Tag Archive: mờ


Kịch bản để mở đầu một cuộc chiến.

Photo: EPA
Câu nói “Cái mới chẳng qua là điều  xưa đã bị quên lãng” đã trở nên thông dụng 200 năm nay và nhiều lần khẳng định sự tồn tại của mình.
Chẳng hạn như thí dụ mới đây. Thượng viện Mỹ công bố gói tài liệu tiếp theo về thời kỳ chiến tranh Việt Nam. Bình luận về các tài liệu này trên tạp chí New York Times vào tuần qua, nhà báo Mỹ Elizabeth Bumiller đã rút ra kết luận: “Những tài liệu này chứng tỏ, Nhà Trắng và Lầu Năm góc lừa dối các thượng nghị sĩ về sự kiện Vịnh Bắc Bộ năm 1964″.
Không ít người còn coi đây là một tin giật gân. Liệu có đúng như vậy?
Sự lơ đãng, với hình thức tồi tệ nhất là cố tình quên lãng, vốn là một trong những bản chất tính cách không những của con người, mà cả nhiều quốc gia. Nhưng ông Lê Đức Thọ, người được trao giải thưởng Nobel Hòa bình đã công bằng nhận xét “ai quên đi sai lầm của mình sẽ không tránh khỏi sự lặp lại”. Người đại diện của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa tại các cuộc thương lượng với Henry Kisinger, trước lễ ký kết Thỏa thuận Paris 1973 về đình chiến ở Việt Nam, đã trả lời như vậy khi nhân vật đối thoại người Mỹ đề nghị hai nước quên đi mọi chuyện cũ và bắt đầu mối quan hệ từ trang giấy trắng.
Tìm cách quên lãng quá khứ là những ai cảm thấy đó điều bất lợi cho mình , Mới đây, trên một kênh truyền hình chiếu bộ phim về chiến tranh Việt Nam , có một cảnh làm  đó là cuộc tranh luận giữa hai người Mỹ, một già một trẻ, về nguyên nhân sự thất bại của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Nhân vật đứng tuổi giải thích đó là bởi sự công minh trong tính chất đấu tranh của người Việt Nam, bởi chiến lược và chiến thuật quân sự tài tình của họ. Còn nhân vật trẻ tuổi giải thích đấy là nhờ vào hoạt động chống chiến tranh của những người theo chủ nghĩa hòa bình và trào lưu hippy tại chính nước Mỹ. Có thể thấy, không hề thừa khi chúng ta nhắc nhở cho các thế hệ trẻ về những điều bị quên lãng. Cả về nguyên nhân sự thất bại của Mỹ ở Việt Nam, cũng như lý do khởi đầu sự xâm lược của Mỹ.  Cụ thể, về sự kiện Vịnh Bắc Bộ mà Mỹ đã sử dụng như lý lẽ để khai màn cuộc chiến tranh trên không chống nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Ngày 05/08/1964, phát biểu trên đài truyền hình Mỹ, Tổng thống Johnson thông báo, tại vịnh Bắc Bộ ngày 02/08 tầu ngư lôi của Bắc Việt Nam đã tấn công tầu khu trục Mỹ, và đến ngày 04/08 thì đã hai tầu Mỹ là Maddox và Turner Joy bị phía Việt Nam tấn công. Vì những nguyên nhân này mà không quân Mỹ vừa tổ chức cuộc ném bom đầu tiên xuống lãnh thổ Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Chỉ sau đó vài giờ, dự thảo nghị quyết chuẩn y hoạt động chiến tranh qui mô tại Việt Nam đã được đưa vào Hạ nghị viện. Văn bản được gọi là “Nghị quyết vịnh Bắc Bộ” đã thông qua ngày 07/08 và trở thành cơ sở khởi đầu sự tham gia toàn diện của Mỹ trong các hoạt động chiến sự chống nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, không cần tới sự tuyên chiến chính thức.
Nhà sử học Makxim Siunenberg chuyên viên về nghiên cứu các mối quan hệ Việt Nam và Mỹ những năm 1950-1970  nói: “Ngay từ đầu, sự trung thực của cái gọi là sự kiện vịnh Bắc Bộ đã gây nên nhiều hoài nghi chính tại Mỹ cũng như từ các hạ nghị sĩ. Vào đầu năm 1968, các tạp chí Esquire và Times đã đăng những tài liệu  vạch trần toàn bộ sự dối trá trong nội dung giả thiết chính thức của Mỹ về sự kiện này”.
Cả hai ngày 2 và ngày 4 tháng 8, không một tầu khu trục nào của Mỹ đã bị trúng ngư lôi. Sau đó, như Bộ trưởng quốc phòng Mỹ Robert McNamara thông báo vào tháng 2/1968, các tầu khu trục Mỹ đã có mặt  tại vịnh Bắc Bộ với mục đích “khiêu khích hoạt động của các thiết bị radar Bắc Việt Nam, nhằm ghi lại tần số các radar này”.
Và nếu ngày 02/08/1964, đúng là tầu hải quân Bắc Việt Nam có mặt ở khu vực Maddox, nhưng tại hải phận nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thì ngày 04/08 hòa toàn không có một tầu nào tại đây.
“Toàn bộ là những hành động đáng ngờ”, – thuyền trưởng John Gerric, người nắm quyền điều kiển linh hoạt cả hai tầu khu trục, đã thông báo như vậy với ban chỉ huy Hải quân Mỹ ngày 05/08. Người này tỏ ra nghi ngờ sự đúng đắn các chỉ số của thiết bị định vị âm thanh trên khu trục hạm. “Tôi tin rằng, đây chỉ là những thông số ghi lại tiếng ầm của động cơ hai tầu khu trục”, – ông tuyên bố như vậy.
Bản thân thuyền trưởng Gerbert Ogayer của tầu Meddox đã cho biết, tầu của ông không hề bị tấn công. Ông thú nhận đã nhầm tiếng ồn của động cơ tầu mình với tiếng ồn của tầu phóng ngư lôi. Thuyền trưởng Bartnhart của Turner Joy cũng  phủ nhận là khu trục hạm bị tấn công.
Trung úy Connell, sĩ quan pháo trên tầu Maddox thì nói như sau: “Chúng tôi đã nã pháo loạn xạ. Không có một mục tiêu nào trên màn hình radar. Các máy bay được điều động từ hàng không mẫu hạm cũng không phát hiện thấy đối phương”.
Tháng 3/1968, Ủy ban đối ngoại Thượng nghị viện Mỹ đã điều tra đầy đủ sự kiện vịnh Bắc Bộ và kết luận, sự kiện này được “sáng tác từ đầu đến cuối”.  Những bằng chứng mới khẳng định điều này nằm trong các tài liệu thời chiến tranh Việt Nam, vừa được Ủy ban quan hệ quốc tế Thượng nghị viện Mỹ giải mật .
Hoa Kỳ cần tới sự kiện vịnh Bắc Bộ như một casus belli – lý do để tuyên chiến. Trong lịch sử thế giới đây không phải là trường hợp đầu tiên.
Advertisements

10 điều thú vị về những giấc mơ

Tất cả mọi người đều nằm mơ khi ngủ. Giấc mơ không chỉ là những hình ảnh ngẫu nhiên, chúng có mối quan hệ chặt chẽ với thực tại và đôi khi chính là thông điệp của tiềm thức. Người mù mơ như thế nào, giấc mơ có ích lợi gì, nam/nữ có nằm mơ giống nhau hay không…? Hãy cùng tìm hiểu một số điều thú vị về giấc mơ nhé.

10. Người mù cũng nằm mơ.

 

Giấc mơ của người mù phụ thuộc vào việc họ mất thị giác từ khi nào. Những người lớn lên mới bị mù có thể thấy hình ảnh trong giấc mơ. Người mù bẩm sinh không nhìn thấy gì, nhưng giấc mơ của họ lại bao gồm nhiều cảm giác khác như âm thanh, mùi vị và cảm xúc. Thật khó tưởng tượng nhưng giấc mơ của họ cũng sống động và chân thực y như người mắt sáng vậy.

9. Chúng ta quên hết 90% những điều đã thấy trong mơ.

Trong vòng 5 phút sau khi thức dậy, một nửa giấc mơ đã bị quên lãng. Sau 10 phút bạn sẽ chỉ còn nhớ 10% những gì mình thấy trong mơ. Tất nhiên, 10% này đôi khi cũng tạo nên những điều kì diệu.

Chuyện kể rằng nhà thơ nổi tiếng Samuel Taylor Coleridge tỉnh dậy vào sáng sớm sau một giấc mơ tuyệt đẹp. Ông lập tức cầm giấy bút và viết bài thơ Kubla Khan tả lại giấc mơ của mình. Được 54 dòng thì có khách đến thăm, sau đó ông quên hết những gì định viết. Bài thơ dang dở sau này trở thành một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của văn học Anh.

 

Tương tự, nhân vật Frankenstein của nhà văn Mary Shelley cũng là kết quả nảy sinh trong một giấc mơ.

8. Mọi người đều nằm mơ.

Tất cả chúng ta đều mơ (ngoại trừ những trường hợp rối loạn tâm thần trầm trọng), nhưng đàn ông và phụ nữ có nhiều đặc điểm giấc mơ khác nhau.

Theo thống kê của các nhà khoa học, đàn ông thường mơ thấy những người đàn ông khác (thật vậy!), trong khi phụ nữ nằm mơ thấy người thuộc cả 2 giới tính.

 

Thêm vào đó mọi người đều gặp phản ứng “kích thích” trong một số giấc mơ của mình (ngay cả khi giấc mơ đó không liên quan gì tới tình dục). Phụ nữ sẽ tăng lưu lượng máu ở cơ quan sinh dục còn đàn ông có thể cương cứng.

7. Giấc mơ có tác dụng chống trầm cảm.

Nhiều nghiên cứu gần đây đã được tiến hành trên các nhóm học sinh để xác định vai trò của giấc mơ. Những học sinh này vẫn được ngủ đủ 8 tiếng nhưng luôn bị đánh thức khi họ bắt đầu mơ.

 

Thông tin thêm: giấc ngủ của con người bao gồm 4 giai đoạn, tương ứng với các trạng thái hoạt động khác nhau của não bộ và cơ thể. Giấc mơ chủ yếu xảy ra ở giai đoạn REM Sleep (rapid-eye-movement sleep). REM Sleep chiếm khoảng 90-120 phút một đêm và thường diễn ra khi trời gần sáng.

Kết quả: tất cả đều có triệu chứng cáu gắt, khó tập trung, ảo giác và rối loạn tâm lý chỉ sau 3 ngày. Ngay khi được quay lại với giấc ngủ bình thường, người ta thấy rằng giai đoạn REM Sleep của họ kéo dài hơn (để bù đắp lại phần thiếu) và những triệu chứng rối loạn cũng kết thúc.

6. Chúng ta chỉ mơ thấy những gì mình biết.

Trong giấc mơ, đôi khi chúng ta thấy những người lạ mặt. Họ đóng một vai trò nào đó – dù to, dù nhỏ – cho tới khi chúng ta thức giấc. Nhưng bạn có biết rằng khuôn mặt của họ cũng tồn tại trong đời thực?

 

Não bộ của bạn không hề vẽ ra những khuôn mặt tưởng tượng. Nó ghi nhớ mọi gương mặt mà bạn đã thấy, kể cả những người chỉ nhìn thoáng qua hoặc không hề quen biết. Người bán xăng bên vỉa hè rất có thể sẽ trở thành sát thủ máu lạnh trong một giấc mơ nào đó. Bạn thậm chí chẳng nhớ hết hàng trăm nghìn gương mặt trong cuộc đời mình, nhưng đó chính là nguồn cung cấp nhân vật cho giấc mơ của bạn.

5. Không phải giấc mơ nào cũng có màu sắc.

12% những người có thị lực bình thường nằm mơ toàn cảnh đen trắng. Số còn lại mơ thấy đầy đủ màu sắc.

 

Người ta cũng nhận thấy giấc mơ chủ yếu xoay quanh một số đề tài quen thuộc: trường học, bị rượt đuổi, chạy chậm/chạy tại chỗ, tình dục, cảm giác rơi ngã, bay, thi trượt, đến muộn, người thân quen chết (nhưng vẫn sống trong đời thực), rụng răng, tai nạn xe cộ… Tuy nhiên vẫn chưa xác định được màu sắc có ảnh hưởng như thế nào đến cảm xúc trong mơ.

4. Giấc mơ thường mang nhiều ý nghĩa ẩn dụ.

Nếu bạn nằm mơ thấy người thân qua đời, rất có thể người đó sẽ sống khỏe mạnh thêm vài chục năm nữa. Giấc mơ giao tiếp với chúng ta bằng một thứ ngôn ngữ ẩn dụ khó đoán. Tiềm thức con người sử dụng các hình ảnh khác nhau để truyền thông điệp – tương tự như việc bói bài hoặc làm thơ.

 

Hãy nhớ rằng, mọi khung cảnh bạn thấy trong mơ thường mang nhiều ý nghĩa sâu xa khác. Còn cụ thể thế nào thì lại là công việc của những cuốn sách “Giải mã giấc mơ”.

3. Người cai thuốc lá thường có giấc mơ sống động hơn.

Những người cai nghiện sau một thời gian dài hút thuốc cho biết giấc mơ của họ thường trở nên sống động hơn. 33% thường mơ thấy việc hút thuốc, trong giấc mơ họ cảm thấy sợ hãi và áy náy.

 

Giấc mơ liên quan tới thuốc lá thường là hậu quả của việc cai nghiện, vì 97% số người cho biết họ chưa từng nằm mơ như vậy khi còn hút thuốc. Những giấc mơ này vô cùng sống động và được ghi nhận như một triệu chứng thông thường sau khi cai thuốc.

2. Tác nhân bên ngoài cũng ảnh hưởng đến giấc mơ.

Trong nhiều trường hợp, âm thanh bạn nghe thấy khi ngủ có thể “chui vào” giấc mơ và đóng một vai trò nào đó. Hiện tượng này được gọi là Dream Incorporation (sát nhập với giấc mơ).

 

Một ví dụ nữa: bạn có thể mơ thấy mình đang khát nước, xung quanh có sông/hồ nhưng uống bao nhiêu cũng không hết khát. Đó là vì bạn đang khát trong thực tế, não bộ ghi nhận cảm giác này và sát nhập nó vào giấc mơ. Đến lúc bạn tỉnh dậy và uống một cốc nước thật thì vòng lặp khát/uống cũng sẽ chấm dứt.

1. Cơ thể bạn tê liệt khi nằm mơ.

Đây là một hoạt động của cơ thể nhằm ngăn chặn việc cử động trong giấc mơ (hãy tưởng tượng bạn nằm mơ thấy mình đang đánh nhau, cơ thể bạn trong thực tế cũng đánh đấm như vậy thì nguy hiểm cho người bên cạnh lắm !!!).

 

Bước vào giai đoạn REM Sleep, khi các tuyến tiết ra hormone kích thích giấc mơ thì não bộ cũng truyền tín hiệu đến dây thần kinh tủy sống. Điều này giúp cơ thể bạn bắt đầu thư giãn và dần dần tê liệt toàn bộ.

Đây cũng là một trong những nguyên nhân lý giải hiện tượng bóng đè. Khi giấc ngủ bị ngắt quãng đột ngột (hoặc rối loạn cơ chế), bạn hoàn toàn tỉnh giấc nhưng cơ thể thì vẫn trong trạng thái tê liệt. Các triệu chứng đi kèm bao gồm khó thở, ảo giác hoặc cảm giác rơi ngã. Một lúc sau khi cơ thể đã được điều tiết hợp lý, bạn lại trở về trạng thái bình thường.

 

Bóng đè có thể gây cảm giác sợ hãi (nhất là cho những người yếu bóng vía), nhưng thực chất nó rất phổ biến và không gây hại gì khác cho cơ thể.

0. Vài thực tế thú vị khác:

– Người ta chỉ ngáy khi không nằm mơ.

– Trẻ em thường bắt đầu mơ thấy chính mình khi chúng được 3 tuổi. Chúng cũng gặp nhiều ác mộng hơn người lớn cho tới tận 7-8 tuổi.

– Nếu bị đánh thức trong giai đoạn REM Sleep, bạn sẽ nhớ được giấc mơ một cách rõ ràng hơn.

– Trung bình một người có khoảng 4 đến 7 giấc mơ mỗi đêm.

– Hơn 30% dân số đã từng trải nghiệm hiện tượng mơ thấy tương lai.

– Nhiều người có khả năng nhận biết và điều khiển giấc mơ của mình (hãy nghĩ đến bộ phim Inception). Hiện tượng này khá phổ biến và được biết đến với tên gọi “Lucid Dreaming”.

– Động vật cũng nằm mơ.

Theo GENK / ODDEE.COM

Với khẩu hiệu “Tiếng nói người Việt hải ngoại hướng về đất nước” và là “tờ báo sạch không tô hồng, bôi đen”, website treonline.com do Michael Bùi làm Tổng Biên tập có địa chỉ Tòa soạn tại 1816 George St., Ridgewood, New York 11385 U.S.A. đã trở thành một địa chỉ truyền thông của những người Việt, dù ở nước ngoài, nhưng vẫn luôn nặng lòng với dân tộc, có tiếng nói trung thực, thẳng thắn đối với các tổ chức, cá nhân có hành động gây rối, chống phá con đường xây dựng và phát triển của Việt Nam. Xin được trích đăng bài viết về đài RFA của tác giả Amaritx (Houston) đã công bố trên treonline.com, để bạn đọc tham khảo:

…Ðài Á châu tự do RFA (radio free Asia) được thành lập trong kỳ Chiến tranh lạnh (năm 1950), dưới sự quản lý của CIA, với mục tiêu chính là tuyên truyền đường lối của BU (Mỹ) bằng tiếng địa phương đến các quốc gia mà BU xem là kẻ thù. Goebel, Bộ trưởng tuyên truyền của Ðức quốc xã nói: “Một sự việc dầu sai, không đúng sự thật nhưng chúng ta cứ nhắc đi nhắc lại nhiều lần, lúc đầu dân không nghe, còn bán tín bán nghi, nhưng nhắc mãi thì dân tin đó là sự thật”. Ðài RFA không những “kế thừa” tư tưởng của bọn phát-xít mà còn biến hóa trong thời đại thông tin điện tử toàn cầu một cách tinh vi, thủ thuật ngày càng đa dạng, xào nấu tin tức, tẩm màu, pha trộn cho bắt mắt, gia giảm phụ gia cho hợp khẩu vị của đối tượng “khách hàng”. Trong nhiều năm qua đài RFA không ngừng xuyên tạc, bóp méo thông tin, dựng chuyện, đưa thông tin kiểu mập mờ, tung hỏa mù bôi nhọ chính phủ và dân tộc Việt Nam. Tại sao đài RFA lại có kiểu đưa tin hằn học như vậy, ta tìm hiểu sơ lược về cái “loa” mõ làng này.

… Ðến năm 1971 CIA chuyển quyền điều hành đài RFA sang cơ quan có tên là BIB (Board of International Broadcasting) do tổng thống BU bổ nhiệm và chỉ đạo. Ðến năm 1994, Quốc hội BU thông qua dự luật truyền thông quốc tế, và RFA chính thức trở thành một công ty tư nhân, bất vụ lợi. Tuy trên danh nghĩa là một công ty tư nhân, nhưng ngân sách của RFA lại được Quốc hội BU tài trợ dưới sự phân phối của Hội đồng quản trị truyền thông hay BBG (Broadcasting Board of Governors). Hiện nay, RFA phát thanh chín thứ tiếng qua làn sóng ngắn và internet đến các nước Trung Quốc, Miến Ðiện, Lào, Cambodia, Việt Nam và Bắc Hàn. Bộ phận phát thanh tiếng Việt của “mõ làng” RFA mà nhân sự chủ yếu là cờ vàng CCCÐ (chống cộng cực đoan – ND) và hậu duệ của cờ vàng được BU  đào tạo thành những chiến binh trên mặt trận truyền thông, phục vụ cho quyền lợi của mình. Cho nên các “chiến binh” này vẫn còn mang trong đầu tư tưởng chống chính quyền hiện tại ở Việt Nam do Ðảng Cộng sản lãnh đạo. Vì được BU đào tạo nên RFA có vẻ nhà nghề hơn rất nhiều so với các đài Việt ngữ non nớt, rẻ tiền hoạt động kiểu chợ trời đưa tin lá cải, tin vỉa hè, hành nghề chửi bới và xuyên tạc tình hình Việt Nam một cách ngu xuẩn “miệng thì to mà đầu như trái nho” nghe cứ lộn mửa ở hải ngoại do các nhóm người Việt ở Mỹ điều hành.

“Mõ làng” RFA tỏ ra ma mãnh và “có nghề” hơn. RFA cố gắng tỏ ra ta đây có vẻ chuyên nghiệp hơn, như có cử phóng viên về Việt Nam “khảo sát” điểm được gọi là đang nóng “lấy tin” và thêm dầu vào lửa, có phỏng vấn các quan chức trong chính phủ Việt Nam. Với lối làm truyền thông theo kiểu Chiến tranh lạnh mà BU đã đúc kết cả mấy chục năm, không ngạc nhiên khi phần lớn các chương trình phát thanh của RFA hoàn toàn tập trung vào mục tiêu gây bất ổn định cho Việt Nam.

Các “món ăn” tin tức được cải tiến và khai thác triệt để kích thích độc giả mà mục tiêu cuối cùng là “đầu độc” dư luận. Ta hãy xem cái thí dụ thực đơn này ra sao: Món “hương đồng gió nội” đã có Tiên Lãng, Văn Giang. Món “âm phủ” có bô-xít Tây Nguyên. Món “núi rừng cao nguyên lộng gió” xin thưa có Mường Nhé, người Thượng Tây Nguyên. Món “hải sản” Hoàng Sa, Trường Sa, dân đánh bắt cá bị Trung Quốc bắt tịch thu tàu… Món “rân trủ” có một số thực khách đã, đang và sẽ nằm bệ xi-măng, ngủ theo tiếng kẻng. Món “tôn ráo” có em ngay Thái Hà, Tam Tòa, Ðồng Chiêm. Món “nhân quền” có các nhân vật quậy phá đất nước, khoái chà bóng tên tuổi như chà đồ đồng ngày tết v.v và v.v. Chúng ta không thể liệt kê hết ra ở đây được. Nhưng món chủ lực nhất mà “mõ làng” RFA đặc biệt khai thác, khuyến mãi, tiếp thị mạnh nhất là món “tự do – dân chủ – tôn giáo”. Ðây đang là mốt thịnh hành, nghe ra món này tao nhã, sạch sẽ mà các món được tâng bốc ngoài tên trần tục ra phải thêm chữ “nhà” cho hợp thời thượng. Có thể nói, phần lớn các bản tin của “mõ làng” RFA nói về Việt Nam là những bản tin trời ơi mà những vấn đề này người dân Việt Nam chẳng thèm quan tâm…

“Mõ làng” RFA cũng ma quái hơn các đài xóm, ấp Bolsa chống cộng kiểu ngu xuẩn ở chỗ cách hành văn, mõ RFA sử dụng là ngôn từ thông dụng mà báo chí trong nước thường dùng, nghe có vẻ “chính thống”, không có kiểu gào thét hạ đẳng, lưu manh của đài CCCÐ. RFA ma muội biết đổi màu theo hoàn cảnh cho hợp thời mà mục tiêu cuối cùng là đánh lừa được thực khách sau khi xơi xong món mà họ sao tẩm chế biến thì lăn đùng ra chết.

Vì nằm trong vòng cương tỏa “tiền” của BU cho nên đám cờ vàng nhân viên trong đó có muốn “văng” một ít thổ ngữ ra cũng khó. Mối quan hệ của BU và Việt Nam đã có nhiều thay đổi, cục diện trên bàn cờ thế giới có nhiều biến động nên cũng phải điều chỉnh liều lượng đầu độc trên mặt trận truyền thông cho hợp lý. Các “khách mời” thường xuyên được “ưu ái” của RFA là những tổ chức khủng bố, những tổ chức chống cộng cực đoan chống phá Việt Nam trong cộng đồng người Việt ở Mỹ, đó là những thành phần lưu manh và cơ hội chính trị, trục lợi, lường gạt kiếm tiền, những kẻ vô công rồi nghề, những kẻ ăn bám xã hội Mỹ, được dán vào mặt danh hiệu “nhà dân chủ”, “nhà nhân quyền”… như Võ Văn Ái, Ðoàn Viết Hoạt, Nguyễn Ðình Thắng, Trần Khuê, Nguyễn Thanh Giang, Nguyễn Ðan Quế, Nguyễn Văn Lý, Nguyễn Văn Ðài, Ðỗ Nam Hải, v.v…

Các “nhà” này muốn “chà bóng” tổ chức, tên tuổi, và một yêu cầu không kém phần quan trọng đó là năng khiếu “chém gió” thì xin mời: RFA sẽ cho hít khói “đập đá” gợi ý “cắn vài tép” thực đơn trước khi phỏng vấn cho nó phê để “sao vàng hạ thổ” các món đưa ra cho thực khách nhận ra rằng: “Ôi! sao xã hội Việt Nam thê thảm thế, sao mà người dân Việt khổ hơn “chị Dậu” vậy? Ðảng và chính quyền đối xử với dân “tệ hơn vợ thằng đậu” vậy? Lạm phát như ngựa xích thố của Quan Công phi, chuẩn bị đổi tiền, tiền mệnh giá hàng 6 đến 9 số không sẽ ra đời. An ninh quốc gia ngàn cân treo sợi tóc. Nội bộ quan chức thì như “Xuân tóc đỏ”…”. Nói tóm lại là các “nhà” này phải tung, nổ làm sao cho thật thê lương, te tua, bình luận dự báo bi đát về tình hình Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản thì mới xứng đồng tiền bát gạo mà BU đã bỏ ra.

Các vị “khách mời” này được một công đôi chuyện, ngu gì mà không tham gia, đăng ký chờ đến lượt mình chườn mặt trên RFA “được ăn, được nói, được gói đem về”. Phỏng vấn chứ có “phỏng miệng” đâu mà lo, sau khi nói vung xích chó, sùi bọt mép thì tên các “nhà” này được nhiều thực khách biết đến như những “nhà đối kháng” vậy thì có chuyện gì khi mà nhà nước Việt Nam đưa vào bảng “phong thần” cần phải “chăm sóc” khâu bớt cái mỏ chuyên ăn tục nói phét thì gào tên BU ra. Ðiều này nhiều khi lại có phản ứng “bật ngược” lại những gì “mõ làng” RFA đang làm, nó không khác gì một diễn viên trên sân khấu đang mải mê trình diễn mà lúc cao hứng nhất bị đứt dây thun quần, tỷ dụ như thực đơn “zân trủ” tung tẩy, vu khống rằng Việt Nam không có tự do, dân chủ. À! không có vậy tại sao nhân viên của cái lò mõ RFA đi về Việt Nam lùng sục hết ngang cùng ngỏ hẻm để “đãi” ra một ông ba vạ “đối kháng” nào đó một cách thoải mái như vậy? Muốn gặp các quan chức nhà nước phỏng vấn có vị nào bị từ chối không? Khi về “bển” gọi điện thoại chí chóe truyền tin giống bộ tộc rừng A-ma-zôn gõ vào thân cây, ai cũng biết, vậy mà an ninh Việt Nam có thèm để ý đâu. Lại còn bờ lốc, bờ léo tung xèng trên mạng vô tư thoải mái nào ai làm gì các vị? Thật là những con rối RFA chỉ thích làm mõ làng cho ngoại bang, cái này chắc có di truyền của cờ vàng CCCÐ.

Mõ làng RFA đang làm những việc tuyên truyền chống phá, nói xấu Việt Nam thì nó cũng đang khẳng định một điều thói đạo đức giả, thói quen nói một đường làm một nẻo của BU. Trong khi BU luôn cao giọng rằng có nền báo chí tự do nhất thế giới, rằng BU “never” (không bao giờ – ND) kiểm soát báo chí, đặt điều, vu khống Việt Nam không có tự do báo chí, vì tất cả các cơ sở truyền thông đều do Nhà nước quản lý? Ờ mà mới nghe qua và không hiểu cặn kẽ “Ðầu cua tai nheo” như cái đám truyền thông của người Việt ở hải ngoại mà nghe BU có mà “rang thóc giống”. Ðúng là BU có nhiều đài báo tư nhân, nhưng đài báo phản ánh quyền lợi của các công ty tài phiệt, nhóm chính trị tài phiệt. Mà quyền lợi của các công ty tài phiệt cũng chính là quyền lợi của chính phủ của BU. Làm gì có chuyện ở BU có nền báo chí “tự do nhất thế giới”, chỉ có những kẻ đầu óc “mộng mơ” mới tin vào điều đó. Mõ làng RFA và các đài tư nhân khác trên đất nước BU cũng chỉ phục vụ cho chính sách tuyên truyền của BU. Nhận định về vai trò và cách làm việc của RFA, Catharin Dalpino thuộc Brookings Institution, người từng giữ chức phó thứ trưởng phụ trách nhân quyền trong Bộ ngoại giao dưới thời Clinton, gọi Radio Free Asia là “một sự phí tiền”. Bà Dalpino viết rằng: “Bất cứ khi nào chúng ta cảm thấy có một kẻ thù ý thức hệ, chúng ta thành lập một cơ sở phát thanh với cái tên Ðài tự do cái gì đó…”.

Bà Dalpino từng duyệt qua các chương trình phát thanh của RFA và cho rằng đài này thiếu khách quan. “Họ nghiêng nặng về các bản tin và báo cáo của những người bất đồng chính kiến, những tổ chức phản động lưu vong. Nó chẳng có tin gì từ trong nước”. Chỉ cách đây vài năm, bài học về vũ khí hủy diệt phát hiện tại Iraq đã làm giới truyền thông Mỹ phải xấu hổ. Tháng 5-2004, tờ New York Times đã đăng lời cáo lỗi độc giả do đã thông tin sai lệch về vũ khí hủy diệt của Iraq. Tờ báo vẫn được coi là có ảnh hưởng sâu rộng nhất trên toàn nước Mỹ thú nhận rằng, Chính phủ Mỹ đã gây áp lực khiến họ phải đăng tải những cáo buộc vô căn cứ nhằm biện minh cho cuộc chiến tranh Iraq. Vào thời điểm đó, không chỉ riêng New York Times, hàng loạt các tờ báo đã đăng tải thông tin dối trá này để làm người dân Mỹ ủng hộ một cuộc chiến tranh tiêu tốn hàng trăm tỷ USD, cướp đi sinh mạng của hàng trăm ngàn người.

Thông tin đăng tải trên báo chí được chuyển đến rất nhiều người và có thể gây ra những tác động xã hội to lớn. Dù được chọn để trở thành những người đưa thông tin đúng sự thật, nhiều phương tiện truyền thông đã bỏ qua đạo đức nghề nghiệp để trở thành công cụ phục vụ cho những mưu toan chính trị. Sự thật sẽ được phơi bày, nhưng dưới những ngòi bút bị  xuyên tạc, sự thật bị bóp méo, hậu quả khôn lường xảy ra mà không thể kiểm soát mới là điều đáng nói. Hành động chống phá, gây mất ổn định đối với Việt Nam của đài RFA đã diễn ra trong thời gian dài. Tất cả núp dưới chiêu bài thời thượng là “dân chủ – nhân quyền – tôn giáo”…

(Theo báo Nhân Dân)

nguồn: http://treonline.com/mo-lang-dai-rfa.htm

Hằng ngày, với hang tỷ tìm kiếm được thực hiện trên Google, ông lớn này đã thực sự trở thành cỗ máy tìm kiếm vĩ đại và khổng lồ nhất trên thế giới mạng. Với thời gian hiển thị kết quả gần như là tức thì với lượng thông tin “khủng”, Google gần như đã có mặt ở mọi ngóc ngách của thế giới mạng. Làm cách nào mà Google có thể làm được một điều gần như là không tưởng đó, hãy cùng xem infographic sau để hiểu rõ hơn về ông lớn này và xem Google thực sự LỚN thế nào.
Click ở đây để xem hình lớn hơn.
Tham khảo: Mashable
Theo GenK

Kỳ 4: “Bằng chứng khảo cổ” mập mờ và thiếu chính xác của Trung Quốc

 

Để củng cố lý lẽ về chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa, người TQ sử dụng cả các luận cứ về khảo cổ. Người TQ cho là đã tìm thấy vết tích tiền cổ và vật dụng cổ có từ thời Vương Mãng (năm thứ ba trước Công nguyên cho đến năm 23 sau Công nguyên) trên các quần đảo.

>> Kỳ 3: Sử liệu Trung Quốc nói gì?

Chang The-Kuang và S.Yeh viết rằng các đảo này có chứa “các tàn tích của khu dân cư, các vật dùng sành sứ, các dao sắt, các nồi gang và các vật dụng hằng ngày khác có niên đại từ thời Đường, Tống”. Báo cáo sơ bộ của chuyến khảo cổ học thứ hai trên quần đảo Tây Sa của tỉnh Quảng Đông ghi rằng “qua hai cuộc khảo sát, các nhà khảo cổ học đã khảo sát hầu hết các đảo, đá, bãi ngầm, các vũng của quần đảo Tây Sa và hầu như ở đâu họ cũng tìm thấy các đồ vật cổ và các lịch sử của quần đảo Tây Sa, bộ phận lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc chúng ta từ ngàn đời nay”.

Vấn đề đặt ra ở đây là trong luật quốc tế không tồn tại một quy tắc nào cho phép tự quy thuộc chủ quyền cho một quốc gia trên một vùng đất mà tại đó các cổ vật thuộc nền văn minh của nước đó được tìm thấy. Các cổ vật này có thể thuộc các ngư dân TQ đi lại và bị đắm thuyền trong vùng biển này, cũng như có thể thuộc các ngư dân Philippines, Malaysia hoặc của các tàu thuyền Ả Rập, Bồ Đào Nha, Hà Lan bị trôi dạt mắc nạn vào đây. Không có gì chứng minh được rằng các ngư dân TQ là những người duy nhất có các hoạt động định cư thường xuyên trên các đảo không có nước ngọt này.

Trong khi đó, năm 2001, trong khuôn khổ dự án 10 năm điều tra cơ bản khảo cổ học Trường Sa – Tây Nguyên – Nam Bộ, các nhà khoa học Việt Nam đã khai quật và phát hiện nhiều di tích khảo cổ có giá trị trên quần đảo Trường Sa. Trên chứng chỉ khảo cổ học, các nhà sử học đã xác định được các cư dân người Việt sinh sống ở Trường Sa là rất sớm, chí ít cũng phải từ thời nhà Trần và liên tục định cư, sinh sống ở đây trong các giai đoạn thời kỳ sau. Qua các hiện vật thu được, dựa trên căn cứ sử học và văn hóa học, rất rõ ràng để nhận ra có một sợi dây liên kết chặt chẽ giữa cư dân trên đảo với cư dân đất liền từ thuở sơ khai đến nay. Có thể những cư dân đầu tiên Trường Sa là kết quả của các cuộc di dân, tìm đất mới thời cổ xưa. Hoặc là các ngư dân Việt đi biển ghé vào và ở lại lâu dài, khai phá đất đai, tạo lập cuộc sống mới.

 
Một trang trong cuốn Hải ngoại kỷ sự (1695) của Thích Đại Sán, một nhà sư Trung Quốc đời Khang Hy, thuật lại chuyến du hành tới xứ Đàng Trong, thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Đại Việt – Ảnh: biengioilanhtho.gov.vn

Chủ quyền quốc gia đã được luật quốc tế định nghĩa về mặt pháp lý. Trương Hồng Tăng và các tác giả TQ khác lập luận rằng: “Dưới thời nhà Tống, nhiều sách vở đã ghi nhận rằng những ngư dân TQ thường tới đây bắt cá và thu lượm san hô (…). Theo Chư phiên chí (ghi chép về các nước chư hầu) của Zhao Rushi (Triệu Nhữ Quát) sống dưới thời nhà Tống cách đây 700 – 800 năm, người TQ đã biết rằng các quần đảo Tây Sa và Nam Sa là những vùng nguy hiểm cho hàng hải (…). Vào thế kỷ trước, chỉ có người TQ đã sống và khai thác một cách liên tục các quần đảo Tây Sa và Nam Sa (…)”.

Sau khi đã nghiên cứu sâu sắc các tài liệu TQ, ông Heinzig, một luật gia Đức đã rút ra kết luận chỉ bắt đầu từ thời nhà Tống (960) người TQ mới có thể tiếp cận với quần đảo Paracels (Hoàng Sa). Còn về việc hiện diện của người TQ trong khu vực Spratlys (Trường Sa) không có gì ghi nhận trước 1867, thời điểm một tàu nghiên cứu Anh gặp những ngư dân TQ tới từ đảo Hải Nam. Theo Heinzig, chỉ từ khi kết thúc Chiến tranh thế giới thứ nhất người TQ mới bắt đầu gọi quần đảo Spratlys là “Đoàn Sa Trung Đảo”. ([1])

Sự tiếp xúc riêng rẽ của những cư dân TQ cá thể đối với Paracels liệu có đủ để thiết lập chủ quyền TQ tại đó không theo luật quốc tế? Các tác giả TQ khẳng định rằng TQ phát hiện ra Tây Sa và Nam Sa cách nay 2.100 năm, vào thời Hán Vũ Đế. Đối với họ, theo luật quốc tế và tập quán quốc tế thời kỳ đó: “Chủ quyền thuộc về người phát hiện” (Who discovers the territory, holds its sovereignty), đó là ngư dân TQ, và vì vậy TQ phải có chủ quyền trên đó”.

So sánh với các tiêu chuẩn thụ đắc lãnh thổ, các ghi chép mà TQ viện dẫn không đủ chứng minh rằng quyền phát hiện đã được xác lập. Một đảo hoặc một quần đảo có thể là đối tượng nhận biết từ lâu đời của các nhà hàng hải, các ngư dân, các nhà địa lý… nhưng chúng vẫn chỉ được coi là lãnh thổ vô chủ

res nullius một khi quốc gia của họ chưa tiến hành một hành động nhà nước nào tại đó. Phan Thạch Anh cố chứng minh rằng vào thế kỷ XV, XVI chỉ cần quyền phát hiện là đủ để tạo nên quyền sở hữu đất vô chủ. Sở dĩ ông ta lập luận như vậy là để chứng minh rằng các hoạt động của tư nhân TQ là đủ để tạo ra quyền phát hiện ([2]). Thế nhưng các hoạt động tư nhân của các ngư dân TQ không thể mang lại hiệu lực pháp lý của “quyền phát hiện” và nó không thể được đánh đồng với quyền chiếm hữu.

Các bằng chứng của quyền phát hiện các đảo này như đã nêu trên rất mập mờ và thiếu chính xác. Chúng ta có thể đồng ý rằng các hoạt động của ngư dân có thể kéo theo sự chú ý và ý định của nhà nước trên lãnh thổ vô chủ. Tuy nhiên, yếu tố ý chí này không đủ khi còn thiếu yếu tố vật chất của các hoạt động nhà nước trên thực địa. Người TQ sẽ chứng minh như thế nào đòi hỏi này của luật quốc tế vào thời kỳ đó?

TS Nguyễn Hồng Thao

_________

[1] Theo Nguyễn Quang Ngọc, Sđd, tr 41. Trước khi Lý Chuẩn ra Hoàng Sa năm 1909, bản đồ TQ vẫn thể hiện đảo Hải Nam là cực nam lãnh thổ TQ. Năm 1928 trường Đại học Trung Sơn tổ chức điều tra quần đảo Tây Sa, được coi là mốc đánh dấu sự hiểu biết của người TQ về quần đảo Tây Sa. Tuy nhiên, cho đến năm 1934, bản đồ TQ vẫn chưa vượt quá quần đảo Tây Sa và đảo Triton, cực nam của quần đảo, ở sát phía dưới vĩ tuyến 16 được gọi là đảo cực nam với lời giải thích đảo là cột mốc đánh dấu lãnh thổ cực nam của TQ. Trong khoảng năm 1935-1936 địa danh Nam Sa và Đoàn Sa xuất hiện trên bản đồ TQ. Nam Sa được đặt tên cho bãi ngầm Maccelesfield Bank còn Đoàn Sa để chỉ Spratleys. Từ năm 1939 tên Nam Sa mới được dùng để chỉ Trường Sa của Việt Nam, tên Đoàn Sa mất đi, còn Maccelesfield Bank được đặt tên là Trung Sa.

[2] Phan Thạch Anh, The ptropolitics of the Nansha islands-China’s indisputable legal case, Beijing, December 1995.

>> Kỳ 5: Độ chênh của lịch sử trong Sách trắng Trung Quốc