất ổn định chính trị trong nước một cách điên cuồng nhất, ngu xuẩn nhất. Sau 37 năm, những ảo vọng trên tàn lụi, nhóm cực đoan ngày càng cô độc, lạc lõng giữa cộng đồng người Việt bởi những tư tưởng, hành vi chống phá đất nước mù quáng, điên dại.

 

Tội ác của quân đội Mỹ trong chiến tranh Việt Nam
 
Những thành phần cặn bã này trong suy nghĩ luôn mong cho đất nước ViệtNamluôn chìm trong đói nghèo, bất ổn về an ninh hòng dựa vào những điểm yếu đó trục lợi về chính trị. Bọn chúng mong muốn kẻ thù truyền kiếp của dân tộc phát động chiến tranhlợi dụng trong tình thế hỗn mang đó chúng sẽ giành phần lợi thế.Với bản chất nịnh bợ ngoại bang mong muốn làm tay sai “chuyên nghiệp” cho những kẻ đã giày xéo gây bao đau thương thảm khốc cho quê hương mình, lũ người háo danh, lừa đảo, dị hợm về nhân cách đã bức ép, doạ dẫm, khủng bố bà con trong cộng đồng để trục lợi tiền bạc qua chiêu bài “chống cộng”.

Chúng bày trò lừa gạt, ép buộc một số bà con đóng góp để xây dựng lên những thứ gọi là “tượng đài chiến sỹ Việt Mỹ” (TĐCSVM) tại một số thành phố tại Hoa Kỳ có đông bà con Việt sinh sống như thành phố Westminster – bang Califonia; thành phố Houston – bang Texas; thành phố West Valley tiểu bang Utah .v.v… Theo nhận xét của ông nhà báo Nguyễn phương Hùng chủ trang mạng KBCHN: “… Mà cái tượng đài chiến sĩ Việt Mỹ này cũng kỳ lắm, từ ngày khánh thành xảy ra không biết là bao nhiêu chuyện cười ra nước mắt. Nói trắng ra là nơi diễn ra những trận võ đài kiểu Hoa Sơn Luận Kiếm cuả Kim Dung với những bang phái ‘võ lâm cao thủ’ người Việt Quốc Gia …” đủ cho ta thấy sự lố bịch của việc làm này.

Các băng nhóm thiểu số chống cộng cực đoan này đang ra sức nịnh bợ BU (Mỹ), tô vẽ, tôn vinh các “TĐCSVM”, đây là một biểu tượng của cuộc chiến tranh tàn khốc, dã man, phi nghĩa mà chính phủ Mỹ gây ra tại Việt Nam, hàng trăm tỷ đôla và hao tổn bao nhiêu xương máu của hơn 58,000 người Mỹ. Hậu quả của nó để lại di chứng nặng nề trong xã hội Mỹ. Các cơ quan truyền thông Mỹ và phương Tây lên án kịch liệt, phỉ báng những tội ác mà quân đội xâm lược Mỹ đã gây tang tóc trên đất nước Việt Nam mà vụ Mỹ Lai 40 năm trước là một minh chứng không thể bác bỏ.

Bọn CCCĐ lại lấp liếm làm ngơ trước sự mất mát đau thương của chính người cùng dòng máu Việt, chúng rất thành thạo, nhuần nhuyễn trong việc nịnh bợ những kẻ từng là kẻ thù của dân tộc, chúng muốn biến mình thành công cụ, tay sai ngoại bang, đó là nghề của chúng.

Thật nhục nhã khi họ dựng tượng đài để vinh danh tội ác man rợ một số tên cặn bã đầu óc đã phát biểu những cảm nghĩ mà những người có lương tri phải lợm giọng, chúng ta hãy nghe một vài nhân vật này “phun” cảm nghĩ. Tên nhà thơ Alibaba Nguyễn Chí Thiện mửa ra những lời: “Người chiến binh ViệtNamcộng hoà bị rất nhiều sách báo của thế giới, nhất là ở Mỹ kết tội là lính đánh thuê. Việc dựng tượng đài này là để thế hệ con cháu biết chúng ta không phải là tay sai của Mỹ…” ?? Trong cuộc biểu tình ngày 18-4-2010 chống báo Người Việt một ông trong đám biểu tình đã nức nở, ai oán trước hồn ma của kẻ xâm lược rằng: “Kính thưa linh hồn của 58.000 ông lính Mỹ đã tử trận ở ViệtNam. Xin các ông mau mau hiển linh đem dùm tòa soạn báo Người Việt về nơi địa ngục”…??

Nhà báo Phan Công Tôn viết trên tờ người Việt: “Xây dựng tượng đài để ăn quả nhớ người trồng cây” ?

Việt Dzũng tên “găng tơ” trong làng giải trí của người Việt, Nam Lộc tên “thợ nổ” chuyên nghiệp của trường phái kích động và cũng là một trong những kẻ chủ xướng các “đại nhạc hội” gây quỹ dựng tượng đài đã nói: “Những binh lính Mỹ đã đổ xương máu trong trận chiến vì miền Nam, họ xứng đáng được tôn vinh như những anh hùng”???

Còn đám xướng ca rối loạn tâm thần xổ ra những câu mà có lẽ khi ta nghe họ nói thì cũng đành im lặng chào thua. Ca sĩ Như Mai (nghẹn ngào): “Tôi luôn nhớ ơn những người lính Mỹ đã có công với đất nước chúng ta…” ?? Ca sĩ Thanh Thúy (nức nở): “… Tôi rất hãnh diện vì nét oai hùng của tượng đài tri ơn những người lính Mỹ này…”?? Ca sĩ Khánh Ly (ai oán): “Tôi chắc oan hồn của những người lính Việt Mỹ muốn theo chúng ta qua bên này, xứ sở tự do và không cộng sản …”??

Ngày lễ Giáng Sinh 25/12/2011, ban điên dại cộng đồng Nguyễn Xuân Nghiã đã làm lễ tạ ơn vong linh tử sĩ 2 người lính Hoa Kỳ và VNCH bằng 2 con heo và 2 chai rượu Remy Martin. Lễ Giáng Sinh mà có áo xanh áo đỏ, cắc cắc bùm bùm lùng tùng xèng xèng, í a, í ô, chiết tửu tiến tửu, nhất bái, nhị bái, tam bái thì bố ông lính Mỹ có sống lại cũng không hiểu, tổ chức lễ tạ ơn ông Phan kỳ Nhơn quỳ mọp người rên rỉ trước tượng đài nói ”… Hồn Thiêng Sông Núi, các Bậc Tiền Nhân, Anh Hùng Liệt Sĩ, Chiến Sĩ Trận Vong đã hy sinh vì tổ quốc, trong đó có 58 ngàn binh sĩHoaKyvà đồng minh đã hy sinh để bảo vệ lý tưởng tự do trên quê hương ViệtNam…”

Vẫn chưa đủ độ ép phê với các hồn ma ông ta gào tiếp: “… kính dâng với tất cả lòng thành kính, tri ơn và nguyện cầu: Hồn Thiêng Sông Núi, Tiền Nhân có công dựng nước và giữ nước, anh linh các đấng anh hùng liệt nữ vị quốc vong thân, các chiến sĩ chết hiên ngang trên các chiến trường để bảo vệ giang sơn, anh linh những người chết tức tưởi trong các trại tù cộng sản và đặc biệt anh linh 58 ngàn chiến sĩ Hoa Kỳ và đồng minh đã hy sinh để bảo vệ lý tưởng tự do… Xin qúy vị hãy về đây chứng giám và độ trì cho dân tộc ViệtNamthoát khỏi ách thống trị cộng sản” ??.

 

Chứng tích tội ác quân đội Mỹ gây ra tại Mỹ Sơn.
 
Chắc nhiều người nghĩ cái đám người này không phải người ViệtNam? Không đúng rồi, họ vẫn nói tiếng Việt, trong huyết quản của họ vẫn mang dòng máu Việt nhưng họ vẫn ngày đêm chửi bới quê hương của họ, họ ước mong suốt đời được ôm chân ngoại bang, suốt đời thèm muốn làm tay sai, nghề nghiệp sinh sống là làm lính đánh thuê, nhưng tất cả những mong muốn đó cũng đã vuột khỏi bàn tay của những hạng người này.

Chính vì vậy khi tháo chạy toán loạn qua bên này sự biến chứng về tâm lý nô lệ đã đẩy họ vào con đường cụt nên dẫn đến những rối loạn và có những hành vi quái gỡ như vậy. Bởi vì lòng thù hận chỉ làm hoen rỉ sự khôn ngoan và ý thức của họ, não trạng thù hận làm hỏng hoàn toàn nhân cách của nhóm người vong bản này. Trong đầu óc họ không hề có hai tiếng tổ quốc, họ đã vứt bỏ tất cả sau cái ngày được BU cứu vớt sống tạm dung trên đất nước Mỹ, họ vinh danh một tổ quốc không hề hiện hữu tồn tại trên hành tinh này đó là “VNCH”, một điều kỳ quặc nhất trong những điều kỳ quặc, đến người nuôi dưỡng chúng BU (Mỹ) cũng lắc đầu ngao ngán.

Nếu nhóm người Việt lưu vong phản động cực đoan có cố gắng dựng thêm bao nhiêu “TĐCSVM” đi nữa, cũng sẽ không làm vơi được “nỗi đau của nước Mỹ”. Những ngày tưởng niệm vụ thảm sát Mỹ Lai sẽ còn mãi mãi trong lòng dân Việt, nước Mỹ với cuộc chiến tranh Việt Nam mãi không bao giờ xoá mờ, báo chí trên thế giới và ngay trong lòng nước Mỹ sẽ còn nói về sự kiện này. Những “TĐCSVM” nó chỉ là dấu nhấn tô đậm thêm tội ác quân xâm lược Mỹ tại ViệtNam, nhắc lại để mọi người không quên, nó phản lại ý nghĩ nịnh bợ quân xâm lược của đám CCCĐ người Việt ở hải ngoại.

Houston 6-23-2012

Amari-TX

[Nguồn: http://treonline.com/co-vang-ke-chiu-tang-va-tho-cung-quan-xam-luoc.htm]

Mắng dân và… cười ngạo nghễ!

 

Sao Dân tôi bỗng dưng… muốn khóc!

Thế là, mặc cho kết luận của cơ quan quản lý Nhà nước rằng, đập thủy điện Sông Tranh 2 bảo đảm ổn định, an toàn, mặc cho những trấn an với người dân, rằng hãy biết yên tâm và duy trì các hoạt động sản xuất, học tập, sinh hoạt bình thường, và cũng mặc cho đập thủy điện chưa tích nước, đến thời điểm này, ST 2 vẫn liên tiếp có… “kết luận” riêng của nó.

Ai “kém hiểu biết” hơn?

Chỉ trong ngày 23/09, hai trận động đất với cường độ mạnh 4,8 richter đã khiến hàng nghìn người dân các huyện Nam- Bắc Trà My (Quảng Nam) hoảng hốt. 150 người đang dự tiếp xúc cử tri tại xã Trà Đốc bỏ chạy tán loạn.

Đã có gần 120 ngôi nhà, trường học của các xã Trà Đốc, Trà Tân, Trà Sơn và Trà My bị hư hỏng nặng. Ai sẽ phải đền bù thiệt hại đã xảy ra và sẽ xảy ra?  Câu trả lời còn ở thì…tương lai.

Nhưng trong khi chờ đợi “thì tương lai” tới, thì hiện tại, theo ông Đặng Phong, Chủ tịch UBND huyện Bắc Trà My, do quá lo sợ, nhiều người dân đành vào rừng, làm nhà tạm để sống.

Động đất vốn là thiên tai khiến cả nhân loại luôn kinh hoàng, sợ hãi. Không một quốc gia nào, dù phát triển văn minh, tiên tiến trong khoa học, như Nhật Bản chẳng hạn có thể dám coi thường. Bài học Fukushima mới đây còn đầy nước mắt.

Nữa là những quốc gia còn đang phát triển như Việt Nam. Nữa là cái huyện miền núi còn nghèo, chậm phát triển như Bắc Trà My. Tiếc thay, sau những ngày hoảng hốt chạy tán loạn, người dân Bắc Trà My và cả xã hội hết sức bất bình trước cái cách ứng xử của các nhà khoa học, các nhà chuyên môn.

Chưa bao giờ, gánh nặng sinh mạng của hàng ngàn người dân thực sự trĩu vai chính quyền huyện Bắc Trà My như lúc này. Thủy điện ST 2 bỗng nhiên như một “chứng nhân” bất đắc dĩ của cuộc đấu khẩu giữa hai bên- chính quyền và các nhà khoa học.

Trước sự vênh nhau giữa phân tích về kỹ thuật với hiện tượng động đất luôn xảy ra, không tin vào những kết luận của đoàn cán bộ khoa học khảo sát, cũng như của Ban Quản lý thủy điện ST 2, ông Đặng Phong, Chủ tịch huyện gay gắt:Chúng tôi vẫn đang nợ người dân câu trả lời về độ an toàn của thủy điện ST 2.

 

Đã có gần 120 ngôi nhà, trường học hư hỏng nặng sau hàng loạt trận động đất. Ảnh: Thanh Niên

 

Thì đây, các nhà khoa học, các chuyên gia thủy điện, “trả nợ” dân:

Bà Ngô Thị Lư (Đoàn nghiên cứu Viện Vật lý Địa cầu): Người dân quá kém hiểu biết, chỉ mới nghe động là đã dắt trâu bò, gói ghém đồ đạc bỏ chạy.Bà Ngô Thị Lư còn yêu cầu chính quyền nên giáo dục lại dân.

Ôi trời, cái tâm của một người phụ nữ làm khoa học, lại là … TS nữa kia! Dân không chạy động đất thì ngồi đợi chờ chết ư, thưa bà Ngô Thị Lư?

Ông Lưu Thế Biểu, Phó Trưởng ban xây dựng Tập đoàn EVN: Nếu các trận động đất lớn hơn xảy ra đập vẫn an toàn. Ngày 13-9, EVN sẽ họp với Bộ Xây dựng để có kết luận cuối cùng và đề nghị Thủ tướng cho phép tích nước. Ông Biểu còn khuyên: Người dân và chính quyền tỉnh Quảng Nam phải tin vào kết luận của các nhà khoa học vì đó là… chân lý.

Còn ông Trần Văn Hải-Trưởng ban Quản lý dự án thủy điện 3, chủ đầu tư công trình ST2: Dân nên chia sẻ và hy sinh cho thủy điện!

Những lời mắng, lời khuyên… thừa, bỗng trở thành bất nhẫn, thưa các nhà khoa học lẫn các nhà quản lý dự án.

Nếu dân không biết chia sẻ và hy sinh, thì đâu phải di dời, chuyển nhà, tìm nơi định cư mới với vô vàn khó khăn của sự khởi đầu lại?

Nếu không biết hy sinh, lấy đâu ra công sức lao động để xây nên con đập thủy điện, mà do những kém cỏi chuyên môn, thậm chí do sự thiếu trách nhiệm và vô lương tâm của những kẻ nào đó, từ điều tra, khảo sát, thiết kế kỹ thuật đến thi công, giờ dân lại đang phải chịu những cơn “đập” nổi giận của đất?

Gần 120 ngôi nhà, trường học của dân nghèo bị  hư hỏng, dân phải chạy vào rừng sống, đã là hy sinh chưa? Hay hy sinh có nghĩa là chấp nhận sống chung với những trận động đất ngày càng lớn về cường độ, thậm chí biết đâu, có thể hủy diệt cả một cộng đồng?

Có kém hiểu biết, dân mới phải “bám víu” vào những khảo sát, kết luận “chân lý” của các nhà khoa học. Thế nhưng, chỉ 10 ngày sau lời khuyên “khoa học là chân lý”, đã có tiếp 2 trận động đất khiến dân kinh hồn.

Đến nước này, dư luận xã hội, chỉ mong các nhà khoa học, nhà chuyên môn như bà Ngô Thị Lư, ông Lưu Thế Biểu, ông Trần Văn Hải, và cả những ai ai nữa, khẳng định đầy tự tin vào sự an toàn của ST 2, nên đưa cả gia đình vào khu vực thủy điện chung sống, “chia sẻ” sự… hiểu biết cho người dân Bắc Trà My vốn kém hiểu biết.

Có lẽ khi đó, dân mới hoàn toàn tin phát ngôn của các vị có lý!

Ở góc độ Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy Quảng Nam, ông Trần Xuân Thọ cay đắng: Chúng tôi tin các nhà khoa học chứ. Nhưng trước đó họ nói động đất sẽ giảm dần, giờ lại tăng lên thì có gì bất thường không? Giờ lại nói chúng tôi phải chờ ba năm nữa mới có kết quả chính thức là sao? Chỉ sợ khi đó chúng tôi không… còn sống nữa để đợi kết quả.

Không phải ngẫu nhiên ngày 24/9, báo SGTT có bài viết “Dân đáng bị mắng hay nhà khoa học đáng phải ra toà?”. Bài báo dẫn chứng, một phiên toà ở Ý từng làm xôn xao giới khoa học, vì theo cáo buộc của công tố viên, các nhà khoa học không cung cấp thông tin đầy đủ và chính xác về khả năng động đất, dẫn đến thiệt hại nghiêm trọng về con người và tài sản của dân.

Thông tin khoa học chính xác là yêu cầu tiên quyết, người dân chờ đợi ở các nhà khoa học, trong khi ngày ngày họ vẫn phải “chờ đợi” thảm họa động đất rất có thể lại xảy ra. Liệu ST 2 có cần được đi theo vết xe đổ của các nhà khoa học nước Ý xa lắc xa lơ không?

Nhưng mới đây, một “dư chấn khoa học” khiến xã hội còn sửng sốt hơn. Liệu đây có phải là câu “trả lời” của ST 2 cho các nhà khoa học không:

Khi Lật lại báo cáo đánh giá tác động môi trường thủy điện Sông Tranh 2, người ta sửng sốt, vì trong báo cáo này (lập vào tháng 8/2005), Tập đoàn Điện lực VN- EVN, cho rằng thủy điện ST 2 không có khả năng gây động đất kích thích khi tích nước, không gây rủi ro môi trường.

Thực tế xảy ra trái ngược hẳn, các hiện tượng động đất của ST 2 đều được các chuyên gia phân tích,  đánh giá là động đất kích thích.

Thế nhưng, cũng theo bài báo, một chuyên gia trong nhóm đánh giá nguy hiểm động đất thủy điện ST 2 (thời điểm tháng 8/2005) cho biết, nhóm này chỉ được “đặt hàng” đánh giá nguy hiểm động đất cực đại có thể tới 5,5 độ Richter chứ chưa có những nghiên cứu về động đất kích thích lúc đó!

Chưa có nghiên cứu, mà dám khẳng định trong báo cáo “thủy điện ST2 không có khả năng gây động đất kích thích khi tích nước, không gây rủi ro môi trường”. Đó là báo cáo kiểu gì, nếu không phải là thiếu cả trách nhiệm lẫn lương tâm khoa học?

Các nhà khoa học hay đổ tại cho cơ chế quản lý không tạo động lực nghiên cứu. Nhưng ở sự kiện ST 2, các nhà khoa học có trách nhiệm liên đới sẽ trả lời ra sao, về nghiên cứu một đằng, phát biểu một nẻo?

Ông Lê Trí Tập, nguyên Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam đã phải nói:

Bây giờ tôi thật sự băn khoăn là có nên tin vào các nhà khoa học hay không vì họ nói không nhất quán gì cả. Đứng trước sinh mệnh của hàng vạn người dân Quảng Nam, tôi tha thiết đề nghị các nhà khoa học phải hết sức trung thực, hết sức khách quan và phải hết sức chính xác khi nhận định về những biến động địa chất ở thủy điện ST2.

Vậy, ai mới là “kém hiểu biết” hơn?

Xin các nhà khoa học, hãy trung thực lên tiếng?

Tại cuộc họp báo mới đây, ông Vũ Đức Đam, Bộ trưởng, Chủ nhiệm VPCP khẳng định, quan điểm của Chính phủ phải bảo đảm tuyệt đối an toàn tính mạng và tài sản của người dân. Cần thận trọng, theo dõi thêm ST 2, và Chính phủ cũng chưa cho phép tích nước ở thời điểm này.

Đó là quyết định đúng đắn và cần thiết.

Nụ cười …ngạo nghễ?

Giữa lúc thủy điện ST2 còn chưa biết đi về đâu hỡi tôi, thì ngày 24/09, VietNamNet đưa thông tin “Người có chức quyền thu nhập sẽ khá”. Đây được coi là một trong những giải pháp để phòng chống tham nhũng, khiến bạn đọc lập tức phản hồi, phản biện tới tấp về tòa soạn.

Tham nhũng, từ lâu giống như một “chấn thương tâm lý xã hội” cực mạnh. Bởi những thảm họa nó gây ra cho xã hội, khiến dân quá phẫn nộ, vì thậm chí nó đe dọa đến sự tồn vong của chế độ.

Thật ra, quốc gia nào cũng có tham nhũng, từ tư bản đến xã hội chủ nghĩa, nó không phải đặc tính của một thể chế chính trị nào.

Có điều, tham nhũng sẽ bị hạn chế, nếu cơ chế quản lý xã hội thực sự khoa học, phù hợp quy luật thực tiễn, và pháp luật không bị tham nhũng…bịt mắt. Và có điều, tham nhũng ở xã hội ta, nó cũng đặc biệt quá.

Không cứ là quan chức, từ một nhân viên công quyền vô danh tiểu tốt, một giáo viên mầm non, một y tá,  điều dưỡng bệnh nhân…, đều có thể tham nhũng, bởi họ vẫn có quyền với một nhóm người nào đó phụ thuộc họ.

Nhưng quan chức, khả năng tham nhũng lớn, tham nhũng nặng, thì hơn hẳn. Nếu vậy, việc cải cách tiền lương chỉ “ưu tiên” cho quan chức, thì tác động của giải pháp này có phần gây… phản cảm. Sự bàn luận ồn ào ngay sau thông tin, đã giải thích phần nào. Và liệu nó có hiệu quả không?

Xin dẫn chứng, về cái sự tăng tiền bạc trước đây:

Khi ngành giáo dục có chủ trương tăng học phí, một câu hỏi đặt ngược: Liệu có sẽ tăng chất lượng giáo dục không?

Khi ngành y tế có chủ trương tăng viện phí, cũng có  câu hỏi đặt ngược: Liệu có sẽ tăng chất lượng điều trị bệnh không?

Câu trả lời của cả hai ngành giáo dục- y tế: Chưa dám khẳng định, vì chất lượng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác!

Thật khôn và thật khéo!

 

Tăng lương có chống được tham nhũng? Ảnh minh họa

 

Giờ đây, cũng rất có thể, có một câu hỏi đặt ngược: Nếu tăng tiền lương cho các quan chức, liệu tham nhũng có giảm bớt không? Không chừng, giống như ngành giáo dục và y tế, câu trả lời sẽ là: Chưa chắc, vì tham nhũng phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác!

Thế nên, trong bài viết mới đây trên Tuần Việt Nam, ngày 25/09, tác giả bài viết đã đặt câu hỏi: Tăng lương rồi mà vẫn tham nhũng thì làm gì nữa? Chả lẽ lại…tăng lương tiếp?

Câu hỏi này xin dành cho các chuyên gia tư vấn về chính sách phòng chống tham nhũng.

Quan trọng hơn cả, cơ chế, thiết chế quản lý kinh tế- chính trị- xã hội hiện nay đã thực sự khoa học, phù hợp thực tiễn, để có thể ngăn ngừa, phòng chống và hạn chế tham nhũng chưa?

Câu hỏi này xin dành cho các nhà quản lý chính quyền từ cơ sở…

Sau những ồn ào, sau những quan tâm thông tin về đối thoại phòng chống tham nhũng năm 2012, chờ cho tiếng nói dư luận xã hội lắng xuống, Tham nhũng mới xuất hiện. Đẹp đẽ, hồng hào, trông rất trí thức, lại rất giống đại gia. Rất kẻ cả, gương mặt đầy vẻ ban phát.

Giờ là lúc Tham nhũng đối thoại với Dân tôi:

– Nhà ngươi ăn gì?

– Dĩ nhiên ăn cơm. Thế còn ông, Tham nhũng, ông ăn gì?

– Ta ăn nhiều thứ lắm, tiền bạc, vàng, ngoại tệ, đất đai… Có thế mới đẹp đẽ thế này chứ. Ngươi tuy ăn, nhưng gạo thì đầy thuốc trừ sâu, phân hóa học, thực phẩm, rau củ, hoa quả ô nhiễm, đầy chất bảo quản. Tham nhũng tự tin.

-…

– Ta biết, Dân các ngươi phẫn nộ với Tham nhũng ta lắm. Nhưng Dân các ngươi có biết, vì sao ta không chết, mà vẫn có ba đầu sáu tay? Tại các ngươi cả đấy. Tại các ngươi luôn có nhu cầu khiến ta phải tham nhũng.

Có kẻ nào đó trong các ngươi từng tổng kết, cuộc đời làm dân của hắn, phải “lạy” tới 36 cửa: Cửa xin học, xin tuyển dụng, xin việc làm, xin chữa bệnh, xin công chứng, xin mua bán nhà cửa..v v…và vv…Các ngươi chỉ có quyền xin sỏ. Còn ta, ta có quyền.

– Chả lẽ Dân tôi có nhu cầu của đời sống là có tội?

– Không có tội. Nhưng ta có quyền. Quyền sinh ra lợi, đặc quyền, đặc lợi. Hiểu chưa?

Mà người có biết vì sao người ko chống nổi ta ko? Vì các ngươi có mỗi cái miệng là vũ khí. Lúc nào cũng hô khẩu hiệu: Chống tham nhũng, chống tham nhũng! Làm như cứ hô khẩu hiệu là Tham nhũng ta chết thẳng cẳng í? Tham nhũng cười sằng sặc.

– …

– Nhưng Dân các ngươi chỉ có quyền hô. Tham nhũng ta cũng hô cùng các ngươi, nhưng ta… “có quyền” không bao giờ chống lại… chính ta? Hiểu chửa?

Và Tham nhũng lại cười. Bước đi. Dáng đi và nụ cười ngạo nghễ, khệnh khạng giống nhau lạ.

Ôi chao. Vừa bị các nhà khoa học mắng. Giờ Dân tôi lại bị Tham nhũng mắng, diễu cợt!

Sao Dân tôi bỗng dưng…muốn khóc!

Kỳ Duyên [http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/tuanvietnam/90453/mang-dan-va—-cuoi-ngao-nghe-.html]————–

Tham khảo:

http://m.baodatviet.vn/Home/chinhtrixahoi/Dan-gan-thuy-dien-Song-Tranh-thua-lo-lang-thieu-hieu-biet/20129/233553.datviet

http://phapluattp.vn/2012091312154194p0c1015/tranh-luan-ve-dong-dat-nha-khoa-hoc-mang-dan.htm

http://phapluattp.vn/20120926104351104p0c1015/lat-lai-bao-cao-danh-gia-tac-dong-moi-truong-thuy-dien-song-tranh-2-ngo-ngang.htm

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2012-09-26-nha-khoa-hoc-dang-phai-ra-toa-

http://vietnamnet.vn/vn/chinh-tri/89635/nguoi-co-chuc-quyen-thu-nhap-se-kha.html

http://tuanvietnam.vietnamnet.vn/2012-09-24-tang-luong-de-phong-chong-tham-nhung-

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

————————-

Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.

 

Đó là một điều chắc chắn.

 

Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng, thǎm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta.

Kế theo đó, tôi sẽ thay mặt nhân dân ta đi thǎm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp nǎm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

 

*

* *

Ông Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc đời nhà Đường, có câu rằng “Nhân sinh thất thập cổ lai hy”, nghĩa là “Người thọ 70, xưa nay hiếm”.

 

Nǎm nay, tôi vừa 79 tuổi, đã là lớp người “xưa nay hiếm” nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khoẻ có kém so với vài nǎm trước đây. Khi người ta đã ngoài 70 xuân, thì tuổi tác càng cao, sức khoẻ càng thấp. Điều đó cũng không có gì lạ.

 

Nhưng ai mà đoán biết tôi còn phục vụ cách mạng, phục vụ tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa?

 

Vì vậy, tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.

 

TRƯỚC HẾT NÓI VỀ ĐẢNG  Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hǎng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

 

ĐOÀN KẾT là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

 

Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

 

Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

 

ĐOÀN VIÊN THANH NIÊN ta nói chung là tốt, mọi việc đều hằng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

 

Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.

 

NHÂN DÂN LAO ĐỘNG ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều nǎm chiến tranh.

 

Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hǎng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.

 

Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

 

CUỘC KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

 

Còn non, còn nước, còn người, Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

 

Dù khó khǎn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.

 

VỀ PHONG TRÀO CỘNG SẢN THẾ GIỚI  là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em!

 

Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý , có tình.

Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại.

 

*

* *

VỀ VIỆC RIÊNG  Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.

 

Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân.

 

*

* *

Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.

 

Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế.

 

Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

 

Hà nội, ngày 10 tháng 5 nǎm 1969

 

 

 

 QUÁ TRÌNH VIẾT DI CHÚC CỦA BÁC:

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu viết tài liệu “Tuyệt đối bí mật” (Di chúc) từ năm 1965, vào lúc mà đồng bào và chiến sĩ cả nước đang sôi nổi thi đua lập thành tích chúc thọ Bác Hồ 75 tuổi.

 

Năm 1965:

Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu viết tài liệu “Tuyệt đối bí mật” (Di chúc) từ năm 1965, vào lúc mà đồng bào và chiến sĩ cả nước đang sôi nổi thi đua lập thành tích chúc thọ Bác Hồ 75 tuổi. Từ ngày 10 đến ngày 14-5-1965, mỗi ngày Người dành từ một đến hai tiếng để viết và đã hoàn thành bản thảo Di chúc đầu tiên gồm 3 trang, do chính Người tự đánh máy, ở cuối đề ngày 15-5-1965.

Ngày 10-5, từ 9h đến 10h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu thảo tài liệu “Tuyệt đối bí mật” – Di chúc.

Ngày 11-5, từ 5h 45′ sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi tiễn đoàn đại biểu Đảng Cộng sản Italy về nước. Sau đó từ 9h đến 10h, Người viết tiếp tài liệu “Tuyệt đối bí mật”.

Ngày 12-5, từ 9h đến 10h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục viết tài liệu “Tuyệt đối bí mật”.

Ngày 13-5, từ 9h đến 10h sáng Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục viết tài liệu “Tuyệt đối bí mật”.

Ngày 14-5, sáng sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi thăm Hợp tác xã nông nghiệp Phương Đông (Từ Liêm, Hà Nội).

10h sáng, Người họp Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng bàn về công tác đào tạo cán bộ. Từ 14h đến 16h, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết phần cuối tài liệu “Tuyệt đối bí mật”.

18h, Người tiếp các đồng chí ủy viên Bộ Chính trị Trung ương Đảng đến chúc thọ Người.

Ngày 15-5, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Hà Nội đi thăm Trung Quốc.

 

 

 

 

Nguyên văn bản thảo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh:

 

 

VIỆT NAM DÂN CHỦ CÔNG HOÀ

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

————————-

(Tuyệt đối bí mật)

 

Nhân dịp mừng 75 tuổi

Người làm thơ rất nổi tiếng, ở Trung Quốc đời nhà Đường là cụ Đỗ Phủ có câu thơ rằng “hân sinh thất thập cổ lai hy”. Nghĩa là: Người thọ 70, xưa nay hiếm.

 

Nǎm nay, tôi đã 75 tuổi. Tinh thần vẫn sáng suốt, thân thể vẫn mạnh khỏe. Tuy vậy, tôi cũng đã là lớp người “xưa nay hiếm”.

 

Ai đoán biết tôi sẽ sống và phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng mấy năm mấy tháng nữa?

 

Vì vậy, tôi để lại mấy lời này, chỉ nói tóm tắt vài việc thôi. Phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột.

 

Trước hết nói về Đảng – Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phục vụ nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hǎng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.

 

Đoàn kết là một truyền thống cực kỳ quý báu của Đảng và của dân ta. Các đồng chí từ Trung ương đến các chi bộ cần giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình.

 

Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng. Phải có tình đồng chí thương yêu lẫn nhau.

 

Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thực sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân.

 

Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hằng hái xung phong, không ngại khó khǎn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chǎm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”.

 

Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết.

 

Nhân dân lao động ta ở miền xuôi cũng như ở miền núi, đã bao đời chịu đựng gian khổ, bị chế độ phong kiến và thực dân áp bức bóc lột, lại kinh qua nhiều nǎm chiến tranh.

 

Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hǎng hái,cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng.

 

Đảng cần phải có kế hoạch thật tốt để phát triển kinh tế và vǎn hóa, nhằm không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân.

 

Cuộc kháng chiến chống Mỹ có thể kéo dài mấy năm nữa. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của nhiều người. Dù sao, chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mỹ đến thắng lợi hoàn toàn.

 

Còn non, còn nước, còn người,

Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay!

 

Dù khó khǎn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi. Đế quốc Mỹ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam, Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà. Nước ta sẽ có vinh dự lớn là một nước nhỏ mà đã anh dũng đánh thắng hai đế quốc to – là Pháp và Mỹ; và đã góp phần xứng đáng vào phong trào giải phóng dân tộc.

 

Về phong trào cộng sản thế giới – là một người suốt đời phục vụ cách mạng, tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em!

 

Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động, góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản, có lý có tình.

 

Tôi tin chắc rằng các đảng anh em và các nước anh em nhất định sẽ phải đoàn kết lại.

 

*

* *

Về việc riêng – Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức đám đình, lãng phí ngày giờ và tiền bạc của nhân dân.

Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, nói chữ là “hỏa táng”. Tôi mong rằng cách “hỏa táng” dần dần sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất. Bao giờ ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn.

 

Tro xương thì tìm một quả đồi mà chôn. Gần Tam Đảo và Ba Vì như hình có nhiều đồi tốt. Trên mộ, nên xây 1 cái nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi.

 

Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt câu ấy. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp.

 

Nếu tôi qua đời trước ngày nước ta được thống nhất, thì nên gửi một ít tro xương cho đồng bào miền Nam.

Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng.

 

Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn, và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế.

 

Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.

 

Hà nội, ngày 15 tháng 5 nǎm 1965

Hồ Chí Minh

 

 

Năm 1966:

Ngày 11-5, từ 9h đến 10h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lại tài liệu “Tuyệt đối bí mật”, suy nghĩ nhưng không viết gì thêm.

Ngày 15-5, từ 9h đến 10h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lại tài liệu “Tuyệt đối bí mật”.

Ngày 16-5, từ 9h đến 10h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn đọc lại tài liệu “Tuyệt đối bí mật”. Buổi chiều cùng ngày, sau khi dự bữa cơm thân mật với Bí thư Thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Chủ tịch Quốc hội, Đại tướng chính uỷ Bộ Tư lệnh quân giải phóng miền Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi Trung Quốc chữa bệnh.

Năm 1967:

Ngày 14-4, Chủ tịch Hồ Chí Minh đi Quảng Châu (Trung Quốc) để chữa bệnh. Người điều trị tại nhà số 1 Vườn Tùng, khu an dưỡng suối nước nóng Tùng Hoá ở ngoại ô Quảng Châu cho đến ngày 30-6 mới trở về Hà Nội nên Người không chỉnh sửa tài liệu “Tuyệt đối bí mật”.

Ngày 19-5, các vị lãnh đạo Trung Quốc tổ chức chúc thọ Người 77 tuổi cũng tại nhà số 1 Vườn Tùng, Phu nhân Thủ tướng Chu Ân Lai, bà Đặng Dĩnh Siêu cũng bay từ Bắc Kinh xuống để mừng thọ Người bức tượng nữ chiến sĩ du kích miền Nam bằng đá cẩm thạch. Sau buổi chúc thọ, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem một số tiết mục văn nghệ của đoàn văn công quân đội Quảng Châu.

Năm 1968:

Ngày 10-5, đúng 9h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết lại phần mở đầu của bản Di chúc và phần “về việc riêng”. Đến 10h30, Người làm việc với Chủ tịch Quốc hội Trường Chinh về việc chuẩn bị cho kỳ họp thứ 4 Quốc hội khoá III.

Ngày 11-5, đúng 9h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục viết Di chúc phần nói về công tác chỉnh đốn Đảng: “Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình…”. Đến 10h, Người làm việc với đồng chí Hoàng Quốc Việt về kế hoạch đi thăm vùng mỏ.

Ngày 12-5, đúng 9h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục viết Di chúc, đọc và sửa chữa những phần đã viết. Người căn dặn thêm nhiều điểm cụ thể về việc chăm lo đời sống của nhân dân sau chiến tranh:

“Đầu tiên là công việc đối vớicon người.

 

Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, chiến sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong…), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn yên ổn, đồng thời phải mở những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”…”. Đến 10h, Người tiếp đạo diễn điện ảnh Hà Lan Jorit Iven.

 

Ngày 13-5, đúng 9h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục viết và sửa chữa bản Di chúc. Người sửa đoạn viết về chăm lo hạnh phúc đối với con người: “Trong bao năm kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta, ra sức góp của góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn, gian khổ. Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất”.

Ngày 14-5, đúng 9h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục sửa bản Di chúc.

Ngày 15-5, từ 9h đến 10h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lại và sửa bản Di chúc.

Ngày 16-5, từ 9h đến 10h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc và sửa bản Di chúc.

Ngày 17-5, từ 9h sáng Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ sung và sửa chữa bản Di chúc. Đến 10h, Người nghe Bộ trưởng Bộ Ngoại giao báo cáo về công tác ngoại giao.

Ngày 18-5, đúng 9h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục bổ sung và sửa chữa bản Di chúc. Sau bữa cơm chiều hôm ấy, Người rời nhà sàn đến nhà nghỉ Hồ Tây.

Ngày 19-5, tại nhà nghỉ Hồ Tây, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp thân mật một số cán bộ đến chúc thọ Người. Từ 9h sáng đến đến 10h, Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục bổ sung và sửa chữa bản Di chúc.

 

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HÒA

Độc lập, Tự do, Hạnh phúc

 

(Tuyệt đối bí mật)

 

Năm nay, tôi vừa 78 tuổi, vào lớp những người “trung thọ”. Tinh thần vẫn sáng suốt tuy sức khỏe có kém so với vài năm trước đây. Người ta đến khi tuổi tác càng cao thì sức khỏe càng thấp. Đó là điều bình thường.

 

Nhưng không ai đoán biết được tôi sẽ sống và phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng mấy tháng, mấy năm nữa?

 

Vì vậy tôi viết sẵn và để lại mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước và đồng chí trong Đảng khỏi cảm thấy đột ngột.

 

Về việc riêng

Suốt đời tôi hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa.

Sau khi tôi đã qua đời, chớ nên tổ chức điếu phúng linh đình, để khỏi lãng phí thì giờ và tiền bạc của nhân dân.

Tôi yêu cầu thi hài tôi được đốt đi, tức là “hỏa táng”. Tôi mong rằng cách “hỏa táng” sau này sẽ được phổ biến. Vì như thế đối với người sống đã tốt về mặt vệ sinh, lại không tốn đất ruộng. Khi ta có nhiều điện, thì “điện táng” càng tốt hơn.

 

Tro thì chia làm 3 phần, bỏ vào 3 cái hộp sành. Một hộp cho miền Bắc. Một hộp cho miền Trung. Một hộp cho miền Nam.

 

Đồng bào mỗi miền nên chọn l quả đồi mà chôn hộp tro đó. Trên mả, không nên có bia đá tượng đồng, mà nên xây 1 ngôi nhà giản đơn, rộng rãi, chắc chắn, mát mẻ, để những người đến thăm viếng có chỗ nghỉ ngơi.

 

Nên có kế hoạch trồng cây trên và chung quanh đồi. Ai đến thăm thì trồng một vài cây làm kỷ niệm. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp. Việc săn sóc nên giao phó cho các cụ phụ lão.

Tháng 5-1968, khi xem lại thư này tôi thấy cần phải viết thêm mấy điểm không đi sâu vào chi tiết.

 

Ngay sau khi cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đã hoàn toàn thắng lợi, công việc toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta phải ra sức làm là mau chóng hàn gắn vết thương nghiêm trọng do đế quốc Mỹ gây ra trong cuộc chiến tranh xâm lược dã man. Đó là một công việc cực kỳ to lớn, phức tạp và khó khăn. Chúng ta phải có kế hoạch sẵn sàng, rõ ràng, chu đáo, để tránh khỏi bị động, thiếu sót và sai lầm. Theo ý tôi, việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng, làm cho mỗi đảng viên, mỗi đoàn viên, mỗi chi bộ đều ra sức làm tròn nhiệm vụ Đảng giao phó cho mình, toàn tâm toàn ý phục vụ nhân dân. Làm được như vậy, thì dù công việc to lớn mấy, khó khăn mấy chúng ta cũng nhất định thắng lợi.

 

Đầu tiên là công việc đối với con người.

 

Đối với những người đã dũng cảm hy sinh một phần xương máu của mình (cán bộ, binh sĩ, dân quân, du kích, thanh niên xung phong..,), Đảng, Chính phủ và đồng bào phải tìm mọi cách làm cho họ có nơi ăn chốn ở yên ổn, đồng thời phải mở những những lớp dạy nghề thích hợp với mỗi người để họ có thể dần dần “tự lực cánh sinh”.

Đối với các liệt sĩ, mỗi địa phương (thành phố, làng xã) cần xây dựng vườn hoa và bia kỷ niệm ghi sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ, để đời đời giáo dục tinh thần yêu nước cho nhân dân ta.

 

Đối với cha mẹ, vợ con (của thương binh và liệt sĩ) mà thiếu sức lao động và túng thiếu, thì chính quyền địa phương (nếu ở nông thôn thì chính quyền xã cùng hợp tác nông nghiệp) phải giúp đỡ họ có công việc làm ăn thích hợp, quyết không để họ bị đói rét.

 

Những chiến sĩ trẻ tuổi trong các lực lượng vũ trang nhân dân và thanh niên xung phong đều đã được rèn luyện trong chiến đấu và đều tỏ ra dũng cảm. Đảng và Chính phủ cần chọn một số ưu tú nhất, cho các cháu ấy đi học thêm các ngành, các nghề, để đào tạo thành những cán bộ và công nhân có kỹ thuật giỏi, tư tưởng tốt, lập trường cách mạng vững chắc. Đó là đội quân chủ lực trong công cuộc xây dựng thăng lợi chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

 

Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa đến quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ.

 

Đối với những nạn nhân của chế độ xã hội cũ, như trộm cắp, gái điếm, cờ bạc, buôn lậu, v.v.. thì Nhà nước phải dùng vừa giáo dục, vừa phải dùng pháp luật để cải tạo họ, giúp họ trở nên những người lao động lương thiện.

Trong bao năm kháng chiến chống Pháp, tiếp đến chống đế quốc Mỹ, đồng bào ta, nhất là đồng bào nông dân đã luôn luôn hết sức trung thành với Đảng và Chính phủ ta, ra sức góp của góp người, vui lòng chịu đựng mọi khó khăn gian khổ. Nay ta đã hoàn toàn thắng lợi, tôi có ý đề nghị miễn thuế nông nghiệp 1 năm cho các hợp tác xã nông nghiệp để cho đồng bào hỉ hả, mát dạ, mát lòng, thêm niềm phấn khởi, đẩy mạnh sản xuất.

 

Ở đây nói về kế hoạch xây dựng lại thành phố và làng mạc đẹp đẽ, đàng hoàng hơn trước chiến tranh. Khôi phục và mở rộng các ngành kinh tế. Phát triển công tác vệ sinh, y tế. Sửa đổi chế độ giáo dục cho hợp với hoàn cảnh mới của nhân dân, như phát triển các trường nửa ngày học tập, nửa ngày lao động. Củng cố quốc phòng. Chuẩn bị mọi việc để thống nhất Tổ quốc…

 

Công việc trên đây là rất to lớn, nặng nề, và phức tạp, mà cũng là rất vẻ vang. Đây là một cuộc chiến đấu chống lại những gì đã cũ kỹ, hư hỏng, để tạo ra những cái mới mẻ, tốt tươi. Để giành lấy thắng lợi trong cuộc chiến đấu khổng lồ này cần phải động viên toàn dân, tổ chức và giáo dục toàn dân, dựa vào lực lượng vĩ đại của toàn dân.

 

Năm 1969:

Ngày 10-5, Chủ tịch Hồ Chí Minh họp Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 16. Đến giờ nghỉ giải lao, Người xin về trước. Từ 9h30 đến 10h30, Chủ tịch Hồ Chí Minh sửa chữa bản Di chúc, Người viết toàn bộ đoạn mở đầu Di chúc vào mặt sau tờ tin tham khảo đặc biệt của thông tấn xã Việt Nam ra ngày 3-5-1969.

Ngày 11-5, Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ sung và sửa chữa bản Di chúc.

Ngày 12-5, từ 8h sáng, Chủ tịch Hồ Chí Minh họp Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam. Đến 15h, Người sửa bản Di chúc phần mở đầu và phần viết thêm của năm 1968.

Ngày 13-5, từ 9h đến 10h, Chủ tịch Hồ Chí Minh sửa chữa bản Di chúc. Người sửa đoạn mở đầu và phần viết thêm của năm 1965.

Ngày 14-5, từ 9h đến 10h, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem và sửa chữa bản Di chúc.

Ngày 15-5, từ 9h đến 10h, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem và sửa chữa bản Di chúc.

Ngày 16-5, từ 9h đến 10h, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem và sửa chữa bản Di chúc.

Ngày 17-5, từ 9h đến 10h, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem và sửa chữa bản Di chúc.

Ngày 18-5, từ 9h đến 10h, Chủ tịch Hồ Chí Minh xem và sửa chữa bản Di chúc.

Ngày 19-5, từ 9h đến 10h, Chủ tịch Hồ Chí Minh sửa chữa bản Di chúc của các năm 1965, 1968, 1969. Người xem lại tài liệu lần cuối và xếp vào phong bì cất đi.

 

10-5-1969

Cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ hy sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn.

 

Đó là một điều chắc chắn.

 

Tói có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ, và chiến sĩ anh hùng, thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta.

 

Kế theo đó, tôi sẽ thay mặt nhân dân ta thăm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp năm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta.

 

Ông Đỗ Phủ là người làm thơ rất nổi tiếng ở Trung Quốc, đời nhà Đường, có câu rằng “nhân sinh thất thập cổ lai hy” nghĩa là “người thọ 70, xưa nay hiếm”.

 

Năm nay, tôi vừa 79 tuổi, đã là hạng người “xưa nay hiếm” nhưng tinh thần, đầu óc vẫn rất sáng suốt, tuy sức khỏe có kém so với vài năm trước đây. Khi người ta đã ngoại 70 xuân, thì tuổi tác càng cao, sức khỏe càng thấp. Điều đó cũng không có gì lạ.

 

Nhưng ai mà đoán biết tôi còn phục vụ cách mạng, phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân được bao lâu nữa?

Vì vậy tôi để sẵn mấy lời này, phòng khi tôi sẽ đi gặp cụ Các Mác, cụ Lênin và các vị cách mạng đàn anh khác, thì đồng bào cả nước, đồng chí trong Đảng và bầu bạn khắp nơi đều khỏi cảm thấy đột ngột.

 

Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh

 

Công bố năm 1969 giới thiệu ở đầu trang

 

 

Sau khi được công bố, bản Di chúc đã gây một sự xúc động lớn, một niềm cảm phục sâu sắc, không chỉ đối với toàn thể nhân dân Việt Nam mà với tất cả các dân tộc đang đấu tranh cho hòa bình, độc lập, dân chủ và tiến bộ xã hội trên khắp các lục địa.

 

Di chúc là một văn kiện lịch sử vô giá, kết tinh trong đó cả tinh hoa tư tưởng, đạo đức và tâm hồn cao đẹp của một vĩ nhân hiếm có đã suốt đời phấn đấu hy sinh vì tổ quốc và nhân loại.

 

Toàn bộ Di chúc toát lên khí phách, tinh thần lạc quan chiến thắng của một bậc đại trí, đại nhân, đại dũng luôn luôn vững tin vào tương lai tất thắng của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, của sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế đất nước sau chiến tranh… giữa lúc cuộc chiến đấu còn đang diễn ra quyết liệt, kẻ thù còn đang thi thố bao thủ đoạn tàn ác xảo quyệt.

 

Trong Di chúc, Người nhấn mạnh đến các yếu tố chính trị tinh thần đã góp phần mang lại thắng lợi cho cách mạng Việt Nam: sự đoàn kết nhất trí trong Đảng, việc thực hành dân chủ, tự phê bình và phê bình, tình đồng chí thương yêu lẫn nhau… Đặc biệt, Người nhấn mạnh vai trò của đạo đức cách mạng, vì đảng ta là một đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đày tớ thật trung thành của nhân dân”.

 

Di chúc đã phản ánh tâm hồn và đạo đức vô cùng cao thượng và phong phú, vô cùng trong sáng và đẹp đẽ của một con người vĩ đại suốt đời “hết lòng hết sức phục vụ Tổ quốc, phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân. Nay dù phải từ biệt thế giới này… không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa”.

 

Mỗi câu, mỗi chữ của Di chúc dồn nén bao cảm xúc, chứa chan tình yêu và sự gắn bó sâu xa với con người, thiên nhiên và cuộc đời. “Muôn vàn tình thân yêu” của Người trùm lên toàn Đảng, toàn quân và toàn dân, đồng chí, bầu bạn, các cháu thanh niên nhi đồng Việt Nam và quốc tế.

 

Do những giá trị đó, Di chúc mãi mãi là một áng văn tuyệt bút, là những lời căn dặn thiết tha, là ánh sáng chỉ đường, là sức mạnh thôi thúc hành động, chẳng những đối với nhân dân ta mà còn đối với tất cả những ai đang đấu tranh cho tự do, độc lập, cho hoà bình, công lý và hạnh phúc của con người.

 

thông tin tại http://www.hochiminhcity.gov.vn

Xe Rolling Stone

Loại bỏ động cơ đầy khói bụi và thay thế bằng một gói mô tơ điện, bản concept độc đáo của nhà thiết kế Vitaly Kononov có thể trở thành chiếc xe lạ nhất thế giới nếu được sản xuất đại trà. Xe được trang bị 2 bánh khổ lớn, sử dụng công nghệ EV (động cơ điện) với pin có khả năng tái nạp bên trong.

Bên hông xe là những màn hình LED cỡ lớn, cho phép người dùng trưng bày hình ảnh hoặc video yêu thích của mình. Ngoài ra, nó còn được trang bị 2 bánh nhỏ để tăng thêm độ ổn định khi xe di chuyển. Chiếc xe này không được điều khiển bằng vô lăng mà bằng joystick lấy cảm hứng từ các trò chơi thực tế ảo.

Peugeot RD

Bản concept độc đáo của nhà thiết kế Carlos Arturo Torres Tovar từng giành giải nhất trong cuộc thi thiết kế do Peugeot tổ chức năm 2009, vượt qua hơn 2.500 mẫu xe khác. Đặc điểm ưu việt của mẫu xe 3 bánh này là khả năng di chuyển thuận lợi trên mọi địa hình, sử dụng động cơ điện thân thiện với môi trường và tạo cảm giác thoải mái cho người lái như đang ngồi trên một chiếc sedan. Đó là chưa kể đến thiết kế hầm hố mà bất cứ ai cũng phải ngước nhìn nếu bạn đi trên phố.

Xe hơi lội nước sQuba

Nhà thiết kế Rinspeed luôn muốn mang một chiếc xe kiểu James Bond vào trong đời thực, do đó ông này đã vẽ ra ý tưởng về một chiếc xe có khả năng lặn như tàu ngầm, lấy cảm hứng từ chiếc Lotus Elise.

Chiếc xe sở hữu một số đặc điểm cải tiến như sở hữu hai động cơ điện hoàn toàn mới, các linh kiện miễn nhiễm với nước biển và một hệ thống cảm biến bằng laser phục vụ cho người lái khi đi dưới đáy biển. Tất nhiên, nó không có khả năng cung cấp oxy cho người ngồi trong, do đó muốn được lặn ngụp dưới đáy biển trên chiếc xế hộp đặc biệt này, người lái chỉ còn cách đeo bình oxy.

Xe bay Terrafugia Transition

Không chỉ còn ở dạng thử nghiệm, xe bay Transition đang ở trong giai đoạn bay thử cuối cùng trước khi chính thức được đưa vào sản xuất đại trà. Xe được thiết kế bằng vật liệu sợi carbon, hợp kim nhôm và titan siêu nhẹ, cho tốc độ tối đa khoảng 170 km/h. Tuy nhiên, để được trải nghiệm sản phẩm này, người dùng sẽ phải sở hữu cả bằng lái máy bay và bằng lái ô tô, đó là chưa kể đến một hầu bao rủng rỉnh, bởi mức giá của nó lên đến 280.000 USD.

CityCar

CityCar ban đầu là một sản phẩm thí nghiệm của sinh viên thuộc phòng thí nghiệm Media Lab, Học viện Công nghệ Massachusetts. Sản phẩm này đang được xem xét để đưa vào sản xuất thực tế bởi tính hữu dụng của nó. Chiếc CityCar sở hữu cơ chế gập độc đáo, giúp tiết kiệm vô số diện tích khi dừng đỗ. Chiếc xe chạy điện, sở hữu bánh xe robot có tầm hoạt động khoảng 100 km và giá bán dự kiến là 12.500 euro.

HẢI ĐĂNG

Theo Infonet.vn