Tag Archive: minh


Nancy Rica Schiff – một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp đã dành rất nhiều thời gian của mình để ghi lại hình ảnh của những ngành nghề mới lạ và độc đáo. Schiff đã từng xuất bản một cuốn sách ảnh về chân dung những người có công việc kì lạ vào năm 2002.

Đa số mọi người sẽ nghĩ rằng những người làm công việc kỳ lạ chắc hẳn sẽ có tính cách lập dị. Tuy nhiên, Schiff cho biết, điều này không đúng. Nhiếp ảnh gia mô tả nhân vật của mình là những người nhạy cảm, tinh tế và làm việc một cách vui vẻ.

Nhiều người trong số các “đối tượng” của Schiff đã liên lạc với nhiếp ảnh gia và kể lại về tác động mà những hình ảnh tạo nên với cuộc sống của họ. Họ chia sẻ rằng trước đây, bạn bè và hàng xóm biết nơi họ làm việc, nhưng không thực sự biết họ làm gì ở đó. Giờ đây, công việc của họ không những được biết đến nhiều hơn mà còn nhận được nhiều sự cảm thông và khích lệ.

Dưới đây là những nghề nghiệp “quái dị” đã được xuất bản trong cuốn sách:

 

1

Chuyên gia… kiểm tra mùi cơ thể.

2

Người nuôi đỉa.

3

Người sản xuất gà cao su.

4

Người thử nghiệm… thức ăn cho chó.

5

Nhân viên trị liệu… ruột già.

6

Người thiết kế… underwear cho nam giới.

7

Trợ lý cho… nghệ sỹ phi dao.

8

Trị liệu âm nhạc cho những người đang hấp hối.

9

Người làm sạch… xương khủng long.

10

Nhân viên… chữa vết nứt trên các vách đá.

11

Và cả người… thử nghiệm băng vệ sinh.

[sưu tầm]

(REDS.VN) Sự sụp đổ của Liên bang Xô viết vào năm 1991 tưởng như là hồi chuông báo tử cho hệ tư tưởng của Marx và Lenin tại Nga, tuy nhiên chỉ sau gần hai thập kỷ, một làn sóng mới của các nhà hoạt động xã hội chủ nghĩa tại Nga, những người sẵn sàng vẫy cờ đỏ một lần nữa trên nóc điện Kremlin, đã xuất hiện ngày càng rõ rệt hơn.

Isabel Magkoeva, 21 tuổi, một nhà hoạt động của Mặt trận Xã hội Cách mạng, ngôi sao đang lên của cánh tả nước Nga cho biết “Tôi đã đặc biệt hứng thú với lý tưởng xã hội chủ nghĩa ngay từ khi còn là một thiếu niên.”

Magkoeva cho biết, cô luôn quan tâm đến các vấn đề bất công trong nền kinh tế và bắt đầu tự hỏi về nguyên nhân gây ra tình trạng này, sau đó, cô đã đi tìm câu trả lời trong các tài liệu cánh tả, và nhận ra cô phải tự tay tham gia đấu tranh chống lại chuyện này. Isabel Markoeva đã từng là một người mẫu tuổi thiếu niên, người được cho là có đặc điểm rất giống với thủ lĩnh biểu tình sinh viên người Chile có tên Camila Vallejjo.

Tuy nhiên, dù Magkoeva luôn coi Lenin là “Nhà cách mạng vĩ đại” nhưng cô vẫn còn rất mơ hồ về Liên bang Xô viết, một thể chế đã sụp đổ vào cùng năm mà cô được sinh ra.

Cô cho biết: “Thực ra nhà nước Xô viết chưa đi theo con đường chủ nghĩa xã hội thực thụ, và do đó, sẽ là rất sai lầm nếu miêu tả những người như tôi cố gắng hành động để khôi phục lại một nhà nước từ quá khứ. Thực sự, chúng tôi đấu tranh cho một hình thái hiện đại hơn của chủ nghĩa xã hội”.

Thực trạng lý tưởng xã hội chủ nghĩa ngày một phổ biến tại Nga đã ngày được xác nhận rõ ràng qua những báo cáo về tình trạng phân hóa giầu nghèo được đưa ra tháng trước bởi công ty tài chính Credit Suisse của Thụy Sĩ. Trong báo cáo có đoạn: “Không kể đến một số nước vùng Caribbe vốn là nơi được chọn đặt dinh thự của rất nhiều tỷ phú, sự phân hóa giàu nghèo tại Nga là cao nhất trên thế giới. Trên quy mô toàn cầu, các nhà tỷ phú đang sở hữu không tới 2% tài sản cá nhân, tuy nhiên tại nước Nga hiện nay, 100 tỷ phú đã chiếm giữ tới 30% tổng khối tài sản này”.

Chính vì lý do này, nhiều người trẻ nước Nga ngày càng bị cuốn hút vào các nhóm hoạt động mang tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tạo bước đột phá cho phong trào cánh tả khi trong so với gần hai mươi năm trước, khi những người Cộng sản thời Xô viết là những người duy nhất còn mang tư tưởng xã hội chủ nghĩa.

Nhà hoạt động cánh tả Sergei Fomchenkov, 38 tuổi, thủ lĩnh mặt trận Nước Nga khác cho biết: “Những người trẻ gần như không có cơ hội mua được nhà cửa với mức giá trên trời và lo cho gia đình một cuộc sống bình thường. Cơ hội để họ leo lên những tầng lớp trên của xã hội cũng gần như không có, đặc biệt là với những người không có gốc gác Moskva. Khi tất cả mọi người phải chịu đựng điều này, họ lại thấy một nhóm nhỏ những tỷ phú giầu có xây dựng những dinh thự xa hoa, từ đó, những tư tưởng đấu tranh theo mô hình cánh tả đã thu hút họ”.

Tuy nhiên, giống như Magkoeva, Fomchenkov không hề có ý tưởng đưa nước Nga lại thời kỳ Xô viết. Ông cho biết cái mình muốn là một nhà nước xã hội chủ nghĩa kiểu mới, với mô hình nhà nước kiểm soát hoàn toàn các ngành công nghiệp chính, tuy nhiên, những hình thức kinh doanh quy mô nhỏ vẫn có được toàn quyền tự do. Theo Fomchenkov, nếu nhà nước muốn kiểm soát đến từng mặt nhỏ nhất của đời sống, ví dụ như từng quán café một, đó thực sự là độc tài chứ không phải xã hội chủ nghĩa.

Những nhà phân tích nhìn nhận phong trào cánh tả đang lên ở Nga cũng tương tự những gì đang xảy ra ở châu Âu trong thời kỳ khủng hoảng này. Kết quả là tại châu Âu, các đảng cánh Tả cũng đang lớn mạnh một cách bất ngờ trong hệ thống chính trị của các nước thành viên.

Một nhà phân tích tại Trung tâm phân tích Carnegie, Moskva tên Lilia Shevtsova bình luận: “Giống mọi nơi khác tại châu Âu, những người trẻ bị tác động mạnh hơn bởi khủng hoảng kinh tế toàn cầu và họ sẽ dễ bị ảnh hưởng bởi tư tưởng xã hội chủ nghĩa”.

Ilya Ponomaryov, một trong những nhà sáng lập của Mặt trận cánh tả nhận định: “Ngày nay, những nhóm đấu tranh kiểu mới đã xây dựng được một cương lĩnh đấu tranh với tư tưởng xã hội chủ nghĩa kiểu mới và đã nhận được rất nhiều biểu hiện tích cực từ dân chúng và càng ngày càng có nhiều người trẻ tham gia”.

Ponomaryov cũng phủ nhận ngay những quan điểm cho rằng việc xây dựng nhà nước cộng sản và xã hội chủ nghĩa lý tưởng là bất khả thi. Ông bày tỏ quan điểm khi nói về sự thất bại của hệ tư tưởng này trong quá khứ: “Mọi người đã hiểu sai hết ý tưởng của Marx và Engels, đáng lẽ ra bạn phải thi hành đường lối kinh tế xã hội chủ nghĩa hoàn chỉnh trước khi bạn muốn xây dựng một nhà nước xã hội chủ nghĩa.”

Tổng thống Putin thường gọi sự sụp đổ của liên bang Xô viết là “thảm họa địa chính trị khủng khiếp nhất” của thế kỷ 20, thể hiện sự đồng cảm với những người thuộc về thế hệ đã sinh sống dưới thời kỳ này.

Đồng thời, đối thủ chính của ông Putin là Gennady Gudkov, một sĩ quan KGB trong quá khứ hiện là một nhà đấu tranh chống lại chính quyền Kremlin cũng tự bạch với tạp chí RIA Novosti khi được hỏi quan điểm về tổng thống: “Dù sao chúng tôi cũng phải giữ cho đất nước sự đoàn kết.”

Còn đối với nhà đồng sáng lập mặt trận cánh tả Ponomaryov, ông thừa nhận có “cảm xúc lẫn lộn” về nhà nước Xô viết trong quá khứ. Trong phát biểu của Ponomaryov có đoạn: “Liên bang Xô viết là một nhà nước rất mạnh với nhiều bảo đảm xã hội, tuy nhiên, họ lại quá chuyên quyền. Nhưng một điều khá rõ ràng là xã hội thời Xô viết còn tốt hơn hiện nay”.

Trong con mắt các nhà phân tích, những người cánh tả đang là đe dọa lớn nhất cho quyền lực của tổng thống Putin. Về vấn đề này, nhà phân tích Shevtsova của trung tâm Carnegie cho biết: “Ngày trước thì những nhóm dân tộc cực đoan là đe dọa lớn nhất đối với quyền lực chính quyền, nhưng ngày nay thì chắc chắn rằng, vai trò này đang thuộc về các nhóm đấu tranh cánh tả”.

NGUYỄN LINH (trích dịch từ RIA Novosti)

CHIA CẮT – NỖI ĐAU LỚN NHẤT CỦA DÂN TỘC

Nam Bắc là một nhà – không lực lượng nào có thể chia cắt được!

Một dòng sông Bến Hải, rộng không quá 100 mét, một cầu Hiền Lương dài 178 mét mà người Việt Nam phải đi suốt 18 năm (1954-1972), đánh đổi không biết bao xương máu mới qua được bờ Nam sông Bến Hải. Ngoài những trận chiến khốc liệt, không hiếm những cuộc “chọi màu”, “chọi loa”, “chọi cờ” cũng quyết liệt không kém giữa 2 bên tại đôi bờ cầu Hiền Lương. Đó là những trận chiến âm thầm nhưng ý nghĩa của nó lại hết sức lớn lao, thể hiện khát vọng thống nhất của dân tộc Việt Nam, cũng như câu nói của nhà điện ảnh Thụy Điển Gerald Evans: “Vĩ tuyến 17 – nơi “trưng bày” sự man rợ đến tột cùng của đế quốc Mỹ và lòng dũng cảm đến mức thần thánh của nhân dân Việt Nam.”
………………
…….

“Cuộc chiến màu sắc”

Trong sự mâu thuẫn chính trị giữa hai bên, trong đó nổi bậc là phong trào đấu tranh chính trị đòi hiệp thương Tổng tuyển cử thống nhất đất nước của Việt Nam Dân chủ Cộng hoà(VNDCCH) đối với chính quyền Việt Nam Cộng hoà(VNCH), cây cầu Hiền Lương và dòng sông Bến Hải bị cuốn vào cuộc tranh chấp vì đây là nơi giáp mặt của hai chính quyền đối lập.

Ở đoạn giữa cầu có một vạch trắng kẻ ngang, rộng 1cm được dùng làm ranh giới. Thoạt đầu VNCH chủ động sơn một nửa cầu phía nam thành màu xanh, VNDCCH liền sơn tiếp màu xanh một nửa cầu còn lại. Sau VNCH lại chuyển sang màu nâu thì VNDCCH cũng sơn lại màu nâu. Cứ như thế, cầu Hiền Lương luôn thay đổi màu sắc, hễ VNCH sơn một màu khác đi để tạo ra hai màu đối lập thì ngay lập tức VNDCCH liền sơn lại cho giống. Cuối cùng vào năm 1975, cây cầu chung một màu xanh thống nhất. Hành động sơn màu cầu là một cách đấu tranh chính trị nhằm nói lên khát vọng thống nhất đất nước của VNDCCH.

“Cuộc chiến âm thanh”

Những năm 1954-1964 là giai đoạn không còn tiếng súng ở đôi bờ giới tuyến, song cuộc chiến bằng tiếng nói đã diễn ra ở đây rất căng thẳng và quyết liệt giữa hai phe đối lập.

Lúc đầu, VNDCCH cho xây dựng một hệ thống loa phóng thanh được phân bố thành 5 cụm trong chiều dài 1.500m ở bờ Bắc, mỗi cụm gồm 24 loa có công suất 25W.

Sau những ngày phát sóng đầu tiên, hệ thống loa phóng thanh này không thể át được các loa do Tây Đức, Úc cung cấp phát với âm thanh lớn hơn của chính quyền VNCH. Chính quyền VNDCCH trả đũa bằng cách tăng thêm 8 loa có công suất 50W và 1 loa có công suất 250W được viện trợ từ Liên Xô. Ngược lại chính quyền VNCH được Mỹ viện trợ cho những loại loa tối tân hơn, vang xa hàng chục cây số.

Vào đầu năm 1960, một giàn loa của Mỹ với công suất của mỗi loa lên tới hàng trăm oát được chuyển đến và đặt tại bờ Nam sông Bến Hải. Lúc bấy giờ chính quyền VNCH tuyên bố: “Hệ thống loa “nói vỡ kính” này sẽ vang tận Quảng Bình, dân bờ Bắc sẽ nghe rõ tiếng nói của “chánh nghĩa Quốc gia”!” Không chịu thua, lúc bấy giờ chính quyền VNDCCH đã lắp đặt chiếc loa có công suất 500W với đường kính rộng đến 1,7m và bổ sung thêm 20 loa loại 50W, 4 loa loại 250W của Liên Xô tại chiến tuyến Bến Hải. Khi thuận gió, tiếng loa có thể truyền xa hơn 10km.

Vào giai đoạn 1954 – 1964, ở đôi bờ Bến Hải vang vọng trong ký ức của một giọng ca ngọt ngào, truyền cảm của nghệ sĩ Châu Loan của VNDCCH với những bài thơ, bài hò do nghệ sĩ thể hiện rất biểu cảm:

“Chim xa rừng còn thương cây nhớ cội
Thiếp xa chàng ngày đợi đêm trông
Trong đồn chàng có nhớ thiếp không?
Ngoài này thiếp vẫn chờ mong chàng về”.

Cuộc “chọi cờ”

Theo quy định của hiệp định Genève, tất cả các đồn cảnh sát giới tuyến phải treo cờ hàng ngày. Treo cờ là chuyện bình thường, song “chọi cờ” mới là chuyện “quốc gia đại sự” đã từng xảy ra ở hai cột cờ ở hai đầu cầu Hiền Lương và kéo dài hàng chục năm.

Lúc đầu, vào năm 1954 – 1956, chính quyền VNDCCH cho làm một cột cờ bằng cây phi lao cao 12m để treo một lá cờ có khổ 3,2mx 4,8m. Ở bờ Nam, Pháp cắm cờ tam tài lên nốc lô cốt Xuân Hoà ở bờ Nam cao 15m. Theo yêu cầu của nhân dân giới tuyến, cờ của chính quyền VNDCCH phải cao hơn cờ của địch thủ nên những người lính của chính quyền VNDCCH đã vào rừng sâu để tìm bằng được một cây gỗ cao 18m, cao hơn cột cờ của Pháp 3m và treo một lá cờ bằng vải sa tanh rộng 24m.

Ngay sau đó, Ngô Đình Diệm đã cho dựng một trụ cờ bằng xi măng cốt thép cao 30m tại bờ Nam. Trên đỉnh treo một lá cờ vàng ba sọc đỏ lớn, có hệ thống đèn nê-ông nhấp nháy đủ màu. Khi dựng cờ xong, loa chiến tranh tâm lý hướng sang bờ Bắc truyền thông: “Tổng thống VNCH cho dựng cột cờ cao 30m ở Vĩ tuyến 17 để dân chúng miền Bắc thấy rõ chánh nghĩa Quốc gia”.

Tháng 7 – 1957, Tổng Công ty lắp máy Việt Nam đã gia công một cột cờ bằng thép ống cao 34,5m tại Hà Nội rồi vận chuyển vào giới tuyến. Trên đỉnh cột cờ gắn một ngôi sao bằng đồng có đường kính 1,2m, 5 đỉnh ngôi sao gắn một chùm bóng điện loại 500W, lá cờ rộng 108m2.

Chính quyền VNCH hoàn toàn bất ngờ trước sự kiện này nên vội vàng tôn cột cờ của họ lên 35m và lên giọng: “VNDCCH muốn chọi cờ nhưng chọi sao nổi với Quốc gia”.

Năm 1962, thêm một lần nữa, Tổng Công ty lắp máy Việt Nam gia công một cột cờ cao 38,6m rồi chuyển vào dựng ở Hiền Lương, kéo lên lá cờ đại 134m2, nặng 15kg, cách đỉnh 10m có một cabin để chiến sĩ VNDCCH đứng treo và thu cờ. Cột cờ này được xem là cột cờ cao nhất giới tuyến. Hàng ngày, các người lính an ninh VNDCCH kéo cờ lên sớm hơn và hạ cờ xuống muộn hơn giờ quy định (6h30’ đến 18h30’) để cho những người đi làm sớm, về muộn cũng nhìn thấy được lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới bên cạnh đối thủ. Người dân ở xa hàng chục cây số vẫn nhìn thấy rõ lá cờ Tổ quốc ở bờ Bắc. Nếu như trước đây người đi rừng, đi biển nhìn sao Bắc đẩu, thì nay họ nhìn vào ngọn cờ cao 38,6m này để tìm phương hướng.

Cờ của VNDCCH treo cao hơn lúc nào cũng đập vào mắt lực lượng an ninh VNCH làm họ phải luôn tìm cách phá hoại. Khi Mỹ tìm cách phá hoại bằng không quân đối với miền Bắc, thì cột cờ Hiền Lương là mục tiêu đánh phá hàng đầu. Ngày 8-02-1965, tướng không quân của chính quyền VNCH Nguyễn Cao Kỳ đã lái chiếc máy bay AD6 bắn phá cột cờ, nhưng pháo cao xạ của VNDCCH bắn trả bị thương.

Mặc dù VNCH huy động hàng trăm chiếc máy bay ném bom và hàng vạn đạn pháo cỡ lớn từ Dốc Miếu, Cồn Tiên bắn ra, từ Hạm đội 7 ngoài biển bắn vào, nhưng vẫn không thể xóa được cái “chấm đỏ” này ở bắc cầu Hiền Lương. Đến ngày 2-8-1967, họ lại tập trung nhiều tốp máy bay thay nhau đánh phá liên tục suốt ngày làm cho cột cờ của VNDCCH bị gãy và đánh sập cầu Hiền Lương. Tối hôm đó, loa của VNCH truyền thông: “Cột cờ của Bắc Việt trên đầu cầu Hiền Lương đã bị không lực Hoa Kỳ đánh tan tành tro bụi”. Nhưng ngay đêm hôm đó, một cột cờ mới được dựng lên. Sáng hôm sau, trong lúc loa VNCH đang đọc bản tin thì lá cờ đỏ sao vàng của VNDCCH lại đã xuất hiện tung bay trong nắng sớm. Cũng chính ngay đêm hôm đó, những người lính VNDCCH đã ôm bộc phá sang đánh gãy cột cờ ở bờ Nam, để chấm dứt lá cờ của VNCH trên bầu trời giới tuyến.
………..
…..
Sau ngày hòa bình được lặp lại, một cây cầu mới đã được dựng lên theo nguyên bản của cây cầu Hiền Lương cũ. Thời kỳ đó, cầu Hiền Lương là ranh giới chia cắt Việt Nam thành hai quốc gia. Còn ngày nay nó đã trở thành biểu tượng của “nỗi đau chia cắt”, để con cháu đời sau có thể nhìn vào mà thấy tự hào vì mình là công dân của một đất nước thống nhất, để biết rằng anh em Nam Bắc sống hoà thuận dưới cùng một mái nhà Việt Nam!

Nguồn:

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=423122211062415&set=a.127053440669295.8435.124739034234069&type=1&theater

Các phát minh lỗi lạc của nhân loại

Bánh xe, cúc áo, thìa, đĩa là những phát minh quan trọng của xã hội loài người. Chúng hầu hết bắt nguồn từ thời cổ đại và phát triển dần đến ngày nay.

ô

Bánh xe là một trong những phát minh tối quan trọng của loài người, giúp cải thiện vượt bậc sản xuất, giao thông cũng như nhiều mặt khác của đời sống con người. Bánh xe ra đời khi nào? Cho đến nay, đó vẫn còn là một câu hỏi lớn đối với các nhà sử học. Các nhà khảo cổ tìm thấy chiếc bánh xe cổ xưa nhất tại khu vực Lưỡng Hà có niên đại khoảng 3.500 trước Công nguyên. Trên các bức vẽ cổ của người Sume có khắc họa một loại xe chở hàng có gắn bánh tròn bằng gỗ cưa từ thân cây.

Bánh xe có nan hoa đầu tiên được tạo ra trên bán đảo Tiểu Á (ngày nay thuộc Thổ Nhĩ Kỳ) vào khoảng 2.000 năm trước Công nguyên và lập tức được du nhập sang khu vực châu Âu và Trung Quốc, Ấn Độ qua các lái thương. Bánh xe loại này chủ yếu được dùng trong các loại xe chở người, riêng người Ai Cập thì dùng để vận chuyển hàng hóa, vật liệu xây dựng. Bánh xe được sử dụng rất rộng rãi tại Hy Lạp cổ đại và sau đó tại La Mã cổ đại. Ở châu Mỹ, bánh xe được các nhà hàng hải châu Âu du nhập vào khi họ tìm ra châu Mỹ. Ảnh:seekonk.sharpschool.com

Cúc áo. Thời xưa tổ tiên chúng ta đã biết tết những sợi đay, sợi vỏ cây làm quần áo và họ dùng xương thú, gai cây thay cho cúc áo. Người Ai Cập và La Mã cổ đại thì khoét lỗ trên một đầu tấm vải dùng làm áo rồi luồn đầu kia qua, hoặc buộc thắt nút. Người Trung Quốc dùng dây rút trong nhiều thế kỷ.

Không ai biết cúc áo do ai phát minh ra. Một số nhà sử học khẳng định cúc áo có từ thời La Mã, một số khác cho rằng từ thời Hy Lạp cổ đại, trong khi một nhóm nhà khoa học khác đưa ra những dẫn chứng về nguồn gốc châu Á của cúc áo.

Những chiếc cúc đầu tiên được đưa vào sử dụng từ thế kỷ 8 và mãi cho tới tận thế kỷ 18, cúc áo được xem là vật xa xỉ mà chỉ có nhà giàu mới dám dùng. Vua chúa thì dùng cúc bằng vàng, bạc. Người nhà giàu dùng xương voi làm cúc. Còn dân thường thì vẫn buộc thắt nút, hoặc dùng dải rút. Đầu thế kỷ 18, người châu Âu bắt đầu sản xuất cúc bằng thép và đồng. Tới tận cuối thế kỷ 19, cúc áo vẫn còn là đồ vật đắt tiền nên người ta khi may áo mới thường tháo cúc từ áo cũ đơm sang. Ảnh: O-detstve.ru.

Bao cao su. Khoảng 3.000 năm trước, một vị vua đã nghĩ ra cách bảo vệ bản thân khỏi bị lây nhiễm các bệnh hoa liễu trong khi đi “vi hành tình dục”. Ông đã dùng bong bóng cá trong quan hệ chăn gối.

Từ “condoms” (bao cao su) được ra đời vào thế kỷ 17, do khi đó quan ngự y của Vua Anh Carl II có tên là Condom đã nghĩ ra cách cải tiến chiếc bao nhằm giúp cho vua ngăn ngừa sinh con ngoài ý muốn và tránh bệnh hoa liễu khi quan hệ với gái. Vị quan ngự y này đã dùng ruột cừu cắt khúc cán mỏng ra và khâu một đầu lại làm thành chiếc bao cho Vua dùng. Về sau nhân dân cũng học theo phương pháp này, song dùng ruột cừu cũng khá tốn kém nên người ta thường phơi khô để tái sử dụng vài lần nữa.

Tới năm 1839, công nghệ lưu hóa ra đời, cho phép chế tạo cao su thô thành một dạng vật liệu mới – cao su tinh chế, có khả năng đàn hồi tốt. Công nghệ này tạo nên một đại cách mạng đối với bao cao su. Năm 1844, loại bao đầu tiên bằng cao su ra đời và tới năm 1919 người ta đã sử dụng chất liệu latex làm bao cao su. Đây là loại chất liệu có độ đàn hồi rất tốt, có thể cán rất mỏng và không có mùi cao su. Loại bao cao su này được sử dụng cho tới ngày nay. Ảnh:datedaily.mate1.com.

Diêm. Thời xa xưa con người đã có rất nhiều cách để tạo ra lửa. Từ cách chà xát hai tấm vỏ cây vào nhau hàng giờ liền đến khi phát lửa, cho đến cách dùng đá lửa đập vào nhau… Rồi khi tạo ra được ngọn lửa thì phải duy trì ngọn lửa khá là công phu.

Năm 1830, nhà hóa học 19 tuổi người Pháp Charles Soria đã phát minh ra diêm phốt pho, tạo ra từ hợp chất muối bertollete, phốt pho trắng và keo. Loại diêm này rất dễ sử dụng, khi chà xát với bất cứ bề mặt cứng nào đều có thể phát ra lửa. Cho nên trong nhiều phim ta thường thấy những chàng cao bồi quẹt diêm vào gót giày để châm thuốc hút. Diêm phốt pho không có mùi khó chịu, song có hại cho sức khỏe do chất phốt pho trắng chứa độc tố gây hại.

Tới 1855, nhà hóa học Johan Lunstrom làm một thử nghiệm với chất phốt pho đỏ, đồng thời ông tráng một lớp mỏng chất này lên bề mặt giấy nhám. Kết quả là ông đã tạo ra một loại diêm mới dễ đánh lửa và ít gây hại hơn cho sức khỏe người dùng. Đây chính là loại diêm chúng ta đang sử dụng ngày nay. Ảnh:Prv3.lori-images.net.

Giấy vệ sinh. Người La Mã cổ đại dùng một chiếc bàn chải có cán để làm vệ sinh cá nhân sau khi đi đại tiện. Chiếc bàn chải này sau đó được ngâm vào hũ nước muối để sử dụng tiếp. Người Viking chùi bằng khăn, trong khi người thổ dân châu Mỹ thì dùng các loại lá cây trong tầm với tay, hoặc dùng lõi ngô. Các vị vua Pháp thì cao cấp hơn, họ dùng giẻ bằng vải lanh.

Người Trung Quốc đi tiên phong trong việc sử dụng giấy làm vệ sinh cá nhân. Nhưng chỉ có hoàng đế mới được phép dùng. Mãi tới sau này, khi kỹ thuật in phát triển, giấy mới được sử dụng rộng rãi cho việc vệ sinh cá nhân (giấy báo cũ, sách cũ…).

Năm 1857, một người Mỹ tên là Joseph Hayetti đã nghĩ ra cách cắt giấy thành từng tờ vuông vắn và đóng thành gói. Ông rất tự hào với sáng tạo của mình nên đã in tên mình lên từng tờ giấy. Không rõ sau này ai đã nghĩ ra cách cuộn tròn giấy vệ sinh như ngày nay, chỉ biết rằng năm 1890 xưởng giấy “Scott Paper” ở Mỹ đã sản xuất hàng loạt loại giấy vệ sinh này. Ảnh: Globalwarming.org.

Kim khâu. Con người biết may vá đã hơn 20.000 năm nay. Người tiền sử đã lột da thú, may chúng lại bằng những dụng cụ thô sơ như gai cây, đá nhọn. Họ dùi lỗ trên các dụng cụ ấy và xâu gân thú vào để khâu quần áo. Các nhà khảo cổ đã tìm thấy những chiếc kim bằng đá hoặc xương thú tại những bãi khai quật có niên đại 17.000 năm ở Tây Âu và Trung Á. Tại châu Phi, con người đã dùng gân lá dừa làm kim và sợi cây khô làm chỉ.

Chiếc kim khâu bằng kim loại đầu tiên được làm tại Trung Quốc và cũng chính tại nước này, vào thế kỷ 3 trước Công nguyên, con người đã sáng tạo ra cái đê khâu. Những phát minh này sau đó được đưa sang châu Âu qua các lái buôn.

Cái kéo đầu tiên do người Ai Cập cổ đại làm ra vào thế kỷ 16 trước Công nguyên. Tuy nhiên, nó được chế tạo từ một tấm kim loại liền, chứ không phải là hai thanh kim loại bắt chéo nhau. Loại kéo mà chúng ta dùng ngày nay do Leonardo da Vinci sáng tạo nên. Ảnh: Ualberta.ca

Thìa, dĩa và dao. Từ thời La Mã cổ đại, con người đã sử dụng nhiều bát đĩa bằng gốm sứ tinh xảo phục vụ cho bữa ăn. Nhưng họ ăn bốc. Những chiếc thìa đầu tiên đã được phát minh ra và sử dụng cách đây tới 5.000 năm. Người khu vực Lưỡng Hà đã biết nặn đất sét thành hình một chiếc gáo nhỏ để múc thức ăn. Chiếc thìa bằng kim loại đầu tiên là bằng bạc do Vua Nga Vla-đi-mia Mặt Trời Đỏ đặt chế tác riêng.

Còn với dĩa, vào khoảng thế kỷ thứ 10 tại châu Á đã xuất hiện một loại dụng cụ ăn mang dáng dấp của dĩa, nhưng có nhiều răng, trông như cái bàn cào của Trư Bát Giới thu nhỏ. Một trăm năm sau, phát minh này được du nhập vào châu Âu và tới thế kỷ 16, dĩa được sử dụng rộng rãi và có hình dạng gần giống ngày nay, với 2 răng có đầu nhọn dùng để đâm thức ăn.

Tới cuối thế kỷ 18, những con dao to và dài như mã tấu vốn được sử dụng để cắt thức ăn đã được thay thế bằng loại dao nhỏ gọn và có mũi cong tròn. Lý do của sự cải tiến này rất đơn giản: do không còn cần dao nhọn và dài để đâm thức ăn nữa vì đã có dĩa thực hiện chức năng này. Ảnh: awarenessquest.com.

Băng vệ sinh. Ngay từ thời đồ đá, con người đã bắt đầu có những phát minh sáng tạo độc đáo nhằm giải quyết vấn đề hàng tháng của phụ nữ, sử dụng cỏ khô, lá khô, thậm chí là rong biển. Người Ai Cập cổ đại đã sáng tạo ra một loại băng vệ sinh mà ngày nay người ta gọi đó là tampone, tuy nhiên tại Ai Cập ngày đó loại tampone này làm bằng sợi cói. Người Hy Lạp cổ đại cải tiến tampone, dùng vải quấn quanh một cái que nhỏ. Tại La Mã cổ đại, phụ nữ dùng vải lụa làm băng vệ sinh, tại Nhật họ dùng giấy, trong khi phụ nữ châu Phi dùng bó cỏ khô làm bằng vệ sinh.

Tới đầu thế kỷ 19, người ta bắt đầu dùng những tấm giẻ lau cũ khâu thành cái túi nhỏ, bên trong nhồi bông. Những chiếc băng vệ sinh tân tiến này được giặt, phơi khô và dùng đi dùng lại nhiều lần. Cuối thế kỷ 19, đã từng có một doanh nghiệp châu Âu sản xuất hàng loạt loại băng vệ sinh giẻ lau này, tuy nhiên do không quảng cáo nên dây chuyền sản xuất này đã thất bại.

Đầu thế kỷ 20, phụ nữ bắt đầu dùng vải màn, vải xô. Vào những năm 1920, loại băng vệ sinh làm bằng vải màn bắt đầu được bày bán tại cửa hàng bách hóa và quảng cáo trên tạp chí. Băng vệ sinh loại này được gài vào quần lót bằng kim băng, hoặc nối với dây thắt trên eo. Ảnh: wday.ru.

Bàn chải răng. Cách đây 5.000 năm, con người đã biết chăm sóc răng lợi. Tại các bãi khảo cổ Ai Cập, các nhà khoa học đã tìm thấy những chiếc bàn chải răng thời cổ, được làm từ cành cây có sợi tơ ở đầu.

Tuy nhiên, phải đến năm 1498, hoàng đế Hoằng Trị nhà Minh (Trung Quốc) mới sáng tạo ra loại bàn chải mà chúng ta dùng ngày nay. Chiếc bàn chải của vua Hoằng Trị được làm từ xương thú, còn sợi chải răng thì làm từ lông lợn rừng Siberia.

Năm 1937, con người phát minh ra nylon. Một năm sau đó, bàn chải bắt đầu được làm từ sợi nylon nhựa, tuy nhiên chưa phổ biến vì sợi nylon thời đó còn khá cứng, dễ dàng gây tổn thương cho nướu. Lông lợn rừng do mềm mại hơn nên tiếp tục được sử dụng tới tận giữa thế kỷ 20. Ảnh: vanityshare.net.

Sơn Việt tổng hợp

NHỮNG LẦN SINH NHẬT NGƯỜI
——————————-
Những chuyện kể về sinh nhật của Bác cũng góp phần thể hiện một nhân cách lớn mà chúng ta đang tiếp tục ôn lại với niềm tự hào được là con cháu của Người.

Lần kỷ niệm đầu tiên ngày sinh Bác Hồ là vào sáng 19-5-1946 tại Bắc Bộ phủ, Bác Hồ tiếp đại biểu thiếu nhi Thủ đô tự vệ, hướng đạo và hơn năm mươi đại biểu Nam bộ đến chúc mừng ngày sinh của Bác. Bác tặng các đại biểu thiếu nhi một cây bách trồng trong chậu và nói: ”Bác có cây này tặng các cháu. Mai sau, cái cây sẽ mọc ra một chậu trăm cái tán. Các cháu chăm nom cho cây lớn, cây tốt, thế là các cháu yêu Bác lắm đấy”.
Cũng chính ngày này, lực lượng thanh niên Thủ đô đã tuần hành thị uy chúc thọ Bác Hồ. Việc đó làm cho các đại biểu Đồng minh thấy rõ uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong lời phát biểu đáp lại lòng kính mến của đồng bào: ”Tôi chưa xứng đáng với sự săn sóc của đồng bào. Vì tôi hãy còn là một thanh niên, tuổi 56 chưa đáng được đồng bào chúc thọ. Chỉ vì một nhà báo nào đó biết đến ngày sinh của tôi mà đem ra làm rộn đồng bào. Từ trước đến nay tôi đã là người của đồng bào, thì từ nay về sau tôi vẫn thuộc về đồng bào. Tôi quyết giữ lòng trung thành với Tổ quốc…”.

Ngày 25-5-1946, Bác gửi thư cảm ơn đồng bào, các cơ quan, đoàn thể Việt Nam và nước ngoài đã chúc mừng Người: ”Tôi trân trọng cảm ơn: Quốc hội, Chính phủ, các đảng, các đoàn thể, đồng bào Bắc bộ, Trung bộ, Nam bộ, đồng bào Công giáo, Phật giáo, Tin lành và các cháu thanh niên và nhi đồng. Cảm ơn các bạn hữu Tàu, Pháp, Mỹ, Anh đã tỏ lòng quá yêu tôi và chúc mừng sinh nhật tôi. Nhân dịp này, tôi xin hứa với đồng bào rằng từ đây về sau tôi sẽ ra sức phấn đấu để giữ gìn quyền tự chủ của nước nhà, quyền tự do của dân tộc, quyền dân chủ của đồng bào…”.
Bác vẫn luôn từ chối việc tổ chức mừng sinh nhật mình.

Tại Việt Bắc năm 1947, nhân ngày sinh, các đồng chí phục vụ chuẩn bị sẵn một bó hoa rừng mang đến chúc thọ Bác. Người rất xúc động khi nhận được bó hoa này và đề nghị dành những bông hoa đó để đi viếng mộ đồng chí Lộc (người được phân công lo việc ăn uống cho Bác) vừa mới mất vì bị bệnh sốt rét.

Năm 1948, Bác đã viết thư cảm ơn Quốc hội, Chính phủ, đoàn thể, bộ đội, đồng bào trong nước và kiều bào ở nước ngoài đã gửi thư chúc mừng nhân ngày sinh của Người. Bức thư có đoạn: “Đồng bào yêu mến tôi, chúc thọ tôi, tôi biết lấy gì, nói gì để báo đáp lại lòng thân ái ấy? Tôi chỉ có một cách báo đáp là kiên quyết cùng đồng bào chịu cực khổ, quyết cùng đồng bào kháng chiến cho đến thắng lợi hoàn toàn…”.

Do không muốn tổ chức lễ mừng sinh nhật của mình, trước ngày 19/5/1948, Người đã làm bài thơ “Không đề” trả lời một số cán bộ đề nghị tổ chức sinh nhật Bác:

Vì nước chưa nên nghĩ đến nhà,
Năm mươi chín tuổi vẫn chưa già.
Chờ cho kháng chiến thành công đã,
Bạn sẽ ăn mừng sinh nhật ta

Vào dịp sinh nhật lần thứ 63 (năm 1953), Bác đã bí mật sang thăm lớp mẫu giáo nội trú đầu tiên của quân đội ở Định Hóa, Thái Nguyên, vừa để tránh việc chúc tụng, vừa để thăm các cháu nhi đồng. Nhắc lại sự kiện này, cô Phan Thanh Hòa, là giáo viên của lớp khi đó – người vinh dự 5 lần được gặp Bác, không giấu nổi xúc động: “8 giờ sáng, tôi đang dán bích báo để mừng sinh nhật Bác lần thứ 63, tự nhiên nghe thấy tiếng Người hỏi đằng sau: “Cô đang làm gì đấy”? Tôi ngoảnh lại, bàng hoàng: “Cháu thưa Bác, cháu đang dán bích báo”. Tôi kính mời Bác vào trong trường, lúc ấy, cả trường mới biết, ùa ra đón Bác. Người ân cần thăm hỏi, động viên các nhà giáo và các cháu học sinh. 59 năm qua, những điều Bác dạy, tôi không bao giờ quên được”.

Theo Tiến sĩ Chu Đức Tính, Giám đốc Bảo tàng Hồ Chí Minh: “Những dịp sinh nhật của mình, Bác thường hay cùng các đồng chí giúp việc đi ra khỏi cơ quan Chủ tịch phủ. Người đi thăm nông dân, thăm các di tích lịch sử văn hóa, các danh lam thắng cảnh bởi vì những ngày đó, người muốn tránh một sự tổ chức chúc thọ linh đình, tốn kém và lãng phí. Những ngày đó thì chúng ta có phong trào là cả nước viết thư về chúc thọ Chủ tịch Hồ Chí Minh, có những năm Người đã tự tay thảo thư cám ơn tất cả nhân dân, cán bộ, bộ đội chiến sĩ cả nước đã gửi thư, điện mừng chúc thọ Người”.

Khoảng thời gian từ tháng 12/1954 đến tháng 9/1969, Bác Hồ sống và làm việc tại khu Phủ Chủ tịch. Nhưng cứ đúng vào ngày 19/5, Người thường tìm cách đi một nơi khác để tránh những nghi lễ phiền phức, tốn kém. Và lần đầu tiên Bác thực hiện việc đó là ngày 19-5-1955, Bác đi thăm Nhà máy Xe lửa Gia Lâm – Hà Nội. Người ân cần thăm hỏi tình hình đời sống, công việc của anh chị em công nhân nhà máy Xe lửa và căn dặn phải đoàn kết chặt chẽ, thi đua lao động sản xuất. Vào những dịp sinh nhật khác, Bác thường dành thời gian đến thăm bà con nông dân, thăm các danh lam thắng cảnh hay thảo thư cám ơn cán bộ, chiến sĩ cả nước đã chúc thọ Người.

Những lần sinh nhật khác cũng thường chỉ là những lời chúc mừng và cảm ơn, một ít kẹo bánh mời người đến trực tiếp gặp Bác cho đến năm 1965 trong tháng sinh nhật mình Bác đã bắt đầu viết Di chúc thì kỷ niệm ngày sinh của Bác cũng được tổ chức gọn nhẹ nhưng đầy ý nghĩa. Được biết Bác sẽ đi công tác xa, 18 giờ ngày 14-5-1965, các đồng chí trong Bộ Chính trị và một số đồng chí Ủy viên TW Đảng tranh thủ tới chúc thọ Bác. Một bó hoa tươi được đặt trang trọng giữa bàn. Bác Hồ thân mật hỏi: ”Bác muốn biết ai tổ chức cuộc gặp mặt hôm nay?…”. Đồng chí Lê Duẩn – BT thứ nhất TW Đảng tủm tỉm cười đưa mắt nhìn sang Thủ tuớng Chính phủ Phạm Văn Đồng, Thủ tướng nhìn sang đ/c Trường Chinh – Chủ tịch Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Đ/c Trường Chinh đứng dậy hướng về phía Bác Hồ:
– Thưa Bác! Nhân dịp kỷ niệm sinh nhật lần thứ 75 của Bác, chúng tôi thay mặt TW Đảng, Quốc Hội, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, xin kính chúc Bác mạnh khỏe, sống lâu.
Sau lời cảm ơn, Bác hỏi: Chú Kỳ xem có gì chiêu đãi không? Đồng chí Vũ Kỳ ra hiệu cho các đồng chí phục vụ chuyển bánh kẹo ra. Bác vui vẻ giơ cao tay mời tất cả mọi người ăn kẹo, bánh và dặn: ”Nhớ để dành phần cho các thím và các cháu ở nhà nữa”. Tất cả cười vang, đầm ấm, chan hòa. Lễ sinh nhật lần thứ 75 của một vị Chủ tịch nước diễn ra như thế đó.

Là vị lãnh tụ của Đảng, với tầm nhìn xa, trông rộng, Bác căn dặn việc Đảng, việc Nước, việc dân phòng trước khi Người đi xa. Dịp kỷ niệm 75 năm ngày sinh, đúng 9 giờ sáng ngày 10/5/1965, Bác đặt bút viết những dòng đầu tiên vào tài liệu “Tuyệt đối bí mật” – “Bản Di chúc” để dặn lại cho muôn đời con cháu mai sau. Năm 1968, vào ngày sinh nhật 19/5, Bác xem và bổ sung “Bản Di chúc”.

Một ngày sau, tại lễ khai mạc kỳ họp thứ 4, Quốc hội khóa III (20-5-1968), sau khi nghe Thủ tướng Phạm Văn Đồng đọc báo cáo và lời chúc thọ, Bác nói:
…”Lần trước tôi có nói là những thắng lợi của chiến sĩ và đồng bào hai miền làm cho tôi thấy như mình trẻ lại 20 tuổi. Nhưng nay nghe nói 78 tuổi, thì tôi thấy già đi. Vì vậy tôi có bài thơ thế này:

“Bảy mươi tám tuổi chưa già lắm,
Vẫn vững hai vai việc nước nhà.
Kháng chiến dân ta đang thắng lớn,
Tiến bước, ta cùng con em ta”

Dịp sinh nhật của Người năm 1969 cũng diễn ra giản dị và đằm ấm như mọi lần. Nào ai biết đó sinh nhật cuối cùng. 16 giờ 15 ngày 11-5-1969, Bác Hồ đến thăm và nói chuyện thân mật với các đại biểu dự Hội nghị cán bộ cấp cao toàn quân. Khi Bác vào phòng họp, mọi người đứng dậy cả hô vang: ”Hồ Chủ tịch muôn năm!, Hồ Chủ tịch muôn năm!”. Bác hỏi thân mật hỏi thăm: ”Các chú khỏe cả chứ? Có vui không?”. Những lời đáp: ”Thưa Bác chúng cháu khỏe. Thưa Bác! Vui lắm ạ!” và Bác bảo ”Thế là tốt. Vậy các chú vỗ tay đi”. Cả hội trường lại được dịp vang lên những tràng vỗ tay vui mừng, phấn chấn.
Thiếu tướng Vương Thừa Vũ thay mặt anh em mang hoa đến và phát biểu chúc thọ Bác. Xúc động quá nên giọng run run, khi đồng chí ấy vừa dứt lời Bác vui vẻ rút một bông hoa đẹp nhất tặng lại đồng chí Vũ, một cử chỉ thật âu yếm và thân tình.
Chiều 18-5, các đồng chí trong Bộ Chính trị và một số Ủy viên TW Đảng vào chúc thọ Bác Hồ ở nhà họp Bộ Chính trị, ngay sau nhà sàn. Bác Hồ ngồi thoải mái phía đầu bàn, mọi người đứng, ngồi vây quanh. Đ/c Lê Duẩn đứng lên chúc thọ và đ/c Tố Hữu tặng hoa Bác. Khi bánh kẹo bưng ra, Bác thân mật mời và lại căn dặn nhớ mang phần về cho các cô, các cháu ở nhà. 10 giờ 30 ngày 19-5, Bác tiếp chị Phan Thị Quyên (vợ liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi), chị Nguyễn Thị Châu (Ủy viên Ban Chấp hành Hội Liên hiệp Thanh niên sinh viên giải phóng khu Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định) đến chúc thọ Bác.
14 giờ 30, Bác lên nhà sàn viết thư khen thiếu niên hợp tác xã Măng Non (thôn Phú Mẫn, xã Hàm Sơn, huyện Yên Phong, tỉnh Hà Bắc) có nhiều thành tích chăm sóc trâu bò. Trong ngày này Bác gửi tặng tỉnh Nghệ An tấm ảnh chân dung có ghi phía dưới ảnh ”Cán bộ, đảng viên phải gương mẫu trong mọi công tác, phải hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân”. Bác cũng gửi tặng nhà máy xi măng Hải Phòng một ảnh chân dung.
Ngày 23-5-1969, Bác gửi điện cảm ơn Chủ tịch Nguyễn Hữu Thọ và Ủy ban TW mặt trận giải phóng miền Nam Việt Nam; điện cảm ơn Chủ tịch Trịnh Đình Thảo và Ủy ban TW Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam và sau cùng là thư Bác Hồ cảm tạ chung Quốc hội, chính phủ, TW Đảng, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các chính Đảng, các đoàn thể nhân dân (đăng trên báo Nhân dân 28-5-1969).
Còn nhiều câu chuyện xung quanh những lần sinh nhật Bác như vào dịp này năm 1963 Người đề nghị Quốc hội không nhận Huân chương Sao vàng: ”… Chờ ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc hòa bình thống nhất, Bắc-Nam sum họp một nhà, Quốc hội sẽ cho phép đồng bào miền Nam trao tôi Huân chương cao quý ấy. Như vậy thì toàn dân ta sẽ sung sướng, vui mừng” …

 

Nguồn: https://www.facebook.com/hoighetphandong

Một mình đạp xe 1.800 km đi học khởi nghiệp

Ví 1.800 km từ Hà Nội vào TP HCM như quá trình lập nghiệp, anh Nguyễn Ngọc Hưng chọn chiếc xe đạp làm phương tiện, vừa để thử thách bản thân, vừa mong học được những kỹ năng cần thiết qua việc trải nghiệm.

Anh Hưng (ở Hà Nội) vừa trúng tuyển tham gia một khóa huấn luyện về khởi nghiệp trong lĩnh vực Internet, di động sắp diễn ra tại TP HCM. Nhiều lần bay ra bay vào TP HCM, nhưng lần này anh thử sức chọn xe đạp làm phương tiện băng qua quãng đường 1.800 km, với mục đích tự trải nghiệm bản thân và học tất cả những gì diễn ra trong và sau cuộc hành trình. “Mình muốn làm để thử thách bản thân, trải nghiệm và học những kỹ năng khởi nghiệp cần thiết từ chính chuyến đi”, anh Hưng nói.

Anh Nguyễn Ngọc Hưng trên chặng đường Thanh Hóa – Nghệ An.

Theo đó, 4h30 sáng ngày 9/5, anh Nguyễn Ngọc Hưng, sống ở Hà Nội bắt đầu chặng đường 1.800 cây số vào TP HCM bằng xe đạp. Những vật dụng cần thiết, nhỏ gọn nhất được mang theo như bông băng y tế, dầu gió, thuốc dự phòng, lương khô, chai sạch đựng nước, túi nilon, đồ dùng cá nhân và laptop để làm việc…

Tổng thời gian anh Hưng đạp xe trên đường 3 ngày đầu tiên là hơn 25 tiếng (tính theo đồng hồ điện tử được anh mang theo). Đến cuối ngày 11/5, anh đã vượt qua hơn 400 cây số, đang trong cuộc hành trình chinh phục Đèo Ngang. Tốc độ trung bình 16-20 km mỗi giờ, còn những đoạn leo đèo ngược gió, vận tốc là 8 km.

“Đã leo dốc mà lại còn thêm gió ngược chiều, những lúc thế này chắc đi bộ còn nhanh hơn. Gió khiến việc lao xuống dốc không còn nghĩa lý gì, vì bạn thả phanh cũng chẳng chạy được bao nhiêu. Đến con dốc sau, không hiểu sao nó dài thế, lên đến nửa chừng, tất cả cơ chân cơ tay gần như bó cứng lại. Nhưng ý chính thắng sức ỳ của cơ thể, tôi đã vượt qua”, anh Hưng chia sẻ trên blog cá nhân về chặng đường ngày 11/5.

Suốt quãng đường đi, không may hỏng xe, anh phải tự mày mò sửa chữa. Đêm đến cần thuyết phục người dân địa phương đồng ý cho vào ngủ nhờ. Ngoài ra, do đi một mình nên nếu kết thúc chặng đường bất hợp lý nơi đèo vắng, rừng heo hút, anh cũng có thể gặp nhiều nguy hiểm. Từ những tình huống trên đường, anh Nguyễn Ngọc Hưng tin có thể rèn luyện được những kỹ năng cần thiết cho công việc như khả năng thuyết phục, xử lý sự cố, làm chủ thời gian, kế hoạch… Bởi vậy, anh gọi 1.800 cây số lần này của mình là hành trình lập nghiệp mini.

Thông thường, với một cuộc chuyến xuyên Việt bằng xe đạp, một người sẽ mất 15 ngày trở lên. Nhưng anh Hưng buộc phải hoàn thành kế hoạch này trong 12 ngày để kịp tham gia khóa học vào ngày 22/5 tới.

Đang triển khai dự án thiết kế phần mềm dành cho smartphone với số vốn ban đầu hơn 2 tỷ đồng, anh Hưng cho biết khóa học tại TP HCM khá quan trọng. Đó là cơ hội để anh tạo mối quan hệ, học kinh nghiệm khởi nghiệp và kêu gọi đầu tư từ những doanh nhân thành đạt trên thế giới.

Trên dọc hành trình, để tránh các bác tài ngược chiều lấn làn đường, anh Hưng “thiết kế” chiếc bảng một mặt đề “Đừng vượt”, một mặt ghi chữ “Đi chậm”.

Ý tưởng đạp xe xuyên Việt tình cờ đến với anh hồi cuối tháng 4, khi gặp một bạn người Italy đi vòng quanh Đông Nam Á bằng xe đạp. “Mượn xe của bạn nước ngoài một tối, tôi đạp suốt 3 tiếng qua Hồ Gươm, Hồ Tây, cầu Long Biên, cầu Chương Dương, cảm giác thật thú vị nên quyết thử thách bản thân cho chuyến đi dài”, anh Hưng tâm sự.

Sau 2 tuần tập luyện, tham gia vào các diễn đàn để học hỏi kinh nghiệm, anh Nguyễn Ngọc Hưng chuẩn bị đồ đạc lên đường. Đến phút chót thì người bạn đồng hành “bỏ cuộc”. Thừa nhận, khi đó có đôi chút dao động song anh Hưng vẫn quyết thực hiện, dù vấp phải không ít phản đối, nghi ngại và lo lắng của gia đình. Thậm chí, trước đó, anh từng nghe tin một anh bạn đuối sức, phải truyền nước giữa đường… lấy sức quay về cũng trong cuộc hành trình xuyên Việt tương tự.

Chị Đặng Thị Thuy Thùy, phó giám đốc chi nhánh TP HCM của đơn vị tổ chức khóa học mà anh Hưng chuẩn bị tham gia chia sẻ, không loại trừ khả năng anh Hưng sẽ không thể hoàn thành được chặng đường dài gần 2.000 km. Tuy nhiên, theo chị, khởi nghiệp là như vậy, dám nghĩ, dám làm, dám thử thách bản thân, không sợ thất bại và sẵn sàng làm lại. “Chúng tôi đã lên kế hoạch động viên và hỗ trợ Hưng trên suốt dọc đường đi từ Bắc vào Nam”, chị Thùy nói.

Bác Hồ với ba người con đỡ đầu ở Pháp – Đức – Nga

Sinh thời, Bác Hồ luôn luôn dành sự quan tâm và tình cảm yêu thương nhất cho các cháu thiếu nhi trong và ngoài nước, bởi đó là những chủ nhân tương lai của nước nhà và nhân loại.

Tình cảm và sự quan tâm chăm sóc của Bác dành cho thiếu nhi trong nước và quốc tế thể hiện ở nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau, trong đó có cả tình cảm mà Bác Hồ đã dành cho những người con đỡ đầu của mình. Vậy những người con đỡ đầu của Bác là ai? Họ đang làm gì và sinh sống ở đâu?

Cuối tháng 5 năm 1946, với tư cách là thượng khách của Chính phủ Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang thăm Cộng hoà Pháp. Người đã đi thăm những di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh của nước Pháp, một đất nước có nền văn hoá lâu đời. Người đã tiếp xúc, gặp gỡ với các nhà lãnh đạo Pháp. Người cũng đã gặp gỡ, nói chuyện với các văn nghệ sĩ, các nhà khoa học và bà con Việt kiều…

Ngày 27 tháng 7 năm 1946, Việt kiều Pháp tổ chức buổi chiêu đãi chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại vườn hồng Batagen trong lâu đài D’Artois, nằm ở ven rừng Bôlônhơ. Ông Raymông Ôbrắc – cựu Ủy viên Cộng hoà ở Mácxây, nghị sĩ Quốc hội Pháp đã được mời tới dự buổi chiêu đãi. Tại đây ông được giới thiệu với Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong lúc chuyện trò với ông Raymông Ôbrắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh cảm ơn ông về những việc ông đã làm cho nhân dân Việt Nam hai năm trước ở Mácxây. Ông Raymông Ôbrắc ngỏ ý mời Chủ tịch Hồ Chí Minh đến thăm gia đình, Người vui vẻ nhận lời và nói: “Tôi sẽ sung sướng nếu được đến vườn của ông, ông bạn thân mến ạ. Vậy tuần sau, vào giờ uống trà buổi chiều tôi đến thăm gia đình ông được chứ?”1.

Đến thăm căn nhà và khu vườn của gia đình ông Raymông Ôbrắc (ở 190 đường Soisy sous Montmorency, quận Seine et Oire2, cách Thủ đô Pari 10 km), Chủ tịch Hồ Chí Minh rất thích. Ngày 28 tháng 7, Người chuyển về đây ở. Ông Ôbrắc và bà Luyxi, vợ ông, là những người có cảm tình với chủ nghĩa cộng sản và rất kiên cường trong cuộc đấu tranh chống phát xít.
Ông Raymond Aubrac, một người bạn Pháp thân thiết của chủ tịch Hồ Chí Minh
Ngày 15 tháng 8 năm 1946, bà Luyxi sinh một bé gái tại bệnh viện phụ sản Bôđơlốc ở đại lộ Po Roayan, quận 5, Pari. Em bé được đặt tên là Êlidabét. Bác Hồ đã đến bệnh viện thăm, tặng quà và nhận Êlidabét làm con đỡ đầu. Người gọi Êlidabét là Babét (Babette). Gia đình ông Ôbrắc vô cùng vui sướng và hạnh phúc. Vào những dịp sinh nhật Babét, Người thường gửi thư và quà tới ông bà Ôbrắc và con gái đỡ đầu của mình. Quà của Bác là quả cầu nhỏ hay một con trâu bằng ngà, có khi là một bức ảnh chân dung của Người, hoặc một đồng tiền vàng có mang hình Bác và đặc biệt là tấm lụa vàng để Babét may áo cưới.

Babét sau này là giáo viên và có ba người con. Những món quà của Bác Hồ tặng, Babét vẫn giữ gìn như những kỷ vật. Babét đã nói với chồng và các con: “Chúng ta đang sống lại một kỷ niệm đẹp đẽ nhất trong đời mà Bác Hồ đã dành cho chúng ta”.

Còn Knuth Wolfgang Walther Hartmann ở miền nam nước Đức thì lại có vinh dự được làm con đỡ đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi có ngày sinh trùng với ngày sinh của Người: 19 tháng 5 năm 1951. Chính vì sự trùng hợp ngẫu nhiên này mà ông bà Walter R. Harlmann, cha mẹ của Knuth, đã gửi thư tới Chủ tịch Hồ Chí Minh bày tỏ cảm tình ủng hộ cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp xâm lược, giành độc lập dân tộc của nhân dân Việt Nam và xin Người nhận Knuth Wolfgang Walther Hartmann làm con đỡ đầu.

Tại Việt Bắc, mặc dù bộn bề công việc để lãnh đạo nhân dân ta kháng chiến chống Pháp và kiến thiết đất nước, nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành thời gian viết thư trả lời ông bà Hartmann. 5 tháng sau ngày gửi thư, ông bà Hartmann đã nhận được thư trả lời của Người. Bức thư được đánh máy trên giấy với nội dung:

“CHỦ TỊCH PHỦ

VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

Độc lập Tự do Hạnh phúc

Gởi:
Bà và ông Walther R. Hartmann

Postamtsvorsteher

E. Thalmanr – Strasse 13

Sebaitz (Sachs)

Tôi thân ái mừng bà và ông vừa có cháu trai là Knuth Wolfgang Walther Hartmann.

Tôi cảm ơn bà và ông đã gửi thư và ảnh cho tôi. Và tôi rất vui lòng nhận cháu làm con đỡ đầu. Tôi gởi biếu cháu một bức ảnh nhỏ và một đồng Việt Nam để làm kỷ niệm. Tôi chắc rằng ở trong nước Đức dân chủ nhân dân và dưới sự chăm sóc của Chủ tịch W. Pieck và của Đảng, bà và ông sẽ nuôi dạy cháu mau lớn, vui vẻ, mạnh khoẻ, mai sau cháu sẽ thành một chiến sỹ tốt trong sự nghiệp phát triển nước Đức xã hội chủ nghĩa, gắn chặt tình thân thiện giữa hai dân tộc Đức – Việt và giữ gìn dân chủ cùng hoà bình thế giới.

Tôi gởi bà và ông lời chào thân ái, và gởi cháu nhiều cái hôn.

VIỆT NAM. 15-9-51

HỒ CHÍ MINH”

Nhận được thư của Bác, gia đình ông Hartmann vô cùng xúc động, bởi tình cảm và sự quan tâm mà Người đã dành cho gia đình ông. Vào dịp Knuth Wolfgang Walther Hartmann tròn 3 tuổi, ngày 19 tháng 5 năm 1954, Bác gửi tặng gia đình ông Hartmann một bức ảnh Người. Bức ảnh Người chụp chung với một bé gái, phía sau Bác viết:

“Thân ái gởi con đỡ đầu yêu quí Knuth Wolfgang W. Hartmann. Việt Nam, 19-5-1954 – Hồ Chí Minh”4.

Gia đình ông Harmann rất trân trọng những tình cảm của Bác Hồ dành cho họ. Các bức ảnh chụp chung trong dịp Người sang thăm Cộng hoà dân chủ Đức được lưu giữ như những kỷ vật, dù thời gian trôi qua đã nhiều năm. Còn với người con đỡ đầu của Bác, dù lúc còn học ở trường, khi tham gia quân đội hay là cán bộ kỹ thuật làm việc tại một xí nghiệp lai bò giống, Knuth đều mang theo bên mình một trong những tấm ảnh chụp chung với Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Còn cô bé người Nga, Irina Đimitơriépna Đênia, được Bác Hồ nhận làm con đỡ đầu trong trường hợp khác.

Irina Đimitơriépna Đênia sinh vào mùa xuân năm 1958, là con của nhà báo X. Côlôxốp (X. Côlôxốp từng là phóng viên của Thông tấn xã Liên Xô APN) và vợ là bác sĩ Anna Xtaxia Vaxilépna, ở thành phố Giucốpxki, ngoại ô Mátxcơva. Mặc dù chưa một lần được gặp hay nói chuyện với Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng với tấm lòng kính yêu Bác, nên khi sinh con gái họ đã viết thư gửi Người. Bức thư viết:

“Chúng cháu được biết, tình yêu của Người đối với trẻ em và của trẻ em đối với Người vô cùng sâu sắc. Theo phong tục Nga cổ truyền, một phong tục tốt đẹp ở nước Nga, chúng cháu chân thành đề nghị Người làm cha đỡ đầu của đứa con nhỏ của chúng cháu – con gái tên là I-ri-sơ-ca”5.

Không lâu sau ngày gửi thư, gia đình Điôminnưi đã nhận được thư trả lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Bác viết:

“Cô An-na Xta-xi-a Va-xi-lép-na và chú Đi-mi-tơ-ri Gơ-ri-gô-rê-vích thân mến!

Tôi đã nhận được thư của cô chú và chân thành cảm ơn cô chú đã mời tôi làm cha đỡ đầu cho con gái của cô chú. Tôi mong rằng sự nhận lời của tôi sẽ thắt chặt hơn nữa tình đoàn kết anh em giữa hai dân tộc Việt Nam và Liên Xô.

Hôn con gái đỡ đầu bé nhỏ của tôi và chúc cháu được mạnh khoẻ, hạnh phúc. Chúc cô chú đạt nhiều thành tích trong công tác, trong cuộc sống.

Chào thân ái,

HỒ CHÍ MINH”

Cùng với lá thư, còn có một bức ảnh chân dung của Người, trên đó viết dòng chữ Nga: “Hôn con I-ra-sơ-ca, chúc con mạnh khoẻ và hạnh phúc!

Cha nuôi Hồ”

Đến tháng 5 năm 1960, gia đình X. Côlôxốp nhận được thư tiếp theo của Bác. Trong thư Người viết:

“Tôi đã nhận được thư của cô chú.

Tôi gửi lời chào thắm thiết nhất tới bé I-ra-sơ-ca. Chúc bé khoẻ, hạnh phúc.

Hôn bé.

HỒ CHÍ MINH”

Tháng 11 năm 1960, Irasơca và bố mẹ đã được gặp Bác Hồ tại một ngôi nhà trên phố Alếchxây Tônxtôi, nhân dịp Người cùng Đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ Việt Nam sang Mátxcơva dự lễ kỷ niệm lần thứ 43 Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại. Cuộc gặp gỡ đã diễn ra rất tình cảm và thân mật. Bác mời gia đình Irasơca cùng ăn trưa với Người.

Trong khi nhân dân ta đang tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, dù bận rất nhiều công việc nhưng Bác Hồ vẫn dành thời gian viết thư trả lời con gái đỡ đầu yêu quý của mình. Sau này Irina phục vụ trong ngành công an, rồi cùng chồng là Igo Tribixốp, cán bộ ngành hàng không dân dụng khai thác dầu khí ở Chiumen (Tây Xibiari). Họ sống ở làng Taôgiơnưi và có một con gái là Varônica.

Việc Bác Hồ nhận những cháu bé người Pháp, Đức và Liên Xô làm con đỡ đầu đã thể hiện tấm lòng nhân ái và sự quan tâm của Bác dành cho thiếu nhi quốc tế, và cũng qua đó càng làm tăng thêm tình đoàn kết hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân Pháp, nhân dân Cộng hoà dân chủ Đức và nhân dân Liên Xô anh em./.

nguồn: Baotanghochiminh.vn

Lội ruộng cùng nông dân, câu cá bên nhà sàn, yêu thương các cháu thiếu nhi… là những bức ảnh về cuộc sống đời thường của Hồ Chủ tịch vừa được Bảo tàng Hồ Chí Minh giới thiệu nhân dịp 19/5.

Bữa cơm đạm bạc của Hồ Chủ tịch với đồng bào.
Những ngày ở Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh tự chẻ củi, nấu ăn.
Sau này, Chủ tịch nước cũng tự cuốc đất, trồng cây, tưới nước xung quanh nhà sàn.
Những lúc có điều kiện, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại về với nông dân, chỉ bảo họ cách gieo trồng.
Bức ảnh chụp Hồ Chủ tịch thăm làng Kim Liên (Nam Đàn, Nghệ An).
Thiếu niên, nhi đồng mỗi khi nhắc đến Bác Hồ thường nghĩ ngay đến vị cha già của dân tộc với vầng trán cao, ánh mắt sáng và râu tóc bạc phơ.
Thói quen làm việc, sắp xếp tài liệu gọn gàng, ngăn nắp của Hồ Chủ tịch vẫn không hề thay đổi dù ở nơi đâu.
Những lúc rảnh rỗi, Hồ Chủ tịch lại thảnh thơi ngồi câu cá.
Với Hồ Chủ tịch, trẻ thơ được xem như búp trên cành, luôn được yêu thương và dạy dỗ.
  • Nguồn: Hoàng Thùy (chụp từ ảnh tư liệu) // VNE, 19.5.2011.
Phát minh tình cờ mà vĩ đại

(TNO) Những phát minh khoa học là một phần không thể thiếu trong quá trình phát triển của nhân loại. Trong đó, không thể không kể đến những phát minh mà sự ra đời của nó xuất phát từ một sai lầm, một thành quả ngoài ý muốn hay một sự tình cờ.

Sau đây là 10 trong số những phát minh như vậy theo ghi nhận của trang tin Discovery.

1. Penicillin

Penicillin được xem là một trong những phát minh nhờ vào “tai nạn nghề nghiệp” nổi tiếng nhất thế kỷ 20.

Một ngày vào năm 1928, nhà vi khuẩn học Scotland Alexander Fleming đã quên dọn dẹp nơi làm việc trước khi đi nghỉ. Khi trở về, ông phát hiện một nấm mốc lạ trên một số mẻ cấy vi khuẩn. Càng lạ hơn là các loại vi khuẩn dường như không phát triển trên những mẻ vi khuẩn đó.

Năm 1940, các nhà khoa học tại Đại học Oxford (Anh) đã tách thành công penicillin và phát triển nó thành thuốc kháng sinh đầu tiên của con người.

Cho đến nay, penicillin vẫn là loại kháng sinh được sử dụng phổ biến nhất.

2. Máy tạo nhịp tim

Kỹ sư người Mỹ Wilson Greatbatch đã tạo ra máy tạo nhịp tim trong một lần nhầm lẫn.

Khi Wilson đang cố gắng tạo ra một chiếc máy tạo dao động để giúp ghi lại âm thanh của nhịp tim thì ông đã mắc sai điện trở. Tuy nhiên, Wilson vẫn ghi lại được tiếng tim đập. Từ đó, ông chế tạo thành công máy tạo nhịp tim với sự hỗ trợ của ông William Chardack.

Thử nghiệm đầu tiên được tiến hành thành công năm 1959 đã giúp ông Wilson trở thành người đầu tiên trên thế giới chế tạo được máy tạo nhịp tim.

3. Thuốc nhuộm

Vào năm 18 tuổi, trong một nỗ lực nghiên cứu để chữa trị căn bệnh sốt rét, nhà hóa học Anh William Perkin đã sáng tạo ra một thứ làm thay đổi bộ mặt thời trang và giúp chống ung thư.

Đó là vào năm 1856, khi Perkin cố gắng để tạo ra một loại ký ninh nhân tạo thì kết quả mà nhà khoa học trẻ thu được là một dung dịch màu đen.

Khi quan sát nó, Perkin đã nhận ra một màu sắc rất đẹp bên trong. Và ông phát hiện mình đã tạo ra thuốc nhuộm tổng hợp đầu tiên.

Loại thuốc nhuộm này tốt hơn nhiều lần so với thuốc nhuộm từ tự nhiên. Màu sắc sáng hơn, sống động hơn, không bị phai hoặc mờ khi rửa.

Phát hiện của ông cũng trở thành tiền đề cho một nền khoa học mới. Tuy nhiên, câu chuyện vẫn chưa dừng tại đó. Nhà vi khuẩn học Đức Paul Ehrlich đã dùng thuốc nhuộm của Perkin để khai phá liệu pháp miễn dịch và hóa trị trong y học.

4. Phóng xạ

Năm 1896, nhà vật lý người Pháp Henri Becquerel bị cuốn hút bởi 2 thứ, đó là huỳnh quang tự nhiên và tia X.

Ông đã tiến hành một loạt thí nghiệm để xem xét liệu các khoáng chất huỳnh quang tự nhiên có tạo ra tia X hay không khi chúng được đem phơi nắng. Tuy nhiên, Henri Becquerel đã tiến hành thí nghiệm vào mùa đông và suốt một tuần liền, bầu trời u ám. Vì vậy, ông để các thiết bị cùng với nhau trong một ngăn kéo và chờ đợi ngày nắng.

Đến một ngày khi ông làm việc trở lại, Henri nhận ra đá uranium mà ông để trong ngăn kéo đã in dấu của nó lên một tấm ảnh mà không tiếp xúc với ánh sáng mặt trời. Henri làm việc với Marie, Pierre Curie và phát hiện ra đó là chất phóng xạ.


Ảnh: Reuters

5. Nhựa

Vào năm 1907, shellac được dùng làm vật liệu cách nhiệt trong ngành công nghiệp điện tử phương Tây. Vì thế, ngành công nghiệp này luôn phải bỏ ra những khoản tiền lớn để nhập khẩu nguyên liệu này từ Đông Nam Á.

Trong tình hình như vậy, nhà hóa học Bỉ Leo Hendrik Baekeland nghĩ rằng ông có thể kiếm được một nguồn lợi nhuận lớn nếu sản xuất ra được một vật liệu mới thay thế shellac. Tuy nhiên, những cuộc thí nghiệm của ông lại tạo ra một vật liệu mà không thay đổi hình dạng dưới nhiệt độ cao. Baekeland cho rằng nó có thể sử dụng trong việc làm đĩa hát. Song, hơn cả những điều ông mong muốn, vật liệu mà ông tìm thấy có hàng ngàn công dụng khác nhau. Nay thì nhựa có thể được tìm thấy ở mọi nơi.

6. Sự lưu hóa cao su

Nhà khoa học Mỹ Charles Goodyear đã dành một thập niên của đời mình để tìm cách làm cho cao su dễ sử dụng hơn và có khả năng chống nóng, lạnh. Tuy nhiên, những nghiên cứu của ông đều thất bại. Cho đến một ngày, ông tình cờ đổ hỗn hợp cao su, lưu huỳnh và chì vào một lò nóng. Dưới nhiệt độ cao, cao su nóng chảy song không bị hủy hoại. Khi quá trình này kết thúc, Goodyear nhận thấy hỗn hợp đã đông cứng song vẫn còn có ích.

Từ phát hiện này của ông, vô số sản phẩm cao su lưu hóa ra đời và được sử dụng ở khắp mọi nơi.


Ảnh: Reuters

7. Chất chống dính

Nhà hóa học người Mỹ Roy Plunkett trong quá trình nghiên cứu để tìm ra một dạng mới của CFC (chlorofluorocarbon), chất được sử dụng trong công nghệ làm lạnh, cho rằng nếu có thể cho một hợp chất gọi là TFE phản ứng với a-xít hydrochloric thì ông có thể tạo ra chất làm lạnh mong muốn. Vì thế, Plunkett đã làm mát TFE, nén nó trong một chiếc hộp nhỏ để ông sử dụng khi cần thiết.

Sau một thời gian, ông mở chiếc hộp để lấy TFE pha với axit hydrochloric thì không còn gì trong hộp. Thất vọng và giận dữ, ông cắt bỏ nắp hộp và lắc nó. Chính lúc đó ông phát hiện một lớp bột trắng mịn. Plunkett tiến hành thí nghiệm và nhận thấy nó chịu nhiệt tốt và chống dính hiệu quả.

Với phát minh này, Plunkett đã được cấp bằng sáng chế vào năm 1941. Loại chất mới được đặt tên là Teflon vào năm 1944.

8. Coke

Có rất nhiều thực phẩm đã ra đời trong những trường hợp ngẫu nhiên nhưng có lẽ không loại thực phẩm nào có lịch sử đặc biệt và bí mật như Coke.

Dược sĩ John Pemberton ở vùng Atlanta (Mỹ) trong một nỗ lực chữa những cơn đau đầu đã pha trộn các thành phần khác nhau và tạo ra một loại đồ uống. Và đồ uống này sau 8 năm được bán trong các hiệu thuốc đã trở thành loại nước được ưa chuộng khắp toàn cầu. Cho đến nay, công thức pha chế đồ uống này vẫn là một bí mật.

9. Hạt bụi thông minh

Khi sinh viên Mỹ Jamie Link đang thực hiện công trình tiến sĩ hóa học tại Đại học California, San Diego, một trong những con chip mà cô đang xử lý phát nổ. Sau đó, Link phát hiện những mảnh nhỏ của con chip vẫn hoạt động như những thiết bị cảm biến.

Cái mà cô gọi là “bụi thông minh” này đã giúp cô đoạt giải thưởng hàng đầu của cuộc thi các nhà phát minh của trường đại học vào năm 2003. Những thiết bị cảm biến cực nhỏ này có thể được sử dụng để lọc nước uống hoặc nước biển, phát hiện các tác nhân sinh học và hóa học nguy hiểm trong không khí, và thậm chí định vị và tiêu diệt các tế bào ung thư trong cơ thể.

10. Đường hóa học

Vào năm 1879, nhà hóa học người Đức gốc Nga Constantin Fahlberg đang nghiên cứu những ứng dụng cho nhựa than đá trong phòng thí nghiệm của nhà khoa học nổi tiếng khi đó là Ira Remsen. Khi ông trở về nhà ăn tối với vợ và quên không rửa tay, ông đã nhận thấy vị ngọt khác lạ từ món cuốn hôm đó.

Ông hỏi vợ và bà bảo không hề cho thêm gì. Sau đó, ông phát hiện vị ngọt đó đến từ chất dẫn xuất hóa học mà ông làm đổ trên tay mình.

Ngày hôm sau, ông đến phòng thí nghiệm và tiếp tục nghiên cứu về chất dẫn xuất trên và khám phá ra saccharin (đường hóa học), một phát minh mà ông được cấp bằng sáng chế vào năm 1880.

Ngày nay, saccharin được dùng phổ biến trong nhiều loại sản phẩm ít calorie và không đường.

Trùng Quang