Tag Archive: làm


Mời bạn xem video bên dưới. Công nghệ tiên tiến làm nên những cảnh quay tuyệt đẹp.

CỜ VÀNG CHỐNG CỘNG: NÓI NHƯ RỒNG LEO, LÀM NHƯ MÈO MỬA
Không ngạc nhiên gì báo chí của bọn cờ vàng CCCĐ ở hải chỉ là một phương tiện tuyên truyền chống Việt Nam Mà, đã tuyên truyền thì theo quan điểm của trùm phát xít đức quốc xã Goebbels là phải dùng những xảo thuật như ngụy biện, nhồi sọ, và nói láo. Nói láo càng trơ trẽn càng tốt.

Nói trắng thành đen (và ngược lại), càng khó tin càng tốt. Đó là “triết lí” nên tảng cho tuyên truyền của báo chí chống cộng ở hải ngoại .
Nói láo đã trở thành một đặc tính ăn sâu vào xương cốt trong giới báo chí cờ vàng CCCĐ . Trung thành với quan điểm “Đổi trắng thành đen ” của họ, bọn bồi bút cờ vàng không hề tỏ ra ngượng ngùng khi bịa chuyện. Chúng ta đã thấy trường hợp Chẳng hạn như chúng không thấy xấu hổ khi nói một cách “vô tư” rằng : Việt Nam bán đất , bán biển cho trung Quốc. Bọn cờ vàng CCCĐ không thấy mình ngu xuẩn khi nói rằng để Trung Quốc đánh chiếm Việt Nam xong chúng sẽ đánh Trung Quốc sau ?? . Thật là một lũ người điên loạn về đầu óc mới nghĩ ra những điều quái đản như vậy .
Thông thường nói láo thường mất khôn nên ngay cả giới được gọi là “trí thức” cờ vàng cũng tỏ ra rất đần độn trong lập luận.. Bọn trí thức CCCĐ này tổ chức các cuộc được gọi là “Hội thảo” nổ vang trời nào là ” Hội thảo khẩn cấp về tình hình Việt Nam” – “Hội thảo về Trường sa- hoàng sa”- ” Hội thảo về lật đổ chế độ công sản Việt Nam” .” Tuyên cáo về việc trung quốc trang chấp biển đông “..vv và vv.. . Văn từ và chữ nghĩa của các ông ” Trí ngủ” này cho thấy các vị là các người rất nghèo nàn về ý tưởng và chữ nghĩa. Mà khi đã nghèo nàn ý tưởng và chữ nghĩa thì đó là hệ quả của sự ngu dốt và bất tài.
Khi người nghe những câu “nói như rồng leo ” của bọn cờ vàng CCCĐ Thật tình ta không hiểu nổi là những lập luận đó lại được phun ra từ những người được gọi là “cờ vàng yêu nước” ? những ý tưởng cực kỳ hoang tưởng , cực kì ngu xuẩn và vô giáo dục đến như thế, chứ nói gì đến những câu vô cùng thô tục của đám người thất học trong đám cờ vàng CCCĐ . Nhưng nghĩ đi nghĩ lại, có thể không nên ngạc nhiên, và đó cũng là một điều hay. Cái hay là nó cho mọi người thấy tính lưu manh và hành xử côn đồ của cờ vàng chống cộng không chỉ trong các cuộc biểu tình chống phá đất nước Việt Nam mà còn ngay cả trong cái gọi là ” Hội thảo” các ” tuyên cáo” các danh xưng ” hội đoàn “. Một lần nữa chứng minh rằng cờ vàng CCCĐ là một gã lưu manh đần độn .
Chúng ta nhận thấy rằng, “quy trình chế tác” ra các loại thông tin của cờ vàng CCCĐ và một số cá nhân hoặc nhóm người được gọi là các “nhà dân chủ” ở trong nước , thực hiện một cách xảo quyệt, mang tính chất dẫn dụ đối tượng đọc tới mục tiêu mà chúng luôn muốn nhắm tới là đòi thay đổi thể chế VN theo hướng đa nguyên, đa đảng , thay đổi đường lốichính trị, kinh tế, văn hóa… Chúng chuẩn bị “chế tác” công phu và bài bản như vậy, loại thông tin này đã từng khiến không ít những trí thức trong nước ( thực chất đó là những kẻ cơ hội) “xám hối” về lòng yêu nước mà tiếp tay cho kẻ thù của đất nước, của dân tộc phá hoại sự đồng tâm nhất trí, trên dưới một lòng vì sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.
Cờ vàng CCCĐ lấy tư cách gì mà đòi dân chủ cho Việt Nam ?
Những ngày gần đây, bọn cờ vàng CCCĐ ra sức xuyên tạc quan điểm, chủ trương, chính sách Nhà nước Việt Nam , phủ nhận những thành tựu mà nhân dân VN đã đạt được , lợi dụng các vấn đề “dân tộc”, “tôn giáo”, “dân chủ”, “tự do báo chí”, những tiêu cực trong xã hội để chống phá, vu cáo Việt Nam vi phạm dân chủ. Ngợi ca, kích thích chủ nghĩa tự do, thực dụng. Những quan điểm “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập” cùng với những luận điệu bóp méo sự thật “Việt Nam vi phạm dân chủ”, “mất dân chủ”, vu khống Đảng Cộng sản Việt Nam là “trở lực” cho việc thực hiện dân chủ… Bọn cờ vàng CCCĐ kết hợp với các phần tử được chúng gọi là “phản tỉnh” trong nước liên tiếp tung ra các chiêu bài trong cái gọi là ” chiến dịch diễn biến hoà bình” lại rộ lên như nấm độc sau cơn mưa với những sắc thái mới.

Để tránh né sự thật là VN đang hoà nhập với trào lưu tiến bộ thế giới , những thành tựu vô cùng to lớn đạt được trong công cuộc đổi mới, “dàn đồng ca” của bọn cờ vàng CCCĐ lại “chuyển gam” tập trung tấu lên bản nhạc chung quanh cái gọi là “những vấn nạn trong nước” với những suy diễn, qui chụp võ đoán khi cho rằng: “người dân bất mãn với chính phủ”; rằng nhà cầm quyền cộng sản VN đang đàn áp thẳng tay bắt giữ các nhà vận động nhân quyền , bloggers , những người biểu tình… vv..Xuyên tạc vu cáo vốn là bản chất của cố hữu của đám cờ vàng CCCĐ , song điều cần vạch mặt cái “nghệ thuật” phớt lờ những ý kiến đánh giá của các tổ chức quốc tế, các nhà nghiên cứu đang bàn luận về chính những điều họ nêu ra một cách ấu trĩ và ngu muội.
Trong chiến lược “diễn biến hòa bình” chống phá nhà nước Việt Nam bọn cờ vàng CCCĐ thường nhằm vào những phần tử được coi là trí thức trong nước tìm cách lôi kéo , tài trợ , tâng bốc . Đến lượt mình, số trí thức này, tùy theo trình độ mà “chế tác” cho ra lò các loại thông tin vu khống- phóng đại khác, phát tán ra toàn xã hội. Nói tóm lại, những kẻ tự xưng hay được các nhóm chống Việt Nam phong cho cái nhãn hiệu “nhà dân chủ” ở trong nước và hải ngoại chỉ toàn là một phường chạy theo đuôi những thế lực ngoại bang để phản dân hại nước. Họ mang ảo tưởng làm đối lập, nhưng chẳng ai ủng hộ chúng.
Bọn cờ vàng CCCĐ có hiểu rằng – lịch sử nhân loại và ở cấp độ đặc trưng cơ bản, phân biệt giữa con người với phần còn lại của thế giới, nhu cầu về tự do được xem là một thuộc tính của loài người, là một quyền tự nhiên của con người. Không có tự do thì không có khám phá, không có phát minh sáng chế, không có phát triển …vv… Nhưng ở bình diện cá nhân trong cộng đồng thì nhu cầu về tự do không thể không bị hạn chế vì những lợi ích nhiều mặt của quốc gia, dân tộc, trước hết là ở sự ổn định xã hội – mà thiếu nó thì mọi phát minh, sáng tạo đều trở nên vô nghĩa. Cuộc sống còn chỉ ra rằng, quyền tự do của người này nếu không có những hạn chế nhất định thì có thể xâm hại đến quyền, lợi ích của người khác, trước hết đó là nhân phẩm, danh dự của họ.Vì không hiểu rõ căn nguyên của tự do- dân chủ bọn cờ vàng CCCĐ đã hành động như một lũ vô tri .
Trong khi nhiều người VN ở hải ngoại có trái tim tâm huyết với đất nước đang góp sức mình vào công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước theo dõi những chuyển biến tình hình chính trị xã hội thế giới và Việt Nam, thì bọn cờ vàng CCCĐ tổ chức hoạt động hành lang gây áp lực để quốc tế lên tiếng ủng hộ những kẻ gây rối an ninh chính trị gây bất ổn trong nước, những kẻ đó đang bị pháp luật VN trừng trị . Nhưng kết quả như thế nào thì chúng tự khắc biết .
Cờ vàng CCCĐ có hiểu được rằng : mọi hành vi, cho dù xuất phát từ những động cơ rất trong sáng, nhưng vô hình trung tạo ra sự phân tâm hoặc bất ổn xã hội, gây trở ngại cho việc củng cố tiềm lực, triển khai chính sách đối ngoại đa dạng hóa, đa phương hóa đều có thể làm cho sức mạnh dân tộc bị suy yếu, chỉ có lợi cho những người muốn thấy một nước Việt Nam yếu và chia rẽ. Đó là chưa kể một số kẻ mưu toan “đục nước béo cò”, lợi dụng nhiệt huyết của các tầng lớp nhân dân để phục vụ cho những tính toán riêng của họ”.
Vậy là, bọn cờ vàng CCCĐ những kẻ chuyên nghề lu loa, kích động, xuyên tạc , bôi nhọ đã và đang sử dụng mọi “ngón nghề” để phá hoại chính sách đối ngoại và đối nội của Việt Nam, nhưng kết cục chúng đang luẩn quẩn đi vào “ngõ cụt” , hành động của chúng không thể chấp nhận được . Có bao giờ cờ vàng CCCĐ tổ chức một cuộc gọi là “Hội thảo-tổng kết thành quả 37 năm chống cộng sản và tay sai” như các vị gào thét chưa ? kết quả là gì ? một con số không to tướng phải không ? . Thật đúng như câu châm ngôn dành cho cờ vàng CCCĐ là : “Nói như rồng leo , làm như mèo mửa” quả không oan chút nào .

CNTB đang làm gì nếu không phải là giãy chết?

Chủ nghĩa tư bản là một thứ không đứng yên, nó phát triển và tiến với tinh thần cách mạng về phía trước, nhưng nó cũng tất yếu sụp đổ và luôn gắn liền với những khủng hoảng quy mô khác nhau và có thể hết sức khốc liệt.

 

 

Nhà sử học Marxist đương đại nổi tiếng, ông Eric Hobsbawm, vừa qua đời ở tuổi 95. Dưới đây là bài phỏng vấn ông do tuần báo Stern thực hiện trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới bắt đầu từ mùa Hè 2007, kéo theo các khủng hoảng ngân hàng, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng tiền tệ và khủng hoảng nợ công ở châu Âu mà hậu quả cho đến nay còn chưa lường hết.

– Thưa ông Hobsbawm, ông đã chứng kiến sự ra đi của nhiều hệ thống: Cộng hòa Weimar tiêu vong, chủ nghĩa phát xít tan vỡ, Cộng hòa Dân chủ Đức lụi tàn, chủ nghĩa cộng sản sụp đổ, và bây giờ…

– Nghe ông liệt kê ra thế, tôi thấy mình sắp thành một hiện vật bảo tàng mất rồi. Lúc tôi còn bé, vua nước Anh đồng thời là hoàng đế Ấn Độ, phần lớn thế giới là các nền quân chủ, vương quốc và thuộc địa. Hầu hết đều đã đi tiêu.

– Và bây giờ biết đâu ông còn được chứng kiến điều này nữa: sự cáo chung của chủ nghĩa tư bản.

– Ồ, tôi không tin là mình còn sống đến cái ngày đáng mừng đó. Nhưng là một sử gia, tôi biết rằng không có giải pháp nào là vĩnh cửu. Chủ nghĩa tư bản cũng thế, nó có sống dai đến đâu, có hiển hiện trong đầu óc người ta như một cái gì không thể thay đổi tới mức nào, rồi nó cũng sẽ biến mất, sớm hay muộn mà thôi.

– Tất nhiên ông phải có quan điểm như vậy.

– Vì sao?

– Ông là một nhà marxist kì cựu, lại sống tại London, chỉ cách mộ Karl Marx một đoạn ngắn.

– Xin chớ giễu cợt. Tôi trở thành người marxist từ những kinh nghiệm đích thân trải qua trong những năm 30, trong cơn Đại Suy thoái.

– Và bây giờ chúng ta lại đang đứng ở một điểm ngoặt của lịch sử?

– Vâng, tôi nghĩ thế. Ngày 15 tháng Chín năm 2008, ngày mà nhà băng Lehman phá sản, sẽ thay đổi tiến trình của lịch sử hơn nhiều so với ngày 11 tháng Chín năm 2001, khi tòa tháp đôi của Trung tâm Thương mại Thế giới sụp đổ.

– Ông thử đoán tương lai xem sao.

– Sử gia chúng tôi không phải là những nhà tiên tri. Tôi chỉ có thể nói rằng: Ngày Phán xử Cuối cùng thì chắc chúng ta chưa phải đối mặt, nhưng một số phần của thế giới có thể tiêu vong.

– Vì sao lại thế?

– Trước hết: Tôi, người đã trải qua cơn Đại Suy thoái, vẫn chịu không thể hiểu nổi vì sao cuối những năm 70 rồi sang thập niên 80 và 90 thế kỉ trước, các nhà tư tưởng của nền kinh tế thị trường thả phanh lại có thể trở lại khuynh loát, mặc dù thế hệ tiền bối của họ từng góp phần gây ra một tai họa khủng khiếp: nghèo đói, khốn cùng, thất nghiệp, và rốt cục cả cuộc chiến tranh thế giới nữa.

– Ông thử giải thích xem.

– Trí nhớ của con người ta ngắn tới mức không thể tin nổi. Sử gia chúng tôi ghi lại những tội ác và sự điên rồ của nhân loại, chúng tôi nhắc cho người ta nhớ những điều nhiều người không muốn nhớ. Nhưng gần như chẳng có gì từ lịch sử được rút thành bài học. Hậu quả thế nào thì bây giờ đã thấy. Trong 30, 40 năm gần đây, người ta đã khước từ một cách hệ thống việc đánh giá chủ nghĩa tư bản theo tinh thần duy lý.

– Nhưng chúng ta đang có bao nhiêu chuyên gia và các nhà kinh tế học suốt ngày chỉ làm mỗi việc ấy.

– Không, họ trước hết là những nhà thần học của tôn giáo thị trường với một đức tin ấu trĩ rằng thị trường sẽ tự động điều chỉnh được mọi thứ. Họ nhắm chặt mắt trước hiện thực, đó là điều khiến họ trở thành nguy hiểm cho nhân loại. Trong những năm qua họ còn không thèm nhận ra những báo hiệu của khủng hoảng. Họ mù quáng. Họ bất chấp.

– Có những người ở Mỹ cực kì hưng phấn nói về sự cáo chung của lịch sử. Sự lạc quan đó không có cơ sở nào hay sao?

– Không. 40% dân số thế giới sống bằng mức thu nhập 1 Dollar mỗi ngày. Đó không thể là cơ sở cho một trật tự xã hội ổn định. Lịch sử cáo chung cái nỗi gì. Khủng hoảng bên lề ngày càng lan rộng và ngày càng khốc liệt. Còn ở chỗ chúng ta trong trung tâm thì khủng hoảng thỉnh thoảng xuất hiện dưới dạng chứng khoán lao dốc rồi sau đó lại được điều chỉnh. Cuộc chơi lại tiếp diễn.

– Cuộc chơi nay đã chấm dứt.

– Đúng là phải nói như vậy. Cuộc khủng hoảng hiện tại có một chất lượng hoàn toàn mới. Điều duy nhất để các nhà chính trị có thể lấy làm định hướng là giai đoạn từ năm 1929 đến 1933.

– Tờ New York Times cho rằng cuộc khủng hoảng hiện nay thậm chí có thể khốc liệt hơn thời Đại Suy thoái, mà Đại Suy thoái khi ấy phải nhờ cuộc Đại chiến Thế giới mới giải quyết được.

– Chính sách Kinh tế Mới (New Deal) bây giờ được ca tụng của Roosevelt không thực sự chấm dứt được khủng hoảng, nó chỉ ngăn được bạo loạn chính trị và xã hội xảy ra ở Hoa Kỳ. Không ai chế ngự được cuộc khủng hoảng những năm 30. Và tuy lịch sử không lặp lại nhưng hôm nay tình thế cũng khốc liệt như thuở đó, không, hôm nay còn tệ hơn: Không một chính phủ nào biết mình phải làm gì.

– Ông nói sao? Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama bơm hàng ngàn tỉ Dollar vào kinh tế, Thủ tướng Angela Merkel và chính phủ Đức đưa ra những chương trình kích cầu trị giá hàng tỉ. Tại Hội nghị Thượng đỉnh G20, tất cả đều đồng thanh tuyên bố: Chúng ta sẽ sát cánh! Chúng ta biết rõ phải làm gì.

– Ông có cảm tưởng rằng họ thật sự biết phải làm gì à? Họ có đường lối nào, có phân tích nào hậu thuẫn không? Không! Họ hốt hoảng như các nữ y tá chạy vội đến giường bệnh của chủ nghĩa tư bản và làm như thể họ đang hành động gì đó.

– Họ không biết phải đi về đâu hay sao?

– Đúng như vậy, và thế nên vấn đề mới đáng sợ: họ tuyệt không biết phải làm gì. Như người mù đi giữa mê cung, họ dùng những chiếc gậy khác nhau gõ thử vào tường, đầy tuyệt vọng, và hi vọng một lúc nào đó sẽ tìm thấy lối ra. Nhưng công cụ của họ không có tác dụng.

– Cựu Thủ tướng Pháp Laurent Fabius lo ngại sẽ xảy ra “bạo động xã hội“, và ứng viên Tổng thống Đức của Đảng Dân chủ Xã hội, bà Gesine Schwan, cho rằng những bạo động đó có thể là một mối nguy cho nền dân chủ.

– Tất cả đều có thể xảy ra. Lạm phát. Giảm phát. Siêu lạm phát. Nếu không còn gì là an toàn nữa, nếu bị ném khỏi cuộc sống, nếu những dự tính cuộc đời của người ta bị hủy diệt tàn bạo thì con người sẽ phản ứng như thế nào? Kinh nghiệm lịch sử của tôi cho biết rằng chúng ta – tôi không thể loại trừ khả năng này – đang tiến đến một bi kịch. Máu sẽ đổ, mà còn hơn thế, máu sẽ đổ rất nhiều, nỗi thống khổ tăng lên, số người tị nạn cũng tăng lên. Và một điều nữa tôi cũng không muốn loại trừ, đó là chiến tranh, một cuộc chiến tranh rồi sẽ biến thành đại chiến thế giới – giữa Trung Quốc và Mỹ.

– Nghe quá phi lí!

– Không hề. Tôi thừa nhận là hiện thời kịch bản đó có vẻ rất khó xảy ra. Trung Quốc và Hoa Kỳ hiện đang bổ sung cho nhau, thậm chí còn chống đỡ lẫn nhau, gần như hai mặt của một thể thống nhất. Nhưng cuộc cạnh tranh đối đầu của hai thế lực này ở khu vực châu Á và Thái Bình Dương ngày càng quyết liệt. Không có nền tảng nào cho tình hữu nghị dài lâu giữa hai cường quốc đó.

– Xin ông đừng quá bi quan như thế!

– Có rất ít lí do để lạc quan nhìn về tương lai! Ở thế kỉ 19, người ta tin tưởng rằng mọi sự sẽ tiến lên, sẽ tốt đẹp hơn, con người sẽ văn minh hơn, có học thức hơn. Người ta học đọc, học viết. Người ta tin rằng sẽ tiến bộ lên, không chỉ về vật chất mà cả về đạo đức. Người ta đã lạc quan.

– Nhưng sau đó thì Đại chiến Thế giới xảy ra năm 1914.

– Và tất cả những thứ đó kết thúc. Một thời đại khủng khiếp, một thời đại cực đoan bắt đầu: chưa bao giờ số người bị giết trong chiến tranh hay bị giết theo chỉ thị và do nhà nước cho phép nhiều như trong thế kỉ 20. Tra tấn từng được xóa bỏ ở phương Tây – một tiến bộ vượt bực trong lịch sử nhân loại – lại được phục hồi! Và đầu thế kỉ 21 này Hoa Kỳ còn biến nó thành một phương tiện thẩm vấn! Sự mông muội đang tiến mạnh. Những giá trị được thừa nhận của nền văn minh bỗng nhiên bị chối bỏ.

– Nghe ông nói thì con người thật ngu xuẩn.

– Về vật chất thì với rất nhiều người, thế giới ngày nay đã được cải thiện. Người ta cao lớn hơn, thọ hơn, khỏe hơn. Nhưng về tinh thần, chính trị và đạo đức thì người ta không tiến kịp, hiện tại có lẽ còn đang thụt lùi. Vậy đâu là những giá trị của cuộc sống? Vì sao chúng ta sống trên đời? Sống để làm gì?

– Và câu trả lời của ông?

– Chà, tôi chỉ có thể hỏi rằng vì sao người ta cứ bám chặt vào một hệ thống thường xuyên sản sinh ra những tai họa khủng khiếp nhất như vậy? Một hệ thống bóc lột và phá hủy môi trường, cưa chính cái cành cây mà mình đang ngồi? Và bây giờ cành cây gãy răng rắc khắp nơi. Có lẽ nhân loại rồi sẽ ân hận vì không nghe theo Rosa Luxemburg: hoặc chủ nghĩa xã hội, hoặc trở về thời mông muội.

– Tôi xin ông, chính các bạn hữu chính trị của ông, những người thừa kế gia sản của Lenin, đã tàn phá dự án đối lập với chủ nghĩa tư bản, đã hủy hoại ý tưởng về một thiên đường mơ ước.

– Vâng, đúng như vậy. Và hậu quả đã hiện rõ. Vì bây giờ, khi chúng ta thật sự cần thì lại không có một dự án đối sách cho nhân loại. Thật tai họa.

– Có lẽ vì bản tính của con người là tham lam. Đơn giản chỉ có thế.

– Không. Không. Karl Marx chưa bao giờ lập luận chống lại các nhà tư bản tham lam. Ông ấy chỉ chống lại một hệ thống tất yếu đẻ ra lòng tham. Con người có thể thay đổi, tôi tin tưởng sâu sắc như vậy. Nhưng trong chế độ tư bản, ai cũng buộc phải chạy theo lợi thế cho bản thân, không làm thế là chết.

– Vậy ông cho rằng giới nhà băng không hề làm gì quá đáng?

– Họ tuyệt đối tuân theo quy luật nội tại của hệ thống. Lợi nhuận. Lời lãi. Tăng trưởng kinh tế tối đa. Các lí thuyết sùng bái thị trường tự do rất hay ho, chừng nào chúng ta bỏ qua thực tế. Người ta kiến tạo một hệ thống, đặt tên cho nó là tự do, và trên lí thuyết thì nó vận hành rất tốt: mọi người, mọi nhà, mọi doanh nghiệp đều tìm mọi cách kiếm lợi thế, cái lợi thế có thể hoạch tính bằng lí trí, và thị trường đứng trên mọi phán quyết của con người sẽ điều chỉnh mọi chuyện theo hướng lành mạnh. Thật là một hệ tư tưởng sơ khai. Khối tri thức của những người từng hiểu và mổ xẻ chủ nghĩa tư bản thì bị khinh thường và bỏ xó: Những người như Marx và Schumpeter biết rõ rằng chủ nghĩa tư bản là một thứ không đứng yên, nó phát triển và tiến với tinh thần cách mạng về phía trước, nhưng nó cũng tất yếu sụp đổ và luôn gắn liền với những khủng hoảng quy mô khác nhau và có thể hết sức khốc liệt.

– Nhưng Marx của ông nói rằng “mọi cuộc cách mạng cho đến nay chỉ chứng minh được một điều, rằng nhiều thứ có thể thay đổi, chỉ con người là không“.

– Đúng thế, nhưng Phương châm Hi vọng vẫn là một điều vĩ đại. Tuy theo Max Weber thì mô hình xã hội lí tưởng nằm ngoài khả năng của chúng ta, nhưng nếu không tin vào chính trị thì cũng không thể đạt được điều gì đáng kể trong chính trị. Con người vừa có bản tính Thiện, vừa có bản tính Ác – mà hành xử của con người thì chắc có thể thay đổi được! Để thế giới này vẫn còn là quê hương, hay rồi sẽ trở thành quê hương cho tất cả mọi người, mục tiêu ấy đẹp đấy chứ.

Theo PRO&CONTRA / STERN

[nguồn: REDS.vn]

Tôn giáo nào không làm bạn trở nên mù quáng?

Theo tôn giáo một cách mù quáng không có chút hiểu biết nào cả sẽ tước đọat giá trị tâm linh của tôn giáo và phẩm giá của mình.

Nhiều người trên thế giới này đi theo tôn giáo, và tôn giáo đó phù hợp với tâm trí của họ. Một người phạm các giới điều của tôn giáo sẽ trở thành người nguy hiểm cho xã hội. Điều không có nghi ngờ rằng các nhà khoa học, tâm lý có thể mở rộng phạm vi trí thức, nhưng họ không thể nói với chúng ta mục đích cuộc sống, những điều mà một tôn giáo đúng đắn có thể nói được.

Con người chọn một tôn giáo có ý nghĩa và dựa trên lý trí tùy theo niềm tin của người đó chứ không chỉ đơn thuần dựa vào đức tin truyền thống tập quán và giáo điều. Không ai có quyền buộc tội một người phải chấp nhận đi theo một tôn giáo, không ai được lợi dụng sự nghèo khổ, nạn thất học, hoặc kêu gọi lòng xúc cảm để khiến người vào đạo. Tôn giáo phải được tự do lựa chọn.

Người ta nên được tự do để lựa chọn tôn giáo của riêng mình tùy theo sở thích và khả năng hiểu biết. Theo tôn giáo một cách mù quáng không có chút hiểu biết nào cả sẽ tước đọat giá trị tâm linh của tôn giáo và phẩm giá của mình. Nhân loại có khả năng hiểu biết và ý thức sẳn có để có thể phân biệt những gì là đúng và những gì là sai. Họ có thể thích nghi với hòan cảnh, do đó nên chọn một tôn giáo mà thích hợp với họ và phù hợp với hiểu biết nhân sinh của họ. Họ phải được hướng dẫn một cách đúng đắn và cho họ một cơ hội để quyết định tùy thích mà không có sự ép buộc nào cả.

1. Con đường trung đạo

Tôn giáo được giới thiệu ở đây là một hệ thống giáo dục thực tiển cho việc tu dưỡng tâm trí mà việc tu dưỡng đó được phát hiện trên thế giới cách đây 25 thế kỷ bởi một bậc đạo sư đầy lòng từ bi và trí tuệ. Tôn giáo này được biết là “Trung đạo, một cách sống chân chánh, một hệ thống triết học đạo đức, một tôn giáo của tự do và lý trí”. Tôn giáo này dạy chúng ta thực hành 3 điều chính, đó là: tránh làm các điều ác, vâng giữ các điều lành,và giữ tâm ý thanh tịnh.

Thông điệp này rất giản dị, đầy ý nghĩa và thực tiển, nhưng người ta gặp phải những khó khăn khi họ bắt tay vào tu tập do tính chất non kém vốn có của con người. Đức hạnh của con người đóng vai trò quan trọng trong tôn giáo này. Có lần Đức Thế tôn nói rằng: “giáo pháp của ta không phải đến để tin, mà đến để thấy và tu tập “. Điều này khuyến khích chúng ta nghiên cứu giáo lý của Đức Phật một cách đầy đủ và do đó cho phép chúng ta dùng trí phán xét của chính mình để quyết định về việc liệu chúng ta có nên chấp nhận giáo pháp này hay không. Không ai được yêu cầu đến và chấp nhận đi theo tôn giáo này mà chưa có chút hiểu biết nào về giáo lý của nó. Nghi lễ và cầu nguyện rườm rà sẽ không có giá trị hay ý nghĩa tôn giáo đích thực. Không có đức tin và tu tập mù quáng hoặc các giáo lý bí truyền trong phật giáo. Tất cả mọi thứ đều được mở ra cho sự lựa chọn của những người đi theo mà họ được quyền tự do xem xét các giáo lý và đặt vấn đề bất cứ lúc nào họ muốn làm sáng tỏ nghi ngờ của mình. Theo Đức Phật , một người không nên tin bất cứ điều gì chỉ vì do bậc thánh nói ra hoặc chỉ vì nó được chấp nhận bởi truyền thống, hoặc được chấp nhận bởi nhiều người, nhưng một người nên vận dụng ý thức và trí tuệ của mình cũng như chấp nhận nó chỉ khi nào nó có giá trị trong khi thực hiện điều đó.

Đức Phật dạy về con đường tám ngành bao gồm: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm va chánh định. Con đường trung đao độc nhất vô nhị này dẫn chúng ta đến cuộc sống thánh thiện và an lạc.

Trung đạo không phải là con đường siêu hình hoặc lễ nghi, cũng không phải là chủ nghĩa giáo điều hoặc chủ nghĩa hoài nghi, cũng không phải là tham đắm dục lạc hoặc ép xác khổ hạnh, cũng không phải là thuyết trường tồn hoặc thuyết đọan diệt, cũng không phải là chủ nghĩa bi quan hoặc lạc quan mà là con đường gíac ngộ, một phương pháp giải thóat khỏi khổ đau. Tôn giáo này không đồng ý rằng nhân loại đau khổ ngày nay bởi vì những tội lỗi do tổ tiên của con người đã gây ra. Trái lại, mỗi con người tự chiêu cảm cho chính mình phước đức hoặc tội lỗi. Chính con người có trách nhiệm đối với khổ đau hoặc hạnh phúc của chính mình. Một người đi theo con đường trung đạo sẽ tìm ra an lạc và hạnh phúc đích thực và có thể dẫn đến một đời sống cao quý mà không làm nô lệ cho các căn của chính mình, vì sự đóng góp cho hòa bình, hòa hợp của thế giới .

2. Gieo gì gặp nấy

Tôn giáo này đáp ứng cho những khát vọng cao quý và sâu sắc nhất của con người và có thể xoa dịu những căng thẳng trong đời sống hàng ngày và trong giao tiếp với những người khác; ngoài ra, phật giáo còn gợi ra một cuộc sống có ý nghĩa.Nó không đem đến sợ hãi trong lòng người. “Ở hiền gặp lành” , ” Gieo gió gặt bão”. Đó là những quy luật phổ quát. Tôn giáo này hòan tòan đồng ý với quy luật này, từ đó người ta phải “gặt hái những gì người ta gieo trồng “. A飠nghiệp mà con người gây ra là do bởi tham, sân, si của họ. Khuyết điểm này chỉ có thể vượt qua bằng chính sự chứng ngộ của mình. Hạnh phúc và khổ đau mà con người thụ hưởng trên thế gian này không phải do các tác động bên ngòai mà do chính những hành động thân khẩu ý thiện hay ác mà họ đã tạo ra. Vì lý do này, phật giáo nói rằng : “Hiện tại là kết quả của quá khứ và tương lai là kết quả của hiện tại “.

Theo lời dạy này, nguyên nhân và kết quả đóng vai trò quan trọng trong đời sống chúng ta. Trong vòng nhân quả, nguyên nhân đầu tiên thì không thể thấy vì nguyên nhân đó đã trở thành kết quả và kết quả này lần lượt trở thành nguyên nhân.

3. Bậc đại đạo sư

Người sáng lập tôn giáo này không phải là một nhân vật thần thoại mà là một bậc đại đạo sư thật sự đã sống trong cuộc đời này. Ngài chưa từng coi mình như một bậc siêu nhân mà coi mình như là một con người gíac ngộ chân lý tối thượng, đó là biết được bí mật cuộc đời, nguyên nhân đích thực của khổ đau và hạnh phúc. Ngày nay, bậc đạo sư này không chỉ được kính ngưỡng bởi hàng trăm triệu tín đồ của Ngài mà còn bởi giới trí thức và có văn hóa trên khắp thế giới. Bậc thánh thiện, bậc giải thóat, bậc cải cách xã hội, bậc có tư tưởng dân chủ, và bậc nâng cao đời sống con người, đã nhập diệt ở tuổi 80 để lại đằng sau một đạo lý cao thượng cho nhân loại tu tập như là một phương tiện cho việc giải thóat khỏi đau khổ, sợ hãi và lo âu của con người. Đạo lý này cũng có thể giúp con người đạt được hạnh phúc trong cuộc đời tại thế gian này và cuộc đời mai sau và đưa đến giải thóat hòan tòan mọi khổ đau của nhân loại.

Bậc đạo sư này đã an ủi gia quyến của những người quá cố và đã giúp những người nghèo bị bỏ quên bên lề xã hội, làm thanh cao những cuộc đời bị lừa gạt, làm trong sáng những người lầm lạc tội lỗi. Người khuyến khích những người yếu đuối, đòan kết những người bị chia rẽ, gíac ngộ những người vô minh, sáng tỏ những người thần bí, nâng cao những người thấp hèn, và tán dương những người cao thượng. Cả giàu lẫn nghèo, thánh nhân hoặc người phạm tội đều kính mến Ngài như nhau. Các vua anh minh hoặc hôn quân, các công tôn vương tử nổi danh hoặc vô danh, những trưởng giả hào phóng hoặc keo kiệt,các học giả kiêu căng hoặc khiêm tốn, người nghèo túng thiếu thốn, người bị áp bức, người làm công việc hạ tiện, kẻ giết người độc ác, gái điếm bị khinh rẽ…Tất cả nghe lời dạy trí tuệ và từ bi của Đức Phật đều được lợi ích và sống đời sống an lạc thánh thiện.

Tấm gương cao quý của Ngài là một nguồn truyền cảm cho tất cả . Vẻ mặt đầy đặn và sáng rỡ của Ngài thật sự tạo những cảm giác êm dịu trong ánh mắt của những người sầu muộn. Thông điệp an lạc và độ lượng của ngài được chào đón với tràn đầy hỉ lạc và làm lợi ích bất tận cho tất cả mọi người có cơ duyên được nghe và thực tập. Ý chí sắt đá của Ngài, trí tuệ thậm thâm, lòng từ bi bao la vô bờ bến, vị tha, cuộc xuất thế có tính chất lịch sử, sự thanh tịnh hòan tòan, nhân cách vĩ đại, những phương pháp mẫu mực của Ngài đều được vận dụng để tuyên bày giáo pháp của Ngài – tất cả những yếu tố này truyền cảm cho khỏang 1/5 dân số thế giới ngày nay đã hoan nghênh và tôn thờ Ngài như một bậc vô thượng sư.

Bậc đạo sư cao thượng này đã hy sinh các dục lạc trần gian vì lợi ích của nhân lọai khổ đau mà tìm cầu chân lý để chỉ dạy con đường giải thóat khỏi khổ đau. Ngài thăm viếng những người nghèo trong khi các vua chúa đều viếng thăm Ngài. 45 năm sau khi thành đạo, Ngài đã cống hiến đời mình cho sự gíac ngộ chúng sanh lầm đường lạc lối.

Bậc đạo sư này không làm ai sợ hãi và cũng không bị sợ hãi bởi bất cứ ai. Đây là một trong những nguyên lý mà cần nên được trau giồi trong thế giới do chiến tranh tàn phá- nơi mà những điều quý giá nhất là mạng sống thì bị cúng tế ở bàn thờ bạo lực hung ác và là nơi mà các lọai vũ khí đang gây ra sự sợ hãi, căng thẳng và hận thù.

Ngài là một nhà khoa học hoàn hảo trong lãnh vực của đời sống. Ngài là một nhà tâm lý học tòan thiện, người có thể phân tích bản chất đích thực của tâm – lời dạy của Ngài được hoan nghênh được tán dương như là một tôn giáo khoa học duy nhất. Đối với các đại triết gia và những nhà tư tưởng không thành kiến, Ngài là một bậc thầy đã thấu hiểu các pháp hữu vi trong bối cảnh thích ứng của nó. Đối với những nhà đạo đức, Ngài có quy tắc giới luật cao nhất và biểu tượng cho sự hòan thiện nhất. Ngài là một gương mẫu hòan hảo của tất cả giới đức mà Ngài tuyên thuyết. Đối với các nhà duy lý, Ngài là một bậc đạo sư có tâm hồn rộng rãi nhất, đã nhận thức đúng các vấn đề tranh cải của con người. Đối với những nhà tư tưởng tự do, Ngài là một bậc đạo sư luôn khuyến khích mọi người tư duy tự do mà không có dựa vào các giáo điều tôn giáo. Đối với những nhà theo thuyết bất khả tri, Ngài là một con người đầy trí tuệ hiểu biết và từ bi.

Không còn nghi ngờ gì nữa, Ngài là một trong những bậc đạo sư có sức thuyết phục nhất. Ngài không bao giờ sử dụng sự ép buộc hoặc gây sợ hãi như là một phương tiện để đạt mục dích giáo hóa. Ngài đã giới thiệu một cách sống có ý thức cho mọi người để được an tịnh mà không lưu tâm đến nhãn hiệu tôn giáo.

Ngài là một người phục vụ khiêm tốn của nhân loại, bình thản trước những lời khen hoặc chê, không nao núng ngay cả lúc bịnh tình nguy ngập nhất.

4. An lạc, hạnh phúc và giải thóat

Bậc đạo sư này đã chỉ con đường đi tới an lạc, hạnh phúc và giải thóat. Phương pháp hướng dẫn của Ngài là phóng khóang, hợp lý, khoa học và có thể hiểu được đưa đến gíac ngộ .

Ngày nay thông điệp an lạc của bậc đạo sư này quan trọng và đặc biệt cho con người đang bị cuốn vào hận thù, tham lam, hiềm tỵ, kiêu mạn, tham muốn nắm giữ thế giới này.

Bậc đạo sư này đã sanh ra trong thế gian này, đã xua tan màn đêm vô minh và cứu độ thế gian khỏi những tai ách của nó. Khắp nơi trên thế giới nhiều người sống không có niềm tin hoặc không có tu tập bất kỳ hình thức của tôn giáo nào. Tuy nhiên, nếu họ chỉ lấy một chút vấn đề rắc rối để nghiên cứu và những gì bậc đạo sư này đã dạy, họ có thể dể dàng làm trong sáng những nghi ngờ của mình nếu có và được thuyết phục theo tôn giáo mà tôn giáo đó có thể đóng góp tốt đẹp nhất cho hạnh phúc của con người.

Liệu người ta có tin vào Ngài hay không , tuy nhiên giáo pháp của Ngài đã có ảnh hưởng sâu sắc đối với tất cả mọi người. Thông điệp của Ngài trao tặng cho thế giới không có bất kỳ bạo lực, cũng không làm rơi một giọt máu nào. Đây là một điều đáng nhớ trong lịch sử thế giới mà đã được ấn dấu vào bằng hàng chữ vàng. Giáo pháp này minh họa lộ trình mà theo đó nhân loại có thể vượt thóat từ một thế giới của bất mãn đến một thế giới mới của ánh sáng từ bi, an lạc, hạnh phúc và thỏa mãn. Giáo pháp 2500 tuổi của bậc đạo sư này có đầy đủ năng lực để đối đầu với bất kỳ thách thức nào mà không thể đảo lộn hoăphải đưa ra một lời diễn dịch mới cho giáo lý nguồn gốc của nó. Gíao lý này có thể được chấp nhận mà không sợ mâu thuẫn với những khám phá và phát minh khoa học hiện đại. Giáo lý này coi trọng giới đức như là một trong những yếu tố cần thiết cho việc đạt đến giải thóat. Yếu tố khác là trí tuệ. Giới đức và trí tuệ có thể được so sánh như đôi mắt và đôi chân của một người. Giới đức giống như cổ xe có thể mang con người đi tới cổng giải thóat nhưng chìa khóa thật sự để mở cổng đó là trí tuệ.

5. Hạnh phúc tối thượng

Những người theo tôn giáo này không coi chính mình như là những người được cho duy nhất có thể có được cơ hội để đến hạnh phúc tối thượng. Họ tin rằng con người tạo ra địa ngục hoặc thiên đường của chính mình tùy theo cách sống và đau khổ trong địa ngục hoặc chứng nghiệm an lạc tối thượng có thể được thực nghiệm ngay trên cuộc đời này, thay vì trong cuộc sống kế tiếp, như phần đông người ta đã tin tưởng. Bậc đạo sư này không bao giờ nỗ lực thuyết giảng giáo pháp của mình bằng sự đe dọa người ngang qua hỏa ngục, hoặc bằng sự ấn chứng cho họ có đời sống trên thiên đường vĩnh hằng, mà bằng sự phơi bày chân lý. Theo những lời dạy này, bất cứ ai cũng có thể thọ hưởng hạnh phúc tối thượng miễn là người đó có cách sống chân chánh. Thiên đàng không phải giành riêng hoặc độc quyền cho một giáo phái hoặc cộng đồng tôn giáo đặc biệt nào cả mà nó nên được mở rộng cho tất cả bất cứ ai sống đời sống cao thượng.Khoan dung, nhẫn nhục và sự hiểu biết là đức hạnh đáng kính mà những người theo tôn giáo tán thành giữ gìn. Từ bi, bác ái và cảm thông không chỉ đối với con người mà còn mở rộng ra cho tất cả các lòai có tình thức – Vì sự phá họai đời sống con người và sinh vật, là sự độc ác và phi lý và tương phản lại với giáo lý của tôn giáo này.

Tôn giáo này của khiến những tín đồ của mình tôn trọng quan điểm của những người khác để sống đời sống hòa hợp.

6. Phương thức sống

Tôn giáo này trong sáng hợp lý và đưa ra những câu trả lời hoàn thiện cho tất cả mọi khía cạnh và những vấn đề quan trọng của đời sống chúng ta. Tôn giáo đã cung cấp một nền tảng vững chắc để giúp nhân loại hướng đến một đời sống tốt đẹp và tích cực hơn.

Tôn giáo này không phân chia con người thành 2 nhóm: “được cứu rỗi” và “bị ruồng bỏ” mà là một tôn giáo có hiểu biết văn minh và dạy chúng ta phương cách chế ngự cũng như thanh lọc tâm.

Những người theo tôn giáo này không nên cầu nguyện van xin. Họ tin vào tầm quan trọng của tự lực và trong hiệu năng của thiền định mà đưa con người đến tự chinh phục, tự điều ngự, tự thanh tịnh, khinh an và gíac ngộ bản chất thiền định có công năng như là một liều thuốc bổ cho thân và tâm.

7. Con người có thể họach định cuộc đời của mình

Tôn giáo này cho rằng tâm là có sức mạnh lớn – là đấng sáng tạo, kẻ hủy diệt con người và cũng là kiến trúc sư cho số phận của mỗi con người. Do đó, con người có khả năng hoạnh định bất kỳ điều gì nếu vị ấy biết cách phát triển và sử dụng tâm mình một cách đúng đắn.

Thật ra, tôn giáo này là ngọn hải đăng tuyệt vời cho việc hướng dẩn nhân loại đi đến an lạc, hạnh phúc vĩnh viễn. Sự thật là thế giới ngày nay đang bị rối rắm với sự hiểu lầm về chủng tộc, chính trị, tôn giáo, các nhóm đối lập và ý thức hệ. Để giải quyết những vấn đề phức tạp này, con người cần phải rèn luyện tinh thần vị tha và độ lượng lẫn nhau và điều này có thể được trau giồi dưới sự hướng dẫn của tôn giáo này mà đã in đậm tính chất đạo đức cho lợi ích rộng lớn.

Con người phải đến để thấy rằng sự phát triển tâm linh là quan trọng hơn trong việc đạt được tiến bộ vật chất vì hạnh phúc và an lạc đích thực của nhân loại. Con người cũng nên tu tập chân lý, phụng sự, bố thí và yêu thương nếu muốn thế giới này trở thành một nơi tốt đẹp hơn để sống còn.

8. Thực tại

Bậc đạo sư ngang qua sự gíac ngộ của mình đã tuyên bố rằng :

  1. Đạo đức cao cả nhất có thể đạt được trong việc trau giồi lòng từ bi bao la.
  2. Hạnh phúc tối thượng là hạnh phúc xuất phát từ định tĩnh của tâm hồn.
  3. Chân lý cứu cánh là chân lý được đòi hỏi ngang qua sự hiểu biết các nguyên nhân đau khổ của con người.
  4. Tôn giáo cao thượng nhất là tôn giáo chỉ dạy về phát triển trí thức, đạo đức và sự thanh tịnh tâm.
  5. Triết lý vĩ đại nhất là triết lý giới thiệu phương cách sống thực tiễn có thể khả thi mà không chỉ dựa vào giáo điều và niềm tin.

Tôn giáo này không cản trở bất kỳ ai đọc và học giáo lý của tôn giáo khác và không cho phép sự cuồng tín. Một kẻ cuồng tin không thể cho phép chính mình được hướng dẫn vì lý trí hoặc ngay cả vì nguyên lý quan sát và phân tích khoa học. Do đó, người theo tôn giáo này là một người tự do với tâm mở rộng và không có phụ thuộc vào bất cứ ai trong việc phát triển tâm linh của mình.

Nếu bạn chú ý học ít nhiều về các nguyên lý tôn giáo hoặc những nguyên tắc đạo đức và tu tập tâm theo tôn giáo này thì bạn sẽ vứt bỏ những sự hiểu lầm trước đây mà bạn đã có về nó. Một người không chỉ nên phán xét giá trị của một tôn giáo chỉ bởi sự xem xét một số các điều tu tập nào đó do những người lầm đường, thay vì vậy bạn nên cố gắng để hiểu giáo lý nền tảng của tôn giáo đó.

9. Tin vào trí tuệ của mình

Thay vì đặt con người và số mệnh của mình dưới sự kiểm sóat tùy tiện của những thế lực vô danh bên ngòai và buộc mình quỵ lụy trước năng lực siêu nhiên như vậy, tôn giáo này đã nâng cao vị trí con người và ban cho con người lòng tự tin vào trí tuệ của chính mình. Trí tuệ dạy con người các cách tu tập và phát huy tiềm năng con người .

Tôn giáo này của dạy chúng ta có lòng vị tha đối với những người khác. Những người theo tôn giáo này tránh xa các điều ác không chỉ bởi vì sợ quả báo từ một vài nguyên nhân không thấy mà còn bởi vì chứng nghiệm các ác nghiệp gây ra đau khổ cho chúng sanh.

Động cơ làm thiện của họ giúp cho những người khác không phải là để làm hài lòng đấng tối thượng để được ban ơn mà vì lòng từ bi và giải thóat họ khỏi khổ đau.

Ở đây trong tôn giáo này chúng ta có thể tìm ra con đường đi tới trí tuệ và sự thánh thiện hoàn tòan mà không dựa vào bất kỳ năng lực bên ngòai nào. Chúng ta có thể đạt được trí tuệ cao nhất ngang qua sự thực chứng mà không ngang qua sự “mặc khải”. Chúng ta có thể rửa sạch tội lỗi mà không cần sự trợ giúp của người đại diện đấng cứu rỗi nào. Chúng ta có thể đạt được giải thóat trong chính đời này bởi sự tu tập chân chánh với khả năng của chúng ta mà không mong đợi nó xuất hiện trong kiếp tới. Tôn giáo này dạy rằng con người không phải vì tôn giáo mà tôn giáo phải vì con người. Điều đó có nghĩa là không trở thành nô lệ cho bất kỳ tôn giáo nào, con người phải tự nỗ lực để áp dụng tôn giáo cho sự giải thóat và tốt đẹp hơn của mình.

10. Điều gì có thể thực hiện

  1. Không có dục lạc trần gian thì cuộc đời có thể tồn tại được không ?
  2. Không có đức tin vào sự bất tử thì con người có thể có đạo đức không?
  3. Không có dựa vào sự trợ giúp từ những năng lực bên ngòai thì con người có thể hướng đến sự chân chánh không ?
  4. Không có lễ nghi cúng kiến, con người có thể sống đời sống tôn giáo không ?
  5. Không có đức tin và lòng trung thành, con người có thể tu tập không ?
  6. Không có khổ đau ngang qua sự trừng phạt tôn giáo nào đó, con người có thể đạt đến giải thóat không ?
  7. Không có tạo sự sợ hãi trong tâm, con người có thể đi theo các nguyên lý tôn giáo nào đó không ?
  8. Không có cưỡng bách và đe dọa người khác chúng ta có thể giới thiệu một tôn giáo đúng đắn không ?
  9. Không có những đức tin mù quáng và tư tưởng giáo điều trong danh xưng tôn giáo thì tôn giáo có thể thuyết phục quần chúng sống đời sống đúng đắn không ?
  10. Một người có thể truyền bá tôn giáo mà không phải là bậc huyền bí hay tu sĩ không ?

” Vâng! ” nhà sáng lập tôn giáo đã trả lời như vậy. Những mục đích này có thể đạt được bởi sự giúp đở, thanh tịnh, giới đức và trí tuệ.

Việc nhận thức quy luật nhân quả như đã được giải thích trong tôn giáo này đã làm sáng tỏa và giải quyết những vấn đề khổ đau của con người, bí mật về vận mệnh và trên hết là sự bất bình đẳng của con người. Hiểu được quy luật này sẽ đưa chúng ta sự khuây khỏa, niềm hy vọng, sự tự tin và quả cảm.

11. Tôn giáo hiện đại

Đây không phải là một lý thuyết hay một tôn giáo chỉ để tin mà là một phương thức sống thánh thiện và thực tiễn. Đây là một trong những tôn giáo cổ xưa nhất trong lịch sử mà đã đem đến sự tu dưỡng tốt đẹp nhất cho nhân loại. Giờ đây tôn giáo này là hiện đại nhất trên mọi phương diện khi chúng ta so sánh với những thành quả hiện đại. Tôn giáo khuyên bảo mọi người không nên trở thành nô lệ cho bất kỳ năng lực ngọai lai nào mà nên trau giồi tiềm năng đang tiềm ẩn trong chính mình và dùng nỗ lực cũng như trí tuệ của chính mình để hóa giải những vấn đề của chính mình.

Tôn giáo này có tất cả những phẩm chất mà đòi hỏi một tôn giáo chân chánh phải có và những phẩm chất đó luôn luôn thích hợp trong thế giới hiện tại và tương lai. Đó là lý trí tiến bộ và hợp lý. Thật là một điều lợi ích cho bất cứ ai nghiên cứu và chứng nghiệm giá trị của tôn giáo này trong thế giới hiện đại . Tôn giáo này được công nhận là khoa học hơn khoa học, tiến bộ hơn mọi tiến bộ trong lãnh vực tâm linh. Nó là một trong những phương tiện hữu hiệu nhất để ứng dụng cho việc duy trì hòa bình, hòa hợp và hiểu biết của thế giới.

12. Vô phân biệt

Chính tôn giáo này, lần đầu tiên trong lịch sử thế giới đã nổi lên cuộc cách mạng chống lại hệ thống phân chia giai cấp và đem đến sự bình đẳng cho con người, tùy theo, cơ hội bình đẳng đối với tất cả mà chia họ thành mỗi tầng lớp xã hội. Cũng chính tôn giáo này, lần đầu tiên đã giải phóng phụ nữ bằng sự khuyến khích họ tu tập tôn giáo mà tôn giáo đó ban cho sự bình đẳng xã hội. Bậc đạo sư đã tuyên bố rằng các cửa thành công và thịnh vượng được mở ra cho tất cả trong mọi hòan cảnh sống dù cao hay thấp, thánh hay phàm, bất cứ người nào mà quan tâm, truy tìm và khát vọng về sự hoàn thiện.Ngài đã không ép buộc đệ tử của mình làm nô lệ cho chính Ngài hoặc lời dạy của ngài nhưng ban cho họ sự tự do tư tưởng hoàn tòan để họ có thể đạt đến sự tự tin.

Tôn giáo này phân lọai chúng sanh thành danh và sắc trong một trạng thái biến đổi liên tục trong từng sát năm. Danh và sắc sanh diệt tương tục như một vòng xoay liên tục.

Do đó không có gì tồn tại vĩnh viễn hoặc trong thế giới này hoặc cảnh giới khác. Vì mọi vật tồn tại ở bất kỳ nơi nào trong vũ trụ cũng đều là trống không, chỉ là sự kết hợp của các yếu tố và năng lực. Đó chính là bản chất của các pháp mà ngày nào đó sẽ tan rã và các pháp sẽ biến mất hòan tòan. Tôn giáo này cũng đã dạy chúng ta rằng các pháp do nhân duyên cấu thành đều bị chi phối bởi sự thay đổi và xung đột theo các quy luật chung của vũ trụ.

Những nguyên lý mà do tôn giáo này quán sát thì không phải là giáo điều. Do sự trì giữ các giới như : không sát sanh, trộm cướp, tà dâm, nói dối và uống rượu thì hành giả có thể thanh tịnh chính mình và có khả năng làm người khác sống an lạc.

13. Mục đích

Mục đích của chúng tôi trong việc xuất bản quyển sách này là không phải giáo hóa những người khác đi theo niềm tin của chúng tôi mà là để gíac ngộ họ làm thế nào để tìm kiếm an lạc và hạnh phúc cũng như tu tập sự nhận thức đúng đắn mà không dựa vào niềm tin mù quáng. Chúng tôi khuyến khích mọi người thực hành tôn giáo riêng của họ một cách đúng đắn nếu họ có thể tìm thấy một cách đúng đắn, cao quý mà không làm giảm chân giá trị con người của mình.

Tuy nhiên tôn giáo này có thể là lời giải đáp cho những vấn đề nhân sinh, tâm lý và tôn giáo của bạn. Hoặc có thể gợi ra một hướng đi trong sáng cho suy nghĩ của bạn về các vấn đề tôn giáo và triết học. Tôn giáo cũng có thể giúp bạn hiểu biết cách sống và di sản văn hóa Châu Á. Bạn có thể tìm thấy trong tôn giáo này sự hướng dẫn tâm linh cho các nhu cầu thế giới hiện đại.

Tôn giáo này đem lại cho thế giới một tinh thần, một hy vọng mới, một hướng đi mới, chân lý của nó và sự cần thiết của nó được tìm thấy và cảm nhận trong hôm nay cũng như ngày xưa. Tôn giáo vĩ đại này được nói ở đây là “Phật giáo” và người sáng lập tôn giáo giáo này không ai khác hơn là “Đức Phật Cồ Đàm”.

Cái đó cũng có thể là mục đích của các bạn, chúng tôi mời các bạn hãy đến gần hơn để nhìn tôn giáo và ý tưởng của người sáng lập tôn giáo này. Chúng tôi sẳn sàng giúp đỡ các bạn trong việc tìm cầu chân lý. Vì vậy, phải không có thành kiến, tránh định kiến giáo điều tôn giáo và cố gắng tim cầu chân lý.

Thích Nữ Diệu Hương dịch từ nguyên tác tiếng Anh “What is this Religion ” của Đại lão HT. K. Sri Dhammananda, trong tác phẩm “Các Viên Ngọc Trí Tuệ của phật giáo” (Gems of Buddhist Wisdom), CBBEF, Taiwan, 1996, trang 17-33.

S.T

[Nguồn: REDS.vn]

Tranh nhau làm… người tử tế

 

Có một sự thật là: chưa bao giờ số lượng những người tìm mọi cách chứng minh mình là người tử tế lại đông như bây giờ, trong khi số lượng những hành động tử tế lại ít hơn bao giờ hết.

Tử tế chính là lẽ sống cho cả cuộc đời của một con người.  Để làm người tử tế quả là một thách thức khổng lồ. Nó đòi hỏi người ta phải sống vì cái đúng và vì người khác từng giờ, từng ngày và suốt cả cuộc đời, không bao giờ được phép ngưng nghỉ.

Sự tử tế sẽ biến mất ngay lập tức khỏi mỗi chúng ta khi chúng ta đố kị và ghen ghét người bên cạnh. Sự tử tế cũng biến mất ngay khi chúng ta cảm thấy khó chịu khi người được mình giúp lại không biết cách bày tỏ lòng biết ơn chúng ta, không biết cách tung hô sự giúp đỡ của chúng ta và không biết cách quảng cáo cho sự giúp đỡ của chúng ta.

Khi chúng ta tìm cách công khai lòng tốt của chúng ta với một ai đó, sự tử tế lại giảm đi một chút. Và đến lúc nào đó, khao khát đến quá mức được công khai lòng tốt của mình cho thiên hạ biết sẽ xóa đi toàn bộ lòng tốt ban đầu của chúng ta.

Ông cha ta đã nói tới việc tích đức và luôn luôn khuyên bảo con cái tích đức, chứ mấy ai khuyên con cái tích của. Tích đức và tích của là hai con đường ngược nhau. Tích của là gom góp tiền bạc vào túi của riêng mình, còn tích đức lại là ban phát sự tử tế cho thiên hạ.

Nhưng ngày nay, có một sự thật mà chúng ta đều phải thừa nhận: đó là có không ít những người lên tiếng về sự tử tế nhưng thực chất lại chỉ là làm sự “tử tế” cho cá nhân mình mà thôi. Nghĩa là những gì người đó thể hiện chỉ để cho thiên hạ biết đến họ, chứ không phải làm cho thiên hạ.

Một trong những yếu tố làm nên sự tử tế chính là sự hy sinh. Mà sự hy sinh đầu tiên và quan trọng nhất là hy sinh lợi ích của mình. Nghĩa là họ gom góp những cái gọi là sự tử tế để làm đầy cái túi cá nhân của họ mà thôi. Như thế, sự “tử tế” ấy chỉ là sự “tử tế” cho con người họ chứ đâu phải là sự “tử tế” cho thiên hạ.

 

Ảnh minh họa

 

Mấy năm gần đây, có không ít việc đau lòng xảy ra trong đời sống. Người sai thì đúng là sai rồi. Dù người sai ân hận cũng không quay ngược được thời gian nữa và chỉ còn cách sống nghiêm túc hơn, làm việc nghiêm túc hơn trong tương lai mà thôi. Nhưng qua những sự việc đau lòng của một hay một số cá nhân gây ra thì có một nỗi đau còn làm cho chúng ta đau hơn. Đó chính là nỗi đau về sự tranh nhau làm người tử tế của chúng ta. Trước kia, người ta thi nhau làm việc tốt, tranh giành làm việc tốt, còn giờ người ta tranh giành nhau dạy dỗ người khác và mắng nhiếc người khác để chứng minh mình là người tử tế. Bây giờ ai cũng có quyền nói về sự tử tế nhưng mấy ai tranh giành làm những điều tử tế đâu.Nhân cái sai của người này hay người kia, chúng ta tràn lên phê phán, dạy dỗ và cả chửi rủa những người đã mắc sai lầm. Trong số những người lên tiếng, có những người luôn luôn tìm cách sống tử tế. Và việc lên tiếng hay nổi giận của họ chính là sự lên tiếng hay nổi giận của lương tâm con người mà chúng ta phải lắng nghe và suy nghĩ nghiêm túc để sống tốt hơn.

Nhưng bên cạnh đó, có quá đông sự lên tiếng của những người mà trong cuộc sống lâu nay họ là những kẻ tham lam, đố kị và chẳng sống vì ai. Nhưng họ lại là những người to tiếng nhất về sự tử tế. Sự tử tế của họ là sự tử tế của ngôn từ, chứ không phải sự tử tế của hành động. Và khi sự này, vụ nọ hết thời gian tính của nó thì sự tử tế của những người như vậy lại biến mất. Họ trở về đời sống thường nhật với những đố kị, ghen ghét, ích kỷ, vô cảm và chỉ thích nói về bản thân. Rồi đến một ngày nào đó, nhân một cơ hội nào đó, họ lại lên tiếng mắng nhiếc  và dạy dỗ người khác một cách không tưởng tượng nổi. Cái sự “tử tế” như thế tôi gọi là “Mùa tử tế”.

Mỗi năm có một hoặc vài ba mùa tử tế. Mà cái mùa tử tế này  thì lúc nào cũng bội thu. Bội thu mùa lúa, mùa ngô  làm cho đời sống con người thêm no ấm, còn bội thu “mùa tử tế” thì chỉ làm cho xã hội thêm tồi tệ mà thôi.

Nguyễn Quang Thiều

[Nguồn:Vietnamnet]

Vì sao ‘nhân dân’ không được làm chiến sĩ thi đua?

Có tới… 59 quan chức trong danh sách 60 người được đề nghị phong tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc của Ban thi đua khen thưởng Trung ương năm nay.

Duy nhất người mang hơi hướng “nhân dân”, đó là ông Nguyễn Viết Đức, giáo viên Tổng phụ trách Đội Trường Tiểu học Tân Lợi, huyện Hớn Quản, tỉnh Bình Phước. Chức vụ nhỏ nhất cũng tầm hiệu trưởng, còn lại toàn cỡ bộ trưởng (Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Nguyễn Văn Bình), thứ trưởng (Nguyễn Thanh Long, Thứ trưởng Bộ Y tế; Ngô Văn Khánh, Phó Tổng thanh tra Chính phủ), cục trưởng, viện trưởng, giám đốc, phó giám đốc sở, bí thư tỉnh, chủ tịch huyện…

Có thể hiểu, 60 cá nhân trong danh sách được đề nghị phong tặng danh hiệu Chiến sĩ thi đua toàn quốc đợt này đều là những người ưu tú, có thành tích đặc biệt xuất sắc trong công tác chuyên môn, là tấm gương sáng về tài năng và nhân cách, tiêu biểu cho phong trào thi đua của cả nước.

Nhưng vì sao danh sách chỉ toàn những người có chức vụ cao mà vắng bóng những người công nhân đang lăn lộn trên công trường, xây dựng những công trình đưa đất nước lên tầm cao mới? Đâu rồi những người nông dân dãi nắng dầm sương, đối mặt với vô vàn thiên tai để trực tiếp làm ra hạt gạo, nuôi sống cả nước và mang đi xuất khẩu? Đâu rồi những chiến sĩ không tiếc tuổi thanh xuân, ngày đêm chắc tay súng bảo vệ vững chắc biên cương, hải đảo Tổ quốc?…

Vậy thì có không muốn cũng không thể không đặt câu hỏi: chẳng lẽ, chỉ có “quan” mới thi đua, còn công nhân và nông dân thì không? Và một khi người lao động đã đứng ngoài thì thử hỏi làm sao thúc đẩy được phong trào thi đua? Liệu có sự thiếu minh bạch, nể nang nào đó hay không?

Chủ tịch Hồ Chí Minh từng phát biểu, thi đua là yêu nước, yêu nước phải thi đua và thi đua trên tinh thần yêu nước. Khi thi đua đã trở thành phong trào thì tác dụng của nó đến lao động – sản xuất và sự phát triển xã hội là rất lớn. Nhưng khó ở chỗ là làm thế nào để thi đua trở thành phong trào.

Trước đây, trong thời kỳ chiến tranh cứu nước, mọi người đều ra sức thi đua lao động, sản xuất, chiến đấu, bởi họ thấy được tiền đồ tươi sáng của dân tộc khi đánh đuổi xong quân thù. Đó chính là những động lực để mọi người ra sức thi đua. Ngày nay, đất nước đã bước ra khỏi cuộc chiến tranh cứu nước và đi vào xây dựng, phát triển. Quy luật phát triển đòi hỏi cả tầng lớp lao động chân tay và lao động trí óc càng phải ra sức thi đua, cống hiến.

Muốn đẩy mạnh phong trào này, không gì khác là phải tạo ra những động cơ, động lực thi đua tương tự như thời kỳ trước.

Phát động thi đua ở mỗi một cơ quan, đơn vị cụ thể, thì người thủ trưởng, người đứng đầu không những phải gương mẫu, trong sạch mà còn phải làm cho từng người trong cơ quan, đơn vị đó thấy được tiền đồ phát triển của cơ quan cũng như của mỗi cá nhân.

Mỗi cá nhân đều phải được hưởng công bằng về cả chất lượng lẫn số lượng của những thành quả lao động. Khi được quan tâm tới đời sống vật chất, đời sống tinh thần cũng như thấy được tương lai tươi sáng của bản thân, có lẽ mỗi người sẽ tự bảo nhau thi đua chứ có khi không cần chờ phát động.

Liệu có thể kêu gọi được ai đó thi đua khi mà họ biết trước được rằng, dù có thi đua đến mấy thì đời sống vật chất và tinh thần của mình vẫn không được cải thiện, tương lai của mình vẫn bấp bênh; có thi đua đến mấy rồi các danh hiệu cuối cùng cũng về tay lãnh đạo, cấp trên?

TUẤN DŨNG (ĐẤT VIỆT ONLINE)

[nguồn: reds.vn]

 

ở đây em chủ yếu dùng công cụ Eyedropper Tool (I) để đo và Curves để xử lý da. Và bài này chỉ giới hạn ở những bức ảnh thông thường, không được (bị) chụp trong các điều kiện đặc biệt. Như quan sát, hoặc các bác có thể dùng tool (I) của PS để đo đối với các bức ảnh đẹp, màu da đẹp người châu Á trong điều kiện ánh sáng ban ngày thường rơi vào khoảng màu hoặc cứ tạm coi là ý kiến chủ quan của em là thế này:

Cyan: 3%-5%
Magenta: 18-20%
Yellow: 18-20%
-Ở đây tại sao mình lại dùng hệ màu CMYK để nói về da, vì nó là cái định lượng dễ hơn so với RGB (theo % mà). Tức là nếu các bác dùng tool (i) của PS để chỉ vào những vùng da trên ảnh, nếu vùng đó nằm trong khoảng trên thì chắc chắn màu da sẽ khá đẹp và sáng.
Dưới đây là stock và final em xử lý chỉ qua 1 layer Curves là chủ yếu:
Before:
[IMG]
After:
[IMG]
Cách làm:
– Bước 1: Em hay làm sáng toàn bộ ảnh bằng lệnh Ctrl+J, sau đó Alt+Shift+S để chọn chế độ Screen, tăng giảm capacity cho phù hợp (sáng vừa thôi nhé các bác, cẩn thận lại cháy :D) rồi Ctrl+E để gộp luôn.
– Bước 2: Xử lý cục bộ những vùng da khác màu, sáng tối tương phản quá lớn. Ở cái stock này không cần phải làm phần đó, vì nó đẹp sẵn rồi.
– Bước 3: Nhấn phím I để chọn Eyedropper Tool, dùng tool chỉ vào phần da mà nó có thể đại diện cho toàn bộ da của chủ thể. Ở đây em hay chỉ vào phần má sáng.
-Các bác chú ý tới phần em khoanh tròn trong hình: C=11%, M=31%, Y=31%.
-Cái này không cần chính xác quá, các bác có thể rà đi rà lại trong lúc làm.
-Bây giờ cái cần làm của chúng ta là điều chỉnh C, M, Y giảm xuống giống như tỷ lệ đẹp lý thuyết ở trên.
[IMG]
– Bước 4: Chọn “Creat new fill or Adjustment Layer”, chọn Curves
[IMG]
– Bước 5: Bảng Curves hiện ra, kèm theo cái que thử (I) khi các bác di con chỏ chuột ra bức ảnh. Các bác chỉ vào phần da dại diện, rồi nhấn Ctrl+Shift+Click chuột để đánh dấu điểm đó trong Curves.Các bác để ý các điểm em đánh dấu xanh trong hình. Ở trên các kênh red, blue, green đều có 1 cái chấm như vậy tương đương với điểm các bác vừa đánh dấu.
[IMG]
– Bước 6:
Về lý thuyết màu, Red bù với Cyan, Green bù với Magenta, Blue bù với Yellow, có nghĩa nôm na là nếu ta tăng Red, thì Cyan giảm và ngược lại; và cũng tương tự với các cặp màu bù kia. Thế nên trong Curves ta có thể dễ dàng chỉnh các màu C, M, Y theo đúng với % ta đã định.
-Ở trong hình ta thấy Cyan đang là 13%, giờ ta sẽ giảm nó xuống thành 4-5% bằng cách kéo Red lên. Òa đỏ lòm [IMG]
-Nhưng các bác cứ tiếp tục làm xem nó ra làm sao, đừng sợ hehee.
Và luôn lưu ý là đã là Curves thì phải Cong nhe
[IMG]
– Bước 7: Làm tương tự với Green và Blue:
[IMG]
[IMG]
Và xem kết quả với C=5%, M=20%, Y=18% chúng ta có gì nào:
[IMG]
Đến đây coi như là xong phần làm trắng hồng da, các bác có thể vào lại curves để tinh chỉnh cho thật vừa ý.
– Bước 8: Các bác quan sát phần hậu cảnh, nếu thấy thay đổi không nhiều thì qua bước 9, còn nếu muốn lấy lại phần hậu cảnh cũ thì dùng Brush màu đen, capacity 100%, hardness khoảng 20% xoa lên phần Mask trắng của layer Curves.
Xong thì nó như thế này:
[IMG]
– Bước 9: Mông má thêm tí cho nó máu
-Ctrl+Shift+Alt+E để gộp 2 layer vừa rồi thành layer mới, và giữ lại layer cũ đề phòng chỉnh sửa về sau.
-Ấn L, chọn Polygonal Lasso Tool, rồi chọn hết cái môi mẫu, xong Ctrl+Alt+D, chọn khoảng 1 hoặc 2, xong Ctrl+J để copy môi mẫu lên 1 layer mới.
-Ở layer mới, Ctrl+U để gọi Hue/Saturation chỉnh saturation lên chút cho đẹp mắt.
[IMG]
-Sau đó Ctrl+Shift+N tạo 1 layer mới, dùng brush trắng hardness thấp chấm cho ẻm cái đốm sáng trên mắt cho sinh động.
-Vậy là kết thúc. Tuy vậy các bác có thể làm thêm phần mịn da và Sharpen/Unsharp Mask cho nó đẹp hơn. Và có thể dùng Selective Color để tinh chỉnh thêm.
-Toàn bộ quá trình chắc hết 5-10 phút, vì đây là bức dễ nhằn, bức khó nhằn sẽ cần giai đoạn tiền xử lý trước Curves lâu hơn [IMG]
Chờ các bác ném đá
Tác giả: gaffer.2
Nguồn: vnphoto.

Tại sao nước Nhật nhỏ bé với rất ít tài nguyên thiên nhiên lại trở thành một nền kinh tế hùng mạnh khiến mọi quốc gia khác phải kiêng nể?

Câu trả lời nằm trong phong cách làm việc của họ: độc đáo, khác biệt và hiệu quả. Ở đó có những bài học rất quý giá cho bất kỳ ai muốn thành công.

1. Tôn trọng quyết định của nhóm:

Nhật Bản là một xã hội luôn nhấn mạnh “Chúng tôi” thay vì “Tôi”.

Các quyết định quan trọng thường được thảo luận và chỉ khi có sự nhất trí thì mới được đưa ra. Cũng vì mọi kết quả đều là nỗ lực của cả tập thể nên sẽ không phù hợp khi bạn ngợi khen một cá nhân cụ thể.

Chúng ta học được gì từ đó? Người Nhật quan niệm thành công là nỗ lực của cả nhóm và không ai có thể tự thành công. Họ nhấn mạnh giá trị của việc mọi người làm việc cùng nhau. Họ ưu tiên một quy trình thảo luận mang tính hợp tác mà đôi khi có thể chậm một chút, nhưng cuối cùng, vẫn đảm bảo được rằng tất cả mọi người đều có tiếng nói chung. Người Nhật hiểu rằng việc đảm bảo mọi phần thưởng được chia đều giữa các thành viên sẽ không làm nảy sinh sự ghen tị, so đo.

2. Học cách nói giảm nói tránh:

Người Nhật luôn chủ động hạn chế những tình huống đối đầu. Họ không thích và không bao giờ nói “Không”. Mọi lời nói và phép tắc giao tiếp của họ được phối hợp nhằm tránh gây hiềm khích nơi người nghe.Thay vì đi thẳng vào vấn đề, người Nhật thường gợi ý nhẹ nhàng, nói bóng gió. Đôi lúc, họ nói một cách rõ ràng hơn nhưng rất cẩn trọng để không làm người khác bị phật ý hay tức giận.

Chúng ta học được gì từ đó? Chúng ta học được sự tôn trọng và nhã nhặn không những đối với đối tác mà cả đồng nghiệp. Không gì tệ cho bằng khi chúng ta miệt thị nhau hay tức giận đến “đỏ mặt tía tai” trong các cuộc họp. Tính tự chủ cao của người Nhật giúp cho họ luôn bình tĩnh và không áp đặt ý chí của bản thân lên người khác. Để đạt được khả năng này, bạn cần dành thời gian lắng nghe cẩn thận lời người khác nói và lời của chính mình. Nhờ đó bạn sẽ nhận ra những dấu hiệu không hay và điều chỉnh trước khi mọi chuyện trở nên tệ hại.

3. Đúng giờ là thể hiện sự tôn trọng:

Giới công sở xứ hoa anh đào đặt nặng giá trị của “kao”, tức là thể diện. Khái niệm “thể diện” bao gồm niềm tự hào cá nhân, danh tiếng và địa vị xã hội. Bất kỳ một hành động nào có thể khiến cho họ bị mất mặt sẽ bị coi là độc hại trong môi trường công sở, và sẽ bị kịch liệt phản đối. Để giữ được thể diện, bạn phải học cách thể hiện lòng tôn trọng cao nhất. Cách đơn giản nhất là đến đúng giờ đối với bất kỳ cuộc hẹn nào. Người Nhật thường đến sớm một chút.

Chúng ta học được gì từ đó? Đúng giờ là một thói quen tốt để chúng ta được người khác tôn trọng. Không có gì bất lịch sự bằng việc để cho người khác chờ đợi bạn. Vì thế, bạn hãy sắp xếp lịch trình cho mình một cách hợp lý.

4. Duy trì liên lạc:

Ở Nhật Bản, gọi điện và hẹn gặp trực tiếp được đánh giá cao hơn rất nhiều so với gửi thư, fax hay email. Dành thời gian để tiếp xúc trực tiếp với đối tác được xem là dấu hiệu của sự tôn trọng họ. Người Nhật rất coi trọng các mối quan hệ làm ăn lâu dài, vì vậy khi làm việc ở đây, bạn cần biết cách duy trì liên lạc qua lại, gián tiếp hoặc trực tiếp.

Chúng ta học được gì từ đó? Người Nhật đưa việc làm quen và tạo dựng mối quan hệ lên một tầm mới bởi họ hiểu được giá trị của chúng. Nhiều người trong chúng ta cảm thấy khó chịu hoặc tiếc thời gian khi giữ liên lạc với người khác. Chúng ta hạn chế việc trao đổi thư từ nhưng điều đó thể hiện sự thiếu bền chặt của các mối quan hệ. Hãy noi gương người Nhật bằng cách quan tâm hơn tới việc luôn “giữ ấm” cho mọi mối quan hệ công việc của bạn.

Theo DU HỌC NHẬT BẢN

5 Ý NGHĨ SAI LẦM TRONG CUỘC SỐNG MÀ CHÚNG TA VẪN TIN
Tóc và lông sẽ mọc dày hơn sau khi bạn cạo nó. Đọc sách trong bóng tối dần dần sẽ làm mắt bạn kém đi. Đi tiểu vào nơi sứa đốt sẽ làm dịu cơn đau… Cách mà cơ thể chúng ta hoạt động vẫn luôn là một bí ẩn, và ham muốn mở khoá tất cả các bí ẩn đó đã dẫn đến việc xuất hiện rất nhiều thông tin sai lệch. Rất nhiều quan niệm trong số đó được biết đến rộng rãi, và được tin như một sự thật hiển nhiên. Chúng ta phải luôn nghi ngờ, và thực hiện những nghiên cứu để tìm ra sự thật ẩn chứa đằng sau đó. Và sau đây là những gì chúng ta cần phải chú ý.

Câu chuyện 1. Lông tóc trên cơ thể sẽ mọc dày hơn khi bạn cạo chúng.

Nếu bạn đã xem, chắc hẳn bạn sẽ nhớ, một đoạn trọng Seinfeld, khi Jerry quyết định cạo lông ngực của mình, bỏ qua những cảnh báo rằng nó sẽ mọc lại dày gấp đôi lúc trước. Dù trên ti vi là vậy, nhưng thực tế lại hoàn toàn khác. Nếu đúng như vậy, những người hói phải liên tục cạo đầu mình để ngăn không cho tóc rụng mất. Nhà nghiên cứu về trẻ em Rachel C. Vreeman và cộng sự Aaron E. Carrol đã bác bỏ quan điểm này.

Đầu những năm 1928, một thử nghiệm lâm sàng đã chứng tỏ rằng, cạo lông và tóc sẽ không làm ảnh hưởng gì đến độ dày hay tốc độ mọc lại của chúng. Hơn nữa, việc cạo bỏ chúng là loại bỏ phần “chết”, chứ không loại bỏ phần “sống” nằm dưới lớp da, do vậy có vẻ như không ảnh hưởng gì đến tốc độ phát triển lại của chúng. Lông và tóc mới mọc lại không có phần thon nhọn ở đầu như lúc trước khi cắt, nên làm cho ta có cảm giác chúng rất “thô”. Và tương tự, tóc mới mọc ít bị phơi nắng nhiều, và chưa bị ảnh hưởng bởi các loại hoá chất, vậy nên nhìn chúng sẽ đen hơn trước kia.

Tóm lại, về cơ bản, lông và tóc mới mọc lên rất thô, và bạn cảm giác là nó dày hơn. Thực tế là bạn đang tự lừa bản thân thôi, chúng chẳng thay đổi gì cả.

Câu chuyện 2: Lượng calo là vấn đề duy nhất cần quan tâm để điều chỉnh sức khoẻ và cân nặng

Bạn vẫn luôn tin rằng lượng calo ăn vào cân bằng với lượng calo thải ra là đủ để giữ cân nặng ở một mức nào đó, nhưng như vậy là bạn đã coi cơ thể của mình quá đơn giản. Tiêu thụ ít calo hơn có thể có một tác động nhất định nào đó, nhưng không phải tất cả các loại thức ăn đều có ảnh hưởng giống nhau khi ta tiêu hoá chúng. Nếu bạn có suy nghĩ đơn giản như trên, vậy hãy nghĩ thử xem về sự khác nhau giữa một thanh kẹo và một quả dưa chuột (với một lượng calo cung cấp bằng nhau). Chúng có vị khác nhau, có các thành phần dinh dưỡng khác nhau, và là hai thứ hoàn toàn khác nhau. Có vẻ không logic nếu chúng được cơ thể sử dụng theo cách giống nhau.

Vấn đề ở đây, là bạn đang coi “calo” là một loại vật chất nào đó. Thực tế, “calo” chỉ là một đơn vị đo nhiệt lượng, và nó cũng không phải là thứ đầu tiên bạn nghĩ tới khi nhắc đến thức ăn. Theo wikipedia, “một calo là năng lượng cần thiết để tăng nhiệt độ của một gam nước thêm 1 độ C”. Về cơ bản, calo là một đơn vị đo lường, không phải là “vật chất” giúp cơ thể tạo năng lượng. Cơ thể sử dụng những gì hấp thu được từ thức ăn. Bạn sẽ không trở nên gầy hơn nếu chỉ ăn đồ ăn ít calo.

Rất nhiều người đã tranh cãi về vấn đề này do xuất hiện chế độ ăn kiêng của Mark Haub, trong đó anh ta ăn với một chế độ giảm calo, hai phần ba khẩu phần ăn chỉ gồm những đồ ăn linh tinh chứa rất ít năng lượng. Nhưng có một vấn đề ở đây. Đây chỉ là một nghiên cứu riêng lẻ của một người, chứ không phải dành cho tất cả mọi người. Ngay cả Haub cũng tự đặt ra câu hỏi: điều này có nghĩa là gì? Đó có nghĩa là tôi khoẻ hơn hay không? Hay đó có nghĩa là cách chúng ta định nghĩa sức khoẻ theo quan điểm sinh học, chúng ta đã bỏ qua điều gì?

Haub đã giảm 800 calo trong khẩu phần ăn của anh ta mỗi ngày, đó là một lượng khá lớn. Sẽ không có câu hỏi nào về việc, lượng calo mà chúng ta ăn vào liên quan tới việc cơ thể dự trữ năng lượng và giảm cân, nhưng đơn giản là, lượng calo không cho ta thấy một bức tranh đầy đủ. Cách mà cơ thể chuyển hoá đường là một ví dụ tuyệt vời về việc tiêu hoá các loại thức ăn khác nhau sẽ được kết quả khác nhau. 

Bác sĩ Michael Eades đã chú ý vào hai nghiên cứu – một là thí nghiệm nhịn ăn của Ancel Keys và nghiên cứu của John Yudkin – cả hai đều là thử nghiệm các chế độ ăn kiêng ít calo với các thành phần dinh dưỡng khác nhau. Nghiên cứu của Keys sử dụng các thức ăn có lượng carbonhydrate cao hơn và lượng chất béo thấp hơn. Còn nghiên cứu của Yudkin thì ngược lại. Kết quả của hai nghiên cứu, cũng rất khác nhau. Nghiên cứu của Yudkin kết thúc với kết quả: người ăn kiêng hoàn toàn khoẻ mạnh còn nghiên cứu của Key thì ngược lại. Hơn nữa, nhà dinh dưỡng học Kari Hartel cũng đưa ra những ý kiến chính về việc các chất dinh dưỡng khác nhau sẽ được sử dụng như thế nào. Ví dụ, bà chỉ ra rằng “chất xơ không được tiêu hoá hoàn toàn, nên nó có lợi cho sức khoẻ hơn mà không làm tăng lượng calo trong khẩu phần ăn kiêng”. Ngoải ra, “cơ thể bạn sinh ra nhiều calo từ việc hấp thu và chuyển hoá protein hơn những chấc khác. Protein giúp làm chậm quá trình vận chuyển thức ăn từ dạ dày xuống ruột non, giúp bạn cảm thấy no lâu hơn.”.

Với ý kiến rằng cơ thể sẽ khoẻ mạnh nhờ việc ăn một lượng calo nào đó, thì thực tế lại cho thấy thức ăn và cơ thể bạn phức tạp hơn nhiều. Dù rằng giảm lượng calo có thể mang một ý nghĩa nào đó, nó không phải là yếu tố duy nhất. Cân nặng hiện tại của bạn, số cân nặng bạn muốn giảm, sự cân bằng dinh dưỡng trong chế độ ăn của bạn, lượng calo bạn tiêu thụ qua việc tập luyện, và lượng thời gian mà bạn chỉ ngồi một chỗ mỗi ngày là những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sức khoẻ của bạn cũng như sự giảm cân. Giảm lượng calo ăn vào là một cách nói ngắn gọn, nhưng bạn cũng phải đồng thời chú ý vào những yếu tố khác để đạt được sức khoẻ như mong đợi.

Câu chuyện 3. Bạn cần ngủ 8 tiếng mỗi ngày

Người ta thường nói là chúng ta phải ngủ 8 tiếng mỗi đêm, thì thực tế lý lẽ kia không phải đúng với tất cả mọi người. Tờ báo Hindustan Times đã chỉ ra rằng, một nghiên cứu ở châu Âu đã cho thấy những người có gen ABCC9 trong cơ thể thì cần ngủ ít hơn những người khác. Tìm thấy một gen tương tự ở ruồi giấm, các nhà khoa học nhận thấy khi thay đổi gen này cũng làm thay đổi lượng thời gian nghỉ ngơi của ruồi. Khi thực hiện một cuộc điều tra về số giờ ngủ của mỗi người, kết quả đạt được rất thú vị. Với một số, tám tiếng ngủ mỗi ngày là bắt buộc. Với một số khác, như vậy là quá nhiều.

Ngoài ra, Wired Magazine đã định danh một chất hoá học có tên Orexin A hoạt động như một chất thay thế giấc ngủ. Nó xuất hiện trong cơ thể con người với một lượng nhất định, và khi hàm lượng chất này giảm, con người sẽ cảm thấy mệt mỏi. Kể từ khi được tìm ra, Orexin A được sản xuất dưới dạng thuốc xịt mũi nhằm thử nghiệm tác dụng của chất này với chứng ngủ rũ – narcolepsy. Trong nghiên cứu của UCLA, một số nhà khoa học quyết định thử cho một số con khỉ đang mệt mỏi ngửi chất này. Những con khỉ đang thiếu ngủ 30 đến 36 tiếng chia thành 2 nhóm, một nhóm ngửi Orexin A, một nhóm được cho thuốc an thần (thuốc không có dược chất mà chủ yếu là trấn an về mặt tinh thần), sau đó cả 2 nhóm này được thực hiện một bài test về nhận thức. Những con khỉ nhóm 1 được cho Orexin A hoàn thành tốt bài test, trong đó nhóm 2 thì vẫn có vẻ lờ đờ và không vượt qua được bài kiểm tra. 

Dù sao thì, những thông tin về Orexin A vẫn chỉ đang trong quá trình thử nghiệm, nhưng người ta muốn nói rằng giấc ngủ không bắt buộc phải cố định như chúng ta nghĩ. Một cách khác, ngủ 8 tiếng mỗi ngày không phải là không tốt, nhưng không phải tất cả mọi người đều cần ngủ từng ấy thời gian.

Vấn đề 4. Đọc sách trong ánh sáng lờ mờ có thể làm hại mắt bạn

Đọc sách trong ánh sáng lờ mờ không tốt cho đôi mắt của bạn. Rất nhiều người nghĩ như vậy. Nếu bạn đọc sách ở một góc tối nào đó, người ta sẽ nhắc bạn bật đèn lên. Trong thực tế, nếu đọc sách trong điều kiện ánh sáng không đủ, bạn sẽ bị mỏi mắt; và theo nhà nghiên cứu về sức khoẻ trẻ em Rachel C. Vreeman và trợ giảng Aaron E. Carrol, điều này không nghiêm trọng gì và sẽ không gây nên những ảnh hưởng vĩnh viễn đến mắt của bạn.

Theo đa số ý kiến của chuyên khoa mắt, đọc sách trong ánh sáng lờ mờ sẽ không gây hại gì cho mắt của bạn. Mặc dù mắt bạn có thể bị mỏi, cùng với nhiều hiệu ứng không tốt tạm thời, nó sẽ không gây ảnh hưởng vĩnh viễn tới cấu trúc và chức năng đôi mắt của bạn. Như với những bệnh nhân bị hội chứng Sjögren (một bệnh tự miễn gây viêm các tuyến ngoại tiết và bề mặt mắt), sự suy giảm thị lực cùng với sự mỏi mắt khi đọc sách sẽ được cải thiện khi họ ngừng đọc. 

Một bài báo về tật cận thị đã kết luận rằng khi đọc sách bằng một bên mắt, hay đọc sách quá gần mắt, sẽ ảnh hưởng không tốt tới nhãn cầu và gây nên cận thị, chứ đọc sách trong ánh sáng yếu chưa hẳn là nguyên nhân gây nên cận thị. Một minh chứng khác, đó là sự gia tăng tỉ lệ bị cận thị ở những người học nhiều. Trong quá khứ, con người ta thường đọc sách trong điều kiện thiếu ánh sáng, ví dụ như ánh sáng của nến hay đèn lồng, mà tỉ lệ bị cận thị không cao, cho nên việc tăng tỉ lệ bị cận thị qua nhiều thế kỉ là bằng chứng cho thấy đọc trong điều kiện thiếu ánh sáng không hẳn là có hại. Ngoài ra, hiện nay có rất nhiều ý kiến cho rằng đọc sách trong điều kiện thiếu ánh sáng sẽ không gây hại cho đôi mắt của bạn.

Vấn đề 5. Đi tiểu lên vết sứa đốt sẽ làm dịu cơn đau

Trong show truyền hình Friends, có một kì có cảnh Monica bị sứa đốt, và sau đó Joey nghĩ ra rằng đi tiểu lên vết đốt đó sẽ giúp giảm đau nhanh chóng. Dù rằng đây chỉ là một show diễn trên truyền hình, nhưng nó cũng giúp lan truyền ý nghĩ rằng đi tiểu lên bạn của mình trong tình huống hợp lý là rất tốt. Thực ra không phải như vậy. Mark Leyner và Dr. Billy Goldberg, tác giả của Why Do Men Have Nipples?, đã đưa ra hướng dẫn có thể áp dụng trên hầu hết các vết đốt của sứa.

Bạn cần phải bỏ hết những tua sứa còn sót lại, dùng găng tay sẽ tốt hơn. Đổ giấm lên vùng bị sứa đốt. Acid acetic có trong giấm sẽ giúp loại bỏ các tế bào sứa ở vết đốt đi, giúp bạn đỡ đau và ngứa. Nếu không có giấm, bạn có thể dùng nước muối. Trong phòng thí nghiệm, người ta thấy nước tiểu, amoniac và rượu đều làm nặng thêm vết sứa đốt, và sẽ chỉ khiến bạn cảm thấy đau hơn mà thôi. Vậy nên, bạn chỉ nên đi tiểu lên một ai đó cho vui thôi, chứ nếu bạn định đi tiểu lên vết sứa đốt thì sẽ phản tác dụng đấy!

Tham khảo GenK

Trước giờ, truyền thông TQ, đặc biệt là Hoàn Cầu thời báo, thường tuyên bố “chính nghĩa” thuộc về họ trong tranh chấp trên biển. Vì thế, bài viết này là một bằng chứng cho thấy Trung Quốc thừa hiểu họ đang làm sai, nhưng bất chấp tất cả.

Chuyên trang quân sự thuộc tờ Hoàn Cầu thời báo của đảng Cộng sản Trung Quốc vừa có bài viết nêu rõ những hành động gây rối của nước này trên biển Đông.

Với nhan đề “Mỹ choáng váng: Trung Quốc bài binh bố trận trên biển Đông vượt quá dự liệu“, đoạn đầu bài viết (không ghi tên tác giả) đánh giá về tương quan vị thế quân sự, chính trị của Washington và Bắc Kinh. Theo đó, bài xã luận nhận định những tuyên bố của Mỹ và Nhật Bản không đủ sức ngăn cản những hành động cứng rắn của Trung Quốc tại vùng biển châu Á – Thái Bình Dương. Bằng chứng là tại biển Đông, Bắc Kinh vẫn nắm thế chủ động và lâu nay liên tục có nhiều động thái gây hấn nhưng chẳng hề gì. Đến nay, bài viết vẫn đang hiện diện tại đường dẫn http://mil.huanqiu.com/weapon/2012-03/2548253_4.html.

Về tình hình khai thác dầu khí trên biển, bài báo viết:

“Các nước ASEAN luôn tìm kiếm những công ty phương Tây hợp tác khai thác dầu ở Nam hải (Việt Nam gọi là biển Đông – NV). Tuy nhiên, tàu chiến, máy bay của hải quân Trung Quốc luôn xuất hiện dày đặc. Đặc biệt, Bắc Kinh còn thành lập thành phố Tam Sa quản lý các quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và Tây Sa (Hoàng Sa), xây dựng sân bay trên đảo Vĩnh Hưng (Phú Lâm). Vì thế, việc khai thác dầu trên biển Đông không được yên ổn”.


Hình chụp giao diện bài xã luận trên chuyên trang quân sự của Hoàn Cầu thời báo

Bài viết cũng thừa nhận sự bất ổn trong các tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc, đặc biệt là bản đồ “đường lưỡi bò” mà Bắc Kinh vẽ ra trên biển Đông:

“Từ xưa đến nay, đối với các nước như Brunei, Malaysia…, Trung Quốc vẫn luôn vẽ đường phân tuyến tới “tận cửa nhà người ta”. Trung Quốc còn phân hóa Myanmar, Thái Lan, Campuchia…, chia rẽ các nước ASEAN, nhìn Philippines bị bóp chết và từng bước cướp miếng ăn của Việt Nam. Thậm chí với đường lãnh hải, Trung Quốc vẽ nên một “vòng lớn hoa lệ” ở Nam hải. Tuyên bố này vốn có từ thời Trung Hoa Dân quốc.

Thập niên 1930 là thời kỳ hoàng kim của chính quyền Trung Hoa Dân quốc nên một nhóm chuyên gia bắt đầu sử dụng thủ thuật trên để mở rộng lợi ích dân tộc. Nhóm chuyên gia du học từ nước ngoài trở về đã đem theo những bản đồ hàng hải của Anh, Pháp, Mỹ, Nhật. Sau đó, họ tích cực tìm kiếm các hòn đảo trên bản đồ, thấy lợi ích ở đâu thì khoanh tròn lại rồi cho rằng thuộc Trung Quốc. Ngoài ra, Bắc Kinh còn tìm kiếm tài liệu lịch sử, từ các đời Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh để mò mẫm những tuyến lãnh hải gây tranh cãi nhằm tuyên bố chủ quyền”.

Theo đó, cứ địa điểm nào mà tài liệu lịch sử các đời trên từng nhắc đến thì Trung Quốc tuyên bố nơi đó thuộc chủ quyền của nước này. Bài viết đánh giá thêm:

“Sau này, Trung Quốc thấy bản đồ do Trung Hoa Dân quốc vẽ quá rộng, đem lại nhiều lợi ích nên “ăn theo” tuyên bố chủ quyền trong đó. Tuy nhiên, Nam hải quá rộng, nên dù mang tên quốc tế là biển Nam Trung Hoa, thì không có nghĩa cả khu vực này thuộc chủ quyền Bắc Kinh. Nói theo cách đó, không lẽ Ấn Độ Dương thuộc về Ấn Độ? Sử dụng một “đường lưỡi bò” để vẽ lại toàn bộ Nam hải thì chỉ xét về đạo lý cũng không thuận”.

Bài xã luận trên cũng thừa nhận Trung Quốc đã “làm càn” trên biển Đông trong các cuộc xung đột từng xảy ra.

“Trong cuộc chiến trên biển Tây Sa vào năm 1974, một số tàu săn ngầm Trung Quốc tấn công tới tấp nhằm vào các tàu khu trục của miền Nam Việt Nam. Lúc bấy giờ, mặt biển nhuộm đỏ máu, hải quân Trung Quốc không chỉ nã pháo mà còn ném vô số lựu đạn, điên cuồng xả súng và bắt tù binh.

Đến hải chiến ở Nam Sa hồi năm 1988, Trung Quốc dùng tàu lớn để đánh với tàu nhỏ Việt Nam, kết quả thì chẳng ai mà không biết. Tiếp đến, Bắc Kinh điên cuồng chiếm địa bàn, sửa chữa công sự để lập trạm phòng thủ như ngày nay. Trung Quốc còn đắp 8.000 mét vuông đất đảo và xây dựng bãi đáp trực thăng, nhà kính thực vật trên bãi đá Vĩnh Thử (đá Chữ Thập) thuộc Nam Sa”.

Cuối cùng, bài viết kết luận:

“Bắc Kinh ngày càng thích gây ra rắc rối trên Nam hải. Không chỉ cố đạt được lợi ích mà Trung Quốc còn “tát” vào các nước láng giềng rồi quay sang cho rằng họ tự đập mặt vào tay Bắc Kinh”.

Đây là một trong những bài bình luận với giọng điệu hiếm gặp được đăng trên các cơ quan ngôn luận trung ương của Trung Quốc. Trước giờ, truyền thông nước này, đặc biệt là Hoàn Cầu thời báo, thường tuyên bố “chính nghĩa” thuộc về họ trong tranh chấp trên biển. Vì thế, bài viết này là một bằng chứng cho thấy Trung Quốc thừa hiểu họ đang làm sai, nhưng bất chấp.

LUCY NGUYỄN (THANH NIÊN ONLINE)