Tag Archive: lặng


Trả lời phỏng vấn Thông tấn xã Việt Nam, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho biết: “Người dân lo lắng, bức xúc về tình hình biển Đông là đúng. Đó là lòng yêu nước và tinh thần độc lập đã được trao chuyền qua bao thế hệ”.V

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang – Ảnh tư liệu Tuổi Trẻ

Chủ tịch nước nói thêm: “Lợi ích của Việt Nam trên biển Đông được luật pháp quốc tế thừa nhận và bảo vệ theo Công ước Luật biển 1982”.

 

 

 Thưa Chủ tịch nước, năm 2012 ngoại giao Việt Nam có hàng loạt sự kiện hợp tác song phương và đa phương sôi nổi. Kết quả của những hoạt động đó như thế nào?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Năm 2012, Việt Nam nhấn mạnh chủ trương mới và quan trọng trong đối ngoại: Việt Nam không chỉ hội nhập kinh tế mà còn hội nhập quốc tế một cách sâu rộng và toàn diện, cả về chính trị.

Mặc dù tình hình kinh tế đất nước trong năm qua còn nhiều khó khăn, tình hình quốc tế và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp, nhưng do chính sách đối ngoại đúng đắn, bạn bè quốc tế tiếp tục tin tưởng, ủng hộ sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước của Việt Nam. Vốn ODA cơ bản không giảm so với những năm trước, vốn FDI đăng ký mới thấp hơn nhưng phần vốn thực hiện vẫn xấp xỉ năm trước, góp phần duy trì phát triển trong điều kiện hết sức khó khăn, tiếp tục củng cố vai trò và vị trí của Việt Nam trên trường quốc tế.

Lập trường của Việt Nam trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo được bạn bè quốc tế chia sẻ, ủng hộ. Năm qua đã có hơn 30 đoàn khách gồm nguyên thủ, người đứng đầu nhà nước, chính phủ, các cơ quan lập pháp của các quốc gia đã đến thăm, làm việc với Việt Nam và đều kỳ vọng về sự hợp tác trước mắt và lâu dài với nước ta. Đó là những quan hệ hợp tác có lợi cả trên bình diện song phương và đa phương…

– Thưa Chủ tịch nước, các quốc gia Đông Nam Á giữ vị trí như thế nào trong chính sách đối ngoại của Việt Nam?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Việt Nam luôn xác định là thành viên tích cực và có trách nhiệm của ASEAN. Đảm nhiệm chủ tịch luân phiên ASEAN cũng như khi là thành viên bình thường, Việt Nam luôn có những việc làm, sáng kiến góp phần củng cố sự đoàn kết và thúc đẩy xây dựng cộng đồng ASEAN, được các thành viên ASEAN cùng các nước tán thành.

Những nước lớn trong quan hệ đối tác với ASEAN cũng rất coi trọng quan hệ với Việt Nam, quyết định nâng tầm quan hệ đối tác chiến lược với Việt Nam và qua Việt Nam để khẳng định quan hệ với khu vực Đông Nam Á.

Chúng ta quan hệ đa phương, chú ý phát triển quan hệ với các nước lớn, nhưng luôn đặc biệt coi trọng quan hệ với ASEAN. Đây là chủ trương nhất quán trong quan hệ với các nước láng giềng. Tôi muốn hỏi lại, bạn có coi trọng quan hệ với hàng xóm của mình không?

– Hiện nay chủ đề biển Đông đang được chú ý tại các diễn đàn trong nước và quốc tế. Quan điểm của Việt Nam về vấn đề này như thế nào, thưa Chủ tịch?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Biển Đông là chủ đề Việt Nam luôn quan tâm, ASEAN và nhiều nước trên thế giới có quan hệ lợi ích gắn với biển Đông cũng rất chú trọng. Việt Nam đã tuyên bố và khẳng định rất rõ ràng lập trường của mình: tranh chấp về chủ quyền ở biển Đông phải được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở luật pháp quốc tế trong đó có Công ước Luật biển 1982.

Giữa Trung Quốc và ASEAN đã ký thỏa thuận về DOC. Hai bên cũng đã thỏa thuận việc xây dựng bộ quy tắc ứng xử trên biển Đông COC, nâng những nguyên tắc đó lên cao hơn, có tính pháp lý ràng buộc. Tuy nhiên, chúng ta chủ trương tất cả những vấn đề đó phải được giải quyết hòa bình, hữu nghị, không dùng vũ lực, để biển Đông thực sự hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn và tự do hàng hải.

Trung Quốc cũng tuyên bố như vậy với ASEAN. Trên thực tế, các vấn đề diễn ra về cơ bản là cũng theo các nguyên tắc và phương châm như trên. Tuy nhiên, vẫn có những va chạm nhất định trên biển Đông mà chúng ta đã chứng kiến trong năm qua.

Tôi một lần nữa nhấn mạnh giải quyết tháo gỡ vấn đề này phải tuân thủ nguyên tắc luật pháp quốc tế và thực hiện theo phương châm hòa bình, hữu nghị giữa các bên liên quan. Những nguyên tắc này không chỉ Trung Quốc và ASEAN công nhận, mà cộng đồng quốc tế, nhất là những nước quan tâm và có lợi ích ở biển Đông, cũng thừa nhận và ủng hộ. Việt Nam luôn khẳng định nguyên tắc này trên các diễn đàn, hội thảo…

– Thưa Chủ tịch nước, cũng tuyên bố chủ quyền với quần đảo Trường Sa, Philippines và Brunei có đồng tình với Việt Nam trong việc xử lý vấn đề biển Đông?


 

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Không chỉ Philippines, Brunei mà cả Malaysia, Indonesia và nhiều nước khác trong ASEAN, tuy không có lợi ích trực tiếp ở biển Đông, cũng ủng hộ những quan điểm đó. ASEAN lấy đồng thuận làm nguyên tắc hoạt động, nghĩa là tất cả các thành viên đều thống nhất trong vấn đề này. Đó là quan điểm, nguyên tắc chung của tất cả các thành viên ASEAN; là cơ sở quan trọng để Việt Nam cũng như cộng đồng ASEAN đi đến đàm phán với Trung Quốc hiện nay và tương lai.

– Chúng ta chủ trương giữ vững chủ quyền biển đảo bằng con đường ngoại giao hòa bình, nhưng tình hình biển đảo ở biển Đông thời gian qua khiến người dân chưa an tâm. Chủ tịch nước có thông điệp gì đối với người dân về vấn đề này?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Người dân lo lắng, bức xúc về tình hình biển Đông là đúng. Đó là lòng yêu nước và tinh thần độc lập đã được trao chuyền qua bao thế hệ. Đảng và Nhà nước ta chủ trương như thế nào cũng phải trên cơ sở lòng dân làm gốc. Lợi ích của Việt Nam trên biển Đông được luật pháp quốc tế thừa nhận và bảo vệ theo Công ước Luật biển 1982.

Chúng ta sẽ dựa vào luật pháp quốc tế, lấy đó làm cơ sở và sức mạnh để bảo vệ lợi ích, chủ quyền quốc gia của mình. Chúng ta đấu tranh mềm dẻo nhưng cũng đồng thời phải thường xuyên chủ động củng cố mặt trận quốc phòng an ninh, nâng cao cảnh giác trước mọi diễn biến ở khu vực, kiên quyết bảo vệ bằng được chủ quyền lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc mình.

– Việt Nam là một quốc gia tham gia đàm phán tương đối sớm Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương – TPP. Việt Nam đã tính đến những lợi ích về kinh tế và chính trị trong tương lai với TPP như thế nào, thưa Chủ tịch?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Trước khi chúng ta tham gia khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA), nhiều người lo sợ Việt Nam sẽ bị thua thiệt. Thực tế đã không hẳn diễn ra như thế. Quan trọng là vì chúng ta đã chuẩn bị thực lực để giành thắng lợi trong hội nhập. Vừa chuẩn bị thực lực vừa hội nhập. Do đó kinh tế của Việt Nam đã phát triển mạnh mẽ, toàn diện trong một thời gian dài. Khi chúng ta tham gia WTO cũng vậy, ở quy mô toàn cầu, chúng ta lo ngại sức mạnh của những nền kinh tế lớn sẽ chèn ép kinh tế Việt Nam. Thế nhưng, sau khi vào WTO, kinh tế Việt Nam còn có điều kiện phát triển hơn…

Những suy giảm kinh tế thời gian gần đây không phải do WTO mà do những nguyên nhân chủ quan và sự yếu kém của chính chúng ta, đòi hỏi chúng ta phải tái cơ cấu nền kinh tế và điều chỉnh chính sách để kinh tế vĩ mô ổn định.

Muốn phát triển, chúng ta phải mở cửa với thế giới. Tham gia TPP là nằm trong chủ trương này. Điều quan trọng là chúng ta phải rút kinh nghiệm từ AFTA và WTO để làm tốt việc chuẩn bị. Nếu không, thắng lợi khó đạt được mà thất bại cũng khó tránh. Tôi cho rằng thắng lợi hay thất bại là do chính nội lực chủ quan của chúng ta. Mỗi doanh nghiệp, mỗi địa phương, mỗi bộ ngành và toàn quốc phải chuẩn bị thật kỹ lưỡng trong quá trình hội nhập, tham gia TPP trong tương lai.

– Thưa Chủ tịch nước, vị trí của Việt Nam trong bảng xếp hạng tín nhiệm gần đây bị tụt xuống so với những năm trước. Phải chăng Việt Nam chưa tận dụng, khai thác hết những lợi thế của mình trong quá trình hội nhập quốc tế?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Thông thường, để phát triển kinh tế, tăng trưởng GDP thì phải đầu tư vốn. Có một tương quan tỉ lệ giữa vốn đầu tư và tốc độ tăng trưởng. Tỉ lệ này càng cao thì đồng nghĩa với hiệu quả sử dụng vốn kém. Ở nước ta tỉ lệ đó có khi lên đến 5-6. Tức là chi phí của Việt Nam gấp rưỡi hoặc gấp đôi các nước có trình độ phát triển tương đương. Tình trạng đó tồn tại trong nhiều năm, dẫn đến một lượng vốn đưa vào đầu tư lớn nhưng hiệu quả thấp…

Đại hội XI của Đảng chủ trương phải đổi mới mô hình tăng trưởng, tái cơ cấu nền kinh tế, sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước, hệ thống ngân hàng… cùng một loạt công việc để giải quyết những hạn chế đó nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư, tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững.

Chủ trương là như vậy nhưng để thực hiện đạt kết quả đòi hỏi nỗ lực cao của tất cả các cấp, các ngành, các địa phương, từng doanh nghiệp. Tôi hi vọng và kêu gọi những nỗ lực như thế phải được thực hiện mạnh mẽ trong thời gian tới.

– Thành công của các nước xung quanh Việt Nam dựa chủ yếu vào 3 lĩnh vực then chốt: cơ sở hạ tầng, tính cạnh tranh quốc tế của doanh nghiệp và tính hiệu quả của bộ máy nhà nước. Việt Nam sẽ có sự lựa chọn nào vì mục tiêu phát triển, thưa Chủ tịch?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Chúng ta đã xác định phải thực hiện tốt 3 yếu tố: phát triển cơ sở hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và hoàn thiện thể chế kinh tế. Vấn đề là phải tổ chức thực hiện sao cho tốt.

Về hạ tầng, rõ là sau 25 năm đổi mới, chúng ta có nhiều thành tựu, nhưng muốn phát triển cao hơn trong giai đoạn tiếp theo, không thể chấp nhận hạ tầng như hiện nay. Đường bộ chẳng hạn. Nhất định phải có hệ thống xa lộ đúng nghĩa. Hệ thống cảng biển cũng vậy. Đặt cạnh những nước tiên tiến trong ASEAN, chi phí cho một đơn vị hàng hóa tại cảng của chúng ta trung bình cao gấp đôi họ. Như vậy thì làm sao cạnh tranh? Chính vì vậy, phải đẩy nhanh tốc độ phát triển kết cấu hạ tầng. Chủ trương đã có và nói nhiều rồi. Bây giờ là phải triển khai việc này.

Cạnh tranh quốc tế của các doanh nghiệp phải được quan tâm hơn nữa. Không phải vì mở cửa làm một số doanh nghiệp chúng ta cạnh tranh kém, mà do chính những yếu kém của chúng ta. Tại sao người ta mở cửa cho anh bán hàng, anh không làm được cho tốt? Để khi người ta cũng bán hàng như mình nhưng năng lực cạnh tranh tốt hơn, lại đổ cho sự “mở cửa” đó là không được. Yếu kém có phần quan trọng là do chất lượng nguồn nhân lực còn thấp, điều này không chỉ là do các doanh nghiệp đâu mà còn do chính chúng tôi, những người điều hành, lãnh đạo đất nước, khi chưa tạo ra được môi trường kinh doanh, chưa đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng cao thuận lợi cho doanh nghiệp.

Về thể chế, chúng ta đang sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992. Sau khi được Quốc hội thông qua cuối năm 2013 thì một loạt các văn bản pháp luật sẽ được sửa đổi, bổ sung để cụ thể hóa và thực hiện theo bản hiến pháp mới được ban hành. Trong đó, quan trọng là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Lượng công việc thực hiện rất lớn.

Chúng ta đừng quên đến năm 2015, tự do hóa thương mại không chỉ trong ASEAN mà còn là với cả Trung Quốc, một nền kinh tế khổng lồ, lớn thứ 2 thế giới hiện nay. Đến những năm 2017-2018 sẽ tự do thương mại hoàn toàn giữa Việt Nam và các thành viên của WTO. Lúc đó quan hệ doanh nghiệp các nước sẽ hoàn toàn sòng phẳng, theo những cam kết khi gia nhập WTO, chứ không thể “ngăn sông, cấm chợ” được nữa…

Nhân tố chủ quan bên trong cần được rà soát và nâng cao năng lực cạnh tranh một cách khẩn trương ở từng doanh nghiệp, địa phương, ngành và toàn bộ nền kinh tế. Kể cả lãnh đạo các cấp từ trung ương đến địa phương cũng phải soát xét lại “hành trang” của mình, đảm bảo cho công cuộc hội nhập có được hiệu quả cụ thể, có thể nhìn và sờ thấy được.

– Thưa Chủ tịch nước, những sản phẩm công nghiệp của chúng ta chưa đạt được tính cạnh tranh như mong muốn. Có phải chúng ta đang gặp vấn đề trong việc kiểm soát và phân phối nguồn lực không?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Kiểm soát và phân phối nguồn lực thì không chỉ quan tâm tới lĩnh vực công nghiệp mà kể cả nông nghiệp và dịch vụ. Làm sao để không bị thất thoát, lãng phí về vốn, về tài nguyên, về con người… Có những nơi đáng ra nguồn lực được phân phối thì sẽ phát huy tác dụng tốt hơn nhưng lại không có và ngược lại.

Chúng ta phải tính toán lại. Làm thế nào thực hiện đúng quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, để nguồn lực có thể chảy vào những nơi có hiệu quả cao nhất. Đó chính là trách nhiệm của Nhà nước trong việc quản lý, thực thi, xây dựng các cơ chế, chính sách, luật pháp để tạo ra môi trường kinh doanh, điều chỉnh các nguồn lực một cách hợp lý. Tôi đặc biệt nhấn mạnh đến vấn đề cải cách thủ tục hành chính và phòng chống tham nhũng, lãng phí phải thực sự có hiệu quả, tạo điều kiện đảm bảo việc phân phối các nguồn lực một cách chính xác.

– Thời điểm hiện nay, GDP của Việt Nam không cao, nhưng dư luận quốc tế cho rằng Việt Nam đang đặt nền móng, chuẩn bị cho một giai đoạn, quá trình phát triển mới. Thưa Chủ tịch nước, nền kinh tế Việt Nam sẽ như thế nào trong vài năm tới, với những chính sách mà chúng ta đã và đang thực hiện?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Hiện nay, yếu kém của kinh tế Việt Nam biểu hiện rõ nhất là lạm phát cao, nhập siêu lớn… Chất lượng tăng trưởng những năm qua là tăng trưởng chiều rộng; trông chờ vào vốn chứ không phải dựa vào năng suất lao động hay công nghệ tiên tiến. Tình trạng này không thể để kéo dài, nên chúng ta phải điều chỉnh và cơ cấu lại, chuyển dần tăng trưởng theo chiều sâu, nâng cao chất lượng và năng suất lao động, sử dụng công nghệ tiên tiến…

Khi tiến hành tái cấu trúc nền kinh tế, phải chấp nhận là GDP thấp nhưng cũng phải giữ khoảng 5%/năm. Thấp hơn nữa thì nguy hiểm, thất nghiệp sẽ cao, phấn đấu dần đưa tốc độ tăng trưởng lên 7-8%/năm và ổn định kinh tế vi mô. Làm được điều đó không chỉ cải thiện đời sống mà còn là ổn định chính trị, xã hội.

– Đồng thời cũng là một đại biểu Quốc hội, Chủ tịch nước đánh giá như thế nào về sự tin tưởng của nhân dân đối với chế độ?


 

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Nhân dân Việt Nam đã tin tưởng, gắn bó với Đảng và chế độ hơn 80 năm qua, kể cả những lúc khó khăn nhất. Niềm tin đó đang bị thách thức và suy giảm do tệ tham nhũng, lãng phí, suy thoái đạo đức lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Nhưng tôi tin nhân dân bao dung vẫn tin và kỳ vọng vào Đảng nếu Đảng kịp thời chỉnh đốn, sửa chữa những yếu kém, khuyết điểm trong bộ máy của mình. Tuy vậy, không được lạm dụng lòng tin của nhân dân. Mỗi một cán bộ, chức càng cao, quyền càng to thì trách nhiệm trước sự suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng càng lớn.

Khắc phục những khuyết điểm hiện nay còn là để khẳng định vai trò, trách nhiệm của Đảng với tương lai của đất nước và sự trường tồn của dân tộc như Đảng ta đã làm trong suốt gần một thế kỷ đã qua.

– Thưa Chủ tịch, năm qua tính cởi mở và dân chủ đã được thể hiện rất rõ trên các diễn đàn thảo luận về những vấn đề hệ trọng của đất nước. Chủ tịch nước đánh giá như thế nào về nhận định này?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Tôi thấy rất rõ hoạt động của các cơ quan Đảng, Nhà nước ngày càng được người dân quan tâm. Qua những cuộc tiếp xúc cử tri gần đây, tôi thấy người dân đánh giá cao hoạt động của Quốc hội. Với tư cách là cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước, Quốc hội đã ngày càng đáp ứng được nhiệm vụ và vai trò, nhất là việc thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân.

– Thưa Chủ tịch, Nghị quyết Trung ương 4 đã được ban hành gần 1 năm. Trong đó, nghị quyết đã khẳng định có một bộ phận không nhỏ đảng viên suy thoái, nhưng kết quả thực hiện nghị quyết vừa qua chưa cao. Xin Chủ tịch nước đánh giá về vấn đề này.

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Chúng tôi được hỏi câu này nhiều lắm, có người khen, người chê. Vấn đề này xin khẳng định là phải kiên trì tiến hành, không lùi bước, không thể không làm nhưng không thể chỉ một lần, một sớm một chiều mà giải quyết ngay được.

Thực tế là vậy, không nên chán nản. Chúng ta phải nhận thức cho đúng, phải hết sức kiên trì, liên tục tiến hành công cuộc xây dựng Đảng. Quốc hội đã thông qua nghị quyết về lấy phiếu, bỏ phiếu tín nhiệm hằng năm. Đó chính là dân chủ hóa. Điều quan trọng là phải làm thực chất, phải có cơ chế kiểm tra chống lại hiện tượng “vận động,” “mua phiếu”. Trung ương Đảng cũng có chủ trương bỏ phiếu tín nhiệm tương tự và Mặt trận Tổ quốc cũng sẽ có cơ chế tham gia giám sát đội ngũ cán bộ.

– Thưa, Chủ tịch nước có thường xuyên nhận được thư từ của công dân?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Thư thì hằng ngày tôi nhận được rất nhiều, trên tất cả các lĩnh vực, từ những chuyện rất cụ thể của cuộc sống hằng ngày đến những công việc lớn lao của đất nước, tôi chú ý đến những bức thư chân thực, tâm huyết, xây dựng. Nhiều bức thư rất cảm động, hữu ích, thậm chí có tác dụng trực tiếp đến chính sách của Nhà nước và tôi không thể nói điều gì khác ngoài lòng cảm ơn chân thành.

– Sau hơn 1 năm ở cương vị là người đứng đầu Nhà nước, đã có những vụ việc nào về bức xúc của nhân dân để lại cho Chủ tịch băn khoăn, trăn trở nhiều nhất?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Tôi nghĩ rằng bức xúc thì nhiều, nhưng tựu trung lại mấy vấn đề lớn là làm thế nào trong năm mới chúng ta tập trung giải quyết những vấn đề về dân sinh và kinh tế cho tốt hơn.

Đến doanh nghiệp thì được nghe kiến nghị thiếu vốn, bất cập vướng mắc nhiều quá; gặp người lao động thì được phản ánh về thiếu việc làm, thu nhập thấp, tình trạng tiêu cực, tham nhũng…

Sắp tới, phải làm sao vừa giải quyết tốt hơn vấn đề dân sinh kinh tế, vừa phải giải quyết tốt hơn vấn đề quốc phòng an ninh đất nước, giữ vững chủ quyền quốc gia và triển khai toàn diện công tác đối ngoại theo đường lối Đại hội XI của Đảng.

Mình mong dân tin Đảng, nhưng vẫn còn nhiều người mất việc, không có việc làm, nghèo đói; tham nhũng, lãng phí không kiên quyết ngăn chặn có hiệu quả thì làm sao tin? Băn khoăn, trăn trở nhiều lắm!

– Thưa Chủ tịch nước, bước sang năm mới Chủ tịch có thông điệp gì gửi đến toàn thể nhân dân?

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Chúng ta đã bước sang năm thứ 3 thực hiện kế hoạch 5 năm của Đại hội Đảng XI. Chúng ta đang quyết tâm thay đổi, tái cấu trúc nền kinh tế và ổn định kinh tế vĩ mô để phát triển ngày càng bền vững hơn, chất lượng hơn, hiệu quả hơn. Từ đó đảm bảo mục tiêu đến năm 2020 Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại.

Trong 2 năm qua, kể cả năm 2013, chúng ta vẫn phải trải qua giai đoạn tái cơ cấu nền kinh tế, chấp nhận mức độ tăng trưởng thấp hơn giai đoạn trước; nhưng đồng thời phải thay đổi chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế, chuẩn bị tiền đề cho những giai đoạn sau.

Vì thế, tôi mong rằng đồng chí, đồng bào cả nước hết sức nỗ lực phấn đấu trên mỗi cương vị khác nhau của mình để thực hiện tốt, thành công những mục tiêu mà chúng ta đã đề ra. Tôi tha thiết mong nhân dân ta ấm no, hạnh phúc, đất nước ta hòa bình, thịnh vượng…

Xin trân trọng cảm ơn Chủ tịch nước!
http://tuoitre.vn/Chinh-tri-Xa-hoi/530991/nguoi-dan-lo-lang-buc-xuc-ve-tinh-hinh-bien-dong-la-dung.html

Cũng như các lực lượng khác trong xã hội, báo chí cũng có diễn biến tiêu cực, tham nhũng và cũng là một “mảnh đất lắm người nhiều ma”.

Các cơ quan quản lý và bạn đọc đã nhiều lần ghi công chống tiêu cực tham nhũng của báo chí. Bảng vàng chống tiêu cực của Hội Nhà báo Việt Nam, nếu có, không thể không ghi nhận đóng góp của báo chí với tư cách người phát hiện những dấu hiệu ban đầu của các vụ án tham nhũng và tiêu cực “động trời” đã được đưa ra xét xử với khung án cao nhất của pháp luật. Đã có mùa trao giải báo chí quốc gia, một loạt tác phẩm báo chí được giải cao khi “động” vào nạn ăn cắp than, nạn phụ thu lạm bổ tính vào hạt thóc một nắng hai sương của bà con nông dân, nạn bạo hành ở cơ sở nuôi dạy trẻ, không ăn thì… tát và nhiều vụ tham nhũng khác.Đồng hành cùng sự nghiệp xây dựng Đảng, chống tham nhũng, tiêu cực, lực lượng báo chí đang làm tốt sứ mệnh cao cả của mình, xứng đáng với phần thưởng cao quý: Huân chương Sao Vàng mà Đảng, Nhà nước trao tặng. Đấy là thông điệp vui. Nhưng còn thông điệp không vui?

Thì đây, trong cuộc gặp mặt báo chí tất niên ngày 27/12/2012 đâu phải tình cờ mà ông Nguyễn Văn Bình, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước nói rằng: “Điều tôi trăn trở là trong 100% khó khăn của ngành ngân hàng thì báo chí gây ra đến 40-50%. Sự ủng hộ, đồng thuận của báo chí chưa cao, chạy theo vụ việc đơn lẻ, thổi lên quá đà, tạo dư luận chung trong xã hội không tốt…”.

Phát biểu bâng quơ trên khiến các tổng biên tập và phóng viên buộc phải nghĩ ngợi. Không lẽ báo chí gây khó đến thế cho ngân hàng ư? Không, không thể như thế được? Suốt cả năm có báo nào bị nhắc nhở, chấn chỉnh do thông tin sai lệch về ngân hàng đâu?

Tuy nhiên, cũng như các lực lượng khác trong xã hội, báo chí cũng có diễn biến tiêu cực, tham nhũng và cũng là một “mảnh đất lắm người nhiều ma”. Có thể các tổng biên tập không biết rằng, “quân” của mình có tên trong “liên minh đánh hôi”, đủ khả năng tập hợp dăm ba tờ báo “hai ba” cùng đăng một loại bài nhân danh chống tiêu cực mà trong đó những chi tiết cốt tử giống nhau đến “từng centimét”. Tốn phí trong phi vụ này chỉ bằng một suất chạy thi công chức ở Hà Nội mà ông Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Thành ủy công bố trước HĐND gần đây. Người giữ mối liên hệ phi vụ “đen” này là người trong “nhóm mua” đã mua đứt một tờ cuối tuần.

Đây là chuyện “lính” báo. Còn “quan” báo thì sao? Có những câu chuyện lan truyền trong giới thạo tin về hành tung của một vài vị “quan báo”. Một doanh nhân thổ lộ với nhà báo, có ông “quan báo” nhắn tin vào máy rằng, hiện có đơn kiện với doanh nhân này và báo sẽ đăng… Và sau đó là tin nhắn xin tài trợ một khoản tiền bằng lương tháng của cả một tổ sản xuất, để tổng biên tập báo hoạt động xã hội. Doanh nhân này trả lời, đăng báo đơn tố cáo là quyền của báo nhưng xin lưu ý, đây là đơn nặc danh. Riêng việc tài trợ an sinh xã hội thì doanh nghiệp sẵn lòng, đề nghị gửi cho một công văn. Và sau đó báo vẫn đăng và không có công văn xin tiền với lời nhắn không cho thì thôi!? Chuyện này doanh nhân không công bố cụ thể nhưng chúng tôi mới biết sau khi “quan báo” này được miễn nhiệm.

Còn một “quan báo” khác, để nâng đỡ “người của mình” đã “vay” một khoản tiền lớn để “sửa nhà”. Tuy nhiên, người vợ lại phủ nhận việc vay mượn sửa chữa nhà cửa này. Anh chàng “chạy chọt” kia không may phải hầu tòa nên mới vỡ chuyện “hạ điểm chuẩn” để cất nhắc “quân ta”. Lại có “quan báo” vung tay quá trán tiêu lạm, thưởng bừa đến nỗi ông hạ cánh vẫn không an toàn vì thanh tra, kiểm toán phát hiện tiền tỉ chi sai, chi vượt. Tội nghiệp cả tờ báo phải nhịn thưởng vài năm chưa chắc đã trả xong khoản chi vượt ngưỡng.

Còn một vị “quan báo” đương chức khác đang bị chính cán bộ chủ chốt của báo mình công khai kiện lên cơ quan chủ quản và cơ quan quản lý báo chí về hàng loạt sai phạm trong công tác cán bộ, quản lý tờ báo. Mấy thông tin này thật khó kiểm chứng dù không ít phóng viên biết khá rõ “quan báo” đó là ai. Mới đây tôi có nhận được cú điện thoại của bạn đọc chất vấn vì sao vẫn có trang mạng, báo điện tử thích thông tin hình sự, đời tư, scandal, lộ hàng? Tôi cãi lại, ông xem lại đi, “nó” không phải là báo điện tử mà là trang mạng “cáo mượn oai hùm”, ai bảo xem làm gì? Nhưng quả thật chưa bao giờ các trang mạng lộng hành tác oai tác quái như hiện nay.

Trong cuộc chạy đua chiếm lĩnh thị phần báo chí này chỉ béo các trang mạng. Một sự thật được đưa ra tại hội thảo nghiệp vụ báo chí là, trong khi một phóng viên có kinh nghiệm phải mất nhiều thời gian cho một tin, một bài. Nhưng một nhân viên trang mạng thạo cắt dán thì chỉ trong một giờ có thể tạo ra cả chục tin bài. Kết quả là có những trang điện tử mỗi tuần post lên hơn 1.000 tin, trong đó hầu hết thông tin đều luộc – cắt – dán của báo khác. Mới đây một số tổng biên tập báo điện tử (trong đó có cả Tổng biên tập Báo Năng lượng Mới và trang tin nhanh Petrotimes) đã thống nhất cùng “kiện” lên các cấp quản lý, đề nghị phải có biện pháp nhằm chấm dứt tình trạng các trang mạng chuyên ăn cắp tin, bài đưa lên mạng và đem bán.

Chính vì vậy, nhà báo Đỗ Phượng, cựu Tổng giám đốc Thông tấn xã Việt Nam đã kiến nghị rằng: “Phải rà soát lại đội ngũ lãnh đạo các báo, nhất là báo mạng, trước khi rà soát đội ngũ phóng viên. Tôi tin các phóng viên trẻ họ chỉ cần sự hướng dẫn đúng đắn, họ sẽ cho chúng ta thông tin tốt”.

Nhận diện các dạng vi phạm đạo đức nghề nghiệp trong thực tiễn hoạt động báo chí, các tham luận tại hội thảo này đã cho rằng, vi phạm có ở nhiều bước trong hoạt động tác nghiệp, nhưng tập trung nhiều nhất ở quy trình khai thác, xử lý nguồn tin. Thứ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông Đỗ Quý Doãn cho rằng, nhà báo phải xác định, bản thân mình trước hết phải là công dân có đạo đức. Báo chí đặc thù nên cũng có những chuẩn mực riêng.

Về tình trạng sai sót ngày càng nhiều, Thứ trưởng Doãn cũng cho biết thêm, trong 2 năm 2010-2011, Bộ Thông tin Truyền thông đã tiếp nhận và xử lý 600 đơn thư khiếu nại, tố cáo trên 200 vụ việc, đã xử lý hơn 100 trường hợp vi phạm trong hoạt động báo chí. Năm 2010 xử lý 51 trường hợp, trong đó có 42 trường hợp ở báo in, 6 trường hợp báo điện tử và 3 trường hợp ở phát thanh, truyền hình; thu thẻ nhà báo 4 trường hợp. Năm 2011 xử lý 51 trường hợp, trong đó cảnh cáo 1 trường hợp, nhắc nhở 14 trường hợp. Năm 2012 vẫn còn nhiều vi phạm phải nhắc nhở, xử lý.

Thông tin của báo chí không chỉ tác động đến một, hai người mà cả triệu người. Những thông tin thiếu trung thực, kiểu giật gân, thiên lệch, thiếu tính xây dựng… gây ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức, cá nhân. Có doanh nghiệp phá sản vì thông tin sai lệch của báo chí… Người làm báo phải xác định trách nhiệm xã hội, trách nhiệm công dân của mình. Mọi quy định, quy ước chỉ nhằm việc tôn trọng pháp luật. Vì thế, trước hết các nhà báo hãy thực hiện đúng, đầy đủ những quy định pháp luật về hoạt động báo chí.

Nhà báo lão thành Hà Đăng, nguyên Trưởng ban Tuyên giáo T.Ư nhấn mạnh: Đạo đức nghề nghiệp của người làm báo, suy cho cùng đều cốt ở bốn chữ “trung thành” và “trung thực”. Trung thành với tổ quốc và nhân dân, với lý tưởng cách mạng, với sự nghiệp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Trung thực với bản thân, với bạn bè và đồng nghiệp, với nghề báo, với cuộc sống xã hội của đất nước và dân tộc.

Báo chí biết chống tiêu cực, tham nhũng trong xã hội càng phải vượt lên chính mình để tự khắc phục sai phạm yếu kém. Các tổng biên tập tiêu cực, non kém, buông lỏng quản lý nội bộ cần được thay thế để làm trong sạch báo mình trước đã rồi hãy vào cuộc chống tiêu cực tham nhũng!

MINH NGHĨA (NĂNG LƯỢNG MỚI)

Với khẩu hiệu “Tiếng nói người Việt hải ngoại hướng về đất nước” và là “tờ báo sạch không tô hồng, bôi đen”, website treonline.com do Michael Bùi làm Tổng Biên tập có địa chỉ Tòa soạn tại 1816 George St., Ridgewood, New York 11385 U.S.A. đã trở thành một địa chỉ truyền thông của những người Việt, dù ở nước ngoài, nhưng vẫn luôn nặng lòng với dân tộc, có tiếng nói trung thực, thẳng thắn đối với các tổ chức, cá nhân có hành động gây rối, chống phá con đường xây dựng và phát triển của Việt Nam. Xin được trích đăng bài viết về đài RFA của tác giả Amaritx (Houston) đã công bố trên treonline.com, để bạn đọc tham khảo:

…Ðài Á châu tự do RFA (radio free Asia) được thành lập trong kỳ Chiến tranh lạnh (năm 1950), dưới sự quản lý của CIA, với mục tiêu chính là tuyên truyền đường lối của BU (Mỹ) bằng tiếng địa phương đến các quốc gia mà BU xem là kẻ thù. Goebel, Bộ trưởng tuyên truyền của Ðức quốc xã nói: “Một sự việc dầu sai, không đúng sự thật nhưng chúng ta cứ nhắc đi nhắc lại nhiều lần, lúc đầu dân không nghe, còn bán tín bán nghi, nhưng nhắc mãi thì dân tin đó là sự thật”. Ðài RFA không những “kế thừa” tư tưởng của bọn phát-xít mà còn biến hóa trong thời đại thông tin điện tử toàn cầu một cách tinh vi, thủ thuật ngày càng đa dạng, xào nấu tin tức, tẩm màu, pha trộn cho bắt mắt, gia giảm phụ gia cho hợp khẩu vị của đối tượng “khách hàng”. Trong nhiều năm qua đài RFA không ngừng xuyên tạc, bóp méo thông tin, dựng chuyện, đưa thông tin kiểu mập mờ, tung hỏa mù bôi nhọ chính phủ và dân tộc Việt Nam. Tại sao đài RFA lại có kiểu đưa tin hằn học như vậy, ta tìm hiểu sơ lược về cái “loa” mõ làng này.

… Ðến năm 1971 CIA chuyển quyền điều hành đài RFA sang cơ quan có tên là BIB (Board of International Broadcasting) do tổng thống BU bổ nhiệm và chỉ đạo. Ðến năm 1994, Quốc hội BU thông qua dự luật truyền thông quốc tế, và RFA chính thức trở thành một công ty tư nhân, bất vụ lợi. Tuy trên danh nghĩa là một công ty tư nhân, nhưng ngân sách của RFA lại được Quốc hội BU tài trợ dưới sự phân phối của Hội đồng quản trị truyền thông hay BBG (Broadcasting Board of Governors). Hiện nay, RFA phát thanh chín thứ tiếng qua làn sóng ngắn và internet đến các nước Trung Quốc, Miến Ðiện, Lào, Cambodia, Việt Nam và Bắc Hàn. Bộ phận phát thanh tiếng Việt của “mõ làng” RFA mà nhân sự chủ yếu là cờ vàng CCCÐ (chống cộng cực đoan – ND) và hậu duệ của cờ vàng được BU  đào tạo thành những chiến binh trên mặt trận truyền thông, phục vụ cho quyền lợi của mình. Cho nên các “chiến binh” này vẫn còn mang trong đầu tư tưởng chống chính quyền hiện tại ở Việt Nam do Ðảng Cộng sản lãnh đạo. Vì được BU đào tạo nên RFA có vẻ nhà nghề hơn rất nhiều so với các đài Việt ngữ non nớt, rẻ tiền hoạt động kiểu chợ trời đưa tin lá cải, tin vỉa hè, hành nghề chửi bới và xuyên tạc tình hình Việt Nam một cách ngu xuẩn “miệng thì to mà đầu như trái nho” nghe cứ lộn mửa ở hải ngoại do các nhóm người Việt ở Mỹ điều hành.

“Mõ làng” RFA tỏ ra ma mãnh và “có nghề” hơn. RFA cố gắng tỏ ra ta đây có vẻ chuyên nghiệp hơn, như có cử phóng viên về Việt Nam “khảo sát” điểm được gọi là đang nóng “lấy tin” và thêm dầu vào lửa, có phỏng vấn các quan chức trong chính phủ Việt Nam. Với lối làm truyền thông theo kiểu Chiến tranh lạnh mà BU đã đúc kết cả mấy chục năm, không ngạc nhiên khi phần lớn các chương trình phát thanh của RFA hoàn toàn tập trung vào mục tiêu gây bất ổn định cho Việt Nam.

Các “món ăn” tin tức được cải tiến và khai thác triệt để kích thích độc giả mà mục tiêu cuối cùng là “đầu độc” dư luận. Ta hãy xem cái thí dụ thực đơn này ra sao: Món “hương đồng gió nội” đã có Tiên Lãng, Văn Giang. Món “âm phủ” có bô-xít Tây Nguyên. Món “núi rừng cao nguyên lộng gió” xin thưa có Mường Nhé, người Thượng Tây Nguyên. Món “hải sản” Hoàng Sa, Trường Sa, dân đánh bắt cá bị Trung Quốc bắt tịch thu tàu… Món “rân trủ” có một số thực khách đã, đang và sẽ nằm bệ xi-măng, ngủ theo tiếng kẻng. Món “tôn ráo” có em ngay Thái Hà, Tam Tòa, Ðồng Chiêm. Món “nhân quền” có các nhân vật quậy phá đất nước, khoái chà bóng tên tuổi như chà đồ đồng ngày tết v.v và v.v. Chúng ta không thể liệt kê hết ra ở đây được. Nhưng món chủ lực nhất mà “mõ làng” RFA đặc biệt khai thác, khuyến mãi, tiếp thị mạnh nhất là món “tự do – dân chủ – tôn giáo”. Ðây đang là mốt thịnh hành, nghe ra món này tao nhã, sạch sẽ mà các món được tâng bốc ngoài tên trần tục ra phải thêm chữ “nhà” cho hợp thời thượng. Có thể nói, phần lớn các bản tin của “mõ làng” RFA nói về Việt Nam là những bản tin trời ơi mà những vấn đề này người dân Việt Nam chẳng thèm quan tâm…

“Mõ làng” RFA cũng ma quái hơn các đài xóm, ấp Bolsa chống cộng kiểu ngu xuẩn ở chỗ cách hành văn, mõ RFA sử dụng là ngôn từ thông dụng mà báo chí trong nước thường dùng, nghe có vẻ “chính thống”, không có kiểu gào thét hạ đẳng, lưu manh của đài CCCÐ. RFA ma muội biết đổi màu theo hoàn cảnh cho hợp thời mà mục tiêu cuối cùng là đánh lừa được thực khách sau khi xơi xong món mà họ sao tẩm chế biến thì lăn đùng ra chết.

Vì nằm trong vòng cương tỏa “tiền” của BU cho nên đám cờ vàng nhân viên trong đó có muốn “văng” một ít thổ ngữ ra cũng khó. Mối quan hệ của BU và Việt Nam đã có nhiều thay đổi, cục diện trên bàn cờ thế giới có nhiều biến động nên cũng phải điều chỉnh liều lượng đầu độc trên mặt trận truyền thông cho hợp lý. Các “khách mời” thường xuyên được “ưu ái” của RFA là những tổ chức khủng bố, những tổ chức chống cộng cực đoan chống phá Việt Nam trong cộng đồng người Việt ở Mỹ, đó là những thành phần lưu manh và cơ hội chính trị, trục lợi, lường gạt kiếm tiền, những kẻ vô công rồi nghề, những kẻ ăn bám xã hội Mỹ, được dán vào mặt danh hiệu “nhà dân chủ”, “nhà nhân quyền”… như Võ Văn Ái, Ðoàn Viết Hoạt, Nguyễn Ðình Thắng, Trần Khuê, Nguyễn Thanh Giang, Nguyễn Ðan Quế, Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Ðài, Ðỗ Nam Hải, v.v…

Các “nhà” này muốn “chà bóng” tổ chức, tên tuổi, và một yêu cầu không kém phần quan trọng đó là năng khiếu “chém gió” thì xin mời: RFA sẽ cho hít khói “đập đá” gợi ý “cắn vài tép” thực đơn trước khi phỏng vấn cho nó phê để “sao vàng hạ thổ” các món đưa ra cho thực khách nhận ra rằng: “Ôi! sao xã hội Việt Nam thê thảm thế, sao mà người dân Việt khổ hơn “chị Dậu” vậy? Ðảng và chính quyền đối xử với dân “tệ hơn vợ thằng đậu” vậy? Lạm phát như ngựa xích thố của Quan Công phi, chuẩn bị đổi tiền, tiền mệnh giá hàng 6 đến 9 số không sẽ ra đời. An ninh quốc gia ngàn cân treo sợi tóc. Nội bộ quan chức thì như “Xuân tóc đỏ”…”. Nói tóm lại là các “nhà” này phải tung, nổ làm sao cho thật thê lương, te tua, bình luận dự báo bi đát về tình hình Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản thì mới xứng đồng tiền bát gạo mà BU đã bỏ ra.

Các vị “khách mời” này được một công đôi chuyện, ngu gì mà không tham gia, đăng ký chờ đến lượt mình chườn mặt trên RFA “được ăn, được nói, được gói đem về”. Phỏng vấn chứ có “phỏng miệng” đâu mà lo, sau khi nói vung xích chó, sùi bọt mép thì tên các “nhà” này được nhiều thực khách biết đến như những “nhà đối kháng” vậy thì có chuyện gì khi mà nhà nước Việt Nam đưa vào bảng “phong thần” cần phải “chăm sóc” khâu bớt cái mỏ chuyên ăn tục nói phét thì gào tên BU ra. Ðiều này nhiều khi lại có phản ứng “bật ngược” lại những gì “mõ làng” RFA đang làm, nó không khác gì một diễn viên trên sân khấu đang mải mê trình diễn mà lúc cao hứng nhất bị đứt dây thun quần, tỷ dụ như thực đơn “zân trủ” tung tẩy, vu khống rằng Việt Nam không có tự do, dân chủ. À! không có vậy tại sao nhân viên của cái lò mõ RFA đi về Việt Nam lùng sục hết ngang cùng ngỏ hẻm để “đãi” ra một ông ba vạ “đối kháng” nào đó một cách thoải mái như vậy? Muốn gặp các quan chức nhà nước phỏng vấn có vị nào bị từ chối không? Khi về “bển” gọi điện thoại chí chóe truyền tin giống bộ tộc rừng A-ma-zôn gõ vào thân cây, ai cũng biết, vậy mà an ninh Việt Nam có thèm để ý đâu. Lại còn bờ lốc, bờ léo tung xèng trên mạng vô tư thoải mái nào ai làm gì các vị? Thật là những con rối RFA chỉ thích làm mõ làng cho ngoại bang, cái này chắc có di truyền của cờ vàng CCCÐ.

Mõ làng RFA đang làm những việc tuyên truyền chống phá, nói xấu Việt Nam thì nó cũng đang khẳng định một điều thói đạo đức giả, thói quen nói một đường làm một nẻo của BU. Trong khi BU luôn cao giọng rằng có nền báo chí tự do nhất thế giới, rằng BU “never” (không bao giờ – ND) kiểm soát báo chí, đặt điều, vu khống Việt Nam không có tự do báo chí, vì tất cả các cơ sở truyền thông đều do Nhà nước quản lý? Ờ mà mới nghe qua và không hiểu cặn kẽ “Ðầu cua tai nheo” như cái đám truyền thông của người Việt ở hải ngoại mà nghe BU có mà “rang thóc giống”. Ðúng là BU có nhiều đài báo tư nhân, nhưng đài báo phản ánh quyền lợi của các công ty tài phiệt, nhóm chính trị tài phiệt. Mà quyền lợi của các công ty tài phiệt cũng chính là quyền lợi của chính phủ của BU. Làm gì có chuyện ở BU có nền báo chí “tự do nhất thế giới”, chỉ có những kẻ đầu óc “mộng mơ” mới tin vào điều đó. Mõ làng RFA và các đài tư nhân khác trên đất nước BU cũng chỉ phục vụ cho chính sách tuyên truyền của BU. Nhận định về vai trò và cách làm việc của RFA, Catharin Dalpino thuộc Brookings Institution, người từng giữ chức phó thứ trưởng phụ trách nhân quyền trong Bộ ngoại giao dưới thời Clinton, gọi Radio Free Asia là “một sự phí tiền”. Bà Dalpino viết rằng: “Bất cứ khi nào chúng ta cảm thấy có một kẻ thù ý thức hệ, chúng ta thành lập một cơ sở phát thanh với cái tên Ðài tự do cái gì đó…”.

Bà Dalpino từng duyệt qua các chương trình phát thanh của RFA và cho rằng đài này thiếu khách quan. “Họ nghiêng nặng về các bản tin và báo cáo của những người bất đồng chính kiến, những tổ chức phản động lưu vong. Nó chẳng có tin gì từ trong nước”. Chỉ cách đây vài năm, bài học về vũ khí hủy diệt phát hiện tại Iraq đã làm giới truyền thông Mỹ phải xấu hổ. Tháng 5-2004, tờ New York Times đã đăng lời cáo lỗi độc giả do đã thông tin sai lệch về vũ khí hủy diệt của Iraq. Tờ báo vẫn được coi là có ảnh hưởng sâu rộng nhất trên toàn nước Mỹ thú nhận rằng, Chính phủ Mỹ đã gây áp lực khiến họ phải đăng tải những cáo buộc vô căn cứ nhằm biện minh cho cuộc chiến tranh Iraq. Vào thời điểm đó, không chỉ riêng New York Times, hàng loạt các tờ báo đã đăng tải thông tin dối trá này để làm người dân Mỹ ủng hộ một cuộc chiến tranh tiêu tốn hàng trăm tỷ USD, cướp đi sinh mạng của hàng trăm ngàn người.

Thông tin đăng tải trên báo chí được chuyển đến rất nhiều người và có thể gây ra những tác động xã hội to lớn. Dù được chọn để trở thành những người đưa thông tin đúng sự thật, nhiều phương tiện truyền thông đã bỏ qua đạo đức nghề nghiệp để trở thành công cụ phục vụ cho những mưu toan chính trị. Sự thật sẽ được phơi bày, nhưng dưới những ngòi bút bị  xuyên tạc, sự thật bị bóp méo, hậu quả khôn lường xảy ra mà không thể kiểm soát mới là điều đáng nói. Hành động chống phá, gây mất ổn định đối với Việt Nam của đài RFA đã diễn ra trong thời gian dài. Tất cả núp dưới chiêu bài thời thượng là “dân chủ – nhân quyền – tôn giáo”…

(Theo báo Nhân Dân)

nguồn: http://treonline.com/mo-lang-dai-rfa.htm

VÌ SAO MỸ IM LẶNG KHI TRUNG QUỐC CHIẾM HOÀNG SA TỪ TAY VNCH

Qua cuốn “Kỷ yếu Hoàng Sa” do UBND huyện Hoàng Sa (Đà Nẵng) và NXB Thông tin – Truyền thông xuất bản tháng 1/2012 và cuốn “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua” (NXB Sự thật, 1979), người ta càng hiểu rõ việc Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa là kết quả của một sự mua bán bẩn thỉu trên lưng nhân dân Việt Nam!

VIỆT NAM TRONG CHÍNH SÁCH ĐÔNG NAM Á CỦA TRUNG QUỐC

Theo sách “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua” (1979), Đông Nam Á là hướng bành trướng cổ truyền trong lịch sử Trung Quốc, là khu vực mà từ lâu một số lãnh đạo cực đoan của nước CHND Trung Hoa ước mơ thôn tính. Ý đồ bành trướng của Trung Quốc đặc biệt lộ rõ ở câu nói của Chủ tịch Mao Trạch Đông trong cuộc hội đàm với đại biểu Đảng Lao động Việt Nam ở Vũ Hán năm 1963: “Tôi sẽ làm chủ tịch 500 triệu bần nông đưa quân xuống Đông Nam Á”!

Cũng trong dịp này, Mao Trạch Đông so sánh nước Thái Lan với tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc về diện tích thì tương đương nhưng về số dân thì tỉnh Tứ Xuyên đông gấp đôi, và nói rằng Trung Quốc cần đưa người xuống Thái Lan để ở. Đối với nước Lào đất rộng, người thưa, Mao Trạch Đông cũng cho rằng Trung Quốc cần đưa người xuống Lào để ở…

Mao Trạch Đông còn khẳng định trong cuộc họp của Bộ Chính trị BCH TƯ ĐCS Trung Quốc, tháng 8/1965: “Chúng ta phải giành cho được Đông Nam Á, bao gồm cả miền Nam Việt Nam, Thái Lan, Miến Điện, Malaysia và Singapore… Một vùng như Đông Nam Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản… xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy… Sau khi giành được Đông Nam Á, chúng ta có thể tăng cường được sức mạnh cua chúng ta ở vùng này, lúc đó chúng ta sẽ có sức mạnh đương đầu với khối Liên Xô – Đông Âu, gió đông sẽ thổi bạt gió tây”.

So với các khu vực khác trên thế giới, Đông Nam Á là khu vực mà Trung Quốc có nhiều điều kiện thuận lợi nhất, có nhiều phương tiện và khả năng nhất để thực hiện chính sách bành trướng và bá quyền nước lớn của mình. Cho nên hàng chục năm qua, những người lãnh đạo CHND Trung Hoa đã dùng nhiều thủ đoạn để thực hiện chính sách bành trướng ở khu vực này, tạo điều kiện cho chiến lược toàn cầu của họ.

“Họ xây dựng lực lượng hạt nhân chiến lược, phát triển lực lượng kinh tế, đe dọa bằng quân sự và hứa hẹn viện trợ về kinh tế để mua chuộc, lôi kéo hoặc gây sức ép với các nước ở khu vực này, hòng làm cho các nước đó phải đi vào quỹ đạo của họ. Họ xâm phạm lãnh thổ và gây ra xung đột biên giới, dùng lực lượng tay sai hoặc trực tiếp đem quân xâm lược, hòng làm suy yếu để dễ bề khuất phục, thôn tính nước này, nước khác trong khu vực. Họ không từ bất kỳ một hành động tàn bạo nào, như họ đã dựng lên tập đoàn Pol pot – Ieng Sary thực hiện chính sách diệt chủng ở Campuchia… để phục vụ cho chính sách bành trướng và bá quyền của họ.” (Sách “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua – 1979).

Cũng theo sách này, Việt Nam có một vị trí chiến lược ở Đông Nam Á. Trong lịch sử, phong kiến Trung Quốc đã nhiều lần xâm lược hòng thôn tính Việt Nam, dùng Việt Nam làm bàn đạp để xâm lược các nước khác ở Đông Nam Á. Khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, những người lãnh đạo Trung Quốc âm mưu nắm Việt Nam để nắm toàn bộ bán đảo Đông Dương, mở đường đi xuống Đông Nam Á.

Trong cuộc gặp gỡ giữa đại biểu 4 ĐCS Việt Nam, Trung Quốc, Indonesia và Lào tại Quảng Đông tháng 9/1963, Thủ tướng Chu Ân Lai nói: “Nước chúng tôi thì lớn nhưng không có đường ra, cho nên rất mong Đảng Lao động Việt Nam mở cho một con đường mới xuống Đông Nam Á”!

Sách “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua” (1979) nêu rõ: “Để làm suy yếu và nắm lấy Việt Nam, họ ra sức phá sự đoàn kết giữa ba nước Đông Dương, chia rẽ ba nước với nhau, đặc biệt là chia rẽ Lào và Campuchia với Việt Nam. Đồng thời họ cố lôi kéo các nước khác ở Đông Nam Á đối lập với Việt Nam, vu khống, bôi xấu, hòng cô lập Việt Nam với các nước trên thế giới”.

TỪ VỊNH BẮC BỘ ĐẾN QUẦN ĐẢO HOÀNG SA

Đề cập đến vấn đề Hoàng Sa và Trường Sa, sách này cũng nhấn mạnh: “Những người cầm quyền Bắc Kinh rêu rao cái gọi là “chủ quyền” của họ đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Đầu năm 1974, với sự đồng tình của Mỹ, họ đánh chiếm quần đảo Hoàng Sa, bộ phận lãnh thổ của Việt Nam, để từng bước kiểm soát biển Đông, khống chế Việt Nam và toàn bộ Đông Nam Á, đồng thời khai thác tài nguyên phong phú ở vùng biển Đông”.

Đặc biệt, sách này cho biết thêm, từ năm 1973, những người cầm quyền Trung Quốc tăng cường hành động khiêu khích và lấn chiếm đất đai ở các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam nhằm làm yếu những cố gắng của nhân dân Việt Nam trong cuộc đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam. Đồng thời họ ngăn cản Việt Nam thăm dò, khai thác tài nguyên thiên nhiên của mình để nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế.

Ngày 26/12/1973, Việt Nam đề nghị mở cuộc đàm phán để xác định chính thức đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc trong vịnh Bắc bộ nhằm sử dụng phần biển thuộc Việt Nam phục vụ công cuộc xây dựng đất nước. Ngày 18/1/1974, phía Trung Quốc trả lời chấp thuận đề nghị nhưng họ đòi không được tiến hành việc thăm dò trong một khu vực rộng 20.000km2 trong vịnh Bắc bộ do họ tự ý định ra. Họ còn đòi “không để một nước thứ ba vào thăm dò vịnh Bắc bộ” vì việc đó “không có lợi cho sự phát triển kinh tế chung của hai nước và an ninh quân sự của hai nước”.

“Đó chỉ là một lý do để che đậy ý đồ đen tối của họ. Cũng vì vậy mà cuộc đàm phán về đường biên giới giữa Việt Nam và Trung Quốc trong vịnh Bắc bộ từ tháng 8 đến tháng 11/1974 đã không đi đến kết quả tích cực nào. Cũng với thái độ trịch thượng nước lớn như vậy, họ làm bế tắc cuộc đàm phán về vấn đề biên giới trên bộ và trong vịnh Bắc bộ bắt đầu từ tháng 10/1977, nhằm mục đích tiếp tục xâm phạm biên giới, lấn chiếm lãnh thổ Việt Nam” (sách đã dẫn).

Đặc biệt, tài liệu này của Bộ Ngoại giao Việt Nam cho hay, chỉ một ngày sau khi nhận đàm phán với phía Việt Nam về vấn đề vịnh Bắc bộ, vào ngày 19/1/1974 phía Trung Quốc đã sử dụng lực lượng hải quân và không quân tiến đánh quân lực Việt Nam Cộng hoà (VNCH) và chiếm quần đảo Hoàng Sa từ lâu vốn là bộ phận lãnh thổ Việt Nam.

“Họ nói là để “tự vệ” nhưng thực chất đó là một hành động xâm lược, một sự xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam để khống chế Việt Nam từ mặt biển và từng bước thực hiện mưu đồ độc chiếm biển Đông. Hành động xâm lược của họ có tính toán từ trước và được sự đồng tình của Mỹ. Vì vậy, khi đó đại sứ Mỹ G. Martin ở Sài Gòn đã bác bỏ yêu cầu cứu viện của chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ở Sài Gòn, và hạm đội Mỹ ở Thái Bình Dương đã được lệnh tránh xa quần đảo Hoàng Sa” (sách đã dẫn).

VÌ SAO CHÍNH QUYỀN NIXON IM LẶNG TRƯỚC BIẾN CỐ HOÀNG SA

Về chi tiết vừa nêu trên, TS Trần Công Trục trong bài “Quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa” đăng trong cuốn “Kỷ yếu Hoàng Sa” (NXB Thông tin và Truyền thông, tháng 1/2012) cũng cho biết thêm:

“Ngày 20/1/1974, lúc 16g, Ngoại trưởng VNCH Vương Văn Bắc đã thông báo tình hình quần đảo Hoàng sa cho Martin, Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài Gòn, và yêu cầu Hoa Kỳ cho biết sẽ dành cho VNCH sự ủng hộ nào về vật chất, chính trị với tư cách là nước thân hữu và đồng minh, cũng như với tư cách là quốc gia đã ký kết và bảo đảm cho Hiệp định Paris ngày 27/1/1973, nhưng không nhận được trả lời của Hoa Kỳ.

Ngày 21/1/1974, Chính quyền VNCH đã gửi Công hàm cho các thành viên ký kết Định ước Paris đề nghị các thành viên lên án và đòi nhà cầm quyền Trung Quốc không được xâm phạm lãnh thổ Việt Nam theo đúng nội dung Điều 1 và Điều 4 của Định ước này.

Ngày 22/1/1974, Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu đã gửi thư cho Tổng thống Hoa Kỳ Richard Nixon về biến cố Hoàng Sa và ngày 28/1/1974 thông báo tới tất cả các quốc gia có quan hệ ngoại giao với VNCH về hành động hiếu chiến của Trung Quốc trong cuộc hành quân xâm lược quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam”.

Vì sao là một nước “thân hữu và đồng minh” với VNCH nhưng Mỹ lại im lặng trước biến cố Hoàng Sa? Sách “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua” (1979) nêu rõ: “Về việc Tổng thống Nixon đi thăm Trung Quốc năm 1972, Chủ tịch Mao Trạch Đông đã nói với những người lãnh đạo Việt Nam tháng 6/1973 như sau: “Thành thực mà nói, nhân dân Trung Quốc, ĐCS Trung Quốc và nhân dân thế giới phải cảm ơn nhân dân Việt Nam đã đánh thắng Mỹ. Các đồng chí chiến thắng mới buộc Nixon phải đi Bắc Kinh”.

Kỳ thực, theo tài liệu của Bộ Ngoại giao Việt Nam, trong chuyến thăm vừa nêu, Trung Quốc đã thoả thuận với chính quyền Nixon một cuộc mua bán bẩn thỉu trên lưng nhân dân Việt Nam, thể hiện trong Thông cáo Thượng Hải. Theo đó, Trung Quốc mưu toan dùng “con bài Việt Nam” để ngoi lên địa vị một cường quốc lớn, bình thường hoá quan hệ Trung – Mỹ và giải quyết vấn đề Đài Loan. Còn chính quyền Nixon có thể cứu vãn và khôi phục địa vị trên thế giới đã bị suy yếu nghiêm trọng do hậu quả của cuộc chiến tranh Việt Nam và bắt đầu thực hiện chiến lược “Việt Nam hoá chiến tranh” nhằm rút được quân Mỹ ra khỏi miền Nam Việt Nam mà vẫn giữ được chính quyền Nguyễn Văn Thiệu.

Do vậy, chính quyền Nixon đã không có bất cứ động thái nào đáp ứng lời cầu cứu của chính quyền VHCN khi quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc xâm lược. Và đây cũng chính là bài học lịch sử về việc chúng ta phải không ngừng nêu cao tinh thần độc lập, tự chủ, tận dụng sự ủng hộ của quốc tế nhưng phải trên cơ sở phát huy tự lực, tự cường chứ không thể chỉ trông chờ, dựa dẫm vào những lực lượng từ bên ngoài để bảo vệ chính nghĩa, bảo vệ chủ quyền quốc gia của chúng ta!

Ngang ngược gây ra tình trạng “việc đã rồi”!

“Trong cuộc hội đàm với những người lãnh đạo Việt Nam năm 1975, Phó Thủ tướng Trung Quốc Đặng Tiểu Bình đã thừa nhận rằng hai bên đều nói các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là của mình, cho nên cần gặp gỡ để bàn bạc giải quyết. Điều đó càng chứng tỏ hành động của phía Trung Quốc xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa là ngang ngược, bất chấp luật pháp quốc tế, gây ra một tình trạng việc đã rồi”

(Sách “Sự thật về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc trong 30 năm qua” – NXB Sự thật, 1979)

NGUỒN: INFONET

Written by: Việt Designer

 

Sau 1 hồi vọc phá, kết quả là có được 2 màu ảnh vintageSau 1 hồi vọc phá, kết quả là có được 2 màu ảnh vintage

Click vào đây để xem ảnh full size chất lượng cao.

Trước tiên mình xin nói thêm về bức ảnh stock mà mình dùng để blend ra màu ảnh vintage này, như các bạn đã thấy thì bức ảnh stock rất đẹp rồi đúng không nào, trông nó màu sắc và rất có sức sống. Tuy nhiên ở cách blend màu mà mình sắp giới thiệu cho các bạn thì sẽ làm cho ảnh stock trở nên cổ điển với tông màu buồn bả hơn, nhưng không có nghĩa là làm xấu đi bức ảnh, chỉ là mang cho nó một tâm trạng mới. Thế nên mỗi 1 màu sẽ có 1 cái hay riêng của nó, tùy vào cảm nhận của mỗi người.’

Okay, không nói dài dòng nữa, ta vào bài tutorial này luôn héng!

Đầu tiên, ta save Stock về để thực hành trước nhé, click vào đây để save về.

Bước 1: mở stock lên, và chuyển nó qua hệ màu Lab Color bằng cách vào Image -> Mode -> Lab Color

Blend màu vintage lãng mạn với hệ màu lab color

Sau khi đã chuyển sang hệ màu Lab, ta bắt đầu chỉnh màu ảnh cho nó, ở đây mình cũng chỉ dùng cácLayer Adjustment để chỉnh màu thôi, ta nhìn sơ qua các Layer Adjustment của hệ màu Lab nhé, nó bị thiếu đi 1 số layer.

Blend màu vintage lãng mạn với hệ màu lab color

Bước 2: thêm 1 layer Curves.

Ở hệ màu Lab, thay vì layer Curves của chúng ta có các hệ như RGB, Red, Green hay Blue thì ở đây ta chỉ có 3 loại đó là Lightness, a và b. Ta lần lượt kéo theo thông số như hình dưới:

Blend màu vintage lãng mạn với hệ màu lab color

Sau khi chỉnh thông số Curves ta có kết quả sau:

Blend màu vintage lãng mạn với hệ màu lab color

Bước 3: thêm layer Gradient Map

Ở đây bạn chỉ việc thêm thôi, và để mặc định dải màu trắng đen của layer Gradient Map này, và chỉnh opacity xuống còn 27%

Blend màu vintage lãng mạn với hệ màu lab color

Bước 4: thêm layer Color Balance, và chỉnh thông số như hình (mình chỉ chỉnh thông số ở Midtones thôi nhé).

Blend màu vintage lãng mạn với hệ màu lab color

Bước 5: thêm layer Hue/Saturation, giảm 1 chút màu xuống.

Blend màu vintage lãng mạn với hệ màu lab color

Bước 6: thêm layer Solid Color, ta fill màu cho nó với thông số là #ac5858, sau đó giảm opacity cho layer này còn 17%

Blend màu vintage lãng mạn với hệ màu lab color

Bước 7: ta lại thêm 1 layer Hue/Saturation để giảm màu nó xuống 1 lần nữa.

Blend màu vintage lãng mạn với hệ màu lab color

Và cuối cùng ta đã có được 1 tone màu Vintage ưng ý rồi đấy.

Tuy nhiên có 1 vài bạn phản ánh rằng màu của hoa bị giảm màu trông ủ rủ quá, nhìn không đẹp cho nên cần phải làm cho những bông hoa này tươi tắn 1 chút. Cái này rất đơn giản, tùy theo sở thích mà bạn có nên cho hoa tươi hay không.

Blend màu vintage lãng mạn với hệ màu lab color

Để làm tươi cho màu hoa, bạn dùng công cụ Sponge tool, đây là công cụ có tính năng tăng hoặc giảm màu sắc, tương tự như khi bạn muốn giảm màu ảnh thì vào Hue/Saturation và giảm thông số Saturation về số âm đấy.

Trước hết bạn nên merge các layer lại thành 1 layer thành phẩm đã, rồi ta mới có thể tăng màu cho hoa, ấn Alt + Ctrl + Shift + E để merge lại. Okay vậy là bây giờ bạn có thể tăng màu cho hoa được rồi đấy.

Ở đây mình set thông số cho Sponge tool như thế này:

Blend màu vintage lãng mạn với hệ màu lab color

Sau đó quệt quệt lên mấy bông hoa 1 chút là nó sẽ tươi tắn được như thế này nè :D

Blend màu vintage lãng mạn với hệ màu lab color

Okay! Coi như là ta đã xong 1 màu, đáng lẽ bà tutorial này sẽ kết thúc tại đây nhưng mà do mình còn muốn táy máy 1 chút cho nên đã thử kéo theo 1 chút màu để xem nó như thế nào, và kết quả là trông khá là tươi tắn và cá tính hơn, cho nên mình sẽ hướng dẫn các bạn kéo thêm 1 chút nữa để ra màu này nhé!

Đầu tiên ta tiếp tục thêm 1 layer Curves nữa, và chỉ chỉnh ở kênh b thôi nha. Lần này mình không cho các bạn thông số cụ thể được, cho nên bạn cứ kéo sao cho giống hoặc tương tự với hình dưới đây là okay.

Blend màu vintage lãng mạn với hệ màu lab color

Cuối cùng ta thêm 1 layer Hue/Saturation, lần này không phải giảm màu ảnh nữa mà là tăng mà ảnh.

Blend màu vintage lãng mạn với hệ màu lab color

Và đây là kết quả sau khi chỉnh thêm 1 chút màu nữa, ta lại thấy 1 màu trông khác biệt liền đúng không nào :x

Blend màu vintage lãng mạn với hệ màu lab color

Bạn có thể download file PSD của tone màu này tại đây để tham khảo thêm.

Màu này mình chưa test trên ảnh có model, ai test rồi cho mình xem thử nha, tuy nhiên mình nghĩ màu này sẽ hợp với ảnh phong cảnh hơn. Hi vọng các bạn sẽ thích màu này!!!!

Ông lão lặng lẽ 10 năm đi bóc, xóa quảng cáo, rao vặt

Lặng lẽ giữa đường phố ồn ào, chiều nào ông Minh cũng tranh thủ lúc đi tập thể dục để bóc những tờ quảng cáo, rao vặt… dán bừa bãi trên bờ tường và cây cột điện để làm đẹp phố phường.

 

Ngày nào cũng vậy, cứ vào khoảng 5h chiều, người ta lại bắt gặp hình ảnh một ông lão tóc đã bạc trắng mặc bộ quần áo cũ kỹ, đội chiếc mũ đã bạc màu đi bộ dọc trên con đường Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội để bóc những tờ giấy quảng cáo, rao vặt dán bừa bãi trên các mảng tưởng, nơi chờ xe bus và cây cột điện.

Ông là Nguyễn Văn Minh (SN 1943, ở khu tập thể bóng điện Rạng Đông, Thanh Xuân, Hà Nội), một người dân Hà Nội gốc, đã từng tham gia phục vụ trong quân đội. Trò chuyện với ông lão tốt bụng, tôi được ông Minh tâm sự rằng, mỗi chiều, tranh thủ lúc đi bộ tập thể dục từ nhà ra tới gần Ngã Tư Sở (Hà Nội) ông thường đi dọc theo vỉa hè để bóc những tờ quảng cáo được dán lem nhem khắp nơi. Bất kể ngày nắng hay ngày mưa, ông đều giữ cái thói quen làm đẹp phố phường này.

Mỗi chiều đi tập thể dục, ông Minh đều bóc những tờ giấy quảng cáo, rao vặt dán bừa trên những cây cột điện, mảng tường, điểm chờ xe bus…

Dụng cụ của ông Minh cũng không có gì ngoài hai bàn tay cùng một con dao dọc giấy nhỏ để cạo sạch những miếng giấy bị keo dán chặt sau đó cho vào các thùng rác. Nói về việc làm của mình, ông Minh cười: “Mình là lính cụ Hồ thì học tập và làm việc theo tấm gương Bác Hồ chú ạ. Người ta cứ dán giấy lung tung thế này bừa bãi lắm, dù không bóc được hết tất cả những tờ “giấy tặc” kia nhưng làm được đến đâu hay đến đó để giúp phố phường thêm một chút sạch đẹp”.

Cứ thế, tính đến nay, ông Minh đã tiến hành công việc âm thầm của mình được 10 năm, có nhiều bạn trẻ thấy ông lão làm công việc thiện nguyện, cũng đã tham gia bóc giấy dán quảng cáo để làm sạch cảnh quan đường phố.

Dụng cụ của ông mang theo là một chiếc dao dọc giấy nhỏ

Thành đoàn Hà Nội đã rất nhiều lần tổ chức ra quân làm sạch Thủ đô, bóc, xóa các tờ rơi quảng cáo, rao vặt trái phép. Tuy nhiên, chỉ sau vài ngày những tờ rơi quảng cáo lại mọc lên nhan nhản. Khắp các bờ tường, ngõ ngách vẫn đang bị bao vây bởi hệ thống quảng cáo, rao vặt “siêu ngắn, siêu rẻ” của vô số công ty, doanh nghiệp như: Khoan cắt bê tông, rút hầm cầu, trung tâm gia sư, tuyển dụng, mua bán nhà đất…

Ai cấm mặc ai, những “quảng cáo tặc” vẫn vô tư dán, khiến người dân bức xúc, mỹ quan của thành phố ngày một nham nhở…Vấn đề cần làm để chấm dứt tình trạng trên chủ yếu cần nâng cao ý thức chung của người dân. Nếu như mỗi người đều có tinh thần vì cộng đồng như ông lão Nguyễn Văn Minh, hẳn đường phố Hà Nội đã được đẹp hơn biết bao nhiêu.

KINH VÂN

Theo Infonet.vn