Tag Archive: luong


Nghi vấn về tham nhũng ngay trong lực lượng chống tham nhũng

Dẫn lại ví dụ vụ Dương Chí Dũng (ảnh) bỏ trốn, bà Nga đồng tình với đề nghị áp dụng biện pháp điều tra bí mật với tội phạm tham nhũng của bộ trưởng Công an Trần Đại Quang.

Có bốn hình thức công bố kết luận thanh tra nhưng thường người ra quyết định thanh tra lại chọn hình thức có phạm vi hẹp nhất, dẫn đến, ngay đại biểu Quốc hội muốn tiếp cận kết luận còn khó nói chi công chúng.

 

Phát biểu trước Quốc hội về công tác phòng chống tội phạm, phó chủ nhiệm uỷ ban Tư pháp Lê Thị Nga nhận định, các vụ án trật tự trị an càng kéo dài, càng mở rộng điều tra thì càng phát hiện nhiều đối tượng, chứng cứ được củng cố chặt chẽ hơn nhưng án tham nhũng thì ngược lại: càng kéo dài thời gian xử lý thì càng thu hẹp đối tượng, tài liệu chứng cứ bị mất, bị thay đổi theo hướng có lợi cho đối tượng phạm tội, sau đó không xử lý được.

Ví dụ tiêu biểu được bà Nga dẫn ra là vụ việc Võ Nhật Duy (công ty cao su Sơn La) bị cáo buộc nhận hối lộ 300 triệu đồng nhưng do sơ suất của điều tra viên nên biên bản phạm tội quả tang không đủ căn cứ pháp lý. Theo bà, đây là điều “không thể chấp nhận được” vì là lỗi sơ đẳng mà ngay đến điều tra viên cấp huyện còn ít mắc phải chứ nói gì đến cơ quan điều tra cấp Trung ương. “Tình trạng này nói lên điều gì, đó là dấu hiệu tham nhũng trong lực lượng chống tham nhũng? Đề nghị bộ trưởng Công an, chánh án Toà án tối cao, viện trưởng Viện Kiểm sát tối cao trả lời”, bà Nga bức xúc.

Dẫn lại ví dụ vụ Dương Chí Dũng bỏ trốn, bà Nga đồng tình với đề nghị áp dụng biện pháp điều tra bí mật với tội phạm tham nhũng của bộ trưởng Công an Trần Đại Quang. Vì theo bà, nếu thủ tục điều tra tiến hành như bình thường thì khả năng đối tượng tham nhũng – vốn có chức quyền – sẽ tận dụng lợi thế đó để xoá dấu vết, tiêu huỷ vật chứng, thậm chí biến mất sau khi bị phát hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên “nếu trao quyền mà thiếu cơ chế kiểm soát thì khả năng lạm dụng có thể xảy ra nên phải xác định nguyên tắc, điều kiện chặt chẽ, đối tượng để áp dụng”, bà Nga lưu ý.

Đối với lực lượng thanh tra, bà Nga cho rằng, để đảm bảo phát huy hiệu quả của thanh tra trong phòng chống tham nhũng và khắc phục việc quá lệ thuộc của ngành thanh tra vào chủ thể quản lý, năm 2010 Quốc hội đã sửa đổi luật Thanh tra theo hướng đảm bảo sự độc lập cần thiết của hoạt động thanh tra, tuy nhiên thực tế nhiều vụ việc thanh tra không tuân thủ nghiêm, như các cuộc thanh tra do Thanh tra Chính phủ thực hiện tại Vinashin và ngân hàng Phát triển. Cụ thể các vi phạm, theo đại biểu này, là thời hạn ra kết luận thanh tra (có vụ vi phạm gấp mười lần thời hạn cho phép); người ra kết luận thanh tra có xu hướng phụ thuộc chủ thể quản lý; trưởng đoàn thanh tra chưa thực hiện trách nhiệm kiến nghị của mình, góp phần dẫn đến người có thẩm quyền thuyên chuyển công tác đối tượng thanh tra (như trong vụ việc ở Vinalines); nội dung kết luận thanh tra không xác định đầy đủ trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có vi phạm dẫn đến trách nhiệm chỉ có lãnh đạo doanh nghiệp chứ không hề thấy trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước.

Soi công thức được quốc tế thừa nhận: (tham nhũng = độc quyền + bưng bít thông tin – trách nhiệm giải trình) vào thực tiễn của Việt Nam trong công khai kết luận thanh tra, bà Nga nói: Có bốn hình thức công bố kết luận thanh tra nhưng thường người ra quyết định thanh tra lại chọn hình thức có phạm vi hẹp nhất, dẫn đến, ngay đại biểu Quốc hội như bà muốn tiếp cận kết luận còn khó nói chi công chúng. “Việc hạn chế công chúng tiếp cận kết luận thanh tra đã ảnh hưởng rất lớn đến công tác chống tham nhũng”, bà Nga bày tỏ. Hay như vai trò của Kiểm toán Nhà nước trong chống tham nhũng, theo bà là chưa được đề cao, địa vị còn nửa vời, bà Nga nói; kiểm toán là công cụ để Quốc hội giám sát Chính phủ nhưng đây không phải là cơ quan của Quốc hội cũng không phải cơ quan của Chính phủ, tổng kiểm toán Quốc hội muốn bầu cũng phải có sự thống nhất của Thủ tướng. Kết luận kiểm toán chưa có giá trị bắt buộc thi hành, chưa bao giờ tổng kiểm toán báo cáo báo tình hình ngân sách hàng năm trước Quốc hội… làm giảm hiệu quả phát hiện tham nhũng, nhất là trong chi ngân sách và đầu tư công.

CHÍ HIẾU (SÀI GÒN TIẾP THỊ)

[http://sgtt.vn/Thoi-su/171891/Tham-nhung-ngay-trong-luc-luong-chong-tham-nhung.html]

Những loài động vật lưỡng cư kỳ lạ nhất

 

Trải qua quá trình tiến hóa, một số loài động vật lưỡng cư đã có những đặc điểm kinh ngạc về hành vi và hình dạng cơ thể. Tạp chí khoa học Anh New Scientist vừa giới thiệu 6 loài động vật lưỡng cư có những đặc điểm kỳ lạ nhất.

1. Ếch cây harlequin

 

Ếch cây harlequin. Ảnh: Chien Lee/Minden Pictures/FLPA

 

Ếch cây harlequin (tên khoa học Rhacophorus pardalis) sống trên cao trong những tán rừng già ở đảo Borneo (Đông Nam Á). Chúng có thể lượn cơ thể như “bay” từ cây này sang cây khác. Trong ảnh là 2 con ếch đực đang “tranh giành” một con cái đang tạo ổ bọt đẻ trứng. Khi trứng nở, nòng nọc sẽ rớt xuống ao ở phía dưới.

2. Ếch thủy tinh có hình mắt lưới

 

Ếch thủy tinh có hình mắt lưới. Ảnh: Hiroya Minakuchi/Minden Pictures/FLPA

 

Ếch thủy tinh có hình mắt lưới (tên khoa học Hyalinobatrachium valerioi) được tìm thấy tại các khu rừng mưa ở Costa Rica. Nó có lớp da gần như trong suốt, do đó hầu như con người khó nhận thấy khi nó bám trên lá cây.

3. Cóc hang Mexico

 

Cóc hang Mexico. Ảnh: Photo Researchers/FLPA

 

Cóc hang Mexico (tên khoa học Rhinophrynus dorsalis) dành phần lớn cuộc sống dưới lòng đất. Nó chỉ xuất hiện khi mùa mưa đến để sinh sản và kiếm ăn côn trùng như mối và kiến. Điều khác thường là loài cóc này không có họ hàng – là loài duy nhất trong chi cóc Rhinophrynus.

4. Động vật lượng cư dạng giun

 

Động vật lưỡng cư dạng giun Typhlonectes natans. Ảnh: Photo Researchers/FLPA

 

Nhóm động vật lưỡng cư dạng giun (Caecilians) trông bề ngoài giống như giun và rắn. Đây là nhóm động vật lưỡng cư sống dưới lòng đất và con người ít biết những thông tin về chúng. Riêng loài động vật lưỡng cư dạng giun Typhlonectes natans ở Venezuela có thể sống dưới nước và nó thường được bán như “thú cưng của bể nuôi thủy sinh”.

5. Sa giông mào lớn Triturus cristatus

 

Sa giông mào lớn Triturus cristatus. Ảnh: Rene Krekels/FN/Minden/FLPA

 

Được tìm thấy trên khắp châu Âu, sa giông mào lớn Triturus cristatus đang được bảo vệ nghiêm ngặt vì số lượng loài này đang sụt giảm. Con đực có mào có nhiều đốm đen nằm dọc theo sống lưng. Ấu trùng loài này sẽ phát triển đến khi trưởng thành – quá trình này diễn ra hầu như ở trên cạn. Con cái trưởng thành sẽ trở về dưới nước để sinh sản vào mùa xuân.

6. Kỳ nhông khổng lồ Trung Quốc

 

Kỳ nhông khổng lồ Trung Quốc. Ảnh: Ken Lucas/Visuals Unlimited/Getty

 

Kỳ nhông khổng lồ Trung Quốc Andrias davidianus là động vật lưỡng cư lớn nhất thế giới, có thể phát triển chiều dài cơ thể đến 1,8m. Tuy nhiên, kích thước này là quá nhỏ bé so với loài lưỡng cư Prionosuchus đã tuyệt chủng có chiều dài cơ thể đến 9m.

Thiên Nhiên [VietNamNet.vn]

CHIA CẮT – NỖI ĐAU LỚN NHẤT CỦA DÂN TỘC

Nam Bắc là một nhà – không lực lượng nào có thể chia cắt được!

Một dòng sông Bến Hải, rộng không quá 100 mét, một cầu Hiền Lương dài 178 mét mà người Việt Nam phải đi suốt 18 năm (1954-1972), đánh đổi không biết bao xương máu mới qua được bờ Nam sông Bến Hải. Ngoài những trận chiến khốc liệt, không hiếm những cuộc “chọi màu”, “chọi loa”, “chọi cờ” cũng quyết liệt không kém giữa 2 bên tại đôi bờ cầu Hiền Lương. Đó là những trận chiến âm thầm nhưng ý nghĩa của nó lại hết sức lớn lao, thể hiện khát vọng thống nhất của dân tộc Việt Nam, cũng như câu nói của nhà điện ảnh Thụy Điển Gerald Evans: “Vĩ tuyến 17 – nơi “trưng bày” sự man rợ đến tột cùng của đế quốc Mỹ và lòng dũng cảm đến mức thần thánh của nhân dân Việt Nam.”
………………
…….

“Cuộc chiến màu sắc”

Trong sự mâu thuẫn chính trị giữa hai bên, trong đó nổi bậc là phong trào đấu tranh chính trị đòi hiệp thương Tổng tuyển cử thống nhất đất nước của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà(VNDCCH) đối với chính quyền Việt Nam Cộng hoà(VNCH), cây cầu Hiền Lương và dòng sông Bến Hải bị cuốn vào cuộc tranh chấp vì đây là nơi giáp mặt của hai chính quyền đối lập.

Ở đoạn giữa cầu có một vạch trắng kẻ ngang, rộng 1cm được dùng làm ranh giới. Thoạt đầu VNCH chủ động sơn một nửa cầu phía nam thành màu xanh, VNDCCH liền sơn tiếp màu xanh một nửa cầu còn lại. Sau VNCH lại chuyển sang màu nâu thì VNDCCH cũng sơn lại màu nâu. Cứ như thế, cầu Hiền Lương luôn thay đổi màu sắc, hễ VNCH sơn một màu khác đi để tạo ra hai màu đối lập thì ngay lập tức VNDCCH liền sơn lại cho giống. Cuối cùng vào năm 1975, cây cầu chung một màu xanh thống nhất. Hành động sơn màu cầu là một cách đấu tranh chính trị nhằm nói lên khát vọng thống nhất đất nước của VNDCCH.

“Cuộc chiến âm thanh”

Những năm 1954-1964 là giai đoạn không còn tiếng súng ở đôi bờ giới tuyến, song cuộc chiến bằng tiếng nói đã diễn ra ở đây rất căng thẳng và quyết liệt giữa hai phe đối lập.

Lúc đầu, VNDCCH cho xây dựng một hệ thống loa phóng thanh được phân bố thành 5 cụm trong chiều dài 1.500m ở bờ Bắc, mỗi cụm gồm 24 loa có công suất 25W.

Sau những ngày phát sóng đầu tiên, hệ thống loa phóng thanh này không thể át được các loa do Tây Đức, Úc cung cấp phát với âm thanh lớn hơn của chính quyền VNCH. Chính quyền VNDCCH trả đũa bằng cách tăng thêm 8 loa có công suất 50W và 1 loa có công suất 250W được viện trợ từ Liên Xô. Ngược lại chính quyền VNCH được Mỹ viện trợ cho những loại loa tối tân hơn, vang xa hàng chục cây số.

Vào đầu năm 1960, một giàn loa của Mỹ với công suất của mỗi loa lên tới hàng trăm oát được chuyển đến và đặt tại bờ Nam sông Bến Hải. Lúc bấy giờ chính quyền VNCH tuyên bố: “Hệ thống loa “nói vỡ kính” này sẽ vang tận Quảng Bình, dân bờ Bắc sẽ nghe rõ tiếng nói của “chánh nghĩa Quốc gia”!” Không chịu thua, lúc bấy giờ chính quyền VNDCCH đã lắp đặt chiếc loa có công suất 500W với đường kính rộng đến 1,7m và bổ sung thêm 20 loa loại 50W, 4 loa loại 250W của Liên Xô tại chiến tuyến Bến Hải. Khi thuận gió, tiếng loa có thể truyền xa hơn 10km.

Vào giai đoạn 1954 – 1964, ở đôi bờ Bến Hải vang vọng trong ký ức của một giọng ca ngọt ngào, truyền cảm của nghệ sĩ Châu Loan của VNDCCH với những bài thơ, bài hò do nghệ sĩ thể hiện rất biểu cảm:

“Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội
Thiếp xa chàng ngày đợi đêm trông
Trong đồn chàng có nhớ thiếp không?
Ngoài này thiếp vẫn chờ mong chàng về”.

Cuộc “chọi cờ”

Theo quy định của hiệp định Genève, tất cả các đồn cảnh sát giới tuyến phải treo cờ hàng ngày. Treo cờ là chuyện bình thường, song “chọi cờ” mới là chuyện “quốc gia đại sự” đã từng xảy ra ở hai cột cờ ở hai đầu cầu Hiền Lương và kéo dài hàng chục năm.

Lúc đầu, vào năm 1954 – 1956, chính quyền VNDCCH cho làm một cột cờ bằng cây phi lao cao 12m để treo một lá cờ có khổ 3,2mx 4,8m. Ở bờ Nam, Pháp cắm cờ tam tài lên nốc lô cốt Xuân Hoà ở bờ Nam cao 15m. Theo yêu cầu của nhân dân giới tuyến, cờ của chính quyền VNDCCH phải cao hơn cờ của địch thủ nên những người lính của chính quyền VNDCCH đã vào rừng sâu để tìm bằng được một cây gỗ cao 18m, cao hơn cột cờ của Pháp 3m và treo một lá cờ bằng vải sa tanh rộng 24m.

Ngay sau đó, Ngô Đình Diệm đã cho dựng một trụ cờ bằng xi măng cốt thép cao 30m tại bờ Nam. Trên đỉnh treo một lá cờ vàng ba sọc đỏ lớn, có hệ thống đèn nê-ông nhấp nháy đủ màu. Khi dựng cờ xong, loa chiến tranh tâm lý hướng sang bờ Bắc truyền thông: “Tổng thống VNCH cho dựng cột cờ cao 30m ở Vĩ tuyến 17 để dân chúng miền Bắc thấy rõ chánh nghĩa Quốc gia”.

Tháng 7 – 1957, Tổng Công ty lắp máy Việt Nam đã gia công một cột cờ bằng thép ống cao 34,5m tại Hà Nội rồi vận chuyển vào giới tuyến. Trên đỉnh cột cờ gắn một ngôi sao bằng đồng có đường kính 1,2m, 5 đỉnh ngôi sao gắn một chùm bóng điện loại 500W, lá cờ rộng 108m2.

Chính quyền VNCH hoàn toàn bất ngờ trước sự kiện này nên vội vàng tôn cột cờ của họ lên 35m và lên giọng: “VNDCCH muốn chọi cờ nhưng chọi sao nổi với Quốc gia”.

Năm 1962, thêm một lần nữa, Tổng Công ty lắp máy Việt Nam gia công một cột cờ cao 38,6m rồi chuyển vào dựng ở Hiền Lương, kéo lên lá cờ đại 134m2, nặng 15kg, cách đỉnh 10m có một cabin để chiến sĩ VNDCCH đứng treo và thu cờ. Cột cờ này được xem là cột cờ cao nhất giới tuyến. Hàng ngày, các người lính an ninh VNDCCH kéo cờ lên sớm hơn và hạ cờ xuống muộn hơn giờ quy định (6h30’ đến 18h30’) để cho những người đi làm sớm, về muộn cũng nhìn thấy được lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới bên cạnh đối thủ. Người dân ở xa hàng chục cây số vẫn nhìn thấy rõ lá cờ Tổ quốc ở bờ Bắc. Nếu như trước đây người đi rừng, đi biển nhìn sao Bắc đẩu, thì nay họ nhìn vào ngọn cờ cao 38,6m này để tìm phương hướng.

Cờ của VNDCCH treo cao hơn lúc nào cũng đập vào mắt lực lượng an ninh VNCH làm họ phải luôn tìm cách phá hoại. Khi Mỹ tìm cách phá hoại bằng không quân đối với miền Bắc, thì cột cờ Hiền Lương là mục tiêu đánh phá hàng đầu. Ngày 8-02-1965, tướng không quân của chính quyền VNCH Nguyễn Cao Kỳ đã lái chiếc máy bay AD6 bắn phá cột cờ, nhưng pháo cao xạ của VNDCCH bắn trả bị thương.

Mặc dù VNCH huy động hàng trăm chiếc máy bay ném bom và hàng vạn đạn pháo cỡ lớn từ Dốc Miếu, Cồn Tiên bắn ra, từ Hạm đội 7 ngoài biển bắn vào, nhưng vẫn không thể xóa được cái “chấm đỏ” này ở bắc cầu Hiền Lương. Đến ngày 2-8-1967, họ lại tập trung nhiều tốp máy bay thay nhau đánh phá liên tục suốt ngày làm cho cột cờ của VNDCCH bị gãy và đánh sập cầu Hiền Lương. Tối hôm đó, loa của VNCH truyền thông: “Cột cờ của Bắc Việt trên đầu cầu Hiền Lương đã bị không lực Hoa Kỳ đánh tan tành tro bụi”. Nhưng ngay đêm hôm đó, một cột cờ mới được dựng lên. Sáng hôm sau, trong lúc loa VNCH đang đọc bản tin thì lá cờ đỏ sao vàng của VNDCCH lại đã xuất hiện tung bay trong nắng sớm. Cũng chính ngay đêm hôm đó, những người lính VNDCCH đã ôm bộc phá sang đánh gãy cột cờ ở bờ Nam, để chấm dứt lá cờ của VNCH trên bầu trời giới tuyến.
………..
…..
Sau ngày hòa bình được lặp lại, một cây cầu mới đã được dựng lên theo nguyên bản của cây cầu Hiền Lương cũ. Thời kỳ đó, cầu Hiền Lương là ranh giới chia cắt Việt Nam thành hai quốc gia. Còn ngày nay nó đã trở thành biểu tượng của “nỗi đau chia cắt”, để con cháu đời sau có thể nhìn vào mà thấy tự hào vì mình là công dân của một đất nước thống nhất, để biết rằng anh em Nam Bắc sống hoà thuận dưới cùng một mái nhà Việt Nam!

Nguồn:

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=423122211062415&set=a.127053440669295.8435.124739034234069&type=1&theater

Tại sao Mỹ vẫn lưỡng lự UNCLOS ? – Kỳ 2: Chờ đủ thiên thời, địa lợi, nhân hòa

Dù thiên thời và địa lợi đã có, nhưng Mỹ cần phải đạt được “nhân hòa” trong nội bộ nước này thì mới có thể tham gia UNCLOS.

>> Tại sao Mỹ vẫn lưỡng lự UNCLOS ?

Sau hai lần bị phủ quyết trước quốc hội vào năm 1994 và 1997, việc gia nhập Công ước LHQ về luật Biển (UNCLOS) 1982 chưa bao giờ được nhiều thành phần tại Mỹ ủng hộ như hiện nay. Ngoại trưởng Hillary Clinton, Bộ trưởng Quốc phòng Leon Panetta cùng một số công ty lớn tại Mỹ đều đã lên tiếng hậu thuẫn. Đặc biệt, các công ty năng lượng Mỹ nhiệt tình ủng hộ Washington gia nhập UNCLOS. Tuy nhiên, nếu đặt góc nhìn về biển Đông, việc vượt sự ngăn cản của phe bảo thủ cần đảm bảo các yếu tố thiên thời, địa lợi và nhân hòa.

Sợ sức mạnh

Xét tổng thể, bất cứ nước nào liên can đến lợi ích trên biển Đông – dù trực tiếp hay gián tiếp – đều xoay vòng giữa hai xu thế: sức mạnh và từ chối sức mạnh. Thông thường, các cường quốc có xu hướng ỷ vào sức mạnh. Ngược lại, các nước nhỏ ưu tiên viện dẫn nguyên tắc pháp lý quốc tế. Bất đối xứng về sức mạnh dẫn đến bất đối xứng về hành vi. Tuy vậy, những gì diễn ra trên biển Đông lại không hoàn toàn tuân theo nguyên tắc trên. Trỗi dậy nhưng chưa phải vô địch, Trung Quốc đã trải qua nhiều năm theo đuổi chính sách “ẩn mình chờ thời” do nhà lãnh đạo Đặng Tiểu Bình đề ra.

Chờ đủ thiên thời, địa lợi, nhân hòa
Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Leon Panetta muốn nước này sớm tham gia UNCLOS – Ảnh: Reuters

Trong khi đó, mặc dù là cường quốc mạnh nhất nhì thế giới nhưng hiện tại đã qua thời Chiến tranh lạnh nên Mỹ cũng lựa chọn chính sách duy trì. Nhất là khi quyền lợi trực tiếp của Washington tại biển Đông không tập trung vào tranh chấp chủ quyền. Washington san sẻ quyền lợi tự do hàng hải, giữ trách nhiệm bảo vệ đồng minh nhằm tái khẳng định “trật tự Mỹ” tại châu Á – Thái Bình Dương, vốn được hình thành sau Thế chiến 2. Sự dính líu của Mỹ vào biển Đông vừa là định mệnh mà cũng vừa là lựa chọn bắt buộc.

Như vậy, cả hai đều mạnh nhưng cũng đều sợ sức mạnh. Trung Quốc có thời kỳ “trỗi dậy hòa bình” ngoạn mục trong hơn 1 thập niên qua kể từ năm 1997, nước này chấp nhận giới hạn sức mạnh và theo đuổi con đường “thể chế”. Biển Đông có thời gian tạm ổn định khi vòng đàm phán về Bộ quy tắc ứng xử (COC) bắt đầu và kết thúc bằng Tuyên bố về cách ứng xử giữa các bên ở biển Đông (DOC) năm 2002.

Tàu Philippines, Trung Quốc rút khỏi Scarborough

Ngày 5.6, Đài ABS-CBN News dẫn lời phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Philippines Raul Hernandez thông báo nước này và Trung Quốc vừa rút một số tàu khỏi bãi cạn Scarborough, nơi hai bên đang tranh chấp căng thẳng kể từ đầu tháng 4. Theo đó, 2 tàu tuần tra của Trung Quốc và 1 tàu thuộc Cục Thủy sản Philippines đều đã rời khỏi khu vực này, theo Đài ABS-CBN News. Tuy nhiên, phát ngôn viên Hernandez không nói rõ hai bên còn lại bao nhiêu tàu tại đây.

Văn Khoa

Mỹ được công nhận là siêu cường lãnh đạo, không phải do sự vượt trội về số lượng khí tài trên biển mà còn nhờ vào nỗ lực xây dựng trật tự thế giới theo một khung hành động theo pháp lý. Thế nhưng, trong cuộc chiến Iraq, Mỹ đơn phương từ chối các thể chế do chính nước này đề ra. Vì vậy, phong trào phản kháng Mỹ dưới trào Tổng thống George W.Bush trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Tương tự, Trung Quốc bị khủng hoảng về vị trí và hình ảnh “phát triển hài hòa” vì Bắc Kinh có những động thái hung hãn trên biển Đông. Theo đó, Mỹ lẫn Trung Quốc đều gặp chung một tình trạng: sự tràn thừa xu hướng sức mạnh.

Kiềng 3 chân

Sợ sức mạnh thì “thể chế” là giải pháp. Các cường quốc sẽ đạt được 3 điểm có lợi khi tự giới hạn hành động vào khuôn phép. Một là vẫn giữ được vị trí ưu tiên trong thể chế giúp đảm bảo quyền lợi tối thiểu trong trường hợp sức mạnh bị suy giảm. Hai là việc lạm dụng sức mạnh kéo theo nhiều tốn kém. Cuối cùng, đó là nguyên tắc bất di bất dịch bao đời nay: “Danh có chính thì ngôn mới thuận”. Luật và thể chế giúp các nước lớn theo đuổi quyền lợi của mình bằng con đường chính danh thông qua những cam kết đồng thuận giữa các bên.

Đối với Washington, thời của “thể chế” trên biển Đông bắt đầu bằng việc định nghĩa lại lợi ích của Mỹ trên đại dương, cụ thể nhất qua việc phê chuẩn UNCLOS. Trong bối cảnh cắt giảm chi phí quân sự và tái bố trí lực lượng, công ước trên sẽ giúp Mỹ tạo nền tảng pháp lý vững chắc để thực thi chính sách “chuyển dịch trọng tâm chiến lược” sang châu Á – Thái Bình Dương. Hiện tại, sự vượt trội về lực lượng quân sự và đồng minh của Mỹ tại khu vực này đều có xu hướng thay đổi khi Trung Quốc trỗi dậy. Vì thế, “liên minh pháp lý” đóng vai trò bàn đạp thứ ba của Mỹ tại châu Á – Thái Bình Dương. Điều này giúp Mỹ tham gia trực tiếp hơn tại biển Đông và không bị định kiến lạm dụng sức mạnh. Nói như ông Panetta thì: “Mạnh vì chơi theo luật chứ không phải chống lại luật”. Nhờ đó, Mỹ có thể hiện diện và khẳng định vai trò một cách chính danh hơn, khác với hình ảnh một cường quốc đang trỗi dậy nhưng thiếu sự công nhận từ cộng đồng quốc tế.

Tuy nhiên, yếu tố cốt lõi ảnh hưởng đến việc Mỹ tham gia UNCLOS lại phụ thuộc vào nội bộ nước này. Đặc biệt, đây là giai đoạn khá nhạy cảm khi cuộc bầu cử tổng thống diễn ra vào cuối năm nay. Hiện tại, những xu hướng chính trị cực tả hay cực hữu không thể nào vận động được hết đa số nên các ứng viên tổng thống Mỹ sẽ tìm cách dung hòa để mở rộng lực lượng ủng hộ. Giữa bối cảnh như thế, các đề tài gây tranh cãi như UNCLOS nhiều khả năng bị đem ra “đổi chác” trong quốc nội. Theo đó, rất khó để đoán định việc Mỹ có tham gia UNCLOS trong lần này hay không. Kết quả còn chờ vào yếu tố nhân hòa dù thiên thời và địa lợi đã có đủ.

Nguyễn Chính Tâm [Thanh niên]

Tại sao Mỹ vẫn lưỡng lự UNCLOS ?

Sự chống đối quyết liệt từ phe bảo thủ khiến Washington vẫn chưa thể tham gia Công ước LHQ về luật Biển.

Ngày 23.5, Ủy ban Đối ngoại Thượng viện Mỹ khởi động phiên điều trần mới nhất về vấn đề liệu nước này có nên tham gia Công ước LHQ về luật Biển (UNCLOS) 1982. Vốn dĩ, UNCLOS được hình thành để tạo ra khuôn khổ pháp lý cần thiết cho các quốc gia nhằm ứng xử hiệu quả đối với nhiều vấn đề liên quan đến biển. Công ước này đồng thời cũng tạo ra rất nhiều cơ chế phục vụ cho việc giải quyết các tranh chấp và quản lý nguồn tài nguyên biển. Trong khi giới ngoại giao, quân sự và nhiều công ty lớn của Mỹ thúc giục quốc hội thông qua UNCLOS thì một số nhóm khác lại phản đối. Cụ thể hơn, lực lượng bảo thủ, vốn có xu hướng ủng hộ đường lối hoặc là thành viên đảng Cộng hòa, đã chống đối quyết liệt.

Những người bảo thủ ủng hộ các giá trị truyền thống, chính phủ gọn nhẹ, mức thuế thấp, giảm thiểu quy tắc ứng xử trong luật pháp và xã hội, hướng đến tự do kinh doanh. Về đối ngoại, họ ủng hộ việc mở rộng tầm ảnh hưởng của Mỹ ra toàn cầu, xây dựng một nền quốc phòng mạnh mẽ với một lực lượng quân sự đông đảo cộng với chính sách đối ngoại cứng rắn. Có thể nhận ra rằng hầu hết các lập luận chống lại UNCLOS đều dựa trên những nền tảng tư tưởng như trên. Quan điểm của những người phản đối dựa trên cơ sở của những lập luận khá vững chắc mà đáng chú ý nhất là niềm tin vào sức mạnh nước Mỹ, mất tự do hàng hải, ảnh hưởng tới bảo mật quân sự và kinh tế.

Washington đang sở hữu lực lượng hải quân tốt nhất mà thế giới từng chứng kiến
Học giả Steven Groves

Trong hai lần được trình trước quốc hội vào năm 1994 dưới thời Tổng thống Bill Clinton và năm 2007 dưới thời Tổng thống George W.Bush, UNCLOS đều bị ngăn chặn bởi những nhân vật bảo thủ có ảnh hưởng lớn. Vào phiên điều trần ngày 23.5, 2 nhân vật lên tiếng chống đối UNCLOS mạnh mẽ nhất là 2 thượng nghị sĩ Jim DeMint và James Inhofe cùng thuộc đảng Cộng hòa. Trong thượng viện Mỹ, đây là 2 nhân vật bảo thủ hàng đầu. Ngoài ra, một số chính trị gia và học giả khác có cùng quan điểm bảo thủ cũng cực lực phản đối UNCLOS.

Lý lẽ của phe bảo thủ

Lập luận của phe chống đối hầu hết đều dựa vào những quy tắc của chủ nghĩa quốc gia bảo thủ. Theo thượng nghị sĩ DeMint, đại diện phe phản đối, Mỹ đã là một cường quốc biển, hiện diện khắp mọi nơi trên thế giới và có quyền tự do hàng hải từ lâu đời. Tương tự, trang Heritage.org dẫn lời học giả Steven Groves thuộc Quỹ Heritage Foundation lập luận rằng Washington đang sở hữu “lực lượng hải quân tốt nhất mà thế giới từng chứng kiến”. Vì thế, ông Groves khẳng định Mỹ đủ sức đảm bảo tự do hàng hải trên các vùng biển mà chẳng bị ràng buộc bởi bất cứ công ước, cơ quan hay tổ chức nào.

Phe bảo thủ cho rằng Mỹ đang có lực lượng hùng hậu trên biển nên không cần tham gia UNCLOS - Ảnh: Marines.mil
Phe bảo thủ cho rằng Mỹ đang có lực lượng hùng hậu trên biển nên không cần tham gia UNCLOS – Ảnh: Marines.mil

Theo chuyên trang quân sự Globalfirepower, chỉ tính riêng lực lượng tàu sân bay thì Mỹ có 11 chiếc chạy bằng năng lượng hạt nhân và độ choán nước đều trên 90.000 tấn. Trong khi đó, 9 nước còn lại sở hữu tàu sân bay trên thế giới chỉ có tổng cộng 11 chiếc và tất cả đều có độ choán nước dưới 70.000 tấn. Ngoài ra, Mỹ có tổng cộng 2.384 tàu hải quân các loại và 18.234 máy bay, còn lực lượng hải quân thứ hai thế giới là Trung Quốc chỉ có 972 tàu hải quân và 5.176 máy bay, chưa kể mức độ hiện đại. Vì vậy, học giả Groves cho rằng nước Mỹ vẫn duy trì và bảo vệ được những lợi ích hàng hải từ trước khi UNCLOS ra đời nên Washington chẳng cần tham gia công ước này. Trang Heritage.org dẫn lời ông khẳng định quyền tự do hàng hải mà Mỹ có được là nhờ sự kết hợp giữa những nguyên tắc hợp pháp lâu đời và sự hiện diện liên tục của hải quân.

Thậm chí, phe phản đối còn cho rằng nước này sẽ tự hạn chế quyền tự do hàng hải nếu tham gia UNCLOS. Theo đó, Mỹ hiện nay có thể di chuyển đến bất kỳ nơi đâu trên thế giới (trừ vùng nội thủy của các nước khác) và vẫn có “quyền đi lại không gây hại” ở vùng lãnh hải của bất cứ quốc gia nào. Thế nhưng, nếu tham gia UNCLOS, Washington sẽ phải xin phép để được đi qua vùng đặc quyền kinh tế (EZZ) của các nước khác. Đây là việc mà một siêu cường như Mỹ khó có thể chấp nhận. Ngoài ra, điều này còn dẫn tới hậu quả Washington bị hạn chế khi duy trì lực lượng răn đe trên biển hay thực hiện biện pháp ngoại giao “đu đưa bên miệng hố chiến tranh” như từng điều tàu đến eo biển Hormuz hồi đầu năm 2012.

Hơn thế nữa, bảo mật quân sự của Mỹ cũng bị ảnh hưởng khi tham gia UNCLOS vì Washington phải chia sẻ thông tin tình báo, quân sự trên biển với Cơ quan Quản lý lòng biển quốc tế (ISA) nếu được yêu cầu. Đồng thời, Mỹ cũng sẽ phải thông báo và xin phép ISA khi đi qua các eo biển quốc tế. Chỉ riêng việc một tổ chức không phải của Mỹ có quyền yêu cầu Mỹ báo cáo các thông tin hàng hải, quân sự đã là một sự “sỉ nhục”. Xa hơn, việc ISA có quyền cho phép và thu thuế với các doanh nghiệp Mỹ thực hiện những hoạt động trên biển cũng sẽ là điều không thể chấp nhận.

Vì thế, lập luận xuyên suốt của phe bảo thủ là nước mạnh thì không cần luật. Và theo họ, Mỹ thể hiện đầy đủ tiêu chí là nước mạnh nhất toàn cầu. (Còn tiếp)

Vũ Thành Công – Nguyễn Thế Phương [ Thanh Niên]

Chuyện chưa bao giờ kể của trưởng đoàn đàm phán BTA

Tác giả: HUỲNH PHAN

Anh bạn tôi lúc đó là Thứ trưởng Tài chính Liên Xô bảo: “Lương, hôm nay ta nói chuyện với nhau như những người bạn. Mày (tiếng Nga, khi thân quen chúng tôi dùng đại từ “tư” là mày, bạn) bỏ cái nghề ăn xin của mày đi. Không ai giàu lên bằng của bố thí. Phải đứng thẳng người lên để làm giàu như họ. Chứ Liên Xô chúng tao cũng sắp đổ rồi, không còn gì nữa đâu mà cho.” Tôi ngồi lặng người một hồi lâu, miệng đắng ngắt…

LTS: Tuần Việt Nam xin được kết thúc câu chuyện bình thương hoá quan hệ ngoại giao và thương mại Việt – Mỹ với cuộc trò chuyện với đối tác của Trưởng đoàn đàm phán BTA Mỹ – Việt Joe Damond – ông Nguyễn Đình Luơng.

Chúng tôi hy vọng phần trò chuyện của ông Lương sẽ bổ sung cho bức tranh về cuộc đàm phán được coi là sự mở đầu thực chất nhất cho tiến trình hội nhập kinh tế của Việt Nam, cũng như là lời giải đáp cho những thắc mắc của Joe Damond – người, vì những lý do nhất định, chưa hỏi thẳng đối tác và cũng là người bạn vong niên của mình.

Ông đã trở thành trưởng đoàn đàm phán như thế nào?

Sáng ngày 5.11.1996, tại cuộc họp bàn về việc chuẩn bị đàm phán kinh tế – thương mại với Mỹ, sau khi các bộ ngành hữu quan báo cáo tình hình, Phó Thủ tướng phụ trách kinh tế đối ngoại Trần Đức Lương, người chủ trì, đã quyết định thành lập “Tổ công tác liên bộ về Hiệp định Kinh tế – Thương mại với Hoa Kỳ”.

Đột nhiên, ông chỉ vào tôi, và nói: “Tôi quyết định cử đồng chí Nguyễn Đình Lương” làm tổ trưởng.” Tôi thực sự thấy bất ngờ, và không kịp phản ứng gì cả, vì giọng nói ông rất quyết đoán.

Trong thâm tâm, tôi hiểu ông chọn tôi vì tôi đã nhiều lần tháp tòng ông trong các cuộc đàm phán, hay họp hội nghị của uỷ ban liên chính phủ với Liên Xô và các nước XHCN khác. Ông hiểu trong đầu tôi có cái gì, và tôi có thể làm gì.

Từ sau đó các công việc liên quan đến đàm phán Việt – Mỹ cứ được chuyển về chỗ tôi để tôi tập hợp và tổng hợp. Và đến khi đoàn Mỹ sang, tôi dẫn đầu đoàn đàm phán phía Việt Nam.

Joe Damond có nói rằng anh ta may mắn vì Sếp trực tiếp của anh ta đã chủ động tránh sang một bên, chứ không thì…

Tôi không may mắn như vậy. Quyết định bất ngờ đó đã làm cho tôi khổ sở một thời gian, vì ông Sếp trực tiếp của tôi lại muốn nhận việc đó. Có lẽ, ông ta nghĩ đơn giản việc đó là “oai”, nhưng ông không hiểu rẳng tôi đã thực sự “oải” như thế nào trong quá trình đàm phán, nhất là ở nửa chặng đầu và sau khi hai bên đã ký hiệp định về nguyên tắc. Nhưng đó là chuyện về sau.

Số tôi số khổ mà. Đã mang lấy nghiệp vào thân/ Cũng đừng trách lẫn trời gần trời xa.

Ông Joe Damond và ông Nguyễn Đình Lương. Ảnh: Thái An

Joe Damond nói rằng trong thời gian đầu, phía Mỹ tỏ ra khá lúng túng trong việc khởi động đàm phán, vì họ chẳng có thông tin, cũng như hiểu biết về cơ chế của kinh tế – thương mại Việt Nam. Và ông ta cũng cảm nhận điều tương tự từ phía Việt Nam, có đúng không?

Đúng và không đúng. Đúng vì ta cũng không hiểu hệ thống thương mại của Mỹ và thế giới nói chung, ngoài phe XHCN của chúng ta.

Còn không đúng, vì Việt Nam vất vả hơn trăm lần. Chúng tôi không hiểu phía đối diện, và cũng không hiểu phía sau lưng.

Cuộc chiến tranh 30 năm và sự khốc liệt của nó đã để lại trên đất nước Việt Nam, và trong quan hệ Việt – Mỹ, quá nhiều vấn đề. Tôi không còn đủ trí nhớ để thống kê lại những điều gặp phải trong quá trình chuẩn bị cho BTA.

Nhưng chắc vẫn có những điều không thể quên?

Nào là nhận thức “Mỹ là kẻ thù cơ bản lâu dài”, bên cạnh tâm lý chống Mỹ và tâm lý nghi kỵ. Có người coi BTA chỉ là “âm mưu của Mỹ để chuyển hoá chế độ chính trị ở Việt Nam, đơn giản (nó) chỉ là âm mưu phá vai trò lãnh đạo của Đảng”. Hay dùng thị trường tự do để phá hoại cái định hướng XHCN trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN của chúng ta.

Còn ông, lúc đó, ông nghĩ thế nào?

Đó là hậu quả của một quá trình lâu dài xa lánh luật chơi thị trường, chỉ biết chăm lo củng cố cho nền kinh tế độc quyền XHCN, đã đặt chúng ta vào thế quá ngỡ ngàng, lúng túng, khi buộc phải chuyển sang nền kinh tế thị trường, buộc phải chơi theo một luật chơi mới, áp dụng cho hầu hết các cuộc chơi.

Cho dù các Nghị quyết của Đảng đã nhiều lần chỉ rõ, và xã hội đã nhận thức được rằng, thế giới đang thay đổi sâu sắc, nền kinh tế thế giới đang phát triển mạnh mẽ và nhanh chóng đi vào xu thế toàn cầu hoá, nhưng quả thực vượt qua được những rào cản chính trị, rào cản tâm lý kể trên là điều hoàn toàn không dễ dàng. Càng không phải một sớm một chiều.

Xin ông nói cụ thể hơn trong trường hợp BTA.

Đàm phán BTA với Mỹ là công việc hoàn toàn mới mẻ, thực sự cũng chưa ai hình dung nó là thế nào. Mỗi người, mỗi cơ quan, nhìn một góc, đòi hỏi một cách… Không ai giống ai.

Bây giờ nhớ lại thật buồn cười. Và nhiều vấn đề được nêu ra hình như chỉ như đánh đố đoàn đàm phán.

Đánh đố?

Vì làm sao mà thực hiện được.

Chẳng hạn, có người bảo: “Trước kia ta chưa đòi được khoản bồi thường chiến tranh theo Hiệp định Paris (1973), kỳ này đàm phán kinh tế ta phải đòi cho bằng được.”

Liên quan đến khoản tiền đó, vì ta không hiểu luật Mỹ (tiền nong do Quốc hội quyết) mà ta đã đánh rơi mất cơ hội bình thường hoá quan hệ với Mỹ trước đấy hai chục năm. Tất nhiên, chúng ta có quyền nêu, nhưng nêu cho vui thôi, phía Mỹ sẽ không đồng ý đưa vào chương trình đàm phán.

Hay, có người đòi là “Đoàn đàm phán phải đấu tranh với Mỹ để xếp Việt Nam vào khối các nước kém phát triển, để họ phải có chính sách ưu đãi đặc biệt”.

Điều này chúng tôi cũng chịu. Đã có một thời Việt Nam bị liệt vào danh sách các nước kém phát triển (underdeveloped countries), như một số nước Châu Phi. Việt Nam chúng ta tự ái, mất bao nhiêu năm trời mới đi đấu tranh, vận động, để được xếp trong danh sách các nước đang phát triển (developing countries).

Thế mà nay lại giao cho Đoàn đàm phán BTA kéo tụt Việt Nam xuống. Mà đoàn đàm phán phía Mỹ có quyền hành gì trong việc lôi lên, hay đè xuống này?

Lại cũng có người chỉ đạo rất cụ thể: “Đàm phán với Mỹ là phải thực hiện phương châm “vừa hợp tác vừa đấu tranh, và với kẻ thù rắn mặt như Mỹ thì phải đấu tranh là chính.”

Tôi chỉ còn biết ngửa mặt lên trời mà than: “Về khoản này, con xin chịu không bắt chước được bố.”

Ý ông là…?

Anh nhớ câu chuyện cậu con rể tương lai cứ chăm chăm bắt chước mọi động tác của bố vợ chứ gì? Đến nỗi, ông “Nhạc phụ đại nhân” phải phì cười, và hai sợi bún thò lò ra đằng mũi.

Đây đâu còn là thời chiến tranh mà ta thắng, địch thua. Cả hai bên phải đạt được một thoả thuận đảm bảo đôi bên cùng có lợi, để cùng nhau là đối tác lâu dài.

Không thể buổi đàm phán nào cũng lo đấu tranh, cũng chửi người ngồi đối diện với mình một trận cho bõ tức. Tan cuộc ngay!

Dân gian hay nói, chính chúng ta, lúc cần khẳng định vị thế, thì tự nâng lên, còn lúc cần tiền viện trợ, xin xỏ, thì tự hạ xuống.

Thôi, chuyện dân gian thì nhiều lắm. Tôi xin miễn bàn. Nhưng riêng tôi cũng có một kỷ niệm đáng nhớ liên quan đến chuyện đó.

Mùa thu năm 1989, mùa các nước XHCN chuẩn bị đàm phán cho Hiệp định 5 năm tiếp theo (1991-1995). Trước khi hai đoàn chính phủ gặp nhau, là người chuẩn bị các phương án, tôi đi Moskva thăm dò trước. Và tôi đã đến thăm anh bạn thân học cùng trường MGIMO (Học viện Quan hệ Quốc tế Moskva), lúc đó là Thứ trưởng Tài chính Liên Xô.

Anh ta nói: “Lương, hôm nay ta nói chuyện với nhau như những người bạn. Mày (tiếng Nga, khi thân quen chúng tôi dùng đại từ “tư” là mày, bạn) bỏ cái nghề ăn xin của mày đi. Không ai giàu lên bằng của bố thí. Phải đứng thẳng người lên để làm giàu như họ. Chứ Liên Xô chúng tao cũng sắp đổ rồi, không còn gì nữa đâu mà cho.”

Tôi ngồi lặng người một hồi lâu, miệng đắng ngắt. Tôi uống vội cốc nước chè đen còn đang nóng, suýt bỏng họng.

Bài học đó cả đời tôi không quên.

Nhưng chính Joe Damond đã nhắc đến chuyện, vào khoảng mùa thu năm 1997 gì đó, trong một cuộc đàm phán, ông Nguyễn Đình Lương đã nói rằng Việt Nam là nước nghèo đói, kém phát triển, và chỉ có thể chấp nhận các tiêu chuẩn thương mại quốc tế (WTO) vào năm 2020. Xin ông giải thích cho rõ ràng.

Đó là chuyện có thật. Bây giờ nhắc lại tôi vẫn thấy buồn cười.

Số là, sau khi tôi đề nghị, phía Mỹ đã chuẩn bị bản dự thảo “Comprehensive” (tổng thể), theo các tiêu chuẩn WTO. Mọi người hơi choáng: “Khó hiểu quá, mới quá!”

Xin phép được ngắt lời ông. Tại sao ông lại đề nghị phía đối tác soạn dự thảo?

Trong một cuộc họp cấp cao phía Việt Nam, có một ý kiến nêu ra là ông Nguyễn Đình Lương phải đưa ra một dự thảo cho phía Mỹ, và nêu rõ quan điểm của Việt Nam.

Trước đây, khi đàm phán Liên Xô, chỉ trong ba tiếng đồng hồ tôi đã có một dự thảo cả tiếng Nga lẫn tiếng Việt. Nhưng khi ngồi trong cuộc bà Barbara Barshefski tiếp Bộ trưởng Thương mại Lê Văn Triết ở Washington DC vào tháng 6.1995, và ngồi với Joe Damond suốt một tối, đến tận 12h đêm tại KS Sheraton (DC) để nghe giải thích về khái niệm một hiệp định tổng thể theo những cam kết của WTO, thì tôi biết là tôi không biết gì về WTO.

Tôi đã đề nghị Joe Damond chuẩn bị dự thảo là vì lý do đó.

Vâng. Xin ông tiếp tục.

Khi chúng tôi dịch dự thảo ra, và trình lên lấy ý kiến trong nội bộ Việt Nam, đã có người (tất nhiên là người có quyền) bảo rằng Việt Nam là nước nghèo, là nước kém phát triển, Việt Nam chỉ có thể chấp nhận các tiêu chuẩn đó vào năm 2020.

Nhân tiện có ý kiến đó, trong lúc phía đoàn đàm phán chúng tôi chưa chuẩn bị được gì, chúng tôi đành cứ phóng ra cho phía Hoa Kỳ phương án, lộ trình tất cả các lĩnh vực (thương mại, đầu tư, dịch vụ…) đều đến 2020.

Sao chúng ta bị ám ảnh bởi con số 20 thế nhỉ? Hai ngàn hai mươi, rồi hai mươi ngàn tiến sĩ…

(Cười) Đó là một cú sốc đối với đoàn Mỹ. Qua nét mặt, tôi biết đoàn đàm phán Mỹ thất vọng lắm.

Họ không ngờ…

Họ thất vọng về những người ngồi đối diện với họ?

Đúng vậy. Và kể từ đó, đúng như Joe Damond nói với anh, câu chuyện cứ lùng nhùng, dậm chân tại chỗ.

Nhưng cũng nhờ đó chúng tôi hiểu được suy nghĩ thực sự của họ, và nhận được một phản ứng mạnh mẽ nhất, cho tới lúc đó, từ phía họ. Chúng tôi cần hiểu tận cùng những ý tưởng của Mỹ trong cuộc chơi này, để từ đó mới thiết kế được đối án của mình. Và, nhờ đó, chúng tôi đã kéo dài được thời gian học bài và chuẩn bị.

Nhưng sự thất vọng của phía Mỹ chưa phải là điều xấu nhất có thể xảy ra với tôi.

Lại còn có điều tồi tệ hơn sao?

Thời gian đó, ở Hà Nội, vì thấy bế tắc, nơi này nơi khác đã có tiếng xì xèo. Có người nghi vấn “hình như ông Lương không biết đàm phán”.

Thậm chí, có người còn đề nghị thay trưởng đoàn đàm phán.

Tại sao ông không bị thay?

Béo bở gì miếng xương. Mà lại là miếng xương đang mắc ngang cổ họng người khác. Có người sẵn sàng làm việc đó, thì không còn có lúc này tôi ngồi tiếp chuyện nhà báo đâu.

(Còn nữa…)