Tag Archive: NĂM


Thế là xong , tòa đã xử em ,tình tiết vụ án rõ như ban ngày . Pháp luật Việt Nam được xây dựng không phải để đùa, em đã nhận bản án “rất hợp với dáng em” . Tên tuổi của em lại một lần nữa vụt sáng, nếu em trộm gà bẻ bí , ,móc túi thì chắc chẳng ma nào nhớ tới em dù em ..đẹp. Em thành hot girl chỉ vì em chống phá nhà nước Việt Nam, sự đời nó thế cái gì liên quan đến chống phá nhà nước thì đương sự trở thành hot nhân qua làn nước bọt của những anh hành nghề rân chủ . Về phiên tòa xử em thì không có gì nhiều để mà nói ,cái vui vẻ xôm tụ của nó là phần hậu , ở sân khấu của những nhà rân chủ và những anh ấm ớ chém gió ầm ầm trên internet về em mà không biết định nghĩa yêu nước nó ra làm sao , và không biết nhân loại đẻ ra pháp luật để làm gi .

Những kiếm sĩ bênh vực em có đủ thể loại,ngoài các nhà dân chủ tự phong còn có các cô chú trẻ trâu cho đến một ông đức cao vọng trọng của Tổ chức Nhơn quyền gì đấy
Vấn đề đặt ra là em có đáng được bênh vực hay không và khi bênh vực em thì người ta xem Luật Pháp Việt Nam là cái gì ?

Trươc hết , em là ..tội phạm, thì đúng rồi , em vi phạm điều 88 bộ luật Hình sự nước CHXHCN Việt Nam. Các việc động trời mà em làm thì thôi khỏi nhắc lại vì ai cũng biết cả . Tât nhiên những anh bênh vực em chả dại mà sổ toẹt cái bộ Luật Hình sự của Việt Nam, các ảnh chỉ bô bô rằng em yêu nước , vì thế việc nhà nước Việt Nam bỏ tù một cô gái trẻ be bé xinh xinh vì em yêu nước là chuyện không thể chấp nhận được .
Vu khống nhà nước Việt Nam và ủng hộ cái chính thể VNCH là yêu nước ? Không biết cái đầu thông thái nào sáng tác ra cái định nghĩa yêu nước kỳ quái thế này ? trước tòa thì em cũng hung hồn mà nói rằng em làm như thế vì đó là yêu nước . “ Nước” nghĩa là một mảnh đất hình chữ S rộng 333,000 km vuông có 86 triệu người đang sinh sống . 86 triệu người này mỗi người “yêu nước “ mỗi kiểu và thích làm gì thì làm, cướp của, giết người, đốt nhà …. chỉ cần nói “ tui yêu nước “ là xong thì Việt nam không phải một quốc gia mà là một xứ thổ phỉ nào đó trong rừng rậm Amazon cách xa văn minh loài người .

Tùy tiện định nghĩa Hai chữ Yêu nước để biện minh cho hành vi xằng bậy của mình hay kẻ khác là việc mà những quý anh chị rân chủ này thường làm , Nghĩ mà tiếc cho Trần Ích Tăc, Lê Chiêu Thống vì thời các vị này không có Internet để các vị tự bào chữa cho mình là “ tui làm thế vì tui yêu nước “. Phương Uyên “ yêu nước “ vì cái laptop là chuyện em chả giấu được ai, em sở hữu một thứ yêu nước giả cầy rất độc đáo thế nhưng quý anh chị bênh vực em lờ tịt đi , cứ tô vẽ em là hiện thân của khát khao của tự do và dân chủ là tuổi trẻ yêu nước ! các anh chị Rân chủ không biết là dốt thật hay dốt cố tình mà không nhận ra một điều đơn giản : Em là một công dân vi phạm pháp luật và em phải bóc lịch , đó là chuyện đương nhiên . Không ai được đứng trên Pháp luật.

Cái quý ông : nhân quyền Á châu “PHIL ROBERTSON thì khôn ngoan hơn các nhà Rân chủ, ông ta không dám trơ trẽn tô vẽ nàng , cũng chả dám vứt cái bộ luật Hình sự Việt Nam vào sọt rác , ông chỉ dám bênh em theo cái kiểu “ Em thực hiện tự do ngôn luận , không đáng phải bỏ tù “. Nghe ông ta nói về tự do ngôn luận mà thiên hạ nổi da gà ,Chả biết ông này nghĩ gì nếu như người ta nói ông hiếp dâm bà già 100 tuổi . ? Ộng thích làm tình hay xem múa cột thì ông cứ nói , đó là tự do ngôn luận, nhưng ông bịa chuyện nói xâu người khác thì đó là vu khống , không có luật pháp xứ sở nào thừa nhận thứ tự do ngôn luận bá láp đó cả .

Nhìn đi nhìn lại thì mấy anh Rân chủ bênh vực Phương Uyên đều có một xì tai như nhau, cứ chế ra cái định nghĩa “ yêu nước “ theo ý mấy ảnh là xong, trong cái hệ quy chiếu yêu nước quái thai của mấy ảnh thì em Uyên cứ như Nữ thần tự do Xứ Mỹ. Còn mấy anh Nhân quyền có truyền thống dí mũi vào chuyện nội bộ của Việt nam thì chẳng có gì mới mẻ hơn, vẫn cái kiểu lôi ra định nghĩa nhân quyền của mấy ảnh mà bênh vực ẻm, Mấy ảnh không bao giờ khôn ra một chút để biết rằng nhân quyền ở mỗi quốc gia không phải là cái khung bất ,không là quyển Kinh Thánh . Nhân quyền Ở một nước thổ phỉ là người ta có thể tha hồ vu khống nhau còn một nước văn minh không ai chấp nhận chuyện đó . Một nước nào đó ở châu Phi, phụ nữ có thể để ngực trần , đàn ông quấn khố chạy long nhong khắp phố không ai cấm nhưng nước Mỹ thì không , vậy nước châu Phi kia nhân quyền được tôn trọng hơn nước Mỹ chắc ? người dân nước đó phê phán tòa án Mỹ bỏ tù một người ở truồng nơi công cộng thì được chăng ?

Nhà nước Việt Nam là một nhà nước pháp quyền, Luật Pháp Việt Nam có hiệu lực trên lãnh thổ Việt Nam và không ai được đứng trên Pháp luật . Yêu nước “chính chủ” mà phạm pháp vẫn bị phải bị Pháp luật sờ gáy nói chi “Yêu nước giả cầy “!!!

Thanh viên Bao Bựa.

[https://www.facebook.com/photo.php?fbid=548976575143644&set=a.457708244270478.95931.124739034234069&type=1]

Ngày 1-3, website của Hội đồng Giám mục Việt Nam đã công bố Thư của Hội đồng Giám mục Việt Nam nhận định và góp ý sửa đổi Hiến pháp gửi tới Ủy ban Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Bức thư nhanh chóng được website tiếng Việt của BBC, VOA, RFA, RFI,… cùng một số website, diễn đàn điện tử đăng tải và phân tích. Ngày 2-4, web sachhiem công bố bài của tác giả Nguyễn Trọng Nghĩa – một công dân theo Thiên chúa giáo, trong đó đưa ra một số góp ý về bức thư này. Ðược sự đồng ý của tác giả, Báo Nhân Dân trích đăng một phần bài viết đó để bạn đọc tham khảo.

 

Tôi tên là Nguyễn Trọng Nghĩa, là giáo dân ở giáo xứ Cao Lãnh – giáo phận Mỹ Tho, ngụ tại số 37, đường Ðiện Biên Phủ, xã Mỹ Trà, TP Cao Lãnh, tỉnh Ðồng Tháp. Vừa qua, tôi thấy trên nhiều diễn đàn mạng điện tử đăng tải bức thư của Hội đồng Giám mục Việt Nam (HÐGM), trong đó đưa ra nhận định, góp ý với Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992. Thiết nghĩ, việc góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp là quyền và việc làm cần thiết của mỗi công dân, là việc làm thể hiện chính kiến chính trị của mỗi cá nhân trong xã hội. Sau khi xem bản nhận định và góp ý Dự thảo sửa đổi Hiến pháp của HÐGM, tôi có mấy điều góp ý như sau:

… – Các Giám mục (GM) viết: “Dự thảo khẳng định quyền tự do ngôn luận

(Ðiều 26), quyền sáng tạo văn học – nghệ thuật (Ðiều 43), quyền tự do tín ngưỡng (Ðiều 25). Tuy nhiên, ngay từ đầu, Dự thảo lại khẳng định đảng cầm quyền là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng”

(Ðiều 4). Như thế, phải hiểu thế nào và làm sao thực thi quyền tự do ngôn luận và sáng tạo văn học,  nghệ thuật, bởi lẽ tư tưởng đã bị đóng khung trong một chủ thuyết rồi? Tương tự như thế, phải hiểu thế nào và làm sao thực thi quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bởi lẽ chủ nghĩa Mác – Lê-nin tự thân là chủ nghĩa vô thần? Phải chăng những quyền này chỉ là những ân huệ được ban cho tùy lúc tùy nơi, chứ không phải là quyền phổ quát, bất khả xâm phạm, và bất khả nhượng? Hiến pháp cần phải xóa bỏ những mâu thuẫn và bất hợp lý này, thì mới có sức thuyết phục người dân và thu phục lòng dân”.

Góp ý của tôi: Có lẽ các GM chưa có điều kiện tìm hiểu cặn kẽ về bản Dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 1992 cũng như các lý luận nền tảng đã được công khai khi xây dựng bản Dự thảo, vì tôi thấy các GM không phân tích ý nghĩa từng điều khoản trong Dự thảo Hiến pháp, nên đã nhận định chưa đúng với những gì mà tôi đã biết qua các cơ quan truyền thông đại chúng.

Vấn đề “tư tưởng bị đóng khung trong một chủ thuyết” là chưa đúng, vì theo tôi được biết chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng để định hướng xã hội, đảng cầm quyền chỉ lấy tư tưởng đó để định hướng xã hội chứ không “đóng khung” tư tưởng của người dân. Quyền tự do ngôn luận không phải bao gồm quyền phỉ báng hay xúc phạm người khác, hay xuyên tạc nói không đúng một cách cố ý… Quyền sáng tạo văn học, nghệ thuật cũng không bao gồm sáng tạo tư tưởng cực đoan hay mê tín, đó cũng không phải là quyền sáng tạo hay dựng đứng sự việc để bài xích một hệ tư tưởng khác… Cũng thế, quyền tự do tín ngưỡng bao gồm cả quyền tự do không tín ngưỡng, không được nâng tôn giáo mình lên và hạ thấp tôn giáo khác… Ðảng cầm quyền quản lý một xã hội có nhiều thành phần dân cư, thì cần có các chuẩn mực về ngôn phong để giáo dục đạo đức cho con người trong xã hội, không bắt người dân “nói theo” Ðảng. Cũng như khi giáo dân hiệp thông cùng giáo hội, chúng ta trở nên khác biệt với người Tin lành, vì chúng ta chỉ được hiểu kinh thánh từ giáo hội chứ không phải tự do tùy ý giải nghĩa kinh thánh.

Như vậy, với các quyền được các GM đề cập thì: a. Theo tôi, tự thân nó được “tự do” mà cụ thể là pháp luật và pháp lệnh tương ứng, nếu có vấn đề thì chỉ cần điều chỉnh ở luật và pháp lệnh chứ không cần thiết điều chỉnh ở Hiến pháp; b. Tôi không biết chủ nghĩa Mác – Lê-nin là chủ nghĩa vô thần, nên nếu có thể xin hãy chứng minh nhận định này của các GM, vì khi nhận định về một cá nhân hay tổ chức mà không toàn diện, cụ thể hay khách quan thì ý kiến của các GM trở nên chủ quan, thiên kiến và thiếu hiểu biết. Tôi nhận biết cụm từ “cộng sản vô thần” xuất phát từ sự xuyên tạc của những người chống cộng từ ý thức hệ, như là sự đối trọng giữa “tư bản” và “cộng sản” của thế kỷ trước. Hiện tại, tôi nhận biết rất nhiều người cộng sản có tín ngưỡng của nhiều tôn giáo, mà hầu hết là các tôn giáo phổ biến, còn những người không theo tín ngưỡng – tôn giáo nào đó thì cũng thờ cúng tổ tiên,… Vậy nhận định người cộng sản vô thần theo tôi là chưa đúng và quá thiên kiến hay chỉ là nhận định chống cộng sản không suy xét!?

Những quyền được Hiến pháp, pháp luật quy định thì chắc chắn không phải là ân huệ được ban phát cho, khi đã được ghi vào Hiến pháp và pháp luật thì chắc chắn đó là quyền phổ quát, những quyền được ghi vào luật là quyền bất khả xâm phạm, dĩ nhiên là bất khả nhượng. Tôi thấy rất lạ khi các GM không biết điều này, không phân tích, hay hiểu điều hết sức đơn giản này. Tất cả những quyền mà các GM đề cập đều có sự chế tài nếu cá nhân hoặc tổ chức nào vi phạm, tôi biết điều này vì tôi đã xem rất kỹ các luật này và cả Hiến pháp, các vị GM có tìm hiểu hay không mà sao tôi thấy như là các vị không biết đến? Tôi thấy các vị GM có nhiều điều chưa sáng trong nhận định của mình!

– Các GM viết: “Trong thực tế, sự trói buộc tư tưởng vào một hệ ý thức duy nhất đã kìm hãm tư duy sáng tạo của người dân Việt Nam. Ðây là một trong những lý do lớn, dẫn đến tình trạng trì trệ và chậm tiến của Việt Nam về nhiều mặt: giáo dục, khoa học và công nghệ văn hóa và nghệ thuật”.

Góp ý của tôi: Tôi nhận định rằng hệ tư tưởng hiện tại của đảng cầm quyền là hệ tư tưởng quản lý xã hội theo một hệ thống chuẩn mực. Ðến nay, Nhà nước ta đã ký kết tất cả các hiệp ước về quyền con người mà Liên hợp quốc cũng như hầu hết các quốc gia tiến bộ về nhân quyền đã ký kết. Hiện tại, Việt Nam là quốc gia tiến bộ về vấn đề nhân quyền – quyền con người, nếu nhận định rằng vì bị “trói buộc” nên bị “kìm hãm” là không thực, quá thiên kiến hay cố ý gán ghép. Vậy nếu được thì xin các GM cho một chứng minh về “sự trói buộc tư tưởng vào một hệ ý thức duy nhất đã kìm hãm tư duy sáng tạo của người dân Việt Nam”? Tôi công nhận nếu có sự ràng buộc về tư tưởng một cách cực đoan thì chắc chắn nhiều lĩnh vực sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Hiện tại, ngành giáo dục nếu có chậm phát triển thì cũng không phải do “hệ tư tưởng” mà do “trình độ quản lý”. Thực tế, nhiều trường tư thục hay nước ngoài không bị hạn chế bởi một hệ tư tưởng mà vẫn không thể hiện được sự ưu việt hơn cách quản lý giáo dục công lập… Nếu các vị GM quan tâm tới các lĩnh vực giáo dục, khoa học và công nghệ, văn hóa và nghệ thuật, thì sẽ thấy các lĩnh vực này hiện đang rất phát triển, phát triển vượt bậc. Còn có một sự thật lịch sử cụ thể quan trọng mà các GM đã bỏ qua trong quá trình nhận định và góp ý là: Ðất nước chúng ta vừa trải qua chiến tranh chưa lâu, sau đó là những năm bị cấm vận. Ðất nước ta đang trong quá trình CNH, HÐH mở cửa, hội nhập quốc tế và đã đạt những thành tựu mà thế giới – cộng đồng quốc tế công nhận. Vậy tại sao các vị GM lại không biết vấn đề này?

Kính thưa các vị Giám mục,

Con cho rằng các vị GM cũng là công dân nên không đứng ngoài chính trị, nhưng con thấy rằng các nhận định và đóng góp có hơi hướng của các thành phần chống cộng rất thiên kiến, cực đoan, xuyên tạc sự thật (hoặc do các vị không biết?). Con nghĩ với trình độ của các GM, nhận thức sẽ cao hơn giáo dân chúng con, con cũng biết các tàn dư mâu thuẫn trong quá khứ và cả tư tưởng quản lý xã hội khác với người cộng sản hẳn đã làm các ngài không sáng suốt trong nhận định về người cộng sản… Con tin không 100% GM đồng quan điểm với bản nhận định và góp ý, nhưng các vị ấy vẫn phải đứng tên cùng “các Giám mục Công giáo Việt Nam”. Các ngài GM nên biết rằng chúng con cũng có suy tư, cũng có quan điểm về mọi vấn đề khác nhau. Các GM không thể đại diện cho toàn thể giáo dân Việt Nam mượn việc góp ý với Hiến pháp để thể hiện thiên kiến của mình.

 

NGUYỄN TRỌNG NGHĨA
[Bài được đăng trên báo NHÂN DÂN]

‘Việt Nam không chấp nhận sự can dự xâm hại chủ quyền’

 

Trong thế giới mở, sự can dự lợi ích của các quốc gia là điều không thể ngăn cấm. Nhưng nếu đó là sự can dự xâm hại chủ quyền thì không được phép chấp nhận.
Thứ trưởng Quốc phòng Nguyễn Chí Vịnh trao đổi với VnExpress.

– Đối thoại Shangri La lần thứ 12 vào cuối tháng 5 đầu tháng 6 tới diễn ra trong bối cảnh an ninh khu vực nhất là Biển Đông có nhiều căng thẳng. Việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được mời với tư cách là diễn giả chính mang thông điệp gì thưa ông?

– Lời mời dành cho Thủ tướng Việt Nam được Giám đốc Viện Nghiên cứu chiến lược quốc tế (IISS) của Vương quốc Anh đưa ra, đồng thời Thủ tướng Singapore Lý Hiển Long có lời mời chính thức. Như vậy, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ là khách mời chính thức của IISS và là Quốc khách của Singapore.

Từ khi Việt Nam chính thức công bố Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dự đối thoại Shangri La và có bài phát biểu quan trọng mở đầu hội nghị, các hãng tin quốc tế đều đưa tin này với độ nóng cao. Họ đang chờ đợi Thủ tướng Việt Nam sẽ nói gì trong hội nghị này.

Trong bối cảnh tình hình an ninh khu vực châu Á-Thái Bình Dương có nhiều vấn đề phức tạp, cả thuận lợi và thách thức, thì việc Thủ tướng Việt Nam được mời phát biểu đầu tiên chứng tỏ Ban tổ chức, nước chủ nhà cũng như cộng đồng quốc tế đánh giá cao vai trò của Việt Nam, đặc biệt trong đóng góp vào hòa bình, an ninh ổn định và hợp tác trong khu vực. Đồng thời, sự tham gia của Thủ tướng cho thấy Việt Nam rất quyết tâm mở rộng quan hệ quốc tế đa dạng, không chỉ song phương mà còn đa phương; quyết tâm hội nhập, trở thành đối tác tin cậy của tất cả các nước.

– Đối thoại Shangri La sắp diễn ra tại Singapore sẽ bàn đến sự can dự của Mỹ vào vấn đề an ninh khu vực cũng như vai trò của Trung Quốc đối với an ninh toàn cầu. Là một quốc gia chịu nhiều ảnh hưởng, quan điểm của Việt Nam trước những vấn đề này như thế nào, thưa Thứ trưởng?

– Trong một thế giới mở, sự can dự lợi ích các quốc gia là điều không thể ngăn cấm. Họ có quyền bảo về chủ quyền và can dự lợi ích đồng thời tìm lợi ích trong quan hệ với các quốc gia khác. Sự can dự ấy nếu là can dự hòa bình, hợp tác và phát triển thì đó là tích cực. Điều này có lợi cho các nước nhỏ, các nước đang phát triển bởi nó tạo điều kiện hội nhập mạnh mẽ hơn giữa các nước trong khu vực, nhất là các nước đang phát triển như Việt Nam. Chúng ta kỳ vọng những can dự này sẽ đem lại sức sống mới, năng động mới cho cả khu vực.

Nhưng nếu việc can dự mang mục đích lợi ích đơn phương, cục bộ, cao hơn là mang tính bạo lực, xâm hại chủ quyền lợi ích quốc gia khác sẽ không được chấp nhận.

Tôi muốn nói thêm là sự can dự nếu quá thiên về quốc phòng, an ninh sẽ gây nguy cơ tiềm tàng va chạm trong khu vực. Hãy hình dung tình trạng này như có nhiều thùng thuốc súng để gần nhau quá sẽ có ngày bắt lửa. Sự hiện diện quân sự ấy có thể đem lại lo lắng dẫn đến cuộc chạy đua vũ trang mới trong khu vực mà gần đây đã có dấu hiệu của cuộc chạy đua này.

– Việt Nam từng trở thành bài toán mặc cả trong thỏa hiệp lợi ích của các nước lớn. Trong bối cảnh phức tạp hiện nay thì Việt Nam cần làm gì để tránh bị các nước thỏa hiệp trên lưng mình?

– Việc các nước thỏa hiệp mặc cả hy sinh lợi ích của Việt Nam chỉ xảy ra khi ta mất độc lập tự chủ, ngả về bên này hoặc bên kia. Việt Nam đã tuyên bố rõ đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, không tham gia liên minh quân sự, không đi với bên này để chống bên kia.

Thế giới xác định có 3 cách để bảo đảm hòa bình, tự chủ: Một là trở thành nước lớn để hạn chế đối phương hại đến hòa bình lợi ích nước mình. Hai là kiểu “đu dây”, lúc ngả theo bên này, lúc ngả bên kia, sẵn sàng hy sinh lợi ích chiến lược và uy tín quốc gia trong từng thời điểm để đạt mục tiêu trước mắt. Cách thứ ba, khó nhưng bền vững nhất là giữ được độc lập tự chủ, làm bạn với tất cả các nước. Trước hết là độc lập về chính trị, rồi đến độc lập về kinh tế, văn hóa, độc lập về quốc phòng an ninh.

Với Việt Nam, tính chất địa chính trị không cho phép chúng ta chọn “chỗ vắng” được mà buộc phải chọn “chốn đông người”. Vì vậy, trong khi giữ độc lập tự chủ thì mình phải đẩy mạnh mở cửa, trở thành bạn, thành đối tác với tất cả các nước. Đây là vấn đề có tính sống còn cho giữ gìn ổn định, hòa bình, phát triển, bảo vệ chủ quyền lãnh thổ và chế độ chính trị của đất nước ta.

– Quy tắc ứng xử trên Biển Đông chưa ra đời, Việt Nam đề xuất cơ chế hợp tác gì để có thể tránh các vụ va chạm, xung đột trên biển giữa các quốc gia trong khu vực?

– Những va chạm đáng tiếc trên Biển Đông hiện nay khiến ta rất quan ngại. Thậm chí đó là nguy cơ cho an toàn tính mạng của người dân. Điều này trước hết làm xáo trộn môi trường hòa bình của người lao động trên biển. Lợi ích của các nước có chủ quyền bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Tôi quan ngại trước hành vi bạo lực nếu nó xuất hiện trên Biển Đông, nhất là khi nó trở thành có tính hệ thống.

Để đẩy lùi nguy cơ này, ta kiên quyết theo đuổi biện pháp hòa bình. Điển hình là Thỏa thuận về nguyên tắc xử lý các vấn đề trên Biển Đông mà Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký với Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào vào năm 2011. Thỏa thuận này không chỉ giải quyết vấn đề giữa Việt Nam – Trung Quốc mà còn đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định trong khu vực.

Thứ hai, ta đấu tranh mạnh mẽ với các hành vi bạo lực, với người sử dụng vũ lực, gây ra xung đột. Chúng ta cần công khai minh bạch, yêu cầu không tái diễn.

– Nhưng trong những tình huống thực tế, khi phải đối mặt với hành động bạo lực của lực lượng quân sự tấn công người dân như vụ tàu cá ở Quảng Ngãi bị tàu hải quân Trung Quốc bắn vừa qua thì lực lượng trên biển của ta phải hành động gì để đối phó?

– Chúng ta có cách để hạn chế họ dùng vũ lực và không để xảy ra xung đột. Trước hết là đấu tranh ngoại giao trực diện trên các diễn đàn song phương và đa phương. Trên thực địa, ta có nhiều biện pháp linh hoạt, hiệu quả như sử dụng lực lượng chấp pháp kết hợp với tàu đánh cá để bao vây, đẩy đuổi.

Về một số hành động vũ lực đối với tàu cá của ngư dân Việt Nam vừa qua, tôi hy vọng rằng đây mới chỉ là hành động cục bộ chứ chưa phải là chủ trương, tuy nhiên vẫn cần đấu tranh kiên quyết ngay từ những dấu hiệu ban đầu này, không để những hiện tượng tương tự tái diễn.

Lực lượng thực thi luật pháp trên biển của Việt Nam luôn đề cao tính nhân đạo trong xử lý các vấn đề trên biển với lao động bình thường. Xử lý nghiêm minh nhưng nhân đạo, đặc biệt không dùng vũ lực, bạo lực đe dọa ức hiếp người dân Trên bình diện đa phương, ta cũng cần nêu vấn đề công khai minh bạch, để cộng đồng quốc tế hiểu rõ chính sách của Việt Nam và hiểu rõ các vấn đề mà ta đang gặp phải.

– Cách đây một năm, ông từng nói Biển Đông sẽ có những diễn biến bất thường và khó lường. Vậy tại thời điểm này, ông đánh giá tình hình như thế nào?

– “Nhiệt độ” trên Biển Đông đã đến điểm mà các nước phải có tính toán rất kỹ nếu đi thêm bất kỳ bước nào nữa. Ví dụ như vừa qua nói rằng một số nước lớn phát triển chiến lược biển, có nhiều động thái đơn phương, không theo đúng luật pháp quốc tế, tuy mang nặng tính biểu tượng, mặc dù vậy đã gây ra nhiều quan ngại. Nhưng nếu họ đi từ tuyên bố đến hành xử trên thực tế thì vấn đề trở nên nghiêm trọng hơn rất nhiều. Ta cần đấu tranh với từng thái độ, từng hành động để mọi tuyên bố đi ngược lại với luật pháp quốc tế, đi ngược với cam kết giữa các bên, phương hại đến hòa bình, ổn định trong khu vực không xảy ra trên thực tế.

NGUYỄN HƯNG (VNEXPRESS)

(TNO) Từ đầu năm 1988, Trung Quốc đã sử dụng một lực lượng lớn hải quân gồm nhiều tàu chiến chiếm đóng một loạt đá ngầm thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam

Cao trào của hành động xâm lược này diễn ra vào ngày 14.3.1988 khi biên đội gồm 6 tàu chiến, trong đó có 3 tàu hộ vệ có trang bị tên lửa và pháo 100 mm, của Trung Quốc đã bắn chìm và cháy 3 tàu vận tải của Việt Nam tại bãi đá ngầm Gạc Ma trong cụm đảo Sinh Tồn của Việt Nam.

Đảo Gạc Ma đã bị quân Trung Quốc đánh chiếm vào ngày 14.3.1988 – Ảnh: D.Đ.Minh

Trong vụ thảm sát này, 64 binh sĩ Việt Nam đã anh dũng hy sinh. Sau đó Trung Quốc còn ngăn chặn không cho tàu mang cờ chữ thập đỏ ra cứu những người bị thương, bị nạn.

Điều phải lưu ý là đây là lần đầu tiên người Trung Quốc (lục địa) đặt chân đến Trường Sa. Trước đó, với tư cách quan phương, Trung Quốc chưa bao giờ có mặt ở vùng biển này.


Tàu HQ505 đã lao lên bãi ngầm ở đảo Cô Lin cắm cờ khẳng định chủ quyền Tổ quốc vào ngày 14.3.1988 – Ảnh: tư liệu

Đã một phần tư thế kỷ trôi qua, từ sự kiện 14.3.1988, có những điều cần phải nói rõ như sau:

Đầu tiên, ngay sau ngày 14.3.1988, thông qua hệ thống tuyên truyền khổng lồ của mình, Trung Quốc đã ngang nhiên bịa đặt trắng trợn với dư luận trong nước và quốc tế rằng: Các tàu Trung Quốc đang thả neo để yểm trợ cho tàu chở đoàn các nhà khoa học Liên Hiệp Quốc (LHQ) đi khảo sát khoa học tại Trường Sa thì bị các tàu chiến của Việt Nam tấn công. Vì thế hải quân Trung Quốc bắt buộc phải đánh trả tự vệ!

Sau đó thông qua người phát ngôn của Tổng thư ký, LHQ đã nói rõ: không hề có tàu của LHQ tổ chức khảo sát khoa học ở Trường Sa vào 3.1988!

Rõ là “cháy nhà ra mặt chuột” và chính quyền Trung Quốc đã “lấy thúng úp voi”, đã “lấy thịt đè người” lại còn muốn lấy tay che mặt trời!

Đã không có tàu khảo sát khoa học của LHQ thì chắc chắn không có việc tàu chiến Việt Nam tấn công tàu Trung Quốc. Điều mà nhiều người đều biết đó là chuyện “ngậm máu phun người” là sở trường của các nhà cầm quyền Trung Quốc.

Trước đó, năm 1962 Trung Quốc phát động chiến tranh biên giới với Ấn Độ và chiếm của Ấn Độ hàng nghìn km2 nhưng lại vu cáo Ấn Độ xâm lược Trung Quốc. Năm 1979, Trung Quốc tiếp tục đem 60 vạn quân xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới Bắc. Sự việc rõ ràng như vậy nhưng cũng được họ tuyên truyền là “phản kích tự vệ quân Việt Nam xâm lược”!


Lễ tưởng niệm các anh hùng, liệt sĩ đã hy sinh ngày 14.3.1988 tại Cam Ranh (Khánh Hòa) – Ảnh: tư liệu

Thứ hai, có một câu hỏi cần đặt ra là, tại sao Trung Quốc lại tiến hành đánh chiếm các đảo của Việt Nam tại Trường Sa vào tháng 3.1988?

Cuối 1987 đầu 1988 là thời kỳ Việt Nam rơi xuống điểm thấp nhất của cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội. Tình hình trong nước chồng chất khó khăn: kinh tế đình đốn, đời sống của đại đa số người dân cực kỳ vất vả.

Cũng trong thời điểm đó, Liên Xô cũng bắt đầu lâm vào khủng hoảng chính trị – xã hội. Bắc Kinh cúi mình trước Washington, tự nhận là “NATO phương Đông” để nhận được nguồn tài chính và công nghệ, kỹ thuật từ Mỹ và phương Tây để phục vụ cho mục tiêu hiện đại hóa. Trong bối cảnh ấy, Trung Quốc cũng đã câu kết với Mỹ và hầu hết các nước trong khu vực (trừ Lào và Campuchia) siết chặt vòng bao vây, cấm vận đối với Việt Nam.

Lợi dụng tình thế khó khăn đó của Việt Nam, Trung Quốc đánh chiếm một số đảo của Việt Nam tại Trường Sa phục vụ cho ý đồ lâu dài.

Trung Quốc cũng là bậc thầy trong việc lợi dụng thời điểm. Mặc dù đã đưa lực lượng ra Trường Sa và có những hoạt động đe dọa từ đầu năm 1988, nhưng thời điểm được Trung Quốc lựa chọn nổ súng rơi đúng vào 14.3.1988 cũng là thời điểm lễ tang Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Hùng được tổ chức tại Hà Nội! Một khi họ đã có dã tâm thì chuyện “tang gia bối rối” lại trở thành điều có thể lợi dụng được!


Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc là tài sản lớn nhất, quý giá và quan trọng nhất của cả dân tộc – Ảnh: Chiến sĩ canh gác trên đảo Len Đao (quần đảo Trường Sa) – Ảnh: D.Đ.Minh

Câu chuyện xảy ra ngày 14.3.1988 tại Trường Sa đến nay vẫn còn nguyên ý nghĩa thời sự. Sự hy sinh của những người lính Việt Nam 25 năm trước là một lời nhắc nhở tới 90 triệu người đồng bào hôm nay, trước hết là những người có trọng trách với dân tộc, không bao giờ được quên 3 điều:

Một là, lòng tin phải được đặt đúng chỗ. Đối với Trung Quốc, điều quan trọng không phải là lời nói mà là hành động. Các đấng quân vương Trung Hoa từ xưa đến nay và từ nay về sau đều là những bậc thầy về nghệ thuật “nói một đàng làm một nẻo”. Tin vào những điều mà giới lãnh đạo cấp cao ở Bắc Kinh nói không khác gì chuyện “gửi trứng cho ác”!

Hai là, cần phải hiểu về con đường mà Trung Quốc lựa chọn. Những toan tính và hành động của Trung Quốc liệu có phải là một quốc gia cộng sản đồng chí như họ từng miêu tả hay thực tế là chính sách dân tộc nước lớn vị kỷ?

Việc vô cớ đem quân đánh chiếm các đảo của một quốc gia láng giềng, bất kể quốc gia đó phát triển theo đường lối nào cũng là đi ngược lại những nguyên tắc sơ đẳng trong quan hệ quốc tế và phản bội đối với chủ nghĩa Marx – Lênin mà Trung Quốc từng sử dụng như một chiêu bài.

Láng giềng là vĩnh viễn và không bao giờ thay đổi, trừ phi có một trận siêu động đất đẩy hai quốc gia ra xa nhau!

Việt Nam cần và mong muốn có một mối quan hệ hữu nghị, ổn định, lâu dài với Trung Quốc. Tuy nhiên quan hệ ấy cần được đặt trong sự tôn trọng lẫn nhau về nhiều mặt, đặc biệt là vấn đề “bất biến” là chủ quyền quốc gia, lợi ích dân tộc. Không tỉnh táo nhận thức được điều này, lệ thuộc vào những yếu tố “ứng vạn biến” như “mười sáu chữ”, “bốn tốt” có thể dẫn đến những bước đi sai lầm mang lại hậu quả lớn cho quốc gia, dân tộc!

Chúng ta đã có được bài học đắt giá khi rơi vào cảnh bị cô lập trên trường quốc tế từ 1979-1990. Bài học ấy cùng với sự kiện 14.3.1988 mách bảo chúng ta rằng bị cô lập không đồng nghĩa với có độc lập, mà ngược lại, bị cô lập sẽ dẫn đến thảm họa, thậm chí mất cả độc lập và chủ quyền quốc gia.

Các nhà sử học Việt Nam chân chính và những người Việt có lương tâm trong sáng sẽ còn mất nhiều thời gian và công sức nghiên cứu, mổ xẻ, soi xét sự kiện 14.3.1988 một cách khách quan để rút ra bài học bổ ích cho những người Việt hiện nay và các thế hệ mai sau.

Độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc không thuộc sở hữu riêng của riêng ai. Nó là tài sản lớn nhất, quý giá và quan trọng nhất của cả dân tộc.

Liêm Thạch
Nguồn : http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130314/tai-sao-trung-quoc-danh-chiem-cac-dao-cua-viet-nam-vao-thang-3-1988.aspx

Hôm qua, ĐBQH Hoàng Hữu Phước cho biết đã gỡ bỏ bài viết xúc phạm đến ĐBQH Dương Trung Quốc. Xung quanh câu chuyện gây ầm ĩ này có nhiều vấn đề đáng bàn về văn hóa tranh luận

Các bài viết liên quan trên kenminhthien.net

[Tham Khảo] Chuyện về Đại biểu Hoàng Hữu Phước và Đại biểu Dương Trung Quốc
Nhà sử học Dương Trung Quốc nói về bài viết “Dương Trung Quốc – Bốn điều sai năm cũ”:
ĐB Hoàng Hữu Phước xin lỗi ĐB Dương Trung Quốc

Trên blog của ông Hoàng Hữu Phước, đại biểu Quốc hội, có đăng bài “Dương Trung Quốc và bốn điều sai năm cũ (tứ đại ngu)”. Bài viết có những lời lẽ xúc phạm nặng nề ông Dương Trung Quốc, cũng là đại biểu Quốc hội. Chúng tôi xin giới thiệu ý kiến người trong cuộc, những người có trách nhiệm về vấn đề này.

Sau khi gặp và chào hỏi vài lời với phóng viên báo Tuổi Trẻ chiều 18-2, đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước tiếp tục hẹn gặp làm việc với phóng viên vào thời gian khác – Ảnh: T.T.D.

Đại biểu HOÀNG HỮU PHƯỚC:

Đã gỡ bỏ bài viết

Trong bài viết trên, ông Hoàng Hữu Phước đã công kích, thậm chí có lời lẽ thóa mạ tới ông Dương Trung Quốc. Cuối bài viết được ký tên: “Nhất Thạc Bàn Cờ, Lăng Tần Hoàng Hữu Phước, Nhà VN Cộng Hòa Học, Nhà Biểu Tình Pờ-rô-tét Đì-mông-sờ-tra-sân Học, Nhà Đa Đảng Học, Nhà Lưỡng Đảng Học, Nhà Độc Đảng Học, Nhà Tiếng Anh Học, Nhà Thánh Kinh Học, Nhà Đủ Thứ Học Học”.

Mục đích của bài viết được người viết đề cập: “Lăng Tần tôi đây theo sách thánh nhân xin góp một đường chổi quét, vừa thử nêu bật phân tích Dương Trung Quốc như một tấm gương cho giới trẻ xem qua điều dở, nghiệm lấy điều ghê, vừa thử xem đối tượng được phân tích này có nhờ vậy học được đôi điều để cải hóa mà bớt xấu đi chăng”.

Bài viết khá dài, bình luận những nội dung ông Dương Trung Quốc phát biểu tại Quốc hội, với lối hành văn và sử dụng ngôn ngữ rất nặng nề, như: “Trong bối cảnh tình hình phức tạp ở biển Đông và đất nước còn bao nỗi lo toan khác thì những phát biểu về “đĩ-biểu tình-đa đảng-văn hóa từ chức” của “nhà sử học” Dương Trung Quốc tại nghị trường lại càng trở thành một mớ hỗn độn và hỗn loạn. Lẽ ra Dương Trung Quốc nên ngậm miệng lại để các đại biểu khác có thời gian hiến kế làm đất nước hùng cường, quân đội hùng mạnh, dân tộc hùng anh, quốc gia thái bình thịnh vượng, dân chúng lạc nghiệp an cư, mới đúng là “quốc thái dân an” đẳng cấp thánh nhân chứ không phải “an dân” kiểu hàm hồ của Dương Trung Quốc”.

* Sau nhiều ngày liên hệ, mãi đến chiều 18-2 chúng tôi mới gặp được đại biểu Quốc hội Hoàng Hữu Phước. Sau vài lời chào hỏi, ông này nói lời xin lỗi vì không thể dành thời gian trao đổi với Tuổi Trẻ như lịch đã hẹn. Lý do được nêu ra là trùng lịch làm việc một cơ quan ngoại giao nước ngoài nên không thể chậm trễ, đồng thời hẹn sẽ gặp Tuổi Trẻ vào thời gian khác.

Tuy nhiên, ông Phước có xác nhận “đã gỡ bỏ bài viết khỏi blog của mình vào ngày hôm qua, tức 17-2”.

Theo thông tin chúng tôi nắm được, sáng 18-2 ông Hoàng Hữu Phước đã đến trụ sở Đoàn đại biểu Quốc hội TP.HCM để họp khẩn ngay trong buổi làm việc đầu tiên sau thời gian nghỉ tết với tập thể thường trực Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Tất cả nội dung của cuộc họp đều liên quan đến bài viết “bốn điều sai năm cũ (tứ đại ngu)”.

Tất cả ý kiến trong cuộc làm việc đều không đồng tình cách làm, cách ứng xử của đại biểu Phước qua bài viết nói trên, đồng thời đề nghị đại biểu này có cách xử lý, khắc phục những hậu quả đã phát sinh.

Tại cuộc làm việc, ông Hoàng Hữu Phước đã trao đổi lại, kể cả giải thích một vài lý do xuất phát từ đâu mà ông viết những nội dung như vậy. Đồng thời có thông tin cho biết đại biểu Phước nói sẽ có lời xin lỗi về những gì mình đã viết về đại biểu Dương Trung Quốc qua bài viết vừa nêu. Tuy nhiên đến chiều 18-2, ông Phước vẫn chưa liên lạc để xin lỗi ông Quốc.

Ông Hoàng Hữu Phước (sinh năm 1957) được Ủy ban Mặt trận Tổ quốc VN TP.HCM giới thiệu ra ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIII, đơn vị bầu cử số 1: quận 1, 3, 4. Ông đã trúng cử trong kỳ bầu cử này.

Một trong hai cam kết thực hiện chương trình hành động sau khi trúng cử của ông Phước là “luôn giữ gìn danh dự quốc gia, danh dự Quốc hội và tư cách người đại biểu Quốc hội; trau dồi tu dưỡng để đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn nêu tại điều 3, chương I, Luật bầu cử Quốc hội; tận tụy phục vụ cử tri và nhân dân”.

Đại biểu Dương Trung Quốc – Ảnh: Việt Dũng

Đại biểu DƯƠNG TRUNG QUỐC:

“Tôi thấy cũng bình thường thôi”

Trao đổi với Tuổi Trẻ qua điện thoại chiều 18-2, đại biểu DƯƠNG TRUNG QUỐC nói:

– Việc gỡ bỏ khỏi blog cá nhân (của đại biểu Hoàng Hữu Phước) toàn bộ nội dung bài viết “bốn điều sai năm cũ (tứ đại ngu)” cũng bình thường thôi. Anh ấy đưa lên hay gỡ bỏ là quyền của anh ấy, việc ứng xử, hành xử của anh ấy thôi. Hơn nữa sự việc đã xảy ra rồi, nếu anh ấy thấy rút đi là phải thì tôi cũng thấy bình thường.

* Thưa ông, ông có cho rằng việc gỡ bỏ nội dung bài viết nhằm vào ông với những ngôn từ nặng nề là một sự nhìn nhận sai lầm của người viết?

– Lẽ ra câu hỏi này phải hỏi anh Phước. Còn tôi thì quan điểm trước sau như một. Những vấn đề mà anh ấy nêu lên, nếu đưa ra đúng diễn đàn để trao đổi một cách đàng hoàng thì hay hơn. Còn đưa ra như thế (chuyển tải trên mạng, blog cá nhân) thì hiệu ứng thế nào, anh Phước sẽ là người hiểu hơn tôi. Đương nhiên trong lòng chả ai thích thú gì chuyện này cả. Tôi cũng hơi buồn một chút là Quốc hội đang trên tiến trình phát triển, nhân dân tin cậy, trong khi bây giờ xảy ra chuyện như vậy thì nhân dân sẽ nghĩ thế nào về Quốc hội?

Với cá nhân tôi là không có chuyện thắng thua gì ở đây cả.

* Ông có thấy những ngôn từ dùng trong bài viết xúc phạm đến cá nhân của một đại biểu Quốc hội như ông không?

– Tôi thấy không cần thiết nói vào lúc này, lúc mà mọi cái cần để nó qua đi. Mỗi người rút ra một bài học để làm tốt hơn trong quan hệ. Nghị trường là nơi vừa bảo đảm cho đại biểu thể hiện thẳng thắn quan điểm của mình, đồng thời cũng thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau. Chúng ta đều đang phấn đấu cho những giá trị dân chủ và giá trị quan trọng nhất là biết tôn trọng ý kiến của nhau, kể cả ý kiến khác biệt. Còn việc đấu tranh để bảo vệ quan điểm của mình hay làm quan điểm của mình được mọi người công nhận thì đấy là một nỗ lực, một nghệ thuật của chính bản thân mỗi đại biểu.

* Từ hôm xảy ra sự việc đến nay, đến lúc bài viết được gỡ khỏi blog, đại biểu Hoàng Hữu Phước có gọi điện thoại, email hay gặp gỡ để trao đổi điều gì với ông không?

– Tôi chưa nhận được thông tin gì cả ngoài thông tin Văn phòng Quốc hội rất lưu ý việc này, đang tìm hiểu. Còn quan điểm của tôi đã phát biểu rất rõ ràng rồi và tôi thấy chỉ cần như thế là đủ.

* Ông nghĩ sao nếu có lời xin lỗi từ đại biểu Hoàng Hữu Phước?

– Nếu thấy đã làm một việc cần thiết phải xin lỗi và xin lỗi thì tôi cho là điều tốt. Đấy là một cách ứng xử tốt.

QUỐC THANH thực hiện  

Ông LÊ NHƯ TIẾN (phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, giáo dục, thanh niên, thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội):Quốc hội nên có ý kiến về đề nghị bãi nhiệm đại biểu Hoàng Hữu Phước

Tôi cho rằng việc các đại biểu Quốc hội tranh luận, trao đổi với nhau là chuyện bình thường, sẽ làm tăng sức hấp dẫn và tính dân chủ trong sinh hoạt nghị trường. Tuy nhiên, việc dùng blog cá nhân để đánh giá, nhận xét đại biểu khác bằng những lời lẽ thóa mạ, thiếu tôn trọng như dùng từ “ngu”, “ngậm miệng lại”… thì không thể chấp nhận được. Đây là việc chưa có tiền lệ trong sinh hoạt nghị trường ở VN. Là người theo dõi lĩnh vực văn hóa, tôi cho rằng sẽ có nhiều người không đồng tình với cách làm của đại biểu Hoàng Hữu Phước. Cách làm này không thể chấp nhận đối với một người bình thường chứ chưa nói anh Phước là một đại biểu Quốc hội.

Tôi có đọc trên các diễn đàn mạng thì có những ý kiến đề nghị bãi nhiệm đại biểu Hoàng Hữu Phước. Tôi nghĩ các cơ quan có trách nhiệm của Quốc hội nên có ý kiến về vấn đề này.

LÊ KIÊN ghi

Luật sư NGUYỄN VĂN HẬU (phó chủ tịch Hội Luật gia TP.HCM):

Hành vi vi phạm pháp luật dân sự

Theo quy định tại điều 1 của quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội và Đoàn đại biểu Quốc hội ban hành kèm theo nghị quyết số 08/2002/QH11 của Quốc hội khóa XI kỳ họp thứ hai thì đại biểu Quốc hội không chỉ đại diện cho nhân dân ở đơn vị bầu cử ra mình mà còn đại diện cho nhân dân cả nước. Chính vì vậy đại biểu Quốc hội phải cẩn trọng hơn trong hành vi, ngôn ngữ của mình. Điều này càng được khẳng định hơn tại điều 3 của quy chế là đại biểu Quốc hội phải gương mẫu trong việc chấp hành Hiến pháp, pháp luật, sống lành mạnh và tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân, có nhiệm vụ tham gia tuyên truyền, phổ biến pháp luật, động viên nhân dân và người thân trong gia đình chấp hành pháp luật, tham gia quản lý nhà nước. Nếu đại biểu Quốc hội vi phạm pháp luật, không tôn trọng các quy tắc sinh hoạt công cộng cũng tức là xúc phạm danh dự, uy tín của nhân dân, của Nhà nước.

Việc đại biểu Quốc hội xúc phạm một đại biểu Quốc hội khác trên một trang cá nhân và để chế độ công cộng cho mọi người cùng xem, theo tôi, là hành vi vi phạm pháp luật dân sự mà cụ thể là vi phạm vào điều 37 của Bộ luật dân sự 2005 về quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín của công dân. Theo đó, mỗi cá nhân đều có nghĩa vụ tôn trọng danh dự, nhân phẩm, uy tín của các cá nhân khác và pháp luật sẽ bảo vệ quyền này. Một công dân nói xấu một công dân khác tại nơi công cộng thì đó chỉ là sự vi phạm pháp luật dân sự, nhưng nếu là một đại biểu Quốc hội nói xấu một đại biểu Quốc hội khác thì rõ ràng bên cạnh việc vi phạm pháp luật, quy chế hoạt động của đại biểu Quốc hội, vị đại biểu đó còn xúc phạm đến một hình tượng đại diện cho nhân dân khác, cũng như làm ảnh hưởng đến hình ảnh của Quốc hội.

Nguồn:  LÊ KIÊN – QUỐC THANH

Các bài viết liên quan trên kenminhthien.net

[Tham Khảo] Chuyện về Đại biểu Hoàng Hữu Phước và Đại biểu Dương Trung Quốc
Nhà sử học Dương Trung Quốc nói về bài viết “Dương Trung Quốc – Bốn điều sai năm cũ”:
Đại biểu quốc hội xúc phạm nhau: Luật chưa đề cập

 – Trả lời VietNamNet chiều 18/2, đại biểu QH TP.HCM Hoàng Hữu Phước có lời xin lỗi ông Dương Trung Quốc và thừa nhận việc tranh luận trên blog đã đi quá xa.

‘Không ngờ bị phản ứng’

Mấy ngày qua, dư luận rất quan tâm thông tin ông viết trên trang mạng Emotion phê phán “Dương Trung Quốc và bốn điều sai năm cũ” (tứ đại ngu). Lý do ông viết bài này là gì?

Thực ra, trang Emotion là một trang mạng diễn đàn của giới kinh doanh. Chủ trang này là một doanh nghiệp, người này đề nghị tôi viết vài bài. Lúc đầu chỉ tham gia thử, sau 4 năm, tôi viết đều, đến bây giờ chắc cũng được 700-800 bài rồi.

Trước đây, nói về luật Biểu tình, ông Dương Trung Quốc phát biểu tại hội trường: “Việt Nam đừng có làm cho mình trở thành một ốc đảo dị thường”. Báo chí sau đó lấy ra để đặt thành tít; khi đó tôi có viết một bài đưa lên trang Emotion.

Đại biểu QH Hoàng Hữu Phước: Thực sự tôi không lường được phản ứng của cộng đồng mạng. Ảnh: Thiện Lâm

Như vậy ngay từ năm 11/2011, tôi đã có bài “chỉnh lời” ông Dương Trung Quốc, tuy nhiên khi đấy tôi không nêu thẳng tên ông Quốc. Tôi đặt vấn đề thế nào là ốc đảo. Tại vì ông nói Việt Nam không có luật Biểu tình thì sẽ là một cái ốc đảo dị thường.

Trong bài viết, tôi nói câu này đã bị hiểu sai từ. Ý người đó muốn nói là hoang đảo chứ không phải ốc đảo. Cái ốc đảo là đẹp lắm. Ốc đảo là sự sống cả một vùng hoang mạc mà.

Sau này, ông Quốc có những phát biểu này phát biểu nọ, tôi cũng có những cái chỉnh nhưng chỉnh ở một góc độ nói trống không vậy đó. Những bài viết blog như vậy, gọi là “thuần nước đá”. Mình ví von blog như cuốn nhật ký, giống như để thùng nước đá do mình pha chế ngoài đường có đậy nắp, ai đi ngang khát nước dừng lại uống một chút.

Từ suy nghĩ đó tôi viết một bài hết sức vô tư, đăng trên trang mạng quen thuộc, không ngờ lại bị phản ứng như vậy.

Về từ ngữ tôi dẫn câu của Khổng Tử, ngày xưa ông Khổng Tử ông nói đại ngu; ngu ở đây được hiểu là cái sai nghiêm trọng thôi. Cho nên phải hiểu đây là những cái sai nghiêm trọng trong năm qua của ông Quốc. Lưu ý là tôi đã mở ngoặc Tứ Đại ngu và dẫn lời của ông Khổng Tử. Tuy nhiên với chữ Hán Việt, bây giờ người Việt Nam mình rất nhạy cảm, nghe thấy chữ “ngu” là dựng đứng lên rồi.

Phản ứng của đoàn ĐBQH TP.HCM như thế nào khi một thành viên đoàn lên mạng công kích một ĐBQH khác, thưa ông?

Sáng 18/2, thường trực đoàn ĐBQH TP.HCM cũng có gặp tôi tìm hiểu xem vì sao mình viết cái đó, có những bức xúc gì. Tôi cũng đã trả lời thẳng thắn như vừa trình bày với các bạn. Đó là với những cái thói quen viết một cách rất là trực ngôn.

Tôi suy nghĩ blog là một nhật ký mở, mình nói trong lúc nhà nước đang có quá nhiều cái để đương đầu, vậy mà ông Dương Trung Quốc liên tục nói về mại dâm, biểu tình, văn hóa từ chức… hãy để tập trung vào cái lớn.

Trong tình hình đất nước hiện nay, những kẻ xấu, các thế lực không thân thiện đang nhìn vào đất nước thì cái chuyện mình có trực ngôn, mình nêu lên, cũng như là cung cấp cho họ một cơ hội bằng vàng để họ có thể xúc xiểm QH, đại biểu QH Việt Nam. Rồi họ suy diễn tư cách của đại biểu như thế nào, môi trường QH như thế nào mà các đại biểu lại có những bức xúc không dám tranh luận ở trong nghị trường mà viết blog như thế.

Như vậy là mình tạo thời cơ cho những kẻ không có thiện cảm với Nhà nước mình. Họ có cái cớ tấn công cá nhân mình, tấn công tập thể mình đang sinh hoạt.

Còn về mặt chính kiến, tôi và ông Quốc vẫn bất đồng, và sẽ còn tranh luận nhưng phương pháp tranh luận sẽ phải khác đi.

Tôi thừa nhận là phương pháp tranh luận của mình sai khi đưa lên blog. Chính vì phương pháp sai này tôi có lời xin lỗi cá nhân ông Dương Trung Quốc.

Lẽ ra với những chỉ trích như vậy, tôi có thể viết một bức thư gửi Thường vụ QH, hay viết bài không ghi tên ông mà chỉ nêu quan điểm, theo dạng blog thì chắc là không có chuyện gì.

Tôi cũng xin khẳng định điều tôi viết là do tính bộc trực, không có ai giật dây gì cả.

Ông có lường được phản ứng dữ dội của cộng đồng mạng không?

Thực sự tôi không lường được như vậy. Hồi nãy tôi nói đó, viết rất vô tư… Kỳ này tôi lại nêu tên và cái đó là cái sai. Bởi vì, mình là đại biểu QH, ông Quốc cũng là đại biểu, trên mình còn có tập thể QH. Do vậy những căng thẳng hay bất đồng có thể trình bày trước QH thay vì blog hay diễn đàn. Đây là điều tôi phải rút kinh nghiệm.

Tôi sẽ trao đổi thẳng thắn, tranh luận trước diễn đàn QH chứ không viết blog như vừa rồi. Không chỉ trên diễn đàn QH mà ngay khi viết blog thì cũng phải để ý lời ăn tiếng nói.

Tôi xin lỗi

Nhiều cử tri TP.HCM đã tỏ ra bất bình. Họ tỏ thái độ thất vọng, thậm chí mất niềm tin vào người mà họ bỏ lá phiếu lại có những ứng xử như thế. Ông có thể nói gì với họ?

Tôi tin những điều giãi bày hôm nay, cử tri đọc sẽ hiểu thêm về tôi trước khi tôi có dịp tiếp cận để nói chuyện với cử tri. Thông qua báo VietNamNet, cử tri sẽ hiểu về tôi.

Lời bộc bạch của tôi hôm nay dứt khoát phải đi kèm theo những việc làm cụ thể trong thời gian tới. Chỉ còn hơn 2 năm làm đại biểu QH nữa thôi, mình phải làm những việc cụ thể để xứng đáng với niềm tin của cử tri.

Ông có muốn nói điều gì với ông Dương Trung Quốc không?

Thông qua VietNamNet, tôi gửi lời xin lỗi ông Dương Trung Quốc vì tôi đã sai khi sử dụng phương pháp trình bày các ý kiến qua blog. Lẽ ra tôi chỉ nên gửi thư trực tiếp, gửi thư cho lãnh đạo nơi ông Quốc và tôi cùng sinh hoạt.

Thái Thiện – Tá Lâm

Các bài viết liên quan trên kenminhthien.net

[Tham Khảo] Chuyện về Đại biểu Hoàng Hữu Phước và Đại biểu Dương Trung Quốc
ĐB Hoàng Hữu Phước xin lỗi ĐB Dương Trung Quốc
Đại biểu quốc hội xúc phạm nhau: Luật chưa đề cập

Nhà sử học Dương Trung Quốc nói về bài viết “Dương Trung Quốc – Bốn điều sai năm cũ”:

Đây là cái gì chứ không phải phản biện !

16/02/2013 2:33

Dư luận hiện đang quan tâm đến bài viết nói về “tứ đại ngu” của nhà sử học, đại biểu Quốc hội (ĐBQH) Dương Trung Quốc. PV Thanh Niên đã gặp ông Dương Trung Quốc để tìm hiểu quan điểm của ông về bài viết này.

Thưa ông, ông đã đọc trọn vẹn bài viết Dương Trung Quốc – Bốn điều sai năm cũ của người ký tên là Hoàng Hữu Phước chưa? Cảm xúc khi đọc bài viết đó của ông như thế nào?

Đây là một bài lấy từ blog cá nhân nên thực lòng tôi cũng không muốn bình luận làm gì. Tuy nhiên giữa ngày tết vui như thế này đọc thấy mất vui đi một tí.

Tinh thần là không có gì đáng để bình luận. Đây là vì Báo Thanh Niên hỏi nên tôi trả lời thôi.

Trước đây, ông và ĐBQH Hoàng Hữu Phước đã bao giờ trao đổi trực tiếp về những quan điểm khác nhau mà ông Phước nêu trong bài chưa?

Cũng chỉ có một lần trao đổi liên quan đến thảo luận về luật Biểu tình thôi. Còn những việc anh ấy nêu lên, kể ra, đưa ra QH thảo luận thì cũng hay. Nhưng cũng chưa lần nào thấy anh Phước nêu ra cả.

Góc nhìn lịch sử là cách chủ đạo ông dùng để tiếp cận các vấn đề. Từ góc nhìn này, ông đánh giá ra sao về bài viết của ông Hoàng Hữu Phước? Kiến thức lịch sử liệu đã chuẩn xác. Cách đặt vấn đề liệu đã khách quan, khoa học.

Tôi cũng không đánh giá làm gì cả. Tôi thấy không cần thiết phải đánh giá làm gì cả. Vì ngôn ngữ hình như khác nhau nên không thể trao đổi được.

Đây là cái gì chứ không phải phản biện !
Bài viết Dương Trung Quốc – Bốn điều sai năm cũ đăng trên blog được cho là của ĐBQH Hoàng Hữu Phước

Hồi kỳ họp thứ 2, QH khóa 13, tháng 10.2011, ĐB Hoàng Hữu Phước từng khiến dư luận “nổi sóng” vì quan điểm về luật Biểu tình (không nên bàn luật Biểu tình trong chương trình nghị sự), nay trong bài viết bàn về “tứ đại ngu” của ông, ĐB Phước lại một lần nữa nhắc lại chuyện này. Thực chất việc này là thế nào?

Quy định về biểu tình đã có sắc lệnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh cuối năm 1945 rồi.  Nó đã được thể hiện trong Hiến pháp đầu tiên rồi trong khái niệm tự do hội họp. Đặc biệt, Hiến pháp năm 1959 có hẳn một điều luật về biểu tình rồi. Và như chúng ta đã biết, ngay tại cuối kỳ họp năm 2011 đó thì Thủ tướng cũng tán thành nên có luật Biểu tình. Nên tôi thấy chẳng có gì phải bình luận về cách đặt vấn đề của ĐB Phước.

Ở một diễn đàn bình đẳng như QH thì việc các ĐB có quan điểm, chính kiến khác nhau phải được xem là rất bình thường. Ông nhận xét gì về cách “phản biện” như của ĐB Phước?

Tôi nghĩ đây chẳng thể gọi là phản biện. Đây là cái gì chứ không phải phản biện. Dẫu sao thì anh Phước cũng đang là ĐBQH của TP.HCM, một thành phố có nhiều trí thức lớn. Nên tôi thấy chuyện này để bà con cử tri phát biểu ý kiến bình luận thì hay hơn. Cứ để đồng bào TP.HCM suy nghĩ về người ĐB của mình thôi.

Cấm các ĐBQH xúc phạm, thóa mạ lẫn nhauTrao đổi với Thanh Niên chiều 15.2, Phó chủ tịch QH Uông Chu Lưu cho biết ông chưa có điều kiện tìm hiểu rõ thực hư sự việc ĐBQH Hoàng Hữu Phước viết trên blog cá nhân về ĐB Dương Trung Quốc, song theo quan điểm của ông Lưu, việc ĐBQH trao đổi mà lại có tính chất mạt sát nhau, xúc phạm nhau là hoàn toàn không nên. “Anh có thể phát biểu chính kiến quan điểm của anh với những lập luận, lý lẽ thuyết phục, có văn hóa, xây dựng nhưng không thể thóa mạ, xúc phạm nhau”, Phó chủ tịch QH nói.Ông đồng thời cho biết, trong các nội quy của kỳ họp của QH, quy chế về hoạt động của ĐBQH cũng đều cấm các ĐBQH xúc phạm, thóa mạ lẫn nhau, không chỉ trong kỳ họp mà cả hoạt động của ĐB giữa hai kỳ họp. Tuy nhiên, hiện vẫn chưa có quy định chế tài xử lý hành vi này.Bảo Cầm

Trinh Nguyễn
(thực hiện)

 Các bài viết liên quan trên kenminhthien.net

Nhà sử học Dương Trung Quốc nói về bài viết “Dương Trung Quốc – Bốn điều sai năm cũ”:
ĐB Hoàng Hữu Phước xin lỗi ĐB Dương Trung Quốc
Đại biểu quốc hội xúc phạm nhau: Luật chưa đề cập

Dương Trung Quốc: Bốn Điều Sai Năm Cũ (Tứ Đại Ngu)

Hoang Huu Phuoc, MIB

Phàm ở đời, cứ luận cổ suy kim thì các nhận định của Thầy Khổng cùng môn đồ ắt không phải không có phần đúng và có thể trên nền đúng cổ đó mà phát triển xum xuê kim thêm rằng (a) người nào khi mẹ cha sinh ra đời đã tự mình biết tất tần tật lẽ phải điều hay ấy là đấng thánh nhân; (b) người nào sinh ra đời biết tự mình tìm đến bậc thầy thiên hạ để quỳ xin theo chí thú học hành tới nơi tới chốn để biết lẽ phải điều hay là đấng đạt nhân; (c) người nào sinh ra đời nhờ mẹ cha chọn thỉnh bậc thầy thiên hạ đến dạy mà trở nên biết lẽ phải điều hay là đấng hiền nhân; (d) người nào vừa không được – hoặc không có – mẹ cha biết chọn bậc thầy thiên hạ, vừa bản thân cũng chẳng biết ai là bậc thầy thiên hạ để quỳ xin theo học tập để biết lẽ phải điều hay là người không có phúc phận; (e) người nào đã được mẹ cha chọn thỉnh bậc thầy thiên hạ đến dạy nhưng dù cố gắng học hành kết quả học tập cũng không khá hơn được, khiến chẳng thể phân biệt lẽ phải điều hay, là người ngu; (f) còn người nào dù có điều kiện hơn thiên hạ vẫn vừa không biết ai là bậc thầy trong thiên hạ để tìm đến quỳ lạy người ấy xin theo học, vừa bê tha bê bối bê trễ việc học tập học hỏi học hành nên không thể biết lẽ phải điều hay, lại hay to mồm phát ngôn toàn điều càn quấy là kẻ đại ngu. Nay thiên hạ trong cơn u u minh minh tối tối sáng sáng của thời Mạt Pháp lúc tôn giáo suy đồi, sư sãi ngứa ngáy nhảy cà tưng cà tưng trên nóc ô-tô rống loa kích động chống lại chính quyền, linh mục điên loạn gào thét co giò đạp đổ vành móng ngựa giữa chốn pháp đình uy nghiêm khiến ngay ngoại bang cũng phải giật mình cười chê còn Tòa Thánh cũng buộc phải ngó lơ, chân lý lung lay, tà mỵ huyễn hoặc hoành hành dù nhấp nha nhấp nhổm rúc chui cống đấy cống này blog nọ blog kia cũng rống loa rao truyền sứ điệp, Lăng Tần tôi đây theo sách thánh nhân xin góp một đường chổi quét, vừa thử nêu bật phân tích Dương Trung Quốc như một tấm gương cho giới trẻ xem qua điều dở, nghiệm lấy điều ghê, vừa thử xem đối tượng được phân tích này có nhờ vậy học được đôi điều để cải hóa mà bớt xấu đi chăng.

Giới Thiệu Đôi Nét Về Dương Trung Quốc:

Dương Trung Quốc quê quán tỉnh Bến Tre, sống ở Hà Nội, trình độ học vấn: tốt nghiệp đại học môn Sử, tự dưng có danh xưng “Nhà Sử Học” trên trời rơi xuống, không rõ do tự xưng hay do thuộc hạ tung hê, ắt do ở Việt Nam và trên thế giới chỉ có “Thạc sĩ” và “Tiến sĩ” mới được gắn học vị vào tên, chứ “tốt nghiệp đại học” (tức “Cử nhân”) hay “tốt nghiệp phổ thông” (tức “Tú tài”) thì theo quy định bất thành văn của thời hiện đại không được nêu ra kèm theo tên họ, nên tức mình đau mẩy phải áp cụm từ “nhà sử học” vào tên để cho có với người ta chăng. Tuy nhiên, việc Dương Trung Quốc không chọn danh xưng “Sử Gia” cũng là một điều khá khen là khôn ngoan, vì đã là “sử gia” thì phải là giáo sư tiến sĩ Sử, dù trong tiếng Hán Việt thì “gia” cũng là “nhà”, nhưng “gia” thì … to lắm, thế nên mới có chuyện các nhà tài phiệt chỉ được gọi là “đại gia” chứ đố ai dám vặn vẹo kiểu “giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” mà nói đó là…“nhà lớn

Nhất Đại Ngu của Dương Trung Quốc:  Đĩ

Cái đại ngu thứ nhất của Dương Trung Quốc là lập lại lời thiên hạ thế gian này hay nói khi  tuyên bố danh chính ngôn thuận giữa nghị trường quốc hội rằng mại dâm là nghề cổ xưa nhất của nhân loại, rằng các nước luật hóa mại dâm nên Việt Nam đừng có đạo đức giả nữa đối với nghề mại dâm mà phải công nhận nghề này, và rằng nhất thiết phải đưa mại dâm lên bàn nghị sự của quốc hội. Ba điểm Dương Trung Quốc nêu lên cho thấy những bảy điều xằng bậy như sau:

1) Mại dâm không là nghề cổ xưa nhất của nhân loại mà là nghề…đạo chích, tức trộm cắp. Thánh Kinh Cựu Ước của Thiên Chúa Giáo có cho biết thủa hồng hoang mới có một nam tên Adam và một nữ tên Eva, tất nhiên chưa thể phát sinh nhu cầu giải quyết sinh lý với người nữ khác nên chưa thể có mại dâm. Song, Eva và Adam đã đồng lõa ăn trộm trái táo xơi để khai sinh ra ngành công nghiệp thời trang cho nhân loại. Việc to mồm nói mại dâm là nghề cổ xưa nhất chỉ có thể là lời khẳng định sự bó tay của nhân loại trước thân phận bọt bèo của nữ giới và tệ nạn của ma cô đàng điếm, của “nô lệ tình dục”, và của “sex trade” chứ sao lại vin vào đó để đòi “công nhận” là một “nghề” chính danh chính thức?

2) Cũng trong chương Sáng Thế Ký Genesis của Thánh Kinh Cựu Ước của Thiên Chúa Giáo có ghi việc Chúa Trời sai các thiên sứ bay đến hai thành phố Sodom và Gomorrah vung gươm tàn sát giết sạch nam (đàn ông), phụ (phụ nữ), lão (bô lão), ấu (trẻ em, hài nhi) để trị tội dâm ô đồi trụy. Tuy Genesis không có nêu đặc biệt vấn đề đĩ điếm mại dâm nữ, song trong các chương khác của Thánh Kinh Cựu Ước và Thánh Kinh Tân Ước của Thiên Chúa Giáo như Châm Ngôn (Proverbs 23:27-28), Lu-ca (Luke 7:36-50), Ma-thi-ơ (Matthew 21:31-32) và II Cô-rinh-tô (II Corinthians 5:17), v.v. đều ghi rõ Đức Chúa Trời và Đức Chúa Jesus sẵn sàng xóa sạch “tội lỗi” cho đĩ điếm nào tin vào Chúa. Đã là “tội lỗi” ắt đó không bao giờ là “nghề nghiệp” cả.

3) Dương Trung Quốc là đại biểu quốc hội ứng cử tại địa bàn tỉnh Đồng Nai là nơi có rất nhiều giáo xứ. Tôi đã là giáo viên chủ nhiệm một lớp do tỉnh Đồng Nai gởi đến nhờ trường Cao Đẳng Sư Phạm Thành phố Hồ Chí Minh giúp đào tạo nên một đội ngũ giáo viên tiếng Anh thật giỏi để phục vụ ngành giáo dục tỉnh Đồng Nai. Đa số các sinh viên này của tôi đều thuộc gia đình công giáo, và những chuyến đi thăm phụ huynh tại Đồng Nai, dù đó là thành phố Biên Hòa, hay thị trấn Xuân Lộc, Long Khánh, Long Thành, v.v., cho tôi cảm nhận được mức độ đạo hạnh cao, mẫu mực gia phong tốt lành nơi các gia đình và nơi bản thân các sinh viên này. Việc Dương Trung Quốc phát biểu linh tinh về mại dâm là việc làm không chút khôn ngoan do động đến vấn đề liên quan đến đạo đức mà Kinh Thánh đã nêu và các cử tri là giáo dân các giáo xứ tỉnh Đồng Nai khó thể chấp nhận được sự xúc phạm, nhất là kiểu ăn nói quàng xiên rằng “không công nhận mại dâm tức là đạo đức giả”.

4) Dương Trung Quốc đã hoàn toàn không biết gì về ý nghĩa của cụm từ “đạo đức giả” cũng như các minh họa làm rõ nghĩa cụm từ này trong thực tế đời sống, trong thực tế hùng biện hàn lâm, và trong thực tế tôn giáo, mà tôi sẽ biện luận làm rõ trong một bài viết sau này.

5) Dương Trung Quốc đã hoàn toàn không biết rằng ngay tại Mỹ chỉ có vài tiểu bang và tại các tiểu bang này chỉ có một hay hai thị trấn đưa mại dâm vào danh sách “nghề” để quản lý. Mà ngay cả khi thế giới đảo điên này có công nhận “nghề” mại dâm, cũng không phải là lý do để đặt đĩ nằm chình ình trên bàn nghị sự của quốc hội Việt Nam!

6) Dương Trung Quốc đã không có tầm nhìn bao quát, sâu rộng, về vấn đề mại dâm. Dương Trung Quốc chỉ nghĩ đến mại dâm như việc đơn giản người phụ nữ có quyền bán thân để kiếm tiền và để đáp ứng nhu cầu xã hội. Dương Trung Quốc hoàn toàn không biết rằng mại dâm bao gồm đĩ cái, đĩ đực, đĩ đồng tính nữ, đĩ đồng tính nam, và đĩ ấu nhi. Dương Trung Quốc hoàn toàn không biết rằng khi “công nhận” cái “nghề đĩ” để “quản lý” và “thu thuế”, thì phát sinh … nhu cầu phải có trường đào tạo nghề đĩ thuộc các hệ phổ thông đĩ,cao đẳng đĩđại học đĩ; có các giáo viên và giáo sư phân khoa đĩ; có tuyển sinh hàng năm trên toàn quốc cho phân khoa đĩ; có chương trình thực tập cho các “môn sinh” khoa đĩ; có trình luận văn tốt nghiệp đĩ trước hội đồng giảng dạy đĩ; có danh sách những người mua dâm để tuyên dương vì có công tăng thu nhập thuế trị giá gia tăng cho ngành công nghiệp đĩ; có chính sách giảm trừ chi phí công ty hay cơ quan nếu có các hóa đơn tài chính được cấp bởi các cơ sở đĩ, đặc biệt khi cơ quan dùng vé “chơi đĩ cái” tặng nam nhân viên và vé “chơi đĩ đực” cho nữ nhân viên nào ưu tú trong năm tài chính vừa qua; ban hành quy định mở doanh nghiệp cung cấp đĩ, trường dạy nghề đĩ, giá trị chứng chỉ văn bằng đĩ trên cơ sở so sánh giá trị nội địa, khu vực, hay quốc tế; và có các hướng dẫn về nội dung tờ bướm, tờ rơi, bảng quảng cáo ngoài trời, quảng cáo bên hông xe buýt và trên thân máy bay, cũng như quảng cáo online về đĩ, tập đoàn đĩ lên sàn (chứng khoán), v.v. và v.v.

7) Dương Trung Quốc đã không thể phân biệt giữa nội dung “nhân quyền” tức “quyền con người” trong việc “tự do bán thân”, với “quyền công dân” mà một đạo luật đĩ  có thể điều chỉnh hành vi.  Việt Nam đã chấm dứt việc bố ráp đưa mại dâm nữ vào cơ sở chữa bệnh-phục hồi nhân phẩm, và đây là do Việt Nam tôn trọng “quyền con người”. Còn việc ra sức giáo dục, tuyên truyền để hạn chế sự hoành hành tác tệ của mại dâm đối với trật tự xã hội, nhân cách công dân, đạo đức xã hội, v.v., là việc mà nhà nước nào, dù thần quyền hay thế tục, đều cố gắng làm tốt. Dương Trung Quốc dường như rất vô tư đối với nội hàm làm băng hoại xã hội Việt Nam, cứ như xuất phát từ lòng căm thù bịnh hoạn nào đó đối với chế độ hiện tại của nước này vậy.

Nhị Đại Ngu của Dương Trung Quốc: Đa Đảng

Trong một video clip trả lời phỏng vấn của PhốBolsaTV, Dương Trung Quốc đã vừa nháy mắt vừa nói với nhà báo rằng các anh ấy ở Việt Nam Cộng Hòa nên biết rõ thế nào là “đa đảng”. Có cái mác “Nhà Sử Học” nhưng Dương Trung Quốc đã hoàn toàn không biết gì về lịch sử Việt Nam Cộng Hòa. Như tôi đã nói rõ trong nhiều bài viết trên các trang mạng, Việt Nam Cộng Hòa hoàn toàn không có bất kỳ đảng phái chính trị nào cả! Chỉ đến năm 1974 Nguyễn Văn Thiệu mới thành lập cái gọi là Đảng Dân Chủ, với đảng kỳ là cờ vàng sao đỏ, có cùng kích cỡ như cờ của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (trước 1975) và Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam (từ sau 1975 đến nay), và với Nguyễn Văn Thiệu làm Đảng Trưởng. Buổi lễ thành lập Đảng Dân Chủ của Nguyễn Văn Thiệu được tổ chức tại nơi mà nay là Trung Tâm Thể Thao Quận Bình Thạnh, gần Ủy Ban Nhân Dân Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là chi tiết mà không bất kỳ một người Mỹ gốc Việt nào biết trước khi đọc thông tin của tôi đăng trên các blog. Ăn nói hồ đồ và xằng bậy về Việt Nam Cộng Hòa là điều đại ngu thứ hai của Dương Trung Quốc.

Tam Đại Ngu của Dương Trung Quốc: Biểu Tình

Tại kỳ họp thứ 2, Quốc hội Việt Nam khóa XIII, tháng 10 năm 2011, sau khi phát biểu xong về sự cần thiết có cái gọi là “Luật Biểu Tình”, Dương Trung Quốc nổi nóng khi nghe đại biểu Hoàng Hữu Phước phát biểu phân tích về ngữ nghĩa, ngữ nguyên, và lịch sử xuất hiện của cụm từ “protest demonstration” trong tiếng Anh mà tiếng Việt đã dịch sai thành “biểu tình” để từ đó kiến nghị chưa thể đưa lên bàn nghị sự cái gọi là “luật biểu tình” do ý tứ chưa thông, chắc chắn sẽ gây cảnh rối loạn an ninh trật tự. Vì nổi nóng trước hiện tượng chưa từng có tiền lệ tại quốc hội Việt Nam khi đại biểu Hoàng Hữu Phước được nghị trường vỗ tay đồng tình, Dương Trung Quốc đã có cái đại ngu thứ ba, gồm 5 điều xằng bậy sau:

1) Nhấn nút phát biểu tiếp lần thứ hai để chống lại đại biểu Hoàng Hữu Phước, biến nghị trường quốc hội thành nơi đấu khẩu, chà đạp “tự do ngôn luận”, trong khi nhiều trăm đại biểu khác đang chờ đến lượt họ phát biểu, như vậy đã giành giật thời gian chính đáng chính danh chính thức chính đạo của – và gây thiệt thòi cho – 499 đại biểu quốc hội thuộc các tỉnh khác của Việt Nam.

2) Do hấp tấp, hiếu chiến, háo thắng, Dương Trung Quốc đã nói xằng bậy rằng “biểu tình” xuất hiện đầu tiên tại Chicago thế kỷ XIX, vì nếu không có kiến thức về ngữ nguyên học, không ai dám tự xưng là “nhà sử học” cả, vì sẽ đến ngày Dương Trung Quốc tuyên bố “biểu tình” đầu tiên xuất hiện ở Việt Nam đời Nhà Trần với cuộc “biểu tình Diên Hồng”.

3) Do hấp tấp, hiếu chiến, háo thắng, Dương Trung Quốc đã nói xằng bậy rằng đại biểu quốc hội không đại diện cho dân mà chỉ cho cá nhân, và như vậy chính Dương Trung Quốc khẳng định Dương Trung Quốc không đại diện cho cử tri Tỉnh Đồng Nai, tức là từ chối đại diện cho cử tri Tỉnh Đồng Nai, càng không đại diện cho bất kỳ người dân Việt nào. Đó là chưa kể Dương Trung Quốc không những xúc phạm 499 đại biểu quốc hội Việt Nam, mà lại còn nhổ toẹt vào các đạo luật về tổ chức quốc hội Việt Nam.

4) Do hấp tấp, hiếu chiến, háo thắng, Dương Trung Quốc đã nói xằng bậy rằng đại biểu Hoàng Hữu Phước hãy nghiên cứu trước khi phát biểu, mà không thể hiểu rằng đại biểu thạc sĩ Hoàng Hữu Phước luôn có trách nhiệm trong từng lời phát biểu tại nghị trường và nghiên cứu sâu về lịch sử Việt Nam Cộng Hòa và lịch sử các từ ngữ tiếng Anh trong tương quan tiếng Việt.

5) Do hấp tấp, hiếu chiến, háo thắng, Dương Trung Quốc đã tự làm lộ cho toàn quốc biết rằng Dương Trung Quốc không biết ngoại ngữ trong khi bản thân là “nhà sử học”.

Tứ Đại Ngu của Dương Trung Quốc: Văn Hóa Từ Chức

Tại kỳ họp thứ 4 Quốc hội Việt Nam Khóa XIII tháng 11 năm 2012, Dương Trung Quốc đã phát biểu chất vấn tại nghị trường quốc hội, đặt vấn đề “văn hóa từ chức” với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, người lúc đó đang phải giải quyết các sai phạm nghiêm trọng xảy ra tại các tập đoàn kinh tế Vinashin và Vinaline. Đến khi nghe Thủ tướng trả lời hùng biện, chân thiết, khúc chiết, thấu lý đạt tình, nhận được sự tán dương của 496 đại biểu quốc hội (trừ 1 đại biểu bị miễn nhiệm, 1 đại biểu qua đời khi tại nhiệm, bản thân thủ tướng, và bản thân Dương Trung Quốc), Dương Trung Quốc đã vội vàng nói thêm rằng Dương Trung Quốc sở dĩ đặt câu hỏi là để xem Thủ tướng trả lời thế nào, và với nội dung Thủ tướng vừa đối đáp thì nhân dân yên tâm, tức là đã “an dân”. Dương Trung Quốc trong cái đại ngu thứ tư này đã phạm 3 điều xằng bậy như sau:

1) Thủ tướng – trên nguyên tắc và lý thuyết tổ chức – đứng đầu tất cả các Bộ. Như vậy, Bộ Quốc Phòng giữ yên bờ cõi, ấy là đại công. Bộ Công An đập nát phản động, tiêu diệt bạo loạn, trừng trị tội phạm, ấy là đại công. Bộ Ngoại Giao đem lá cờ đỏ sao vàng tung bay thắng lợi đối ngoại trên toàn thế giới, ấy là đại công. Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn và Bộ Công Thương lập kỳ tích xuất khẩu gạo đứng đầu thế giới, ấy là đại công. Bộ nào cũng lập công, vấn đề là công nhiều hay ít, nhiều hơn hay ít hơn những khó khăn đang tồn tại. Như vậy, cái đạo lý nào cho phép Dương Trung Quốc hỗn xược thách đố Thủ tướng có dám từ chức hay không, khi quản lý yếu kém để Vinashin và Vinaline gây thất thoát tiền của quốc gia? Đạo lý xưa nay của riêng dân Việt là đánh giá rất cao việc đoái công chuộc tội. Đạo lý xưa nay của riêng dân Việt là công bằng, công minh, công chính. Đạo lý xưa nay của riêng dân Việt là dung hòa nhuần nhuyễn giữa lý và tình nên luôn khoan hòa và thiếu tính cực đoan. Dương Trung Quốc loạn ngôn, dám đem việc Vinashin và Vinaline ra để hỗn láo với Thủ tướng, làm lơ các đại công của các Bộ khác, mà – như đã nói ở trên – đều thuộc dưới quyền Thủ tướng. Thử hỏi, nếu Vinashin không làm thất thoát một xu con nào, nhưng Bộ Quốc Phòng làm mất nhiều tỉnh vào tay quân giặc, Bộ Nông Nghiệp gây ra nạn đói, Bộ Y Tế để dịch bệnh tràn lan, và Bộ Công An bó tay trước bạo loạn đốt phá, v.v., thì đất nước này sẽ ra sao. Dương Trung Quốc đã mị dân khi hùng hổ phát biểu như thể chỉ có Dương Trung Quốc mới “dám” chất vấn như thế. Cái cực đoan, phủ nhận công, phi lý, và bất công là những thứ ngoại lai mà Dương Trung Quốc đã hấp thụ từ bọn giặc nào để tự tung tự tác nơi nghị trường quốc hội Việt Nam như thế? Vinashin là rắn có đầu, và luật pháp nghiêm minh phải xử lý nặng những cái đầu ấy, tức những chức sắc hưởng lương của Vinashin để làm lãnh đạo Vinashin và làm Vinashin phá sản. Đặt vấn đề “văn hóa từ chức” phải chăng hàm ý rằng cứ từ chức là sẽ được “hạ cánh an toàn”, xem như đã giải quyết xong vụ việc?

2)  Dương Trung Quốc và một bộ phận nhỏ người Việt thường đem những thứ ngoại lai làm chuẩn mực cho các so sánh với nội tại của Việt Nam mà thiếu sự hiểu biết thấu đáo, mà cái gọi là “văn hóa từ chức” là một ví dụ. Chính họ nhìn hiện tượng ở nước ngoài rồi tự đặt ra cụm từ “văn hóa từ chức” với sự thán phục, trong khi thực ra chẳng có gì để mà gọi đó là “văn hóa”. Khi một tai nạn thảm khốc xảy ra tại một nước tư bản, Bộ Trưởng Giao Thông Vận Tải nước ấy lập tức từ chức. Đó là quy định bất thành văn để giúp “Đảng” có được 3 điều như (a) thoát được cơn thịnh nộ của người dân, (b) Đảng không bị tổn hại trong kỳ bầu cử tiếp theo, và (c) giữ toàn vẹn danh tiếng và nguồn thu cho các nhà tư bản chủ nhân các công ty chế tạo xe hỏa hoặc tàu bè hoặc máy bay lâm nạn vì các nhà tư bản này cung cấp tài chính cho “Đảng”. “Nhận trách nhiệm quản lý yếu kém” và từ chức, biến tai nạn không phải do lỗi kỹ thuật thiết bị công nghiệp, và người từ chức sẽ được đền ơn bằng cách có một chức vụ cao cấp tại một trong những công ty tư bản ấy. Đây là việc mà bất kỳ ai cũng có thể kiểm chứng dễ dàng từ các nguồn thông tin mở. Làm gì có cái “văn hóa” và cái “tinh thần trách nhiệm” trong cái gọi là “từ chức” trong thế giới tư bản mà cứ tôn vinh, ca ngợi, và thán phục đến độ hỗn láo đem ra lập thành tích “chất vấn như Dương Trung Quốc đã làm.

3) Khi nhanh nhảu tự cứu mình trước cảnh thất bại vì không thể làm Thủ tướng bối rối hoặc mang nhục trước quốc dân, Dương Trung Quốc đã cho rằng câu chất vấn là để xem Thủ tướng trả lời ra sao. Nghị trường Quốc hội là nơi họp bàn các vấn đề trọng đại của quốc gia, thế mà Dương Trung Quốc sử dụng để test (thử nghiệm) xem Thủ tướng có tài hùng biện không. Nghị trường Quốc hội là nơi họp bàn các vấn đề trọng đại của quốc gia, thế mà Dương Trung Quốc sử dụng để ban ân cho Thủ tướng có cơ hội trổ tài hùng biện để “an dân” hầu ghi điểm son với toàn dân. Nghị trường Quốc hội là nơi họp bàn các vấn đề trọng đại của quốc gia, thế mà Dương Trung Quốc sử dụng để đánh bóng tên tuổi của Dương Trung Quốc như nhân vật đại diện toàn dân tộc để nói lên tấm lòng của toàn dân tộc rằng toàn dân tộc đã an lòng, yên tâm trước câu trả lời chất vấn hùng biện của Thủ tướng, từ đó toàn tâm toàn ý ngưỡng mộ Thủ tướng và tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo anh minh tài ba của Thủ tướng. Từ ngữ “an dân” của Dương Trung Quốc mang nội hàm bao gồm tất cả những ý tứ như thế. Và thật khó hiểu, không rõ Dương Trung Quốc đã “lập đại công” với Thủ tướng, hay Dương Trung Quốc đã phạm đại ngu thứ tư này.

Thay Lời Kết:

Dựa theo lời Thầy Khổng từng phán, cố thể nói rằng ai muốn có điều Nhân mà không muốn học thì bị cáiNgu che mờ, muốn ta đây đầy Trí mà không muốn học đến nơi đến chốn thì bị cái Thấp Kiến bịt trí, muốn mình có chữ Tín mà không muốn học cho nên người thì bị cái Hại Nghĩa kéo lôi, muốn khoe ta có Trực mà không muốn học cho nên người thì bị cái Ngang Ngạnh làm cho u mê, muốn Dũng mà không muốn học cho thành bậc đạt nhân thì bị cái Loạn làm cho u tối, còn muốn Cương mà không chịu học hành thì bị cái Lồng Lộn làm cho ám áng.

Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “biểu tình” là chứng tỏ ta đây có lòng “Nhân” thương dân bị chính phủ làm cho khốn khổ, không ngờ đó lại là “Ngu” vì tự hét lên cho toàn nhân loại biết chính mình không hiểu ý nghĩa tiếng Việt cao siêu và không rành ngoại ngữ khi Đại biểu Hoàng Hữu Phước luận giải về “từ nguyên Anh ngữ” của  cụm từ “protest demonstration”.

Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “đĩ” là chứng tỏ ta đây có trình độ “Trí” muốn nữ công dân – trong đó có các nữ nhân thuộc gia tộc Dương Trung Quốc –  có quyền tự do sử dụng vốn tự có để kinh doanh phát triển ngành công nghiệp bán dâm, không ngờ đó lại là cái “Thấp Kiến” của phường vô hạnh vô đạo đức vô lại vô duyên, dễ đem lại danh xưng “Nhà Đĩ Học” bên cạnh “Nhà Sử Học”.

Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “đĩ” – “biểu tình” – “đa đảng” – “văn hóa từ chức” là chứng tỏ ta đây có uy “Tín” với dân nên được dân gởi gắm tâm tư nguyện vọng về “đĩ” – “biểu tình” – “đa đảng” – “văn hóa từ chức”, không ngờ đó lại là điều hỗn với dân và do đó “Hại Nghĩa.”

Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “đĩ” – “biểu tình” – “đa đảng” – “văn hóa từ chức” là chứng tỏ ta đây có lòng trung “Trực” nói thẳng ra những điều tối thượng mà toàn dân ao ước, cả nước chờ mong, dân tộc đón chào, không ngờ đó lại là do “Ngang Ngạnh” nói càn, luận bừa, sai be sai bét, phản hàn lâm, bất tri, vô trí.

Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “văn hóa từ chức” là chứng tỏ ta đây có cái  “Dũng” dám kêu Thủ Tướng Dũng đương đầu với câu hỏi “khó”, mà không ngờ đó lại chứng tỏ chính Dương Trung Quốc là “Loạn” vì không phân biệt chính-phụ, không rõ ngay-gian, nên phạm ba “loạn” gồm (a) “loạn ngôn” khi đổi trắng thay đen muốn đem một việc hỏng ra phủ định ngàn việc đạt cứ như đây là thời phong kiến hay tay sai đế quốc-thực dân, (b) “loạn hành” khi cho nghị trường là nơi để Dương Trung Quốc sử dụng “kiểm tra’ tài đối đáp của Thủ tướng, và (c) “loạn trí” khi đối đáp phản pháo trên cơ sở không nghiên cứu, chẳng nền tảng cơ sở dẫn chứng nghiêm túc, và nào có kiến thức ngoại ngữ trong thời buổi hiện đại này.

Dương Trung Quốc do không quen nghiên cứu hàn lâm, nên tưởng nói về “đĩ” – “biểu tình” – “đa đảng” – “văn hóa từ chức”  là chứng tỏ ta đây có cái  “Cương”, biết khi thời cơ đến thì phải tỏ ra cứng rắn mới chống được cường quyền, mới phục vụ được nhân dân, mà không ngờ đó chỉ là sự “Lồng Lộn” của kẻ thất phu, bất tài, vô hạnh. Trong bối cảnh tình hình phức tạp ở Biển Đông và đất nước còn bao nỗi lo toan khác thì những phát biểu về “ đĩ-biểu tình-đa đảng-văn hóa từ chức” của “nhà sử học” Dương Trung Quốc tại nghị trường lại càng trở thành một mớ hỗn độn và hỗn loạn. Lẽ ra Dương Trung Quốc nên ngậm miệng lại để các đại biểu khác có thời gian hiến kế làm đất nước hùng cường, quân đội hùng mạnh, dân tộc hùng anh, quốc gia thái bình thịnh vượng, dân chúng lạc nghiệp an cư, mới đúng là “quốc thái, dân an” đẳng cấp thánh nhân chứ không phải “an dân” kiểu hàm hồ của Dương Trung Quốc.

Thầy Khổng có phán rằng: “Tranh luận nhỏ nhặt thì hại nghĩa, nói nhảm thì phá đạo lý.” Lăng Tần tôi xuất thân nghề giáo, đến nay vẫn được môn sinh gọi là Thầy Phước, nhận thấy cái chuỗi “đĩ” – “biểu tình” – “đa đảng” – “văn hóa từ chức” là chuyện lớn đến độ Dương Trung Quốc đòi để “đĩ” nằm lên bàn nghị sự quốc hội quốc gia, đồng thời với việc Dương Trung Quốc nói nhảm nói nhí, nên trước việc hại nghĩa và phá đạo lý ấy, Thầy Phước tôi không thể không phụ lời giáo huấn của Thầy Khổng, đành chắc lưỡi lập lại nguyên văn lời của Thầy Khổng rằng: “Ôi! Người ta chẳng nói thì thôi, nói ra có đúng lẽ mới nói!

Người ta” ắt không phải nói chung bàng dân thiên hạ, mà là “ta đây” vậy.

Nhất Thạc Bàn Cờ, Lăng Tần Hoàng Hữu PhướcNhà Việt Nam Cộng Hòa Học, Nhà Biểu Tình Pờ-rô-tét Đì-mông-sờ-tra-sân Học, Nhà Đa Đảng Học, Nhà Lưỡng Đảng Học, Nhà Độc Đảng Học, Nhà Tiếng Anh Học, Nhà Thánh Kinh Học, Nhà Đủ Thứ Học Học

Máy nhắn tin: 0988898399

Email: hhphuoc@yahoo.com

Blogs: http://antichina.blog.comhttp://hoanghuuphuocvietnam.blog.comhttp://hhphuoc.blog.com

Tham khảo:

– Phát Biểu Tại Quốc Hội Về Luật Biểu Tình & Luật Lập Hội. 17-11-2011. http://www.emotino.com/bai-viet/19390/phat-bieu-tai-quoc-hoi-ve-luat-tinh-lap

– Ngôn Ngữ Méo Mó – Về Các Phát Biểu Gần Đây Liên Quan Đến Dự Án Luật Biểu Tình. 20-11-2011.http://www.emotino.com/bai-viet/19398/ngon-ngu-meo-mo

(nguồn: blog Hoàng Hữu Phước)

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979

Đúng vào ngày này 34 năm trước (17.2.1979), Trung Quốc bất ngờ tung hơn 60 vạn quân nổ súng xâm lược Việt Nam trên toàn tuyến biên giới phía bắc, nhưng đã phải rút quân sau hơn một tháng gặp sự kháng cự mãnh liệt của quân và dân ta, chịu nhiều tổn thất nặng nề.

Tuy vậy cuộc chiến tranh xâm lược này cũng mở màn cho cuộc xung đột vũ trang tại biên giới giữa VN và Trung Quốc (TQ) kéo dài suốt 10 năm sau đó. Theo thiếu tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược – Bộ Công an, với độ lùi về thời gian, việc nhìn nhận lại cuộc chiến tranh này là hoàn toàn cần thiết.

 

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Thiếu tướng Lê Văn Cương

 

Kể từ sau khi VN và TQ bình thường hóa quan hệ (1991), hai bên dường như đều không muốn nhắc lại cuộc chiến này. Từ hơn 30 năm qua, cuộc chiến chống quân xâm lược Trung Quốc gần như không được nhắc tới. Theo ông tại sao cuộc chiến lại bị rơi vào lãng quên như vậy?

Để trả lời câu hỏi này có lẽ cần cả một hội thảo khoa học. Tôi chỉ xin lưu ý như sau, vào những năm kỷ niệm chẵn 10, 15… hay gần đây nhất là 30 năm sau cuộc chiến tranh chống TQ xâm lược (2009), báo chí, truyền hình của VN gần như không đưa tin gì về sự kiện này. Đây là một sự thiếu sót lớn trên góc độ Nhà nước. Hơn thế nữa, đó là một sự xúc phạm đến linh hồn của những đồng bào, chiến sĩ đã bỏ mình để bảo vệ Tổ quốc trong cuộc chiến tháng 2.1979 và gần mười năm sau đó. Họ nằm dưới mộ có yên không? Gia đình vợ con bạn bè và những người thân thích của họ sẽ nghĩ gì về chuyện này?  Đã có ý kiến cho rằng nhắc đến những chuyện này cũng có nghĩa là kích động chủ nghĩa dân tộc. Tôi có thể khẳng định rằng nói như vậy là ngụy biện.

Trong khi chúng ta im lặng thì những dịp đó chúng tôi đã thống kê hệ thống phát thanh, truyền hình báo chí của TQ tung ra trung bình từ 600-800 tin, bài với những cái tít gần như có nội dung giống nhau về cái mà họ gọi là “cuộc chiến tranh đánh trả tự vệ trước VN”. Có thông tin cho rằng hiện tại có tới trên 90% người dân TQ vẫn quan niệm rằng năm 1979 Quân đội VN đã vượt biên giới sang tấn công TQ và bắt buộc TQ phải tự vệ đánh trả. Từ hàng chục năm nay, hệ thống tuyên truyền của TQ đã nhồi nhét vào đầu người dân TQ rằng cuộc chiến 1979 chỉ là cuộc phản công trước sự xâm lược của VN.

Theo tôi nghĩ, trong tuyên truyền đối nội và đối ngoại, cả ở kênh nhà nước, nhân dân và trên truyền thông, chúng ta phải làm rõ và góp phần làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ bản chất của cuộc chiến tranh Việt – Trung 1979. Đồng thời góp phần làm cho hơn 1,3 tỉ người TQ biết được sự thật rằng vào ngày đó hơn 60 vạn quân TQ đã vượt biên giới xâm lược VN. Việc chúng ta im lặng hàng chục năm qua, theo tôi là  không đúng. Việc nói ra cũng không liên quan gì chuyện kích động chủ nghĩa dân tộc. Hãy thử so sánh chuyện đó với việc TQ tung ra hàng nghìn bài báo xuyên tạc lịch sử từ hàng chục năm qua.

 

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Bộ đội Việt Nam đánh trả quân Trung Quốc xâm lược tại Lạng Sơn năm 1979

 

Với độ lùi về thời gian, theo ông chúng ta có thể rút ra những điều gì từ cuộc chiến tranh này? Những điều đó có ý nghĩa thế nào trong bối cảnh hiện tại ?

Theo tôi, khoảng thời gian 34 năm đã là khá đủ cho chúng ta nhận thức lại những vấn đề xung quanh cuộc chiến 1979. Thế nhưng đến giờ phút này tôi có cảm giác không phải lúc nào chúng ta cũng có được sự nhận thức thống nhất, nhất quán từ trên xuống dưới.

Vấn đề thứ nhất, phải xác định rõ về mặt khoa học, cuộc chiến 1979 là cuộc chiến tranh chống xâm lược, bảo vệ Tổ quốc. Đây là vấn đề phải nhận thức rõ từ cấp cao nhất. Sự nhận thức ấy cũng phải được thống nhất trong toàn Đảng, toàn quân và toàn dân. Đây là chuyện không được phép mơ hồ.

Không chỉ nhận thức mà Nhà nước có trách nhiệm đưa câu chuyện này vào sách giáo khoa. Thực tế cho thấy phần lớn học sinh tiểu học, trung học và thậm chí đa số trong 1,4 triệu sinh viên hầu như không biết gì về cuộc chiến tranh này. Nếu để tình trạng này kéo dài, trách nhiệm thuộc về Nhà nước. Chắc chắn chúng ta sẽ không tránh được sự phê phán của thế hệ sau này. Hàng vạn người con ưu tú của chúng ta đã bỏ mình để bảo vệ từng tấc đất biên giới phía bắc của Tổ quốc, tại sao không có một dòng nào nhắc đến họ? Bây giờ đã quá muộn. Nhưng không thể để muộn hơn được. Theo quan điểm của tôi, Nhà nước phải yêu cầu đưa phần này vào lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc. Chúng ta không thể mơ hồ được, không thể  lờ đi vấn đề lịch sử này được.

 

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Bệnh viện huyện Trùng Khánh, Cao Bằng bị quân Trung Quốc tàn phá tháng 2.1979 – Ảnh: Tư liệu

 

Tôi đã nhiều lần trao đổi với các học giả nước ngoài và họ đã thắc mắc khá nhiều chuyện tại sao sự kiện chiến tranh chống quân TQ xâm lược năm 1979 lại không được nhắc đến trong các giáo trình lịch sử của VN. Tôi đã phải chống chế với lý do rằng người VN muốn quên đi quá khứ và hướng đến tương lai. Nhiều học giả Hàn Quốc, Nhật Bản đã phản bác tôi vì “Lịch sử là lịch sử. Quá khứ là quá khứ. Tương lai là tương lai”. Họ nói rằng: “Chúng tôi biết người VN rất nhân hậu, muốn hòa hiếu với các dân tộc khác. Nhưng điều này không thể thay thế cho trang sử chống ngoại xâm này được”.

Thứ hai,  trong thế giới hiện đại toàn cầu hóa, các quốc gia đều phụ thuộc lẫn nhau. Không có quốc gia nào hoàn toàn độc lập tuyệt đối. Ngay cả Mỹ nhiều lúc cũng phải nhân nhượng các quốc gia khác. Chúng ta không có quan niệm về độc lập chủ quyền tuyệt đối trong thời đại toàn cầu hóa. Nhưng trong bối cảnh này, phải nhận thức rõ cái gì là trường tồn? Theo tôi có 3 thứ là chủ quyền quốc gia, ý thức dân tộc và lợi ích quốc gia. Ở đây chúng ta phân biệt chủ nghĩa dân tộc vị kỷ, chủ nghĩa dân tộc nước lớn với lòng yêu nước chân chính, ý thức tự tôn tự hào dân tộc. Hai cái đó khác nhau. Người VN có truyền thống yêu nước, có tinh thần chống ngoại xâm bất khuất, đó là điều cần được phát huy trong 92 triệu người VN trong và ngoài nước.

Chủ quyền quốc gia, ý thức dân tộc và lợi ích quốc gia là những cái “dĩ bất biến”, những cái còn lại là “ứng vạn biến”. Những chuyện “16 chữ”, “bốn tốt” trong quan hệ với TQ là “ứng vạn biến”. Bài học từ cuộc chiến chống xâm lược năm 1979 cho thấy nếu không nhận thức được điều này thì rất nguy hiểm.

Thứ ba, trong bối cảnh quốc tế hiện nay, tiêu chí để phân biệt người yêu nước hiện nay là anh có bảo vệ lợi ích quốc gia hay không. Trên thế giới này không có bạn bè vĩnh viễn hay kẻ thù vĩnh viễn, chỉ có lợi ích quốc gia mới là vĩnh viễn. Năm nay chúng ta chuẩn bị tổng kết Nghị quyết T.Ư 8 (7.2003) về chiến lược bảo vệ Tổ quốc. Tôi thấy có một quan điểm bây giờ vẫn đúng, đó là: “Những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta. Bất kể thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh”. Đồng thời, cũng phải có cách nhìn biện chứng về đối tượng và đối tác: trong mỗi đối tượng vẫn có thể có mặt cần tranh thủ, hợp tác; trong một số đối tác, có thể có mặt khác biệt, mâu thuẫn với lợi ích của ta, cần phải đấu tranh.

 

Nhìn lại chiến tranh biên giới 1979
Tù binh Trung Quốc bị bắt tại Cao Bằng

 

Nhìn lại từ câu chuyện của 34 năm trước đến những căng thẳng hiện tại trong vấn đề biển Đông, theo ông có thể hy vọng gì ở tương lai trong quan hệ giữa VN và TQ ?

Tạo ra lòng tin, sự hữu nghị chân thật giữa hai nước là con đường tất yếu nhưng đòi hỏi thời gian lâu dài và từ cả hai phía. Đây không phải là điều có thể hy vọng có được trong vài ba năm tới đây. Lịch sử mách bảo chúng ta muốn giữ được hòa bình, ổn định, giữ được độc lập tự chủ thì điều quan trọng nhất là giữ được lòng dân. Trên dưới một lòng, có được sự đoàn kết dân tộc thì chắc chắn không có kẻ xâm lược nào dám dại dột động đến chúng ta cả. Lịch sử VN đã cho thấy những lần mất nước đều bắt đầu từ việc chính quyền mất dân. Năm 179 trước CN An Dương Vương để mất nước là do mất dân. Một ông vua đứng đầu quốc gia mà tin vào kẻ thù thì chuyện mất nước là không thể tránh khỏi. Năm 1406, nhà Hồ mất nước cũng vì đã mất dân. Đến mức độ nhà Minh truy bắt cha con Hồ Quý Ly thì chính những người trong nước đã chỉ điểm cho quân Minh. Năm 1788 Lê Chiêu Thống sang cầu viện Mãn Thanh đưa 20 vạn quân sang giày xéo quê cha đất tổ cũng là ông vua đã mất dân. Đó là bài học muôn đời để bảo vệ chủ quyền quốc gia.

Ng.Phong
(thực hiện)
nguồn: http://www.thanhnien.com.vn/pages/20130217/nhin-lai-chien-tranh-bien-gioi-1979.aspx