Tag Archive: luận


Một luận điệu thường gặp của các phần tử phản động là cộng sản Việt Nam dâng Ải Nam Quan và thác Bản Giốc cho TQ. Luận điệu này đã lừa phỉnh được khối người nhẹ dạ cả tin và lười tìm hiểu. Sau đây, HNNGBPĐ xin cung cấp đến các mem những thông tin để phản bác điều đó.

Thác Bản Giốc

1/ Ải Nam quan và thác Bản Giốc là 2 trở ngại cuối cùng trong việc đàm phán với TQ

Trả lời câu hỏi của phóng viên báo Vnexpress, nguyên thứ trưởng ngoại giao Vũ Dũng đã nói:

Trong cuộc đàm phán cuối cùng (28-31/12), vấn đề mấu chốt còn lại giữa hai bên là gì?Trong những ngày đàm phán cuối cùng, hai bên tập trung bàn thảo hai khu vực còn tồn tại, đó là khu vực thác Bản Giốc (Cao Bằng) và cửa sông Bắc Luân (Quảng Ninh). Đây là hai khu vực nhạy cảm, chưa được phân định rõ ràng.Trong những ngày đàm phán cuối cùng, hai bên tập trung bàn thảo hai khu vực còn tồn tại, đó là khu vực thác Bản Giốc (Cao Bằng) và cửa sông Bắc Luân (Quảng Ninh). Đây là hai khu vực nhạy cảm, chưa được phân định rõ ràng.
Khi ký hiệp ước năm 1999, các khu vực khác đều vẽ được đường biên giới chung, riêng hai khu vực này chỉ vẽ được đường chủ trương của hai bên, có nghĩa có hai đường chủ trương của Việt Nam và Trung Quốc. Do đó, đây là hai khu vực khó khăn nhất và được giải quyết vào phiên cuối cùng giữa hai Trưởng đoàn đàm phán.

http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2009/01/3ba0a080/
Ngoài ra còn có ý kiến của nguyên thứ trưởng ngoại giao Lê Công Phụng

Hai khu vực này thuộc các khu vực phức tạp, nhạy cảm nhất trong quan hệ biên giới giữa hai nước. Trên thực tế, tại hai khu vực này đã từng xẩy ra tranh chấp phức tạp và kéo dài trong nhiều năm. Các văn bản pháp lý về hoạch định và phân giới cắm mốc giữa chính quyền Pháp và Nhà Thanh cũng có những điểm quy định không rõ ràng. Đường biên giới được vẽ trên bản đồ tỷ lệ lớn (1/100.000), địa hình ở khu vực Hữu Nghị Quan được vẽ tổng hợp, không phù hợp với địa hình tự nhiên trên thực địa, nên rất khó xác định hướng đi của đường biên giới. Những hạn chế về cơ sở pháp lý và điều kiện tự nhiên đó đã dẫn đến hai bên có nhận thức khác nhau về hướng đi của đường biên giới ở hai khu vực này.

2./ Vấn đề Thác Bản Giốc được giải quyết theo tập quán quốc tế
Khu vực thác Bản Giốc là một trong số các khu vực đường biên giới đi theo sông, suối. Do đó, cũng như ở các khu vực sông, suối khác đường biên giới ở khu vực này được giải quyết theo tập quán quốc tế là theo trung tuyến dòng chảy chính; việc xác định trung tuyến dòng chảy chính ở thác Bản Giốc sẽ do hai bên cùng đo đạc xác định trong quá trình phân giới, cắm mốc và dòng chảy chính vẫn ở trên thác. Như vậy, hòan toàn không có việc ta mất thác Bản Giốc mà chỉ là việc xác định hu’ớng đi của đường biên giới phù hợp với nguyên tắc xác định hu’ớng đi của đu’ờng biên giới trên sông, suối đã được hai bên thỏa thuận, phù hợp với tập quán quốc tế.

Tuyệt tác của thiên nhiên – Việt Nam

Tại thác Bản Giốc, hai bên đã thống nhất đường biên giới đi từ mốc 53 cũ (do Pháp – Thanh xây dựng). Thác Bản Giốc có hai phần, phần hoàn toàn về phía Việt Nam gọi là thác cao. Thác cao nhưng lại là thác phụ vì lượng nước không lớn. Thác thấp là thác chính sẽ chia đôi, mỗi bên được một nửa. Đương nhiên chỗ đó không cắm mốc, chỉ để nhận biết và quản lý.
Thỏa thuận thứ hai đạt được ở thác Bản Giốc là hai bên không xây dựng các công trình nhân tạo trong phạm vi hẹp khu vực thác để giữ nguyên cảnh quan, vì đây là một thác đẹp thác có thể khai thác du lịch.
Thỏa thuận thứ ba là hai bên sẽ cùng nhau nghiên cứu và hợp tác phát triển du lịch khu vực thác Bản Giốc. Nếu chúng ta hợp tác, phát triển khu du lịch có thể thu hút khách nội địa, khách Trung Quốc và các nước khác.
Hai bên còn hai cột mốc nữa ở thác Bản Giốc chưa cắm, đó là cột mốc trên thượng lưu ở mốc 53 mà tôi vừa đề cập và cột mốc ở ngay dưới chân thác. Hy vọng ngày 2/1 sẽ cắm cột mốc này.
Về vấn đề cửa sông Bắc Luân, hai bên đã đạt được thỏa thuận tạo được đường biên giới từ thượng lưu cho đến hạ lưu và đi ra điểm đầu của đường phân định Vịnh Bắc bộ.

Thác Bản Giốc – Việt Nam

3. Ải Nam Quan ở phía Nam đường biên giới theo công ước Pháp – Thanh

Nói Ải Nam Quan phải nhắc tới Pháp – Thanh.

Khu vực Hữu Nghị Quan có liên quan đến đoạn biên giới đi qua đ¬ờng bộ nối liền hai n¬u’ớc và đi qua tuyến đ¬ờng sắt. Đối với đoạn đ¬ờng bộ thì Biên bản hoạch định Pháp – Thanh năm 1886 quy định rằng đ¬u’ờng biên giới “nằm ở phía Nam ải Nam Quan, trên con đ¬ờng từ Nam Quan đến làng Đồng Đăng”. Khi phân giới, hai bên đã cắm mốc số 18 để xác định
đường biên giới và vị trí của mốc này cũng được mô tả là nằm trên đường từ Nam Quan đến Đồng Đăng (mốc này đã bị mất); còn trên bản đồ cắm mốc Pháp – Thanh năm 1894 thì địa danh Nam Quan nằm ở phía Bắc đường biên giới. Như’ vậy, đư’ờng biên giới luôn luôn ở phía Nam của Nam Quan, chứ không phải đi qua địa danh đó. Đối với đoạn đường sắt, phía Trung Quốc cho rằng đường biên giới đi qua điểm nối ray, nhưng qua đàm phán hai bên đã đi đến giải pháp là đường biên giới nằm ở phía Bắc điểm nối ray 148m, chứ không phải ở điểm nối ray như ý kiến của Trung Quốc.

4. Tại sao lại chọn công ước Pháp – Thanh 1887 và 1895 lại được chọn như là một tiêu chuẩn để giải quyết các tranh chấp
Trong số các nguyên tắc giữa 2 bên thì nguyên tắc số 1 là
Một là, hai bên lấy các Công ước Pháp – Thanh năm 1887, 1895 cùng các văn kiện, bản đồ hoạch định và cắm mốc biên giới kèm theo, cũng như các mốc giới cắm theo quy định để xác định lại đu’ờng biên giới trên đất liền. Đây là nguyên tắc cơ bản và quan trọng.

Tại sao vậy ?
Theo hòa ước Giáp Thân 1884 được kí kết giữa triều đình nhà Nguyễn và Pháp , có điều khoản nhà Nguyễn công nhận sự bảo hộ của Pháp ở Việt Nam. Tháng 9/1884 tới tháng 6/1885, Pháp và Thanh đánh nhau để tranh giành ảnh hưởng đối với VN.
Năm 1887, Công ước Pháp-Thanh được kí kết nhằm phân chia lại đường biên giới giữa Bắc Kỳ và Trung Quốc.
Rõ ràng nếu như Ải Nam Quan có từng thuộc về Việt Nam thì nhà Nguyễn phải chịu trách nhiệm đã làm mất nó vì đã nhu nhược , bán nước cho Pháp, chấp nhận sống dưới trướng bảo hộ, để Pháp và TQ thỏa thuận về chủ quyền dân tộc.

5/ Ý nghĩa của việc giải quyết cắm mốc biên giới trên đất liền với TQ.
Cắm mốc biên giới để xác định chủ quyền trên đất liền là một vấn đề quan trọng đối với bất cứ quốc gia nào. Nói một cách dễ hiểu, cũng tương tự như việc xây một cái hàng rào để xác định khuôn viên của một hộ dân cư được qui định trong số đỏ.
Trong số các nước láng giềng TQ, có những nước vẫn chưa hoàn thành xong cắm mốc hoặc là hoàn thành trễ và đã trở thành nạn nhân để TQ lấn chiếm đất như Ấn Độ, Nga, Kazakhstan và Triều Tiên.

Việc hoàn thành cắm mốc biên giới giữa VN và TQ là một thành tựu quan trọng, cho thấy sự khôn khéo của Việt Nam trong vấn đề chủ quyền.
Nguồn
http://vnexpress.net/gl/xa-hoi/2009/01/3ba0a080/
http://viet.vietnamembassy.us/tintuc/story.php?d=20020916234331

Title do kenminhthien.net đặt lại. Title gốc: ĐẬP TAN LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC VỀ ẢI NAM QUAN – THÁC BẢN GIỐC.

Lợi dụng tự do ngôn luận để chống phá là không thể chấp nhận

(VOV) -Hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận để vi phạm pháp luật, không chỉ Việt Nam mà bất kỳ quốc gia nào cũng không thể chấp nhận.
Gần đây, một số cơ quan, tổ chức nước ngoài đua nhau lên án việc Việt Nam xét xử 3 blogger Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần với luận điệu rằng bản án này “quá nặng” và “không nhất quán” với một số thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam tham gia.
Đây là những cáo buộc không chính xác khi mà quyền tự do ngôn luận được ba blogger này lợi dụng nhằm chống phá nhà nước Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Trước hết phải khẳng định rằng, quyền tự do ngôn luận được pháp luật Việt Nam công nhận và được ghi tại Điều 69 của Hiếp pháp.
Trên thực tế, quyền này được đảm bảo và thực thi ở Việt Nam. Nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế và nhân dân trên thế giới ghi nhận và đánh giá cao thành tựu của Việt Nam trong việc thực hiện quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí. Chính vì vậy, những cáo buộc về việc Việt Nam không đảm bảo quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, đặc biệt là trong vụ xét xử 3 blogger là không có căn cứ.
Điều 19 Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền khẳng định: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm… và bày tỏ qua mọi phương tiện truyền thông”.
Tuy nhiên, cũng trong chính văn bản này, tại Điều 29 cũng khẳng định rõ rằng “trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người phải chịu những hạn chế do luật định… nhằm thỏa mãn… những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng và nền an sinh chung”.
Như vậy rõ ràng, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là bị giới hạn bởi các quy định của luật pháp.
Đối chiếu vào trường hợp ba blogger Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần thì rõ ràng là ba đối tượng này đã lợi dụng quyền tự do ngôn luận, chính sách phát triển công nghệ thông tin và việc tạo điều kiện để người dân được bày tỏ quan điểm cũng như tiếp cận thông tin một cách đa dạng của nhà nước Việt Nam.
Ba blogger này còn thể hiện rõ sự thiếu thiện chí trước chính sách tích cực và cởi mở của Nhà nước.
Mới đây, phản ứng trước bộ phim của một người Mỹ nhạo báng Đạo Hồi, Tổng thư ký LHQ Ban Ki moon đã chỉ rõ rằng: Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí chỉ được bảo vệ khi nó được dùng vào các mục đích công lý và phục vụ cộng đồng. Còn các bằng chứng về hành vi của ba blogger này đã cho thấy họ đã xuyên tạc, châm biếm nhằm chống lại các cá nhân và cơ quan, tổ chức của Việt Nam. Do đó, các hành vi này đáng bị lên án.
Hàng trăm trang tài liệu có nội dung tuyên truyền chống nhà nước Việt Nam đã được ba đối tượng này phát tán trên mạng.
Hành vi này rõ ràng là đã vi phạm pháp luật của Việt Nam mà cụ thể là Điều 88 của Bộ Luật hình sự.
Trên cơ sở đó, việc đưa ba blogger này ra xét xử là hoàn toàn dựa trên căn cứ của pháp luật. Quá trình điều tra, xét xử ba blogger này cũng được thực hiện đúng theo trình tự, thủ tục của pháp luật Việt Nam. Vì thế việc cho rằng bản án “quá nặng” là cáo buộc không có cơ sở, không dựa trên căn cứ pháp luật.
Cũng giống nhiều quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam công nhận và đảm bảo việc thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Những hành vi lợi dụng các quyền này mà vi phạm pháp luật thì không chỉ Việt Nam mà bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều không thể chấp nhận.
Điều 18 Hiến pháp CHLB Đức ghi rõ: “Ai lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, đặc biệt là tự do báo chí, tự do tuyên truyền… làm công cụ chống lại trật tự của xã hội tự do dân chủ sẽ bị tước bỏ quyền công dân”.
Chính vì vậy, việc Việt Nam xét xử 3 blogger Nguyễn Văn Hải, Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần là hoàn toàn phù hợp với pháp luật Việt Nam, tập quán cũng như các quy định quốc tế.
Việc phản đối vụ xét xử này là sự cố tình can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam, can thiệp vào quá trình tư pháp vốn dĩ cần phải được tôn trọng và tiến hành một cách độc lập. Vì thế, các hành động này không được hoan nghênh./.

Theo Việt Nga/VOV1/http://vov.vn/Binh-luan/Loi-dung-tu-do-ngon-luan-de-chong-pha-la-khong-the-chap-nhan/228536.vov

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – Kỳ 8: Đi đến luận cứ chắc chắn

09/08/2011 22:09

Trên cơ sở các ghi chép và bản đồ cổ của VN, có những nhận xét sau:

>> Kỳ 7: Tư liệu phía Việt Nam

1. Ngay từ thời chúa Nguyễn, người VN đã có hiểu biết khá tường tận về sự hiện diện của các đảo này. Mô tả các đảo chi tiết hơn, chính xác hơn sự mô tả của phía TQ.

2. Các dấu hiệu của việc phát hiện và sự khẳng định chiếm hữu trên các đảo đã được ghi nhận với quyết định của các chúa Nguyễn cử đội thuyền tới đó hằng năm trong nhiều tháng.

Vấn đề đặt ra là các hoạt động mang tính nhà nước này đã diễn ra chính xác tại đâu? Đối với người VN đây là các hành động nhằm khẳng định danh nghĩa chiếm hữu trên các đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Ngược lại phía TQ lại cho rằng: quần đảo Hoàng Sa mà VN nói hoàn toàn không phải là quần đảo Tây Sa của TQ mà chỉ có thể là những đảo và cồn cát ở ven biển miền Trung VN” ([1]) với hai lập luận.

 
Bản đồ Việt Nam thời Nguyễn vẽ khoảng năm 1838, đã vẽ “Hoàng Sa”, “Vạn lý Trường Sa” thuộc lãnh thổ Việt Nam, phía ngoài các đảo ven bờ miền Trung Việt Nam. (biengioilanhtho.gov.vn)
 
Hồng Đức bản đồ (1774) vẽ rõ địa thế xứ Đàng Trong cuối thế kỷ 18, từ Đồng Hới đến biên giới Cao Miên, do Đoàn Quận công Bùi Thế Đạt vẽ dâng lên Chúa Trịnh năm 1774 để phục vụ chiến dịch Nam tiến năm 1775. Trên bản đồ, Bãi Cát Vàng được vẽ ở ngoài khơi phủ Quảng Ngãi  – Ảnh: Tư liệu

Thứ nhất, Hồng Đức Bản Đồ ghi rằng từ bờ biển VN tới Hoàng Sa phải mất một ngày rưỡi; thế nhưng với kỹ thuật hàng hải lúc đó, “đi thuyền buồm nửa ngày hoặc một ngày rưỡi thì hoàn toàn không thể đến”. Thứ hai, Phủ biên tạp lục ghi Hoàng Sa gồm hơn một trăm ba mươi núi, trong khi Tây Sa “địa thế thấp, bằng phẳng” và chỉ có “ba mươi nhăm đảo, đá ngầm và bãi cát”; và cũng theo Phủ biên tạp lục “Bãi Cát Vàng ước chừng ba mươi dặm, trong khi chiều dài của đảo Vĩnh Hưng, đảo lớn nhất trong quần đảo Tây Sa của TQ cũng không tới 2 km, diện tích cũng chỉ có 1,85 km2”. ([2])

Phía VN đáp trả rằng trên tất cả các bản đồ cổ đều phân biệt rõ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa với các đảo ven bờ VN. Người TQ cố tình không tham khảo các sách sử chính thức của VN như Đại Nam nhất thống chí (1865 – 1882), Lịch triều hiến chương loại chí (1821), Việt sử cương giám khảo lược (1876) đều nói tới khoảng cách từ 3 đến 4 ngày đi biển.

Trong Đại Nam nhất thống chí (1882), có đoạn viết:

“Đảo Hoàng Sa ở phía đông Cù Lao Ré, huyện Bình Sơn. Từ bờ biển Sa Kỳ ra khơi thuận gió, ba bốn ngày đêm có thể đến. Ở đó có đến hơn một trăm ba mươi đảo nhỏ, cách nhau khoảng một ngày đường hoặc vài trống canh. Trong đảo có bãi cát vàng, liên tiếp kéo dài không biết mấy ngàn dặm tục gọi là Vạn Lý Trường Sa”.

Bản đồ biển Đông do Nhà xuất bản Luân Đôn in năm 1791 – A new chart of the China Sea with its several entrances, printed for Robert Sayer, London năm 1791. Bản đồ này có điểm khác biệt là thể hiện quần đảo Paracels nằm trong hình cờ đuôi nheo ghi rõ according to the Draft of Cochinchina Pilot 1764 (vẽ theo dự thảo Hàng hải chỉ nam của xứ An Nam năm 1764). Tài liệu này chứng tỏ trong khi xây dựng các tài liệu hướng dẫn hàng hải, các nhà hàng hải phương Tây đã tham khảo các hiểu biết của chính quyền An Nam và đã thừa nhận quần đảo này thuộc An Nam.
Lúc đầu, người VN khi phát hiện ra Hoàng Sa chỉ biết đó là một vùng có rất nhiều đảo, đá, bãi ngầm trải dài mấy ngàn dặm mà không phân biệt được đó là hai quần đảo riêng biệt. Họ gộp chung hai quần đảo dưới cùng một tên gọi Đại Trường Sa – Hoàng Sa – Vạn Lý Trường Sa. Sau này, dưới triều Nguyễn, để chính xác hơn, mỗi quần đảo có một tên gọi riêng: Paracels được giữ tên Hoàng Sa còn Spratlys là Vạn Lý Trường Sa, và sau gọi ngắn gọn là Trường Sa ([3]).Trong tấm bản đồ Đại Nam nhất thống toàn đồ (1838) mỗi quần đảo đều có tên riêng: Vạn Lý Trường Sa và Hoàng Sa. Tuy nhiên, chúng vẫn còn được coi là một; trên bản đồ, cả hai quần đảo đều được khoanh lại trong một vòng tròn vẽ đứt đoạn. Về mặt quản lý hành chính, Hoàng Sa là đội kiêm quản đội Bắc Hải, có nhiệm vụ khai thác các đảo ở phía nam và trong khu vực Côn Đảo. Địa danh và khu vực hoạt động của đội Bắc Hải phù hợp với khu vực Trường Sa. Ngày nay, số các đảo, đá, bãi nổi của cả hai quần đảo hợp lại đều cho con số khoảng một trăm ba mươi tùy theo cách tính.

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Sách trắng Bộ Ngoại giao Cộng hòa nhân dân Trung Hoa năm 1980, tr.11. Hàn Chấn Hoa, “Các đảo Paracels nói trong các sách phương Tây không phải là quần đảo Tây Sa của nước ta”, Quang Minh nhật báo, Bắc Kinh, ngày 5 tháng 4 năm 1980.

[2] Hàn Chấn Hoa. Sđd.

[5] Lãng Hồ, “Hoàng Sa và Trường Sa, lãnh thổ Việt Nam”, Tập đặc san Sử Địa, số 29, Sài Gòn, 1975, tr.73

>> Kỳ 9: Tư liệu khách quan thừa nhận chủ quyền Việt Nam

Luật quốc tế và chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa – Kỳ 6: Những luận cứ chủ quyền không vững chắc

– Sự kiện  thứ ba: Ngô Thăng, phó tướng thủy sư Quảng Đông đã thực hiện việc  tuần biển vào khoảng các năm 49 và 51 đời nhà Thanh (1710 – 1712). “Tự Quỳnh Thôi, lịch Đồng Cổ, kinh Thất Châu Dương, Tứ Canh Sa, Châu Tào tam  thiên  lý, Cung  tự tuần thị (từ Quỳnh Nhai, qua Đồng Cổ, qua Thất Châu Dương, Tứ Canh  Sa,  vòng  quanh  ba  ngàn  dặm,  đích thân đi tuần tra xem xét). Gọi Thất Châu Dương ở đây tức quần đảo Tây Sa ngày nay, lúc bấy giờ do hải quân Quảng Đông phụ trách đi tuần”.

>> Kỳ 5: Độ chênh của lịch sử trong Sách trắng Trung Quốc

Việc nghiên cứu nghiêm túc lại cho ta một sự  thật khác hẳn. Những địa danh nêu trong đoạn trích trên đều nằm xung quanh  đảo Hải Nam, theo các tác giả VN ([1]) :

–  Quỳnh Nhai, tức “Đạo binh bị Quỳnh  Nhai” (Đảo Hải Nam) đời Thanh, sở tại Quỳnh Sơn gần thị trấn Hải Khấu ngày nay, phía bắc đảo Hải Nam.

– Đồng Cổ ở mỏm đông bắc đảo Hải Nam

– Thất Châu Dương  là vùng biển có bảy hòn đảo gọi là Thất Châu nằm ở phía đông đảo Hải Nam.

– Tứ Canh Sa là bãi cát ở phía tây đảo Hải Nam.


Các chuyến đi của Trịnh Hòa (1405-1443) không được Sách trắng của Bộ Ngoại giao TQ nhắc đến – Ảnh tư liệu

Các địa danh  trên đều được  tìm  thấy trên các hải đồ TQ. Trong hải đồ N 5012 tỷ lệ 1/500.000 do hải quân TQ  xuất bản bằng tiếng TQ  và  tiếng VN  tháng  5.1956  có  tiêu đề: “Vùng  phụ  cận  Lôi Châu  và  đảo Hải Nam”,  và các bản đồ “Bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam”, và Nam Hải địa  hình  đo, tỷ  lệ  1/300.000.000 do  Nhà xuất  bản  địa  đồ TQ  xuất  bản  tháng  5.1984,  có  nhóm  đảo có tên Thất Châu Đảo và vùng biển  xung  quanh các đảo nhỏ đó ở phía đông nam của  đảo  Hải  Nam  được  gọi  tên  đúng  là Thất  Châu Dương. Rõ ràng tên này không được dùng để chỉ toàn bộ biển phía Nam Trung Hoa. Ngoài  ra, trong cuốn Quảng  Đông  dư  địa  đồ thuyết in năm  1909, Lý Hàn  Chung đã nói về các cuộc tuần biển của hải quân Quảng Đông như sau:

“Biên giới  trên biển ngày nay  lấy phía Nam đảo Hải  Nam  làm  giới  hạn,  bên  ngoài  là  Thất  Châu Dương, Đô  đốc  thuỷ  quân Quảng Đông  đi  tuần  đến đó là quay về”.

Ở  đây một  lần  nữa,  chúng  ta  không  thấy  bất  kỳ một ghi chép chính xác nào về các đảo Paracel dưới tên gọi Tây Sa.

Hơn  nữa,  các  hành  vi  quản  lý  mà  TQ viện dẫn, nếu đúng, chỉ  liên quan tới các đảo Tây Sa mà  không  nhắc  gì  đến  các  đảo  Nam  Sa.  Đối  với Spratly, TQ chỉ nêu ra được  sự kiện  năm 1883  khi  tàu  nghiên  cứu  của  Đức  tiến  hành các nghiên cứu  khoa  học  tại  quần  đảo  Nam  Sa,  chính quyền Quảng Đông đã phản  đối  (theo  Heinzig,  sự kiện này  liên quan Tây Sa hơn là tới Nam Sa). Việc phía TQ thiếu một  danh  nghĩa  chiếm hữu của Nhà nước được xác lập một cách vững chắc và từ lâu đời làm cho việc phản đối ngoại giao dựa trên cơ sở quyền thụ  đắc  theo  thời  hiệu  để  ngăn chặn một hành động như vậy không  còn  giá  trị. Đúng  hơn  nó chỉ được coi như một  tham vọng chủ quyền mà thôi.

Để chứng minh cho lập luận của họ, các tác giả TQ  viện dẫn tới cả các chuyến đi của Thái giám Trịnh  Hòa  trong thời gian từ 1405 đến 1433 qua các đảo này. Tuy nhiên các chuyến đi này không được Sách trắng của Bộ Ngoại giao TQ nhắc đến. Các chuyến đi của Trịnh Hòa tới Java, Ấn Độ và bờ biển Phi châu chỉ có giá trị tạo uy danh cho triều Minh ([2]) và Trịnh Hòa cũng không đưa ra một yêu sách  tạo lập danh nghĩa chiếm hữu  các đảo nào thay mặt thiên triều TQ. ([3])

Các thí dụ kể trên chỉ  tạo  ra sự nhận biết về các đảo, đúng hơn là một số đảo. Nếu các đảo trong biển Đông được các thủy thủ và ngư dân TQ biết tới là điều không phải bàn cãi thì việc khẳng định chủ quyền  TQ trên  các  quần  đảo  này  thật  khó thuyết  phục.  Trong  các  sách  và  văn  kiện do TQ trích dẫn, không có một ghi chép nào về quyền phát hiện hoặc sự củng cố một danh nghĩa chiếm hữu các  đảo  này, và về  thực chất không  thể hiện ý định thực  thi chủ quyền tại đó của họ.

Các  sự kiện kể  trên diễn  ra với khoảng thời gian cách quãng  200-500  năm. Điều  đó  rõ  ràng  làm yếu thêm lập luận của TQ, theo đó các Hoàng đế Trung Hoa đã quản  lý các đảo này  từ hai nghìn năm nay một cách liên tục và không ngắt quãng.

Để chứng minh chủ quyền, cần phải cung cấp các bằng  chứng  liên  quan  trực  tiếp  tới  việc  chiếm  hữu. D.L Bennett, luật gia Mỹ, nhận xét:

“Nếu các đảo hoặc không được quản lý bởi một chính phủ hoặc không được thăm viếng bởi các nhân viên nhà nước, vấn đề đặt ra  là liệu những cuộc tiếp xúc riêng rẽ bởi các ngư dân tư nhân TQ có đủ  để  thiết  lập  chủ  quyền trên  Spratly  theo  luật quốc  tế  không. Vì  vậy  giá  trị  của  lập  trường  chính thức của TQ là đáng nghi ngại”. ([4])

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Vũ Phi Hoàng, Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lãnh thổ Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr. 88;  Nguyễn Quang Ngọc, Sđd.

[2] BBC, ngày 27 tháng 11 năm 2008

[3] Năm 2005 Trung Quốc tuyên  truyền nhiều về Trịnh Hòa, tổ chức thi  “Nhịp cầu Hán ngữ” kỷ niệm các chuyến đi  của ông, gọi ông  là nhà hàng hải  vĩ  đại ngang  tầm Colombo  nhằm mục đích  gắn chuyến  đi  của Trịnh Hòa với quyền phát hiện. 

[4] D.L Benne, “Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và việc sử dụng luật pháp quốc  tế  trong  vụ  tranh  chấp  các  đảo  Spratleys”,  Stanford  Journal  of International Law, quyển 28 (1991-1992), tr. 435.

>> Kỳ 7: Tư liệu phía Việt Nam

Kỳ 6: Những luận cứ chủ quyền không vững chắc

07/08/2011 22:50

– Sự kiện  thứ ba: Ngô Thăng, phó tướng thủy sư Quảng Đông đã thực hiện việc  tuần biển vào khoảng các năm 49 và 51 đời nhà Thanh (1710 – 1712). “Tự Quỳnh Thôi, lịch Đồng Cổ, kinh Thất Châu Dương, Tứ Canh Sa, Châu Tào tam  thiên  lý, Cung  tự tuần thị (từ Quỳnh Nhai, qua Đồng Cổ, qua Thất Châu Dương, Tứ Canh  Sa,  vòng  quanh  ba  ngàn  dặm,  đích thân đi tuần tra xem xét). Gọi Thất Châu Dương ở đây tức quần đảo Tây Sa ngày nay, lúc bấy giờ do hải quân Quảng Đông phụ trách đi tuần”.

>> Kỳ 5: Độ chênh của lịch sử trong Sách trắng Trung Quốc

Việc nghiên cứu nghiêm túc lại cho ta một sự  thật khác hẳn. Những địa danh nêu trong đoạn trích trên đều nằm xung quanh  đảo Hải Nam, theo các tác giả VN ([1]) :

–  Quỳnh Nhai, tức “Đạo binh bị Quỳnh  Nhai” (Đảo Hải Nam) đời Thanh, sở tại Quỳnh Sơn gần thị trấn Hải Khấu ngày nay, phía bắc đảo Hải Nam.

– Đồng Cổ ở mỏm đông bắc đảo Hải Nam

– Thất Châu Dương  là vùng biển có bảy hòn đảo gọi là Thất Châu nằm ở phía đông đảo Hải Nam.

– Tứ Canh Sa là bãi cát ở phía tây đảo Hải Nam.


Các chuyến đi của Trịnh Hòa (1405-1443) không được Sách trắng của Bộ Ngoại giao TQ nhắc đến – Ảnh tư liệu

Các địa danh  trên đều được  tìm  thấy trên các hải đồ TQ. Trong hải đồ N 5012 tỷ lệ 1/500.000 do hải quân TQ  xuất bản bằng tiếng TQ  và  tiếng VN  tháng  5.1956  có  tiêu đề: “Vùng  phụ  cận  Lôi Châu  và  đảo Hải Nam”,  và các bản đồ “Bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam”, và Nam Hải địa  hình  đo, tỷ  lệ  1/300.000.000 do  Nhà xuất  bản  địa  đồ TQ  xuất  bản  tháng  5.1984,  có  nhóm  đảo có tên Thất Châu Đảo và vùng biển  xung  quanh các đảo nhỏ đó ở phía đông nam của  đảo  Hải  Nam  được  gọi  tên  đúng  là Thất  Châu Dương. Rõ ràng tên này không được dùng để chỉ toàn bộ biển phía Nam Trung Hoa. Ngoài  ra, trong cuốn Quảng  Đông  dư  địa  đồ thuyết in năm  1909, Lý Hàn  Chung đã nói về các cuộc tuần biển của hải quân Quảng Đông như sau:

“Biên giới  trên biển ngày nay  lấy phía Nam đảo Hải  Nam  làm  giới  hạn,  bên  ngoài  là  Thất  Châu Dương, Đô  đốc  thuỷ  quân Quảng Đông  đi  tuần  đến đó là quay về”.

Ở  đây một  lần  nữa,  chúng  ta  không  thấy  bất  kỳ một ghi chép chính xác nào về các đảo Paracel dưới tên gọi Tây Sa.

Hơn  nữa,  các  hành  vi  quản  lý  mà  TQ viện dẫn, nếu đúng, chỉ  liên quan tới các đảo Tây Sa mà  không  nhắc  gì  đến  các  đảo  Nam  Sa.  Đối  với Spratly, TQ chỉ nêu ra được  sự kiện  năm 1883  khi  tàu  nghiên  cứu  của  Đức  tiến  hành các nghiên cứu  khoa  học  tại  quần  đảo  Nam  Sa,  chính quyền Quảng Đông đã phản  đối  (theo  Heinzig,  sự kiện này  liên quan Tây Sa hơn là tới Nam Sa). Việc phía TQ thiếu một  danh  nghĩa  chiếm hữu của Nhà nước được xác lập một cách vững chắc và từ lâu đời làm cho việc phản đối ngoại giao dựa trên cơ sở quyền thụ  đắc  theo  thời  hiệu  để  ngăn chặn một hành động như vậy không  còn  giá  trị. Đúng  hơn  nó chỉ được coi như một  tham vọng chủ quyền mà thôi.

Để chứng minh cho lập luận của họ, các tác giả TQ  viện dẫn tới cả các chuyến đi của Thái giám Trịnh  Hòa  trong thời gian từ 1405 đến 1433 qua các đảo này. Tuy nhiên các chuyến đi này không được Sách trắng của Bộ Ngoại giao TQ nhắc đến. Các chuyến đi của Trịnh Hòa tới Java, Ấn Độ và bờ biển Phi châu chỉ có giá trị tạo uy danh cho triều Minh ([2]) và Trịnh Hòa cũng không đưa ra một yêu sách  tạo lập danh nghĩa chiếm hữu  các đảo nào thay mặt thiên triều TQ. ([3])

Các thí dụ kể trên chỉ  tạo  ra sự nhận biết về các đảo, đúng hơn là một số đảo. Nếu các đảo trong biển Đông được các thủy thủ và ngư dân TQ biết tới là điều không phải bàn cãi thì việc khẳng định chủ quyền  TQ trên  các  quần  đảo  này  thật  khó thuyết  phục.  Trong  các  sách  và  văn  kiện do TQ trích dẫn, không có một ghi chép nào về quyền phát hiện hoặc sự củng cố một danh nghĩa chiếm hữu các  đảo  này, và về  thực chất không  thể hiện ý định thực  thi chủ quyền tại đó của họ.

Các  sự kiện kể  trên diễn  ra với khoảng thời gian cách quãng  200-500  năm. Điều  đó  rõ  ràng  làm yếu thêm lập luận của TQ, theo đó các Hoàng đế Trung Hoa đã quản  lý các đảo này  từ hai nghìn năm nay một cách liên tục và không ngắt quãng.

Để chứng minh chủ quyền, cần phải cung cấp các bằng  chứng  liên  quan  trực  tiếp  tới  việc  chiếm  hữu. D.L Bennett, luật gia Mỹ, nhận xét:

“Nếu các đảo hoặc không được quản lý bởi một chính phủ hoặc không được thăm viếng bởi các nhân viên nhà nước, vấn đề đặt ra  là liệu những cuộc tiếp xúc riêng rẽ bởi các ngư dân tư nhân TQ có đủ  để  thiết  lập  chủ  quyền trên  Spratly  theo  luật quốc  tế  không. Vì  vậy  giá  trị  của  lập  trường  chính thức của TQ là đáng nghi ngại”. ([4])

TS Nguyễn Hồng Thao

[1] Vũ Phi Hoàng, Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa lãnh thổ Việt Nam, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, tr. 88;  Nguyễn Quang Ngọc, Sđd.

[2] BBC, ngày 27 tháng 11 năm 2008

[3] Năm 2005 Trung Quốc tuyên  truyền nhiều về Trịnh Hòa, tổ chức thi  “Nhịp cầu Hán ngữ” kỷ niệm các chuyến đi  của ông, gọi ông  là nhà hàng hải  vĩ  đại ngang  tầm Colombo  nhằm mục đích  gắn chuyến  đi  của Trịnh Hòa với quyền phát hiện. 

[4] D.L Benne, “Cộng hòa nhân dân Trung Hoa và việc sử dụng luật pháp quốc  tế  trong  vụ  tranh  chấp  các  đảo  Spratleys”,  Stanford  Journal  of International Law, quyển 28 (1991-1992), tr. 435.

>> Kỳ 7: Tư liệu phía Việt Nam